CHỨNG ĐẠO CA
Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 – 2543
Phiên âm:
QUÂN BẤT KIẾN!
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tường bất cầu chân
Vô minh thực tánh tức Phật tánh
Ảo hóa không thân tức pháp thân
Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật
Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc thủy bào hư xuất một
Dich nghĩa:
Ai có biết !
Bậc tuyệt học vô vi nhàn đạo
Vọng không trừ, tưởng chẳng cầu chân
Tánh của vô minh và Phật tánh không hai
Phật Tánh ấy! Chính là thật tánh của Vô Minh đấy!
* Thân ảo hóa với Pháp thân cũng vậy
Ảo hóa thân là hiện tượng của Pháp thân
Biển Pháp thân ví: bản thể vô cùng
Thân ảo hóa tựa sóng mòi lao xao trên mặt nước
* Nhận thức rõ hai thân pháp hóa (1)
Chợt tỉnh ra rằng: "vạn pháp giai không"
Tánh thiên chân là thật tánh của mình
Mình là Phật vốn là thiên chân Phật
* Thân ngũ uẩn chỉ là phù vân tụ tán
Hợp rồi tan trong vũ trụ bao la
Sự diệt sanh, sanh diệt vô cùng
Nó hiện hữu với thời gian vô tận
* Gọi tam độc thực tánh không hề độc
Ví như bọt bèo, sanh diệt huyễn hư
Hể u mê thì tam độc hoành hành
Bằng tỉnh thức, không sao tìm được chúng.
---o0o---
TRỰC CHỈ
Đi con đường Đạo, thường phải qua ba giai đoạn. "Học đạo", Hành đạo"
và "Chứng đạo". Đến giai đoạn CHỨNG ĐẠO, được gọi là con người "nhàn
đạo". Người "nhàn đạo" là người đã vượt qua giai đoạn "học đạo" và "hành
đạo". Vì vậy, người "chứng đạo" còn được gọi là người TUYỆT HỌC, là
người đạt đến VÔ VI, cho nên bậc TUYỆT HỌC, VÔ VI, NHÀN ĐẠO tức
là con người CHỨNG ĐẠO.
Cái thấy của người chứng đạo, không thấy qua cái thấy của nhục nhãn
bình thường mà thấy bằng "Tuệ nhãn". Về "cái thấy", giáo lý đạo Phật dạy
có năm cách nhìn thấy khác nhau. Dựa trên thành quả tu chứng mà cái thấy
của người học đạo, hành đạo và chứng đạo đối với hiện tượng vạn hữu chia
thành năm cách thấy: Cái thấy qua "nhục nhãn". Cái thấy qua "thiên nhãn".
Cái thấy qua "pháp nhãn". Cái thấy qua "tuệ nhãn". Cái thấy qua "Phật
nhãn". Cái thấy qua "nhục nhãn" là cái thấy "tầm thường". Cái thấy qua
"thiên nhãn" là cái thấy "bình thường". Cái thấy qua "pháp nhãn" là cái thấy
của người "đạt đạo", của hàng Tiểu thừa THANH VĂN, DUYÊN GIÁC.
Cái thấy qua "Tuệ nhãn" là cái thấy của người CHỨNG ĐẠO, cái thấy của
căn cơ Đại thừa, của Bồ tát trên đoạn đường gần đến VÔ THƯỢNG
CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC của "Phật nhãn".
Người CHỨNG ĐẠO, nhìn thấy thấu triệt bản chất căn nguyên của vạn
pháp. Nói cách khác, người chứng đạo nhìn hiện tượng vạn pháp họ thấy
được cái "thực tướng" của vạn pháp. Họ biết rất kỹ rằng cái tướng thực của
vạn pháp là "không có gì". Tất cả chỉ là duyên sanh, mà duyên sanh thì như
huyễn, không thật có.
Qua cái thấy của con người chứng đạo, "vọng tưởng" đã là vọng thì còn
quan tâm, còn mơ tưởng, còn kết giao, gá nghĩa với nó được sao? Biết nó
vọng thì mình đã "không vọng". Không vọng là đã tự "chơn" rồi. Do vậy,
"vọng" không phải "trừ", "chơn" không cầu, không cần "mơ ước" mà tự có.
Nước trong, trăng hiện, mây tan, trời hiện, phiền não vô minh hết, Phật
tánh hiện. Trăng vốn sẵn có trong lúc nước ao hồ vẩn đục. Phật tánh thanh
tịnh vốn có trong lúc con người biểu lộ đầy những phiền não vô minh đau
khổ. Giác là Phật, mê là tục tử phàm phu.
"Không trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân".
"Thật tánh của vô minh là Phật tánh".
Kinh điển Phật thường để cập "Tam thân" của con người chứng đạo.
Pháp thân là cái bản thể châu biến. Về thời gian xuyên suốt quá khứ, hiện tại
và vị lai. Về không gian khắp cùng đông, tây, nam, bắc, tứ duy, thượng hạ.
Từ Pháp thân đó, duyên sanh ra các hiện tượng vạn hữu. Ảo hóa thân là một
hiện tượng trong vô vàn hiện tượng "duyên sanh". Vì thế cho nên ảo hóa
thân không ngoài Pháp thân. Từ nơi Pháp thân duyên khởi sanh ra ảo hóa
thân. Ảo hóa thân và Pháp thân, không phải LÀ mà không phải KHÔNG
LÀ. Đó là chân lý "Bất tức, bất ly", trung đạo. Bảo rằng: lu, hũ, chum, ché,
không phải đất. Đúng, nhưng không đúng trọn vẹn. Bảo rằng: lu, hũ, chum,
ché là đất. Đúng, nhưng cũng không đúng trọn vẹn. Mà phải hiểu rằng: lu,
hũ, chum, ché không "là" đất nhưng chúng không ngoài đất. Đất không phải
là lu, hũ, chum, ché, nhưng ngoài đất không làm sao có lu, hũ, chum, ché.
Người biết học đạo, hành đạo theo chánh pháp, không xem khinh thân ảo
hóa, vì biết rằng thân ảo hóa là diệu dụng duyên khởi của Pháp thân. Thân
ảo hóa và Pháp thân "bất tức mà bất ly" như đồ gốm và đất sét của đại địa
mênh mông kia vậy.
"Ảo hóa không thân tức Pháp thân"
Nhận rõ và thực chứng được bản thể thanh tịnh châu biến, chuyên sanh
mầu nhiệm của Pháp thân, bấy giờ chợt tỉnh và thấy rằng tất cả hiện tượng
vạn hữu có cùng một bản thể chung cùng, chỉ do nhân duyên không đồng mà
có sự sai khác. Dù hiện tượng vạn hữu có ngàn sai muôn khác nhưng cái
thấy của người chứng đạo: Tất cả cùng một thể thanh tịnh không hề có sự
vật nầy là nguyên nhân, gây đau khổ cho sự vật nọ.
"Pháp thân giác liễu vô nhất vật".
"Vô nhất vật" là do "người chứng đạo" sử dụng tuệ nhãn, nhìn vạn pháp
bên mặt Tổng. Thấy có nhiều "vạn vật" tại vì dùng nhục nhãn nhìn vạn pháp
bên mặt Dị Biệt duyên sanh của nó.
Từ nhận thức đó, người chứng đạo thấy rằng: "duyên sanh" vạn pháp "vô
tình" cũng như "duyên sanh" vạn loại "hữu tình", cùng có chung một "bản
nguyên", một cội nguồn thanh tịnh là "Thiên chân Phật".
"Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc thủy bào hư xuất một".
Dưới con mắt của người chứng đạo, thân con người kết hợp bởi ngũ uẩn,
duyên sanh. Vì duyên sanh cho nên thân của phàm nhân hay thân của thánh
đức đều chung một dạng "phù hư". Vì là "phù hư" cho nên nó sanh diệt, khứ
lai, tụ tán. Cái điểm ưu việt khác hơn người của con người chứng đạo là họ
thấy rõ và biết kỹ rằng phù vân dù có sanh diệt, khứ lai, tụ tán nhưng nó
không bao giờ mất mà nó vĩnh cửu khứ lai, sanh diệt, tụ tán trong bầu hư
không vốn dĩ bất sanh bất diệt. Dưới cái nhìn của người chứng đạo, vấn đề
sanh tử chỉ là chuyện tầm thường như vô vàn sự vật diệt sanh tan hợp khứ lai
bình thường khác.
Tham, sân, si, nhà Phật gọi chúng là "Tam độc". Vì tánh tác hại của
chúng gây cho loài người không sao kể hết những biến chứng khổ đau cùng
cực do chúng gây ra. Nhưng bình tâm mà nói. Vận dụng tuệ nhãn mà nhìn
thì "tam độc" không có thực tánh. Tam độc cũng có thể xuất hiện khiến cho
con người khổ đau cùng cực. Tam độc cũng có thể biến mất không để lại
một bóng dáng, một dấu vết xấu xa nào. Tam độc có hay không có tùy thuộc
ở con người MÊ hay GIÁC. Thực chất của tam độc là không có chất. Chúng
như những bong bóng nổi chìm sanh diệt của những cơn sóng vỗ mặt ghềnh!
Hiểu rõ chân lý đó, đối với sự tử sanh, sanh diệt của tự thân cũng như của
hiện tượng vạn pháp, người chứng đạo thấy bằng cái thấy bình tĩnh, an
nhiên, không có gì phải lo âu, phải sợ hãi. Chẳng những thế, người chứng
đạo còn thấy biết rõ: Khi mình sanh ra từ đâu và đến và lúc chết sẽ đi về
đâu!
---o0o
THI CA 2 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ NHƠN PHÁP
Phiên âm:
Chứng thực tướng vô nhơn pháp
Sát na diệt khước a tỳ nghiệp
Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh
Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp
Dịch nghĩa:
Chứng "thật tướng" thấy rõ cõi đời "vô tướng"
VÔ TƯỚNG đồng với "vạn pháp giai không"
Tướng "PHÁP", "NHƠN" mà còn chẵng có gì!
A tỳ nghiệp vì gì mà hiện hữu
Đấy lẽ thật, đây lời nói thật
Nói cho mình và hy vọng đến với ai kia
Không có ý chi dối gạt phỉnh phờ
Được phép thệ! Dù thề độc cũng xin cam nhận
---o0o---
TRỰC CHỈ
Người chứng đạo quán triệt thật tướng của vạn pháp là vô tướng, người
ta sẽ không còn chấp NHƠN và PHÁP. Do diệt bỏ ý niệm chấp mà tâm hồn
thanh thoát khinh an đến độ tự tại NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG. Vì vậy, cái gọi
là nghiệp A tỳ nếu có, cũng tự hóa giải tiêu dong. Đó là sự thật mà đạo lý có
thể chứng minh.
Nghiệp A tỳ nếu có, nó phát nguyên từ ý niệm chấp mắc. Chấp nhơn và
chấp pháp là hai đối tượng chấp, nó sanh ra vô vàn đâu khổ và là nguyên
nhân đau khổ. Tám mươi bốn ngàn trần lao phiền não đều do hai thứ chấp
VÔ NHƠN mà ra. Thấy biết rõ tánh chất VÔ NHƠN, VÔ PHÁP thì diệt hết
khổ nạn A tỳ trong sát na là chân lý đương nhiên vậy.
Người học Phật, tu Phật không được THỀ. Vì thiết tha với chân lý, vì
muốn truyền trao chánh pháp trong sáng cho mọi người con Phật, tác giả
CHỨNG ĐẠO CA, phải thốt ra lời: như cam kết, như tự THỀ để nói lên nỗi
lòng thành thật và tha thiết đối với chánh pháp.
"Được phép thệ, dù thề độc cũng xin cam nhận".
---o0o---
THI CA 3 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO SỰ MẦU NHIỆM
CỦA NHƯ LAI THIỀN
Phiên âm:
Bốn giác liễu Như Lai thiền
Lục độ vạn hạnh thể trung viên
Mộng lý minh minh hữu lục thú
Giác hậu không không vô đại thiên
Dịch nghĩa:
Thoắt chứng nhập NHƯ LAI thiền định
Vạn hạnh tròn mà lục độ cũng châu viên
Còn mộng mơ, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết
---o0o---
TRỰC CHỈ
Người tu hành, đến một lúc nào đó có thể chợt tỉnh thức và khi tỉnh thức
người ta có khả năng thể nhập, đi sâu vào Như Lai Thiền. Như Lai Thiền là
thứ Thiền chỉ khi nào đền địa vị Như Lai mới có. Thể nhập Như Lai Thiền
đối với vạn pháp không cần tu mà vạn hạnh tự nhiên đã sẵn đủ. Thể nhập
Như Lai Thiền với lục độ không cần hành mà hành một cách viên mãn rồi.
Bởi vì Như Lai Thiền là thứ Thiền viên mãn và siêu viên mãn nữa.
Vậy NHƯ LAI THIỀN là THIỀN như thế nào?
Đáp: Như Lai Thiền là Thiền kkhông cần ngồi, vì nó vượt cái cần thiết
ngồi. Như Lai Thiền không cần định tâm vắng lặng, vì nó vượt ngoài cái cần
thiết định tâm vắng lặng. Như Lai Thiền là thứ Thiền không cần gia công
dụng ý để thiền, mà thiền trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi và thiền ở mọi nơi
chốn, ở mọi thời gian. Như Lai Thiền là kết quả, là THIỀN RỔI tất cả tám
muôn bốn ngàn thứ thiền khác. Cho nên tỉnh thức và thể nhập Như Lai
Thiền thì không đức tốt, hạnh lành nào là không viên mãn.
Thành quả của Như Lai Thiền được đúc kết qua các tiêu chuẩn như sau:
1. Thân vô thất
2. Khẩu vô thất
3. Ý vô thất
4. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ hành
5. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành
6. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành
7. Trí tuệ tri quá khứ vô ngại
8. Trí tuệ tri hiện tại vô ngại
9. Trí tuệ tri vị lai vô ngại
10.Vô dị tưởng
11.Vô bất định tâm
12.Vô bất tri. Tri hỉ xả
13.Dục vô giảm
14.Niệm vô giảm
15.Định vô giảm
16.Tinh tấn vô giảm
17.Giải thoát vô giảm
18.Giải thoát tri kiến vô giảm
Có ngần ấy tiêu chuẩn thì những đức tốt, hạnh lành trên cõi đời này có
cái thứ nào mà còn thiếu! "Lục độ vạn hạnh thể trung viên", đối với con
người "Đốn giác liễu Như Lai Thiền" hẳn không phải là thứ danh ngôn
cường điệu.
Người đệ tử Phật có học Phật thật, có ham tu thật và có hiểu kỹ về Phật,
người ta không thèm sợ sáu nẻo luân hồi như là: cảnh giới địa ngục, cảnh
giới ngạ quỷ, cảnh giới súc sanh, cảnh giới người, cảnh giới A-tu-la và cảnh
giới trời ở ngoại cảnh. Mà người ta chỉ quan tâm "Lục Thú" ở nội tâm. Lục
thú ở nội tâm nó trực tiếp tác động hoành hành cuộc sống hiện tại của con
người. Đó mới là đáng lo sợ.
Không sợ sự luân hồi của lục thú nội tâm mà chỉ lo sợ cho sự luân hồi lục
thú ở kiếp tương lai thì quả là con người giàu tưởng tượng! "Chẳng khác chi
người chưa làm giàu mà sợ ăn cướp. Chưa ăn cướp mà lo sợ ở tù!".
Vấn đề "đại thiên thế giới, cõi Ta bà" có hay không? Vấn đề "Tây
phương Cực lạc" không hay có? Đó là vấn đề người học Phật phải quán triệt
sâu sắc.
Y cứ nền giáo lý liễu nghĩa thượng thừa và sử dụng tuệ nhãn mà nhìn vũ
trụ vạn hữu trong pháp giới mười phương, thì pháp giới chỉ có một. Pháp
giới "nhất chân" không có hai, không có pháp giới nào khác với pháp giới
nào. Pháp giới có cùng một bản thể "chân như" y nhau. Vì "chân" cho nên
không thể tiêu hoại cho mất đi. Vì "như" cho nên không tăng bổ cho thêm
nhiều. Vì "chân như" cho nên mười phương pháp giới đồng một thể: Bất
sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Qua cái thấy của tuệ
nhãn, chỉ nói tuệ nhãn của người chủng tánh Đại thừa thôi, pháp giới đã là
"nhất chân" rồi. Do nghĩa đó, người chứng đạo thấy rõ ràng.
"Còn mộng mê, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết".
Người đệ tử Phật có chánh niệm, có tư duy, có quán chiếu nội tâm sẽ
thấy rõ cái chân lý đó.
Kinh Hoa Nghiêm đức Phật dạy:
"Nếu ai muốn biết rõ
Mười phương Phật ba đời
Nên quán chiếu thể tánh của Pháp giới
Hết thảy do tâm mình kiến lập"
Do vậy:
"… Còn mộng mê, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết".
---o0o---
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét