Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.2)
…
Câu hỏi đúng ra người hành thiền thì bộ não phải lành mạnh chứ của Kim Khanh Rosenfeld rất chuẩn và cần thiết đối với người học Phật ngày nay.
…
Câu hỏi đúng ra người hành thiền thì bộ não phải lành mạnh chứ của Kim Khanh Rosenfeld rất chuẩn và cần thiết đối với người học Phật ngày nay.
Đúng vậy ! Bộ não của thiền nhân thật sự sẽ rất vững vàng, lành mạnh. Và Ngạo Thuyết cũng nhắc lại là bộ não hành nhân sẽ vững vàng, lành mạnh khi hành pháp thiền đúng nguyên mẫu Phật pháp, hành thiền theo lối vô tâm, vô cầu – cốt giữ tâm an, thần nhàn, khí định, trước mắt là đích đến thản nhiên trước cuộc thịnh suy, được mất, tử sinh. Đó là lối hành thiền đúng tông phong Phật đạo, Tiên gia nguyên thủy.
Còn những pháp hành thiền của ngoại đạo hoặc đạo Phật lai căng dị giáo với việc thu nạp năng lượng, điều khí sinh thần, tụ khí đan điền, khai mở luân xa, đánh thức hỏa xà, cầu đắc thiên nhãn, đắc thần thông, tăng tiến tầng bậc tâm linh, lạm dụng thiền duyệt vi thực, lạm dụng định sinh hỷ lạc,… mà chánh định không vững, thiếu chánh kiến Phật môn … thì hành nhân sẽ dễ rơi vào ma đạo, loạn tưởng nhập tâm,…
Một khi hành nhân hành thiền sai chánh pháp mà không kịp thức tỉnh hồi đầu, chi trì pháp xả tâm, xả trược thì sớm muộn gì cũng dẫn đến bệnh hoang tưởng ra thứ dở người. Đến lúc ấy, đâu thể nói việc hành thiền đem lại não bộ vững vàng, lành mạnh nữa.
…
Nhân việc viết bài này, Ngạo Thuyết chợt nhận ra rằng việc hành thiền của hành nhân ngày nay dễ phát sinh dị khí câu lưu nơi nội thể, điều này dễ thường khiến hành nhân mới bước đầu tập hành thiền kinh hoảng, hoang mang. Kim Khanh Rosenfeld, Vô Vi là hai trường hợp điển hình của việc phát sinh dị khí khi hành thiền,… Do đó, Ngạo Thuyết sẽ viết một bài viết ngắn về hiện tượng này, cách điều phục, hóa giải và hành xả tùy thời.
…
Nhân việc viết bài này, Ngạo Thuyết chợt nhận ra rằng việc hành thiền của hành nhân ngày nay dễ phát sinh dị khí câu lưu nơi nội thể, điều này dễ thường khiến hành nhân mới bước đầu tập hành thiền kinh hoảng, hoang mang. Kim Khanh Rosenfeld, Vô Vi là hai trường hợp điển hình của việc phát sinh dị khí khi hành thiền,… Do đó, Ngạo Thuyết sẽ viết một bài viết ngắn về hiện tượng này, cách điều phục, hóa giải và hành xả tùy thời.
Câu hỏi “Tại sao một Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh cuối đời lại thế?”. Tương tự như vậy! Câu hỏi “Tại sao Thiền sư Thanh Từ cuối đời cũng lại như thế?”,… những câu hỏi chứa đựng sự hoài nghi chỉ dừng lại ở việc chứng ngộ của hai vị Danh sư Thiền Tông hay “xét nét” đến pháp hành của Thiền Tỉnh Thức thuộc Dòng Tu Tiếp Hiện và pháp Thiền Hằng Thấy, Hằng Biết thuộc Thiền Phái Trúc Lâm có thực sự mang lại điều rốt ráo giải thoát hay không? Những câu hỏi trên nếu không tìm ra được lời đáp chuẩn mực thì người học Phật còn đó tâm nghi sẽ bất an bởi còn biết tin vào ai, tin vào giáo lý hệ phái nào khi những Danh Sư Đương Thế - Những vị Bồ tát sống còn không thể làm chủ chính mình trong cuộc tử sinh.
Các hệ phái đạo Phật khác vì cả nghĩ pháp hành bổn môn có sự rốt ráo hơn, do Ngã kiến, do tư tâm hiềm khích lâu xa, việc tranh đoạt uy vọng, danh tiếng, tín đồ… sẽ có những vị Tông chủ cùng giáo đồ cực đoan, quá khích ra sức kích bác pháp môn Thiền Tông Bắc Truyền không mang lại sự giác ngộ giải thoát cho người học Phật.
Đã có những người học Phật làm điều đó, họ là Tông đồ của hệ phái nguyên thủy (Theravada), Nam Tông, Tịnh Độ Tông,… và cơ hồ như môn đồ của dòng tu nguyên thủy (dòng tu không được thừa nhận đạo Phật nguyên thủy chính thống) của thầy Thích Thông Lạc đã khơi ngòi cho sự xác quyết hai Danh Sư Thiền Tông chưa chứng ngộ, họ đã tái khẳng định điều mà họ không thật rõ biết bằng lời nói chỉ có sư Thích Thông Lạc là người duy nhất đắc quả vị A la hán trong số các Danh Tăng đương thời. Những người học Phật nửa vời, những con sâu làm rầu nồi canh cũng góp phần rất lớn trong việc làm nhiễu loạn tín tâm của đại chúng học Phật.
Không dừng lại đó. Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ truyền thông, “cảnh nồi da, xáo thịt” giữa các hệ phái Phật môn sẽ vượt khỏi ranh giới đạo Phật. Ngoại đạo sẽ đón nhận những thông tin và công kích, dèm pha, đả phá rằng Đạo Phật, một lũ hề - Điều này thật sự đã xảy ra. Tăng Bảo chứng ngộ gì với bệnh tật triền miên. Niềm tự tôn đạo giáo nào cũng có, việc giành giật tín đồ, triệt hạ uy tín tôn giáo đối phương là việc làm trải dài theo lịch sử loài người. Những vị Giáo chủ, Tông chủ cùng đồ chúng… kém khuyết đức hạnh, đạo tâm, thiếu lòng tự trọng, thừa tính hẹp hòi, đố kỵ xưa nay ở các tôn giáo không từng thiếu.
Do đó, nếu người học Phật không kịp thời chấn hưng lại sự lành mạnh chốn Phật môn, sự sáng rõ của viên ngọc quý ẩn tàng nơi đạo Phật thì tin rằng mai này đạo Phật sẽ hỗn độn, nhiễu nhương. Khi ấy, đạo Phật so với ngoại đạo liệu có còn chi khác hay cũng chìm trong danh lợi mong cầu và khắc khoải những niềm đau.
…
Câu hỏi “Tại sao những Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ cuối đời lại thế?” quả thật rất cần những người học Phật chân chính đặt ra, để nhận biết sâu sắc hơn về pháp hành, về việc chứng ngộ. Từ đó, những câu hỏi sáng tỏ hơn lại được người học Phật chánh tư duy đặt ra:
…
Câu hỏi “Tại sao những Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ cuối đời lại thế?” quả thật rất cần những người học Phật chân chính đặt ra, để nhận biết sâu sắc hơn về pháp hành, về việc chứng ngộ. Từ đó, những câu hỏi sáng tỏ hơn lại được người học Phật chánh tư duy đặt ra:
- Có không sự chứng ngộ vi diệu ở đạo Phật, có không những tầng bậc chứng ngộ nơi người học Phật? Đạo Phật có thật là đạo giác ngộ giải thoát hoàn toàn giúp chúng sinh vô minh vượt thoát sinh tử luân hồi? Hay giáo lý Phật môn chỉ dừng lại là ở những bài giảng thuyết giúp người học Phật thoát ra những khổ não đời thường? Chỉ thế thôi! Hay đạo Phật chỉ là chiếc bánh vẽ dụ trẻ con khi chúng còn mê ngủ?... Ôi! Rất, rất nhiều câu hỏi về Phật pháp mà người học Phật đúng mực với tri thức đương thời cần phải đặt ra.
- Và … nếu đạo Phật chỉ là chiếc bánh vẽ chẳng giúp no lòng khi đói thì người học Phật chân chính gìn giữ mà chi những nét vẽ đã hoen màu.
Trả lời câu hỏi tại sao các vị Thiền sư uy thế trấn môn như Tăng Bảo Nhất Hạnh, Thanh Từ ở cuối đời người thì tai biến đến xuất huyết não, người thì đột quỵ - Và phải chăng hai vị Danh sư Thiền Tông chưa chứng ngộ về đạo pháp?
Ngạo Thuyết khẳng định rằng cả hai vị Danh sư ấy đều không chứng ngộ một quả vị nào trong Tứ Quả Sa Môn tức Tứ Thánh Quả - A la hán, A Na Hàm, Tư Đà Hàm, Tu Đà Hoàn.
Và … với vị thế là người khai Tông, lập giáo mà hai vị Danh sư Thiền Tông đương thế còn không chứng ngộ ở tầng mức Nhập Lưu, Dự Lưu thì tin rằng giới Tăng Bảo Việt Nam học Phật tìm sự giác ngộ trên sách vở theo lối một tri, một giải ngày nay hiện không có lấy một người tỏ ngộ.
Không chỉ vậy! Ngạo Thuyết đã kiên nhẫn dõi mắt nhìn ra thế giới, 10 năm rồi cho việc tìm kiếm không hề ngăn ngại ở Nam Tông, Bắc Tông, Thiền – Tịnh – Mật, nhưng cuối cùng Ngạo Thuyết có thể khẳng định rằng “Đã khá lâu rồi không xuất thế một Chân Sư – Tăng Bảo Chứng Ngộ Pháp Vô Sanh” tùy nghi hộ pháp.
Tại sao lại như vậy?
Bởi lẽ đạo đời đã khiến Tăng Bảo bị nhốt vào biên kiến nẻo đạo từ lâu. Do duyên ấy cùng niềm tự tôn Phật pháp là đệ nhất chân nghĩa đế, đạo Phật là Number One,… Giới Tăng Bảo, người học Phật hết thế hệ này sang thế hệ khác truyền cho nhau những tri kiến lạc lầm. Những Chấp Thủ Sở Tri chồng lấp ngày càng thêm nhiều, giới Tăng Bảo vô hình chung đã đánh mất trung đạo, mặc dù ngày nay rất nhiều bài pháp thoại của các sư thầy vẫn thường nói đến lý trung đạo viên dung. Song giới hạn đạo đời đã phần nào khiến giới Tăng sinh kẹt lại ở lưới nhị nguyên; Lý thì như thị, sự thì nghi kỵ.
Thêm vào đó, ngày nay sự học Phật của chư Tăng bị quy hoạch thành trường lớp, những pho kinh sách lấp đầy vào não bộ, càng thêm dày nỗi vô minh.
Vì sao?
Vì việc học hành, thi cử để ra làm cử nhân, tiến sĩ Phật học đã tạo nên những mảng tri kiến lập tri ở Tăng sĩ xuất gia. Người sáng mắt dạy rằng tri kiến lập tri liền thì vô minh bổn. Do đó, khi tri thức Tăng Bảo nâng cao cùng với việc chăm học hơn hành trì, nghe sinh hiểu, ngỡ rằng biết liền thành sở tri chướng đóng bít cửa ngộ, lối vào Không môn của học nhân.
Chế định Tăng Bảo là thầy của Trời - Người, cùng với việc tích lũy nhiều kiến thức Phật học giới Tăng Bảo cả tin ngỡ rằng trí tuệ hơn người, từ đó sinh khởi tâm kiêu mạn, phóng dật và cứ thế chìm sâu vào sự tăm tối, mê mờ.
Theo quy chế trường chuyên Phật học cũng phải quán triệt đường lối Đảng Cộng Sản và lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Việc ăn cây nào, rào cây ấy – Tăng Bảo 3 Thời Ngày Nay Quy Y Ngoại Đạo Tự Bao Giờ. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến giới Tăng Bảo không thể “bùng nổ” tuệ tri.
Tăng Bảo, Tăng sinh ngày nay dễ thường rơi vào lỗi năng thuyết, bất năng hành. Vả lại đãi ngộ Tăng Bảo lại đang gặp thời hưng thịnh, điều kiện sống, sinh hoạt của giới Tăng Bảo ngày nay quá ư thừa mứa, Phiền não tức Bồ đề tự lúc nào cũng chỉ còn là những con chữ trên những tờ giấy chép kinh.
Đời sống Tăng sinh quá an toàn nên cái khổ, việc trực nhận chứng ngộ khổ giới Tăng Bảo ít khi được nếm trải; Đây là cánh cửa “đột phá” Phật môn và cánh cửa đó đã khép lại đối với giới Tăng Bảo đương thời.
…
Đó là hiện trạng của giới Tăng Bảo, Tăng sinh xuất gia ngày nay. Việc tỏ ngộ với họ giờ đã càng khó hơn việc “dắt lạc đà chui qua lỗ kim”.
…
Một số Tăng sinh Thiền môn theo lối chen ngang, cụ thể là thành phần chán đời giữa chừng, nương náu vào chốn tòng lâm những mong thoát khổ, cùng thêm một chút vọng cầu chứng ngộ khai tâm. Một số người học Phật theo lối chen ngang, khi khởi sơ phát tâm rất dũng mãnh nguyện thoát ly Tam giới nên rất miên mật hành trì. Chỉ đáng tiếc là danh sư chỉ dẫn thiếu khuyết, đồng môn thì giải đãi hành trì… Thế là sơ phát tâm bất thoái chuyển ban đầu dần lung lay, cái biết vô minh bổn rồi thì cũng nhập tâm, sự an toàn nơi chốn Tòng Lâm,… tất cả từng bước, từng bước hủy diệt tánh giác nơi người Tăng sinh lỗi nhịp nẻo đường đời. Tiếc thay! Một hạt mầm xanh đã gục chết trên mảnh đất màu mỡ.
Đời sống Tăng sinh quá an toàn nên cái khổ, việc trực nhận chứng ngộ khổ giới Tăng Bảo ít khi được nếm trải; Đây là cánh cửa “đột phá” Phật môn và cánh cửa đó đã khép lại đối với giới Tăng Bảo đương thời.
…
Đó là hiện trạng của giới Tăng Bảo, Tăng sinh xuất gia ngày nay. Việc tỏ ngộ với họ giờ đã càng khó hơn việc “dắt lạc đà chui qua lỗ kim”.
…
Một số Tăng sinh Thiền môn theo lối chen ngang, cụ thể là thành phần chán đời giữa chừng, nương náu vào chốn tòng lâm những mong thoát khổ, cùng thêm một chút vọng cầu chứng ngộ khai tâm. Một số người học Phật theo lối chen ngang, khi khởi sơ phát tâm rất dũng mãnh nguyện thoát ly Tam giới nên rất miên mật hành trì. Chỉ đáng tiếc là danh sư chỉ dẫn thiếu khuyết, đồng môn thì giải đãi hành trì… Thế là sơ phát tâm bất thoái chuyển ban đầu dần lung lay, cái biết vô minh bổn rồi thì cũng nhập tâm, sự an toàn nơi chốn Tòng Lâm,… tất cả từng bước, từng bước hủy diệt tánh giác nơi người Tăng sinh lỗi nhịp nẻo đường đời. Tiếc thay! Một hạt mầm xanh đã gục chết trên mảnh đất màu mỡ.
Lại một câu hỏi đặt ra “Nếu quả thật hai vị Danh Tăng Thanh Từ - Nhất Hạnh chưa chứng ngộ thì tại sao họ đủ sức khai tông, lập giáo, chế định được những nét rất riêng cho bản sắc Tông môn?”.
Vấn đề này thuộc về duyên hội tụ, gặp thời thì cá chép vượt long môn. Phước báu chư Tăng ngày nay bị diễn giải sai, do đó người học Phật đắm mê phước báu cũng như mong mỏi tuệ tâm sẽ sẵn sàng chắp cánh cho người xuất gia có tâm đức, đạo hạnh. Sau lưng các vị Tăng Bảo luôn có những người rất sẵn sàng cúng dường tài vật, đất đai, sức người,… Hội đủ duyên nên Tăng Bảo Thanh Từ - Nhất Hạnh lập đạo tràng, xây hệ thống Thiền viện khang trang; Hiện tướng chùa to, Phật lớn chưa bao giờ là thước đo cho sự chứng ngộ.
Chẳng phải ngày nay chùa chiền, Tự viện được người đời dựng lên rất lộng lẫy, nguy nga. Và có không ít vị sư trụ trì những ngôi chùa xa hoa, hùng vỹ ấy chỉ là những con bù nhìn rơm, những Tăng Bảo bị mù tri kiến Phật.
…
Lẽ nào hai vị Danh sư trên không tỏ ngộ chút ít gì?
…
Lẽ nào hai vị Danh sư trên không tỏ ngộ chút ít gì?
Hai vị Tăng Bảo Thanh Từ - Nhất Hạnh thuộc thế hệ trước nên họ ít nhiều nếm trải những khổ não, mất mát của thời chiến tranh binh lửa, họ lại là thành phần trí thức cấp tiến nên cũng có vốn tư lương vào đạo không hẹp chút nào. Các bản dịch kinh thời điểm đó dù không có nhiều nhưng giáo nghĩa mộc mạc, ít xen tạp phần diễn ý của dịch giả, thế nên các Tăng sinh ít bị nhiễu loạn thông tin, và họ phải đốt đuốc huệ để dò ngữ nghĩa nơi kinh Phật; Chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, đạo tâm theo đó thêm dày dặn.
Thêm nữa, nền giáo dục thời đó rèn dạy con người nhân cách, đạo đức, nghĩa nhân… Những điều kiện cần xây dựng nên nền móng đức độ, giới hạnh của chư Tăng Ni. Đất nước khó khăn nên việc xuất gia học Phật ở giới Tăng sinh bị kiểm duyệt gắt gao, chỉ có những người bền chí mới có thể theo đuổi việc học Phật. Vào chùa, Tăng sinh phải vừa lao động, vừa hành trì tu học, miếng ăn đôi khi phải chạy từng bữa nên hun đúc thêm chí nguyện xuất Tam giới gia,…
Song do kinh sách Phật học ít, lại thiên về Tịnh Độ Tông, việc học Phật chỉ mong cầu tha lực, Ơn Trên gia hộ đã là tri kiến trói người học Phật thuở ấy. Do đó, Tăng sinh Thanh Từ được đào luyện để có thể thành người dịch giải kinh sách đạo Phật, vô hình chung đặt để thầy Thanh Từ trở thành nhà nghiên cứu, học giả Phật học; Thầy Nhất Hạnh là Tăng sinh của Dòng Thiền Lâm Tế, làm việc cho người Pháp, đây là thế mạnh của thầy Nhất Hạnh bởi thêm một ngoại ngữ là bầu trời chừng như rộng ra thêm, thầy Thích Nhất Hạnh nhờ đó mà tham khảo được nhiều kinh sách Thiền Tông.
Về sau, thầy Nhất Hạnh theo người Pháp rời Việt Nam tiếp tục con đường xuất gia ly hương, lòng đau đáu một nỗi niềm nước mất, nhà tan.
Bước trên những khổ đau, con người ta dễ trưởng thành hơn, kiến thức Phật học về Thiền Tông, sự mới mẻ của đạo Phật trên đất nước Pháp, Tăng Bảo Thích Nhất Hạnh khai lập Dòng Tu Tiếp Hiện với Chánh Niệm, với Tỉnh Thức. Dấu ấn của dòng Thiền mà sư Nhất Hạnh xác lập là sự thanh thoát, nhẹ nhàng toát lên ở phong thái các vị Thiền sinh, đây là một nét rất riêng của thiền sinh Dòng Tu Tiếp Hiện.
Tăng Bảo Thanh Từ thì bận rộn nhiều với Phật sự đa đoan trong nước, những cuộc thuyết giảng ở nhiều nơi khiến pháp hành có thiên hướng Tịnh Độ Tông của sư Thanh Từ lỗi nhịp. Và tương truyền rằng do một Phật tử tín thành hỏi sư Thanh Từ về một vấn đề đạo pháp mà sư Thanh Từ không thể trả lời, trực nhận sự kém khuyết tri kiến Phật, sau chuyến làm Phật sự ấy, sư Thanh Từ xin phép Hòa Thượng Bổn Sư được dừng lại những việc Phật sự còn dở dang, về núi ẩn tu những mong sáng đạo. Hẳn đây là thời gian sư Thanh Từ dành cho việc tham cứu Thiền Tông của Dòng Thiền Trúc Lâm cùng việc hành trì thiền định.
Ít lâu sau, sư Thanh Từ xuất quan và vung tay phất mạnh lá cờ Thiền Tông, Thiền Tông Việt Nam dựa trên nền móng Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử được chính thức xác lập.
…
Nếu nói thầy Nhất Hạnh, thầy Thanh Từ không chút tỏ ngộ nào thì cũng không thật đúng. Thật ra thông qua việc hành thiền cả hai vị Danh sư ít nhiều đạt được định tâm, và khi đó những câu từ Phật học trước chưa rõ, giờ trở nên dễ hiểu, có những tỏ ngộ - những đột phá tri kiến Phật học khiến hai vị hành nhân Thiền Tông ngỡ rằng đã thông đạt Phật môn, việc thoát ra được khỏi cái kén Tịnh Độ Tông (Bắc thuộc), hai vị danh sư hân hoan đón nhận sự hiểu biết mới mẻ và niềm hỷ lạc tràn đầy của thiền định, hai vị Danh sư nghĩ rằng đã đến lúc báo đền Ơn Phật – Tổ gia trì, xác quyết việc ra sức chỉnh đốn những hiểu biết sai lạc của Đạo Phật, ở pháp môn Tịnh Độ Tông, đây là chỗ cài then đòi hỏi pháp môn Thiền Tông phải tái xuất.
…
Nếu nói thầy Nhất Hạnh, thầy Thanh Từ không chút tỏ ngộ nào thì cũng không thật đúng. Thật ra thông qua việc hành thiền cả hai vị Danh sư ít nhiều đạt được định tâm, và khi đó những câu từ Phật học trước chưa rõ, giờ trở nên dễ hiểu, có những tỏ ngộ - những đột phá tri kiến Phật học khiến hai vị hành nhân Thiền Tông ngỡ rằng đã thông đạt Phật môn, việc thoát ra được khỏi cái kén Tịnh Độ Tông (Bắc thuộc), hai vị danh sư hân hoan đón nhận sự hiểu biết mới mẻ và niềm hỷ lạc tràn đầy của thiền định, hai vị Danh sư nghĩ rằng đã đến lúc báo đền Ơn Phật – Tổ gia trì, xác quyết việc ra sức chỉnh đốn những hiểu biết sai lạc của Đạo Phật, ở pháp môn Tịnh Độ Tông, đây là chỗ cài then đòi hỏi pháp môn Thiền Tông phải tái xuất.
Đáng tiếc là chút tỏ ngộ của hai vị Danh sư chỉ dừng lại ở ngoài da của đạo Phật! Sự tỏ ngộ đó không chạm đến quả vị Bất Thối Chuyển, thế nên trước sau thầy Nhất Hạnh, Thầy Thanh Từ cũng chỉ là người học Phật hành bồ tát đạo ở vai trò Tăng Bảo xuất gia.
Việc nhập thế ở vai trò khai Tông, lập Giáo, hai vị Danh sư nghiễm nhiên trở thành Tông chủ bản môn. Thiền Tông vụt sáng lên giữa bầu trời đêm Tịnh Độ Tông tịch mịch, lê thê, nhàm chán. Thế nên việc Phật sự bộn bề đã chướng ngại rất nhiều đến việc hành trì, tu tập của hai vị học nhân Thiền Tông, chút tỏ ngộ mênh mang giờ khi mờ, khi tỏ, hai vị Danh sư dần trở thành hai học giả chốn Tòng Lâm, việc dịch thuật, diễn giải kinh sách Thiền Tông dần trở thành tri kiến lập tri ở hai vị Danh sư đương thế - Ta chứng ngộ rồi, mắt huệ khép từ đây. Xưa nay Tri kiến lập tri huyễn hoặc biết bao người học Phật.
Khi tuổi tác càng cao, lại do thiếu khuyết việc rèn luyện định tâm, con người ta dễ thường rơi vào tình trạng tâm chùn, chí cạn,… Cứ thế danh lợi vô tình âm thầm gây họa hoại đến các vị danh sư, bận rộn việc Phật sự miên man hai vị Thiền sư quên mất công phu thực học, quên mất cả việc cần lắm sự hành trì. Tâm chí dần mỏi mòn, hai vị Thiền sư khắc khoải vọng cầu rằng công đức làm Phật sự của bản thân vô lượng như thế hẳn là Ơn Trên, Chư Phật sẽ gia hộ đến suốt đời. Đây là tri kiến của những ngày xưa ấy quay về, khi mà việc học Phật theo lối Tịnh Độ Tông (Bắc thuộc) chèn lấp tâm trí của hai Tăng sinh thời trai trẻ.
Song có một điều rất thật là Phật xưa nay không từng ban phước, giáng họa cho ai bao giờ.
Thời gian cứ thắm thoát thoi đưa, do không ý thức được thời điểm dừng lại, việc Bế Quan – Tạ Khách - Ẩn Tu nên hai vị Danh sư phần nào đã hủy hoại biết bao công sức, tâm lực của chính mình và ảnh hưởng rất lớn đến pháp môn Thiền Tông.
Và sau cùng, một ngày nào đó hay hiện tại, ngay bây giờ, ở đây đang có hai chúng sinh vẫn tiếp tục lại cuộc hành trình thoát khỏi Tam giới còn đó sự dở dang với rất nhiều lao nhọc.
…
Nói như thế, phải chăng người chứng ngộ sẽ không bao giờ bị những bệnh về não, về hệ thần kinh và luôn tự chủ việc sinh tử?
…
Nói như thế, phải chăng người chứng ngộ sẽ không bao giờ bị những bệnh về não, về hệ thần kinh và luôn tự chủ việc sinh tử?
Ồ! Không. Ngạo Thuyết không từng nói thế.
Bạn có biết không?
Vị Phật Thích Ca, ngày xưa đi đường, trời mưa rơi ướt áo.
Nắng vẫn rám làn da trên những lối đi về
Thế nên, bạn hãy tin rằng Phật – Người Chứng Ngộ
Vẫn đói no ấm lạnh,
Vẫn cười khi vui và trầm lặng mỗi khi buồn.
Đừng nghĩ rằng Phật chẳng chút xuyến xao
Khi vua Tịnh Phạn dứt ngừng… hơi thở cuối.
…
Thế nên, đừng nghĩ người chứng ngộ sẽ tử thủ vô tâm, bởi lẽ họ vẫn sống cuộc đời rất thật. Song những vui buồn, được mất tựa nơi trung đạo mà họ hằng sống sẽ không bao giờ vượt mức đến nghiệt ngã, thê lương.
Vị Phật Thích Ca, ngày xưa đi đường, trời mưa rơi ướt áo.
Nắng vẫn rám làn da trên những lối đi về
Thế nên, bạn hãy tin rằng Phật – Người Chứng Ngộ
Vẫn đói no ấm lạnh,
Vẫn cười khi vui và trầm lặng mỗi khi buồn.
Đừng nghĩ rằng Phật chẳng chút xuyến xao
Khi vua Tịnh Phạn dứt ngừng… hơi thở cuối.
…
Thế nên, đừng nghĩ người chứng ngộ sẽ tử thủ vô tâm, bởi lẽ họ vẫn sống cuộc đời rất thật. Song những vui buồn, được mất tựa nơi trung đạo mà họ hằng sống sẽ không bao giờ vượt mức đến nghiệt ngã, thê lương.
Do đó,
Gió vô thường vẫn thổi muôn phương
Một dịp bước sang đường xe tông, người ngã
Hay một hôm, có cơn gió nào rất lạ
Tuổi già rồi người gục xuống hanh hao
Câu hỏi rằng: Người hỡi! Có đớn đau?
…
Nén dư lệ, người mỉm cười rất khẽ
Con người mà, nào phải quái nhân đâu.
…
Có một sự thật là người chứng ngộ dẫu có hiện tướng thế nào vẫn rạch ròi chánh định, do đó, ở quãng đời còn lại, họ sẽ không quên việc hành trì thiền định, việc làm ngõ hầu đảm bảo rằng tùy thời họ có ít nhiều sự tự chủ trong việc xả bỏ báo thân. Do đó, dẫu vô thường bất ngờ ập đến, thân người chứng ngộ hiện tướng bệnh, tâm người ấy vẫn thênh thang. Điều này có thể xác nhận lại thông qua cuộc đời thường nhật của họ. Tuy nhiên, bạn dòm ngó mà chi, sao không tự gột rửa ở nơi mình.
Gió vô thường vẫn thổi muôn phương
Một dịp bước sang đường xe tông, người ngã
Hay một hôm, có cơn gió nào rất lạ
Tuổi già rồi người gục xuống hanh hao
Câu hỏi rằng: Người hỡi! Có đớn đau?
…
Nén dư lệ, người mỉm cười rất khẽ
Con người mà, nào phải quái nhân đâu.
…
Có một sự thật là người chứng ngộ dẫu có hiện tướng thế nào vẫn rạch ròi chánh định, do đó, ở quãng đời còn lại, họ sẽ không quên việc hành trì thiền định, việc làm ngõ hầu đảm bảo rằng tùy thời họ có ít nhiều sự tự chủ trong việc xả bỏ báo thân. Do đó, dẫu vô thường bất ngờ ập đến, thân người chứng ngộ hiện tướng bệnh, tâm người ấy vẫn thênh thang. Điều này có thể xác nhận lại thông qua cuộc đời thường nhật của họ. Tuy nhiên, bạn dòm ngó mà chi, sao không tự gột rửa ở nơi mình.
Và chỉ có những người chứng ngộ hành trì thành tựu pháp hành Diệt Tận Định của hạng nhị thừa mới thật sự có đủ khả năng thực hiện việc thị tịch một cách rốt ráo tự chủ.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét