Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

Cương Đao Sát Sư – Nỗi Khổ Tăng Già – P.2
Như đã trình bày ở phần 1, trong nội bộ của Tăng già Việt Nam có sự trà trộn của một số lượng người không hề ít theo chủ nghĩa vô thần và hiển nhiên là với dụng tâm sai biệt thì nhóm người này đâu thể, đâu dễ giác ngộ đạo lý giải thoát; Họ len lõi vào Tăng đoàn để nắm bắt, kiểm soát, khống chế sự hoạt động Tăng già cũng như điều tiết giới Tăng bảo tuân thủ theo đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước.
Mặt khác, lực lượng Tăng già ngày trước với đa số là những người trốn quân dịch, hoặc những người có hoàn cảnh khốn cùng, túng quẩn như đói ăn, thất tình, mồ côi, cơ nhỡ…
Thêm vào đó, bối cảnh đất nước thời chiến tranh binh lửa góp phần làm sự học của giới Tăng bảo ngày ấy bị hạn chế ít nhiều. Kiến thức thường thức căn bản không có nên phần đa thế hệ Tăng già lớn tuổi không dễ tiếp cận được kinh sách chính thống của đạo Phật, và họ học Phật theo lối miệng truyền miệng, đó là một trông những nguyên nhân khiến giới Tăng bảo ngày trước góp phần truyền đăng cho đạo Phật lai Thần quyền của Trung Quốc lan tràn mọi hang cùng, ngõ hẻm miền bắc Việt Nam.
Bởi do chiến tranh loạn lạc nên giới Tăng bảo miền nam Việt Nam ít chịu ảnh hưởng của đạo Phật lai Thần quyền Trung Hoa. Nhưng bởi do việc hạn chế điều kiện tham cứu kinh sách nên có một thời giới Tăng bảo tồn tại chỉ như là người đảm nhận việc giữ chùa.
Ngược thời gian vào khoảng 40, 50, 60 năm về trước thì người học Phật (nói chung), giới Tăng bảo (nói riêng) đâu dễ gì cầm được một quyển kinh Phật trên tay; Có được một bộ kinh Phật trên tay đã là quá khó thì người học Phật đâu dễ biết Tam Tạng kinh có bao nhiêu bộ, bộ nào tương hợp với căn cơ, trình độ bản thân. Chính vì lẽ đó giới Tăng bảo xưa học Phật như những kẻ mù lòa dò dẫm từng bước đi.
Một lợi thế của giới Tăng bảo xưa là họ thấm được nỗi đau mất mát người thân, họ phần nào nếm trải được nỗi khổ đói ăn, khát uống, già bệnh chết – chiến tranh ly loạn là thế. Và hiển nhiên là do không thông đạt Phật đạo họ, giới Tăng bảo xưa sẽ cầu nguyện, lễ bái rất chí thành. Giới Tăng bảo xưa thường trực sống trong khổ não nên sẽ nếm được vị ngọt lành – Phiền não tức bồ đề.
Một lợi thế khác ở giới Tăng bảo xưa là nền tảng tri thức Hán Nôm nên họ dễ tiếp cận kinh sách Phật học phần lớn có nguồn gốc Tàu, Hán từ đa âm, đa nghĩa hội tụ ngôn ngữ Việt phong phú, nhiều màu sắc, thế là những vị Tăng bảo xưa có thể nếm vị kinh sách ở nhiều hương vị, khẩu vị khác nhau làm cho bản dịch kinh sách thêm phần phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, thành phần Tăng bảo xưa hội đủ điều kiện chạm đến kinh sách Phật để học thuật, dịch thuật quả thật là không nhiều.
Chính do điều kiện, bối cảnh xã hội mà giới Tăng bảo xưa khó thông đạt Phật pháp. Bên cạnh đó, người học Phật xưa nay thường, luôn mang cái Ta Biết, Ta Hiểu đi học Phật; Chính cái vỏ bọc tri kiến này đã ngăn ngại người học Phật (nói chung), giới Tăng bảo (nói riêng) khó thể đón nhận được chánh pháp sáng rõ một cách dễ dàng. Hẳn là giới Tăng bảo ngày nay đâu dễ dàng gì nghe pháp thoại từ những Ưu bà tắc, Ưu bà di, thiện tri thức ở nẻo đời một cách chí thành và cung kính thọ trì; Đó là hiện tượng đã như là bản chất cho thấy rằng người học Phật luôn mang cái Ta Biết, Ta Hiểu đi học Phật. Chính vì lẽ đó cũng như nhiều yếu tố khác mà giới Tăng bảo xưa nay đánh mất trung đạo, ngụp lặn nơi biên kiến mà không hề hay biết.
Giới Tăng bảo xưa nay học Phật trong tình trạng không có Giác Giả hộ pháp nên sự học Phật ngày xa rời chánh đạo.
Trong giới Tăng bảo tiền bối không hẳn là không có Long Tượng ra đời, nhưng vị Tăng bảo này chỉ thâm đạt một pháp Tổ Sư Thiền và ra sức phổ truyền pháp môn đắc địa của bản thân. Vị Tăng bảo ấy chính là thầy Thích Duy Lực, người khai sáng pháp môn Tổ Sư Thiền ở Việt Nam.
Tuy nhiên, pháp môn Tổ Sư Thiền lại rất kén người, pháp môn Tổ Sư Thiền đòi hỏi một trình độ, một căn cơ tương hợp theo lối:
Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm
Chẳng phải nhà thơ chớ tặng thơ.
Hạn chế của pháp Tổ Sư Thiền cho thấy thầy Thích Duy Lực vẫn có giới hạn nhất định nơi Phật môn, và trên tất cả với sự phân định rạch ròi đời đạo thì giới Tăng bảo gần như là luôn bị rơi vào biên kiến nẻo đạo, đây là sự hạn chế rất lớn đối với việc phổ truyền chánh pháp. Vì thế cho nên đạo Phật chỉ sáng lên trong khoảnh khắc rồi lu mờ ngay sau đó.
Ngày nay, có lắm kẻ học Phật tham cứu, học bập bõm vài câu chữ nơi pháp Khán Thoại Đầu, Tổ Sư Thiền nói pháp như hoa rơi, nước chảy nhưng thật ra chỉ là khối tri kiến lập tri, chỉ là đắc pháp ở đầu môi, chót lưỡi.
Qua rồi thời Tổ Sư Thiền của thầy Thích Duy Lực lại đến thời Tịnh Độ Tông nở hoa như nấm mọc sau mưa. Tuy nhiên, hạn chế chết người ở giới Tăng bảo thuộc Tịnh Độ Tông là đặt đạo Phật vào đất chết khi ngu xuẩn cho rằng thời mạt pháp kinh sách Phật học sẽ không còn, có còn lại chăng là câu Nam mô A di đà Phật nhẫn đến A di đà Phật.
Người học Phật Tịnh Độ Tông đẩy đạo Phật vào thời mạt pháp thật sự với vỏn vẹn một chiêu thức thường niệm Lục Tự Di Đà mà không cần tham cứu kinh Phật. Lục Tự Di Đà tạo ra một khoảng trống tri kiến Phật học không thể nào bù đắp, Nam mô A di đà Phật không lấp đầy được khoảng trống nội tâm trong lòng con người.
Và người học Phật đã không thỏa mãn với câu niệm Nam mô A di đà Phật với không gì nữa, trải qua một khoảng thời gian tương đối dài Thiền chi loại dần dần bám rễ nơi mảnh đất Việt Nam với việc khơi mạch Thiền Trúc Lâm – Thích Thanh Từ, Thiền Tỉnh Thức – Thích Nhất Hạnh, Thiền Vipassana, và nhiều nhiều thể loại thiền lai căng ngụy dị khác.
Song có một điểm chung ở giới Tăng bảo trong nước cũng như ở phạm vi thế giới, từ Tịnh Độ Tông, Thiền Tông cho đến Mật Tông – Con bệnh của Phật môn. Điểm chung đó chính là sự Ham Tiếc Sinh Tử ở người học Phật, giới Tăng bảo cũng không là ngoại lệ.
Học Phật là thông đạt pháp vô sanh, là liễu sinh thoát tử mà người học Phật lại Ham Tiếc Sinh Tử thì làm sao có thể Liễu chân nghĩa Vô Thường – Khổ - Không – Vô Ngã. Người học Phật Tịnh Độ Tông mong mỏi về cõi Tây Phương cực lạc của Phật A Di Đà; Thiền Tông mê đắm với Cái Thấy Biết Thường Hằng, Cái Đang Là Thường Tại; Mật Tông với cõi giới vô hình chờ đợi khi đắc Mật pháp.
Tất cả sự mong cầu, mặc định ấy cho thấy rằng người học Phật (nói chung), giới Tăng bảo (nói riêng) đều mong mỏi được sống – Đấy là Ham Tiếc Sinh Tử.
Ngay đến những vị hành giả chân tu, thực học còn học Phật lạc lối thì những Tăng bảo sau này, những Tăng bảo thuộc cấp của Đảng và nhà nước với bản chất môn đồ tri giải, sa môn nghĩa học như Tăng bảo Thích Nhật Từ, Thích Chân Quang, Thích Chân Tính,… khó mong học thông đạt Phật đạo.
Tăng Bảo Thích Nhật Từ với gian hàng tạp hóa Phật môn bán đồ lạc – xoong các kiểu, Tăng bảo Thích Nhật Từ ở một bài pháp thoại hùng hồn tuyên bố đạo Phật dạy con người Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ cùng lối thuyết pháp như một Cha Xứ, bên cạnh đó là một sự cực đoan cùng tính kỳ thị. Vẩn vơ Ngạo Thuyết nghĩ rằng tấm bằng Tiến Sĩ Phật Học của vị Tăng bảo này ắt hẳn rất rẻ tiền.
Một thành phần Tăng bảo khác lại mê thơ phú, hát ca, bon sai – cây cảnh, đã mê tất đắm thì làm sao có thể sáng mắt, sáng đạo.
Lại có Tăng bảo chuyên nói về Ma, người học Phật càng học càng gần Phật. Đằng này học Phật riết lại gần với Ma, nhìn thêm vào phần hiện tướng của vị Tăng bảo này càng rõ “Nhân sai biệt, quả thành hư vọng”, nẻo xấu họ khó mong thoát ra nếu không chóng hồi đầu.

Không có nhận xét nào: