Cương Đao Sát Sư – Nỗi Khổ Tăng Già - 01
Trong kinh Mi tiên vấn đáp có phân loại sa môn ra làm 7 hạng như sau:
1. Có người xuất gia vì muốn trốn luật vua, phép nước.
2. Có người xuất gia là để được thân cận giới quyền quý cao sang.
3. Có người xuất gia là mong được quyền hành trong một ngôi chùa hay lãnh đạo Tăng lữ, đồ chúng.
4. Có người xuất gia vì thất nghiệp, muốn kiếm miếng cơm manh áo.
5. Có người xuất gia vì cô thế, cô thân, trốn kẻ thù nghịch.
6. Có người xuất gia vì mang công mắc nợ.
7. Có người xuất gia vì sợ sanh tử luân hồi, muốn chấm dứt khổ đau, phiền não.
Khi vua Mi lan đà chất vấn Na tiên tì kheo có phải là sa môn hành theo hạnh liễu thoát sinh tử, quyết ý chấm dứt khổ đau, não phiền thì Na tiên tì kheo đáp:
- Thưa, không phải thế! Bần tăng rời khỏi gia đình lúc bảy tuổi, khi ấy còn rất nhỏ thì nào biết gì! Sau dần lớn lên, nhờ Thầy tổ, nhờ các vị trưởng lão dày công giáo hóa, trí óc mới khơi mở được chút ít. Hiện giờ thì có thể nói rằng, bần tăng tu là cốt ý để diệt khổ, đấy không còn là lời nói dối nữa!
…
Cứu cánh sa môn hạnh là như thế.
Sinh tử sự đại nên người học Phật cầu đạo, tầm sư lẽ ra phải xác định được mục đích của việc học Phật ở chính mình và tùy vào mục đích đặt ra mà tầm vị sư thầy tương hợp. Và muốn biết đạo hạnh, chỗ thực tu, thực chứng của sư thầy thì không có con đường nào dễ dàng hơn bằng việc hỏi đáp trực tiếp, thẳng thắn. Có câu “Vàng thật không sợ lửa”, nếu là bậc chân tu thì không có sự chướng ngại việc vấn đạo ở người tham học, những câu hỏi khảo vấn khách quan là nấc thang tiến tu cho người hỏi lẫn kẻ đáp.
Có đến 7 hạng sa môn do đó không phải dễ dàng gì tìm được người chân tu, thực học đạo giác ngộ giải thoát. Nếu cả tin vào Tăng bảo mà không khảo vấn thì xác suất gặp phải Tà sư sẽ là rất lớn. Ngày nay người học Phật có xu hướng chạy theo phong trào, chỉ cần nghe nói vị sư đó, vị thầy kia đắc đạo, là bồ tát hóa thân, là Phật sống liền ùn ùn kéo đến kính cẩn cúng dường để tích tạo phước báu mà không cần thẩm định xem vị Tăng bảo đó có đạo hạnh, thực tu không?
Người học Phật ngày nay đa phần rất kính trọng Tăng bảo, kính trọng đến mức biến Tăng bảo thành “Ông này, bà nọ”; kính đến mức gần như là khiếp sợ chư Tăng. Và chính việc kính trọng Tăng bảo thái quá đã góp phần làm hư hỏng chư Tăng.
Mặt khác, người học Phật lại kỳ vọng quá mức ở sư thầy. Cứ hễ khoác y áo Tăng bảo thì liền được mặc định là sư thầy, cứ là sư thầy thì mặc định là đã thông pháp, đã biết tất, biết tuốt về Phật pháp. Chính vì kỳ vọng ở người học Phật quá lớn đã “đặt để” Tăng bảo vào vị trí đã chứng ngộ, đã thông pháp.
Chính vì lẽ đó giới Tăng bảo phải “gồng mình” đáp ứng nhu cầu, sự kỳ vọng của đại chúng về sự thông pháp, việc chứng ngộ. Không ít Tăng bảo đã làm việc quá phận, đáp ứng trả lời những câu hỏi vượt quá tri kiến bản thân và khỏa lấp lỗ hỏng tri thức bằng vai trò Tăng bảo cùng sự ngụy biện.
Thực tế Tăng bảo cũng chỉ là con người, họ cũng như con người với thất tình lục dục, với Tham sân si mạn nghi. Và không phải người nào vào chùa phụng sự đều có chí hướng xuất trần hay hoằng pháp cao cả.
Phần đa trong giới Tăng bảo vào chùa nương náu là do gặp chướng duyên, nghịch cảnh nơi cuộc sống như thất tình, trốn nợ, kiếm cơm, đói khổ, bệnh tật hoặc có người dã tâm hơn thì mong cầu một chỗ đứng nơi Tăng đoàn… Do vậy, thực tế là ngay trong giới Tăng bảo cũng là chốn “Long xà hỗn độn”, và hiển nhiên rằng long thời hiếm, xà thời nhiều. Vào chùa nương náu lâu dần, lại được xem kinh, nghe pháp thì ngay đến cả những người vào chùa với toan tính trốn tránh nghịch cảnh, chướng duyên hoặc người có dã tâm cũng dần nắm bắt được tri kiến Phật. Sống lâu rồi cũng lên lão làng, lại được trọng vọng quá mức, thế nên chỉ cần đạo hành yếu kém một chút liền rơi vào ma đạo, nuôi lớn bản ngã – duy ngã độc tôn.
…
Cũng dịp tết vừa qua, Ngạo Thuyết có ghé sang một ngôi chùa ở Củ Chi, hôm ghé chùa không gặp sư trụ trì, chỉ gặp cô ruột của sư trụ trì thì được nghe rằng từ ngày lên làm trụ trì thì vị sư đó đã như cá nằm trong rọ rồi, người ta muốn bắt lúc nào tùy thích. Ngụ ý của lời nói là khi còn ở vai trò quyền trụ trì thì danh phận chưa an vị nên còn thong dong, tự tại; đến khi trở thành trụ trì thì phải chịu trách nhiệm nhiều hơn, phải biết đối nhân xử thế thông qua việc gởi phong bì đủ dày để cán bộ quản lý địa phương không gây khó dễ, tạo điều nhũn nhiễu việc của chùa.
…
Thật ra, từ lâu người học Phật kể cả giới Tăng bảo đã quy y Tam bảo không còn đúng nghĩa nữa.
Theo Tam quy y của sư ông Thích Thanh Từ phổ biến:
Ðể bảo tồn lý tưởng cao cả của mình và giữ vững đức tin trên đường Ðạo, người quy-y tự nguyện một cách mạnh mẽ và thành khẩn:
- Ðệ tử quy- Phật, nguyện trọn đời không quy y thiên, thần, quỷ, vật.
- Ðể tử quy-y Pháp, nguyện trọn đời không quy-y ngoại đạo, tà giáo.
- Ðệ tử quy-y Tăng, nguyện trọn đời không quy-y tổn hữu ác đảng.
Song trên thực tế khi nước Việt Nam vừa giành được độc lập đã có trên dưới 100 đảng viên được trà trộn vào đội ngũ Tăng đoàn, điều này đồng nghĩa rằng có một lực lượng không hề nhỏ những người theo chủ nghĩa vô thần được cài vào lực lượng hoằng pháp của đạo Phật. Và tin rằng dưới sự hậu thuẫn của nhà nước thì những vị trí trọng yếu của Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam sẽ do các đảng viên vô thần thâu tóm. Từ lâu, Tăng đoàn vốn không phải là lực lượng những người chân chính xuất gia học Phật với chí hướng xuất trần, liễu thoát sinh tử.
Việc không dừng lại đó, đã có thầy chùa cha tức phải có thầy chùa con, thế nên về nền tảng Tăng đoàn Việt Nam mà cụ thể là Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ là thành phần, là công cụ quản lý, điều tiết xã hội của bộ máy chính quyền. Ngạo Thuyết e rằng họ sẽ rành rõ điều lệ đảng, tư tưởng đảng Cộng sản Việt Nam hơn giáo lý đạo Phật.
Về nguyên tắc người học Phật chỉ quy y Phật – Pháp – Tăng trọn không quy y Tà Ma, Ngoại Đạo nhưng với tình hình thực tế thật không phải vậy. Tin rằng chư Tăng ngày nay sẽ được bồi dưỡng các lớp chính trị và tư tưởng đảng Cộng sản sâu sắc. Để tồn tại và dưới sức ảnh hưởng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, giới Tăng lữ sẽ quy phục, thuần hóa dưới chân giới chính trị với nguyên tắc “Thuận ta thì sống, chống ta thì chết”.
Tiếp theo đó, ngày nay các tướng lãnh quân đội chồn chân, mỏi gối hoặc muốn tìm một bãi đáp an toàn để gột rửa “bàn tay máu” đã lần lượt gia nhập vào Tăng đoàn ở những vị trí cao cao tại thượng. Giang sơn dễ đổi, bản tánh khó thay; với thói quen “hét ra lửa” cùng chủ nghĩa vô thần nhồi sọ thì thật quá khó để tỏ ngộ đạo lý giác ngộ giải thoát ở những bản ngã nặng nề.
Cứ nhìn các xử lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trước hiện tượng Thích Thông Lạc, Thiền Tông Tân Diệu… thì sẽ biết rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có là lực lượng “trừ ma, vệ đạo” hay không? Sự xuất hiện tà thuyết, quái sư không là điều mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam trăn trở, thao thức.
Thêm vào đó, chịu sự ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc - Phật giáo lai căng Thần quyền – Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang góp phần chấn hưng mê tín dị đoan vào trong đạo Phật với bùa chú, ngải thuật, đồng bóng. Phật giáo miền bắc Việt Nam bị đồng hóa Thần quyền khá rõ rệt và ngày nay dưới sự điều tiết của Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Phật giáo miền nam Việt Nam cũng từng bước bị tiêm nhiễm những điều mê tín, nhảm nhí.
Đạo Phật trở thành tà môn khi giới Tăng bảo không thoát thai ra được bậc Long Tượng hộ pháp.