Thứ Ba, 14 tháng 8, 2018

Thientu Tran
1 giờ ·
NIẾT BÀN : Ý Thức về Niết bàn
Như trên nếu chúng ta nói rằng " chúng ta hiểu Niết bàn " hay bất cứ người nào giải thích về Niết bàn thì đó là một sự lầm lẫn lớn và rất quan trọng bởi nó làm sai lệch Niết bàn - điều nói về Niết bàn không phải là Niết bàn !. Tuy nhiên nói Niết bàn là đích đến, là mục đích tối hậu trên đường giải thoát lo âu, sợ sệt - khổ - thì có thể. bởi Niết bàn không phải là một nơi đến như thường được dùng như thế giới Cực lạc, NHƯ MỘT NƠI NÀO ĐÓ mà con người sống hoàn toàn không còn đau khổ, không còn luân hồi vào thế giới trầm luân, sung sướng toại nguyện thì vô hình chung tạo ra một ngộ nhận đáng buồn vì con người cứ vào đó thì không bao giờ đến được, nên con người lầm tưởng mình không bao giờ Giác ngộ được.
Niết bàn là một trải nghiệm NỘI HƯỚNG tâm lý. Niết bàn là cảm nhận " kết quả tự thân " như đau khổ - thân chứng nên khi trình bày, lý giải nghĩa là lý giải bằng ngôn ngữ khái niệm, qui ước thì không thể nào tránh khỏi lầm lẫn và ngộ nhận. . Cái đích đến tối hậu, tối thượng đó được Đạo Phật gọi là Niết bàn, Đạo Thiên Chúa gọi là Thiên đàng, Đạo Bà La Môn gọi là Brahma nhưng tựu chung vẫn là một điểm NỘI HƯỚNG mà mỗi cá nhận tự thân chứng. Nó không phải là một cảnh giới HIỆN TƯỢNG bên ngoài tâm ý của con người nên không thể nhầm lẫn mà đồng hóa như đất, như nước, như tinh tú hay một khu vực địa lý, một không gian nào đó......
NIết bàn cũng không phải là một Ý niệm nhi nguyên, Ý niệm phi nhị nguyên hay ý niệm phi phi nhị nguyên nên chúng ta rất dể nhầm lẫn trạng thái mà trạng thái ấy lại dùng các từ sung sướng, hạnh phúc, lạc thú, tĩnh lặng..... tròn đầy viên mãn, vô biên. .
Nói Niết bàn là " kết quả sau cùng, tối thượng " nhưng dù là một kết quả mà bản chất thực của nó không phải là một ĐẠI LƯỢNG, là một cái gì đó mà có thể đong, có thể đo, có thể đếm,, có thể ước lượng hay so sánh được. Niết bàn có thể mô tả khái lược TÌNH TRẠNG CẢM THỌ TỰ THÂN của người đột nhiên thọ được hay của hành giả tu dưỡng đạt đên sau khi vượt thoát mọi ưu phiền trói buộc, mọi đau khổ hoặc hành giả hoàn thành sự chuyển hóa tâm ý, nhận thức và hành vi. Thế nên chúng ta khó tránh được lấn cấn,lúng túng khi để hiểu Niết bàn bằng ngôn ngữ qui ước, định lượng định phẩm, khái niệm qui phạm. . Niết bàn là một cảm thọ tự thân - thân chứng - dù nó có thể có qua một quá trình nhận thức, một quá trình tu dưỡng hay không nhưng bao giờ cảm thọ này cũng chỉ đến, chỉ xuất hiện đột ngột lạ lùng kèm theo cảm giác tròn đầy, viên mãn - một sự bùng nổ tự nhiên, như một sự thoát xác trọn vẹn. Hành giả tự biết không do một chủ đích đạt được, một ham muốn, ước vọng thúc đẩy, một điều kiện nào trước đó hay sẽ là một tác duyên nào sanh ra hay là nguyên nhân cho một cái gì cả.- một kết quả như cuối cùng, nó viên mãn không sanh không diệt " đến và đi như thế " .
Kết quả cuối cùng đó mà nội dung chỉ định giác ngộ hay nhập Niết bàn, nó là một thực trạng THỰC HỮU dù không phải do một tiến trình, dần dần, từ từ. Nó không có một cái gì mang tính đặc thù như nó, giống nó trước đó hay sau đó - NÊN NIẾT BÀN LÀ KẾT QUẢ SAU CÙNG. . TRI- hành giả có tri, phải còn tri. Tri kiến đó không phải là tri kiến của tri thức huân tập, khuôn thức, mẫu mực, tri của tri vô minh, u mê. . THỨC - thức trong Niết bàn với các Vị đã chứng nhập " gợi ý " cho chúng ta - các Vị ấy CÓ Ý THỨC về Niết bàn khi và chỉ khi CHẤM DỨT ý thức nhị nguyên - loại ý thức nhị nguyên với các cập đói đải, các vướng bận chấp hữu, thường hằng và không bao giờ tránh khỏi nghiệp chướng, lo âu, xung đột, bất hòa. phiền não. Trong thế giới tương đối, biến chuyển liên tục không có cái gì thường hằng, viên miễn và chúng ta lại xử dụng ngôn ngữ khái niệm để diển đạt, để lãnh hội " CÁI KHÔNG THỂ NÓI ĐƯỢC " bằng " CÁI NÓI ĐƯỢC " thi tất yếu là sai lầm từ ban đầu !. .
Có phải chăng các Vị Tiền nhân buộc phải nói Niết bàn là một cảnh siêu việt hơn thực tế. - Niết bàn thoát khỏi sinh tử luân hồi ?. Trí năng của con người rõ ràng " không với tới " nó được. Có phải chăng vì thế mà chúng ta không tìm được một giải thích khẳng định về NIết bàn ?. . Có phải chăng trong Bộ Áo Nghĩa thư Upanishada chúng ta chỉ có thể đọc được " đó là cái này ....." hay " đây là cái này..." hoặc " ở đây bây giờ ". . Có phải chăng vì thế mà các Đạo Sư Thiền tông chỉ bảo " uống nước đi thì biết nước mát thế nào " ?. Những cảm thọ này không thể giải bày như một trạng thái có hiện tướng, có tương liên nhân quả. Nó là những gì đang xảy ra và thực là như thế, đang là, như thị ( thị hiện ), " kiến diện như lai " . Chúng ta chỉ có thể biết nó như nó trình hiện và chúng ta " bước trọn, hòa quyện vào chính nó ". . Từ đó có hai chiều hướng nhận định sai khác sanh ra khác biệt trong luận giải, luận giảng trong Triết học Phật giáo :. . 1/. Nhiều Học phái cho rằng : được phát khởi từ sự phải có ý thức rèn luyện, tu dưỡng, căn cứ trên giới luật GIỚI, ĐỊNH để dần dần giảm bớt, giảm bớt...... giảm bớt.........cho đến khi hoàn toàn chấm dứt cái trí u mê, Vô minh thì lúc đó giác ngộ, thọ Niết bàn. .
2/. Một số Học phái cho rằng tu dưỡng, giới luật có nghiêm nhặc tới mức nào đi nữa thì cái giảm thiểu, CÓ GIẢM THIỂU cách nào thì vẫn luôn luôn là chính nó. Mài một miếng đồng bằng cách nào đi nữa thì vẫn là miếng đồng không thể thành cái gương. CỎ, có đè mãi thì nó cũng chỉ là cỏ bị đè chứ không thành một thứ nào khác cỏ. Bằng trên THỰC TÍNH CỦA NIẾT BÀN họ nói Giác ngộ là giác ngộ . Giác ngộ không tới bằng sự tu dưỡng, rèn luyện nào cả.
Cả hai chiều hướng này đều cùng đến MỤC ĐÍCH TỐI HẬU - NIẾT BÀN hay giác ngộ nhưng một bên nói về " cách đi đến " và một bên nói về lúc đến "" nhắm vào điểm đạt được " . Tựu chung tất yếu phải khác nhau bởi tất cả chỉ là những CÁNH TAY NGỌC NGÀ CHỈ TRĂNG ( còn tiếp )

Không có nhận xét nào: