Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

Cương Đao Sát Sư - Sư Giới Đức 01
Sư Giới Đức là Tăng bảo danh tiếng có uy tín thuộc hệ phái Nam Truyền, có thể nói sư Giới Đức là một thi sĩ, một nghệ nhân tài hoa. Theo như lời sư Giới Đức thì sư Viên Minh là bậc thầy, là anh cả của Giới Tăng bảo hệ phái Nam Truyền.
Qua những bài pháp thoại của Sư Giới Đức có thể nhận ra đây là một vị sư có đạo tâm. Tuy nhiên, tri kiến Phật của sư Giới Đức có rất nhiều sự hiểu biết sai lạc với chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền, những bài pháp thoại của sư Giới Đức mang nặng sự cảm tính, chủ quan đậm nét suy lường, tưởng tượng viễn vông. Có thể nói rằng sư Giới Đức đang phổ truyền những điều mê tín len lõi vào chánh pháp đạo Phật.
Mời các bạn tham khảo pháp thoại của sư Giới Đức, đây là cơ sở cho loạt bài viết Cương Đao Sát Sư cũng như phần trình bày về Thân Trung Ấm do Ngạo Thuyết trình bày sau này!

Cương Đao Sát Sư - Sư Viên Minh 01
Chết thật với Cái Đang Là Thần Thánh.
"Luận Điểm Của Sư Viên Minh:
...
TỈNH THỨC SỐNG CÁI ĐANG LÀ
Thầy Viên Minh đã tận lực nghiên cứu và rồi đã thấy điểm chung của tất cả các tôn giáo, các tông phái Phật giáo - tất cả đều nói về một sự thật, một chân lý ngay nơi đời sống chúng ta , sự giác ngộ.
Do vậy, Thầy nói, Thiền không phân biệt tôn giáo, tông phái vì hễ đã giác ngộ là nói giống nhau. Ai còn thấy khác biệt là do còn bị kẹt vướng mắc, hết kẹt sẽ hết vướng. Thầy Viên Minh tự học, tự thực nghiệm, và đã biên soạn cuốn Thiền Trong Đời Sống - nói về Thiền Phật Giáo Nguyên Thủy và Phát Triển, nêu ra Lý vẫn là một. Chân lý là ở đời này, ở nơi mắt tai mũi lưỡi thân ý, nơi sự xúc chạm, Niết bàn ở nơi mình.
Thầy Viên Minh nói rõ , "Chỉ cần Trọn Vẹn Tỉnh Thức Với Chính Mình, đó chính là chỗ trong kinh nói Tinh Tấn Chánh Niệm Tỉnh Giác Thân Thọ Tâm Pháp".
Thầy Viên Minh cho biết không có phương pháp Thiền nào hết, vì đối tượng và tâm thiền đều sẵn nơi mình; hãy nhận ra tâm gì khởi thì có phiền não, tâm gì thì là hạnh phúc và giải thoát.Cho nên nói, Đức Phật khai thị, vì là chỉ ra cái có sẵn nơi tâm mỗi người.
Thí dụ, như người được tặng một lâu đài, và người này bị bịt mắt, đẩy vào lâu đài, hễ đụng gì là bị u đầu sứt trán, bước ra vườn thì té nơi tầng cấp, té hồ nước, tính tự tử. Người tặng lâu đài mới nói, anh chỉ cần mở khăn bịt mắt là thấy: hồ đẹp, tầng cấp mới té lại là đá quý, trong nhà toàn đồ quý.
Tương tự, như mình trong đời này, mắt tai mũi lưỡi thân ý mình như người mù không biết dùng. Phiền não là do mình vô minh thôi.
Do vậy, tại sao phải vào thiền viện, trong khi mình có thể thiền khi ngồi xe buýt, khi nấu ăn, khi tắm v.v.... Thiền chính là dùng tâm mình nhìn lại các pháp đang hiện hữu. Ngay khi bước đi, nếu trọn vẹn tĩnh lặng, không thêm bớt gì... chính đó là Niết Bàn.
Do vậy, Thiền chính là hễ đói thì ăn, hễ khát thì uống. Chúng ta cứ bị lôi kéo vào quá khứ, vào tương lai, vào bên ngoài nên không trọn vẹn tỉnh thức khi đi đứng nằm ngồi.
Khi ngồi Thiền cũng không cần làm gì, chỉ là trở về thân tâm như nó Đang Là. Vì sống với cái Đang Là, chính là Thiền.
Thiền không phải ở tu viện. Cái sai chính là cố gắng Thiền để đừng Tham Sân Si, nhưng khởi tâm cố gắng thì đã là Tham cái tương lai, Sân với cái hiện tại.
Đức Phật dạy, khi sân hãy nhìn thấy sân như nó đang là; quý Phật tử nhìn như thế sẽ thấy rất an lạc. Do vậy, Phật không khác chúng sinh, nhưng Phật nhận ra đầy đủ lâu đài điện ngọc nơi này, còn chúng sinh chưa nhận ra.
Đó là ý nghĩa câu nói khi Đức Phật ra đời: Ta là tối thượng, là duy nhất. (Duy ngã độc tôn). Đơn giản có nghĩa là trở về chính mình thì sẽ không còn luân hồi sinh tử.
Thiền sư đắc đạo không bao giờ bảo người ta phải theo mình, vì chỉ cần bảo mọi người mở mắt ra là thấy mọi chuyện đều hoàn hảo.
Do vậy, không cần xuất gia, không cần vào thiền viện, không cần ngồi cho lâu... vì mỗi người có một khuôn, không cần bắt chước ai hết.
Đức Phật dạy ba pháp ấn : vô thường, khổ, vô ngã . Chúng ta phải đối diện với cuộc sống , trãi nghiệm đi xuyên qua đau khổ của cuộc sống mới thấy vô thường, khổ, vô ngã.
Thấy chân lý chỉ có nghĩa thấy thân thọ tâm pháp như nó Đang Là.
Thiền là phải tránh 4 thứ:
- Cho Là, vì Cho Là sẽ dẫn tới tà kiến;
- Tưởng Là, vì đây là vô minh;
- Phải Là, vì đây là ái dục;
- Sẽ Là, vì đây là tham ái.
Chỉ cần sống cái Đang Là, vì chân lý tự nó hoàn hảo. Cũng chẳng cần giải phẫu thẩm mỹ, vì đó là Phải Là.
Bản ngã có 3 yếu tố dễ nhận ra:
- Cướp Công Pháp: như cây ổi tự sống, như tim tự đập, mình không làm gì. Nếu nói "tôi ăn" hay "tôi đi," chính là cướp công pháp.
- Trộm Pháp: lấy về làm của mình, cho là mình sở hữu, nên nhận "của tôi."
- Thọc Gậy Bánh Xe Pháp: thí dụ, ham ăn tất sẽ đau bụng, uống rượu tất sẽ bệnh gan... mình sinh ra đã hoàn hảo rồi.
HT. Viên Minh."
TỈNH THỨC SỐNG CÁI ĐANG LÀ
Thầy Viên Minh đã tận lực nghiên cứu và rồi đã thấy điểm chung của tất cả các tôn giáo, các tông phái Phật giáo - tất cả đều nói về một sự thật, một chân lý ngay nơi đời sống chúng ta , sự giác ngộ.
Do vậy, Thầy nói, Thiền không phân biệt tôn giáo, tông phái vì hễ đã giác ngộ là nói giống nhau. Ai còn thấy khác biệt là do còn bị kẹt vướng mắc, hết kẹt sẽ hết vướng. Thầy Viên Minh tự học, tự thực nghiệm, và đã biên soạn cuốn Thiền Trong Đời Sống - nói về Thiền Phật Giáo Nguyên Thủy và Phát Triển, nêu ra Lý vẫn là một. Chân lý là ở đời này, ở nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nơi sự xúc chạm, Niết bàn ở nơi mình.
Thầy Viên Minh nói rõ , "Chỉ cần Trọn Vẹn Tỉnh Thức Với Chính Mình, đó chính là chỗ trong kinh nói Tinh Tấn Chánh Niệm Tỉnh Giác - Thân - Thọ - Tâm - Pháp".
Thầy Viên Minh cho biết không có phương pháp Thiền nào hết, vì đối tượng và tâm thiền đều sẵn nơi mình; hãy nhận ra tâm gì khởi thì có phiền não, tâm gì thì là hạnh phúc và giải thoát.Cho nên nói, Đức Phật khai thị, vì là chỉ ra cái có sẵn nơi tâm mỗi người.
Thí dụ, như người được tặng một lâu đài, và người này bị bịt mắt, đẩy vào lâu đài, hễ đụng gì là bị u đầu sứt trán, bước ra vườn thì té nơi tầng cấp, té hồ nước, tính tự tử. Người tặng lâu đài mới nói, anh chỉ cần mở khăn bịt mắt là thấy: hồ đẹp, tầng cấp mới té lại là đá quý, trong nhà toàn đồ quý.
Tương tự, như mình trong đời này, mắt tai mũi lưỡi thân ý mình như người mù không biết dùng. Phiền não là do mình vô minh thôi.
Do vậy, tại sao phải vào thiền viện, trong khi mình có thể thiền khi ngồi xe buýt, khi nấu ăn, khi tắm v.v.... Thiền chính là dùng tâm mình nhìn lại các pháp đang hiện hữu. Ngay khi bước đi, nếu trọn vẹn tĩnh lặng, không thêm bớt gì... chính đó là Niết Bàn.
Do vậy, Thiền chính là hễ đói thì ăn, hễ khát thì uống. Chúng ta cứ bị lôi kéo vào quá khứ, vào tương lai, vào bên ngoài nên không trọn vẹn tỉnh thức khi đi đứng nằm ngồi.
Khi ngồi Thiền cũng không cần làm gì, chỉ là trở về thân tâm như nó Đang Là. Vì sống với cái Đang Là, chính là Thiền.
Thiền không phải ở tu viện. Cái sai chính là cố gắng Thiền để đừng Tham Sân Si, nhưng khởi tâm cố gắng thì đã là Tham cái tương lai, Sân với cái hiện tại.
Đức Phật dạy, khi sân hãy nhìn thấy sân như nó đang là; quý Phật tử nhìn như thế sẽ thấy rất an lạc. Do vậy, Phật không khác chúng sinh, nhưng Phật nhận ra đầy đủ lâu đài điện ngọc nơi này, còn chúng sinh chưa nhận ra.
Đó là ý nghĩa câu nói khi Đức Phật ra đời: Ta là tối thượng, là duy nhất. (Duy ngã độc tôn). Đơn giản có nghĩa là trở về chính mình thì sẽ không còn luân hồi sinh tử.
Thiền sư đắc đạo không bao giờ bảo người ta phải theo mình, vì chỉ cần bảo mọi người mở mắt ra là thấy mọi chuyện đều hoàn hảo.
Do vậy, không cần xuất gia, không cần vào thiền viện, không cần ngồi cho lâu... vì mỗi người có một khuôn, không cần bắt chước ai hết.
Đức Phật dạy ba pháp ấn : vô thường, khổ, vô ngã . Chúng ta phải đối diện với cuộc sống , trãi nghiệm đi xuyên qua đau khổ của cuộc sống mới thấy vô thường, khổ, vô ngã.
Thấy chân lý chỉ có nghĩa thấy thân thọ tâm pháp như nó Đang Là.
Thiền là phải tránh 4 thứ:
- Cho Là, vì Cho Là sẽ dẫn tới tà kiến.
- Tưởng Là, vì đây là vô minh.
- Phải Là, vì đây là ái dục.
- Sẽ Là, vì đây là tham ái.
Chỉ cần sống cái Đang Là, vì chân lý tự nó hoàn hảo. Cũng chẳng cần giải phẫu thẩm mỹ, vì đó là Phải Là.
Bản ngã có 3 yếu tố dễ nhận ra:
- Cướp Công Pháp: như cây ổi tự sống, như tim tự đập, mình không làm gì. Nếu nói "tôi ăn" hay "tôi đi," chính là cướp công pháp.
- Trộm Pháp: lấy về làm của mình, cho là mình sở hữu, nên nhận "của tôi."
- Thọc Gậy Bánh Xe Pháp: thí dụ, ham ăn tất sẽ đau bụng, uống rượu tất sẽ bệnh gan... mình sinh ra đã hoàn hảo rồi.
HT. Viên Minh

Cương Đao Sát Sư – Như Huyễn Thiền Sư 02
Minh Thương - Điều gì, ai đã khiến một vị Tăng bảo không dám nói lên tiếng nói của lòng mình suốt mấy mươi năm dài đăng đẳng? Và chỉ đến những năm tháng cuối đời sư ông Thích Từ Thông mới dám thốt ra tiếng nói cương trực minh định lại con đường học Phật cho thế hệ ngày nay cùng mai sau.
Khi sư ông Từ Thông nói ra những điều trăn trở về đạo Phật cũng như việc hoằng pháp lạc lối có tổ chức và đã trở thành truyền thống, có không ít người học Phật nông nổi, cực đoan gọi sư ông là Ma Tăng, họ nói với đại ý rằng giờ ông đã già rồi nên không còn “kiếm ăn” được như xưa, trâu buộc ghét trong ăn do đó mới quấy rối, phá hoại đạo Phật. Những người gọi sư ông Từ Thông thật rất đáng thương, họ mê muội, thiển cận, ấu trĩ quá đỗi.
Riêng Ngạo Thuyết rất trân trọng việc sư ông đã làm ở những năm tháng cuối đời. Sư ông Từ Thông quả thật rất đáng kính, Ngạo Thuyết xem sư ông là một hùng sư đương thời. Kính lễ sư ông Từ Thông!
Khác với sự chủ quan và cực đoan của trưởng lão Thích Thông Lạc, những phá chấp của sư ông Từ Thông tinh minh, mạch lạc, khách quan hơn.
Hoành Đao – Người học Phật theo pháp môn Thiền Tông dễ thường sẽ biết 3 yếu quyết gồm Vô Sở Cầu, Vô Sở Đắc, Vô Sở Sợ. Thêm nữa, có một vị pháp hữu của Ngạo Thuyết từng tham bái sư ông Từ Thông và nhận một câu pháp ngữ rằng “Người tu Thiền Tông là người luôn dán chữ Tử trên trán của mình để hằng nhớ mà hành trì miên mật ngõ hầu giác ngộ giải thoát". Vậy mà sư ông lại sợ đến mức kham nhẫn chịu đựng mấy mươi năm trời, điều này phần nào thể hiện rằng sư ông là người chưa chứng ngộ.
Và thật ra mối nghi về những điều không đúng hiện tồn ở đạo Phật chỉ ấp ủ trong lòng sư ông mới dai dẳng 50, 70 năm dài. Sư ông Từ Thông ôm khối nghi tình đó mãi cho đến một ngày nó vỡ ra và sư ông bừng ngộ, điều đáng tiếc là khối nghi tình này chỉ là phần ngoài da của đạo Phật, khối nghi tình này chỉ gượng gạo khép vào tiểu ngộ. Các bậc Tổ Thiền Tông đã minh định rất rạch ròi một điều rằng “Tiểu nghi, tiểu ngộ; Đại nghi, đại ngộ". Sư ông đã đạt chút thành quả của Tiểu ngộ nhưng thời gian tu trì của sư ông Từ Thông không còn nhiều nữa. Thêm vào đó, với khối tri kiến lập tri mà sư ông đang Chấp giữ liệu có bậc thiện tri thức nào đủ sức điểm hóa cho sư ông. Việc điểm hóa sư ông Từ Thông không phải là quá khó nhưng tuổi tác sư ông quá cao nên hẳn thiện tri thức đứng trước sư ông phải “Đao hạ lưu nhân”. Thật tiếc cho sư ông Từ Thông vậy!
Một cách khác để nhận diện tầm mức chứng ngộ của sư ông Từ Thông là hãy lắng nghe những bài pháp thoại của sư ông, nhất là những bài pháp thoại mới. Hãy lắng nghe bằng trái tim trong sáng cùng với sự khách quan không hờn yêu giận ghét người nghe sẽ nhận diện được lỗ hỏng nơi tri kiến Phật của sư ông; Ở nơi đó sẽ có một chút chủ quan nhân ngã và thiếu đi trạch pháp nhãn. Tinh tế một chút người nghe sẽ nhận ra sư ông Từ Thông đã không nhận diện đúng chánh pháp của Phật Thích Ca. Cụ thể là ở bài pháp thoại của sư ông theo link Ngạo Thuyết chia sẻ, các bạn sẽ thấy một lỗi căn bản đó là sư ông đồng hóa lục đạo – Trời, Người, A tu la, Súc Sinh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục chỉ là các sắc thái của kiếp Người (ngay hiện tại); Về điểm này sư ông Từ Thông không sai nhưng cái sai của sư ông là đoạn luôn việc tồn tại của 3 cõi 6 đường. Đây là sai lầm thật sự của sư ông Từ Thông đối với sự hiểu về chánh pháp, đoạn sự tồn tại của 3 cõi 6 đường là đoạn luôn sự luân hồi, quy luật nhân quả.
Nếu sự luân hồi, quy luật nhân quả không thật có thì Phật Thích Ca đã không cần mẫn cùng bi tâm dấn thân trên đôi chân trần thuyết pháp bốn mươi mấy năm trường. Sự sai lầm của sư ông Từ Thông có phần tương tợ như thành viên Thientu Tran, Thientu Tran cho rằng mục đích của đạo Phật chỉ là giải thoát khổ ở hiện tại. Cả sư ông Từ Thông và Thientu Tran đều mắc cùng lỗi “Thấy ngọn mà không thấy gốc”. Đúng như Thientu Tran nói đạo Phật chính yếu là giải thoát khổ. Nhưng để thoát khổ thật sự thì hành nhân phải liễu thoát sinh tử, đoạn dứt luân hồi. Vì sao? Vì nếu không đoạn dứt luân hồi thì dù mang thân gì nơi 6 nẻo cũng sẽ không thể thoát khổ và sự lẩn quẩn luân hồi sẽ “nặng oằn” thêm những khổ đau.

Ở dưới bài viết này Ngạo Thuyết sẽ thêm vào một link dẫn ở phần comment. Mời các bạn nghe sư ông Từ Thông nhìn nhận thế nào về Tiến sĩ Phật học, Tăng bảo Thích Nhật Từ, người vốn là học trò của sư ông ngày trước.

Tóm lại, sư ông Từ Thông là người chưa chứng ngộ thâm sâu nhưng những điều sư ông nói sẽ là vàng ngọc đối với những người học Phật chân chính. Và hiển nhiên là muốn thu nhặt vàng ngọc thì mỗi người phải đãi lấy từ một khối hỗn mang cát đá.
Sư ông Từ Thông nói một điều rất hay, đại ý là “Hãy học Phật bằng một cái Tâm Trong Sáng”. Nhân tiện Ngạo Thuyết cũng nhắc nhỡ thêm rằng “Hãy học Phật bằng một cái Tâm Trong Sáng! Tâm Trong Sáng không đồng nghĩa là Ngờ Ngệch, Cả Tin”
Cũng qua lời sư ông ở link bài viết “Truyền Thống Nói Bậy” bạn sẽ nhận ra rằng thế hệ người học Phật đi trước, giới Tăng bảo xưa do thiếu kiến thức lại chủ quan, khinh xuất nên mới không rõ chánh pháp, góp nhặt tà môn ngoại đạo mà phổ truyền dẫn đến đưa đạo Phật vào đường mê tín dị đoan.
Do vậy, nếu không có Giác Giả hộ pháp thì người học Phật rất cần đến kiến thức cơ bản ngõ hầu không mê lầm tà pháp – Tự thắp đuốc mà đi. Trân trọng!
Cương Đao Sát Sư - Như Huyễn Thiền Sư 01
Như Huyễn Thiền Sư là nickname ưa thích của Thầy Thích Từ Thông. Thầy Thích Từ Thông được xem là vị Tăng bảo phá Chấp hàng đầu của Việt Nam hiện nay.
Mời các bạn thành viên của nhóm Tương Tác Phật Học Online nghe ít bài pháp thoại của sư ông và bày tỏ quan điểm, nhìn nhận các bài pháp thoại của sư ông.
Với sư ông Thích Từ Thông thì Ngạo Thuyết nhìn nhận đây là một vị Tăng bảo chân tu, là vị Tăng bảo dám nói ra tiếng nói của lòng mình ở những năm tháng cuối đời, sư ông lên tiếng vì sự suy vong, tàn hoại của đạo Phật nhưng sư ông Thích Từ Thông là người chưa chứng ngộ. Ngạo Thuyết tin rằng lối đi nơi hậu kiếp sư ông thật sự không rõ lối.
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát!

Cương Đao Sát Sư – Nỗi Khổ Tăng Già - 01
Trong kinh Mi tiên vấn đáp có phân loại sa môn ra làm 7 hạng như sau:
1. Có người xuất gia vì muốn trốn luật vua, phép nước.
2. Có người xuất gia là để được thân cận giới quyền quý cao sang.
3. Có người xuất gia là mong được quyền hành trong một ngôi chùa hay lãnh đạo Tăng lữ, đồ chúng.
4. Có người xuất gia vì thất nghiệp, muốn kiếm miếng cơm manh áo.
5. Có người xuất gia vì cô thế, cô thân, trốn kẻ thù nghịch.
6. Có người xuất gia vì mang công mắc nợ.
7. Có người xuất gia vì sợ sanh tử luân hồi, muốn chấm dứt khổ đau, phiền não.
Khi vua Mi lan đà chất vấn Na tiên tì kheo có phải là sa môn hành theo hạnh liễu thoát sinh tử, quyết ý chấm dứt khổ đau, não phiền thì Na tiên tì kheo đáp:
- Thưa, không phải thế! Bần tăng rời khỏi gia đình lúc bảy tuổi, khi ấy còn rất nhỏ thì nào biết gì! Sau dần lớn lên, nhờ Thầy tổ, nhờ các vị trưởng lão dày công giáo hóa, trí óc mới khơi mở được chút ít. Hiện giờ thì có thể nói rằng, bần tăng tu là cốt ý để diệt khổ, đấy không còn là lời nói dối nữa!

Cứu cánh sa môn hạnh là như thế.
Sinh tử sự đại nên người học Phật cầu đạo, tầm sư lẽ ra phải xác định được mục đích của việc học Phật ở chính mình và tùy vào mục đích đặt ra mà tầm vị sư thầy tương hợp. Và muốn biết đạo hạnh, chỗ thực tu, thực chứng của sư thầy thì không có con đường nào dễ dàng hơn bằng việc hỏi đáp trực tiếp, thẳng thắn. Có câu “Vàng thật không sợ lửa”, nếu là bậc chân tu thì không có sự chướng ngại việc vấn đạo ở người tham học, những câu hỏi khảo vấn khách quan là nấc thang tiến tu cho người hỏi lẫn kẻ đáp.
Có đến 7 hạng sa môn do đó không phải dễ dàng gì tìm được người chân tu, thực học đạo giác ngộ giải thoát. Nếu cả tin vào Tăng bảo mà không khảo vấn thì xác suất gặp phải Tà sư sẽ là rất lớn. Ngày nay người học Phật có xu hướng chạy theo phong trào, chỉ cần nghe nói vị sư đó, vị thầy kia đắc đạo, là bồ tát hóa thân, là Phật sống liền ùn ùn kéo đến kính cẩn cúng dường để tích tạo phước báu mà không cần thẩm định xem vị Tăng bảo đó có đạo hạnh, thực tu không?
Người học Phật ngày nay đa phần rất kính trọng Tăng bảo, kính trọng đến mức biến Tăng bảo thành “Ông này, bà nọ”; kính đến mức gần như là khiếp sợ chư Tăng. Và chính việc kính trọng Tăng bảo thái quá đã góp phần làm hư hỏng chư Tăng.
Mặt khác, người học Phật lại kỳ vọng quá mức ở sư thầy. Cứ hễ khoác y áo Tăng bảo thì liền được mặc định là sư thầy, cứ là sư thầy thì mặc định là đã thông pháp, đã biết tất, biết tuốt về Phật pháp. Chính vì kỳ vọng ở người học Phật quá lớn đã “đặt để” Tăng bảo vào vị trí đã chứng ngộ, đã thông pháp.
Chính vì lẽ đó giới Tăng bảo phải “gồng mình” đáp ứng nhu cầu, sự kỳ vọng của đại chúng về sự thông pháp, việc chứng ngộ. Không ít Tăng bảo đã làm việc quá phận, đáp ứng trả lời những câu hỏi vượt quá tri kiến bản thân và khỏa lấp lỗ hỏng tri thức bằng vai trò Tăng bảo cùng sự ngụy biện.
Thực tế Tăng bảo cũng chỉ là con người, họ cũng như con người với thất tình lục dục, với Tham sân si mạn nghi. Và không phải người nào vào chùa phụng sự đều có chí hướng xuất trần hay hoằng pháp cao cả.
Phần đa trong giới Tăng bảo vào chùa nương náu là do gặp chướng duyên, nghịch cảnh nơi cuộc sống như thất tình, trốn nợ, kiếm cơm, đói khổ, bệnh tật hoặc có người dã tâm hơn thì mong cầu một chỗ đứng nơi Tăng đoàn… Do vậy, thực tế là ngay trong giới Tăng bảo cũng là chốn “Long xà hỗn độn”, và hiển nhiên rằng long thời hiếm, xà thời nhiều. Vào chùa nương náu lâu dần, lại được xem kinh, nghe pháp thì ngay đến cả những người vào chùa với toan tính trốn tránh nghịch cảnh, chướng duyên hoặc người có dã tâm cũng dần nắm bắt được tri kiến Phật. Sống lâu rồi cũng lên lão làng, lại được trọng vọng quá mức, thế nên chỉ cần đạo hành yếu kém một chút liền rơi vào ma đạo, nuôi lớn bản ngã – duy ngã độc tôn.

Cũng dịp tết vừa qua, Ngạo Thuyết có ghé sang một ngôi chùa ở Củ Chi, hôm ghé chùa không gặp sư trụ trì, chỉ gặp cô ruột của sư trụ trì thì được nghe rằng từ ngày lên làm trụ trì thì vị sư đó đã như cá nằm trong rọ rồi, người ta muốn bắt lúc nào tùy thích. Ngụ ý của lời nói là khi còn ở vai trò quyền trụ trì thì danh phận chưa an vị nên còn thong dong, tự tại; đến khi trở thành trụ trì thì phải chịu trách nhiệm nhiều hơn, phải biết đối nhân xử thế thông qua việc gởi phong bì đủ dày để cán bộ quản lý địa phương không gây khó dễ, tạo điều nhũn nhiễu việc của chùa.

Thật ra, từ lâu người học Phật kể cả giới Tăng bảo đã quy y Tam bảo không còn đúng nghĩa nữa.
Theo Tam quy y của sư ông Thích Thanh Từ phổ biến:
Ðể bảo tồn lý tưởng cao cả của mình và giữ vững đức tin trên đường Ðạo, người quy-y tự nguyện một cách mạnh mẽ và thành khẩn:
- Ðệ tử quy- Phật, nguyện trọn đời không quy y thiên, thần, quỷ, vật.
- Ðể tử quy-y Pháp, nguyện trọn đời không quy-y ngoại đạo, tà giáo.
- Ðệ tử quy-y Tăng, nguyện trọn đời không quy-y tổn hữu ác đảng.
Song trên thực tế khi nước Việt Nam vừa giành được độc lập đã có trên dưới 100 đảng viên được trà trộn vào đội ngũ Tăng đoàn, điều này đồng nghĩa rằng có một lực lượng không hề nhỏ những người theo chủ nghĩa vô thần được cài vào lực lượng hoằng pháp của đạo Phật. Và tin rằng dưới sự hậu thuẫn của nhà nước thì những vị trí trọng yếu của Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam sẽ do các đảng viên vô thần thâu tóm. Từ lâu, Tăng đoàn vốn không phải là lực lượng những người chân chính xuất gia học Phật với chí hướng xuất trần, liễu thoát sinh tử.
Việc không dừng lại đó, đã có thầy chùa cha tức phải có thầy chùa con, thế nên về nền tảng Tăng đoàn Việt Nam mà cụ thể là Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ là thành phần, là công cụ quản lý, điều tiết xã hội của bộ máy chính quyền. Ngạo Thuyết e rằng họ sẽ rành rõ điều lệ đảng, tư tưởng đảng Cộng sản Việt Nam hơn giáo lý đạo Phật.
Về nguyên tắc người học Phật chỉ quy y Phật – Pháp – Tăng trọn không quy y Tà Ma, Ngoại Đạo nhưng với tình hình thực tế thật không phải vậy. Tin rằng chư Tăng ngày nay sẽ được bồi dưỡng các lớp chính trị và tư tưởng đảng Cộng sản sâu sắc. Để tồn tại và dưới sức ảnh hưởng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, giới Tăng lữ sẽ quy phục, thuần hóa dưới chân giới chính trị với nguyên tắc “Thuận ta thì sống, chống ta thì chết”.
Tiếp theo đó, ngày nay các tướng lãnh quân đội chồn chân, mỏi gối hoặc muốn tìm một bãi đáp an toàn để gột rửa “bàn tay máu” đã lần lượt gia nhập vào Tăng đoàn ở những vị trí cao cao tại thượng. Giang sơn dễ đổi, bản tánh khó thay; với thói quen “hét ra lửa” cùng chủ nghĩa vô thần nhồi sọ thì thật quá khó để tỏ ngộ đạo lý giác ngộ giải thoát ở những bản ngã nặng nề.
Cứ nhìn các xử lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trước hiện tượng Thích Thông Lạc, Thiền Tông Tân Diệu… thì sẽ biết rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có là lực lượng “trừ ma, vệ đạo” hay không? Sự xuất hiện tà thuyết, quái sư không là điều mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam trăn trở, thao thức.
Thêm vào đó, chịu sự ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc - Phật giáo lai căng Thần quyền – Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang góp phần chấn hưng mê tín dị đoan vào trong đạo Phật với bùa chú, ngải thuật, đồng bóng. Phật giáo miền bắc Việt Nam bị đồng hóa Thần quyền khá rõ rệt và ngày nay dưới sự điều tiết của Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Phật giáo miền nam Việt Nam cũng từng bước bị tiêm nhiễm những điều mê tín, nhảm nhí.
Đạo Phật trở thành tà môn khi giới Tăng bảo không thoát thai ra được bậc Long Tượng hộ pháp.
Cương Đao Sát Sư - Nhân Duyên
Dịp tết vừa qua, do có chút duyên sự nên Ngạo Thuyết có đi viếng ít cảnh chùa. Ngạo Thuyết cũng xem đấy là một tạo duyên để mai hậu Ngạo Thuyết “rửa tay, gác kiếm” – Thoái ẩn giang hồ. Cũng là nhân duyên từ trước nên Ngạo Thuyết được dịp đàm luận với một vị sư thượng thủ của Tịnh Độ Tông hiện nay đương ngụ ở khu vực Tây Nguyên, như đã ăn sâu vào máu thịt, lối mòn của Tịnh Độ vẫn là có Một Cõi Tây Phương hân hoan chào đón những người niệm Phật quay về, tu tiếp đặng thành Phật. Cũng qua lời vị Tăng bảo chân tu này thì những người tu thiền cũng sẽ có Một Cõi Đi Về. Mặc dù Ngạo Thuyết không ngần ngại vấn hỏi về sự hư vọng, hoang đường của cõi để người thành Phật vì kinh Kim Cang viết “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” nhưng xem ra chỗ “bí lối” của vị Tăng bảo trên vẫn nghẽn bít vì chỗ tín tâm kiên cố; Nghi tình được lý giải chỉ là cửa ngõ vào đạo của Thiền Tông, với Tịnh Độ Tông chẳng dính dáng gì.
Sau đó, Ngạo Thuyết hội kiến với một Tăng bảo Thiền Tông, vị sư này là môn hạ của sư ông Thích Thanh Từ. Do chịu ảnh hưởng của sư ông Thanh Từ nên vị Tăng bảo này nói đến sự Thấy Tánh và Cái Thấy Biết Thường Hằng của người đắc đạo.
Ngạo Thuyết truy vấn: Vậy phải chăng người đạt sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn sẽ vẫn còn Cái Hằng Thấy, Hằng Biết?
Vị Tăng bảo điềm đạm trả lời: Đúng vậy. Cái Thấy Biết luôn thường hằng.
Ngạo Thuyết lại hỏi: Vậy khi giác ngộ thể nhập niết bàn tịch diệt rồi thì người đấy vẫn giữ lấy Cái Thấy Biết Thường Hằng, thấy biết tất cả mà không tham gia tạo tác xúc chạm?
Câu trả lời được đưa ra là “Đúng vậy.”
Ngạo Thuyết lại vấn hỏi: Thế thấy biết tất cả mà không dính vào, không tạo tác. Vậy giữ lấy Cái Thấy Biết đấy để làm gì?
Vị Tăng bảo kia trầm ngâm một lúc rồi nói: Thiền Tông coi trọng việc kiến tánh, kiến tánh rồi còn phải tiếp tục hành trì cho đến khi triệt ngộ.
Thấy vị Tăng bảo đã lãng tránh vấn đề, lại chuyển sang đề tài pháp hành, Ngạo Thuyết định vấn hỏi “Thế nào là tu phải hành, phải chăng tọa thiền, thiền hành, trì kinh mới là pháp hành? Sư có biết Tăng Pháp Đạt (trong Pháp Bảo Đàn kinh) miên mật tụng kinh Pháp Hoa mà không chuyển được kinh đến nỗi mê đường, đắm lối may nhờ Lục Tổ Huệ Năng từ bi nói một lời mới mở được mắt huệ không?”. Nhưng rồi, dựa vào cuộc đàm luận qua về nên Ngạo Thuyết không nỡ Sát Sư nên chỉ ngủ lại một đêm gieo duyên.
Tiếp sau đó, trên đường về ngang qua chùa Thiền Tông Tân Diệu Ngạo Thuyết lại ghé vào vấn pháp môn hạ của thiền gia Nguyễn Nhân thì được vị này cho biết “Chỉ có Thiền Tông Tân Diệu mới tu đúng pháp Phật vì Thiền Tông Tân Diệu có chân truyền Huyền Ký Như Lai”.
Ngạo Thuyết hỏi: Vậy tu đắc quả rồi sẽ thế nào?
Vị nhân giả kia đáp: Tu đắc quả sẽ về cõi Phật.
Ngạo Thuyết hỏi: Cõi Phật là cõi gì? Không phải cõi Phật cũng chỉ là cõi tưởng hay sao?
Người kia đáp: Cõi Phật là nơi ở của các vị Phật chứ là cõi gì, Phật Thích Ca ở đó, Phật A Di Đà cũng ở đó.
Ngạo Thuyết hỏi: Phật A Di Đà cũng ở cõi Phật? Thế còn cõi Tây Phương cực lạc thì sao?
Người kia đáp: Cõi Tây Phương cực lạc chỉ giống như là một đất nước Phật A Di Đà lập ra để người niệm Lục Tự Di Đà về đó tu, thi thoảng Phật A Di Đà mới ghé qua truyền pháp. Còn bình thường thì Phật A Di Đà ở cõi Phật chứ không ở đấy.
Ngạo Thuyết hỏi: Tại sao?
Vị nhân giả kia đáp: Phật A Di Đà đâu thể ở lâu nơi cõi Tây Phương được, vì những người về đó tu sẽ không chịu nỗi. Phật A Di Đà giống như điện cao thế, còn người về cõi Tây Phương tập tu như điện trung thế, hạ thế nên ở cùng Phật A Di Đà hút hết năng lượng người tập tu. Do đó, lâu lâu Phật A Di Đà mới về cõi Tây Phương.

Về Thiền Tông Tân Diệu, đây cũng là tà môn trộm pháp Phật nên không có gì đáng nói. Còn hai vị Tăng bảo mà Ngạo Thuyết gặp trước đó, họ đều là những bậc chân tu đạo hạnh nhưng tri kiến Phật thì bị hạn cuộc ở tri kiến lập, họ không thể vượt thoát lên để thành tựu chánh tư duy, họ học Phật theo những lối mòn sai lạc, rồi đem sự hiểu biết sai lạc đó phổ truyền cho đại chúng học Phật. Và kết quả thế nào đã quá rõ ràng – Một Người Sai, Muôn Ức Người Lạc, Sự Sai Lầm Đó Ảnh Hưởng Đến Muôn Ức Kiếp.

Nửa sự thật không thể là sự thật. Vì lẽ đó loạt bài sắp đến Ngạo Thuyết sẽ nói về những sai lạc của những vị danh sư Việt Nam ở cả 2 Tông Nam – Bắc như sư Giới Đức, Viên Minh, Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ, Thích Từ Thông, Thích Thông Lạc.
Lưu ý: Ngạo Thuyết viết loạt bài Cương Đao Sát Sư không đồng nghĩa với việc Ngạo Thuyết coi thường Tăng bảo, Ngạo Thuyết kính trọng họ vì nếu không có họ truyền đăng hẳn là Ngạo Thuyết khó thể biết đến chánh pháp. Trân trọng!

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2018

Tề Thiên Đại Thánh Tầm Đạo Lần Thứ Hai

Nghe vô thường gọi người


Lòng thầm kinh hãi

Một phen bôn đào

Tầm sư, học đạo màu

72 phép thần thông

Trời người đâu dễ đặng

Đạo thánh nhân khiêm hạ

Vẻ vời… không thật sống

Ngạo thế nhân

Tánh lại buông lung

Ý mã, tâm viên,…

Đời là thế.

Bị đuổi khỏi học đường

Quay về chốn cũ, nhà xưa

Hoa Quả Sơn, Thủy Liêm Động

Ta làm vua một cõi

Có đêm say, hồn thác xuống Diêm đài

Đạo tiên thánh hoài công

Mộng trường sinh bất tử

Ta điên tiết đạo Trời

Mấy bận loạn thiên cung

Thiên tướng hà sa đều tỏ mặt

Phút sa cơ khổ nhục

Chốn lao tù

Lò luyện đơn

Thái Thượng giam cầm

Lửa Tam muội cháy lòng

Bao ngày nung đốt?

Ta luyện mắt ngươi vàng

Lóng lánh tinh anh

Nuôi mối hận trong lòng

Thù này ta quyết trả

Lão Quân khinh suất, ngạo đời

Cho đồng tử mở nắp lò

Thét 1 tiếng vang chấn động Tam thiên

Thần binh, thiên tướng thảy đều bạt vía

Ngọc Đế cả kinh

Mời Phật Tổ hộ thiên đình

Ta cười nhạt khinh trời già nhu nhược

Lại sa vào khổ kiếp

Một trò chơi

Bàn tay buông thỏng của Như Lai

Ta cân đẩu vân mấy lượt

Hoài… không khỏi

Ngũ Hành Sơn rèn chí, nuôi tâm

Thời gian thấm thoát trôi qua

Mấy trăm năm có lẻ

Đào ra hoa, kết trái lại giao mùa

Có hôm nghe Người đi Thiên trúc

Thỉnh kinh điển đại thừa cứu khổ nhân gian

Âu cũng một chữ duyên

Ta bầu bạn cùng Người

Đường ngàn dặm xa xôi khó nhọc

Thỉnh chân kinh ngót nghét vượt 10 năm

Quay về lại cố hương

Người người hoan hỷ

Ta chỉ cười thương nhân thế đảo điên

Tam Tạng Kinh là ngón tay chỉ mặt trăng

Người ôm giữ cho lòng thêm điên đảo

Học chẳng hành, trẻ nít cười khinh

Ta rõ biết

Không trách trời cao không có mắt

Bởi do người không trọn đạo quân thần

Khiến 3 cõi 6 đường trầm luân cơ khổ

Kêu khóc oán trời

Trời bảo: Chẳng tại ta.

Tỉnh giấc vô thường -

Chánh đạo chỉ vậy thôi.

Giữ chân đạo thường an lạc tịnh

Đắm vô thường đau khổ khó rời xa

Siêu sinh mộng càng thêm như bào ảnh

Lặng dừng tâm sẽ đoạn dứt luân hồi.

Lòng an định, phải đâu là người chết?

Từ bi tâm chư Phật,

Những mong đền.