Thientu Tran
1 giờ ·
NIẾT BÀN : Ý Thức về
Niết bàn
Như trên nếu chúng
ta nói rằng " chúng ta hiểu Niết bàn " hay bất cứ người nào giải
thích về Niết bàn thì đó là một sự lầm lẫn lớn và rất quan trọng bởi nó làm sai
lệch Niết bàn - điều nói về Niết bàn không phải là Niết bàn !. Tuy nhiên nói
Niết bàn là đích đến, là mục đích tối hậu trên đường giải thoát lo âu, sợ sệt -
khổ - thì có thể. bởi Niết bàn không phải là một nơi đến như thường được dùng
như thế giới Cực lạc, NHƯ MỘT NƠI NÀO ĐÓ mà con người sống hoàn toàn không
còn đau khổ, không còn luân hồi vào thế giới trầm luân, sung sướng toại nguyện
thì vô hình chung tạo ra một ngộ nhận đáng buồn vì con người cứ vào đó thì
không bao giờ đến được, nên con người lầm tưởng mình không bao giờ Giác ngộ
được.
Niết bàn là một trải
nghiệm NỘI HƯỚNG tâm lý. Niết bàn là cảm nhận " kết quả tự thân " như
đau khổ - thân chứng nên khi trình bày, lý giải nghĩa là lý giải bằng ngôn ngữ
khái niệm, qui ước thì không thể nào tránh khỏi lầm lẫn và ngộ nhận. . Cái đích
đến tối hậu, tối thượng đó được Đạo Phật gọi là Niết bàn, Đạo Thiên Chúa gọi là
Thiên đàng, Đạo Bà La Môn gọi là Brahma nhưng tựu chung vẫn là một điểm NỘI
HƯỚNG mà mỗi cá nhận tự thân chứng. Nó không phải là một cảnh giới HIỆN TƯỢNG
bên ngoài tâm ý của con người nên không thể nhầm lẫn mà đồng hóa như đất, như
nước, như tinh tú hay một khu vực địa lý, một không gian nào đó......
NIết bàn cũng không
phải là một Ý niệm nhi nguyên, Ý niệm phi nhị nguyên hay ý niệm phi phi nhị
nguyên nên chúng ta rất dể nhầm lẫn trạng thái mà trạng thái ấy lại dùng các từ
sung sướng, hạnh phúc, lạc thú, tĩnh lặng..... tròn đầy viên mãn, vô biên. .
Nói Niết bàn là
" kết quả sau cùng, tối thượng " nhưng dù là một kết quả mà bản chất
thực của nó không phải là một ĐẠI LƯỢNG, là một cái gì đó mà có thể đong, có
thể đo, có thể đếm,, có thể ước lượng hay so sánh được. Niết bàn có thể mô tả
khái lược TÌNH TRẠNG CẢM THỌ TỰ THÂN của người đột nhiên thọ được hay của hành
giả tu dưỡng đạt đên sau khi vượt thoát mọi ưu phiền trói buộc, mọi đau khổ
hoặc hành giả hoàn thành sự chuyển hóa tâm ý, nhận thức và hành vi. Thế nên
chúng ta khó tránh được lấn cấn,lúng túng khi để hiểu Niết bàn bằng ngôn ngữ
qui ước, định lượng định phẩm, khái niệm qui phạm. . Niết bàn là một cảm thọ tự
thân - thân chứng - dù nó có thể có qua một quá trình nhận thức, một quá trình
tu dưỡng hay không nhưng bao giờ cảm thọ này cũng chỉ đến, chỉ xuất hiện đột
ngột lạ lùng kèm theo cảm giác tròn đầy, viên mãn - một sự bùng nổ tự nhiên,
như một sự thoát xác trọn vẹn. Hành giả tự biết không do một chủ đích đạt được,
một ham muốn, ước vọng thúc đẩy, một điều kiện nào trước đó hay sẽ là một tác
duyên nào sanh ra hay là nguyên nhân cho một cái gì cả.- một kết quả như cuối
cùng, nó viên mãn không sanh không diệt " đến và đi như thế " .
Kết quả cuối cùng đó
mà nội dung chỉ định giác ngộ hay nhập Niết bàn, nó là một thực trạng THỰC HỮU
dù không phải do một tiến trình, dần dần, từ từ. Nó không có một cái gì mang
tính đặc thù như nó, giống nó trước đó hay sau đó - NÊN NIẾT BÀN LÀ KẾT
QUẢ SAU CÙNG. . TRI- hành giả có tri, phải còn tri. Tri kiến đó không phải là
tri kiến của tri thức huân tập, khuôn thức, mẫu mực, tri của tri vô minh, u mê.
. THỨC - thức trong Niết bàn với các Vị đã chứng nhập " gợi ý " cho
chúng ta - các Vị ấy CÓ Ý THỨC về Niết bàn khi và chỉ khi CHẤM DỨT ý thức nhị
nguyên - loại ý thức nhị nguyên với các cập đói đải, các vướng bận chấp hữu,
thường hằng và không bao giờ tránh khỏi nghiệp chướng, lo âu, xung đột, bất
hòa. phiền não. Trong thế giới tương đối, biến chuyển liên tục không có cái gì
thường hằng, viên miễn và chúng ta lại xử dụng ngôn ngữ khái niệm để diển đạt,
để lãnh hội " CÁI KHÔNG THỂ NÓI ĐƯỢC " bằng " CÁI NÓI ĐƯỢC
" thi tất yếu là sai lầm từ ban đầu !. .
Có phải chăng các Vị
Tiền nhân buộc phải nói Niết bàn là một cảnh siêu việt hơn thực tế. - Niết bàn
thoát khỏi sinh tử luân hồi ?. Trí năng của con người rõ ràng " không với
tới " nó được. Có phải chăng vì thế mà chúng ta không tìm được một giải
thích khẳng định về NIết bàn ?. . Có phải chăng trong Bộ Áo Nghĩa thư
Upanishada chúng ta chỉ có thể đọc được " đó là cái này ....." hay
" đây là cái này..." hoặc " ở đây bây giờ ". . Có phải
chăng vì thế mà các Đạo Sư Thiền tông chỉ bảo " uống nước đi thì biết nước
mát thế nào " ?. Những cảm thọ này không thể giải bày như một trạng thái
có hiện tướng, có tương liên nhân quả. Nó là những gì đang xảy ra và thực là
như thế, đang là, như thị ( thị hiện ), " kiến diện như lai " . Chúng
ta chỉ có thể biết nó như nó trình hiện và chúng ta " bước trọn, hòa quyện
vào chính nó ". . Từ đó có hai chiều hướng nhận định sai khác sanh ra khác
biệt trong luận giải, luận giảng trong Triết học Phật giáo :. . 1/. Nhiều Học
phái cho rằng : được phát khởi từ sự phải có ý thức rèn luyện, tu dưỡng, căn
cứ trên giới luật GIỚI, ĐỊNH để dần dần giảm bớt, giảm bớt...... giảm
bớt.........cho đến khi hoàn toàn chấm dứt cái trí u mê, Vô minh thì lúc đó
giác ngộ, thọ Niết bàn. .
2/. Một số Học
phái cho rằng tu dưỡng, giới luật có nghiêm nhặc tới mức nào đi nữa thì cái
giảm thiểu, CÓ GIẢM THIỂU cách nào thì vẫn luôn luôn là chính nó. Mài một miếng
đồng bằng cách nào đi nữa thì vẫn là miếng đồng không thể thành cái gương. CỎ,
có đè mãi thì nó cũng chỉ là cỏ bị đè chứ không thành một thứ nào khác cỏ. Bằng
trên THỰC TÍNH CỦA NIẾT BÀN họ nói Giác ngộ là giác ngộ . Giác ngộ không tới
bằng sự tu dưỡng, rèn luyện nào cả.
Cả hai chiều hướng
này đều cùng đến MỤC ĐÍCH TỐI HẬU - NIẾT BÀN hay giác ngộ nhưng một bên nói về
" cách đi đến " và một bên nói về lúc đến "" nhắm vào điểm
đạt được " . Tựu chung tất yếu phải khác nhau bởi tất cả chỉ là những CÁNH
TAY NGỌC NGÀ CHỈ TRĂNG ( còn tiếp )

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét