Tổ Huyền Quang dạy:
Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch.
Nhân tối sơ nhất niệm sai thù, tùng mộng tưởng hữu tư sanh diệt.
Tuy vân diệt:
Diệt nhi bất diệt, tằng Đạt Ma chích lý Tây quy.
Sanh nhi bất sanh, nãi Thích Tôn song lâm thị tịch.
Nhược phi nhất nhơn hiểu liễu, nan miễn tứ đại tương man.
Cố Nhơn Thiên thượng hữu luân hồi, huống phàm cơ đắc vô sanh tử.
Kim vị tang chủ, linh tiền khốc huyết, thống duy: cố ....
Quyên tam xích chi huyễn xu, nhập cửu tuyền chi dị lộ.
Lâm thời hoảng hốt, phách tán hồn phiêu.
Tuy vân:
“Sanh viết ký nhi tử viết quy ”, bất xuất tứ sanh chi nội;
Nãi nhược, thăng vu thiên nhi giáng vu địa.
Tổng quy lục đạo chi trung.
Ô hô !
U quan ảm đạm minh tiền đồ, triền nghiệp lực nan năng giải thoát. Tuyền giới bàn hoàng sầu dị lộ, trượng Phật lực nhi toại tiêu diêu.
DỊCH NGHĨA
Tằng nghe rằng:
Giác tánh viên minh, xưa nay vắng lặng.
Vốn không ngã nhân huyễn tướng, nào có sanh tử giả danh!
Nhơn đầu tiên một niệm sai lầm, tùy vọng tưởng có sanh có diệt.
Tuy nhiên:
Diệt nào có diệt, Đạt Ma Tôn giả, quảy dép về Tây;
Sanh mà không sanh, Thích Ca Thế Tôn, song lâm nhập diệt!
Nếu không một phen thấu triệt, khó khỏi nhiều kiếp nổi trôi.
Nên, người trời còn có luân hồi, huống phàm thứ há không sanh tử?
(hết trích)
Lời bàn:
Trong Thật tế là không có sanh tử. Chỉ do "Nhơn đầu tiên một niệm mê lầm, theo vọng tưởng mà thấy có sanh có diệt".- Hiểu được lẻ này là thấy được NGỘ VÔ SANH. Mà Tổ dạy: "Hoa khai kiến Phật Ngộ Vô Sanh" là đây.
“Phần lớn chúng ta vì còn mê lầm nên chỉ thấy huyễn tướng mà chưa biết quán chiếu để thấy được thật tướng của pháp đó là tướng không bất sinh bất diệt….”
Tướng không không sinh không diệt có nghĩa là tướng không đã có từ vô lượng kiếp trước và nó còn tồn tại đến vô lượng kiếp sau này. Cái mà ta thấy sinh ra và mất đi đó là sinh ra và mất đi của ngũ uẫn (huyễn tướng), còn tướng không (thật tướng) thì không sinh không diệt.
khi ta thấy một người mới mất đi, đó là ngũ uẩn của họ ở kiếp này vừa mới mất đi, nhưng tướng không của người đó vẫn còn đó, và nó sẽ đi cõi mới với hình hài ngũ uẩn mới.
Vì sao tướng không bất cấu bất tịnh (không dơ không sạch)? Sạch và dơ bẩn là hai mặt đối đãi trong thế gian pháp, đó là đặc tính của huyễn tướng (ngũ uẩn). Nhưng khi xét về bản chất của pháp (tướng không), tướng không các các pháp đều giống nhau và thực sự không có pháp nào mang bản chất là dơ hay sạch. Vì tướng không rỗng lặng (không chứa gì trong nó cả) và không do duyên hợp của các pháp khác tạo thành, nên nó không bị cấu nhiễm bởi các pháp khác.
Vì sao nói tướng không không tăng không giảm? Khác với huyễn tướng vì có hình dạng nên thay đổi và có thể tăng giảm, tướng không là bản chất của pháp nên bất biến, không tăng không giảm dù nó ở bất kỳ trạng thái nào. Ví dụ như nước, dù ở thể lỏng, thể hơi, thể rắn, thì tướng không của nước vẫn vậy, không thay đổi, không thêm không bớt. Dù nước có kết hợp để tạo thành các pháp mới, nhưng bản chất nước dù ở bất kỳ đâu vẫn không thay đổi, vẫn là nước, vẫn nguyên vẹn đầy đủ đặc tính mà không thêm không bớt.
Đức Phật giảng về ngũ uẩn và câu này giảng về tướng không, ta có thể đúc kết lại rằng huyễn tướng (bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức) bị sinh diệt theo luật vô thường, còn tướng không (thật tướng) bất sinh bất diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm. Vì vô minh nên ta trụ vào huyễn tướng nên còn đau khổ. Các Bồ Tát và Đức Phật là Bậc giác ngộ nên thấy được thật tướng thường hằng nên không trụ vào huyễn tướng nên không còn đau khổ.(trích )
Do vậy kinh Hoa Nghiêm Phật dạy:
Quan sát nơi các pháp
Đều không có tự tánh
Tướng nó, vốn sanh diệt
Chỉ là danh thuyết giả.
Tất cả pháp vô sanh
Tất cả pháp vô diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.
Pháp tánh vốn không tịch
Vô thủ, cũng vô kiến
Tánh không, tức là Phật
Chẳng thể nghĩ lường được.
(Tu Di Đảnh kệ tán- Hoa Nghiêm kinh)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét