VẤN ĐỀ : MỤC TIÊU, CỨU CÁNH và CÁC PHÁP CỦA PHẬT GIÁO.
Như trong 6 bài trước tôi trình bày ( là để trao đổi học tập, nhận thêm sự hiểu biết nơi các Bậc cao nhân, nơi các Bạn ) và tôi xác định theo mình - CÁI "" TRÍ THẤY, BIẾT "" HIỆN ĐANG CÓ của con người - xin tạm dùng từ Nhân trí -thì luôn luôn " đi cùng " với con người trong cuộc đời và con người luôn luôn sử dụng nó trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống tương tác NHƯNG giữa người TU PHẬT và người không tu Phật khác nhau là BIẾT hay không BIẾT " TÍNH ĐẶC THÙ SỬ DỤNG" của nó và vận dụng vào cuộc đời mình để đạt đến mục đích của mình..
Thế nên, trong phạm vi, trong " chiều hướng riêng ", trong quan điểm của mỗi người, việc gọi Nhân trí là vô minh, u mê, sai lầm, thì ĐÓ LÀ CỦA CHỈ Ở NHỮNG NGƯỜI MUỐN THOÁT KHỔ THEO QUAN ĐIỂM PHẬT ĐẠO, trsi lại thì không phải thế, mà nó còn được đề cao, nhân rộng nữa là đằng khác.
Do vậy, trở lại vấn đề thiển ý, tôi vẫn NHÌN " cái nhân trí hiện có của tôi " hay của mọi con người hiện đang chỉ là một " công cụ tối cần thiết " mà TUỲ THEO CÁCH SỬ DỤNG RIÊNG ĐỂ ĐƯA ĐẾN MỤC ĐÍCH SỐNG CỦA MÌNH mà con người gọi tên khác nhau..
Với người Phật tử còn đang sanh sống trong đời thường - lúc là vô minh trí, u mê trí,...........lúc là Tuệ trí tức là lúc THẤY, BIẾT mà con người KHÔNG CÒN "" VƯỚNG MĂC...sai lầm, u mê.."", không còn tạo nghiệp nữa trong cuộc sống thường nhật này, thì cuộc sống trở nên HÀI HOÀ DUNG HỢP hơn.
Trình bày đến đây tôi tin chắc rằng CÓ Bạn KHÔNG ĐỒNG TÌNH, không đồng ý, bởi tôi cho rằng Đạo Phật có mục đích, Bạn cho rằng tôi sai - ĐẠO PHẬT MÀ CÓ MỤC ĐÍCH à?
Vâng, về tổng thể hướng đến một cách sống nào đó là CÓ MỤC ĐÍCH, như đến KHÔNG KHỔ đã là mục đích rồi. Còn về PHƯƠNG PHÁP để đạt đến thoát khổ, " giải thoát hết rốt ráo các vọng tưởng " - chấm dứt vọng tưởng thì KHÔNG CÓ MỤC ĐÍCH..
Chúng ta trở lại cuộc đời Ngài Thái Tử Tất Đạt Đa - xin thông cảm, hoan hỉ bởi chúng ta đang tìm hiểu và trình bày để hiểu - thoát ly gia đình là Ngài muốn điều gì ??. Có mục đích không ? Ngài ĐI TÌM những gì ?? và để làm gì ??. MỤC ĐÍCH nằm ở đây.
Tuy rằng Ngài CHỈ MƯỜNG TƯỢNG trong tâm trí ", chúng ta con người chỉ có thể nói như thê, chư ngay ở Ngài, Ngài cũng không thể BIẾT TRƯỚC những điều Ngài CHƯA BIẾT.và rằng phải có con đường giải thoát khổ " và đó CHÍNH LÀ " nỗi băng khoăn chết người của chính Ngài " - tôi nghĩ thế - khi tôi CÒN và RẤT TÔN KÍNH NGÀi. Thế nghĩa là Ngài ra đi CÓ MỤC ĐÍCH, CÓ MỤC TIÊU.
Thế thì MỤC TIÊU của Thái Tử Tất Đạt Đa quá rõ ràng - GIẢI THOÁT KHỔ cho chính bản thân mình và con người bởi CÙNG CẢNH NGỘ; Đến khi giác ngộ thì ( với chúng ta nói thế thôi ) là CỨU CÁNH là Niết bàn ( hoặc các từ khác mà sau này con người khi sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt cho nhau là Thiên đàng, Tây phương Cực Lạc hay Tịnh độ quốc.....).
Để bắt đầu quá trình nấy không có ai có thể nói rằng Ngài KHÔNG SỬ DỤNG NHÂN TRÍ ĐANG CÓ như các con người khác, cho đến khi " nhân trí HẾT CÁCH tìm tòi, HẾT CÁCH hướng dẩn BẤT LỰC nên nó VẮNG BẶT, im hơi lặng tiếng dưới cội Bồ đề thì Ngài mới phát hiện ra À.......À CHÍNH NÓ - chính CÁI DỤNG QUEN THUỘC , chính cái TÍNH HÀNH HOẠT ĐẶC THÙ của nó giúp cho con người THƯỜNG hướng đến ĐƯỢC THOẢ MÃN nhưng những thoả mãn ấy lại luôn luôn hàm chứa BẤT THOẢ MÃN - nghĩa là KHỔ, nghĩa là "" con người SAI LẦM ở chỗ này "" nên Ngài gọi nó là VÔ MINH trí, trí u mê và Ngài cũng phát hiện ra rằng cái Nhân trí đang có, hiện có của con người luôn luôn đeo bám, luôn luôn hiện hữu trong con người khi còn sống hay nói một cách khác
như Đức Phật ban truyền Chân lý : "" CON NGƯỜI LUÔN LUÔN ĐEO BÁM NHỮNG SAI LẦM CỦA MÌNH nên con người KHỔ "" là thế.
Điều này không phải là mới lạ ở thời đại của Ngài, điều này không phải là trước Ngài không ai biết đến " cái khổ " của con người NHƯNG TẤT CẢ ĐỀU cho rằng KHỔ của con người là DO THẦN LINH ĐỊNH ĐOẠT hay GIÁN HOẠ cho con người khi con người KHÔNG LÀM "" VỪA LÒNG HỌ "...
.....; không có ai PHÁT HIỆN RA chính " sự vô minh, mê mờ của nhân trí " nên KHỔ....
Thời đó cũng có người phản bát, chê bay Ngài, cũng có người tôn danh Ngài và xem Ngài như Thần Thánh; Ngài nói :
-- Ta không phải là một thần thánh, không phải là vị được mặc khải mà CHỈ LÀ NGƯỜI GIÁC NGỘ .
Người giác ngộ là người THẤY LẼ THẬT, thật không còn chối cải như Chân lý và sau này chúng ta gọi người ấy là Phật.
Đơn giản, Phật là người thấy, biết Chân lý chấm dứt khổ và bất cứ con người nào cũng có khả năng thành phật NẾU XA RỜI VÔ MINH Ngài dạy ;
-- " Ta là phật đã thành và con người là phật sẽ thành ".
Mọi con người có thể sẽ thành phật; mọi con người sẽ là người đạt đến " hết khổ ", nghĩa là đạt đến một trạng thái KHÔNG BẤT TOẠI,
Cái quái oăm là trạng thái - tức " cái mà con người cảm thọ " TOẠI hay BẤT TOẠI thì duy chỉ của một người - CHỈ NGƯỜI ẤY BIẾT ( nên gọi là thân chứng ) không có một " ký hiệu truyền thông " nào của ngôn ngữ nào diễn tả chính xác được, nên KHÔNG BẤT TOẠI cũng thế VÔ NGÔN THUYẾT.
Thế nên chúng ta không lạ gì tất cả những từ TẠM DÙNG để CHỈ TRẠNG THÁI ĐÓ như Niết bàn, hạnh phúc viên mãn ......Tây phương cực lạc.....thì KHÔNG MỘT VỊ NÀO ĐỊNH NGHĨA RÕ RÀNG cho chúng ta.
Thế nên chúng ta không lạ gì tất cả các Vị Cao Tăng, các Vị Thiền sư không bao giờ dùng ""XÁC-ĐỊNH CÁCH "" mà chỉ trả lời theo ""PHỦ-ĐỊNH-CÁCH "" - nghĩa là Họ chỉ nói "" cái này không phải là.....Niết bàn "", thế kia không phải là.......và Họ không bao giờ giải thích, phân trần mà Họ KÉO, LÔI, ĐẠP NHÀO ..........các môn sinh VÀO THỰC TẠI để mốn sinh, thiền sinh TỰ THÂN CHỨNG thì biết CỨU CÁNH của việc tu tập Phật đạo.
Thế nên MÁT CỦA NƯỚC không thể nói với nhau, không thể giải trình nhưng CÁCH UỐNG thì CÓ NHIỀU, rất nhiều, và có thể giảng giải cho nhau..
Phật giáo trình bày mục tiêu Niết bàn cho những ai cảm thấy CẦN ĐẾN và không bao giờ ý CƯỠNG BÁCH.. .
Đức Phật chỉ khuyên : " HÃY ĐẾN VÀ THẤY
Phật giáo có những nguyên tắc luân lý tốt đẹp, thích hợp với người khác, người sa cơ trên đường Đạo pháp cũng như người đã tiến khá xa. Đó là những nguyên tắc GIỚI HẠN DẦN VÔ MINH trí trong cuộc sống đời thường, đó là những nguyên tắc cảnh giác, giữ gìn không để Vô minh khống chế.....giảm dần...giảm dần......:
-- 1/. Năm giới - Panca Sĩla - : không sát sanh, không trộm xắp, không tà dâm, không vọng ngữ và không dùng chất say.
-- 2/. Bốn trạng thái cao thượng - Brahma Vihãra, Tu vô luơng tâm - Từ, Bi, Hỷ và Xả.
-- 3/. Mười phẩm hạnh siêu thê - Pãramita, Ba la mật - Bố thí, Trì giới, Xuất gia, Trí tuệ, Tinh tấn, Nhẫn nại, Chân thật, Quyết định, Tâm từ và tâm xã.
-- 4/. Bát chánh Đạo : Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Với ý KHÔNG CƯỠNG BÁCH, chỉ đường thì có, chỉ pháp thì có - cho những ai có nguyện vọng BIẾT CÁI MÁT CỦA NƯỚC hay giải thoát đau khổ thì điều lưu tâm suy niệm đến CÁC PHÁP rút ra từ các nguyên tắc trên từ các Vị Tiền bối, nhưng Đức Phật cũng lưu tâm con người " Mọi Thế pháp đều HƯ DỐI cho dù lập lại pháp của Như lai " . Pháp nào giải thoát khổ mới là pháp Phật nhưng không phải các pháp được Ngài thuyết - các cách được Ngài chỉ bày trước đây đều ÁP DỤNG ĐÚNG cho mọi người. Các Vị Tiền nhân còn vì Đức Phật như một Lương ý là thế - TUỲ BỊNH CHO THUỐC chứ khjông phải thuốc của Lương ý trị mọi bịnh.
Nếu người ta có gọi Đức Phật là người " cứu thế " đi nữa thì cũng chỉ có nghĩa rằng Ngài ĐÃ PHÁT HIỆN RA và CHỈ CHO BIẾT CÓ ĐƯỜNG đi đến Giải thoát, Niết bàn nhưng tự chính chúng ta , ta phải bước trên con đường của mình.
Trong Kinh Đại Bát Niết bàn - Mahàparinibbàna - chúng ta thấy Ngài không bao giờ có ý nghĩ áp đặt một pháp cho bất cứ trường hợp nào, Ngài không bao giờ có ý điều khiển, áp đặt ai hay đoàn thể tăng già - Sangha - và Ngái cũng không muốn đoàn thể này tuỳ thuộc vào Ngài, Ngài dạy rằng trong giáo lý của Ngài không có lý thuyết huyền bí, mầu nhiệm, không có gì giấu diếm trong " nắm tay của Bậc Đạo sư - àcariyamutthi - hay nói cách khác, MUỐN BIẾT ...HÃY UỐNG ĐI THÌ BIẾT NƯỚC MÁT thế nào.