Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương
Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 – 2543
THI CA 7 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ LẬP
Phiên âm:
Quyết định thuyết, biểu chân tăng
Hữu nhơn bất khẳng nhiệm tình trung
Trực triệt căn nguyên Phật sở ấn
Trích diệp tầm chi ngã bất năng!
Dịch nghĩa:
* Nếu được nói, tôi lập trường thẳng thắng
Để tỏ ra, lời của một chân tăng
Huynh đệ nghe, nghịch ý chẳng chung lòng
Gay gắt trách, tôi xin cam nhận hết
* Tôi không thích ba hoa vặt vãnh
Thích học điều, Phật tổ đã đinh ninh
Diễn rõ căn nguyên "liễu nghĩa thượng thừa"
Không được vậy, tôi không còn gì để nói
---o0o---
TRỰC CHỈ
Quyết định thuyết là lời nói có lập trường, có trách nhiệm, nhàm bảo vệ
mục đích và lý tưởng của mình. Lý tưởng của tác giả là chánh pháp liễu
nghĩa thượng thừa của Phật tổ đã đinh ninh dặn dò khuyên dạy. Lập trường
của tác gải là "nói thẳng, nói thật". Nói để diễn đạt chân lý, truyền bá chân lý
liễu nghĩa thượng thừa cho mọi người con Phật cùng học hỏi, tiếp thu để
hành đạo và chứng đạo. Không nói "vuốt đuôi". Không nói để "chiếm cảm
tình". Không nói kiểu "thỏa hiệp". Không nói kiểu "phương tiện"… để rồi
người nghe không được tí nào lợi ích.
Học chánh pháp, hành chánh pháp, sống theo chánh pháp và truyền bá
chánh pháp không thể sử dụng các kiểu nói tầm thường vừa kể. Để bảo đảm
giá trị lời nói của một "chân tăng", một vị thầy đúng danh nghĩa của đệ tử
mình, lời nói phải có lập trường, phải phục vụ cho một lý tưởng giải thoát,
giác ngộ tuyệt vời cao đẹp.
Một chân tăng, theo tác giả Chứng Đạo Ca, sẵn sàng chấp nhận cô đơn,
chấp nhận sự công kích, sự thóa mạ… của mọi người. Hoặc sẵn sàng "không
nói gì hết". Bao nhiêu ngôn ngữ nhường hết cho…
---o0o---
THI CA 8 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO TÂM TÁNH LÀ
NGỌC MA NI
Phiên âm:
Ma Ni Châu, nhân bất thức
Như Lai tàng lý thân thâu đắc
Lục ban thần dụng không bất không
Nhất lỏa viên quang sắc phi sắc
Dịch nghĩa:
* Tâm trong sáng người người ai cũng có
Nó là Ma Ni là Như Ý bảo Châu (1)
Chẳng mấy ai, biết rõ cái tâm này
Nó mầu nhiệm, thu gọn cả Như Lai tàng tánh (2)
* Sáu thần dụng, thấy sắc mà phi sắc (3)
Một viên quang, rằng không nhưng lại phi không (4)
Nghĩa sắc không, mầu nhiệm vô cùng
Chứng "thật tướng", mối nghi này mới mở hết.
---o0o---
TRỰC CHỈ
Con người ai cũng có Chân Tâm. Tự thể chân tâm vốn trong sáng, thanh
tịnh, vắng lặng, nhiệm mầu. Trong Chân Tâm không có một gợn phiền não
khổ đau, bất mãn, bất bình. Cũng không có ý niệm ta, người, thương, ghét,
thân, sơ… Kinh điển Phật thường ví Chân Tâm ấy như Ngọc Ma Ni.
Ai cũng sẵn có ngọc Ma Ni mà không biết mình có ngọc Ma Ni quí báu
ấy. Ngọc Ma Ni vô giá trong người mà không phát hiện để sử dụng cái công
dụng NHƯ Ý của ngọc. Có ngọc Như Ý, con người sẽ không còn gì để
"thiếu". Phát hiện ngọc Như Ý, sử dụng ngọc Như Ý, nhìn vạn pháp bằng
"Phật nhãn" cho nên:
"Sáu thần dụng thấy sắc mà phi sắc
Một viên quang, rằng không nhưng lại phi không"
Vì, người phát hiện ngọc Như Ý, sử dụng ngọc Như Ý là người chứng
thật tướng của vạn pháp rồi.
"… Chứng thật tướng vô nhơn pháp
Sát na diệt khước A tỳ nghiệp"…
---o0o---
THI CA 9 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO MỐI TƯƠNG
QUAN CỦA NGŨ NHÃN VÀ NGŨ LỰC
Phiên âm:
Tịnh ngũ nhãn, đắc ngũ lực
Duy chứng nãi tri nan khả trắc
Kính lý khán hình kiến bất nan
Thủy trung tróc nguyệt tranh niêm đắc
Dịch nghĩa:
Tịnh ngũ nhãn, sẽ kéo thêm ngũ lực
Chung môi trường mới biết được diệu dụng kia
Rủ giành trăng, đáy nước… chuyện còn khuya!
Đứng trước kính, ngắm thân hình là việc dễ!
---o0o---
TRỰC CHỈ
Giáo lý đạo Phật dạy rằng, con người có khả năng và quyền sử dụng "ngũ
nhãn". "Khả năng" và "quyền" thì mọi người đều có quyền thừa hưởng, sử
dụng bình đẳng. Tuy nhiên, đây là thứ bình đẳng có điều kiện. Mọi người
phải cùng ở "môi trường TU" thì mới cùng được ở trong "môi trường
CHỨNG".
"Tịnh ngũ nhãn" là người đạt đến giai đoạn CHỨNG. Ngũ nhãn đạt đến
giai đoạn CHỨNG ĐẮC THANH TỊNH thì chỉ có người tự chứng tự biết.
Người khác môi trường nói và kể cho họ bảo kể cho nghe, chẳng khác "Rủ
nhau giành trăng ở đáy nước" hy vọng gì người khác môi trường bảo họ hiểu
hoàn cảnh của riêng mình. Phải cùng đứng trong vườn LAN HUỆ mới cùng
thưởng thức được mùi hoa Lan Huệ. Phải cùng đứng nơi chợ cá ươn mới
thấm thía "hương vị" của chợ bán cá ươn.
Vì vậy, TỊNH NGŨ NHÃN, ĐẮC NGŨ LỰC là việc có thực, nhưng
diễn đạt cảnh giới thanh tịnh của "ngũ nhãn" của mình cho người khác nghe
biết là điều không dễ. Bảo người khác phải nghe và phải hiểu về cảnh giới
CHỨNG ĐẮC của mình lại càng khó, khó đến nỗi tác giả Chứng Đạo Ca ví
với chuyện "Rủ nhau giành trăng đáy nước".
Ngũ nhãn là năm thứ mắt, nói cách khác, năm cách "tư duy" mà cùng
một cách ngó nhìn. Đó là: nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn và
Phật nhãn.
Ngũ nhãn thanh tịnh, con người tự có năm thứ sức mạnh, đủ sức tiến
mạnh trên con đường Bồ Đề Vô thượng. Đó là:
CHÁNH TÍN, CHÁNH TINH TẤN, CHÁNH NIỆM, CHÁNH ĐỊNH
VÀ TRÍ TUỆ BA LA MẬT.
Điều đó nói với ai? Dễ có mấy người biết! Dễ có mấy người tin! Đó là:
"… Duy chứng nãi tri, nan khả trắc"
Họ không tin, không có gì đáng trách, vì họ khác "môi trường"!
---o0o---
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét