Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018


Cương Đao Sát Sư – Sư Viên Minh 02
--- Bom Tấn ---
Chào các bạn! Hôm nay Ngạo Thuyết sẽ làm một cú hích nhằm tăng tính tương tác chia sẻ sự hiểu biết Phật học nơi mỗi người.
Chúng ta đã làm bạn với nhau đã lâu chưa nhỉ? Hẳn là có người bạn mới, có người bạn cũ. Nhưng tin rằng để có thể đàm luận với nhau ít nhiều thì mỗi người đã có những bước tiến dài, những mở lòng nhất định. Hẳn là các bạn còn đồng hành cùng Ngạo Thuyết là đã hiểu được Ngạo Thuyết phần nào, bên cạnh đó cũng sẽ có ít người bạn chờ xem Ngạo Thuyết ngã chỏng vó khi nào chỉ để mỉm cười ý nhị hoặc khẽ khàng buông lơi – Đáng đời Ngạo Thuyết! Ngạo Thuyết có vẻ hiểu các bạn nhiều hơn một chút, chỉ một chút thôi.
Hôm nay, Ngạo Thuyết sẽ đề cập vài nghịch lý nơi học Phật ở các bạn, trước mắt Ngạo Thuyết chỉ đề cập đến 2, hoặc 4 nghịch lý mà các bạn không thể ngờ đến.
Điều nghịch lý thứ nhất là giới Tăng bảo bấy lâu nay học Phật nhưng không tin mình có thể thành Phật ngay nơi hiện kiếp. Bạn cũng vậy, bạn học Phật lại không đủ niềm tin rằng mình sẽ thành Phật. Tại sao lại như thế? Điều gì đã xảy ra?
Đã từ lâu, người học Phật xuất gia lẫn tại gia đều bị “nhồi sọ” rằng đây đã là thời mạt pháp, cơ may có người chứng ngộ rất mong manh và xen vào đó một chút tự ti nơi mỗi người đã định hình nên học Phật chỉ gieo duyên, chỉ mong nẻo tốt nơi kiếp sau, sự giải thoát hoàn toàn xa xôi, viễn vông quá đỗi. Kết quả là khi niềm tin không có mỗi mỗi chúng sinh, mỗi mỗi người học Phật sẽ cứ thế trôi lăn không điểm dừng nơi lưới mộng luân hồi.
Giác Giả từng nói “Ta là Phật đã thành, chúng sinh 3 cõi là Phật sẽ thành” và “Đương lai hạ sanh sẽ là Phật Di Lặc”. Bạn chờ đợi Phật Di Lặc ra đời và đến thọ ký cho bạn thành Phật chăng? Ai trong số 7, 8 tỷ người sẽ có cơ may đấy?
Hơn 2,6 tỷ năm khi trái đất thành hình thì hành tinh xanh mới xuất hiện những mầm sống đầu tiên. Và cách đây 6 triệu năm mới có mặt loài người trên trái đất. Bạn chờ đợi hiện kiếp này hoại tức trái đất này hoại và bắt đầu góp nhặt hình hài từ những mảnh vỡ của không gian, thời gian, thế rồi khoảng bao nhiêu tỷ năm nữa bạn mới góp nhặt trí tuệ đủ để giác ngộ giải thoát hoàn toàn?
Tại sao bạn phải chờ một người khác thành Phật mà không đủ dũng khí để nhận ra rằng chính bạn là Phật Di Lặc?
Điều nghịch lý thứ hai là hẳn bạn ít nhiều được nghe rằng Thái tử Tất đạt đa xuất gia vào khoảng hơn 20 tuổi, thành đạo vào khoảng hơn 30 tuổi; Điều này có nghĩa là Thái tử Tất đạt đa chứng ngộ sau khoảng trên dưới 10 năm tầm đạo cùng hành trì.
10 năm để một người, một chúng sinh trôi lăn nơi 3 cõi 6 đường chứng ngộ Toàn Giác mà không có được một mẩu giấy kinh Phật gối đầu nằm. Vậy mà bây giờ người học Phật có cả pho Tam Tạng kinh tham cứu mà không có lấy một Giác Giả ra đời và đổ lỗi kinh Phật nói “Đây là thời mạt pháp”. Một người lên đường tìm đạo không có ai giác ngộ dẫn đường, chỉ lối lại Toàn Giác sau 10 năm dấn thân. Và bây giờ người người học Phật đi tầm đạo ôm ngón tay chỉ trăng – Pho Tam Tạng kinh mà không người nào thấy trăng cả. Điều gì đã xảy ra?
Điều nghịch lý thứ ba là khi Phật dấn thân truyền trao chánh pháp, người học Phật thời ấy chứng ngộ A la hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn cũng chỉ bằng vào những câu chữ mà giờ kết tập lại gọi là kinh Phật. Thực tế là chỉ bằng vào những câu từ giao tiếp Phật đã giúp người học Phật thời ấy sáng mắt, chứng ngộ vô sanh. Phật không truyền tâm ấn hay một phép màu huyễn hoặc nào lên những người đến tham học. Vậy điều gì đã xảy ra khi mà người học Phật ngày nay có đủ duyên tham cứu rất nhiều bộ kinh Phật mà không chuyển được kinh lại bị kinh chuyển đến mê tâm, nhũn trí, mờ mịt cả lối về giác ngộ?
Lẽ nào căn cơ, trình độ người học Phật ngày xưa cao thâm hơn người học Phật thời nay?
Thêm một ý nữa xem như là điều nghịch lý thứ tư – Tại sao chỉ có Phật là Toàn Giác còn hàng môn đệ lại chỉ dặm chân ở chỗ A la hán? Phải chăng Phật còn giữ miếng khi “truyền nghề”?
Thật ra không phải Phật đã không giữ miếng mà Phật là người khát khao, là người thao thức, là người dấn thân quyết liệt tìm con đường giải thoát hoàn toàn; Sự bế tắc tâm thức đã chính muồi mong mỏi giải thoát. Còn hàng môn đệ và cả người học Phật về sau do con đường đã sẵn có nên cứ nhẩn nha, ngún nguẩy bước đi, tính chủ quan về sự an toàn đã có luôn hiện hữu nơi người học Phật thanh văn thừa. Điều này giống như một người lạc giữa sa mạc với lương khô, nước cạn, người đó buộc phải dấn thân vì nếu chậm là sẽ chết. Ngược lại, với một đoàn lữ hành đi trên sa mạc với lương thực, thức uống đủ đầy lại cưỡi lạc đà và lộ trình thì cầm trên tay, thêm có người rành rẽ lối đi chỉ dẫn. Họ sẽ như là đi du ngoạn. Thế thôi!
Nhưng nào các bạn, các bạn đã cầm trên tay lộ trình thành Phật, lộ trình giác ngộ rồi hay sao mà nhởn nhơ đến lạ.

Lẽ ra… Nếu bạn học Phật và thực sự mong mỏi điều liễu thoát sinh tử thì bạn phải đặt nó ra trước mặt và hỏi mọi người, thầy bạn về những gút mắt, những điều mà ngăn ngại bạn chạm đến việc thành Phật. Nhưng bạn đã không làm vậy.
Tại sao?
Trước những vị sư thầy bạn đã không dám bộc bạch nỗi lòng của mình, bạn cũng không dám hỏi một câu xác tín rằng “Bạch thầy! Thầy đã chứng ngộ chưa? Con tham bái thầy chỉ mong rằng sẽ chứng ngộ, sẽ giải thoát hoàn toàn, sẽ thành Phật.”. Bạn đã không dám nói những điều đại loại như thế, bạn lại đi hỏi việc phóng sanh, cầu an, giải hạn, cúng sao, ngày giờ đẹp xấu, việc ăn chay, ăn mặn… Tại sao lại như vậy?
Là bạn đang tu phước?
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đã từng cảnh tỉnh môn đồ như sau:
"Sinh từ là việc lớn. Các ông suốt ngày chỉ biết cầu phước báu, chẳng cầu lìa biển khổ sinh tử. Tự tánh nếu mê phước làm sao cứu được?".
Các bạn lại tin nhận lời các sư thầy – Tăng bảo khuyến dụ tu phước để giải nghiệp nào hay những vị Tăng bảo ấy là người tối mắt đâu biết rằng phước đâu từng rời họa. Khi bạn đặng phước báu thì liền đó công đức sẽ bị ngăn ngại, trí tuệ theo đó cũng nhạt nhòa.
Và hãy nhìn những chùa to, Phật lớn, bạn hãy nhìn bằng con mắt huệ - ở nơi chốn xa hoa đấy đâu thể có dấu chân Phật mà bạn đi tìm, có chăng chỉ là những kho kinh sách đầy bụi bám, nhện giăng. Phật không ở những nơi xa hoa đó, Phật – Bồ tát sẽ đến với những người khốn khổ vì sen không thể mọc ở nơi không có bùn lầy.

Ngạo Thuyết là ai?
Ngạo Thuyết chỉ là người muốn rằng bạn sẽ thấy Phật rất gần gũi, Phật luôn ở bên bạn, bạn có thể cầm tay Phật và bước đi trên con đường chánh đạo thênh thang. Và nếu muốn, nếu khát khao bạn sẽ thành Phật.
Bạn đừng nhầm lẩn rằng Ngạo Thuyết là người mà bạn cầm tay bước đi, người đấy không phải là Ngạo Thuyết. Ngạo Thuyết chỉ là gã chèo đò năm cũ.

Bây giờ, có lẽ chúng ta lại hiểu nhau thêm một chút. Ngạo Thuyết sẽ đưa một link dẫn một bài pháp thoại của thầy Viên Minh. Mời các bạn lắng nghe và mở lòng tương tác!
Bạn đã không dám mở lòng ra để nói chuyện với sư thầy vì niềm kính trọng, e rằng khi hỏi thẳng sẽ xúc phạm sư thầy nhưng ở một chiều kích khác bạn không biết rằng khi bạn không dám hỏi thẳng những điều bạn trăn trở về đạo pháp, điều đó đồng nghĩa rằng niềm tin của bạn với vị thầy là không đủ, và bên cạnh đó lại thể hiện rằng bạn coi thường vị sư thầy của mình ở một gốc độ vi tế hơn.
Chuyện đó gác lại, hiện chúng ta là những người bạn. Vậy chúng ta hãy thẳng thắn, cởi mở hơn trong việc soi sáng cho nhau. Trân trọng!
Cương Đao Sát Sư – Nỗi Khổ Tăng Già – P.2
Như đã trình bày ở phần 1, trong nội bộ của Tăng già Việt Nam có sự trà trộn của một số lượng người không hề ít theo chủ nghĩa vô thần và hiển nhiên là với dụng tâm sai biệt thì nhóm người này đâu thể, đâu dễ giác ngộ đạo lý giải thoát; Họ len lõi vào Tăng đoàn để nắm bắt, kiểm soát, khống chế sự hoạt động Tăng già cũng như điều tiết giới Tăng bảo tuân thủ theo đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước.
Mặt khác, lực lượng Tăng già ngày trước với đa số là những người trốn quân dịch, hoặc những người có hoàn cảnh khốn cùng, túng quẩn như đói ăn, thất tình, mồ côi, cơ nhỡ…
Thêm vào đó, bối cảnh đất nước thời chiến tranh binh lửa góp phần làm sự học của giới Tăng bảo ngày ấy bị hạn chế ít nhiều. Kiến thức thường thức căn bản không có nên phần đa thế hệ Tăng già lớn tuổi không dễ tiếp cận được kinh sách chính thống của đạo Phật, và họ học Phật theo lối miệng truyền miệng, đó là một trông những nguyên nhân khiến giới Tăng bảo ngày trước góp phần truyền đăng cho đạo Phật lai Thần quyền của Trung Quốc lan tràn mọi hang cùng, ngõ hẻm miền bắc Việt Nam.
Bởi do chiến tranh loạn lạc nên giới Tăng bảo miền nam Việt Nam ít chịu ảnh hưởng của đạo Phật lai Thần quyền Trung Hoa. Nhưng bởi do việc hạn chế điều kiện tham cứu kinh sách nên có một thời giới Tăng bảo tồn tại chỉ như là người đảm nhận việc giữ chùa.
Ngược thời gian vào khoảng 40, 50, 60 năm về trước thì người học Phật (nói chung), giới Tăng bảo (nói riêng) đâu dễ gì cầm được một quyển kinh Phật trên tay; Có được một bộ kinh Phật trên tay đã là quá khó thì người học Phật đâu dễ biết Tam Tạng kinh có bao nhiêu bộ, bộ nào tương hợp với căn cơ, trình độ bản thân. Chính vì lẽ đó giới Tăng bảo xưa học Phật như những kẻ mù lòa dò dẫm từng bước đi.
Một lợi thế của giới Tăng bảo xưa là họ thấm được nỗi đau mất mát người thân, họ phần nào nếm trải được nỗi khổ đói ăn, khát uống, già bệnh chết – chiến tranh ly loạn là thế. Và hiển nhiên là do không thông đạt Phật đạo họ, giới Tăng bảo xưa sẽ cầu nguyện, lễ bái rất chí thành. Giới Tăng bảo xưa thường trực sống trong khổ não nên sẽ nếm được vị ngọt lành – Phiền não tức bồ đề.
Một lợi thế khác ở giới Tăng bảo xưa là nền tảng tri thức Hán Nôm nên họ dễ tiếp cận kinh sách Phật học phần lớn có nguồn gốc Tàu, Hán từ đa âm, đa nghĩa hội tụ ngôn ngữ Việt phong phú, nhiều màu sắc, thế là những vị Tăng bảo xưa có thể nếm vị kinh sách ở nhiều hương vị, khẩu vị khác nhau làm cho bản dịch kinh sách thêm phần phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, thành phần Tăng bảo xưa hội đủ điều kiện chạm đến kinh sách Phật để học thuật, dịch thuật quả thật là không nhiều.
Chính do điều kiện, bối cảnh xã hội mà giới Tăng bảo xưa khó thông đạt Phật pháp. Bên cạnh đó, người học Phật xưa nay thường, luôn mang cái Ta Biết, Ta Hiểu đi học Phật; Chính cái vỏ bọc tri kiến này đã ngăn ngại người học Phật (nói chung), giới Tăng bảo (nói riêng) khó thể đón nhận được chánh pháp sáng rõ một cách dễ dàng. Hẳn là giới Tăng bảo ngày nay đâu dễ dàng gì nghe pháp thoại từ những Ưu bà tắc, Ưu bà di, thiện tri thức ở nẻo đời một cách chí thành và cung kính thọ trì; Đó là hiện tượng đã như là bản chất cho thấy rằng người học Phật luôn mang cái Ta Biết, Ta Hiểu đi học Phật. Chính vì lẽ đó cũng như nhiều yếu tố khác mà giới Tăng bảo xưa nay đánh mất trung đạo, ngụp lặn nơi biên kiến mà không hề hay biết.
Giới Tăng bảo xưa nay học Phật trong tình trạng không có Giác Giả hộ pháp nên sự học Phật ngày xa rời chánh đạo.
Trong giới Tăng bảo tiền bối không hẳn là không có Long Tượng ra đời, nhưng vị Tăng bảo này chỉ thâm đạt một pháp Tổ Sư Thiền và ra sức phổ truyền pháp môn đắc địa của bản thân. Vị Tăng bảo ấy chính là thầy Thích Duy Lực, người khai sáng pháp môn Tổ Sư Thiền ở Việt Nam.
Tuy nhiên, pháp môn Tổ Sư Thiền lại rất kén người, pháp môn Tổ Sư Thiền đòi hỏi một trình độ, một căn cơ tương hợp theo lối:
Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm
Chẳng phải nhà thơ chớ tặng thơ.
Hạn chế của pháp Tổ Sư Thiền cho thấy thầy Thích Duy Lực vẫn có giới hạn nhất định nơi Phật môn, và trên tất cả với sự phân định rạch ròi đời đạo thì giới Tăng bảo gần như là luôn bị rơi vào biên kiến nẻo đạo, đây là sự hạn chế rất lớn đối với việc phổ truyền chánh pháp. Vì thế cho nên đạo Phật chỉ sáng lên trong khoảnh khắc rồi lu mờ ngay sau đó.
Ngày nay, có lắm kẻ học Phật tham cứu, học bập bõm vài câu chữ nơi pháp Khán Thoại Đầu, Tổ Sư Thiền nói pháp như hoa rơi, nước chảy nhưng thật ra chỉ là khối tri kiến lập tri, chỉ là đắc pháp ở đầu môi, chót lưỡi.
Qua rồi thời Tổ Sư Thiền của thầy Thích Duy Lực lại đến thời Tịnh Độ Tông nở hoa như nấm mọc sau mưa. Tuy nhiên, hạn chế chết người ở giới Tăng bảo thuộc Tịnh Độ Tông là đặt đạo Phật vào đất chết khi ngu xuẩn cho rằng thời mạt pháp kinh sách Phật học sẽ không còn, có còn lại chăng là câu Nam mô A di đà Phật nhẫn đến A di đà Phật.
Người học Phật Tịnh Độ Tông đẩy đạo Phật vào thời mạt pháp thật sự với vỏn vẹn một chiêu thức thường niệm Lục Tự Di Đà mà không cần tham cứu kinh Phật. Lục Tự Di Đà tạo ra một khoảng trống tri kiến Phật học không thể nào bù đắp, Nam mô A di đà Phật không lấp đầy được khoảng trống nội tâm trong lòng con người.
Và người học Phật đã không thỏa mãn với câu niệm Nam mô A di đà Phật với không gì nữa, trải qua một khoảng thời gian tương đối dài Thiền chi loại dần dần bám rễ nơi mảnh đất Việt Nam với việc khơi mạch Thiền Trúc Lâm – Thích Thanh Từ, Thiền Tỉnh Thức – Thích Nhất Hạnh, Thiền Vipassana, và nhiều nhiều thể loại thiền lai căng ngụy dị khác.
Song có một điểm chung ở giới Tăng bảo trong nước cũng như ở phạm vi thế giới, từ Tịnh Độ Tông, Thiền Tông cho đến Mật Tông – Con bệnh của Phật môn. Điểm chung đó chính là sự Ham Tiếc Sinh Tử ở người học Phật, giới Tăng bảo cũng không là ngoại lệ.
Học Phật là thông đạt pháp vô sanh, là liễu sinh thoát tử mà người học Phật lại Ham Tiếc Sinh Tử thì làm sao có thể Liễu chân nghĩa Vô Thường – Khổ - Không – Vô Ngã. Người học Phật Tịnh Độ Tông mong mỏi về cõi Tây Phương cực lạc của Phật A Di Đà; Thiền Tông mê đắm với Cái Thấy Biết Thường Hằng, Cái Đang Là Thường Tại; Mật Tông với cõi giới vô hình chờ đợi khi đắc Mật pháp.
Tất cả sự mong cầu, mặc định ấy cho thấy rằng người học Phật (nói chung), giới Tăng bảo (nói riêng) đều mong mỏi được sống – Đấy là Ham Tiếc Sinh Tử.
Ngay đến những vị hành giả chân tu, thực học còn học Phật lạc lối thì những Tăng bảo sau này, những Tăng bảo thuộc cấp của Đảng và nhà nước với bản chất môn đồ tri giải, sa môn nghĩa học như Tăng bảo Thích Nhật Từ, Thích Chân Quang, Thích Chân Tính,… khó mong học thông đạt Phật đạo.
Tăng Bảo Thích Nhật Từ với gian hàng tạp hóa Phật môn bán đồ lạc – xoong các kiểu, Tăng bảo Thích Nhật Từ ở một bài pháp thoại hùng hồn tuyên bố đạo Phật dạy con người Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ cùng lối thuyết pháp như một Cha Xứ, bên cạnh đó là một sự cực đoan cùng tính kỳ thị. Vẩn vơ Ngạo Thuyết nghĩ rằng tấm bằng Tiến Sĩ Phật Học của vị Tăng bảo này ắt hẳn rất rẻ tiền.
Một thành phần Tăng bảo khác lại mê thơ phú, hát ca, bon sai – cây cảnh, đã mê tất đắm thì làm sao có thể sáng mắt, sáng đạo.
Lại có Tăng bảo chuyên nói về Ma, người học Phật càng học càng gần Phật. Đằng này học Phật riết lại gần với Ma, nhìn thêm vào phần hiện tướng của vị Tăng bảo này càng rõ “Nhân sai biệt, quả thành hư vọng”, nẻo xấu họ khó mong thoát ra nếu không chóng hồi đầu.
Cương Đao Sát Sư - Sư Giới Đức 01
Sư Giới Đức là Tăng bảo danh tiếng có uy tín thuộc hệ phái Nam Truyền, có thể nói sư Giới Đức là một thi sĩ, một nghệ nhân tài hoa. Theo như lời sư Giới Đức thì sư Viên Minh là bậc thầy, là anh cả của Giới Tăng bảo hệ phái Nam Truyền.
Qua những bài pháp thoại của Sư Giới Đức có thể nhận ra đây là một vị sư có đạo tâm. Tuy nhiên, tri kiến Phật của sư Giới Đức có rất nhiều sự hiểu biết sai lạc với chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền, những bài pháp thoại của sư Giới Đức mang nặng sự cảm tính, chủ quan đậm nét suy lường, tưởng tượng viễn vông. Có thể nói rằng sư Giới Đức đang phổ truyền những điều mê tín len lõi vào chánh pháp đạo Phật.
Mời các bạn tham khảo pháp thoại của sư Giới Đức, đây là cơ sở cho loạt bài viết Cương Đao Sát Sư cũng như phần trình bày về Thân Trung Ấm do Ngạo Thuyết trình bày sau này!

Cương Đao Sát Sư - Sư Viên Minh 01
Chết thật với Cái Đang Là Thần Thánh.
"Luận Điểm Của Sư Viên Minh:
...
TỈNH THỨC SỐNG CÁI ĐANG LÀ
Thầy Viên Minh đã tận lực nghiên cứu và rồi đã thấy điểm chung của tất cả các tôn giáo, các tông phái Phật giáo - tất cả đều nói về một sự thật, một chân lý ngay nơi đời sống chúng ta , sự giác ngộ.
Do vậy, Thầy nói, Thiền không phân biệt tôn giáo, tông phái vì hễ đã giác ngộ là nói giống nhau. Ai còn thấy khác biệt là do còn bị kẹt vướng mắc, hết kẹt sẽ hết vướng. Thầy Viên Minh tự học, tự thực nghiệm, và đã biên soạn cuốn Thiền Trong Đời Sống - nói về Thiền Phật Giáo Nguyên Thủy và Phát Triển, nêu ra Lý vẫn là một. Chân lý là ở đời này, ở nơi mắt tai mũi lưỡi thân ý, nơi sự xúc chạm, Niết bàn ở nơi mình.
Thầy Viên Minh nói rõ , "Chỉ cần Trọn Vẹn Tỉnh Thức Với Chính Mình, đó chính là chỗ trong kinh nói Tinh Tấn Chánh Niệm Tỉnh Giác Thân Thọ Tâm Pháp".
Thầy Viên Minh cho biết không có phương pháp Thiền nào hết, vì đối tượng và tâm thiền đều sẵn nơi mình; hãy nhận ra tâm gì khởi thì có phiền não, tâm gì thì là hạnh phúc và giải thoát.Cho nên nói, Đức Phật khai thị, vì là chỉ ra cái có sẵn nơi tâm mỗi người.
Thí dụ, như người được tặng một lâu đài, và người này bị bịt mắt, đẩy vào lâu đài, hễ đụng gì là bị u đầu sứt trán, bước ra vườn thì té nơi tầng cấp, té hồ nước, tính tự tử. Người tặng lâu đài mới nói, anh chỉ cần mở khăn bịt mắt là thấy: hồ đẹp, tầng cấp mới té lại là đá quý, trong nhà toàn đồ quý.
Tương tự, như mình trong đời này, mắt tai mũi lưỡi thân ý mình như người mù không biết dùng. Phiền não là do mình vô minh thôi.
Do vậy, tại sao phải vào thiền viện, trong khi mình có thể thiền khi ngồi xe buýt, khi nấu ăn, khi tắm v.v.... Thiền chính là dùng tâm mình nhìn lại các pháp đang hiện hữu. Ngay khi bước đi, nếu trọn vẹn tĩnh lặng, không thêm bớt gì... chính đó là Niết Bàn.
Do vậy, Thiền chính là hễ đói thì ăn, hễ khát thì uống. Chúng ta cứ bị lôi kéo vào quá khứ, vào tương lai, vào bên ngoài nên không trọn vẹn tỉnh thức khi đi đứng nằm ngồi.
Khi ngồi Thiền cũng không cần làm gì, chỉ là trở về thân tâm như nó Đang Là. Vì sống với cái Đang Là, chính là Thiền.
Thiền không phải ở tu viện. Cái sai chính là cố gắng Thiền để đừng Tham Sân Si, nhưng khởi tâm cố gắng thì đã là Tham cái tương lai, Sân với cái hiện tại.
Đức Phật dạy, khi sân hãy nhìn thấy sân như nó đang là; quý Phật tử nhìn như thế sẽ thấy rất an lạc. Do vậy, Phật không khác chúng sinh, nhưng Phật nhận ra đầy đủ lâu đài điện ngọc nơi này, còn chúng sinh chưa nhận ra.
Đó là ý nghĩa câu nói khi Đức Phật ra đời: Ta là tối thượng, là duy nhất. (Duy ngã độc tôn). Đơn giản có nghĩa là trở về chính mình thì sẽ không còn luân hồi sinh tử.
Thiền sư đắc đạo không bao giờ bảo người ta phải theo mình, vì chỉ cần bảo mọi người mở mắt ra là thấy mọi chuyện đều hoàn hảo.
Do vậy, không cần xuất gia, không cần vào thiền viện, không cần ngồi cho lâu... vì mỗi người có một khuôn, không cần bắt chước ai hết.
Đức Phật dạy ba pháp ấn : vô thường, khổ, vô ngã . Chúng ta phải đối diện với cuộc sống , trãi nghiệm đi xuyên qua đau khổ của cuộc sống mới thấy vô thường, khổ, vô ngã.
Thấy chân lý chỉ có nghĩa thấy thân thọ tâm pháp như nó Đang Là.
Thiền là phải tránh 4 thứ:
- Cho Là, vì Cho Là sẽ dẫn tới tà kiến;
- Tưởng Là, vì đây là vô minh;
- Phải Là, vì đây là ái dục;
- Sẽ Là, vì đây là tham ái.
Chỉ cần sống cái Đang Là, vì chân lý tự nó hoàn hảo. Cũng chẳng cần giải phẫu thẩm mỹ, vì đó là Phải Là.
Bản ngã có 3 yếu tố dễ nhận ra:
- Cướp Công Pháp: như cây ổi tự sống, như tim tự đập, mình không làm gì. Nếu nói "tôi ăn" hay "tôi đi," chính là cướp công pháp.
- Trộm Pháp: lấy về làm của mình, cho là mình sở hữu, nên nhận "của tôi."
- Thọc Gậy Bánh Xe Pháp: thí dụ, ham ăn tất sẽ đau bụng, uống rượu tất sẽ bệnh gan... mình sinh ra đã hoàn hảo rồi.
HT. Viên Minh."
TỈNH THỨC SỐNG CÁI ĐANG LÀ
Thầy Viên Minh đã tận lực nghiên cứu và rồi đã thấy điểm chung của tất cả các tôn giáo, các tông phái Phật giáo - tất cả đều nói về một sự thật, một chân lý ngay nơi đời sống chúng ta , sự giác ngộ.
Do vậy, Thầy nói, Thiền không phân biệt tôn giáo, tông phái vì hễ đã giác ngộ là nói giống nhau. Ai còn thấy khác biệt là do còn bị kẹt vướng mắc, hết kẹt sẽ hết vướng. Thầy Viên Minh tự học, tự thực nghiệm, và đã biên soạn cuốn Thiền Trong Đời Sống - nói về Thiền Phật Giáo Nguyên Thủy và Phát Triển, nêu ra Lý vẫn là một. Chân lý là ở đời này, ở nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nơi sự xúc chạm, Niết bàn ở nơi mình.
Thầy Viên Minh nói rõ , "Chỉ cần Trọn Vẹn Tỉnh Thức Với Chính Mình, đó chính là chỗ trong kinh nói Tinh Tấn Chánh Niệm Tỉnh Giác - Thân - Thọ - Tâm - Pháp".
Thầy Viên Minh cho biết không có phương pháp Thiền nào hết, vì đối tượng và tâm thiền đều sẵn nơi mình; hãy nhận ra tâm gì khởi thì có phiền não, tâm gì thì là hạnh phúc và giải thoát.Cho nên nói, Đức Phật khai thị, vì là chỉ ra cái có sẵn nơi tâm mỗi người.
Thí dụ, như người được tặng một lâu đài, và người này bị bịt mắt, đẩy vào lâu đài, hễ đụng gì là bị u đầu sứt trán, bước ra vườn thì té nơi tầng cấp, té hồ nước, tính tự tử. Người tặng lâu đài mới nói, anh chỉ cần mở khăn bịt mắt là thấy: hồ đẹp, tầng cấp mới té lại là đá quý, trong nhà toàn đồ quý.
Tương tự, như mình trong đời này, mắt tai mũi lưỡi thân ý mình như người mù không biết dùng. Phiền não là do mình vô minh thôi.
Do vậy, tại sao phải vào thiền viện, trong khi mình có thể thiền khi ngồi xe buýt, khi nấu ăn, khi tắm v.v.... Thiền chính là dùng tâm mình nhìn lại các pháp đang hiện hữu. Ngay khi bước đi, nếu trọn vẹn tĩnh lặng, không thêm bớt gì... chính đó là Niết Bàn.
Do vậy, Thiền chính là hễ đói thì ăn, hễ khát thì uống. Chúng ta cứ bị lôi kéo vào quá khứ, vào tương lai, vào bên ngoài nên không trọn vẹn tỉnh thức khi đi đứng nằm ngồi.
Khi ngồi Thiền cũng không cần làm gì, chỉ là trở về thân tâm như nó Đang Là. Vì sống với cái Đang Là, chính là Thiền.
Thiền không phải ở tu viện. Cái sai chính là cố gắng Thiền để đừng Tham Sân Si, nhưng khởi tâm cố gắng thì đã là Tham cái tương lai, Sân với cái hiện tại.
Đức Phật dạy, khi sân hãy nhìn thấy sân như nó đang là; quý Phật tử nhìn như thế sẽ thấy rất an lạc. Do vậy, Phật không khác chúng sinh, nhưng Phật nhận ra đầy đủ lâu đài điện ngọc nơi này, còn chúng sinh chưa nhận ra.
Đó là ý nghĩa câu nói khi Đức Phật ra đời: Ta là tối thượng, là duy nhất. (Duy ngã độc tôn). Đơn giản có nghĩa là trở về chính mình thì sẽ không còn luân hồi sinh tử.
Thiền sư đắc đạo không bao giờ bảo người ta phải theo mình, vì chỉ cần bảo mọi người mở mắt ra là thấy mọi chuyện đều hoàn hảo.
Do vậy, không cần xuất gia, không cần vào thiền viện, không cần ngồi cho lâu... vì mỗi người có một khuôn, không cần bắt chước ai hết.
Đức Phật dạy ba pháp ấn : vô thường, khổ, vô ngã . Chúng ta phải đối diện với cuộc sống , trãi nghiệm đi xuyên qua đau khổ của cuộc sống mới thấy vô thường, khổ, vô ngã.
Thấy chân lý chỉ có nghĩa thấy thân thọ tâm pháp như nó Đang Là.
Thiền là phải tránh 4 thứ:
- Cho Là, vì Cho Là sẽ dẫn tới tà kiến.
- Tưởng Là, vì đây là vô minh.
- Phải Là, vì đây là ái dục.
- Sẽ Là, vì đây là tham ái.
Chỉ cần sống cái Đang Là, vì chân lý tự nó hoàn hảo. Cũng chẳng cần giải phẫu thẩm mỹ, vì đó là Phải Là.
Bản ngã có 3 yếu tố dễ nhận ra:
- Cướp Công Pháp: như cây ổi tự sống, như tim tự đập, mình không làm gì. Nếu nói "tôi ăn" hay "tôi đi," chính là cướp công pháp.
- Trộm Pháp: lấy về làm của mình, cho là mình sở hữu, nên nhận "của tôi."
- Thọc Gậy Bánh Xe Pháp: thí dụ, ham ăn tất sẽ đau bụng, uống rượu tất sẽ bệnh gan... mình sinh ra đã hoàn hảo rồi.
HT. Viên Minh

Cương Đao Sát Sư – Như Huyễn Thiền Sư 02
Minh Thương - Điều gì, ai đã khiến một vị Tăng bảo không dám nói lên tiếng nói của lòng mình suốt mấy mươi năm dài đăng đẳng? Và chỉ đến những năm tháng cuối đời sư ông Thích Từ Thông mới dám thốt ra tiếng nói cương trực minh định lại con đường học Phật cho thế hệ ngày nay cùng mai sau.
Khi sư ông Từ Thông nói ra những điều trăn trở về đạo Phật cũng như việc hoằng pháp lạc lối có tổ chức và đã trở thành truyền thống, có không ít người học Phật nông nổi, cực đoan gọi sư ông là Ma Tăng, họ nói với đại ý rằng giờ ông đã già rồi nên không còn “kiếm ăn” được như xưa, trâu buộc ghét trong ăn do đó mới quấy rối, phá hoại đạo Phật. Những người gọi sư ông Từ Thông thật rất đáng thương, họ mê muội, thiển cận, ấu trĩ quá đỗi.
Riêng Ngạo Thuyết rất trân trọng việc sư ông đã làm ở những năm tháng cuối đời. Sư ông Từ Thông quả thật rất đáng kính, Ngạo Thuyết xem sư ông là một hùng sư đương thời. Kính lễ sư ông Từ Thông!
Khác với sự chủ quan và cực đoan của trưởng lão Thích Thông Lạc, những phá chấp của sư ông Từ Thông tinh minh, mạch lạc, khách quan hơn.
Hoành Đao – Người học Phật theo pháp môn Thiền Tông dễ thường sẽ biết 3 yếu quyết gồm Vô Sở Cầu, Vô Sở Đắc, Vô Sở Sợ. Thêm nữa, có một vị pháp hữu của Ngạo Thuyết từng tham bái sư ông Từ Thông và nhận một câu pháp ngữ rằng “Người tu Thiền Tông là người luôn dán chữ Tử trên trán của mình để hằng nhớ mà hành trì miên mật ngõ hầu giác ngộ giải thoát". Vậy mà sư ông lại sợ đến mức kham nhẫn chịu đựng mấy mươi năm trời, điều này phần nào thể hiện rằng sư ông là người chưa chứng ngộ.
Và thật ra mối nghi về những điều không đúng hiện tồn ở đạo Phật chỉ ấp ủ trong lòng sư ông mới dai dẳng 50, 70 năm dài. Sư ông Từ Thông ôm khối nghi tình đó mãi cho đến một ngày nó vỡ ra và sư ông bừng ngộ, điều đáng tiếc là khối nghi tình này chỉ là phần ngoài da của đạo Phật, khối nghi tình này chỉ gượng gạo khép vào tiểu ngộ. Các bậc Tổ Thiền Tông đã minh định rất rạch ròi một điều rằng “Tiểu nghi, tiểu ngộ; Đại nghi, đại ngộ". Sư ông đã đạt chút thành quả của Tiểu ngộ nhưng thời gian tu trì của sư ông Từ Thông không còn nhiều nữa. Thêm vào đó, với khối tri kiến lập tri mà sư ông đang Chấp giữ liệu có bậc thiện tri thức nào đủ sức điểm hóa cho sư ông. Việc điểm hóa sư ông Từ Thông không phải là quá khó nhưng tuổi tác sư ông quá cao nên hẳn thiện tri thức đứng trước sư ông phải “Đao hạ lưu nhân”. Thật tiếc cho sư ông Từ Thông vậy!
Một cách khác để nhận diện tầm mức chứng ngộ của sư ông Từ Thông là hãy lắng nghe những bài pháp thoại của sư ông, nhất là những bài pháp thoại mới. Hãy lắng nghe bằng trái tim trong sáng cùng với sự khách quan không hờn yêu giận ghét người nghe sẽ nhận diện được lỗ hỏng nơi tri kiến Phật của sư ông; Ở nơi đó sẽ có một chút chủ quan nhân ngã và thiếu đi trạch pháp nhãn. Tinh tế một chút người nghe sẽ nhận ra sư ông Từ Thông đã không nhận diện đúng chánh pháp của Phật Thích Ca. Cụ thể là ở bài pháp thoại của sư ông theo link Ngạo Thuyết chia sẻ, các bạn sẽ thấy một lỗi căn bản đó là sư ông đồng hóa lục đạo – Trời, Người, A tu la, Súc Sinh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục chỉ là các sắc thái của kiếp Người (ngay hiện tại); Về điểm này sư ông Từ Thông không sai nhưng cái sai của sư ông là đoạn luôn việc tồn tại của 3 cõi 6 đường. Đây là sai lầm thật sự của sư ông Từ Thông đối với sự hiểu về chánh pháp, đoạn sự tồn tại của 3 cõi 6 đường là đoạn luôn sự luân hồi, quy luật nhân quả.
Nếu sự luân hồi, quy luật nhân quả không thật có thì Phật Thích Ca đã không cần mẫn cùng bi tâm dấn thân trên đôi chân trần thuyết pháp bốn mươi mấy năm trường. Sự sai lầm của sư ông Từ Thông có phần tương tợ như thành viên Thientu Tran, Thientu Tran cho rằng mục đích của đạo Phật chỉ là giải thoát khổ ở hiện tại. Cả sư ông Từ Thông và Thientu Tran đều mắc cùng lỗi “Thấy ngọn mà không thấy gốc”. Đúng như Thientu Tran nói đạo Phật chính yếu là giải thoát khổ. Nhưng để thoát khổ thật sự thì hành nhân phải liễu thoát sinh tử, đoạn dứt luân hồi. Vì sao? Vì nếu không đoạn dứt luân hồi thì dù mang thân gì nơi 6 nẻo cũng sẽ không thể thoát khổ và sự lẩn quẩn luân hồi sẽ “nặng oằn” thêm những khổ đau.

Ở dưới bài viết này Ngạo Thuyết sẽ thêm vào một link dẫn ở phần comment. Mời các bạn nghe sư ông Từ Thông nhìn nhận thế nào về Tiến sĩ Phật học, Tăng bảo Thích Nhật Từ, người vốn là học trò của sư ông ngày trước.

Tóm lại, sư ông Từ Thông là người chưa chứng ngộ thâm sâu nhưng những điều sư ông nói sẽ là vàng ngọc đối với những người học Phật chân chính. Và hiển nhiên là muốn thu nhặt vàng ngọc thì mỗi người phải đãi lấy từ một khối hỗn mang cát đá.
Sư ông Từ Thông nói một điều rất hay, đại ý là “Hãy học Phật bằng một cái Tâm Trong Sáng”. Nhân tiện Ngạo Thuyết cũng nhắc nhỡ thêm rằng “Hãy học Phật bằng một cái Tâm Trong Sáng! Tâm Trong Sáng không đồng nghĩa là Ngờ Ngệch, Cả Tin”
Cũng qua lời sư ông ở link bài viết “Truyền Thống Nói Bậy” bạn sẽ nhận ra rằng thế hệ người học Phật đi trước, giới Tăng bảo xưa do thiếu kiến thức lại chủ quan, khinh xuất nên mới không rõ chánh pháp, góp nhặt tà môn ngoại đạo mà phổ truyền dẫn đến đưa đạo Phật vào đường mê tín dị đoan.
Do vậy, nếu không có Giác Giả hộ pháp thì người học Phật rất cần đến kiến thức cơ bản ngõ hầu không mê lầm tà pháp – Tự thắp đuốc mà đi. Trân trọng!
Cương Đao Sát Sư - Như Huyễn Thiền Sư 01
Như Huyễn Thiền Sư là nickname ưa thích của Thầy Thích Từ Thông. Thầy Thích Từ Thông được xem là vị Tăng bảo phá Chấp hàng đầu của Việt Nam hiện nay.
Mời các bạn thành viên của nhóm Tương Tác Phật Học Online nghe ít bài pháp thoại của sư ông và bày tỏ quan điểm, nhìn nhận các bài pháp thoại của sư ông.
Với sư ông Thích Từ Thông thì Ngạo Thuyết nhìn nhận đây là một vị Tăng bảo chân tu, là vị Tăng bảo dám nói ra tiếng nói của lòng mình ở những năm tháng cuối đời, sư ông lên tiếng vì sự suy vong, tàn hoại của đạo Phật nhưng sư ông Thích Từ Thông là người chưa chứng ngộ. Ngạo Thuyết tin rằng lối đi nơi hậu kiếp sư ông thật sự không rõ lối.
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát!

Cương Đao Sát Sư – Nỗi Khổ Tăng Già - 01
Trong kinh Mi tiên vấn đáp có phân loại sa môn ra làm 7 hạng như sau:
1. Có người xuất gia vì muốn trốn luật vua, phép nước.
2. Có người xuất gia là để được thân cận giới quyền quý cao sang.
3. Có người xuất gia là mong được quyền hành trong một ngôi chùa hay lãnh đạo Tăng lữ, đồ chúng.
4. Có người xuất gia vì thất nghiệp, muốn kiếm miếng cơm manh áo.
5. Có người xuất gia vì cô thế, cô thân, trốn kẻ thù nghịch.
6. Có người xuất gia vì mang công mắc nợ.
7. Có người xuất gia vì sợ sanh tử luân hồi, muốn chấm dứt khổ đau, phiền não.
Khi vua Mi lan đà chất vấn Na tiên tì kheo có phải là sa môn hành theo hạnh liễu thoát sinh tử, quyết ý chấm dứt khổ đau, não phiền thì Na tiên tì kheo đáp:
- Thưa, không phải thế! Bần tăng rời khỏi gia đình lúc bảy tuổi, khi ấy còn rất nhỏ thì nào biết gì! Sau dần lớn lên, nhờ Thầy tổ, nhờ các vị trưởng lão dày công giáo hóa, trí óc mới khơi mở được chút ít. Hiện giờ thì có thể nói rằng, bần tăng tu là cốt ý để diệt khổ, đấy không còn là lời nói dối nữa!

Cứu cánh sa môn hạnh là như thế.
Sinh tử sự đại nên người học Phật cầu đạo, tầm sư lẽ ra phải xác định được mục đích của việc học Phật ở chính mình và tùy vào mục đích đặt ra mà tầm vị sư thầy tương hợp. Và muốn biết đạo hạnh, chỗ thực tu, thực chứng của sư thầy thì không có con đường nào dễ dàng hơn bằng việc hỏi đáp trực tiếp, thẳng thắn. Có câu “Vàng thật không sợ lửa”, nếu là bậc chân tu thì không có sự chướng ngại việc vấn đạo ở người tham học, những câu hỏi khảo vấn khách quan là nấc thang tiến tu cho người hỏi lẫn kẻ đáp.
Có đến 7 hạng sa môn do đó không phải dễ dàng gì tìm được người chân tu, thực học đạo giác ngộ giải thoát. Nếu cả tin vào Tăng bảo mà không khảo vấn thì xác suất gặp phải Tà sư sẽ là rất lớn. Ngày nay người học Phật có xu hướng chạy theo phong trào, chỉ cần nghe nói vị sư đó, vị thầy kia đắc đạo, là bồ tát hóa thân, là Phật sống liền ùn ùn kéo đến kính cẩn cúng dường để tích tạo phước báu mà không cần thẩm định xem vị Tăng bảo đó có đạo hạnh, thực tu không?
Người học Phật ngày nay đa phần rất kính trọng Tăng bảo, kính trọng đến mức biến Tăng bảo thành “Ông này, bà nọ”; kính đến mức gần như là khiếp sợ chư Tăng. Và chính việc kính trọng Tăng bảo thái quá đã góp phần làm hư hỏng chư Tăng.
Mặt khác, người học Phật lại kỳ vọng quá mức ở sư thầy. Cứ hễ khoác y áo Tăng bảo thì liền được mặc định là sư thầy, cứ là sư thầy thì mặc định là đã thông pháp, đã biết tất, biết tuốt về Phật pháp. Chính vì kỳ vọng ở người học Phật quá lớn đã “đặt để” Tăng bảo vào vị trí đã chứng ngộ, đã thông pháp.
Chính vì lẽ đó giới Tăng bảo phải “gồng mình” đáp ứng nhu cầu, sự kỳ vọng của đại chúng về sự thông pháp, việc chứng ngộ. Không ít Tăng bảo đã làm việc quá phận, đáp ứng trả lời những câu hỏi vượt quá tri kiến bản thân và khỏa lấp lỗ hỏng tri thức bằng vai trò Tăng bảo cùng sự ngụy biện.
Thực tế Tăng bảo cũng chỉ là con người, họ cũng như con người với thất tình lục dục, với Tham sân si mạn nghi. Và không phải người nào vào chùa phụng sự đều có chí hướng xuất trần hay hoằng pháp cao cả.
Phần đa trong giới Tăng bảo vào chùa nương náu là do gặp chướng duyên, nghịch cảnh nơi cuộc sống như thất tình, trốn nợ, kiếm cơm, đói khổ, bệnh tật hoặc có người dã tâm hơn thì mong cầu một chỗ đứng nơi Tăng đoàn… Do vậy, thực tế là ngay trong giới Tăng bảo cũng là chốn “Long xà hỗn độn”, và hiển nhiên rằng long thời hiếm, xà thời nhiều. Vào chùa nương náu lâu dần, lại được xem kinh, nghe pháp thì ngay đến cả những người vào chùa với toan tính trốn tránh nghịch cảnh, chướng duyên hoặc người có dã tâm cũng dần nắm bắt được tri kiến Phật. Sống lâu rồi cũng lên lão làng, lại được trọng vọng quá mức, thế nên chỉ cần đạo hành yếu kém một chút liền rơi vào ma đạo, nuôi lớn bản ngã – duy ngã độc tôn.

Cũng dịp tết vừa qua, Ngạo Thuyết có ghé sang một ngôi chùa ở Củ Chi, hôm ghé chùa không gặp sư trụ trì, chỉ gặp cô ruột của sư trụ trì thì được nghe rằng từ ngày lên làm trụ trì thì vị sư đó đã như cá nằm trong rọ rồi, người ta muốn bắt lúc nào tùy thích. Ngụ ý của lời nói là khi còn ở vai trò quyền trụ trì thì danh phận chưa an vị nên còn thong dong, tự tại; đến khi trở thành trụ trì thì phải chịu trách nhiệm nhiều hơn, phải biết đối nhân xử thế thông qua việc gởi phong bì đủ dày để cán bộ quản lý địa phương không gây khó dễ, tạo điều nhũn nhiễu việc của chùa.

Thật ra, từ lâu người học Phật kể cả giới Tăng bảo đã quy y Tam bảo không còn đúng nghĩa nữa.
Theo Tam quy y của sư ông Thích Thanh Từ phổ biến:
Ðể bảo tồn lý tưởng cao cả của mình và giữ vững đức tin trên đường Ðạo, người quy-y tự nguyện một cách mạnh mẽ và thành khẩn:
- Ðệ tử quy- Phật, nguyện trọn đời không quy y thiên, thần, quỷ, vật.
- Ðể tử quy-y Pháp, nguyện trọn đời không quy-y ngoại đạo, tà giáo.
- Ðệ tử quy-y Tăng, nguyện trọn đời không quy-y tổn hữu ác đảng.
Song trên thực tế khi nước Việt Nam vừa giành được độc lập đã có trên dưới 100 đảng viên được trà trộn vào đội ngũ Tăng đoàn, điều này đồng nghĩa rằng có một lực lượng không hề nhỏ những người theo chủ nghĩa vô thần được cài vào lực lượng hoằng pháp của đạo Phật. Và tin rằng dưới sự hậu thuẫn của nhà nước thì những vị trí trọng yếu của Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam sẽ do các đảng viên vô thần thâu tóm. Từ lâu, Tăng đoàn vốn không phải là lực lượng những người chân chính xuất gia học Phật với chí hướng xuất trần, liễu thoát sinh tử.
Việc không dừng lại đó, đã có thầy chùa cha tức phải có thầy chùa con, thế nên về nền tảng Tăng đoàn Việt Nam mà cụ thể là Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ là thành phần, là công cụ quản lý, điều tiết xã hội của bộ máy chính quyền. Ngạo Thuyết e rằng họ sẽ rành rõ điều lệ đảng, tư tưởng đảng Cộng sản Việt Nam hơn giáo lý đạo Phật.
Về nguyên tắc người học Phật chỉ quy y Phật – Pháp – Tăng trọn không quy y Tà Ma, Ngoại Đạo nhưng với tình hình thực tế thật không phải vậy. Tin rằng chư Tăng ngày nay sẽ được bồi dưỡng các lớp chính trị và tư tưởng đảng Cộng sản sâu sắc. Để tồn tại và dưới sức ảnh hưởng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, giới Tăng lữ sẽ quy phục, thuần hóa dưới chân giới chính trị với nguyên tắc “Thuận ta thì sống, chống ta thì chết”.
Tiếp theo đó, ngày nay các tướng lãnh quân đội chồn chân, mỏi gối hoặc muốn tìm một bãi đáp an toàn để gột rửa “bàn tay máu” đã lần lượt gia nhập vào Tăng đoàn ở những vị trí cao cao tại thượng. Giang sơn dễ đổi, bản tánh khó thay; với thói quen “hét ra lửa” cùng chủ nghĩa vô thần nhồi sọ thì thật quá khó để tỏ ngộ đạo lý giác ngộ giải thoát ở những bản ngã nặng nề.
Cứ nhìn các xử lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trước hiện tượng Thích Thông Lạc, Thiền Tông Tân Diệu… thì sẽ biết rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có là lực lượng “trừ ma, vệ đạo” hay không? Sự xuất hiện tà thuyết, quái sư không là điều mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam trăn trở, thao thức.
Thêm vào đó, chịu sự ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc - Phật giáo lai căng Thần quyền – Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang góp phần chấn hưng mê tín dị đoan vào trong đạo Phật với bùa chú, ngải thuật, đồng bóng. Phật giáo miền bắc Việt Nam bị đồng hóa Thần quyền khá rõ rệt và ngày nay dưới sự điều tiết của Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Phật giáo miền nam Việt Nam cũng từng bước bị tiêm nhiễm những điều mê tín, nhảm nhí.
Đạo Phật trở thành tà môn khi giới Tăng bảo không thoát thai ra được bậc Long Tượng hộ pháp.