Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2019

Nói Về Thiền Bệnh Và Hơn Thế Nữa…

Nói Về Thiền Bệnh Và Hơn Thế Nữa…
Ngày nay, có quá nhiều lối hành thiền khác nhau và mỗi mỗi đều tự cho rằng là độc bộ, là chân truyền danh môn. Nhưng sau rốt của việc hành thiền hành nhân lại hiện tướng thành những thằng ngố hoang tưởng, nói chuyện theo lối đi mây, về gió.
Vì sao lại như vậy?
Lại có nhiều ý kiến cho rằng muốn hành thiền nhất thiết phải có minh sư kề cận, khi hành thiền phải thắp hương khấn nguyện trước bàn thờ Tam bảo, nhờ Phật lực gia trì để tránh việc hành nhân bị phi nhân nhiễu loạn.
Sự thật thì sao?

Quả thật là thời gian gần đây số lượng người tìm về đạo ngày càng nhiều. Tuy nhiên, mặc dù người học đạo gia tăng về lượng nhưng lại khuyết tổn về chất nghiêm trọng.
Mặc dù mặt bằng chung về kiến thức về khoa học – xã hội ở những người tìm về đạo đã có sự vượt trội hẳn so với thế hệ những người tìm đạo thuở trước. Song có một sự thật nghiệt ngã là do lối sống thực dụng ngày nay đã xâm chiếm mọi ngõ ngách xã hội nên việc tu thân, hàm dưỡng nội tâm ở loài người bị bỏ ngỏ. Thế giới nội tâm ở mỗi người tất yếu sẽ thiếu hẳn sự sâu sắc, vững vàng, do đó nội lực tâm hồn của người học đạo trở nên cạn cợt, nông nổi.
Bởi do thiếu chiều sâu nội lực, đạo đức, giới hạnh – việc hàm dưỡng tu thân đã kéo theo nền tảng tri thức đạo học ở người học đạo cũng tổn khuyết. Chính vì thế rất nhiều người học Phật ngày nay cơ hồ không phân biệt được việc học đạo, học Phật khác nhau như thế nào.
Bởi do không biện biệt được rạch ròi chân ngụy nên người học Phật dua vạy theo xu hướng 3 bó vô 1 giạ, cụ thể là đạo nào cũng tốt đời, đẹp đạo. Nào hay câu nói ấy vốn của ngoại đạo, câu nói đó một phần nhằm mục đích “dĩ hòa vi quý”, một phần quan trọng hơn là nhằm “nâng bi” cho đạo giáo mình ngang tầm với đạo Phật.
Tiếp tay cho việc len lõi hạ thấp giá trị chánh pháp trong sáng có ở đạo Phật lại là những người học Phật nửa mùa, những vị học Phật này thông qua giáo lý Phật môn biết đến pháp môn không hai bất khả tư nghị đã cả nghĩ các pháp thảy đều bình đẳng, đấy là tâm vô phân biệt của Phật môn. Nào hay tâm vô phân biệt của đạo Phật đúng đắn lại là khéo hay phân biệt chẳng sinh lòng yêu ghét, tích chứa.
Do cạn nghĩ hiểu như thế là đúng, là trung đạo người học Phật nửa mùa đó cho rằng đã “nắm bắt” thông suốt Phật đạo tức đã chứng, đã ngộ. Tòn ten nơi pháp môn không hai nơi lưới nhị nguyên người học Phật này nghĩ đến việc cất một tiếng nói để xác lập sở đắc, sở chứng của bản thân, thế là do không truy nguyên tận tường cội gốc và lại biết được Chúa Jesu, Thánh A lah, Phật Thích Ca được nhân loại đồng thừa nhận như là thánh nhân, người học Phật đó liền lập ngôn Phật, Chúa Jesu, Thượng Đế,… chẳng khác.
Việc đánh đồng Phật, Chúa Jesu, Thượng Đế,… vô hình chung “cào bằng” giáo lý đạo Phật và Kinh Thánh của Nhất Thần Giáo. Việc làm này thể hiện sự ngu ngốc và thiển cận của những người học Phật nửa vời.
Điều cơ bản nhất khi tìm đến đạo Phật người học Phật phải minh bạch được rằng đạo Phật là đạo trí tuệ, là đạo của sự hiểu biết đúng mực về vạn pháp, về vũ trụ vạn hữu lẫn thế giới vô hình. Và người học Phật sẽ tự giác, tự chứng sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn thông qua kinh sách Phật học cũng như việc trợ duyên ở các vị thiện tri thức.
Trong khi đó giáo lý của Nhất Thần Giáo lại buộc người quy thuận, phục tùng một Đấng Quyền Năng Huyễn Hóa, Siêu Hình; Đấng Quyền Năng được đồn thổi với những khả năng không thật có như việc kiến tạo vũ trụ, con người cùng sum la vạn tượng. Những năng lực siêu thực của các Đấng Quyền Năng dưới ánh sáng của khoa học ngày nay bộc lộ ra những giả dối, lọc lừa và mê muội. Song các vị giáo chủ của hệ thống Nhất Thần Giáo phần đa vẫn cố nhồi sọ tín đồ bằng đức tin, bằng sự trói buộc đóng kín sự hiểu biết khách quan, đúng mực. Những tôn giáo cố giấu dốt bằng việc lừa mị có thể gọi là hệ thống tôn giáo lấy sự ngu ngốc, si dại làm nền tảng. Tôn giáo lấy sự u mê, kém trí làm nền tảng thì không thể đánh đồng với tôn giáo lấy trí tuệ làm đuốc sáng soi đường.
Vậy nên phải chăng chính những người học Phật nửa mùa do muốn thể hiện mà chặn đứng sự giác ngộ giải thoát nơi bản thân, kéo theo việc làm hỗn mang khối tri kiến Phật học khiến những người học Phật tìm đạo thêm rối trí, mê mờ.
Tiếp tay cho những lập ngôn vụng về của những người học Phật nửa mùa nông nổi là đại đa số học giả, nhà nghiên cứu Phật cùng với rất nhiều, rất nhiều những người học Phật trên sách vở bon chen lạm bàn chuyện đạo.
Những người thực biết, thực chứng thường kiệm lời. Ngược lại, những kẻ học Phật theo lối gom góp tri kiến lập tri vốn không thực biết, thực chứng lại luôn ra sức nói về những điều mình không rõ biết. Và lời của những người học Phật nông nổi, cạn cợt tuệ tri luôn thể hiện như đúng rồi. Và những tin đồn luôn lan truyền nhanh chóng như bệnh dịch.
Ngày nay, người học Phật rất dễ dàng tiếp cận những nguồn thông tin đại loại như ông nọ niệm Phật vãng sanh Tây Phương, ngày ông ánh vãng sanh có ánh sáng vi diệu, có âm thanh nhã nhạc cõi trời, hoa trời cúng dường,…bà kia niệm Phật thành tựu niệm Phật nhất tâm bất loạn hoặc công phu thành khối niệm Phật vô biệt niệm. Ở một trường phái Phật học khác thì vị Tăng bảo đó chắc chắn là Bồ tát sống, là Phật tái lai bởi do khi hỏa thiêu thu được rất nhiều xá lợi như xá lợi tóc, xá lợi xương, xá lợi móng tay, xá lợi tủy não… Tu Thiền Tứ Niệm Xứ miên mật chắc chắn sẽ thành tựu 1 trong 4 quả vị Thánh – A la hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn…
Với những người này khi tham vấn đạo lý Phật học với họ, bạn sẽ thấy họ thao thao bất tuyệt cứ như thể biết tất, biết tuốt về đạo giác ngộ giải thoát. Nếu bạn “chịu khó” lắm nghe họ sẽ đưa bạn “lên mây, lên đọt”.
Song nếu bạn chất vấn rằng ông bạn nói đúng rồi, ông bạn nói rất hay, thế ông bạn đã niệm Phật thành tựu công phu nhất tâm bất loạn hay vô niệm biệt niệm, hoặc bà chị đã thành tựu quả vị nào trong 4 quả vị Thánh?
Tin rằng bạn sẽ thấy một sự bẽn lẽn, ngại ngùng ở những người học Phật huênh hoang nhưng còn có chút lòng tự trọng; Số người học Phật mồm mép khác, giảo hoạt hơn khi ấy biết rằng gặp phải đối tượng cứng, đối thủ giả nai giờ đến lượt “nắn gân” thì sẽ né tránh những câu chất vấn trực tiếp như vậy bằng những câu từ đại loại như có tu, có chứng, như người uống nước nóng lạnh tự biết và phản đòn bằng ông hãy hành đi, ông hãy tu đi khắc biết. Đấy là những câu chữ thể hiện sự không thành thật ở người học Phật huênh hoang, rỗng tuếch ưa dùng.
Học Phật mà không có trực tâm, chánh tâm, thâm tâm thì như là loài chồn hoang nơi Phật địa, người học Phật (nói riêng), người học đạo (nói chung) rất nên dùng trí tuệ, sự hiểu biết để nhận diện những giống loài cáo chồn nơi đạo học ngõ hầu không nhận lầm thầy bạn.

Có rất người học đạo dù rằng sự hiểu biết khoa học - xã hội ở tầm mức khá cao đến rất cao nhưng lại thiếu căn bản kiến thức đạo khi tìm đến đạo hoặc đạo Phật lại rất dễ cả tin, cuồng tín, mê đạo đến cực đoan.
Tại sao lại như vậy?
Bởi lẽ họ đã mòn mỏi ở nẻo đời, rất mong tìm được bến đỗ bình yên. Như người sắp đuối nước giữa dòng họ quơ quàng và túm rất chặt bất cứ thứ gì mà họ vớ được như đám lục bình, khúc cây mục,… Những người học Phật hạng này gần như đã đánh mất khả năng tự chủ, họ chỉ sống bằng niềm tin còn sót lại và bằng đầu lan truyền cái gọi là tin đồn – những hiểu biết sai lạc, không đúng chánh pháp mà họ không thể rõ biết. Bởi do chán ngán, thất vọng sự hiểu biết nẻo đời cùng với sự cả tin vào điều huyễn hoặc, hoang đường ở thế giới tâm linh nên họ gần như từ bỏ sự hiểu biết, trí tuệ mà họ đang có, họ trở nên mê muội, mụ mẫm cả ở hai nẻo đạo đời nhưng luôn nuôi dưỡng cái tôi cỡ lớn – Ta là nhà khoa học, ta là giới trí thức, là kĩ sư, bác sĩ, giáo viên… học Phật.
Sự mụ mẫm, mê muội của người tìm về đạo đôi khi khiến người nghe phải rợn người. Đơn cử như việc Ngạo Thuyết đã từng nghe rằng rất nhiều tín đồ của bà Thanh Hải Vô Thượng Sư cuồng tín Pháp Truyền Tâm Ấn, sùng tín bà ấy đến mức tranh nhau uống nước tắm gọi của bà ấy, câu chuyện này Ngạo Thuyết được nghe kể câu chuyện này từ một người trí thức đã từng gõ đầu bao thế hệ sinh viên, trong tủ sách đồ sộ của vị tri thức này có hầu hết giáo trình của những vị đạo sư danh tiếng Đông – Tây như Osho, J.Krishnamurti, D.T.Suzuki,… và đã từng “để mắt” đến bà Thanh Hải Vô Thượng Sư.

Do thông tin về đạo, về Phật học ngày nay dưới sự lan tỏa của công nghệ thông tin đã trở nên rất hỗn độn, loạn tạp nên người học Phật chân chính bị rối trí cũng là lẽ thường. Và chỉ cần lầm tin thì việc học Phật ngày càng xa ý đạo.

Việc hành thiền cũng thế. Có rất nhiều hệ thống tôn giáo lẫn phi tôn giáo, từ giới Tăng Bảo cho đến cư sĩ học Phật tại gia lẫn ngoại đạo xem việc chỉ dạy hành thiền như là chiếc cần câu cơm, cầu câu danh – lợi.
Giá trị thật sự của việc hành thiền bị thổi phồng vượt mức. Các phương pháp hành thiền được bày ra muôn hình, muôn vẽ với bí môn, mật truyền, độc bộ,… ngõ hầu chiêu mộ tín đồ.
Chiêu bài hành thiền Nhất Định Phải Có Thầy theo sát chỉ bày được lập ra để “bắt dính” tín đồ. Chiêu bài này không chỉ do mỗi Thiền Tông riêng dùng, Mật Tông là bậc thầy của chiêu bày Nhất Định Phải Có Thầy.
Ngay cả Tịnh Độ Tông với tâm yếu “Không cần gì cả, chỉ cần niệm Lục Tự Di Đà” cũng khéo léo trói Phật tử đến chùa với khóa tu một ngày, thọ bát quan trai, nhập thất, khóa tu hè, cúng sao giải hạn, cầu siêu, cầu an, sám hối, trí chú đại bi… và cả việc niệm Phật kèm theo lối thiền hành độc bộ như Nam Mô A Di Đà Phật, A Mi Đà Phật, Diệu A Di Đà Phật, A Di Đà Phật… Nếu Tịnh Độ Tông chỉ cần niệm Phật hiệu là đủ thì đâu cần bàn vẻ lắm món “tráng miệng” kèm theo bản sắc tông môn. Song bánh vẽ chẳng thể no lòng nên người học Phật cứ mãi trầm luân nơi mê ngộ.
Ai là người góp phần mê hoặc người học Phật chân chánh?
Vẫn là những người học Phật theo lối mồm mép, sống nhờ việc đồn thổi sư này là Phật sống, Tăng kia là Bồ tát sống,… Và do thiếu khuyết tri kiến Phật học cũng như việc học Phật theo trào lưu, theo số đông người học Phật sơ cơ dễ dàng bị mê hoặc và rồi lạc lối tri kiến Phật.
Người hành thiền ngày nay dễ bị rối trí trong các lời đồn thổi như quán âm thanh, quán ánh sáng, là năng lượng, mở luân xa, mở thiên nhãn, thiền chữa bệnh… Tất cả những phương pháp thiền vọng cầu như thế thảy đều là pháp hành của ngoại đạo.
Với đạo giác ngộ giải thoát những pháp hành như thế sẽ là điều chướng ngại, người học Phật chân chánh chớ nên dính mắc.
Lại nói về thiền bệnh. Thiền bệnh đa phần bởi do vọng cầu thủ xả.
Nếu người học Phật chánh tâm, chánh kiến, trực tâm hành thiền các bệnh thiền na ít khi gây khó.
Người học Phật phải nhận thức được rằng việc hành thiền chỉ góp phần xác lập lại định tâm, việc lắng lòng đó giúp tâm minh, trí sáng góp phần tăng trưởng huệ lực. Việc hành thiền ở đạo Phật cốt ở việc gột rửa thân tâm, hàm dưỡng nội tại nhằm thản nhiên trước cuộc thịnh suy, sinh tử, được mất. Việc hành thiền ở Phật môn là công cụ nhận diện khổ, thoát khổ. Do đó thiền của Phật đạo là vô thủ chứng, vô tâm, vô cầu.
Thế nên, pháp hành thiền của đạo Phật sẽ không phải là việc chứng ngộ giải thoát hoàn toàn như nhiều người học Phật lầm tưởng. Có thơ đề rằng:
Mấy ai thành Phật ở tu hành?
Chỉ trói cùm thêm trí óc mình.
Thấu lẽ huyền vi trong ngọc sáng
Là vầng dương hiện giữa trời xanh.
Việc hành thiền chỉ là trợ duyên cho sự ngộ nhập Phật tri kiến, liễu tri vạn pháp.
Và có một điều rất chát đắng là người muốn nếm trải đạo vị chứng ngộ giải thoát hoàn toàn sẽ phải từng trải cuộc đời thật với những khổ não, muộn phiền sâu sắc nhất và hành giả phải từng là người rất nhạy cảm với khổ đau nơi mình, ở người.
Thế nên danh gia từng nói:
Nếu chẳng một phen sương buốt lạnh
Hoa mai đâu dễ thoảng mùi hương.

Không có nhận xét nào: