Chứng Đạo Ca
Trực Chỉ Đề Cương
Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 – 2543
VÀ THIỆN ÁC
Phiên âm:
Vô tội phước, vô tổn ích
Tịch diệt tánh trung mạc vấn mịch
Tỉ lai trần kính vị tằng ma
Kim nhật phân minh tu phẫu tích
Dịch nghĩa:
+ Tội là chi, phước lại là chi?
Đa mang chi hai gánh nặng như chì!
Ai bắt tội? Ai là người chịu tội?
+ Thiện là chi, ác cũng lại là chi?
Sợ làm chi hai danh tự vô nghì!
Sợ cái đáng sợ! Lương tâm tự hành hạ lấy.
+ Gương lòng sáng, xưa nay ta vốn có
Mặc cho bụi mờ vĩnh viễn chẳng quan tâm
Ngày hôm nay, có cơ hội lau chùi
Sáng soi thấy, "phước" và "tội" không ai ban ai phạt!
---o0o---
TRỰC CHỈ
Nền giáo lý Phật nhằm đào tạo cho con người đức tánh tự tôn. Cái nhân
bản của con người là tối tôn và hoàn toàn trong sáng. Con người hãy phát
huy đức tánh vốn có ấy để mà sống một cách tự tin ở khả năng, ở nơi nhân
bản cao đẹp vốn có của mình.
Người đệ tử Phật không tôn trọng ai khác, ngoài nhân bản thanh cao
trong sáng, mà tác giả Chứng Đạo Ca gọi cái đó là "Bản nguyên tự tánh
thiên chân Phật" của chính con người. Vì vậy, người đệ tử Phật, học Phật, tu
theo đạo Phật không được sợ bất cứ một thế lực "linh thiêng", một sức mạnh
vô hình hay một đấng thưởng phạt siêu nhiên nào đó, như một số người nhẹ
dạ dễ tin thường sợ. Người theo đạo Phật chỉ sợ nhân quả. Tâm não của con
người là "căn cứ địa" phát xuất và biểu hiện ra "nghiệp nhân" THIỆN hay
ÁC. Chữ "nghiệp" trong đạo Phật chỉ sự hành động của THÂN của KHẨU
của Ý được biểu hiện cụ thể. Gieo nghiệp nhân THIỆN sẽ#7863;t hái trái
ngon, tốt lành. Gieo nghiệp nhân BẤT THIỆN cũng sẽ được thu hoạch trái
không ngon, cay đắng… Nhân thế nào quả thế ấy, như bóng theo hình.
Chung qui lại, do TÂM làm chủ hết. Tạo nghiệp nhân thiện hay ác, sẽ tự
nhận lấy quả khổ hay vui. Hễ nhận lấy quả khổ thì người ta cho là do mắc
TỘI. Nếu nhận lấy quả vui thì người ta cho là được PHƯỚC. TỘI hay
PHƯỚC rõ ràng chỉ là kết quả của con người gieo nhân THIỆN hay ÁC ở
thời gian trước đó mà thôi.
Đúng chân lý mà nói thì không ai là người có quyền ban cho và không ai
là người phải chịu tội với ai cả.
Lập trường bình đẳng của đạo Phật, biểu hiện cụ thể qua tính "bình đẳng
về nhân bản của mọi con người".
"Sáng soi thấy: TỘI, PHƯỚC không ai ban và ai phạt".
---o0o---
THI CA 5 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ TĨNH TÂM
VÔ NIỆM
Phiên âm:
Thùy vô niệm? Thùy vô sanh?
Nhược thực vô sanh vô bất sanh
Hoán thủ cơ quan mộc nhân vấn
Cầu Phật thi công tảo vãn thành
Dịch nghĩa:
* Ai là người thường ước mơ vô niệm
Ai là người hằng mong đạt đến vô sanh
Vô niệm vô sanh là ước mơ cuồng vọng hảo huyền
Rất oan uổng! Hóa đá một kiếp người tràn đầy linh động.
* Để trắc nghiệm, xin hỏi, "ông Robot" người máy
Quả Bồ đề! Bao năm tháng nữa, ông thành?
Hỏi là hỏi vậy thôi, hỏi tức trả lời
Ai can đảm, đủ sức chờ "ông" giải đáp.
---o0o---
TRỰC CHỈ
Tu đạo Phật, rất cần CHÁNH NIỆM mà không cần VÔ NIỆM. Có thể
nói: Có chánh niệm là có tất cả đức tốt, hạnh lành. Có chánh niệm rất dễ
thành công trên tám nẻo đường "bát chánh". Suốt cuộc đời hóa đạo chúng
sanh, đức Phật không lúc nào rời chánh niệm. Chánh niệm nuôi lớn ngũ căn,
chánh niệm phát triển ngũ lực, chánh niệm gìn giữ thất thánh tài, chánh niệm
trưởng dưỡng thất giác chi. Chánh niệm cũng là chất liệu bổ dưỡng để tưới
tẩm, để đượm nhuần cho quá trình phát triển của 18 pháp bất cộng của Như
Lai Phật.
Tu Phật mà mong cầu VÔ NIỆM là tu sai. Vô niệm thì còn ai để biết, để
tư duy chân lý và những gì phi chân lý!
Tu mà cầu được vô sanh cũng là lối tu sai lạc. Trên cõi đời, có cái gì
không biến chuyển vận hành sinh diệt? Đá gỗ còn không ra ngoài vòng vận
động vô thường "hằng chuyển" sát na sanh diệt, huống hồ là một hữu tình
"tối linh ư vạn vật"!
Mong trở thành người VÔ NIỆM, cầu được chứng đắc VÔ SANH là ý
tưởng cuồng vọng sai lầm và không có ngày hiện thực. Giả sử cái ngày hiện
thực đến, con người VÔ NIỆM VÔ SANH "tệ" hơn loài khoáng vật, thực
vật vô tình… Con người hữu tình, vốn có tri giác lại trở thành người máy có
"cơ quan" điều khiển vậy thôi sao?
Việc làm của người tu hành, tương tợ như việc làm của người huấn luyện
khỉ. Người huấn luyện khỉ có tài là "thuần hóa" được khỉ, dạy khỉ làm trò,
làm xiếc… theo ý muốn của mình. Chứ huấn luyện khỉ làm cho "óc khỉ" trở
thành chứng bệnh phân liệt, không còn hoạt động được gì, đó không phải là
cách huấn luyện khỉ của người có tài, có trí.
Tu hành cần có những giờ phút "tĩnh tâm" nhưng tĩnh tâm, không được
hiểu đó là những phút giây VÔ NIỆM.
VÔ SANH là một ý niệm mà người tu Phật phải từ bỏ dứt khoát. Vô sanh
đồng nghĩa với "đoạn diệt". Tự mình làm cho mình "rớt" vào hàng ngũ của
ngoại đạo "đoạn kiến" là cách tu sai lạc, đáng thương!
---o0o---
THI CA 6 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Ả NGÃ XẢ
PHÁP LÀ THÀNH PHẬT
Phiên âm:
Phóng tứ đại mạc bả tróc
Tịch diệt tánh trung tùy ẩm trác
Chư hạnh vô thường nhất thiết không
Tức Thị Như Lai Đại Viên Giác
Dịch nghĩa:
* Thân tứ đại đừng sanh tâm chấp đắm
Quay trở về thể vắng lặng của chính mình
Đói thì ăn, khát uống ngại ngùng chi?
Gọi là Ngã thể, vẫn hư thì đời còn chi thật
* Các hành pháp luật vô thường chi phối hết
Tuệ nhãn nhìn, đương thể tức không
Hiểu sâu xa, quán chiếu tận nguồn chân
Tánh của vạn pháp, là NHƯ LAI VIÊN GIÁC
---o0o---
TRỰC CHỈ
Thân tứ đại là thân kết hợp bởi bốn chất: địa, thủy, hỏa, phong. Nó là cái
thân bị lệ thuộc chi phối bởi luật vô thường như vạn vật hiện tượng khác. Nó
còn là cái kết quả của khổ và bất an nhiều mặt. Kinh điển thường ví sự tạm
bợ mong manh vô chủ của nó qua từ "huyễn thân". Ấy thế mà ở đời không
có mấy ai thấy được tánh chất huyễn của nó. Trái lại người ra rất qúi trọng
nó hơn bất cứ thứ gì trên cõi đời. Điều đáng nói là vì nó mà tạo nghiệp bất
thiện, trong suốt cuộc đời để phục dịch vun bồi cho nó không có phút giây
nhàm chán. Ý niệm đam mê luyến ái nặng nề về thân, kinh điển gọi đó là
"chấp ngã", tức là quá tôn tọng cái thân. Rồi vì thân mà tạo ác nghiệp, vì
thân mà chịu khổ…
"Thân tứ đại đừng sanh tâm chấp mắc
Quay trở về thể vắng lặng của chính mình
Đói thì ăn, khát uống ngại ngùng chi
Gọi là "ngã thể" vẫn hư, thì đời còn chi thật.
"Phóng tứ đại" con người sẽ nhẹ nhàng, sẽ có an lạc trong cuộc sống, vì
con người vốn có tánh vắng lặng, thanh tịnh, trong sáng, có thể thọ dụng nó
từ đời này sang đời khác vĩnh viễn không có cạn kiệt.
Nhận thấy được tánh chất "ngã không" thì "pháp không" không còn là
vấn đề khó biết nữa. Chủ thể nhận thức đã là vô thường, vô ngã, khổ, bất
tịnh và không, thì đối tượng nhận thức cũng không vượt qua ngoài sự chi
phối đó! Cho nên người đạt đạo sẽ nhận thấy rõ:
"Chư hạnh vô thường nhất thiết không".
Thấy được tánh "giai không" của vạn pháp, thấy được tánh vô thường
của hành pháp, thì cái NĂNG TRI và SỞ TRI đó trở thành một bầu vũ trụ
NHƯ LAI VIÊN GIÁC nhiệm mầu. Lúc bấy giờ:
Ta không cầu thành Phật
Phật cũng chẳng cầu thành ta
Ta là Phật
Phật là ta.
---o0o---
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét