Hòa Thượng Thích Thanh Từ
| |
I. MỞ ĐỀ.
Thiền tông có một lối chỉ dạy quá độc đáo, khiến độc giả đọc sách
thiền phải ngơ ngác, không tìm ra manh mối nghĩ suy, như người vớ tay vào tấm
vách sắt không có chỗ để bám. Thật tình chủ yếu Thiền tông không muốn người học
mắc kẹt vào ngôn ngữ bên ngoài, cũng không rơi vào tâm suy lự bên trong. Thiền
sư chỉ thẳng, người học phải trực giác trực nhận, vừa mắc kẹt ngôn ngữ đã cách
xa ngàn dặm, rơi vào suy tư đã cách xa bằng mấy năm ánh sáng. Phút giây tham vấn
giữa Thiền khách với Thiền sư là phút xổ cờ khai trận. Sự đối đáp phải nhanh như
điện chớp lửa nháng, vừa trầm ngâm suy tư là ăn đòn đuổi ra. Cho nên trong khi
đối đáp như thế, nhận được liền nhận, không nhận được thì về không, chớ không có
thái độ lưng chừng, nửa hiểu nửa không. Mọi hành động, ngôn ngữ của Thiền sư chỉ
dạy đều nhằm chỉ thẳng Bản tâm của chúng ta. Không quay về mình tự nhận, chạy
theo ngôn ngữ các ngài là bị các ngài lừa. Bản tâm là cái sẵn có nơi chúng ta,
bởi do vọng chấp nên quên mất nó. Hiệu dụng của Thiền sư là phá chấp, cốt khiến
chúng ta nhận ra Bản tâm của chính mình. Vì thế, Thiền sư thường nói “ta không
có một pháp cho người, chỉ tháo chốt nhổ đinh cho họ thôi”. Chúng ta mang quan
niệm cầu pháp học đạo đến với các ngài, rốt cuộc ôm lấy một mối thất vọng lớn
lao. Chúng ta cần phải có quan niệm chính xác hơn, “Học thiền là học tâm”, ngoài
tâm không có thiền nào để học. Thế mới khỏi kinh ngạc khi nghe lời tuyên bố dưới
đây của Tổ Bồ-đề-đạt-ma.
II. CHỦ ĐÍCH THIỀN TÔNG.
Khi sang Trung Quốc, Tổ Bồ-đề-đạt-ma dõng dạc tuyên bố về pháp thiền
này rằng: “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh
thành Phật”, đã nêu rõ chủ đích của Thiền tông.
Văn tự kinh điển là Giáo tích chưa phải Giáo thể. Giáo tích là dấu
chân của giáo pháp, Giáo thể là nguyên hình của giáo pháp. Ví như người tìm voi
thấy được dấu chân voi, tuy biết được hướng đi của nó, song chưa thấy nguyên
hình của nó. Nếu người tìm voi chỉ biết nghiên cứu dấu chân voi rồi hài lòng
thỏa mãn nơi đó, thì ngàn đời cũng không thấy được con voi. Đây là bệnh của học
giả thời đại xưa kia và hiện nay. Thiền tông không nỡ để cho chúng ta sa lầy nơi
dấu chân voi, cốt dắt tay chỉ thẳng cho chúng ta thấy nguyên hình con voi. Do đó
mới tuyên bố “chẳng lập văn tự, truyền ngoài giáo lý”. Nói “truyền ngoài” thật
sự nào có ngoài. Nếu có pháp truyền ngoài kinh điển, đó là pháp ngoại đạo, đâu
phải Phật giáo. Vì kinh điển là tấm bản đồ vẽ dấu chân và hướng đi của voi,
nương đó người tìm voi tìm tận đến con voi là đạt được mục đích. Nếu người tìm
voi nương bản đồ tìm thấy tận con voi, với người nhờ kẻ khác dắt tay chỉ thẳng
con voi, cả hai đều đạt mục đích như nhau. Vì thế câu “chẳng lập văn tự, truyền
ngoài giáo lý” mang sẵn tính chất trị bệnh và đầy đủ tinh thần chỉ bày sự thật.
Thiền tông cốt chỉ cho chúng ta thấy đạo qua mọi phương tiện, đừng mắc kẹt
phương tiện mà quên đạo.
Chính vì thế, nên nói “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”.
Đạo không phải cái gì xa xôi huyền diệu, chính là Tâm thể của chúng sanh. Nếu
người nhận ra Tâm chân thật của chính mình, sự tu hành không sớm thì chầy cũng
sẽ thành Phật. Tâm chân thật này cũng gọi là Tánh giác hay Phật tánh. Thấy được
Tánh giác thì thành Phật không nghi, vì đã biết Phật nhân nhất định sẽ đến Phật
quả. Chỉ cho người nhận được Bản tâm mình là chủ đích của Thiền tông. Thế nên,
Mã Tổ sai Thiền sư Tự Tại hiệu Phục Ngưu mang thơ sang cho Quốc sư Huệ Trung.
Đến nơi, Quốc sư hỏi: “Gần đây Mã đại sư dạy đồ chúng thế nào?” Phục Ngưu thưa:
“Tức tâm tức Phật.” Quốc sư bảo: “Là ngữ thoại gì?” Giây lâu lại hỏi: “Ngoài cái
đó lại còn gì dạy chúng?” Phục Ngưu thưa: “Phi tâm phi Phật; bất thị tâm, bất
thị Phật, bất thị vật.” Quốc sư bảo: “Vẫn còn so sánh chút ít.” Phục Ngưu thưa:
“Mã đại sư dạy thế ấy, chẳng biết dạo này Hòa thượng dạy chúng thế nào?” Quốc sư
bảo: “Ba điểm như dòng nước, uốn cong tợ chiếc liềm.” (Tam điểm như lưu thủy,
khúc tợ ngãi hòa liêm.) Thế thì Mã Tổ dạy chúng cốt nhận ra tâm mình là Phật,
Quốc sư Huệ Trung dạy chúng cũng tại một chữ tâm. Chỗ dạy của hai Ngài đều nằm
gọn trong câu “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”.
Những sắc thái giáo ngoại biệt truyền ứng dụng đầy đủ qua sự đối đáp
của các Thiền sư, được đơn cử dưới đây:
Thiền sư Vô Nghiệp đến tham vấn Mã Tổ, Sư lễ bái quì thưa: “Về kinh
điển con hiểu biết đơn sơ, thường nghe thiền môn ‘tức tâm là Phật’ thật chưa
hiểu thấu?” Mã Tổ đáp: “Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải, lại không có vật
khác.” Sư hỏi: “Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Độ sang?” Mã Tổ
bảo: “Đại đức đang ồn, hãy đi! Khi khác lại.” Sư vừa đi ra, Mã Tổ gọi: “Đại
đức!” Sư xoay đầu lại. Mã Tổ bảo: “Là cái gì?” Sư liền lãnh hội.
Thiền sư Linh Mặc đến tham vấn Thạch Đầu, tự ước hẹn: “Nếu một câu
khế hợp thì ở, chẳng hợp liền đi.” Khi thưa hỏi vẫn không khế hợp, Sư bèn ra đi.
Thạch Đầu theo sau đến cửa ngoài, liền gọi: “Xà lê!” Sư xoay đầu lại. Thạch Đầu
bảo: “Từ sanh đến tử chỉ là cái ấy, xoay đầu chuyển não làm gì?” Sư liền đại
ngộ.
Qui Sơn dạy chúng: “Bậc cao sĩ đi hành cước cần phải ở trong thanh
sắc mà ngủ nghỉ, trong thanh sắc mà nằm ngồi mới được.” Sơ Sơn bước ra hỏi: “Thế
nào là câu chẳng rơi trong thanh sắc?” Qui Sơn dựng cây phất tử lên. Sơ Sơn
thưa: “Đây là câu rơi trong thanh sắc.” Qui Sơn trở về phương trượng.
Thiền sư Huệ Tịch đến tham vấn Nham Đầu. Nham Đầu thấy liền dựng cây
phất tử lên. Sư trải tọa cụ. Nham Đầu đưa phất tử lại sau lưng. Sư vắt tọa cụ
lên vai đi ra. Nham Đầu bảo: “Ta chẳng nhận ông buông, chỉ nhận ông
thâu.”
Thiền sư Huệ Tịch về thăm thầy là Qui Sơn Linh Hựu. Qui Sơn hỏi: “Con
đã xưng là thiện tri thức, có biện được những người các nơi đến: biết có hay
chẳng biết có, đã kế thừa thầy hay không kế thừa thầy, nghĩa học hay huyền học,
thử nói xem!” Sư thưa: “Con có kinh nghiệm, khi thấy Tăng các nơi đến, liền dựng
cây phất tử dậy, hỏi y: - Các nơi có nói cái này hay chẳng nói? Lại hỏi: - Ý Lão
túc các nơi thế nào?” Qui Sơn khen: “Đây là nanh vuốt trong tông môn từ
trước.”
Qui Sơn lại hỏi: “Chúng sanh trên quả đất nghiệp thức mênh mang,
không gốc có thể tựa, con làm sao biết họ có cùng chẳng có?” Sư thưa: “Con có
chỗ kinh nghiệm.” Bỗng có vị Tăng đi ngang qua, Sư gọi: “Xà lê!” Vị Tăng xoay
đầu lại. Sư thưa: “Bạch Hòa thượng, kẻ này là nghiệp thức mênh mang, không gốc
có thể tựa.” Qui Sơn khen: “Đây là một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa
lừa.”
Có người đến hỏi đạo, liền dựng cây phất tử lên, hoặc đưa một vật gì
khác lên cũng thế, đều là “nanh vuốt trong tông môn từ trước”. Đó là hình ảnh
“Đức Phật đưa cành hoa sen lên, Tổ Ca-diếp cười chúm chím” trong hội Linh Sơn.
Thuật kêu liền dạ, quả là “một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa”. Chính là
chỗ Tổ A-nan hỏi Tổ Ca-diếp: “Ngoài chiếc y kim lan, Thế Tôn còn truyền cái gì
cho sư huynh?” Tổ Ca-diếp gọi: “A-nan!” A-nan: “Dạ!” Tổ Ca-diếp bảo: “Cây phướn
trước chùa ngã.” Ngài liền ngộ đạo.
Hai diệu thuật này thường được ứng dụng nhiều nhất trong Thiền môn.
Nó là hình ảnh linh động và cổ truyền nhất, cũng là hiện thân của “Giáo ngoại
biệt truyền”. Trong đây không tìm ra được câu nào có tính cách đạo lý hết. Những
người quen sống với nghĩa giải, không sao chấp nhận được. Song với bậc xuất
cách, nhân đây liền ngộ đạo. Vì thế, người ta nhìn vào Thiền tông dường như có
cái gì bí mật lạ lùng không thể nào hiểu nổi.
|
Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014
YẾU CHỈ THIỀN TÔNG 1
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét