THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 13 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 166 : Nhị thiền
Diệt các giác quán, nội tịnh nhất tâm, không giác không
quán, định sinh hỷ lạc, vào đệ nhị thiền.
Hỏi : Nếu đệ nhị thiền nói diệt giác quán, thì phải biết sơ
thiền chắc có giác quán, như trong nhị thiền có hỷ, và tam thiền
nói diệt hỷ ?
Đáp : Như trong sơ thiền không có khổ căn, cũng nói khổ
căn, đệ nhị thiền diệt cái nầy cũng như vậy.
Hỏi : Trong sơ thiền tuy không khổ căn mà có các thức. Các
thức là chỗ nương của khổ căn. Cho nên nói sơ thiền khổ căn
không diệt ?
Đáp : Trong sơ thiền tuy có các thức, nhưng không phải chỗ
nương của khổ căn.
Hỏi : Tính 5 thức là chỗ nương của khổ căn, vì tính đồng cho
nên nói sơ thiền có khổ ?
Đáp : Nếu như vậy, ưu căn từ tính ý thức sinh, nên phải nói
tất cả chỗ đều có ?
Hỏi : Nay vì sao nói trong nhị thiền khổ căn diệt ?
Đáp : Sơ thiền gần tâm bất định. Người tâm bất định hay
sinh là các thức trói buộc ở cõi Dục, trong đó sinh khổ căn, cho
nên không nói sơ thiền khổ diệt.
Thành Thật Luận Trang 441 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu vậy sơ thiền cũng gần ưu căn. Ưu căn nầy cũng
phải nói như đệ nhị, đệ tam thiền diệt ?
Đáp : Nương dục ưu căn, do nương dục hỷ sinh, được tịnh
thì hỷ, bất tịnh thì hỷ diệt. Cho nên trong sơ thiền không có ưu
căn. Nương bất định sinh khổ căn. Sơ thiền gần tản tâm, nên
không gọi là diệt.
Lại như tam thiền không khổ, mà cũng nói dứt khổ lạc mới
vào tứ thiền. Điều này cũng vậy.
Lại hành giả trong sơ thiền, định chưa đầy đủ, thường bị giác
quán làm loạn, cho nên nói nhị thiền diệt các giác quán.
Nội tịnh là nhị thiền nhiếp tâm sâu, nên tán loạn không vào
được. Vì trong không loạn tâm gọi là nội tịnh. Thể của nhị thiền
nhất tâm này không giác không quán, tức nhất tâm là tâm hành
nhất đạo, cũng gọi là thiền, tức là nội tịnh. Được định sâu nầy nên
giác quán không sinh, không phải như sơ thiền tâm số ở giác
quán, cho nên nói không giác không quán.
Định sinh hỷ lạc là sơ thiền vì lìa nên được hỷ. Trong đây
định thành tựu nên được hỷ, cho nên gọi là định sinh.
Hỏi : Hỷ trong sơ thiền và hỷ trong nhị thiền có gì khác
nhau ?
Đáp : Sơ thiền do diệt ưu nên hỷ. Nhị thiền diệt khổ nên hỷ.
Lại hỷ trong sơ thiền trái với hỷ bất tịnh mà được, hỷ trong nhị
thiền trái với hỷ tịnh mà được. Tuy đều bởi ái nhân duyên nên
được hỷ, mà hỷ sơ thiền yếu ớt.
Hỏi : Nghĩa như vậy là hữu lậu hay vô lậu ?
Đáp : Đều là hữu lậu, vì có ngã tâm là có hỷ.
Hỏi : Vô lậu không có hỷ, điều này không đúng. Trong 7
giác, Phật nói hỷ giác phần. Giác phần chỉ là vô lậu. Cho nên biết
có hỷ vô lậu.
Thành Thật Luận Trang 442 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Người có tâm hỷ, thân được khoan
khoái. Thân khoái thì thụ lạc. Nếu không có hỷ vô lậu thì cũng
không có khoái lạc vô lậu.
Lại Phật thấy chúng Tăng tu sâu pháp thiện thì sinh hoan hỷ.
Cho nên biết có hỷ vô lậu ?
Đáp : Ông lấy 7 giác chứng minh hỷ vô lậu. Điều này không
đúng. Giác phần có 2 thứ : hữu lậu và vô lậu. Như trong kinh nói :
Hành giả khi nghe pháp có thể dứt 5 thứ ngăn che. Tu 7 giác
phần, giác gọi là trí vô học, nếu vì giác tu các pháp bất tịnh v.v... ,
đều gọi là giác phần thì ông nói cũng không nên có khoái vô lậu.
Trước sinh hỷ, sau được vô lậu, nghĩa là như thật tri kiến.
Lại không phải tất cả khoái đều do hỷ sinh, như tam thiền trở
lên không hỷ cũng không khoái.
Lại chúng tôi không nói lìa trí riêng có thụ pháp. Trí vô lậu
nầy mới đến tại tâm, nói là vui, cho nên có vui vô lậu, chỉ không
do hỷ sinh.
Lại trong kinh nói : Trừ bỏ thân tâm thô nặng gọi là khoái.
Khi được vô lậu thân tâm điều hòa cho nên có khoái vô lậu. Lại
Phật thường hành tâm xả, cho nên nói Phật có hỷ. Điều này cần
nói rõ.
Lại nếu người không ngã và ngã sở thì không hỷ. Nếu A-lahán
có hỷ, thì cũng có ưu, mà thật không có ưu, nên biết không có
hỷ.
Hỏi : Như sơ thiền nhị thiền có hỷ không ưu, La-hán cũng
vậy, có hỷ không ưu, có lỗi gì không ?
Đáp : Trong các thiền định có ưu, như trong căn nghĩa nói :
Ưu hỷ cho đến cõi Hữu Đảnh, khổ vui tùy thân cho đến tứ thiền.
Lại trong Thú tam thiền nói : Ly hỷ hành xả. Cho nên biết
không có hỷ vô lậu. Nếu có, thì sao nói lìa ?
Lại tâm vô lậu không nên có hỷ. Vì hỷ đều dựa vào giả danh,
tưởng phân biệt.
Thành Thật Luận Trang 443 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu vậy thì sơ thiền nhị thiền không có thụ vô lậu ?
Trong kinh nói : Sơ thiền nhị thiền chỉ có hỷ, chưa có tâm lạc. Hỷ
nầy cũng không do đâu mà có ?
Đáp : Hỷ nầy và lìa hỷ nầy không nói là thiền vô lậu. Mà lại
có kinh nói là thiền vô lậu. Như là hành giả do tướng nào, duyên
nào, vào sơ thiền, không nghĩ tướng đó, duyên đó, chỉ quán trong
sơ thiền có bao nhiêu sắc, thụ, tưởng, hành và thức, đều như bệnh
hoạn như ung nhọt, cho đến vô ngã.
Hỏi : Như bệnh hoạn, như ung nhọt, như tên bắn đau nhức, 4
điều nầy là thế gian hành, không phải vô lậu. Cho nên ông đem
kinh đó để chứng minh, không thể thành lập được vô lậu ?
Đáp : Bốn hành nầy đều là tên khác của khổ, nên gọi vô lậu.
Hỏi : Học nhân cũng không có hỷ vô lậu sao ?
Đáp : Nếu tâm tại đạo, thì bấy giờ không có hỷ, mà tại tục thì
có. Bậc vô học thường không có.
Hỏi : Trong kinh nói nhờ tâm hỷ lạc có thể được 4 đế. Sao
nói không có hỷ vô lậu ?
Đáp : Tâm vô ngã tức là lạc. Hành giả được tâm vô ngã, phá
hoại điên đảo, biết chân thật nên tâm được khoái lạc chứ không
riêng có hỷ.
Lại kinh nầy nói rõ không dùng hỷ mà có thể được thật trí,
nên mới nói như vậy.
Phẩm 167 : Tam thiền
Lìa hỷ, tu xả, nhớ nghĩ, an tuệ, thụ thân lạc. Cái lạc nầy
Thánh nhân cũng nói, cũng xả nghĩ nhớ, tu lạc vào đệ tam thiền.
Hỏi : Vì sao lìa hỷ ?
Đáp : Hành giả thấy hỷ có thể trôi nổi lên lìa.
Lại hỷ này do tưởng phân biệt sinh. Tướng động chuyển của
hỷ từ đầu đến giờ khổ thường đeo bám, cho nên lìa.
Lại hành giả được tịch diệt tam thiền nên xả nhị thiền.
Thành Thật Luận Trang 444 Tuệ Quang Foundation
Lại từ hỷ sinh lạc thì cạn, mà lìa hỷ sinh lạc thì sâu, như
người đối với vợ con v.v... không thể thường hỷ. Vì hỷ từ tưởng
phân biệt sin, còn lạc không từ tưởng phân biệt sinh nên có thể
thường có. Hành giả cũng vậy, hỷ mới đến thì lấy làm vui, sau thì
chán lìa.
Hỏi : Như người bị nóng bức, thì cho lạnh là vui. Hành giả vì
khổ nào đó bức bách, nên lấy tam thiền làm vui ?
Đáp : Trong nhị thiền, hỷ là tướng phát động, như gai góc,
hành giả bị hỷ nầy bức bách, nên ở trong định không có hỷ sinh
tâm vui.
Hỏi : Tùy có khổ nóng thì lấy lạnh làm vui, nếu được lìa
nóng thì lạnh không vui. Hành giả, nếu đã lìa hỷ, vì sao trong tam
thiền còn sinh tâm vui ?
Đáp : Sinh vui có 2 thứ : Hoặc bởi còn khổ, như có khổ nóng
thì lấy lạnh làm vui, hoặc bởi lìa khổ, như lìa người oán ghét. Như
Phật lìa Tì-kheo Câu-xá-di nói : Ta an vui. Điều này cũng vậy,
được lìa động tướng nên trong tam thiền sinh vui, như lìa 5 dục
nên lấy sơ thiền làm vui.
Tu xả là vì lìa hỷ nên tâm được tịch diệt. Hành giả trước kia
sâu đắm tâm hỷ, nhiều tán-loạn. Nay được lìa nên tâm đó được
tịch diệt, cho nên nói tu xả.
Nhớ nghĩ, an tuệ là đối với lỗi trong hỷ, 2 pháp nầy thường
sẵn sàng không cho hỷ đến phá rối.
Lại nhớ nghĩ là nhớ nghĩ hỷ, an tuệ, thấy lỗi trong hỷ.
Thụ thân vui là lìa hỷ, tu xả. Xả tức là vui, vì không vọng
động tìm cầu. Cái vui nầy không do tưởng phân biệt sinh, nên gọi
là thân thụ vui.
Thánh nhân cũng nói cũng xả, nghĩa là nói là tùy theo người
đời, nên nói gọi là vui. Như nói tâm phi tưởng phi phi tưởng xứ
không tham đắm nên xả.
Thành Thật Luận Trang 445 Tuệ Quang Foundation
Nghĩ nhớ tu vui, là người nầy biết xả, nghĩa là thấy lỗi của
hỷ mà sinh chán lìa, nên được cái xả vi diệu.
Lại nghĩ nhớ cũng vi diệu, nghĩa là có thể nhớ lỗi của hỷ.
Trong đó cũng nên nói an tuệ với nghĩ đồng hành nên không nói
riêng.
Lạc, là vui đệ nhất. Cho nên Thánh nhân cũng nói cũng xả.
Hỏi : Trong tam thiền có thụ vui, vì sao nói xả vui ?
Đáp : Trong luận này tôi không nói lìa thụ riêng có xả vui.
Thụ vui tức là xả vui.
Hỏi : Nếu vậy trong đệ tứ thiền nên nói thụ vui, vì có xả ?
Đáp : Tôi nói tứ thiền cũng có thụ vui chỉ vì diệt vui đệ tam
thiền nên nói như vậy.
Hỏi : Nếu đều là thụ vui, vì sao sơ thiền nhị thiền gọi hỷ, mà
tam thiền gọi lạc ?
Đáp : Vì tưởng phân biệt nên gọi hỷ, không tưởng phân biệt
nên gọi lạc. Hành giả trong đệ tam thiền tâm chuyển nhiếp nên
không có tưởng phân biệt nên gọi là lạc.
Lại vì được tịch diệt tam thiền chuyển sâu nên gọi là lạc.
Như nói tâm động tìm cầu Thánh nhân gọi đó là khổ. Động là
phân biệt, nói đây là lạc.
Phẩm 168 : Tứ thiền
Dứt trừ khổ, vui, trước diệt ưu, hỷ, không khổ không vui, xả
niệm thanh tịnh vào đệ tứ thiền.
Hỏi : Nếu trước dứt khổ, vì sao ở trong đây mới nói ? Nếu
quyết muốn nói nên nói trước dứt, như trước diệt ưu hỷ ?
Đáp : Tứ thiền gọi là bất động. Vì muốn thành tướng bất
động nầy nên mới nói không 4 thứ thụ. Bởi vì sao ? Vì động là
phát động. Hành giả bị khổ vui xâm lấn thì tâm động. Tâm động
thì sinh tham giận, nên phải dứt khổ vui, khiến tâm không động.
Thành Thật Luận Trang 446 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu đệ tứ thiền thụ lợi ích rất lớn, Vì sao không gọi là
vui ?
Đáp : Thụ nầy tịch diệt, nên nói không khổ không vui. Tùy
tâm niệm biết đây là vui thì gọi là vui. Được đệ tứ thiền lìa vui
tam thiền, nên không cho là vui.
Xả niệm thanh tịnh là trong đây xả thanh tịnh, vì không cầu.
Tam thiền có cầu, cho đó là vui.
Lại trong thiền nầy niệm cũng thanh tịnh. Bởi vì sao ? Vì
trong tam thiền đắm vui nên nghĩ nhớ tán loạn. Đến Tứ thiền vì
dứt tham vui, nên nghĩ nhớ thanh tịnh.
Hỏi : Vì sao tứ thiền không nói an tuệ ?
Đáp : Nếu nghĩ nhớ thanh tịnh, phải biết là đã nói an tuệ rồi,
vì 2 pháp này không lìa nhau.
Lại đây là đạo thiền định, không phải đạo trí tuệ. An tuệ là
tuệ, nên không nói. Trong phần sau của đệ tam thiền cũng không
nói an tuệ, chỉ nói vui hành xả nghĩ nhớ, mà không nói vui hành
xả niệm tuệ.
Lại nghĩ nhớ nầy có thể thành thiền định, nếu người khi định
chưa thành cần phải lấy tưởng nghĩ nhớ là có thể thành, vì vậy
được nói riêng.
Lại được thượng công đức, xả hạ công đức, không cần suy
nghĩ, nên không nói tuệ.
Hỏi : Thụ không khổ không vui là vô minh phần, trong Tứ
thiền phần nhiều trái nhau với tuệ, nên không nói tuệ ?
Đáp : Nếu vậy, thụ không khổ không vui lẽ ra không phải là
vô lậu ? Thụ vui là tham phần cho nên cũng không vô lậu.
Hỏi : Trong tam thiền vì lỗi trái với tự địa nên nói an tuệ, vì
trái với lỗi tha địa nên nói nghĩ nhớ. Tứ thiền tự địa không lỗi như
vậy, nên không nói an tuệ ?
Đáp : Tứ thiền cũng có các lỗi tham v.v... nên phải nói an
tuệ, trong đó lỗi tham vi tế khó biết, nên ắt cần phải nói. Trong
Thành Thật Luận Trang 447 Tuệ Quang Foundation
các địa khác cũng nên nói mà không nói. Nên biết phải đáp như
tôi.
Hỏi : Vì sao, tứ thiền diệt hơi thở ra vào ?
Đáp : Hơi thở nương thân tâm. Làm sao biết được ? Tùy khi
tâm yếu, hơi thở cũng yếu. Tứ thiền tâm không động, nên hơi thở
ra vào diệt.
Lại như người mỏi mệt, nếu gánh gánh nặng lên núi thì thở
hơi mạnh, mà khi nghỉ thì hơi thở yếu. Tứ thiền cũng như vậy, vì
không tướng động, tâm ngừng nghỉ, nên hơi thở ra vào diệt. Có
người nói hành giả được tứ thiền, nên bít các lỗ chân lông nơi
thân tứ đại, cho nên hơi thở dứt. Điều này không đúng. Bởi vì sao
? Vì uống ăn mồ hôi chảy khắp cả mình thân, nếu các lỗ chân
lông bít lẽ ra không chảy được ? Mà thật không phải. Nên biết
tâm lực tứ thiền có thể khiến hơi thở diệt.
Hỏi : Trong Tứ thiền không lạc thụ; trong đó làm sao có ái sử
? Vì trong kinh nói trong lạc thụ có ái sử ?
Đáp : Trong đó có tế lạc thụ, chỉ dứt thô lạc, nên mới nói
không khổ không vui, như gió xao ngọn đèn, nếu đèn để trong nhà
kín thì không gọi xao động, trong đó chắc có chút gió nhẹ, nhưng
gió không mạnh nên không động. Tứ thiền cũng vậy. Chắc có
chút vui, nhưng vì dứt khổ vui thô bạo nên gọi không khổ không
vui.
Phẩm 169 : Vô biên hư không xứ
Vượt qua tất cả sắc tướng, diệt tướng hữu đối, không nghĩ tất
cả tướng gì khác, vào vô biên hư không xứ.
Sắc tướng : là tướng sắc, hương, vị và xúc. Vì sao hành giả
phải vượt qua ? Vì trong sắc đó có đối có ngại và các tướng khác
như tiếng chuông trống v.v.... Các tướng nầy là nhiều thứ phiền
não, nhiều thứ nghiệp và nhiều thứ khổ nhân. Vì những lẽ đó nên
phải vượt qua. Nếu qua tất cả sắc tướng thì tướng hữu đối diệt.
Thành Thật Luận Trang 448 Tuệ Quang Foundation
Tướng hữu đối diệt thì không có tướng khác. Trong đây lược bớt
nên không nói qua đây nên đây diệt.
Lại có người nói : Tất cả sắc tướng tức là tướng chỗ y chỉ
của nhãn thức. Tướng hữu đối là tướng chỗ y chỉ của các thức
nhĩ-tỉ-thiệt và thân. Tướng khác là tướng chỗ y chỉ của ý thức.
Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì nếu nói diệt tướng hữu đối
thì đã thu nhiếp sắc rồi, cần gì nói riêng ?
Lại lìa sắc tướng, đối tướng thì sẽ không riêng có sắc làm
chỗ nương cho ý thức. Cho nên không cần nói riêng dị tướng, mà
nên nói như trước.
Vào vô biên hư không xứ, là hành giả vì sắc tướng bức bách,
mỏi mệt, nên quán hư không vô biên. Bên trong lấy tướng hư
không của mắt, mũi, yết hầu v.v... Bên ngoài lấy tướng hư không
của giếng, hầm, cửa, bộng cây v.v....
Lại quán thân chết bỏ nơi gò mả, lửa cháy tan hết; hoặc chim
thú giành ăn, giòi trùng từ trong đó lúc nhúc bò ra… Cho nên biết
thân nầy trước đã có hư không.
Hỏi : Định hư không nầy lấy gì làm cảnh duyên ?
Đáp : Trước tiên duyên hư không, thành rồi tự duyên các ấm,
cũng duyên các ấm người khác. Bởi vì sao ? Vì lấy bi làm đầu,
khởi nghĩ như vầy : Chúng sinh đáng thương, vì bị sắc tướng làm
bức bách khổ não.
Hỏi : Định nầy duyên chúng sinh nào ?
Đáp : Duyên tất cả chúng sinh.
Hỏi : Hành giả đó đã lìa sắc tướng, làm sao có thể duyên sắc
chúng sinh cõi Dục được ?
Đáp : Hành giả nầy vẫn duyên sắc. Có điều đối với trong sắc,
tâm không thông suốt, không vui, không đắm. Như trong kinh nói
: Nếu Thánh nhân nghĩ nhớ ngũ dục sâu, trong đó không vui
không thông không đắm, vì sợ lui chìm lại như cháy gân lông.
Thành Thật Luận Trang 449 Tuệ Quang Foundation
Nếu nghĩ Nê-hoàn thì tâm thông suốt. Người nầy cũng vậy, có thể
duyên sắc, nhưng không tham vui.
Lại như hành giả tùy lìa sắc tướng, do hư không có thể duyên
tứ thiền, như vô sắc định có thể duyên vô lậu sắc. Trong đó không
lỗi vì không phải chỗ phân biệt, nên ngoài ra cũng phải như vậy.
Hỏi : Hư không là sắc nhập tính, làm sao duyên đây có thể
vượt qua sắc tướng ?
Đáp : Định nầy duyên hư không vô vi, nên có thể vượt sắc.
Hỏi : Định nầy không duyên hư không vô vi. Bởi vì sao ? Vì
trong phương tiện định nầy nói duyên hư không trong mắt v.v....
Nên biết duyên hư không hữu vi.
Lại trong kinh không nói tướng hư không vô vi chỉ nói tướng
hư không hữu vi, như vô sắc xứ là hư không. Cho nên không có
hư không vô vi ?
Đáp : Sắc tính không gọi hư không. Bởi vì sao ? Trong kinh
nói : Hư không không sắc không thể thấy, không thể đối.
Hỏi : Lại có kinh khác nói : Nhờ sáng biết hư không. Trừ sắc
không có pháp nào nhờ sáng có thể biết ?
Đáp : Vô sắc gọi là hư không; các sắc do sáng có thể biết.
Cho nên cũng nhờ sáng thì biết không có sắc, không phải có hư
không.
Lại trong tối cũng biết hư không, người mù dùng tay cũng
biết hư không.
Lại dùng gậy cũng biết đó là hư không. Cho nên biết hư
không không phải sắc tính. Sắc không nhờ các nhân duyên nầy
mà biết được.
Lại sắc là hữu đối, hư không là vô đối.
Lại dùng lửa v.v... có thể diệt hết sắc, mà không thể diệt hư
không. Nếu hư không diệt lại gọi là pháp gì ?
Hỏi : Nếu có sắc sinh thì hư không diệt, như khởi xây tường
vách thì trong đó không còn hư không ?
Thành Thật Luận Trang 450 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Sắc sinh trong đó, sắc ấy hoàn toàn không bị diệt. Bởi
vì sao ? Sắc không gọi là hư không. Pháp không có, không thể lại
không có nữa. Cho nên sắc không diệt hư không.
Lại ông nói hư không là sắc. Trong đó không có lý do có thể
khiến là sắc.
Hỏi : Hiện thấy hư không trong cửa v.v..., trong việc hiện
thấy không cần lý do ?
Đáp : Hư không không hiện thấy được. Như trước đã phá rồi,
như trong tối cũng có thể biết v.v....
Hỏi : Nếu hư không không phải sắc, vậy là pháp gì ?
Đáp : Hư không gọi là vô pháp. Những chỗ không có sắc gọi
là hư không.
Hỏi : Trong kinh nói : Do 6 thứ nên chúng sinh thụ thân.
Lại nói hư không là vô sắc vô đối, không thể thấy. Nếu vô
pháp, thì không được nói như vậy. Không ai nói sừng thỏ gọi là
vô sắc vô đối không thể thấy ?
Đáp : Nếu thật có pháp thì đều có chỗ sở y, như danh y vào
sắc, sắc lại y vào danh. Hư không không y vào đâu nên biết là vô
pháp.
Cái ông là không đó cũng không đúng. Bởi vì sao ? Vì sắc
ngăn ngại sắc, sắc nầy được, sắc khác mất, nên được tăng thêm.
Vì nghĩa nầy nên Phật nói do 6 thứ chúng sinh thụ thân.
Ông nói hư không vô sắc, vô hình, vô đối. Cũng vì phá các
vật, nên mới nói như vậy, chứ không nói có tướng hư không.
Ông nói không có ai nói sừng thỏ là vô sắc, vô đối, không
thể thấy. Đó cũng không đúng. Bởi vì sao ? Vì đều do hư không
được có những việc sở tác khứ lai v.v.... Trong sừng thỏ v.v...
không có nghĩa như vậy.
Hỏi : Tâm cũng như vậy. Vô sắc, vô hình, vô đối có thể nói
không được chăng ?
Thành Thật Luận Trang 451 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tâm có tác nghiệp, nghĩa là có thể lấy cảnh duyên, hư
không không tác nghiệp, chỉ vì không, nên được có chỗ tác dụng.
Cho nên biết vô pháp, vì vậy định nầy trước tiên duyên hư không.
Hỏi : Định nầy có thể duyên bậc nào ?
Đáp : Định này duyên tất cả bậc, và duyên diệt đạo nữa.
Hỏi : Có người nói các vô sắc định tuy có thể duyên diệt,
nhưng chỉ duyên tỷ trí phần diệt, không duyên hiện trí phần diệt.
Việc đó thế nào ?
Đáp : Duyên tất cả diệt, dùng hiện pháp trí duyên diệt tự địa
hiện tại, dùng tỷ trí duyên các diệt khác. Đạo cũng như vậy, có thể
duyên tất cả pháp.
Hỏi : Chúng sinh cõi Vô sắc có thể khởi tâm các địa không ?
Đáp : Có thể khởi tâm các địa và tâm vô lậu.
Hỏi : Nếu vậy làm sao không chìm ?
Đáp : Trụ trong nghiệp quả báo nên có thể không chìm, như
sức thần thông trong 2 cõi Dục và Sắc. Trụ sắc khác tâm khác mà
có thể không chìm. Trong đó cũng vậy.
Hỏi: Vô biên hư không định, cùng hư không xứ nhất thiết xứ
có gì khác nhau ?
Đáp : Muốn vào hư không định phương tiện đạo gọi là nhất
thiết. Vào định thành rồi gọi là hư không định. Trong đây nhân
quả của định là bậc và tất cả hữu lậu vô lậu, hoặc định hoặc phi
định, hoặc cấu hoặc tịnh đều gọi là vô biên hư không xứ.
Phẩm 170 : Ba Vô sắc định
Qua tất cả vô biên hư không xứ, mới vào vô biên thức xứ.
Hành giả rất chán sắc, nên cũng bỏ luôn pháp đối trị sắc, như
người đã qua sông bỏ luôn cả thuyền mà đi, như được ra khỏi giặc
muốn bỏ đi cho xa. Hành giả cũng vậy, tuy nhờ không phá sắc,
cũng muốn bỏ không mà đi xa.
Thành Thật Luận Trang 452 Tuệ Quang Foundation
Vô biên thức, là hành giả dùng thức có thể duyên hư không
vô biên, thì thức cũng vô biên. Cho nên bỏ không duyên thức.
Lại như sắc vì mỏi mệt nên duyên hư không. Như vậy bị hư
không làm mỏi mệt, muốn ngăn dứt nên mới duyên nơi thức.
Lại người nầy dùng thức có thể duyên hư không vì cho thức
là thắng, nên chỉ duyên thức. Hành giả dùng thức tùy duyên tùy
lúc, nên sinh mệt nhọc, vô cùng chán lìa, lại muốn phá thức, nên
vào vô sở hữu xứ, nghĩ như vầy : Tùy có thức thì khổ, nếu ta có
thức vô biên, ắt phải có vô biên khổ. Cho nên thu nhiếp tâm
duyên thức. Vì tâm vi tế nên cho là vô sở hữu.
Lại nghĩ như vầy : Vô sở hữu tức là tưởng. Mà tưởng là khổ
não, như tật bệnh, như ung nhọt. Nhưng nếu không tưởng lại là
ngu si nếu ta thấy vô sở hữu tức đó là hữu, nên đối với các tưởng
chưa được giải thoát. Hành giả thấy tưởng là suy nhược, là bênh
hoạn mà vô tưởng là ngu si, tịch diệt là vi diệu, đó là phi tưởng
phi phi tưởng xứ. Phàm phu thường e sợ vô tưởng, vì cho là ngu
si, cho nên rốt cuộc không thể diệt tâm.
Có người nói chúng sinh vô tưởng cũng có thể diệt tâm. Điều
này không đúng. Bởi vì sao ? Vì nếu những người trong cõi Sắc
có thể diệt tâm, thì trong cõi Vô sắc sao lại không thể ?
Hỏi : Cõi Sắc có sắc nên có thể diệt tâm. Trong cõi Vô sắc
trước đã diệt sắc nay lại diệt tâm. Nếu thấy sắc tâm đều diệt thì
kinh sợ bàng hoàng ?
Đáp : Nếu người ở trong kia không thể diệt mà sinh về trong
đây thì phải có thể diệt, như diệt tận định.
Hỏi : Quả của diệt tâm là vô tưởng, cho nên nếu diệt cả sắc
lẫn tâm thì mất hẳn ?
Đáp : Diệt tận định cũng có quả hữu tâm. Điều này cũng như
vậy.
Lại nếu quả không dứt cũng gọi trụ ở quả, như ở sắc biến
hóa. Biến hóa trong tâm lại sinh quả, nên không gọi mất hẳn
Thành Thật Luận Trang 453 Tuệ Quang Foundation
được. Cho nên trong cõi Sắc không nên nói diệt tâm. Nếu nói thì
trong cõi Vô sắc cũng cần phải nói.
Lại trong vô tưởng định, tâm không nên diệt. Bởi vì sao ? Vì
hành giả cần chán lìa tâm, nên có thể diệt tâm. Nếu người chán
tâm, còn không sinh trong cõi Vô sắc huống sinh cõi Sắc.
Lại người phàm phu trong tâm sinh ngã tưởng sâu. Như
trong kinh nói : Phàm phu từ lâu tham đắm tâm nầy, cho đó là
ngã. Cho nên không thể có chút chán lìa.
Lại trong kinh nói : Ngoại đạo có thể nói dứt diệt 3 thứ thủ
mà không thể nói dứt ngã ngữ thủ. Cho nên không thể diệt tâm.
Lại nếu biết đúng đắn pháp nhân duyên, có thể được tâm
không. Như trong Kinh Viên Hầu Dụ nói : Phàm phu hoặc có thể
lìa thân, mà không thể lìa tâm. Thà quán thân thường, đừng quán
tâm thường. Bởi vì sao ? Vì mắt thấy thân nầy, hoặc sống còn 10
tuổi cho đến trăm tuổi, như nói hoặc tâm hoặc ý hoặc thức, niệm
niệm sinh diệt biến khác, như vượn khỉ chuyền cây, buông một
nhánh, liền vin một nhánh, không đứng một chỗ. Nếu đệ tử Phật
trong đó quán đúng đắn pháp nhân duyên thì có thể biết vô
thường.
Lại người biết pháp nhân duyên, vì thụ sai khác nên có thể
phân biệt thức. Các ngoại đạo vì không có trí phân biệt nhân
duyên, nên không thể diệt tâm.
Lại người phàm phu lìa sắc mà không lìa tâm nên không
được giải thoát. Nếu cả 2 đều có thể diệt thì sao không được giải
thoát ?
Lại người phàm phu e sợ diệt, nên đối với Nê-hoàn rốt cuộc
không thể sinh tưởng tịch diệt an ổn. Như trong kinh nói : Không
có ngã và không có ngã sở là chỗ phàm phu rất khiếp sợ.
Lại trong vô tưởng sinh tâm ngu si. Nếu đối với Nê-hoàn
không sinh tâm tưởng tịch diệt an ổn, làm sao có thể diệt tâm.
Thành Thật Luận Trang 454 Tuệ Quang Foundation
Lại pháp phàm phu cần nhờ bậc trên, mới có thể xả bậc dưới,
cho nên không có nhân duyên có thể diệt tâm, chỉ nhờ sức định
suy tưởng tỉ mỉ tâm hiện tiền, không hiểu cho nên tự cho là vô
tưởng. Nếu khởi thô tưởng tức thì thoái lui. Như người thiểu trí
gọi là vô trí, như thức ăn ít mặn gọi là không mặn, như mê ngất
xỉu mất nhớ, như loại sâu nằm lâu năm trong lòng đất, như loại cá
nằm trong băng giá. Trong đây nói phi tưởng phi phi tưởng xứ
cũng vậy. Tuy thật có tưởng, nhưng vì tùy theo thế tục, nên nói là
vô tưởng.
Phẩm 171 : Diệt tận định
Qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thân chứng tưởng thụ
diệt.
Hỏi : Vì sao trong các thiền không nói qua tất cả ? Trong vô
sắc định không nói diệt?
Đáp : Tôi nói trong các thiền định đều có các pháp giác quán
hỷ lạc, cho nên không nói qua tất cả.
Hỏi : Vô biên hư không xứ có sắc tâm. Điều này đã rõ, nên
trong Vô sắc cũng không nên nói qua tất cả ?
Đáp : Như vào trong vô biên hư không định thoát được sắc
tâm, mà không thoát được các pháp giác quán.
Lại có người nói : Nếu nói qua, diệt, chìm, đều là nghĩa một
mà tên khác.
Lại trong vô sắc định tâm kiên cố. Trong các bậc dưới tâm bị
tán loạn làm hoại, cho nên không nói qua tất cả.
Hỏi : Nếu đều nói có gai góc là sắc tưởng v.v..., sao lại nói
tâm kiên cố ?
Đáp : Tuy đều nói gai góc, nhưng cũng gọi đệ tứ thiền là
không động. Như vậy trong vô sắc định, định lực lớn nên được
kiên cố.
Thành Thật Luận Trang 455 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Học nhân không nên được diệt tận định, vì chưa qua tất
cả phi tưởng phi phi tưởng xứ ?
Đáp : Học nhân có thể thấy tất cả hành diệt của Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, nhưng chưa có thể khiến nó không sinh, nên cũng
được nói là qua.
Hỏi : Nếu ý trong đây lấy Nê-hoàn cho là diệt, thì trước ông
nói trong 9 thứ lớp diệt là tâm và tâm số diệt, trái nhau sao ?
Đáp : Diệt định có 2 thứ : một là diệt hết các phiền não, hai
là diệt chưa hết. Người hết phiền não ở trong giải thoát. Người
phiền não chưa hết ở trong thứ lớp.
Lại một là diệt phiền não nên gọi diệt định, hai là diệt tâm,
tâm số, pháp cũng gọi diệt định. Diệt phiền não là giải thoát thứ 8,
cũng gọi là quả A-la-hán. Quả A-la-hán là diệt tất cả tưởng, không
cho sinh lại nữa. Trong đây tuy diệt các tưởng, nhưng còn thừa
kết sử, nên không thể khiến không tái sinh.
Hỏi : Nếu hành giả dùng 9 thứ lớp định có thể diệt tâm thì
Tu-đà-hoàn v.v... làm sao có thể chứng pháp tâm diệt ?
Đáp : Trong 9 thứ lớp diệt gọi là đại diệt. Như người khéo tu
các thiền định, nhờ sức mạnh đạo tâm nên có thể được diệt nầy.
Nếu không sức đó, thì chỉ được có diệt, không thể được đại lực
như vậy, cho nên nói thứ lớp định. Các chỗ khác cũng có tâm diệt,
như trong đệ tứ thiền có thể diệt tâm, tâm số pháp, vào trong vô
tưởng, thì trong Sơ thiền v.v... vì sao không diệt ?
Lại chỗ khác cũng phải có nghĩa diệt tâm, như trong kinh nói
: Tu-đà-hoàn v.v... đều có thể chứng diệt. Chỉ tâm diệt gọi là diệt,
không có pháp nào khác diệt. Cho nên biết lìa 9 bậc này cũng có
tâm diệt.
Hỏi : Nếu diệt tận định có thể diệt tất cả tâm, tâm số pháp, vì
sao chỉ nói tưởng thụ diệt ?
Đáp : Tất cả tâm đều gọi là thụ. Thụ nầy có 2 thứ : một là
tưởng thụ, hai là tuệ thụ. Tưởng thụ là hữu vi duyên tâm, vì tưởng
Thành Thật Luận Trang 456 Tuệ Quang Foundation
hiện hành trong pháp giả danh. Giả danh có 2 thứ : một là do hòa
họp giả danh, hai là pháp giả danh. Cho nên tất cả hữu vi duyên
tâm đều gọi là tưởng. Tuệ thụ là vô vi duyên tâm. Cho nên nếu
nói tưởng thụ diệt là nói tất cả diệt.
Hỏi : Trong tất cả tâm, tâm số pháp, thụ tưởng là hơn cả cho
nên nói riêng. Bởi vì sao ? Vì phiền não có 2 phần : một là ái
phần, hai là kiến phần. Thụ sinh ái phần, tưởng sinh kiến phần.
Lại trong cõi Dục, cõi Sắc thụ thắng hơn, trong cõi Vô sắc
tưởng thắng hơn. Cho nên chỉ có 2 thứ.
Lại trong các thức xứ chỉ nói thụ tưởng. Thức xứ từ tâm khởi
nên gọi là hành.
Lại nếu nói thụ tưởng diệt, thì nói tất cả tâm, tâm số diệt, vì
các tâm số không rời nhau ?
Đáp : Không phải vậy. Ông nói thắng hơn cho nên nói riêng
thì cần phải nói tâm. Bởi vì sao ? Vì trong kinh nhiều chỗ nói tâm
là chủ mà cũng là chỗ nương của 2 phần phiền não. Và cũng vì
tâm sai khác nên gọi là thụ tưởng, cho nên phải nói tâm.
Lại nói tâm thì dễ, cho nên lời ông nói không đúng.
Hỏi : Định nầy vì sao nói thân chứng ?
Đáp : Tám giải thoát đều phải nói thân chứng.
Lại diệt pháp này không phải dùng lời nói mà thấu rõ được,
nên nói thân chứng, như người chạm vào nước mới biết tướng
lạnh, chứ không phải nghe nói mà có thể biết được. Việc này cũng
vậy.
Lại đây là pháp vô tâm, cho nên phải dùng thân chứng ?
Hỏi : Ông nói diệt định là pháp vô tâm. Nghĩa nầy không
đúng. Bởi vì sao ? Vì người vào định nầy là chúng sinh, thế gian
không có chúng sinh vô tâm, cho nên không đúng.
Lại trong kinh nói : Mạng sống, hơi nóng, ý thức, 3 pháp nầy
thường không rời nhau, cho nên không diệt tâm.
Thành Thật Luận Trang 457 Tuệ Quang Foundation
Lại tất cả chúng sinh đều nhờ 4 lối ăn mới được sống còn.
Mà người vào diệt tận định thì không còn các lối ăn nầy nữa. Bởi
vì sao ? Vì người này không ăn lối đoàn thực, xúc thức v.v... cũng
đều diệt hết, cho nên không ăn.
Lại tâm từ tâm sinh, nếu tâm nầy diệt, các tâm khác không
sinh, vì không thứ lớp duyên thì hậu tâm làm sao sinh nữa được ?
Lại tâm chỉ nhập Nê-hoàn vô-dư, khi dứt tương tục mới diệt,
không phải ở các chỗ khác mà diệt được. Như trong kinh nói :
Lấy sắc vượt qua các dục, lấy vô sắc vượt qua sắc, lấy diệt vượt
qua các tác niệm tư duy. Tâm là tác niệm tư duy, cần phải lấy diệt
mới có thể vượt qua. Được Nê-hoàn hữu dư thì tâm cáu bẩn diệt.
Được Nê-hoàn vô dư thì tâm không cáu bẩn diệt. Đó chính là
nghĩa Phật pháp.
Lại người vào diệt định không gọi là chết. Tâm diệt gọi là
chết. Nếu tâm diệt sinh lại, người chết cũng phải sống lại, vậy thì
rốt cuộc không có chết. Nếu tâm diệt sinh lại, thì người vào Nêhoàn
cũng phải sinh lại, vậy thì rốt cuộc không có giải thoát. Mà
thật không phải như vậy, cho nên tâm không diệt ?
Đáp : Ông nói không có chúng sinh vô tâm. Tuy đồng là vô
tâm, mà khác với người chết. Như trong kinh hỏi rằng : Người
vào diệt tận định với người chết có khác gì không ? Đáp rằng :
Người chết thì sinh mạng, hơi nóng, ý thức 3 thứ đều diệt. Người
vào diệt tận định chỉ tâm diệt, mạng sống và hơi nóng không rời
khỏi thân. Cho nên biết phải có chúng sinh vô tâm.
Lại người này tâm thường còn, vì có sức nên cũng gọi có
tâm, không như gỗ đá.
Ông nói 3 việc không rời nhau, đó là chúng sinh cõi Dục cõi
Sắc, cho nên nói trong cõi Vô sắc có mạng có thức mà không
nóng.
Thành Thật Luận Trang 458 Tuệ Quang Foundation
Lại người vào diệt tận định, có mạng có nóng mà không có
thức, tức trong kinh này cũng nói thức rời thân. Cho nên, nếu nói
3 việc không rời nhau là tùy có chỗ mà nói.
Ông nói không ăn làm sao sống ? Thân này trước dùng ý tư
thực nên tồn tại. Hiện tại dùng lạnh v.v... các xúc nên có thể chi
trì thân.
Ông nói tâm do tâm sinh, đó là tâm làm nhân cho tâm khác.
Làm nhân rồi diệt, cho nên có thể sinh tâm khác.
Hỏi : Tâm diệt làm sao có thể sinh tâm khác ? Như mắt đã
diệt là không thể sinh thức ?
Đáp : Như nghiệp diệt rồi, quả báo mới sinh được. Việc này
cũng vậy.
Lại ý với ý thức 2 việc ngại nhau, mà nhãn cùng nhãn thức
không phải như vậy. Cho nên không phải nhân.
Ông nói khi dứt tương tục thì tâm diệt. Điều này không
đúng. Diệt có 2 thứ là sắc diệt và tâm diệt. Hoặc sắc diệt tâm
không diệt, như trong Vô sắc. Hoặc tâm diệt chẳng phải sắc như
vào diệt định. Hoặc sắc tâm đều diệt, như khi diệt tương tục.
Ông nói vào diệt tận định không gọi là người chết đó. Người
nầy mạng và nóng không diệt, mà người chết 3 thứ đều diệt. Đó là
chỗ khác nhau.
Lại người nầy nhờ mạng và nóng nên tâm có thể sinh lại, mà
người chết thì không phải vậy.
Ông nói nếu diệt tâm lại sinh thì không ai giải thoát. Điều
này không đúng. Bởi vì sao ? Vì người vào Nê-hoàn nghiệp trước
chiụ mạng, nóng, thức đã diệt không đợi sinh lại. người nầy mạng
và nóng không diệt, trước mong tâm sinh, Như trong Phẩm Diệt
tận định nói : Người vào diệt tận định nhờ 6 nhập nầy và thân
mạng nên được khởi lại, cho nên tâm có thể sinh lại. Người vào
Nê-hoàn tâm không sinh lại, nên biết định nầy vô tâm.
Thành Thật Luận Trang 459 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Vì sao bố thí người khởi định nầy có thể được hiện báo
?
Đáp : Người từ định nầy khởi tâm rất tịch diệt. Như trong
kinh nói : Người khởi diệt tận định tâm thuận với Nê-hoàn.
Lại người nầy sức thiền định mạnh, nương định nầy nên trí
tuệ cũng lớn. Trí tuệ lớn, nên có thể làm cho người thí được quả
báo vượt trội. Như người cúng dường trăm ngàn Thanh Văn
không bằng một Phật, trong đó đều lấy trí tuệ làm vượt trội,
không phải ở chỗ dứt các kết. Việc này cũng như vậy.
Lại người vào định nầy do huân tu nhiều pháp thiện nơi tâm,
nên sinh đại quả. Như người làm ruộng giỏi chắc thu hoạch được
nhiều.
Lại người thí có thể chán đời nhiều thì được báo lớn.
Nói người chẳng phải tâm cáu bẩn, là người này không đem tâm
cáu bẩn giả danh cho nên cúng dường được quả lớn.
Lại người nầy thường trụ đệ nhất nghĩa đế, những người
khác ở trong thế đế.
Lại người nầy thường trụ trong pháp không tranh chấp. Bởi
vì sao ? Vì tâm duyên hữu vi thì có tranh tụng.
Lại như trong kinh nói : Cỏ dại làm hại lúa, tham lam dục
vọng hại tâm. Cho nên thí người vô dục được quả báo lớn. Nhân
duyên tham dục là tướng giả danh. Người khởi định nầy vì duyên
Nê-hoàn nên lìa tướng giả danh.
Lại trong kinh nói : Nếu người thụ đàn-việt cúng rồi, vào vô
lượng định, đàn-việt nầy nhờ nhân duyên đó được phúc vô lượng.
Người khởi diệt định duyên tâm Nê-hoàn nên gọi là vô lượng, diệt
định nầy cũng là vô lượng, nên được vô lượng phúc, nên có thể
được hiện báo.
Lại nhờ 8 công đức trang nghiêm phúc điền nầy. Tâm duyên
Nê-hoàn là chân chính kiến, các phúc phần khác tùy tòng, cho nên
có thể sinh hiện báo.
Thành Thật Luận Trang 460 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Có người nói diệt tận định là tâm bất tương ưng hành,
cũng gọi thế gian pháp. Viếc này thế nào ?
Đáp : Như trên đã nói người khởi định nầy có rất nhiều các
công đức tịch diệt v.v... là những công đức mà thế gian không
thể có.
Hỏi : Diệt tận định gọi là pháp ngăn, vì nhờ pháp nầy khiến
tâm không sinh. Cho nên phải gọi tâm bất tương ưng hành, như
sắt vào lửa thì không còn tướng đen, mà rời lửa lại sinh. Việc này
cũng như vậy ?
Đáp : Nếu là vậy, Nê-hoàn cũng phải là tâm bất tương ưng
hành. Bởi vì sao ? Vì bởi Nê-hoàn nên các ấm không sinh. Nếu
Nê-hoàn không phải tâm bất tương ưng hành, thì định này cũng
không được gọi là bất tương ưng hành. Nhưng các người hành giả
thì pháp phải như vậy. Vào trong định nầy tùy theo sở nguyện
nên tâm có thể không sinh. Cho nên không nên gọi là bất tương
ưng hành.
Hỏi : Định nầy thứ lớp như vậy vào, rồi cũng thứ lớp như
vậy ra sao ?
Đáp : Cũng thứ lớp ra, rồi chậm rãi nhập vào thô tâm.
Hỏi : Trong kinh nói : Người mới khởi diệt tận định chạm
vào 3 thứ xúc đó là vô động, vô tướng, vô sở hữu. Vì sao như vậy
?
Đáp : Trong vô vi duyên tâm, có các xúc gọi là vô động, vô
tướng, vô sở hữu. Vô động tức là trống không. Hữu vi duyên tâm,
nhẹ nên có động, như lấy sắc, thụ v.v.... Trong không, không có
tướng. Trong vô tướng không có tham v.v... Người vô tâm nầy
mới bắt đầu duyên Nê-hoàn, sau duyên hữu vi, cho nên mới nói
khi khởi chạm vào 3 thứ xúc.
Hỏi : Có người nói vào diệt tận định tâm là hữu lậu. khởi
định tâm hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Việc đó thế nào ?
Thành Thật Luận Trang 461 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Không phải hữu lậu. Hành giả muốn nhập định nầy
phải phá hoại tất cả hữu vi từ trước. Phá xong mới vào được. Khi
khởi tâm duyên Nê-hoàn hiện tiền. Cho nên biết đều là vô lậu.
Hỏi : Trong kinh nói : Hành giả nhập diệt tận định không tự
nghĩ là mình nhập, khi khởi cũng không tự nghĩ. Nếu vậy làm sao
có thể nhập ?
Đáp : Thường tu tập nên định lực kiên cường, tuy không tự
nghĩ mà có thể nhập được.
Lại hành giả nầy từ khi dứt hữu vi đến nay đã từng vào diệt.
Nếu không ngăn nổi tâm, để cho duyên hữu vi thì không gọi là
nhập. Cho nên kinh nói : Người vào định nầy, trước phải điều tập
tâm. Cho nên có thể vào được.
Hỏi : Nếu không có cái không khác, có thể được tu vô vi
duyên tâm, thì được ích gì ?
Đáp : Vì tu tập đã lâu thì định kiên cố, thấy biết rõ ràng như
tâm duyên hữu vi thấy niệm niệm diệt, cũng không khác niệm
niệm diệt, chỉ tu tập lâu thì tâm kiên cố, Việc này cũng vậy.
Phẩm 172 : Mười nhất thiết xứ
Không phá hỏng duyên trước, tâm lực tự tại, gọi là nhất thiết
xứ. Hành giả lấy một ít tướng rồi, nhờ sức tin hiểu khiến nó thêm
rộng. Bởi vì sao ? Sức nhiếp tâm này nếu vào trong thật, thì đều
có thể khiến trống không, mà vào trong tín giải đều có thể khiến
tùy theo trước đã lấy tướng.
Hỏi : Thế nào là tính tín giải ?
Đáp : Xanh v.v... các màu sắc nhiều vô lượng. Lược nói căn
bản có 4 thứ : là địa v.v... 4 đại. Bốn sắc căn bản có thể phá 8 việc
nầy. Đó là hư không. Vì thức có thể biết vô biên không, nên cũng
gọi là vô biên. Bởi vì sao ? Vì không phải pháp hữu biên có thể
lấy vô biên. Đó gọi là 10.
Thành Thật Luận Trang 462 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong địa thật có thủy v.v..., Vì sao hành giả có thể
quán chỉ là địa ?
Đáp : Tập lâu quán nầy thường lấy địa tướng, về sau chỉ thấy
địa mà không thấy vật gì khác.
Hỏi : Hành giả đã thấy địa tướng thật là địa không ?
Đáp : Vì sức tín giải nên thấy là địa, kỳ thật không phải địa.
Hỏi : Nếu do sức biến hóa mà có, thì vật bị biến hoại không
phải thật sao ?
Đáp : Biến hóa là do sức định mà thành, nên thứ được làm ra
đều thật, như ánh sáng, nước, lửa v.v....
Hỏi : Có luận sư nói vào nhất thiết xứ chỉ ở trong đệ tứ thiền.
Việc đó thế nào ?
Đáp : Nếu ờ cõi Dục và trong tam thiền thì có lỗi gì ? Hai
nhất thiết xứ sau đều ở tự địa. Mười pháp nầy đều là hữu lậu, vì
không phá hoại được cảnh duyên.
Hỏi : Tướng hư không không phá hoại sắc sao ?
Đáp : Hành giả cũng nhờ tín giải lấy không tướng trong mắt
mũi v.v... làm tướng trống không, chứ không thể trực tiếp phá
được thật sắc. Cho nên cũng gọi là tín giải.
Hỏi : Trong kinh nói người vào định nhất thiết địa nghĩ địa
tức là ngã, ngã tức là địa. Vì sao khởi nghĩ như vậy ?
Đáp : Hành giải nhận thấy tâm đầy khắp đầy nên mới sinh ý
nghĩ tất cả là ngã này.
Hỏi : Có người nói định nầy chỉ duyên địa hệ thuộc cõi Dục.
Việc đó thế nào ?
Đáp : Nếu duyên tất cả địa hệ thuộc 2 cõi Dục, Sắc v.v... có
lỗi gì ? Giả sử định nầy lại duyên các pháp khác lại có lỗi gì ?
Lại định này là tín giải quán duyên hư vọng, không có địa
không hư vọng v.v....
Hỏi : Đệ tử Phật cũng quán địa v.v.... Việc đó thế nào ?
Đáp : Học nhân nếu quán đều vì để phá hoại.
Thành Thật Luận Trang 463 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Thật không phải tất cả đều là địa v.v.... Làm sao định
nầy không phải điên đảo ?
Đáp : Trong quán này có phần si, vì trong quán này khởi ngã
kiến. Quán bất tịnh v.v... tuy không phải chân thật, nhưng tùy
thuận ly dục. Quán nầy không như vậy, nên có phần si.
Hỏi : Vì sao không quán thụ v.v... vô biên, mà chỉ quán thức
ư ?
Đáp : Có thể lấy là địa v.v..., lấy là thức. Cho nên thấy thức,
mà không thấy thụ.
Lạị như trước đã nói thụ v.v... đều là sai biệt của tâm.
Lại hành giả không thấy thụ v.v... đầy khắp, vì không phải tất
cả chỗ thụ khổ vui. Đệ tử Phật nếu tu định nầy là vì phá hoại cảnh
duyên. Bởi vì sao ? Vì cảnh duyên đó là chỗ tham đắm của hành
giả. Nếu không phá hoại thì đồng với phàm phu.
Phẩm 173 : Mười tưởng vô thường tưởng
Mười tưởng là vô thường tưởng, khô tưởng, vô ngã tưởng,
thực yểm tưởng, nhất thiết thế gian bất khả lạc tưởng, bất tịnh
tưởng, tử tưởng, dứt tưởng, ly tưởng và diệt tưởng.
Vô thường tưởng là trong pháp vô thường biết chắc là vô
thường.
Hỏi : Vì sao tất cả vô thường ?
Đáp : Tất cả pháp đó đều từ nhân duyên sinh. Nhân duyên
hoại nên đều quy về vô thường.
Hỏi : Không phải vậy. Có pháp tuy từ duyên sinh, mà không
phải vô thường. Như kinh ngoại đạo nói ai lập 3 đền thờ được
sinh về nơi thường còn ?
Lại thân trời Phạm Thế là thường còn ?
Đáp : Thì trong pháp của ông cũng nói Thích Đề Hoàn Nhân
có thể làm trăm ngôi đền cũng bị thoái đọa.
Thành Thật Luận Trang 464 Tuệ Quang Foundation
Lại trong bài kệ nói : Có nhiều các Đế Thích v.v..., tạo lập
hơn trăm ngàn ngôi đền, v.v... đều vô thường hết. Trăm ngàn đền
thờ còn không tồn tại, cho nên biết 3 đền cũng chẳng thường còn !
Lại Thích Đề Hoàn Nhân và các Thiên Vương, thân phần
cũng hết. Cho nên pháp do duyên sinh không gì có thể thường còn
được.
Lại trong pháp của ông lấy sách Vi-đà làm quí. Trong Vi-đà
nói do trí tuệ nên được phép bất tử. Như nói : Thấy sắc mặt trời
đại nhân quá hơn nơi thế tính. Trước tùy thuận ý người nầy, có thể
được đạo bất tử, mà không có đạo nào khác. Tiểu nhân có thần
nhỏ, đại nhân có thần lớn thường ở trong thân. Nếu người nào
không biết tướng thần đó thì dẫu có đọc tụng kinh Vi-đà v.v...
cũng không ích gì. Vì trong pháp của ông nói Phạm Vương cũng
thường thờ tự, trì giới, làm các công đức . Nếu biết thân thường,
cần chi phải làm phúc ?
Lại nghe trong kinh của ông nói các vị Phạm Vương có ác
dâm dục. Nếu có dâm dục ắt có sân v.v... tất cả phiền não. Nếu có
phiền não ắt có tội nghiệp. Như vậy người tội làm sao có thể được
thường giải thoát.
Lại không phải tất cả thần tiên đều thờ trời, cũng không phải
tất cả tu hành theo đạo Phạm Thiên. Nếu đó là thường thì tất cả
phải đều thờ đều tu theo.
Lại tất cả vạn vật v.v... đều vô thường. Bởi vì sao ? Vì nếu
khi đại kiếp tận diệt thì đất nước gió lửa trở lại không còn nữa.
Lại thời gian vần chuyển như bánh xe, nên biết vô thường.
Lại thành tựu giới định tuệ v.v... vô lượng công đức , các vị
Đại Thánh nhân, Phật Định Quang v.v... và Bích-chi-phật, Ma-hatam-
ma-già v.v..., các vị vương kiếp sơ, v.v... đều vô thường thì
đâu có vật gì là thường !
Lại Phật tự nói tất cả sinh pháp đều định tướng vô thường.
Như trong Kinh Ngưu Phấn nói : Phật lấy một ít phân bò cho các
Thành Thật Luận Trang 465 Tuệ Quang Foundation
Tì-kheo xem mà rằng không có sắc gì thường định không biến
đổi. Trong kinh nầy nói rộng quả báo của các vua Thích, Phạm,
Chuyển luân, cũng sẽ hết. Cho nên biết tất cả vô thường.
Lại tất cả tuổi thọ của 3 cõi đều có hạn lượng. Thọ mạng một
kiếp trong địa ngục A-tì bằng thọ mạng nửa kiếp trong địa ngục
Tăng-già-đà. Ngoài ra hoặc nhiều hoặc ít. Loài rồng v.v... tối đa
cũng thọ một kiếp. Ngạ quỷ tối đa thọ 7 vạn năm. Phất-vu-đãi thọ
250 năm. Câu-da-ni thọ 500 năm. Uất-đan-việt định thọ ngàn
năm. Diêm-phù-đề thọ hoặc vô lượng kiếp, hoặc thọ 10 tuổi. Trời
Tứ Thiên Vương thọ 500 năm, cho đến cõi Hữu Đảnh thọ 8 vạn
kiếp. Cho nên biết tất cả 3 cõi đều vô thường.
Lại lấy 3 thứ tín tin biết vô thường. Trong hiện thấy không
có pháp thường còn. Trong lời Thánh nhân đã nói cũng không có
pháp thường còn. Và trong so sánh biết cũng không có thường vì
cần phải trước hiện thấy sau mới so sánh biết.
Lại nếu có chỗ thường, có đâu người trí diệt tất cả pháp để
cầu giải thoát ? Ai không muốn cùng người mình yêu thường ở
cùng nhau chung hưởng khoái lạc ? Mà thật người trí đều cầu giải
thoát. Cho nên biết sinh pháp không thường còn được.
Lại còn phải nói tất cả sinh pháp đều niệm niệm diệt, còn
không tạm ngừng huống chi thường còn được.
Hỏi : Tu tưởng vô thường có thể làm xong việc gì ?
Đáp : Có thể phá phiền não. Như trong kinh nói : Khéo tu vô
thường tưởng, phá được tất cả Dục nhiễm, Sắc nhiễm và Vô sắc
nhiễm, trạo, mạn, vô minh.
Hỏi : Không phải vậy. Tưởng vô thường nầy lại càng tăng
tham dục, như người biết tuổi trẻ không được bao lâu, nên rất
tham đắm dâm dục. Biết hoa đẹp không tươi mãi, thì gấp dùng
cho bằng thích. Biết sắc đẹp kia không phải của mình thường có,
thì càng mau tăng dâm dục. Như vậy tùy theo biết vô thường, mà
Thành Thật Luận Trang 466 Tuệ Quang Foundation
sinh tham đắm. Cho nên tưởng vô thường không thể phá được
tham dục.
Cũng có người vì biết vô thường nên mới làm việc sát hại
v.v.... Và cho đến loài súc sinh đều biết vô thường, mà cũng
không thể phá các phiền não. Cho nên tu tưởng vô thường không
lợi ích gì cả ?
Đáp : Bởi vô thường nên mới sinh khổ ly biệt, khổ vì mất
tuổi xuân xanh, sự an vui, tuổi thọ và sự giàu sang. Người trí do
đó không sinh tâm vui mừng. Không tâm vui mừng nên không
sinh lòng tham. Bởi thụ nên ái. Thụ diệt thì ái cũng diệt theo. Cho
nên biết tưởng vô thường có thể dứt tham dục.
Lại nếu pháp vô thường tức là vô ngã thì hành giả có thể
quán vô thường vô ngã thì không sinh ngã tâm. Không ngã tâm
nên không ngã sở. Ngã và ngã sở không có, thì tham dục cái gì ?
Lại người tu tập vô thường tưởng, đối với thân mình thân
người, thấy diệt chết trong từng mỗi niệm, làm sao sinh tham ?
Lại hành giả sở cầu điều gì đều vô thường bại hoại, tức đã bị
lừa gạt cho nên không sinh tham đắm.
Lại chúng sinh không ưa việc không bền chắc, như người
không thích đồ vật hư cũ. Cũng như một cô gái biết chàng trai nào
đó chỉ sống được không hơn 7 ngày nữa, thì dù là trẻ tuổi, đẹp
trai, sang trọng, có thế lực, cũng chẳng ai màng đến. Người nầy
chính nhờ tưởng vô thường nên không sinh tham đắm.
Lại người trí thường tập tưởng ly biệt, nên không ưa hòa
hợp. Bởi vì sao ? Vì người trí thường lo nghĩ cái khổ thoái lui
v.v.... Cho đến dục lạc cõi trời cũng không sinh tham, chỉ cầu giải
thoát.
Ông nói vô thường làm tăng thêm tham dục, điều này không
đúng. Nếu người chưa dứt ngã mạn, thấy ngoại vật vô thường mới
sinh buồn rầu, vì mất chỗ yêu mến tiếc thương nên sinh tham cầu.
Người phàm phu nầy trừ bỏ dục lạc, lại không biết lìa khổ, giống
Thành Thật Luận Trang 467 Tuệ Quang Foundation
như đứa con nít bị mẹ đánh, trở lại chui vào lòng mẹ. Người trí
biết còn nhân khổ, là còn khổ không thể dứt, nên lìa bỏ nhân khổ,
như 5 ấm.
Lại hành giả nầy xé rách nội ấm, được tâm vô ngã, dù mất
ngoại vật không sinh buồn rầu. Người đó được vô ngã lại cầu tìm
gì nữa. Người tu tưởng vô thường cũng không có gì để cầu.
Lại tưởng vô thường nầy, nếu chưa có thể sinh tưởng khổ, vô
ngã, thì không gọi là đầy đủ có thể phá diệt phiền não. Nên trong
kinh nói : Phải nhất tâm chính quán 5 ấm vô thường. Nếu không
phá hủy nội ấm, thấy ngoại vật vô thường, vì còn có ngã tâm nên
sinh buồn rầu, đó không gọi là chính quán.
Lại người tuy thấy vô thường, mà không sinh chán lìa như kẻ
hàng thịt, thợ săn v.v..., tuy biết vô thường mà không gọi là người
khéo tu tập.
Lại người tuy có thể chính quán mà không thể thường siêng
tu tập thì lòng tham xen lẫn, nên phải nói nhất tâm.
Lại người ít tu vô thường, mà nhiều phiền não thì không thể
phá diệt được, như thuốc ít mà bệnh nhiều. Điều này cũng như
vậy, cho nên mới nói nhất tâm chính quán vô thường có thể phá
phiền não.
Lại biết pháp vô thường, mới gọi là chân trí tuệ, trong chân
trí tuệ không có tham v.v... các phiền não. Bởi vì sao ? Vì nhân
duyên vô minh nên có tham v.v... Phải biết vô thường không phải
tăng thêm tham dục.
Lại tưởng vô thường có thể diệt tất cả phiền não. Hành giả,
nếu biết vật đó vô thường thì không có tham.
Lại biết người này ắt rồi cũng sẽ chết, nổi giận làm gì. Có
đâu người đại trí lại giận người sắp chết.
Lại nếu pháp vô thường, lẽ đâu lấy đó mà sinh tâm cao
ngạo.
Thành Thật Luận Trang 468 Tuệ Quang Foundation
Lại biết các pháp là tính vô thường thì không sinh si. Vì
không si nên cũng không nghi v.v.... Cho nên biết vô thường trái
với các phiền não.
Phẩm 174 : Tướng của khổ
Nếu pháp xâm hại đó gọi là khổ thì khổ nầy có 3 thứ là khổ
khổ, hoại khổ, và hành khổ. Hiện tại thật khổ như là dao gậy
v.v..., gọi là khổ khổ. Nếu khi tình yêu thương chia lìa sinh khổ
như vợ con v.v..., gọi là hoại khổ. Nếu được trí không vô ngã, biết
pháp hữu vi đều có thể xâm hại, gọi là hành khổ. Tùy khổ tâm đó
gọi là khổ tưởng.
Hỏi : Nếu tu khổ tưởng được những lợi gì ?
Đáp : Khổ tưởng nầy có quả chán lìa. Bởi vì sao ? Vì người
tu khổ tưởng không nương tham hỷ. Vì không có hỷ này nên
không có ái.
Lại hành giả nếu biết được pháp đó là khổ thì không thụ các
hành. Nếu pháp tuy vô thường vô ngã mà không thể sinh khổ thì
quyết không bỏ. Vì khổ nên bỏ, vì bỏ khổ nên với khổ được thoát.
Lại tất cả chúng sinh chỗ rất sợ là khổ. Nếu thiếu, tráng, lão
niên, hiền ngu, sang hèn biết tướng khổ nầy đều sinh chán lìa. Tất
cả người tu hành đối với Nê-hoàn có thể sinh tâm yên ổn tịch diệt,
đều ở trong sinh tử sinh khổ tưởng. Làm sao biết được ? Vì nếu
chúng sinh bị khổ hệ thuộc cõi Dục làm sao não hại, thì đối với sơ
thiền sinh tưởng tịch diệt. Như vậy lần lượt cho đến bị khổ cõi
Hữu Đảnh não hại, thì đối với Nê-hoàn sinh tưởng tịch diệt.
Lại trong sinh tử có bao nhiêu tội lỗi đều là khổ. Như trong
kinh nói : Lỗi trong các sắc đó là tướng khổ của sắc vô thường bại
hoại.
Lại bởi vô minh nên tham đắm khổ nầy. Vì sao biết được ?
Vì chúng sinh ở trong thật khổ mà sinh tưởng vui. Nếu sinh
tưởng rất khổ thì sẽ chán lìa. Cho nên Phật nói : Ta giác ngộ được
Thành Thật Luận Trang 469 Tuệ Quang Foundation
khổ nên mới nói chân lý của sự khổ. Trong đó Phật nhân thế đế
mà chỉ dạy nghĩa như vậy. Tùy theo tất cả chỗ mà trời, người, thế
gian sinh tưởng vui, thì đệ tử ta trong đó sinh tưởng khổ. Sinh
tưởng khổ rồi mới có thể chán lìa.
Lại chỗ rất ngu si là trong khổ mà sinh tưởng vui. Vì tưởng
nầy nên tất cả chúng sinh qua lại sinh tử, tâm thức não loạn. Nếu
có thể tưởng khổ thì được giải thoát.
Lại vì 4 lối ăn nên khiến có thân sau. Dùng tưởng khổ này
dứt được các cách ăn kia, như ăn thịt con, như ăn bò không da,
như ăn đống lửa, như ăn trăm mũi giáo nhọn. Trong 4 cách ăn như
vậy đều là nghĩa khổ. Nhờ tưởng khổ nầy có thể dứt các cách ăn.
Lại người tu tưởng khổ, ý không ưa trụ trong 4 thức xứ, vì
đều thấy là khổ. Như con bướm si mê nhào vào ngọn lửa vì tưởng
là sung sướng. Người trí biết lửa có thể thiêu đốt nên tránh xa.
Phàm phu cũng như vậy, vì vô minh si mê nên gieo mình thân sau
vào lửa. Người trí do tưởng khổ nên có thể được giải thoát.
Lại tất cả 3 cõi đều là khổ, là nhân duyên của khổ. Trong đó
khổ thụ là khổ, có thể sinh khổ thụ là nhân duyên của khổ. Tuy
không khổ ngay, nhưng lâu sau chắc chắn bị khổ, cho nên phải
quán thế gian tất cả đều là khổ, sinh tâm chán lìa, không thụ các
pháp, thì được giải thoát.
Phẩm 175 : Tưởng vô ngã
Hành giả thấy tất cả pháp đều là tướng phá hoại. Như chấp
sắc là ngã, khi sắc đó bại hoại thì biết là tướng bại hoại, vậy thì lìa
ngã tâm, thụ v.v... cũng như vậy. Như người bị nước từ trên núi
cuốn trôi, chụp nắm được vật gì đều bị gãy vuột trốc đứt mất.
Hành giả cũng như vậy, chấp vật làm ngã, thấy vật đó hoại thì biết
ngay là vô ngã. Cho nên ở trong vô ngã, tu tưởng vô ngã.
Hỏi: Tu tưởng vô ngã được những lợi gì ?
Thành Thật Luận Trang 470 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tu tưởng vô ngã mới có thể đủ các tưởng về khổ.
Phàm phu vì tưởng ngã nên ở trong thật khổ mà không thấy được
cái khổ. Dùng tưởng vô ngã nên ở trong một chút khổ cũng đã
biết sự não hại của khổ.
Lại ở trong tưởng vô ngã nên có thể tu tâm xả. Bởi vì sao ?
Vì tưởng ngã nên lo sợ mất ngã vĩnh viễn. Nếu có thể thật biết thì
chỉ mất khổ, không có ngã có thể mất thì có thể tu xả.
Lại do tưởng vô ngã nên có thể được thường lạc. Bởi vì sao ?
Vì tất cả vô thường, trong đó, nếu sinh tâm ngã và ngã sở, thì bảo
là ngã sẽ không có, và ngã sở cũng không có, là thường có khổ.
Nếu khởi nghĩ như vầy : Không có ngã và ngã sở, thì khi các pháp
bại hoại không sinh đau khổ.
Lại hành giả nhờ tưởng vô ngã nên tâm được thanh tịnh. Bởi
vì sao ? Vì tất cả phiền não đều do ngã kiến sinh. Bởi cho rằng
điều này có ích lợi cho ta, nên sinh tham dục, trái lại điều này có
tổn hại cho ta, nên sinh giận dữ, vì cho đó là ngã, tức sinh kiêu
mạn. Sau khi mạng ta chết sẽ làm hay không làm ? Liền sinh
nghi kiến. Những lỗi như vậy đều do ngã nên khởi các phiền não.
Chứ dùng tưởng vô ngã thì các phiền não kia dứt. Dứt phiền não
nên tâm được thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, nên mới có thể bình
đẳng với vàng đá, chiên đàn dao búa, ngợi khen mắng nhiếc, tâm
lìa ghét thương, yên ổn tịch diệt. Cho nên biết người tưởng vô
ngã, tâm được thanh tịnh.
Lại trừ tưởng vô ngã, không còn con đường nào khác có thể
được giải thoát. Bởi vì sao ? Vì người nói có ngã, nếu khi biết
không ngã và không ngã sở hữu, thì khi tâm có thể quyết định như
vậy, liền được giải thoát.
Hỏi : Không phải vậy. Hoặc bởi tưởng vô ngã lại sinh tâm
tham, như tham nữ sắc, là vì không phải bà con với ta. Do đó tùy
theo bởi không phải ngã, có thể nhóm tội phúc. Bởi vì sao ? Vì tự
mình làm tổn hại hay ích lợi cho bản thân, đâu có tội phúc ?
Thành Thật Luận Trang 471 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Người có ngã tâm có thể sinh tham dục. Với tự thân
sinh tướng nam, với thân người kia sinh tướng nữ, rồi tham đắm.
Lại tham đắm khởi đều do giả danh. Tướng người kia tức là
giả danh. Cho nên không phải vô ngã mà sinh tâm tham.
Lại người tâm vô ngã không nhóm các nghiệp. Như A-la-hán
dứt ngã tưởng nên không nhóm các nghiệp. Tưởng vô ngã nầy có
thể dứt tất cả phiền não và nghiệp, cho nên cần phải tu tập.
THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 14 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 176 : Tưởng chán ăn
Tất cả khổ sinh đều bởi tham ăn. Cũng bởi ăn nên giúp phát
sinh dâm dục. Ở trong cõi Dục có bao nhiêu thứ khổ đều bởi ăn
uống dâm dục sinh ra. Dứt tham ăn nên phải tu tưởng nhàm chán.
Lại như chúng sinh ở thời kỳ kiếp sơ, từ trên trời đến hóa
sinh nơi đây, thân có ánh sáng, bay đi tự tại. Bắt đầu ăn vị đất.
Người nào ăn nhiều, liền mất oai lực của ánh sáng. Như vậy dần
dần có già đau chết. Đến ngày nay sống chỉ trăm tuổi, nhiều các
khổ não. Bởi đều tham ăn nên mất các lợi trên. Cho nên phải quán
đúng đắn việc ăn uống.
Lại tham đắm ăn uống nên sinh dâm dục. Do dâm dục sinh
các phiền não. Do các phiền não gây các nghiệp bất thiện. Do
nghiệp bất thiện có thể tăng thêm 3 nẻo ác, mà giảm bớt chúng
trời, người. Cho nên tất cả tổn hại khổ não đều bởi tham ăn.
Lại tướng già đau chết đều bởi ăn uống.
Thành Thật Luận Trang 472 Tuệ Quang Foundation
Lại ăn là chỗ rất tham đắm. Dâm dục tuy nặng nhưng không
hay não người, như người vì ăn. Hoặc thiếu tráng, lão niên, tại gia
hay xuất gia không ai không vì cái ăn mà bị não hại.
Lại nên ăn cái ăn nầy mà tâm không đắm, đối với người chưa
lìa dục đó là điều rất khó, như bị dao cắt, như uống thuốc độc, như
nuôi rắn độc. Cho nên Phật nói : Phải tu tập, lấy đó mà ăn, đừng
để cái khổ tham ăn làm não hại. Có các ngoại đạo tu pháp nhịn ăn,
cho nên Phật nói : Việc ăn nầy không phải nhịn mà lìa được, phải
suy nghĩ mà ăn. Nếu chỉ nhịn ăn mà không hết phiền não, thì chết
uổng vô ích. Cho nên Phật nói : Đối với việc ăn nầy nên sinh
tưởng chán lìa, thì không các lỗi như trên.
Hỏi : Làm sao đối với việc ăn nên sinh tưởng chán lìa ?
Đáp : Thể tính của ăn là bất tịnh. Cho dù ăn thức ăn thượng
vị cũng đều là bất tịnh, cho nên phải sinh chán.
Lại như tất cả thức ăn uống thơm ngon tinh khiết, khi thành
bất tịnh có thể lợi ích cho thân. Như dùng răng ngậm nhai ngấm
nước miếng, trạng giống như đồ nôn mửa, nuốt xuống bao tử có
thể lợi ích thân, cho nên biết bất tịnh.
Lại ăn uống nầy vì không biết nên ưa thích. Nếu người tuy
ăn thức ăn ngon, nhưng nhổ ra rồi không thể ăn lại được. Phải biết
vì không biết nên cho là ngon đó thôi.
Lại vì nhân duyên ăn uống mà chịu bao nhiêu khổ nhọc làm
lụng vất vả, chứa để giữ gìn. Do nhân duyên nầy gây vô lượng tội
lỗi.
Lại có bao nhiêu đồ bất tịnh đều do ăn uống mà ra. Nếu
không ăn uống thì đâu có da thịt máu xương và phân nhơ v.v...
các vật bất tịnh ?
Lại có bao nhiêu ác đạo như những loại trùng ở trong nhà xí,
đều bởi tham đắm hương vị nên mới sinh vào trong đó. Như trong
Phẩm Nghiệp đã nói : Chúng sinh chết vì khát thì sinh làm loại
Thành Thật Luận Trang 473 Tuệ Quang Foundation
trùng sống trong nước, chết nơi ồn ào sinh vào loại chim, chết vì
tham dâm dục thì sinh trong bào thai v.v....
Lại nếu lìa ăn nầy thì được vui lớn như sinh về cõi Sắc và
trong Nê-hoàn.
Lại tùy vì ăn nên mới có khổ cày cấy đó. Như vậy quán việc
ăn uống là khổ bất tịnh, cho nên cần tu tưởng nhàm chán.
Phẩm 177 : Tưởng tất cả thế gian không gì có thể vui
Hành giả thấy tất cả thế gian đều khổ nên tâm không chút
vui.
Lại hành giả này tu định ly hỷ : như vô thường tưởng, khổ
tưởng, vô ngã tưởng, thực yểm tưởng, tử tưởng v.v..., nên tâm
không vui tất cả những gì của thế gian.
Lại người nầy thấy những gì mình yêu thích thì tăng thêm
tham dục, thấy những gì mình ghét thì tăng thêm giận dữ, cho nên
đều không vui.
Lại thấy người giàu sang thì có cái khổ bảo vệ, thấy những
người nghèo cùng có cái khổ thiếu thốn v.v....
Lại thấy người ở chỗ tốt sẽ đọa chỗ xấu, thấy người ở chỗ
xấu đang chịu các khổ.
Lại thấy người giàu sang hiện tại biết chắc sẽ đọa lạc, vì đó
cũng là chỗ mà các tham sân phiền não tụ hội. Còn những người
nghèo cùng hiện biết không có cơ hội có thể ra được. Cho nên
không tham vui tất cả thế gian.
Lại ít có chúng sinh được sinh chỗ tốt, phần nhiều đọa ác
đạo, như trong kinh nói : Ít sinh chỗ tốt, nhiều sinh chỗ xấu, thấy
lỗi đó rồi, chỉ cầu Nê-hoàn.
Lại người nầy thấy lỗi tham v.v... các phiền não thường đeo
bám chúng sinh như người thù oán rình giết người, được cơ hội là
hạ lấy ngay. Sống trong giặc thù đó làm sao vui được ?
Thành Thật Luận Trang 474 Tuệ Quang Foundation
Lại thấy do phiền não sinh nghiệp bất thiện, nghiệp quả bất
thiện thường đuổi theo, quyết không thoát được. Như trong kinh
nói : Nếu ngươi tạo ác nghiệp nay tạo, đã tạo và sẽ tạo, thì cho dù
bay lên hư không, quyết không thể giải thoát. Cho nên không vui.
Lại nữa, sinh v.v... 8 khổ còn theo người có phúc huống là
người vô phúc ? Như vậy làm sao vui với thế gian.
Lại như hòm rắn độc, 5 tên giặc rút dao, giặc phá tan làng
xóm. Các khổ ở bờ bên nầy thường theo chúng sinh làm sao vui
được ?
Lại như bị trôi trong sông nước mặn của ái dục. Khổ 5 dục
như mũi nhọn tẩm độc, vô minh đen tối, và trong hầm lửa, thường
bám theo chúng sinh, thì làm sao vui được !
Lại hành giả biết vui yên ổn ít, mà khổ não nhiều. Bởi vì sao
? Vì thấy các thế gian ngày tốt, hội vui, cây rừng hoa quả sum sê
tươi tốt, đất nước yên vui không được bao lâu, hoan lạc ít, mà
chịu khổ thì nhiều. Cho nên không vui được với tất cả thế gian.
Hỏi : Với tưởng nầy, tu tập được những lợi gì ?
Đáp : Có thể đối với tất cả tướng thế gian tâm không tham
đắm.
Lại nhờ tu tưởng này nên mau được giải thoát, không còn ở
lâu trong sinh tử nữa.
Lại hành giả nầy được lợi ích trí tuệ, vì thường học tập tất cả
hành tướng tội lỗi.
Lại tâm người này không sinh phiền não, nếu sinh cũng mau
diệt, như một giọt nước rơi trên tấm sắt nóng. Hành giả do không
vui thế gian, nên rất ưa thích tịch diệt. Nếu không chán thế gian
thì không thể ưa vui tịch diệt. Cho nên phải tu tập tưởng tất cả thế
gian là không có gì đáng vui.
Phẩm 178 : Tưởng bất tịnh
Hỏi : Tu tưởng bất tịnh như thế nào ?
Thành Thật Luận Trang 475 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Hành giả thấy hạt giống của thân là bất tịnh. Nghĩa là
từ đường bất tịnh của cha mẹ sinh 2 giọt đỏ và trắng hòa hợp.
Lại thân này do vật bất tịnh mà thành. Đó là thức ăn vữa nát
thành chất nhão lỏng.
Lại sinh ở chỗ bất tịnh là trong thai mẹ đầy nhẫy bất tịnh.
Lại phân nhơ v.v... các vật bất tịnh họp lại mà làm thân, 9 lỗ
nơi thân thường chảy bất tịnh.
Lại chỗ đặt mình là chỗ không tốt không sạch.
Lại ăn uống áo mặc đắp trên thân người đều thành bất tịnh,
bị người nhờm gớm.
Lại vật dùng cho thân nầy đều là bất tịnh, như nước tắm gội,
hoặc bồn tắm v.v....
Lại từ thân sinh ra móng, tóc, mồ hôi, mũi dãi v.v... đều là
bất tịnh.
Lại thấy thây chết thật là bất tịnh, thì thân ta đây khi chết đâu
có khác gì ? Phải biết xưa nay thường là bất tịnh. Khi sống chỉ vì
ngã tâm che lấp, cho đó là tịnh, mà khi chạm thân người chết, cho
đó là bất tịnh; mà tóc móng v.v... là các vật thường chết, nhiều
loại trùng chết cũng thường ở trong thân. Cho nên biết thân nầy
xưa nay bất tịnh.
Lại loài bất tịnh như rận rệp ruồi muỗi v.v... các loại trùng
chết cũng thường chạm đến thân. Cho nên biết bất tịnh.
Lại thân nầy giống như nhà xí thường đầy bất tịnh, do đó
nên trong nhà xí sinh hàng ngàn thứ trùng, thân này cũng như vậy.
Lại thân này như mồ mả. Bởi vì sao ? Vì chỗ đặt thây chết
nên gọi là mả. Thân nầy cũng có nhiều trùng chết đang nằm trong
đó.
Lại thân nầy hay tạo ra bất tịnh, như chỗ sạch, hoa tươi, quần
áo, chuỗi anh lạc v.v..., do thân nầy nên đều bị bất tịnh.
Lại các người Bà-la-môn không ăn ở những nhà đang có
người chết và người sinh đẻ, vì cho là bất tịnh. Mà ở trong thân
Thành Thật Luận Trang 476 Tuệ Quang Foundation
nầy có hàng ngàn vạn thứ trùng thường sinh đẻ thường chết, thì
không nên theo nó mà thụ ăn uống. Cho nên biết là bất tịnh.
Lại chỗ bất tịnh trên đời là lao ngục. Thân nầy là lao ngục
nhốt hàng ngàn loại trùng, nên gọi bất tịnh.
Lại thân nầy thường phải tắm gội, nếu nói là sạch cần gì tắm
gội ?
Lại dùng hoa đẹp hương thơm, chuỗi anh lạc trang sức cho
thân nầy, phải biết thân nầy thể tính bất tịnh, nên mới nhờ tịnh vật
bên ngoài để trang điểm.
Lại thân người rất là bất tịnh, như da, lông, móng, răng, gân,
xương, thịt, nếu có cần dùng, thì thân người không một thứ nào có
thể lấy, vì là bất tịnh.
Lại như hoa sen như Ưu-bát-la, Bát-đầu-ma v.v… từ chỗ bất
tịnh sinh, nên gọi bất tịnh, thân nầy không như vậy, không bởi các
vật khác khiến nó bất tịnh, mà chính là tính nó bất tịnh.
Lại nếu thân nầy là sạch, thì cần gì dùng áo quần che đắp ?
Như người lấy áo che đống đại tiểu tiện để dối gạt người khác. Nữ
nhân cũng như vậy, dùng đồ phục sức che đậy tấm thân để dối gạt
nam tử, trái lại nam tử cũng làm như vậy. Phải biết là bất tịnh.
Lại khắp cả thân nầy thường chảy ra bất tịnh. Đó là 9 lỗ cửa
ngõ của bất tịnh và các lỗ chân lông không một chút sạch. Nên
biết bất tịnh.
Hỏi : Tu tưởng bất tịnh được những lợi gì ?
Đáp : Bởi tưởng rằng nam nữ là sạch nên khởi tham dục, từ
tham dục đó mở các cửa tội lỗi. Tu tưởng bất tịnh thì có thể chế
phục tham dục. Bởi vì sao ? Vì thân nầy đều là hôi thối bất tịnh,
chỉ lớp da mỏng che khuất nên không biết được, tựa như lấy áo
che đống bất tịnh. Ai ưa sạch sẽ thì hãy tránh xa !
Lại người hành giả nầy, nhờ tưởng xanh bầm v.v... mà phá
hoại tất cả chấp thân. Vì phá chấp thân này nên không sinh tham
dục.
Thành Thật Luận Trang 477 Tuệ Quang Foundation
Lại cũng chỉ hiện thấy các sắc xanh bầm.
Hỏi : Như thật chưa xanh, vì sao thấy xanh ?
Đáp : Hành giả nhờ sức tín giải lấy tướng xanh nầy thấy tất
cả sắc đều xanh bầm.
Hỏi : Quán như vậy chẳng phải là điên đảo sảo ?
Đáp : Trong thân nầy có phần xanh bầm. Như trong kinh nói
trong nước có tính sạch.
Lại thường tu tập tướng xanh bầm nên có thể thắng các sắc
khác, như ánh sáng viên ngọc xanh có thể làm át sắc trắng. Như
vậy tập lâu tướng xanh bầm v.v... thì tưởng bất tịnh đầy đủ. Bất
tịnh đầy đủ thì không khởi dâm dục. Không khởi dâm dục thì
đóng bít các cửa tội lỗi, tùy thuận Nê-hoàn. Tu tưởng bất tịnh
được lợi như vậy.
Phẩm 179 : Tưởng về sự chết
Hành giả vì tưởng về sự chết thì đối với thọ mạng tâm không
quyết định, cho nên phải tu tập.
Lại người nầy thường rất ưa thích pháp thiện, trừ dứt bất
thiện. Bởi vì sao ? Vì chúng sinh phần nhiều quên cái chết, nên
mới khởi nghiệp bất thiện, nếu nghĩ nhớ cái chết thì có thể trừ dứt.
Lại thường nhớ đến cái chết, nên đối với cha mẹ, anh em, chị
em, bà con, láng giềng, bè bạn v.v..., mỏng bớt sự tham ái.
Lại tu tập tưởng đến cái chết thì được tự lợi. Nghĩa là có thể
nhất tâm tụ tập các pháp thiện, chúng sinh thế gian nhiều vui lợi
tha mà bỏ tự lợi.
Lại người nầy có thể mau được giải thoát. Bởi vì sao ? Vì
người thường theo qua lại trong thế gian nên có chết chóc, người
nầy chán sự chết chóc nên cầu giải thoát.
Hỏi : Nên tu tưởng về sự chết như thế nào ?
Đáp : Như trước đã nói chung tất cả vô thường. Nay chỉ nói
quán thân vô thường. Dứt ấm luôn nối nhau gọi là chết. Tưởng
Thành Thật Luận Trang 478 Tuệ Quang Foundation
thân này vô thường hơn cả sự vật bên ngoài, giống như bình chén
không có tướng bền chắc. Hành giả quán thân mong manh hơn
các vật kia. Bởi vì sao ? Vì bình chén kia, nếu gia tâm giữ gìn
hoặc có thể còn lâu dài, còn thân nầy có lâu lắm cũng không hơn
trăm năm. Vì không bền chắc cho nên phải nghĩ nhớ tưởng đến
cái chết.
Lại thân nầy có nhiều pháp làm hại như là dao, gậy, mũi
nhọn, giặc thù, hầm hố, ăn uống không tiêu hóa, các chứng bệnh
lạnh, nóng, gió. Tóm tắt mà quan sát tất cả chúng sinh và vật phi
chúng sinh, đều là pháp trái hại của thân. Cho nên phải tu tưởng
về sự chết.
Lại hành giả thấy thân, trong mỗi niệm thường là tướng hư
hoại không bảo đảm được một niệm, cho nên tu tưởng về sự chết.
Lại hành giả hiện thấy tuổi trẻ, tuổi già, có bệnh, không
bệnh, không ai có thể đuổi cái chết đi được, mới tự nghĩ thân
mình rồi cũng sẽ có ngày như vậy. Cho nên tu tưởng về sự chết.
Lại hành giả thấy có nghiệp báo bất định, không phải tất cả
nghiệp đều chịu hết trong khoảng tuổi thọ trăm năm. Vì nghiệp
bất định nên cái chết cũng đến không nhất định Cho nên phải nghĩ
nhớ sự chết.
Lại trong vô lấyy sinh tử có vô lượng nghiệp. Có những
nghiệp có thể làm hại các nghiệp khác. Ta cũng có thể có nghiệp
chết phi thời, thì làm sao tin chắc được mạng sống nầy ư ?
Lại hành giả thấy cái chết nó có thế lực lớn, không thể dùng
lời mềm mỏng dụ dỗ, hay dối gạt bằng của cải, hoặc theo đuổi
tranh tụng mà thoát được, như núi đá lớn từ 4 phía áp đến không
chỗ chốn tránh.
Hỏi : Nếu ai có thể khiến vua Diêm Vương hoan hỷ thì được
thoát chết ?
Đáp : Nói vậy là ngu si. Diêm Vương không có quyền tự do
sinh sát, mà chỉ có thể khảo xét việc làm thiện hay ác mà thôi.
Thành Thật Luận Trang 479 Tuệ Quang Foundation
Nếu thụ báo hết, lại bị nhân duyên hại thân thì chết. Cho nên hành
giả thấy thân không chỗ nương nhờ và cầu cứu, ở trong con
đường chết, cho nên nghĩ nhớ tưởng về sự chết.
Lại hành giả thường thấy thân nầy bị già bệnh làm khổ não,
tính không bền chắc. Vì không có tính bền chắc, và niệm niệm
sinh diệt nối nhau, vì nghiệp thức trói buộc, cho nên tu tưởng về
sự chết.
Lại hành giả nầy thấy chết là định mệnh, thì bất định ắt
thắng, vì bất định nên tu tưởng về sự chết.
Hỏi : Vì sao không nói tưởng về già bệnh v.v... mà chỉ nói
tưởng về sự chết ?
Đáp : Già bệnh cướp người không thể cướp hết được. Bệnh
tật cướp mất sự khỏe mạnh. Già nua cướp tuổi thanh xuân, mà
dòng họ láng giềng của cải và thân vẫn còn. Còn cái chết thì cướp
đi hết.
Lại già bệnh v.v... là nhân duyên của chết, nên không cần nói
riêng.
Lại trong kinh nói chết là một sự tối tăm to lớn, không có
ánh sáng và không ai cứu giúp, cũng không bè bạn, không chỗ
nương cậy, là chỗ rất đáng sợ. Cho nên phải nghĩ đến cái chết.
Lại chúng sinh vì nhân duyên chết nên khiếp sợ đời sau.
Lại trong 3 cõi tất cả đều có chết, mà già bệnh thì không như
vậy.
Hỏi : Nếu không rời chúng sinh có tướng chết đó, chúng
sinh tức là giả danh. Hành giả tu tập tưởng làm gì ?
Đáp : Không hoại tướng chúng sinh là khiếp sợ đối với sự
chết. Nếu tu tưởng về sự chết thì không sinh kinh sợ, cho nên phải
tu tập.
Lại tưởng vô thường gọi là con đường gần. Còn tưởng bất
tịnh, tưởng chán ăn và tưởng về sự chết gọi là đướng xa. Người
chưa đắc đạo dùng các tưởng nầy nên có thể chế phục được tâm.
Thành Thật Luận Trang 480 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 180 : Ba tưởng sau
Tưởng dứt là như trong 4 chính cần có nói : Vì muốn dứt
pháp ác bất thiện đã sinh nên siêng năng tinh tiến. Các pháp ác bất
thiện nầy là nhân duyên khổ não của địa ngục v.v..., và cũng là
gốc các điều khổ của các tiếng tăm xấu ác và tâm ăn năn v.v....
Cho nên phải dứt.
Hỏi: Phải dứt bằng cách nào ?
Đáp : Được pháp không tạo tác, bấy giờ là dứt.
Lại nghĩ nhớ tà là nhân tham dục v.v... các phiền não. Dứt sự
nghĩ nhớ tà vạy đó là pháp dứt.
Hỏi : Tu tưởng dứt nầy được những lợi ích gì ?
Đáp : Người tu tưởng nầy thường không theo pháp ác, mà
làm những việc đáng làm.
Lại đây là lìa 8 nạn, làm thân người lợi, gọi là dứt phiền não.
Lại ưa dứt phiền não là mặc pháp phục hủy bỏ hình hảo, lợi
người xuất gia. Nếu ai không như vậy thì luống uổng tự hổ thân.
Lại nếu hành giả ưa tu tưởng dứt, thì dùng pháp cúng dường
Phật.
Tưởng lìa dục, tưởng diệt, là nếu dục hết không sinh gọi là
lìa dục. Nghĩ lìa dục nầy gọi là tưởng lìa.
Hỏi : Nếu nói tưởng dứt tức là tưởng lìa, sao còn nói lại ?
Đáp : Do dứt được lìa. Dứt là diệt trừ tham dục. Như trong
kinh nói : Vì dứt tham dục nên 5 ấm dứt.
Lại tưởng dứt là tưởng lìa dục. Bởi vì sao ? Vì nếu với pháp
nầy không tham gọi là dứt pháp đó. Cho nên nếu được lìa dục, thì
khổ não diệt. Như trong kinh nói : Người lìa dục được giải thoát.
Được giải thoát tức là dứt. Nếu vào được vô dư, đó gọi là diệt.
Lại trong kinh nói có 3 tính là tính dứt, tính lìa dục và tính
diệt. Nếu nói tính dứt, tính lìa dục tức là A-la-hán, dứt tất cả phiền
Thành Thật Luận Trang 481 Tuệ Quang Foundation
não, lìa dục 3 cõi, trụ Nê-hoàn hữu dư. Nếu nói tính diệt tức lâm
chung xả thọ mạng dứt ấm nối nhau vào Nê-hoàn vô dư.
Lại có 2 thứ giải thoát là tuệ giải thoát và tâm giải thoát. Nếu
nói dứt tức là lìa vô minh, nên tuệ được giải thoát. Nếu nói lìa dục
tức là lìa tâm ái, được giải thoát. Quả của 2 giải thoát nầy gọi là
diệt.
Lại nếu nói dứt tưởng tức là nói dứt lậu vô minh. Nếu nói lìa
tưởng dục tức là nói dứt dục lậu hữu lậu. Nếu nói tưởng diệt tức là
2 quả nầy.
Lại như trong kinh nói : Dứt tất cả các hành nên gọi là dứt,
lìa tất cả các hành nên gọi là lìa, diệt tất cả hành nên gọi là diệt.
Vậy thì 3 pháp này nghĩa một mà tên khác nhau. Nếu tu tưởng vô
thường cho đến tưởng diệt thì xong tất cả việc. Diệt các phiền
não, dứt ấm kết nối nhau, vào Nê-hoàn vô dư.
Phẩm 181 : Năm định cụ đầu trong các định cụ
Hỏi : Ông trước nói đạo đế, gọi là định cụ và định. Đã nói
định, nay cần phải nói định cụ. Bởi vì sao ? Vì nếu có định cụ thì
định mới thành, nếu không là không thành ?
Đáp : Định cụ có tất cả 11 pháp : 1. Thanh tịnh trì giới. 2.
Được thiện tri thức. 3. Giữ gìn căn môn. 4. Ăn uống biết lường. 5.
Đầu đêm cuối đêm bớt ngủ nghỉ. 6. Đầy đủ thiện giác. 7. Đầy đủ
tín giải. 8. Đủ phần hành giả. 9. Đủ chỗ giải thoát. 10. Không bị
chướng ngại. 11. Không chấp trước.
1. Thanh tịnh trì giới : Lìa nghiệp bất thiện gọi là trì giới.
Nghiệp bất thiện như là sát, đạo, tà dâm là 3 thân nghiệp. Vọng
ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ là 4 khẩu nghiệp. Xa lìa tội nầy
gọi là trì giới.
Lại lễ kính đưa rước, và cúng dường v.v..., tu hành các pháp
thiện cũng gọi là giới. Vì giới có thể làm nhân cho định cho nên
phải thụ trì. Bởi vì sao ? Vì như gia công vàng, trước trừ chỗ thô
Thành Thật Luận Trang 482 Tuệ Quang Foundation
bẩn. Như vậy trước lấy trì giới trừ lỗi lớn là phá giới, sau mới lấy
định v.v... trừ các lỗi nhỏ. Bởi vì sao ? Vì nếu không trì giới thì
không có thiền định. Nhờ nhân duyên trì giới thiền định dễ thành.
Như trong kinh nói : Giới là gốc đạo và cũng là bậc thang tốt.
Lại nói : Giới là cái xe đầu tiên, nếu không lên xe đầu làm
sao lên được xe thứ hai v.v....
Lại nói : Giới là đất bằng; đứng nơi đất bằng này quan sát
được 4 đế.
Lại nói : Hai sức là sức nghĩ và sức tu. Sức nghĩ tức là trì
giới, sức tu là đạo. Trước suy nghĩ so lường tội lỗi phá giới, lợi
ích trì giới nên mới có thể trì giới. Sau khi đắc đạo tự nhiên lìa ác.
Lại nói : Giới là rễ cây Bồ-đề, mà không rễ là không cây.
Nên phải có tịnh giới.
Lại pháp là phải như vậy. Nếu không trì giới thì không thiền
định, giống như liệu pháp trị bệnh, phải dùng như vậy trị bệnh
phiền não, nếu không trì giới thì liệu pháp không đủ.
Lại nói người trì tịnh giới thì tâm không ăn năn, cho đến lìa
dục tâm được giải thoát, các công đức nầy đều do trì giới, nên gọi
định cụ.
Lại có nghiệp chướng, phiền não chướng. Quả 2 thứ chướng
nầy gọi là báo chướng. Nếu trì tịnh giới thì không có 3 chướng
nầy. Nếu tâm không có chướng thì có thể thành định.
Lại người tịnh trì giới không bại hoại, ắt đến Nê-hoàn, như
gỗ trôi trong dòng sông Hằng.
Lại tịnh trì giới nên có thể an lập. Trì giới có thể ngăn nghiệp
bất thiện nơi thân miệng. Thiền định có thể ngăn nghiệp bất thiện
nơi ý. Ngăn các phiền não như vậy, được trí thật chân trí thì rốt
ráo dứt trừ.
Lại lâu đài của đạo phẩm lấy giới làm trụ cột. Thành trì của
tâm thiền định lấy giới làm tường thành chung quanh. Qua biển
sinh tử lấy giới làm cầu. Vào trong đám đông người thiện lấy giới
Thành Thật Luận Trang 483 Tuệ Quang Foundation
làm dấu tin. Ruộng 8 Thánh đạo lấy giới làm bờ. Nếu ruộng
không bờ không giữ nước. Cũng như vậy, nếu không tịnh giới
nước định không giữ được.
Hỏi : Sao gọi là tịnh trì giới ?
Đáp : Nếu hành giả thâm tâm không ưa làm ác, khiếp sợ đời
sau và tiếng xấu, gọi là tịnh trì giới.
Lại hành giả đem tịnh tâm nên trì giới thanh tịnh. Như trong
Kinh Thất Dâm Dục nói : Thân tuy không phạm, mà tâm không
tịnh nên giới không tịnh.
Lại nhân duyên phá giới là các phiền não, nếu có thể chế
phục là trì giới được tịnh.
Lại Thanh Văn trì giới chỉ vì Nê-hoàn; người cầu Phật đạo
đem lòng đại bi vì tất cả chúng sinh không chấp giới tướng, có thể
khiến giới đó, như tính Bồ-đề. Trì giới như vậy gọi là thanh tịnh.
2. Thiện tri thức : Trong kinh nói do 2 nhân duyên có thể
sinh chính kiến là một theo người nghe pháp, hai tự nghĩ nhớ
đúng đắn pháp đã được nghe. Đó gọi là thiện tri thức.
Hỏi : Nếu vậy, sao chỉ nói thiện tri thức ?
Đáp : Trong kinh nói : A-nan hỏi Phật : Con ngồi yên một
nơi, suy nghĩ như vầy: Gặp được thiện tri thức là được nửa phần
nhân duyên đắc đạo ? Phật bảo đừng nói như vậy. Thiện tri thức
là nhân duyên đắc đạo đầy đủ. Bởi vì sao ? Vì chúng sinh sinh lão
bệnh tử được ta làm thiện tri thức, thì đều được giải thoát sinh lão
bệnh tử.
Lại chúng sinh nhờ thiện tri thức, được tăng trưởng giới v.v...
5 pháp. Như cây Sa-la nhờ núi Tuyết-Sơn được 5 sự tăng trưởng.
Lại Phật hãy còn ưa thích thiện tri thức. Như khi mới đắc
đạo nghĩ như vầy : Nếu người không có thầy thì không khiếp sợ,
không có tâm cung kính, thường bị ác pháp che khuất, không có
hạnh yên ổn. Ta phải lấy ai làm thầy, nương ai mà trụ ? Khởi nghĩ
như vậy rồi mới khắp xem tất cả không ai hơn mình được, liền
Thành Thật Luận Trang 484 Tuệ Quang Foundation
sinh ý nghĩ rằng : Pháp ta đã chứng được, nhờ đó mà thành Phật,
nay phải trở lại nương pháp đó. Các Phạm thiên cũng khen rằng :
Vậy không ai bằng Phật. Tất cả chư Phật đều lấy pháp làm thầy.
Lại thiện tri thức giống như đèn sáng; có mắt mà không đèn
thì không thấy gì được. Như vậy hành giả tuy có lợi căn phúc đức
nhân duyên mà không có thiện tri thức thì không được ích gì.
Hỏi : Người như thế nào là thiện tri thức ?
Đáp : Tùy theo có thể làm cho người tăng trưởng pháp thiện
gọi là thiện tri thức.
Lại tất cả những người thiện an trụ nơi chính pháp, đều là
thiện tri thức của trời người thế gian.
3. Giữ gìn căn môn : Là nghĩ nhớ chân chính. Hành giả
không nên nhắm mắt không thấy, chỉ nên nhất tâm chính niệm
hiện tiền.
Lại gọi là chính tuệ, lấy chính tuệ nầy có thể phá cảnh duyên
hiện tiền. Có thể phá cảnh duyên hiện tiền nên có thể không chấp
lấy tướng. Không chấp lấy tưởng nên không chạy theo giả danh.
Nếu không giữ các căn, để chấp lấy tướng thì các phiền não sinh,
lưu xuất ra 5 cửa tức thì phá giới các pháp thiện. Nếu có thể giữ
gìn căn môn thì các giới được bền chắc.
4. Ăn uống biết lường : Không vì sức mạnh, dâm dục, tham
vị mà ăn, ăn chỉ để nuôi thân.
Hỏi : Hành giả nuôi thân để làm gì ?
Đáp : Để tu pháp thiện. Nếu bỏ pháp thiện thì không đạo
pháp. Không đạo pháp thì làm sao lìa khổ được ! Nếu người
không vì tu hành mà ăn, là luống uổng nuôi kẻ giặc thù, và cũng
phá hoại phúc của thí chủ, tổn hại người cúng dường. Như vậy
không nên ăn thức ăn của người.
Hỏi : Lấy gì mà lường sự ăn uống ?
Đáp : Tùy lượng đủ có thể giúp nuôi thân, đó gọi là lường.
Hỏi : Nên ăn những thứ gì ?
Thành Thật Luận Trang 485 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu thức ăn không tăng thân bệnh như lạnh nóng
v.v..., tâm bệnh tham giận v.v..., là nên ăn. Những thức ăn nầy
cũng phải tùy thời, như biết thức ăn đó đối với lúc nầy có thể tăng
thêm các bệnh lạnh nóng tham giận v.v... thì không nên ăn.
Hỏi : Các ngoại đạo nói : Nếu ăn thứ thanh tịnh thì có thể
được phúc thanh tịnh, nghĩa là tùy ý thèm muốn sắc, hương, vị,
xúc, nhưng nước phải lọc lượt chú nguyện rồi sau mới ăn dùng.
Đó gọi là tịnh. Việc đó thế nào ?
Đáp : Đồ ăn uống không có quyết định là tịnh. Bởi vì sao ?
Vì nếu cho rằng đồ ăn thừa là bất tịnh, thì tất cả đồ ăn uống không
thứ nào không phải là thừa. Như sữa là vật thừa của bò con, mật là
đồ thừa của ong, nước là thừa của trùng, hoa là thừa của ong, và
trái cây là thừa của chim chóc. Cứ như vậy v.v....
Lại thân nầy từ bất tịnh sinh ra, thể tính bất tịnh, bất tịnh đầy
nhẫy. Đồ ăn uống trước là bất tịnh, sau vào trong thân không một
chút tịnh. Chỉ vì điên đảo mê lầm vọng tưởng đó là tịnh mà thôi.
Hỏi : Nếu đều là bất tịnh, thì cùng hạng người hèn hạ, Chiênđà-
la đâu có khác chi ?
Đáp : Lại nhờ không sát hại sinh mạng, không trộm cắp,
không nuôi sống bất chính v.v..., đúng như pháp mà có cái ăn.
Đem trí tuệ quán tưởng các lỗi do ăn uống, gạn lọc bằng nước trí
tuệ xong rồi sau mới ăn. Không phải chỉ có lọc nước mà cho là
tịnh.
5. Đầu đêm cuối đêm bớt ngủ nghỉ : Hành giả biết sự nghiệp
do tinh tiến siêng năng mà thành đạt nên không ngủ nghỉ.
Lại thấy ngủ nghỉ luống qua không được gì. Nếu ông cho
ngủ nghỉ là vui, chút vui hèn đó không đáng nói.
Lại hành giả không ưa chung cùng với phiền não, như người
không ưa ở chung với kẻ oán thù. Lẽ đâu có người đang ở trong
trận giặc mà ngủ ngon ? Cho nên không ngủ nghỉ.
Hỏi : Cơn buồn ngủ đến làm sao xua đuổi ?
Thành Thật Luận Trang 486 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Người nầy được mùi vị Phật pháp, tâm rất vui mừng,
nên có thể xua đuổi được.
Lại nghĩ tội lỗi già bệnh chết trong sinh tử thì tâm khiếp sợ
nên không ngủ nghỉ.
Lại hành giả nhận thấy được làm thân người, các căn đầy đủ,
lại may được gặp Phật pháp, có thể phân biệt tốt xấu, phải quấy là
việc rất khó, mà nay không cầu độ còn đợi khi nào mới được giải
thoát ? Cho nên phải siêng năng tinh tiến để diệt trừ ngủ nghỉ.
Phẩm 182 : Bất thiện giác
6. Đầy đủ thiện giác: Nếu người tuy không ngủ nghỉ mà khởi
các bất thiện giác, như dục giác, sân giác, não giác, hoặc thân lý
giác, quốc độ giác, bất tử giác, lợi tha giác, khinh tha giác v.v....
thì thà nên ngủ nghỉ, để đừng khởi những thứ bất thiện giác nầy.
Cần phải nghĩ nhớ cần, chính, xuất, các thiện giác, như xuất
giác, không sân não giác, 8 bậc Đại nhân giác.
Dục giác là nương lòng tham dục mà sinh tri giác, trong 5
dục thấy có lợi lạc, gọi là dục giác.
Làm suy hại chúng sinh, gọi là sân giác, não giác. Hành giả
không nên nhớ nghĩ 3 thứ giác nầy. Bởi vì sao ? Vì nghĩ đến 3
giác này thì bị tội nặng.
Lại như trước đã nói tội lỗi tham v.v.... Bởi tội lỗi nầy không
nên nghĩ nhớ.
Hỏi : Sao không nói si giác ?
Đáp : Ba ác giác nầy sinh theo thứ lớp, còn các phiền não
khác không phải như vậy. Hành giả nếu nghĩ đến 5 dục nên sinh
tham giác, tham mà không được mới sinh giận dữ; thành giận dữ
gọi là não. Cho nên không nói si.
Lại kết quả của si là tham giận. Nếu từ tham giận sinh nghiệp
bất thiện. Ba giác nầy là nghiệp nhân bất thiện. Như trong kinh
Thành Thật Luận Trang 487 Tuệ Quang Foundation
nói : Ví như cục đất, đêm thì khói ra, ngày thì lửa đốt. Khói tức là
giác, lửa gọi là nghiệp.
Thân lý giác : Bởi bà con, xóm làng nên khởi nghĩ nhớ muốn
làm cho bà con, xóm làng được yên ổn vui vẻ. Nếu nghĩ đến suy
hại thì sinh buồn rầu. Nếu nghĩ muốn cùng cộng tác với bà con
xóm làng làm việc nọ việc kia gọi là thân lý giác. Hành giả không
nên nghĩ nhớ thứ giác nầy. Bởi vì sao ? Vì bản nguyện khi xuất
gia đã xả bỏ bà con xóm làng, mà nay lại khởi giác nầy là điều
không nên.
Lại nếu người xuất gia lại nghĩ đến bà con xóm làng thì
luống bỏ gia thuộc, uổng công không thành gì. Vì yêu bà con xóm
làng nên sinh tham đắm. Vì tham đắm mới giữ gìn. Vì nhân duyên
giữ gìn mà các nghiệp bạo lực thứ tự sinh khởi. Cho nên không
nên sinh thân lý giác.
Lại cùng bà con xóm làng hòa hợp thì không thể tăng trưởng
pháp thiện.
Lại hành giả nghĩ tất cả chúng sinh trôi lăn trong sinh tử,
không một ai là không phải bà con xóm làng thì vì sao chấp đắm
thiên lệch.
Lại trong sinh tử vì bà con xóm làng nên buồn thương khóc
lóc nước mắt chảy thành biển cả, mà nay lại tham đắm nữa thì khổ
không bao giờ hết.
Lại chúng sinh vì nhân duyên lợi ích nên thân ái nhau không
có nhất định.
Lại người hay nghĩ bà con là tướng ngu si. Người ngu ở thế
gian không có ai chưa lợi mình mà muốn lợi người. Nếu nghĩ bà
con xóm làng thì ít tự lợi. Vì những lẽ trên đây nên hành giả
không nên khởi thân lý giác.
Quốc độ giác : Hành giả sinh ý nghĩ có cõi nước nào đó giàu
vui yên ổn nên đến đó có thể được an vui.
Thành Thật Luận Trang 488 Tuệ Quang Foundation
Lại tâm nông nổi muốn dạo xem khắp. Hành giả không nên
khởi ý giác như vậy. Bởi vì sao ? Vì tất cả cõi nước đều có lỗi
xấu, có nước rất lạnh, có nước rất nóng, có nước nhiều nguy hiểm,
có nước nhiều bệnh tật, có nước nhiều giặc trộm. Có nhiều lỗi
khác nhau như vậy, nên không nên nghĩ tới.
Lại người nông nổi thì mất thiền định. Tùy theo chỗ ưa vui
có thể được tăng thêm pháp thiện thì đó là tốt, chứ cần gì phải
xem khắp các cõi nước ? Tất cả các cõi nước chỉ nghe từ xa, đến
đó chưa chắc vừa lòng, vì người đời phần nhiều nói quá sự thật.
Lại những người đi qua các nước chịu nhiều sự khổ.
Lại thân là nhân khổ, mà mang nhân khổ nầy theo thì đi đến
đâu cũng đều chịu khổ.
Lại hưởng chịu khổ vui do nghiệp nhân thì dù đi xa đến đâu
cũng không ích gì. Cho nên không nên khởi quốc độ giác.
Bất tử giác : Là hành giả khởi nghĩ như vầy : Ta nên từ từ sẽ
tu đạo. Trước hết phải đọc tụng Tu-đa-la, Tì-ni, A-tì-đàm, tạp
tạng, Bồ-tát tạng, rộng họp các sách ngoại điển, nuôi nhiều đệ tử,
dắt dẫn người thiện, cúng dường 4 tháp, khuyến hóa chúng sinh
khiến tu đại bố thí, sau phải tu đạo
gọi là bất giác tử.
Hành giả không nên khởi nghĩ như vậy. Bởi vì sao ? Vì giờ
khắc chết không định được, không thể dự biết trước được. Nếu
trong khi đang kinh doanh các việc, không may mạng tận thì đâu
kịp tu đạo được. Đến khi sắp chết lòng dạ ăn năn buồn rầu rằng ta
luống dưỡng thân nầy uổng không được gì hết, đồng chết như loài
súc sinh nào khác. Như trong kinh nói : Phàm phu nên dùng 20
pháp để chiết phục tự tâm nghĩa là như vầy : Ta chỉ có hình hài và
y phục khác người thế tục mà không được một sở đắc gì hết. Cho
đến sẽ như thế này cho đến chết thôi.
Lại người trí không làm những việc không nên làm. Như
trong Kinh Pháp Cú nói :
Thành Thật Luận Trang 489 Tuệ Quang Foundation
Không nên làm, không làm,
Nên làm thì thường làm.
Nghĩ nhớ tâm an tuệ,
Thì được hết các lậu.
Lại trong kinh nói :
Người chưa được 4 đế,
Phương tiện vì muốn được,
Phải siêng năng tinh tiến,
Hơn cứu lửa cháy đầu.
Cho nên không nên khởi bất tử giác.
Lại bất tử giác là tập khí ngu si, có đâu người trí biết mạng
sống vô thường, như hạt sương trên cành, dễ gì có thể bảo tồn một
khắc !
Lại trong kinh nói : Phật hỏi các Tì-kheo : Các ông tu tập
tưởng chết như thế nào ? Có vị thưa Phật rằng : Con không bảo
đảm được 7 năm. Có vị thưa 6 năm. Cứ như vậy giảm bớt cho đến
còn trong giây lát. Phật nói : Các ông đều là những người phóng
dật mà tu tưởng về sự chết. Khi đó có một Tì-kheo trịch vai áo
bên hữu thưa Phật rằng : Con thì cho rằng hơi thở ra không chắc
đã hít vào, hơi hít vào không chắc sẽ thở ra. Phật khen : Hay thay
! Hay thay ! Ông mới là chân thật tu tưởng về sự chết. Cho nên
không nên khởi bất tử giác.
Lợi tha giác: Là đối với người không phải trong bà con xóm
làng muốn làm cho họ được lợi ích. Nếu khởi ý nghĩ như vầy : Có
thể tu bố thí làm cho ai đó giàu sang an vui, còn ai đó thì không.
Hành giả không nên khởi giác như vậy. Bởi vì sao ? Vì
không bởi ý nghĩ mà có thể làm cho ai được khổ vui. Chỉ có tự
mình vì ý nghĩ đó làm hoại loạn định tâm mà thôi.
Hỏi : Muốn khiến người được lợi không phải tâm từ hay sao
?
Thành Thật Luận Trang 490 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Hành giả cầu đạo nên nghĩ đến lợi đệ nhất nghĩa là vô
thường v.v.... Trong đó tuy có ít được phúc nhưng vì có thể hại
đạo, lợi ít hại nhiều, vì loạn định tâm. Nếu đem tản tâm nghĩ lợi
người khác thì không thể thấy tội lỗi tham đắm, cho nên không
nên nghĩ.
Khinh tha giác : Là hành giả, hoặc nghĩ người này chủng
tính, hình sắc, giàu sang, tài năng, trì giới, lợi căn, thiền định, trí
tuệ v.v... đều không bằng ta.
Hành giả không nên khởi giác như vậy. Bởi vì sao ? Vì tất cả
muôn vật đều vô thường, nếu thượng trung hạ đâu có sai khác ?
Lại tóc lông móng răng của người này đều gọi là bất tịnh như
nhau không khác.
Lại già bệnh chết v.v... và suy não cũng vẫn đồng nhau.
Lại tất cả chúng sinh trong ngoài khổ não đều đồng nhau
không khác.
Lại phàm phu mà giàu sang là nhân duyên gây tội lỗi.
Lại giàu sang không bao lâu rồi cũng nghèo cùng lại. Cho
nên không khởi giác khinh dể người khác.
Lại kiêu mạn là một phần của vô minh, người trí làm sao
khởi giác đó.
Phẩm 183 : Thiện giác
Xuất giác : Là tâm ưa xa lìa, như lìa 5 dục và 2 cõi Sắc, Vô
sắc. Ưa vui xa lìa này nên gọi xuất giác. Vì ưa vui xa lìa nầy là
không các khổ mà tùy theo tham đắm mới có khổ, không tham
đắm thì vui. Trong các giác, 2 thứ giác vui là vô sân giác và vô
não giác. Bởi vì sao ? Vì 2 giác nầy gọi là an ổn giác. Như trong
Phẩm Như Lai nói : Như Lai thường có 2 thứ giác hiện tiền là an
ổn giác và viễn ly giác. An ổn giác tức thứ giác không sân não.
Viễn ly giác tức là xuất giác.
Thành Thật Luận Trang 491 Tuệ Quang Foundation
Lại nghĩ 3 giác nầy thì phúc tăng trưởng, cũng có thể thành
định tâm, và tâm được thanh tịnh.
Lại nghĩ 3 giác nầy có thể ngăn các trói buộc, vì dứt các trói
buộc nên mau chứng được dứt diệt.
Lại hành giả vì ưa xa lìa, nhóm họp được nhiều pháp thiện,
nên mau được giải thoát.
Tám bậc đại nhân giác : Là trong Phật pháp, nếu người thiểu
dục mới có thể được lợi ích, chứ không phải người đa dục, người
tri túc, người xa lìa, người tinh tiến, người nghĩ nhớ chân chính,
người định tâm, người trí tuệ, người không hý luận có thể được
lợi ích, và người phi hý luận gọi là tám.
Thiểu dục mà gọi là hạnh, là vì muốn tu đạo nên phải muốn
vật cần dùng, nhưng không nên cầu nhiều vật thừa không dùng,
gọi là thiểu dục.
Tri túc là có người hoặc vì nhân duyên, hoặc vì trì giới, hoặc
muốn người khiến người khác tâm được thanh tịnh, cho nên lấy ít
mà tâm không cho là đủ. Nếu có người lấy ít tâm cho là đủ, đó gọi
là tri túc. Có người tuy lấy ít vật mà tìm thứ tốt, đó là thiểu dục
mà không phải là tri túc. Nếu lấy vừa được ít vật, gọi là tri túc.
Hỏi : Nếu lấy vật cần dùng gọi là thiểu dục, thì tất cả chúng
sinh đều được gọi thiểu dục vì đều lấy vật cần dùng thôi ?
Đáp : Hành giả không đem lòng tham đắm mà lấy, chỉ vì
dùng mới lấy nên không lấy nhiều, không như người đời vì trang
điểm, tiếng khen, thường lấy mà lấy nhiều.
Hỏi : Hành giả vì sao phải thiểu dục và tri túc ?
Đáp : Trong việc giữ gìn thấy có tội lỗi.
Lại chứa để mà không dùng là tướng ngu si.
Lại người xuất gia không nên tích trữ như người thế gian. Vì
các lỗi đó nên phải thiểu dục tri túc.
Lại hành giả, nếu không thiểu dục tri túc thì lòng tham tăng
dần, rồi vì tài lợi mà tìm cầu những gì không đáng tìm cầu.
Thành Thật Luận Trang 492 Tuệ Quang Foundation
Lại tham tài lợi rốt cuộc không yên ổn, vì quá tham đắm.
Lại người xuất gia nầy ưa tu hạnh xa lìa, mà vì tham lợi nên
quên mất điều nên tu.
Lại cũng không thể bỏ các phiền não. Bởi vì sao ? Vì ngoại
vật còn không bỏ được huống chi nội pháp.
Lại thấy lợi dưỡng là nhân suy não, như mưa đá hại lúa má.
Cho nên thường tu tập thiểu dục tri túc.
Lại thấy nhận của tín thí khó đền, như mắc nợ không trả, về
sau phải chịu khổ não.
Lại thấy lợi dưỡng là vật bỏ của Phật và người thiện. Như
Phật nói : Ta không gần lợi dưỡng, lợi dưỡng đừng gần ta.
Lại hành giả này đầy đủ pháp thiện, nên bỏ lợi dưỡng. Như
Phật nói : Chư thiên còn không thể được vui xuất, vui ly, vui tịch
diệt và vui chân trí như ta đã được. Cho nên bỏ lợi dưỡng.
Lại như Xá-lợi-phất nói : Ta khéo tu vô tướng, lấy không
Tam-muội quán tất cả vạn vật bên ngoài, coi như đờm dãi.
Lại hành giả không thấy có người nào thụ dục mà chán đủ,
như uống nước mặn không trừ hết khát được. Cho nên siêng cầu
trí tuệ mới là đầy đủ.
Lại thấy người đa dục thường phát nguyện cầu, cầu nhiều mà
được ít, nên thường bị khổ.
Lại thấy người cầu xin, bị người khinh tiện không chút kính
trọng như người thiểu dục.
Lại người xuất gia mà đa cầu là việc rất không nên làm, mà
người ta cho không lấy mới phải. Cho nên cần phải tu hạnh thiểu
dục tri túc.
Viễn ly : Là đối với những người tại gia xuất gia tu thân xa
lìa, với các phiền não tu tâm xa lìa. Đó gọi là viễn ly.
Hỏi : Hành giả vì sao phải xa lìa ?
Thành Thật Luận Trang 493 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Những người xuất gia tuy chưa đắc đạo lấy xa lìa làm
vui. Ở trong các chỗ người thế gian, nơi nữ sắc, chỗ ồn ào quyết
không thể an vui được.
Lại nếu xa lìa thì tâm dễ vắng lặng, như nước không khuấy,
tự nhiên lắng trong. Cho nên tu xa lìa.
Lại pháp xa lìa nầy đã được chư Phật nhiều như cát sông
Hằng ngợi khen. Vì sao biết được ? Là Phật thấy Tì-kheo ngồi
thiền định gần nơi xóm làng thì lòng không vui, mà thấy Tì-kheo
nằm ngủ ở chỗ trống vắng thì hoan hỷ. Bởi vì sao ? Vì ngồi thiền
gần xóm bị nhiều nhân duyên làm tán loạn định tâm, khiến cho
điều nên được thì không được, pháp phải chứng thì không chứng.
Còn nằm ngủ chỗ vắng tuy có chút biếng nhác, nhưng nếu thức
dậy cầu vào định thì thâu nhiếp được tâm tán loạn. Nhiếp tâm là
có thể được giải thoát.
Lại bởi chấp lấy tướng nên mới khởi tham v.v... các phiền
não. Còn chỗ trống vắng không có sắc v.v... các tướng thì phiền
não dễ dứt, như lửa không củi, thì tự nhiên tắt mất.
Lại trong kinh nói : Nếu Tì-kheo ưa ở chỗ đông người, ưa
nói năng đủ chuyện, không lìa chỗ đông người còn không thể
được ái duyên giải thoát, huống là có thể được bất hoại giải thoát.
Người tu hạnh xa lìa thì chắc chắn chứng được cả hai.
Lại như đèn lìa gió thì có thể soi sáng. Hành giả cũng như
vậy, nhờ tu hạnh xa lìa nên có thể mau được chân trí.
Tinh tiến : Là hành giả, nếu tu chính cần, dứt pháp bất thiện,
tu nhóm thiện pháp. Trong đó siêng năng tu nên gọi là tinh tiến.
Như vậy thì có thể được lợi Phật pháp. Bởi vì sao ? Vì nhóm họp
pháp thiện ngày ngày tăng trưởng như các loài hoa sen Ưu-bát-la,
Bát-đầu-ma v.v... tùy theo nước mà tăng trưởng dần lên. Còn
người hành giả biếng nhác như khúc chày gỗ từ khi được làm
thành đến nay, ngày một mòn dần đến hết.
Thành Thật Luận Trang 494 Tuệ Quang Foundation
Lại người tinh tiến, vì được lợi ích nên tâm thường hoan hỷ,
còn người biếng khác bị ác che tâm hằng ôm khổ não.
Lại người tinh tiến trong từng niệm pháp thiện tăng trưởng,
thường xuyên không có tổn giảm.
Lại thâm tu tinh tiến được chỗ vượt trội hơn hết là đạo của
chư Phật. Như trong kinh Phật bảo A-nan rằng thâm tu tinh tiến
có thể đến Phật đạo.
Lại người tinh tiến dễ được định tâm.
Lại kẻ độn căn mà tinh tiến tuy còn ở trong sinh tử cũng mau
được giải thoát; còn người lợi căn mà biếng nhác thì không thể
được.
Lại có bao nhiêu lợi ích đời nay, đời sau, thế gian, xuất thế
gian đều nhờ tinh tiến. Trái lại tất cả thế gian có bao nhiêu sự suy
não đều do biếng nhác. Như vậy thấy lỗi biếng nhác, lợi ích tinh
tiến, nên phải nghĩ nhớ tinh tiến.
Nghĩ nhớ chân chính : Là thường đối với thân, thụ, tâm và
pháp, tu tập nghĩ nhớ chân chính.
Hỏi : Nghĩ nhớ 4 pháp nầy được những lợi ích gì ?
Đáp : Pháp ác bất thiện không đến nhập vào tâm, như khéo
giữ đề phòng thì kẻ ác không xâm nhập được.
Lại như bình đầy thì nước không vào nữa được. Như vậy
người nầy pháp thiện đầy nhẫy nên không dung các điều ác.
Lại nếu tu nghĩ nhớ chân chính nầy thì gồm thâu tất cả pháp
thiện nghiệp vào trong phần giải thoát như uống nước biển là
uống đủ các nguồn, vì tất cả nguồn đều chảy vào biển cả.
Lại tu nghĩ nhớ chân chính nầy gọi là an trụ chỗ hành xứ tự
tại, ma dân phiền não không thể phá hoại được, như ví dụ chim
ưng chim cắt.
Lại người này tâm đã an trụ khó động như động, như chiếc
bình tròn đã đặt trên cái đế.
Thành Thật Luận Trang 495 Tuệ Quang Foundation
Lại người nầy không bao lâu sẽ được lợi ích, như trong Kinh
Tì-kheo-ni nói : Các Tì-kheo-ni hỏi A-nan rằng : Thưa Đại đức !
Bọn chúng tôi khéo tu niệm xứ giác khác hơn trước ? A-nan bảo :
Khéo tu pháp đó là như vậy.
Định tâm : Là nếu tu tập định tâm được lợi ích vi diệu. Như
trong kinh nói : Người tu định tâm có thể biết như thật.
Lại vì người nầy thân có phép hơn người như là thân mình
phun ra nước lửa, bay đi tự do v.v....
Lại người nầy được cái vui, cho đến chư thiên và Phạm
Vương v.v... không thể nào bằng được.
Lại người nầy là người làm việc đáng làm, không làm điều gì
không nên làm.
Lại khéo tu tập định, pháp thiện thường tăng.
Lại người tu tập định, về sau tâm không ăn năn, người nầy
gọi là được quả xuất gia. Cũng gọi là người thuận theo Phật dạy,
chứ không như những người luống lãnh của tín thí cúng dường.
Người nầy có thể trả ơn cho người thí phúc, mà người khác không
thể trả được.
Lại pháp định tâm nầy được chư Phật và Hiền thánh đều gần
gũi.
Lại có thể kham thụ tất cả pháp thiện.
Lại nếu định tâm được thành tựu thì chứng Thánh đạo, mà
không thành thì sinh về Tịnh thiên là 2 cõi Sắc và Vô sắc. Bởi vì
sao ? Vì như bố thí v.v... không thể được việc như vậy. Nghĩa là
có thể rốt ráo không tạo ác. Như trong kinh nói : Nếu đứa trẻ con
từ lúc còn nhỏ bé, tu tập lòng từ, có thể khởi tâm ác nghĩ việc ác
chăng ? Thưa không, Thế Tôn ! Đó đều là định lực.
Lại định tâm gọi là nhân chân trí tuệ. Nhân chân trí tuệ mới
có thể diệt hết các hành nghiệp. Các hành hết nên các khổ não
cũng diệt hết.
Thành Thật Luận Trang 496 Tuệ Quang Foundation
Lại hành giả đối với việc tất cả thế gian và xuất thế gian khởi
nghĩ tức làm xong không nhọc gia công sức. Còn các người khác
còn không thể phát tâm lường chỗ sở đắc của người kia cho nên
nói định tâm có thể được lợi ích.
Trí tuệ : Là người trí trong tâm không sinh phiền não, nếu
sinh liền diệt, như một giọt nước rơi trên tấm sắt nóng.
Lại tâm người trí không khởi các tướng, nếu khởi liền diệt,
như sương trên cành, gặp ánh nắng liền khô.
Lại nếu có con mắt trí có thể xem Phật pháp, như người có
mắt ban ngày dùng được.
Lại người trí gọi là được phần Phật pháp, như chính là con
thì được hưởng phần của cải của cha mẹ.
Lại trí tuệ gọi là có mạng sống ngoài ra gọi là chết.
Lại người trí tuệ gọi là người chân đạo nhân, vì có thể biết
đạo.
Lại người trí biết mùi vị Phật pháp, như thiệt căn không hư
có thể phân biệt 5 vị.
Lại người trí tuệ ở trong Phật pháp tâm định không động,
như núi đá gió không lay động được.
Lại người trí tuệ gọi là Tín, vì tự được 4 pháp tin mà không
theo người khác mới có được.
Lại được Thánh tuệ căn gọi là đệ tử Phật, ngoài ra là ngoại
phàm phu. Cho nên nói người trí có thể được lợi ích.
Vô hý luận : Là như lối nghị luận cho là một, hoặc cho là
khác, gọi là hý luận. Như A-nan hỏi Xá-lợi-phất : Nếu 6 xúc nhập,
lìa dục diệt hết rồi, nếu có còn thừa ư ? Xá-lợi-phất nói : Nếu 6
xúc nhập lìa dục tận diệt rồi, nếu còn có thừa là không thể luận
mà ông luận ư ? Nếu không có cũng có, cũng không, không phải
có, không phải không, hỏi đáp cũng như vậy.
Hỏi : Việc ấy vì sao không thể luận ?
Thành Thật Luận Trang 497 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Hỏi nầy là hỏi pháp thật ngã là một hay là khác, cho
nên không đáp, vì ngã không quyết định. Chỉ trong 5 ấm giả lập
danh tự mà nói đó thôi. Nếu lấy có, không mà đáp, tức là sa vào
dứt, thường. Nếu đem pháp nhân duyên mà luận nói ngã thì không
phải là hý luận.
Lại nếu người thấy chúng sinh trống không, pháp trống
không, thì không hý luận. Cho nên nói người không hí luận mới
được lợi ích của Phật pháp. Đó gọi là đầy đủ thiện giác.
Phẩm 184 : Năm định cụ sau
7. Đầy đủ tín giải tốt : Nghĩa là như người hành giả có thể ưa
thích Nê-hoàn mà chán ghét sinh tử gọi là tín giải tốt. Tín giải như
vậy chóng được giải thoát.
Lại người ưa thích Nê-hoàn tâm không đắm gì cả.
Lại ưa thích Nê-hoàn thì không khiếp sợ. Bởi vì sao ? Vì nếu
là phàm phu mà tâm nghĩ Nê-hoàn liền sinh kinh sợ cái ngã sẽ
mất hẳn.
Hỏi : Do nhân duyên gì tín giải Nê-hoàn ?
Đáp : Hành giả thấy thế gian vô thường, khổ, không, vô ngã
thì đối với Nê-hoàn sinh tưởng tịch diệt.
Lại người nầy bản tính phiền não nhẹ yếu, nghe nói Nê-hoàn
thì lòng tin vui ưa thích.
Lại nếu theo vị thầy giỏi, hoặc đọc kinh sách, nghe sinh tử
tội lỗi, như Kinh Vô Thủy và các Kinh Ngũ Thiên Sứ v.v... nói,
thì chán lìa sinh tử tin vui Nê-hoàn.
8. Đủ phần hành giả : Như trong kinh nói có 5 phần của hành
giả là : 1. Có tin. 2. Tâm không dua dọc. 3. Ít bệnh. 4. Tinh tiến. 5.
Trí tuệ.
Có tin là tâm đối với Tam Bảo và 4 đế không nghi hối.
Không nghi hối nên mau được thành định.
Thành Thật Luận Trang 498 Tuệ Quang Foundation
Lại người có lòng tin nhiều vui vẻ nên chóng được thành
định.
Lại người có tin, tâm điều hòa dễ thu nhiếp nên chóng được
định.
Hỏi : Nếu do định sinh tuệ, sau có thể dứt nghi. Nay vì sao
trước định rồi nói không nghi ?
Đáp : Vì nhờ đa văn nên có thể dứt nghi chứ không phải
được định.
Lại sinh vào nhà rất có lòng tin, hoặc cùng làm việc với
những người có lòng tin, nên thường tu lòng tin, tuy chưa được
định, nhưng không sinh nghi v.v....
Không dua dọc : Là đem tâm chất trực, tâm không che giấu,
thì dễ độ, như người nói thật và đầy đủ bệnh trạng với thầy thuốc
thì dễ cứu chữa.
Ít bệnh : Ít bệnh thì có thể đầu đêm cuối đêm tinh tiến không
dứt. Nếu người tật bệnh thì trở ngại sự hành đạo.
Tinh tiến : Là vì cầu đạo nên thường siêng năng tinh tiến,
như dùi cây để lấy lửa mà không nghỉ tay thì chóng được lửa.
Trí tuệ : Nhờ có trí tuệ nên được quả 4 việc. Đó là Thánh
đạo.
Hỏi : Các pháp niệm xứ ... cũng là phần của hành giả. Vì sao
chỉ nói 5 pháp nầy ?
Đáp : Tuy đều là phần, mà pháp nầy vượt trội hơn, nên hành
giả phải cần dùng, cho nên nói riêng. Cũng lìa tất cả ác, nhóm tất
cả thiện, nên gọi phần của hành giả, như có nói trong Kinh Cù-nisa.
9. Đủ chỗ giải thoát : Là 5 giải thoát xứ : 1. Như Phật và các
Tì-kheo tôn thắng vì đó nói pháp, theo chỗ được nghe, riêng có
thể tính thông đạt ngôn ngữ nghĩa lý. Nhờ thông đạt đó nên sinh
tâm hoan hỷ. Hoan hỷ thì thân khoan khoái, khoan khoái thì thụ
vui, thụ vui là tâm được thu nhiếp. Đó là chỗ giải thoát đầu tiên.
Thành Thật Luận Trang 499 Tuệ Quang Foundation
Hành giả an trụ chỗ giải thoát nầy nên nhớ nghĩ mạnh mẽ thì tâm
nhiếp định, các lậu được diệt hết, chắc chứng được Nê-hoàn. 2.
Siêng đọc tụng kinh điển. 3. Vì người khác nói pháp. 4. Ở riêng
một chỗ suy nghĩ các pháp. 5. Khéo giữ định tướng, là 9 tướng
v.v... như trên đã nói.
Hỏi: Phật và Tì-kheo tôn thắng vì sao nói pháp cho hành giả
nầy ?
Đáp : Vì có khả năng thụ pháp có thể được lợi ích lớn, cho
nên nói cho hành giả này.
Lại Tì-kheo nầy nhờ Phật xuất gia các căn thuần thục, nên vì
nói pháp. Còn Tì-kheo tôn thắng vì chỗ đồng nghiệp nên nói cho
nhau.
Lại người hành giả nầy cần phải nghe pháp, cho nên vì nói.
Lại người nầy có các công đức tịnh giới v.v... đã thành tựu,
giống như cái đồ đựng đã làm xong có thể đựng đồ vật, cho nên vì
nói pháp. Đó gọi là 3 tuệ. Thông đạt ngôn ngữ là đa văn tuệ,
thông đạt nghĩa lý là tư duy tuệ. Do đạt 2 tuệ trên có thể sinh tâm
hỷ, cho đến nhiếp tâm sinh như thật trí, đó gọi là tu tuệ. Ba tuệ
nầy có 3 thứ quả là chán, lìa, và giải thoát.
Lại nữa, nghe pháp, đọc tụng, vì người nói pháp là đa văn
tuệ. Suy nghĩ so lường các pháp là tư duy tuệ, khéo giữ lấy định
tướng là tu tuệ.
Hỏi : Tâm giải thoát và hết lậu 2 pháp đó có gì sai khác ?
Đáp : Dùng định ngăn phiền não nên nói tâm giải thoát, vĩnh
viễn dứt hẳn phiền não mới nói hết lậu.
Hỏi : Như tu pháp trì giới v.v... cũng là chỗ giải thoát, như
nói trì giới thì tâm không hối, tâm không hối thì hoan hỷ v.v....
Hoặc nhờ thí v.v... cũng được giải thoát. Vì sao chỉ nói 5 pháp nầy
ư ?
Đáp : Vì vượt trội nên được nói riêng.
Hỏi : Pháp nầy có gì vượt trội ?
Thành Thật Luận Trang 500 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Là nguyên nhân gần của giải thoát, giới v.v... vì là
nguyên nhân xa nên không nói.
Hỏi : Sao biết được là nguyên nhân gần ?
Đáp : Hành giả nghe pháp biết ấm, giới, nhập v.v... chỉ các
pháp hòa hợp, trong đó không ngã, cho nên tức là đã phá giả
danh. Phá giả danh tức là giải thoát, nên gọi đó là nguyên nhân
gần.
Lại trong kinh nói : Công đức đa văn là không theo người
khác cầu nghe pháp, tâm dễ thâu nhiếp v.v.... Cũng do đó nên biết
là nguyên nhân gần.
Lại Phật pháp có công đức lớn có thể diệt phiền não, đến Nêhoàn
v.v.... Trong pháp tịch diệt nầy, hoặc nghe hoặc tụng hoặc tự
suy nghĩ thì chóng được giải thoát, cho nên gọi là nguyên nhân
gần.
Lại thí được đại phú, trì giới được tôn quý, đa văn được trí.
.Nhờ trí tuệ nên được diệt hết các lậu, chứ không nhờ phú quí cho
nên biết là nguyên nhân gần.
Lại Xá-lợi-phất v.v... được tôn xưng là bậc đại trí, đều do đa
văn.
Hỏi : Nếu nhờ đa văn tâm dễ nhiếp thì vì sao A-nan đầu
hôm, giữa đêm, cuối đêm đều không được giải thoát ?
Đáp : Đầu của A-nan chưa kê lên gối đã được giải thoát. Cho
nên thường ở trong pháp hiếm có, vì sao không nhanh chóng ?
Lại A-nan trong đêm đó tinh tiến có chút lỗi, vì quá mỏi mệt
nên không được giải thoát.
Lại A-nan tự thề rằng : Trong đêm nay ta quyết được hết lậu.
Cũng như Bồ-Tát tự thề trong đạo tràng. Thử hỏi ai có sức nầy ?
Người như A-nan đều là nhờ sức đa văn.
10. Không bị chướng ngại : Như nói 3 chướng là nghiệp
chướng, báo chướng, và phiền não chướng. Nếu ai không có 3
Thành Thật Luận Trang 501 Tuệ Quang Foundation
chướng ngại nầy thì không đọa chỗ nạn. Nếu lìa được các nạn là
kham thụ đạo pháp.
Lại người đó gọi là đầy đủ 4 luân là : cõi nước tốt đẹp, y chỉ
người thiện, tự phát chính nguyện và phúc đức đời trước.
Lại có thể thành tựu 4 phần Tu-đà-hoàn là : gần gũi người
thiện, ưa nghe chính pháp, tự nghĩ nhớ chân chính và có thể thực
hành theo chính pháp.
Lại có thể lìa bỏ tham v.v... 3 pháp, như trong kinh nói :
Không dứt 3 pháp thì không vượt qua được già, bệnh, chết.
11. Không chấp trước : Là không đắm trước bờ bên này,
không đắm trước bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không vọt
lên đất bằng, không bị người bắt lấy, và phi nhân bắt lấy, không
vào trong dòng nước xoáy, không tự mục nát. Bờ bên này là 6
nhập bên trong. Bờ bên kia là 6 nhập bên ngoài. Giữa dòng là
tham, hỷ. Đất bằng là ngã mạn. Người bắt là hòa hợp với người
tại gia xuất gia. Phi nhân bắt lấy là trì giới để sinh lên trời. Dòng
xoáy là phá giới. Mục nát là phá trọng cấm. Nếu người đối với nội
nhập chấp ngã, tức đối với ngoại nhập sinh tâm ngã sở. Từ nội
ngoại nhập kia sinh tham hỷ, cho nên mới chìm đắm trong đó. Từ
đó sinh ngã mạn. Tại vì sao. Nếu người đắm chấp thân thụ có vui,
cho nên người đến khinh chê thì sinh kiêu mạn. Như vậy vì ngã,
ngã sở, tham hỷ, ngã mạn làm loạn tâm, nên mới gây thành các
việc khác.
Hỏi : Trong dụ này lấy gì làm nước, nếu lấy 8 Thánh đạo làm
nước, thì không nên lấy nội ngoại 6 nhập làm bờ sông, tham, hỷ
v.v... làm giữa dòng, cũng không nên có dòng xoáy, mục nát. Nếu
lấy tham ái làm nước, thì làm sao theo đó được đến Nê-hoàn ?
Đáp : Lấy 8 Thánh đạo làm nước. Thí dụ bất tất khiến cho
giống hệt nhau hết. Như cây này nếu lìa 8 nạn quyết trôi đến biển
cả. Tì-kheo cũng vậy, lìa các dòng, nạn, thì theo nước 8 Thánh
đạo trôi vào Nê-hoàn. Như nói sữa trắng như vỏ sò, chỉ lấy màu
Thành Thật Luận Trang 502 Tuệ Quang Foundation
sắc của sò mà không lấy cứng mềm, cũng như nói mặt như mặt
trăng, mà chỉ lấy cái đầy đặn mà không lấy hình dạng vậy.
Lại hành giả ra khỏi Thánh đạo rồi, lại đắm trước nội ngoại
nhập, thì không bằng cây này ở giữa dòng nước, vướng mắc bờ
bên này bờ bên kia và mục nát v.v....
Lại có luận sư nói : Như nước sông Hằng quyết chảy về biển
lớn. Như vậy 8 Thánh đạo chắc đến Nê-hoàn. Cho nên mới lấy
làm thí dụ.
Như trên đã lược nói đủ 11 định cụ. Nếu có pháp này tự
nhiên được định.
Phẩm 185 : Hơi thở ra vào
A-na-ba-na tức hơi thở, có 16 hạnh tất cả là : Nghĩ nhớ hơi
thở ra vào hoặc dài hoặc ngắn. Nghĩ hơi thở khắp thân, trừ các
thân hành, giác hỷ, giác lạc, giác tâm hành, trừ tâm hành. Nghĩ
hơi thở ra vào, giác tâm, khiến tâm hỷ, khiến tâm nhiếp, khiến tâm
giải thoát. Nghĩ hơi thở ra vào, tùy vô thường, quán tùy dứt, quán
ly diệt. Nghĩ hơi thở ra vào hoặc dài hoặc ngắn.
Hỏi : Thở dài ngắn là thế nào ?
Đáp : Như người trèo lên núi, hoặc gánh nặng bị mệt lả nên
hơi thở ngắn. Hành giả cũng như vậy, còn ở trong thô tâm bấy giờ
là ngắn. Thô tâm đó chỗ gọi là tâm vội vả tán loạn. Hơi thở dài là
nếu hành giả ở trong trạng thái tế tâm thì hơi thở dài. Bởi vì sao ?
Vì tâm dịu nên nên hơi thở cũng tùy theo đó mà dịu dàng dần.
Như ngay khi người đó quá mệt nên nghỉ để thở thì cũng tùy mà
dịu, bấy giờ thì hơi thở dài.
Khắp thân, là hành giả vì tin và hiểu thân trống không nên
thấy tất cả lỗ chân lông có gió ra vào.
Trừ thân hành, là hành giả được sức cảnh giới, tâm yên ổn
nên hơi thở thô diệt, bấy giờ hành giả mới nhớ đủ chỗ trong thân.
Thành Thật Luận Trang 503 Tuệ Quang Foundation
Giác hỷ, là người đó từ định pháp nầy tâm sinh đại hoan hỷ,
trước kia tuy có hoan hỷ nhưng không bằng, bấy giờ gọi là giác
hỷ.
Giác lạc, là từ hỷ sinh lạc. Bởi vì sao ? Vì nếu tâm được hoan
hỷ thì thân điều hòa thỏa thích, thân điều điều hòa thỏa thích là
được an vui khoan khoái. Như trong kinh nói : Tâm hoan hỷ nên
thân khoan khoái, thân khoan khoái thì cảm thụ vui.
Giác tâm hành, là hành giả thấy tội lỗi của hỷ là vì có thể
sinh tham. Tham là hành vi của tâm, do tâm khởi, cho nên trong
thụ sinh tham, cho nên thấy thụ là hành vi của tâm.
Trừ tâm hành, là hành giả thấy lỗi do thụ sinh tham. Trừ diệt
thì tâm yên ổn, cũng trừ diệt thô thụ nữa nên nói trừ tâm hành.
Giác tâm, là hành giả trừ mùi vị của cảm thụ nên thấy tâm
tịch diệt không chìm không động. Tâm này có khi lặn chìm, bây
giờ khiến hỷ. Nếu tâm lại nổi động thì bấy giờ khiến nhiếp giữ.
Nếu lìa được 2 pháp nầy, bấy giờ nên xả, cho nên nói khiến tâm
giải thoát. Hành giả như vậy tâm tịch định nên sinh vô thường
hành. Nhờ vô thường hành dứt các phiền não, gọi là dứt hành. Dứt
phiền não nên tâm chán lìa gọi là ly hành. Vì tâm lìa nên được
được tất cả diệt, gọi là diệt hành. Như vậy thứ lớp được giải thoát,
nên mới gọi là 16 hạnh nghĩ nhớ hơi thở ra vào.
Hỏi : Vì sao nghĩ nhớ thở ra vào gọi là Thánh hạnh, Thiên
hạnh, Phạm hạnh, học hanh, vô học hạnh ư ?
Đáp : Gió vận hành trong hư không, tướng hư không có thể
mau mở đường cho tướng hoại. Tướng hoại tức là trống không.
Không tức là Thánh hạnh, cho nên gọi là Thánh hạnh. Vì muốn
sinh về cõi tịnh thiên nên gọi là thiên hạnh. Vì muốn đến tịch diệt,
nên gọi Phạm hạnh. Vì muốn học pháp nên gọi là học hạnh. Vì
đến bậc vô học, nên gọi là vô học hạnh.
Hỏi : Nếu quán bất tịnh rất chán lìa thân, chóng được giải
thoát, cần gì tu 16 pháp hạnh nầy ư ?
Thành Thật Luận Trang 504 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tu bất tịnh quán chưa được lìa dục, tự chán ghét thân
tâm thì sinh mê muội, như uống thuốc quá liều thì lại gây thêm
bệnh. Như vậy bất tịnh ưa sinh chán ghét. Như các Tì-kheo tu
quán bất tịnh bên bờ sông Bạt-cầu-mạt, nên rất sinh chán ghét, bởi
đó mà gây ra các việc như uống thuốc độc, nhào đầu từ trên cao tự
sát v.v.... Hạnh nầy không như vậy. Có thể được lìa dục mà không
sinh chán ghét, nên gọi là thắng.
Lại hạnh nầy dễ được, duyên tự thân nên bất tịnh dễ mất.
Lại hạnh nầy vi tế, vì có thể tự hoại thân, bất tịnh hạnh thô
kịch, khó hoại tướng xương.
Lại hạnh nầy có thể phá tất cả phiền não, bất tịnh chỉ phá
dâm dục. Bởi vì sao ? Vì tất cả phiền não đều do giác sinh, nghĩ
nhớ hơi thở ra vào để dứt các giác.
Hỏi : Hơi thở ra vào là thuộc thân hay thuộc tâm ?
Đáp : Cũng thuộc thân, cũng thuộc tâm. Bởi vì sao ? Vì ở
trong thai không có, nên biết do thân, nếu đệ tứ thiền v.v..., và
những người vô tâm không có nên biết do tâm.
Hỏi : Thở không cố ý khởi, không nên do tâm. Bởi vì sao ?
Hơi thở này không do ý khởi như tâm nghĩ các việc khác. Hơi thở
thường ra vào, như thức ăn vào bụng tự tiêu, như bóng tự di
chuyển theo hình, không phải người làm ?
Đáp : Thở không do cố ý khởi, không do nghĩ nhớ, chỉ do
các duyên hòa hợp mà khởi. Nếu có tâm thì có, mà không tâm là
không, cho nên biết do tâm.
Lại tùy theo tâm mà có sai khác. Thô tâm thì ngắn, tế tâm thì
dài.
Lại thở ra vào còn do cõi do tâm. Nếu ở tại cõi thở ra vào,
cũng có cõi tâm thở ra vào, bấy giờ thì có thở ra vào. Cõi như là
cõi Dục và Tam thiền. Nếu ở tại cõi thở ra vào, mà không cõi tâm
thở ra vào, và tại vô tâm, bây giờ thì không có. Nếu tại cõi không
thở ra vào, bấy giờ cũng không có.
Thành Thật Luận Trang 505 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Khi khởi thở, thở ra trước hay thở vào trước ?
Đáp : Khi sinh trước ra, khi chết sau vào. Ra vào đệ tứ thiền
cũng như vậy.
Hỏi : Nghĩ nhớ thở ra vào này, sao gọi là đầy đủ ?
Đáp : Hành giả nếu được 16 hạnh nầy, bấy giờ gọi là đầy đủ.
Có luận sư nói : Do 6 nhân duyên nên gọi đầy đủ. Đó là Sổ,
Tùy, Chỉ, Quán, Chuyển, Duyên, Thanh tịnh.
Sổ, là đếm hơi thở ra vào từ 1 đến 10. Có 3 lối đếm : hoặc
bằng, hoặc quá hơn, hoặc giảm bớt. Bằng là 10 thì đếm là 10. Quá
hơn là 11 đếm cho là 10. Giảm bớt là đếm 9 cho là 10.
Tùy, là tâm hành giả theo dõi hơi thở ra vào.
Quán, là hành giả thấy hơi thở luồn trong thân như sợi chỉ
luồn hạt châu.
Chỉ, là khiến tâm trụ theo hơi thở ra vào.
Chuyển, là chuyển thân.
Duyên, là tâm khiến thụ duyên tâm hiện tiền. Tâm pháp cũng
như vậy.
Thanh tịnh, là hành giả lìa tất cả phiền não và các nạn, tâm
được thanh tịnh. Đây không nhất định. Bởi vì sao ? Vì trong các
hạnh nầy không nhất thiết phải cần dùng 2 pháp Số, Tùy, hành giả
chỉ khiến tâm trụ trong hơi thở để dứt các giác. Nếu có thể tu 16
pháp nầy gọi là đầy đủ.
Lại tướng đầy đủ nầy cũng không quyết định, vì chỗ sở hành
của người độn căn đối với người lợi căn là không đầy đủ.
Hỏi : Thở ra vào nầy, vì sao trong kinh nói gọi là ăn ?
Đáp : Nếu thở ra vào ngừng v.v..., thân được khoái lạc như
được ăn thứ ngon, lợi ích hòa thích cho thân thể nên gọi là ăn.
Hỏi : Trong 16 hành nầy, đều phải nhớ thở ra vào luôn sao ?
Đáp : Người nầy gọi là xé rách 5 ấm phương tiện. Nếu xé
rách 5 ấm trừ giả danh rồi, đâu còn dùng nghĩ nhớ hơi thở ra vào
Thành Thật Luận Trang 506 Tuệ Quang Foundation
làm chi nữa ? Đó gọi là thân nhớ. Có 4 pháp nhớ thân nên gọi
thân nhớ.
Hỏi : Nhớ là duyên về quá khứ, thở là hiện tại, mà sao gọi là
nhớ ?
Đáp : Đó là trí phá giả danh, vì nhớ nên mới nói. Các tâm số
pháp thay nhau mà gọi tên như 10 tưởng v.v..., cũng nhớ chỗ sở
hành trước sau, nên gọi là nhớ.
Hỏi : Trong thở dài ngắn v.v... không nói Thánh hành, vì sao
vô hành lại gọi chỗ nhớ ? Trong kinh nói : Nếu hành giả học thở
ra vào, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc khắp thân, hoặc trừ thân hành,
bấy giờ gọi là chỗ nhớ thân ?
Đáp : Đó là phương tiện đạo đầu tiên. Vì muốn tâm thanh
tịnh nên về sau gọi là dứt đạo.
Lại trong đây có vô thường v.v... các hạnh. Chỉ kinh đó
không nói, các kinh khác có nói. Hành giả ở trong thở ra vào quán
thân sinh tướng, diệt tướng, và sinh diệt tướng.
Lại nói quán thân vô thường v.v.... Chỉ trong đệ tứ vô thường
v.v... các hành đầy đủ cho nên nói.
Phẩm 186 : Định nạn
Định nầy, nếu lìa chướng ngại các nạn có thể thành lợi ích
lớn. Định nạn, là như thô hỷ. Như trong kinh nói : Ta sinh thô hỷ
là pháp tâm nạn. Hành giả không nên sinh thô hỷ đó, vì sẽ có các
lỗi tham đắm làm loạn định tâm.
Hỏi : Từ pháp sinh hỷ, làm sao không cho sinh được ?
Đáp : Hành giả nghĩ nhớ trống không thì không sinh hỷ. Vì
tưởng có chúng sinh nên mới sinh hỷ, chứ 5 ấm trống rỗng không
có chúng sinh thì làm sao có hỷ ?
Lại hành giả nên khởi nghĩ như vầy : Vì nhân duyên nên có
các pháp sinh, nghĩa là ánh sáng v.v..., trong đó có gì đáng vui
mừng ư ?
Thành Thật Luận Trang 507 Tuệ Quang Foundation
Lại hành giả thấy pháp được hỷ đều liền bại hoại, thì thô hỷ
diệt.
Lại hành giả lại còn cầu việc lớn, không dùng ánh sáng v.v...
các pháp làm gì, cho nên không sinh hỷ.
Lại hành giả vì thấy tướng diệt là lợi, nên không cho ánh
sáng v.v... các tướng là đáng vui mừng.
Lại hành giả nầy tu tập tịch diệt để muốn dứt hết phiền não,
nên không sinh hỷ. Bởi các duyên nầy nên có thể diệt được thô
hỷ.
Lại có định nạn khiếp sợ. Hành giả thấy duyên đáng sợ nên
sinh sợ hãi. Thế gian có bao nhiêu điều đáng sợ hãi hành giả đều
thấy hết. Đối với những việc đó đều phải nghĩ kỹ vô thường bại
hoại, không nên tùy theo nó. Bởi vì sao ? Vì trong pháp tọa thiền
có thấy những nhân duyên nầy là việc có thể sợ, không nên vì đó
mà sinh khiếp sợ, vì việc đó đều hư vọng trống không, như ảo
thuật có thể gạt người phàm chứ không phải chân thật. Suy nghĩ
như vây là lìa được sợ hãi.
Lại nương không pháp thì không sợ hãi.
Lại khởi ý nghĩ như vầy : Do sức ta tu nên mới cảm hiện
tướng lạ nầy, không nên khiếp sợ.
Lại tự nghĩ thân có các công đức trì giới đa văn đầy đủ,
không nhân duyên nào có thể gia hại ta được, nên không khiếp sợ.
Lại hành giả nầy vì vui đạo sâu sắc, nên không tiếc thân
mạng, nào còn sợ gì nữa ?
Lại tâm người nầy thường ở trong chính niệm, cho nên việc
khiếp sợ không thể chen vào được.
Lại nghĩ tướng dũng cảm nên không sợ hãi. Sợ hãi là tướng
khiếp nhược. Dùng các pháp như vậy để diệt trừ sợ hãi.
Lại có định nạn không thích hợp, là hành giả có bệnh nóng
lạnh v.v..., hoặc các nhân duyên mệt mỏi mất ngủ khiến thân thể
không điều hòa thích hợp, hoặc có các phiền não tham buồn ganh
Thành Thật Luận Trang 508 Tuệ Quang Foundation
ghét v.v... khiến tâm không điều hòa thích hợp, nên mất thiền
định. Cho nên hành giả phải tự lo giữ gìn thân tâm cho được điều
hòa thích hợp.
Lại có định nạn dị tướng, là như tướng nhơ bẩn, và cũng có
tướng không không phải nhơ bẩn nhưng có thể làm loạn thiền
định, như tướng bố thí v.v....
Lại có định nạn không bình đẳng, là như tinh tiến, hoặc mau
hoặc chậm. Mau thì thân tâm mỏi mệt, chậm thì không lấy được
định tướng, đều thoái lui mất định, như bắt chim, gấp thì mỏi mệt,
hoãn thì bay mất.
Lại như chỉnh dây đàn, nếu căng hoặc chùng đều không
thành tiếng.
Lại tinh tiến nếu mau thì khó rốt ráo. Như Phật bảo A-na-luật
rằng : Ông tinh tiến quá sau ắt sẽ trễ nải. Bởi vì sao ? Vì nếu quá
tinh tiến thì việc không thành trở lại biếng nhác, mà tinh tiến nếu
chậm việc cũng không xong. Cho nên không bình thường cũng
gọi là định nạn.
Lại có định nạn vô niệm, là không nghĩ pháp thiện, dù có
nghĩ pháp thiện lại không phải chỗ sở thụ.
Lại không nghĩ định tướng mà nghĩ ngoại sắc. Đó gọi là
không nghĩ nhớ. Hành giả nên nhất tâm tinh tiến nghĩ nhớ pháp đã
thụ như tay bưng bát dầu đầy.
Lại có định nạn điên đảo, là người nhiều tâm dục chịu tu
pháp tâm từ, người nhiều giận dữ tu tập pháp bất tịnh. Hai hạng
người trên quán 12 nhân duyên.
Lại trong tâm chìm mà tu chỉ, trong tâm động mà tu tinh tiến,
trong 2 tâm này mà tu xả, đó gọi là điên đảo.
Lại có định nạn nhiều lời, nghĩa là nhiều giác quán. Giác
quán là nhân của ngôn ngữ. Lại vì tâm không lạc trụ, bắt buộc ở
tại cảnh duyên.
Thành Thật Luận Trang 509 Tuệ Quang Foundation
Lại có định nạn không lấy tướng. Có 3 thứ tướng là chỉ
tướng, tiến tướng và xả tướng.
Lại có 3 tướng nữa là nhập định tướng, trụ tướng và khởi
tướng. Hành giả không rành phân biệt các tướng như vậy, nên mất
thiền định.
Lại có mạn định nạn, là như nói ta đây vào định được, mà
người kia không vào được, gọi là kiêu mạn. Hoặc nói người kia có
thể mà ta không thể, gọi là bất như mạn. Hoặc chưa được định mà
tự bảo đã được, là tăng thượng mạn. Đối với định không vi diệu
mà sinh tưởng cho là vi diệu, gọi là tà mạn.
Lại pháp tham v.v... cũng gọi định nạn. Như trong kinh nói :
Nếu hành giả một pháp thành tựu thì không thể quán mắt vô
thường. Đó gọi là tham.
Hỏi : Tất cả những người chưa lìa dục, đều không thể quán
mắt vô thường sao ?
Đáp : Lời đó có chút lỗi. Phải nói hiện tại khởi tham không
thể quán mắt vô thường.
Lại trong thành tựu có sai khác. Có người tham v.v... dày
nặng thường đến với tâm, thì hay chướng định, hoặc mỏng mà
không thường xuyên, thì không thể làm chướng nạn.
Lại trong kinh nói 13 pháp ác đều gọi là định nạn, 13 bạch
pháp đều là thuận định.
Như Phật nói : Nếu không dứt 3 pháp thì độ được già, bệnh,
chết. Đó là tham, nhuế, si. Nếu không dứt 3 pháp đó thì không thể
dứt tham, nhuế, si là thân kiến, giới lấy, nghi.
Lại có 3 pháp là tà niệm, tà hành, tâm chìm.
Lại có 3 pháp là nhớ quấy, bất an, tuệ loạn tâm.
Lại có 3 pháp là điệu hý, không giữ các căn, phá giới.
Lại có 3 pháp là bất tín, tà giới, biếng nhác.
Lại có 3 pháp là không ưa người thiện, ghét nghe chính pháp,
ưa xoi bói lỗi người.
Thành Thật Luận Trang 510 Tuệ Quang Foundation
Lại có 3 pháp là không cung kính, khó trao đổi giải bày, tập
theo ác tri thức. Nếu không dứt 3 pháp thì không dứt được sự
không cung kính, khó trao đổi giải bày, ác tri thức, nghĩa là không
hổ, không thẹn, phóng túng. Nếu dứt được sự không hổ, không
thẹn, phóng túng thì dứt được sự không cung kính, khó trao đổi
giải bày, quen tập theo ác tri thức, cho đến dứt được thân kiến,
giới thủ, nghi, thì dứt được tham, nhuế, si độ thoát già, bệnh, chết.
Trong đây độ thoát già, bệnh chết là Niết-bàn vô dư. Dứt
tham, nhuế, si là quả A-la-hán Nê-hoàn hữu dư. Dứt thân kiến,
giới thủ, nghi, là 3 quả Sa-môn. Dứt tà niệm, tà hành, tâm chìm là
ở trong noãn v.v... đạt phần thiện căn. Dứt nghĩ nhớ sai quấy,
không an tuệ, loạn tâm là tu 4 ức niệm xứ. Dứt điệu hý không giữ
các căn phá giới, là thụ giới xuất gia. Dứt sự không ưa người
thiện, ghét nghe chính pháp, ưa xoi bói lỗi người, không tin tà
giới, biếng nhác, không cung kinh, khó trao đối giải bày, quen tập
theo ác tri thức, không hổ, không thẹn, phóng túng, là tại gia
thanh tịnh.
Bởi vì sao ? Vì nếu người ở một mình làm ác mà không biết
xấu hổ, gọi là không hổ, người nầy về sau tâm ác tăng dần, ở giữa
chúng mà làm ác cũng không chút liêm sỉ, gọi là không thẹn. Mất
gốc pháp thiện của 2 bạch pháp nầy nên thường đuổi theo pháp ác
gọi là phóng túng. Bởi thành tựu 3 ác pháp nầy nên không chịu
vâng lãnh những lời giáo huấn của các bậc sư trưởng tôn quí, gọi
là không cung kính. Chống trả lời thầy dạy, gọi là khó trao đối
giải bày. Như vậy xa lìa sư trưởng, gần gũi người ác gọi là tập
quen theo ác tri thức.
Trong đây, từ chỗ không hổ sinh không cung kính, từ không
thẹn sinh khó trao đổi giải bày, từ phóng túng sinh quen tập theo
ác tri thức. Cho nên sinh bất tín mà thụ pháp tà giới, thường biếng
nhác, gần gũi người ác, được dạy cho điều bất tín, rằng làm ác
không có báo. Hoặc nghe nói làm ác bị quả báo, liền thụ hành giới
Thành Thật Luận Trang 511 Tuệ Quang Foundation
pháp gà, chó v.v..., mong chóng hết tội. Thụ hành giới pháp nầy
không ngờ có chút lợi lại sinh biếng nhác, vì biếng nhác nên
không ưa người thiện, cho rằng không phải người chân thật làm
chính hạnh. Cũng ghét nghe chính pháp, cho rằng tu chính pháp
đều như tà pháp không được lợi ích gì. Bởi tâm vẩn đục nên ưa
xoi bói lỗi người, cho rằng pháp người kia làm cũng như mình
đều không được gì cả. Như vậy không chế ngự được phiền não
nên tâm hý điệu. Vì hý điệu nên không nhiếp hộ các căn thì có thể
phá giới, vì phá giới nên sinh nghĩ nhớ sai quấy, mà hành không
an tuệ tâm chí tán loạn liền sinh tà niệm. Sinh tà niệm nên liền tu
tà đạo. Khi tu tà đạo không được lợi ích, nên tâm mê mờ. Tâm
không sáng suốt, nên không dứt được 3 kết. Không dứt 3 kết, nên
không dứt được tham v.v... các bệnh phiền não ... các suy kém.
Trái với những thứ kể trên thì gọi là bạch pháp tức là pháp
thanh tịnh.
Lại có định nạn lo rầu, là hành giả sinh ý nghĩ : Ta đã trải
nhiều năm tháng mà không đắc định nên sinh lo rầu.
Lại tham đắm mùi vị hỷ lạc, đó cũng là định nạn.
Lại có định nạn không vui, nghĩa là tuy được chỗ tốt thầy
giỏi v.v… duyên tâm cũng không vui.
Lại tham v.v…các thứ ngăn che, cũng đều gọi là định nạn.
Tóm lại, cho đến áo mặc, ăn uống v.v... các pháp làm tổn
giảm thiện căn, tăng trưởng bất thiện đều gọi là định nạn, tức
những khó khăn trong tu định, cần phải biết rõ, siêng cầu mong
lìa bỏ.
THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 13 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 166 : Nhị thiền
Diệt các giác quán, nội tịnh nhất tâm, không giác không
quán, định sinh hỷ lạc, vào đệ nhị thiền.
Hỏi : Nếu đệ nhị thiền nói diệt giác quán, thì phải biết sơ
thiền chắc có giác quán, như trong nhị thiền có hỷ, và tam thiền
nói diệt hỷ ?
Đáp : Như trong sơ thiền không có khổ căn, cũng nói khổ
căn, đệ nhị thiền diệt cái nầy cũng như vậy.
Hỏi : Trong sơ thiền tuy không khổ căn mà có các thức. Các
thức là chỗ nương của khổ căn. Cho nên nói sơ thiền khổ căn
không diệt ?
Đáp : Trong sơ thiền tuy có các thức, nhưng không phải chỗ
nương của khổ căn.
Hỏi : Tính 5 thức là chỗ nương của khổ căn, vì tính đồng cho
nên nói sơ thiền có khổ ?
Đáp : Nếu như vậy, ưu căn từ tính ý thức sinh, nên phải nói
tất cả chỗ đều có ?
Hỏi : Nay vì sao nói trong nhị thiền khổ căn diệt ?
Đáp : Sơ thiền gần tâm bất định. Người tâm bất định hay
sinh là các thức trói buộc ở cõi Dục, trong đó sinh khổ căn, cho
nên không nói sơ thiền khổ diệt.
Thành Thật Luận Trang 441 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu vậy sơ thiền cũng gần ưu căn. Ưu căn nầy cũng
phải nói như đệ nhị, đệ tam thiền diệt ?
Đáp : Nương dục ưu căn, do nương dục hỷ sinh, được tịnh
thì hỷ, bất tịnh thì hỷ diệt. Cho nên trong sơ thiền không có ưu
căn. Nương bất định sinh khổ căn. Sơ thiền gần tản tâm, nên
không gọi là diệt.
Lại như tam thiền không khổ, mà cũng nói dứt khổ lạc mới
vào tứ thiền. Điều này cũng vậy.
Lại hành giả trong sơ thiền, định chưa đầy đủ, thường bị giác
quán làm loạn, cho nên nói nhị thiền diệt các giác quán.
Nội tịnh là nhị thiền nhiếp tâm sâu, nên tán loạn không vào
được. Vì trong không loạn tâm gọi là nội tịnh. Thể của nhị thiền
nhất tâm này không giác không quán, tức nhất tâm là tâm hành
nhất đạo, cũng gọi là thiền, tức là nội tịnh. Được định sâu nầy nên
giác quán không sinh, không phải như sơ thiền tâm số ở giác
quán, cho nên nói không giác không quán.
Định sinh hỷ lạc là sơ thiền vì lìa nên được hỷ. Trong đây
định thành tựu nên được hỷ, cho nên gọi là định sinh.
Hỏi : Hỷ trong sơ thiền và hỷ trong nhị thiền có gì khác
nhau ?
Đáp : Sơ thiền do diệt ưu nên hỷ. Nhị thiền diệt khổ nên hỷ.
Lại hỷ trong sơ thiền trái với hỷ bất tịnh mà được, hỷ trong nhị
thiền trái với hỷ tịnh mà được. Tuy đều bởi ái nhân duyên nên
được hỷ, mà hỷ sơ thiền yếu ớt.
Hỏi : Nghĩa như vậy là hữu lậu hay vô lậu ?
Đáp : Đều là hữu lậu, vì có ngã tâm là có hỷ.
Hỏi : Vô lậu không có hỷ, điều này không đúng. Trong 7
giác, Phật nói hỷ giác phần. Giác phần chỉ là vô lậu. Cho nên biết
có hỷ vô lậu.
Thành Thật Luận Trang 442 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Người có tâm hỷ, thân được khoan
khoái. Thân khoái thì thụ lạc. Nếu không có hỷ vô lậu thì cũng
không có khoái lạc vô lậu.
Lại Phật thấy chúng Tăng tu sâu pháp thiện thì sinh hoan hỷ.
Cho nên biết có hỷ vô lậu ?
Đáp : Ông lấy 7 giác chứng minh hỷ vô lậu. Điều này không
đúng. Giác phần có 2 thứ : hữu lậu và vô lậu. Như trong kinh nói :
Hành giả khi nghe pháp có thể dứt 5 thứ ngăn che. Tu 7 giác
phần, giác gọi là trí vô học, nếu vì giác tu các pháp bất tịnh v.v... ,
đều gọi là giác phần thì ông nói cũng không nên có khoái vô lậu.
Trước sinh hỷ, sau được vô lậu, nghĩa là như thật tri kiến.
Lại không phải tất cả khoái đều do hỷ sinh, như tam thiền trở
lên không hỷ cũng không khoái.
Lại chúng tôi không nói lìa trí riêng có thụ pháp. Trí vô lậu
nầy mới đến tại tâm, nói là vui, cho nên có vui vô lậu, chỉ không
do hỷ sinh.
Lại trong kinh nói : Trừ bỏ thân tâm thô nặng gọi là khoái.
Khi được vô lậu thân tâm điều hòa cho nên có khoái vô lậu. Lại
Phật thường hành tâm xả, cho nên nói Phật có hỷ. Điều này cần
nói rõ.
Lại nếu người không ngã và ngã sở thì không hỷ. Nếu A-lahán
có hỷ, thì cũng có ưu, mà thật không có ưu, nên biết không có
hỷ.
Hỏi : Như sơ thiền nhị thiền có hỷ không ưu, La-hán cũng
vậy, có hỷ không ưu, có lỗi gì không ?
Đáp : Trong các thiền định có ưu, như trong căn nghĩa nói :
Ưu hỷ cho đến cõi Hữu Đảnh, khổ vui tùy thân cho đến tứ thiền.
Lại trong Thú tam thiền nói : Ly hỷ hành xả. Cho nên biết
không có hỷ vô lậu. Nếu có, thì sao nói lìa ?
Lại tâm vô lậu không nên có hỷ. Vì hỷ đều dựa vào giả danh,
tưởng phân biệt.
Thành Thật Luận Trang 443 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu vậy thì sơ thiền nhị thiền không có thụ vô lậu ?
Trong kinh nói : Sơ thiền nhị thiền chỉ có hỷ, chưa có tâm lạc. Hỷ
nầy cũng không do đâu mà có ?
Đáp : Hỷ nầy và lìa hỷ nầy không nói là thiền vô lậu. Mà lại
có kinh nói là thiền vô lậu. Như là hành giả do tướng nào, duyên
nào, vào sơ thiền, không nghĩ tướng đó, duyên đó, chỉ quán trong
sơ thiền có bao nhiêu sắc, thụ, tưởng, hành và thức, đều như bệnh
hoạn như ung nhọt, cho đến vô ngã.
Hỏi : Như bệnh hoạn, như ung nhọt, như tên bắn đau nhức, 4
điều nầy là thế gian hành, không phải vô lậu. Cho nên ông đem
kinh đó để chứng minh, không thể thành lập được vô lậu ?
Đáp : Bốn hành nầy đều là tên khác của khổ, nên gọi vô lậu.
Hỏi : Học nhân cũng không có hỷ vô lậu sao ?
Đáp : Nếu tâm tại đạo, thì bấy giờ không có hỷ, mà tại tục thì
có. Bậc vô học thường không có.
Hỏi : Trong kinh nói nhờ tâm hỷ lạc có thể được 4 đế. Sao
nói không có hỷ vô lậu ?
Đáp : Tâm vô ngã tức là lạc. Hành giả được tâm vô ngã, phá
hoại điên đảo, biết chân thật nên tâm được khoái lạc chứ không
riêng có hỷ.
Lại kinh nầy nói rõ không dùng hỷ mà có thể được thật trí,
nên mới nói như vậy.
Phẩm 167 : Tam thiền
Lìa hỷ, tu xả, nhớ nghĩ, an tuệ, thụ thân lạc. Cái lạc nầy
Thánh nhân cũng nói, cũng xả nghĩ nhớ, tu lạc vào đệ tam thiền.
Hỏi : Vì sao lìa hỷ ?
Đáp : Hành giả thấy hỷ có thể trôi nổi lên lìa.
Lại hỷ này do tưởng phân biệt sinh. Tướng động chuyển của
hỷ từ đầu đến giờ khổ thường đeo bám, cho nên lìa.
Lại hành giả được tịch diệt tam thiền nên xả nhị thiền.
Thành Thật Luận Trang 444 Tuệ Quang Foundation
Lại từ hỷ sinh lạc thì cạn, mà lìa hỷ sinh lạc thì sâu, như
người đối với vợ con v.v... không thể thường hỷ. Vì hỷ từ tưởng
phân biệt sin, còn lạc không từ tưởng phân biệt sinh nên có thể
thường có. Hành giả cũng vậy, hỷ mới đến thì lấy làm vui, sau thì
chán lìa.
Hỏi : Như người bị nóng bức, thì cho lạnh là vui. Hành giả vì
khổ nào đó bức bách, nên lấy tam thiền làm vui ?
Đáp : Trong nhị thiền, hỷ là tướng phát động, như gai góc,
hành giả bị hỷ nầy bức bách, nên ở trong định không có hỷ sinh
tâm vui.
Hỏi : Tùy có khổ nóng thì lấy lạnh làm vui, nếu được lìa
nóng thì lạnh không vui. Hành giả, nếu đã lìa hỷ, vì sao trong tam
thiền còn sinh tâm vui ?
Đáp : Sinh vui có 2 thứ : Hoặc bởi còn khổ, như có khổ nóng
thì lấy lạnh làm vui, hoặc bởi lìa khổ, như lìa người oán ghét. Như
Phật lìa Tì-kheo Câu-xá-di nói : Ta an vui. Điều này cũng vậy,
được lìa động tướng nên trong tam thiền sinh vui, như lìa 5 dục
nên lấy sơ thiền làm vui.
Tu xả là vì lìa hỷ nên tâm được tịch diệt. Hành giả trước kia
sâu đắm tâm hỷ, nhiều tán-loạn. Nay được lìa nên tâm đó được
tịch diệt, cho nên nói tu xả.
Nhớ nghĩ, an tuệ là đối với lỗi trong hỷ, 2 pháp nầy thường
sẵn sàng không cho hỷ đến phá rối.
Lại nhớ nghĩ là nhớ nghĩ hỷ, an tuệ, thấy lỗi trong hỷ.
Thụ thân vui là lìa hỷ, tu xả. Xả tức là vui, vì không vọng
động tìm cầu. Cái vui nầy không do tưởng phân biệt sinh, nên gọi
là thân thụ vui.
Thánh nhân cũng nói cũng xả, nghĩa là nói là tùy theo người
đời, nên nói gọi là vui. Như nói tâm phi tưởng phi phi tưởng xứ
không tham đắm nên xả.
Thành Thật Luận Trang 445 Tuệ Quang Foundation
Nghĩ nhớ tu vui, là người nầy biết xả, nghĩa là thấy lỗi của
hỷ mà sinh chán lìa, nên được cái xả vi diệu.
Lại nghĩ nhớ cũng vi diệu, nghĩa là có thể nhớ lỗi của hỷ.
Trong đó cũng nên nói an tuệ với nghĩ đồng hành nên không nói
riêng.
Lạc, là vui đệ nhất. Cho nên Thánh nhân cũng nói cũng xả.
Hỏi : Trong tam thiền có thụ vui, vì sao nói xả vui ?
Đáp : Trong luận này tôi không nói lìa thụ riêng có xả vui.
Thụ vui tức là xả vui.
Hỏi : Nếu vậy trong đệ tứ thiền nên nói thụ vui, vì có xả ?
Đáp : Tôi nói tứ thiền cũng có thụ vui chỉ vì diệt vui đệ tam
thiền nên nói như vậy.
Hỏi : Nếu đều là thụ vui, vì sao sơ thiền nhị thiền gọi hỷ, mà
tam thiền gọi lạc ?
Đáp : Vì tưởng phân biệt nên gọi hỷ, không tưởng phân biệt
nên gọi lạc. Hành giả trong đệ tam thiền tâm chuyển nhiếp nên
không có tưởng phân biệt nên gọi là lạc.
Lại vì được tịch diệt tam thiền chuyển sâu nên gọi là lạc.
Như nói tâm động tìm cầu Thánh nhân gọi đó là khổ. Động là
phân biệt, nói đây là lạc.
Phẩm 168 : Tứ thiền
Dứt trừ khổ, vui, trước diệt ưu, hỷ, không khổ không vui, xả
niệm thanh tịnh vào đệ tứ thiền.
Hỏi : Nếu trước dứt khổ, vì sao ở trong đây mới nói ? Nếu
quyết muốn nói nên nói trước dứt, như trước diệt ưu hỷ ?
Đáp : Tứ thiền gọi là bất động. Vì muốn thành tướng bất
động nầy nên mới nói không 4 thứ thụ. Bởi vì sao ? Vì động là
phát động. Hành giả bị khổ vui xâm lấn thì tâm động. Tâm động
thì sinh tham giận, nên phải dứt khổ vui, khiến tâm không động.
Thành Thật Luận Trang 446 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu đệ tứ thiền thụ lợi ích rất lớn, Vì sao không gọi là
vui ?
Đáp : Thụ nầy tịch diệt, nên nói không khổ không vui. Tùy
tâm niệm biết đây là vui thì gọi là vui. Được đệ tứ thiền lìa vui
tam thiền, nên không cho là vui.
Xả niệm thanh tịnh là trong đây xả thanh tịnh, vì không cầu.
Tam thiền có cầu, cho đó là vui.
Lại trong thiền nầy niệm cũng thanh tịnh. Bởi vì sao ? Vì
trong tam thiền đắm vui nên nghĩ nhớ tán loạn. Đến Tứ thiền vì
dứt tham vui, nên nghĩ nhớ thanh tịnh.
Hỏi : Vì sao tứ thiền không nói an tuệ ?
Đáp : Nếu nghĩ nhớ thanh tịnh, phải biết là đã nói an tuệ rồi,
vì 2 pháp này không lìa nhau.
Lại đây là đạo thiền định, không phải đạo trí tuệ. An tuệ là
tuệ, nên không nói. Trong phần sau của đệ tam thiền cũng không
nói an tuệ, chỉ nói vui hành xả nghĩ nhớ, mà không nói vui hành
xả niệm tuệ.
Lại nghĩ nhớ nầy có thể thành thiền định, nếu người khi định
chưa thành cần phải lấy tưởng nghĩ nhớ là có thể thành, vì vậy
được nói riêng.
Lại được thượng công đức, xả hạ công đức, không cần suy
nghĩ, nên không nói tuệ.
Hỏi : Thụ không khổ không vui là vô minh phần, trong Tứ
thiền phần nhiều trái nhau với tuệ, nên không nói tuệ ?
Đáp : Nếu vậy, thụ không khổ không vui lẽ ra không phải là
vô lậu ? Thụ vui là tham phần cho nên cũng không vô lậu.
Hỏi : Trong tam thiền vì lỗi trái với tự địa nên nói an tuệ, vì
trái với lỗi tha địa nên nói nghĩ nhớ. Tứ thiền tự địa không lỗi như
vậy, nên không nói an tuệ ?
Đáp : Tứ thiền cũng có các lỗi tham v.v... nên phải nói an
tuệ, trong đó lỗi tham vi tế khó biết, nên ắt cần phải nói. Trong
Thành Thật Luận Trang 447 Tuệ Quang Foundation
các địa khác cũng nên nói mà không nói. Nên biết phải đáp như
tôi.
Hỏi : Vì sao, tứ thiền diệt hơi thở ra vào ?
Đáp : Hơi thở nương thân tâm. Làm sao biết được ? Tùy khi
tâm yếu, hơi thở cũng yếu. Tứ thiền tâm không động, nên hơi thở
ra vào diệt.
Lại như người mỏi mệt, nếu gánh gánh nặng lên núi thì thở
hơi mạnh, mà khi nghỉ thì hơi thở yếu. Tứ thiền cũng như vậy, vì
không tướng động, tâm ngừng nghỉ, nên hơi thở ra vào diệt. Có
người nói hành giả được tứ thiền, nên bít các lỗ chân lông nơi
thân tứ đại, cho nên hơi thở dứt. Điều này không đúng. Bởi vì sao
? Vì uống ăn mồ hôi chảy khắp cả mình thân, nếu các lỗ chân
lông bít lẽ ra không chảy được ? Mà thật không phải. Nên biết
tâm lực tứ thiền có thể khiến hơi thở diệt.
Hỏi : Trong Tứ thiền không lạc thụ; trong đó làm sao có ái sử
? Vì trong kinh nói trong lạc thụ có ái sử ?
Đáp : Trong đó có tế lạc thụ, chỉ dứt thô lạc, nên mới nói
không khổ không vui, như gió xao ngọn đèn, nếu đèn để trong nhà
kín thì không gọi xao động, trong đó chắc có chút gió nhẹ, nhưng
gió không mạnh nên không động. Tứ thiền cũng vậy. Chắc có
chút vui, nhưng vì dứt khổ vui thô bạo nên gọi không khổ không
vui.
Phẩm 169 : Vô biên hư không xứ
Vượt qua tất cả sắc tướng, diệt tướng hữu đối, không nghĩ tất
cả tướng gì khác, vào vô biên hư không xứ.
Sắc tướng : là tướng sắc, hương, vị và xúc. Vì sao hành giả
phải vượt qua ? Vì trong sắc đó có đối có ngại và các tướng khác
như tiếng chuông trống v.v.... Các tướng nầy là nhiều thứ phiền
não, nhiều thứ nghiệp và nhiều thứ khổ nhân. Vì những lẽ đó nên
phải vượt qua. Nếu qua tất cả sắc tướng thì tướng hữu đối diệt.
Thành Thật Luận Trang 448 Tuệ Quang Foundation
Tướng hữu đối diệt thì không có tướng khác. Trong đây lược bớt
nên không nói qua đây nên đây diệt.
Lại có người nói : Tất cả sắc tướng tức là tướng chỗ y chỉ
của nhãn thức. Tướng hữu đối là tướng chỗ y chỉ của các thức
nhĩ-tỉ-thiệt và thân. Tướng khác là tướng chỗ y chỉ của ý thức.
Điều này không đúng. Bởi vì sao ? Vì nếu nói diệt tướng hữu đối
thì đã thu nhiếp sắc rồi, cần gì nói riêng ?
Lại lìa sắc tướng, đối tướng thì sẽ không riêng có sắc làm
chỗ nương cho ý thức. Cho nên không cần nói riêng dị tướng, mà
nên nói như trước.
Vào vô biên hư không xứ, là hành giả vì sắc tướng bức bách,
mỏi mệt, nên quán hư không vô biên. Bên trong lấy tướng hư
không của mắt, mũi, yết hầu v.v... Bên ngoài lấy tướng hư không
của giếng, hầm, cửa, bộng cây v.v....
Lại quán thân chết bỏ nơi gò mả, lửa cháy tan hết; hoặc chim
thú giành ăn, giòi trùng từ trong đó lúc nhúc bò ra… Cho nên biết
thân nầy trước đã có hư không.
Hỏi : Định hư không nầy lấy gì làm cảnh duyên ?
Đáp : Trước tiên duyên hư không, thành rồi tự duyên các ấm,
cũng duyên các ấm người khác. Bởi vì sao ? Vì lấy bi làm đầu,
khởi nghĩ như vầy : Chúng sinh đáng thương, vì bị sắc tướng làm
bức bách khổ não.
Hỏi : Định nầy duyên chúng sinh nào ?
Đáp : Duyên tất cả chúng sinh.
Hỏi : Hành giả đó đã lìa sắc tướng, làm sao có thể duyên sắc
chúng sinh cõi Dục được ?
Đáp : Hành giả nầy vẫn duyên sắc. Có điều đối với trong sắc,
tâm không thông suốt, không vui, không đắm. Như trong kinh nói
: Nếu Thánh nhân nghĩ nhớ ngũ dục sâu, trong đó không vui
không thông không đắm, vì sợ lui chìm lại như cháy gân lông.
Thành Thật Luận Trang 449 Tuệ Quang Foundation
Nếu nghĩ Nê-hoàn thì tâm thông suốt. Người nầy cũng vậy, có thể
duyên sắc, nhưng không tham vui.
Lại như hành giả tùy lìa sắc tướng, do hư không có thể duyên
tứ thiền, như vô sắc định có thể duyên vô lậu sắc. Trong đó không
lỗi vì không phải chỗ phân biệt, nên ngoài ra cũng phải như vậy.
Hỏi : Hư không là sắc nhập tính, làm sao duyên đây có thể
vượt qua sắc tướng ?
Đáp : Định nầy duyên hư không vô vi, nên có thể vượt sắc.
Hỏi : Định nầy không duyên hư không vô vi. Bởi vì sao ? Vì
trong phương tiện định nầy nói duyên hư không trong mắt v.v....
Nên biết duyên hư không hữu vi.
Lại trong kinh không nói tướng hư không vô vi chỉ nói tướng
hư không hữu vi, như vô sắc xứ là hư không. Cho nên không có
hư không vô vi ?
Đáp : Sắc tính không gọi hư không. Bởi vì sao ? Trong kinh
nói : Hư không không sắc không thể thấy, không thể đối.
Hỏi : Lại có kinh khác nói : Nhờ sáng biết hư không. Trừ sắc
không có pháp nào nhờ sáng có thể biết ?
Đáp : Vô sắc gọi là hư không; các sắc do sáng có thể biết.
Cho nên cũng nhờ sáng thì biết không có sắc, không phải có hư
không.
Lại trong tối cũng biết hư không, người mù dùng tay cũng
biết hư không.
Lại dùng gậy cũng biết đó là hư không. Cho nên biết hư
không không phải sắc tính. Sắc không nhờ các nhân duyên nầy
mà biết được.
Lại sắc là hữu đối, hư không là vô đối.
Lại dùng lửa v.v... có thể diệt hết sắc, mà không thể diệt hư
không. Nếu hư không diệt lại gọi là pháp gì ?
Hỏi : Nếu có sắc sinh thì hư không diệt, như khởi xây tường
vách thì trong đó không còn hư không ?
Thành Thật Luận Trang 450 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Sắc sinh trong đó, sắc ấy hoàn toàn không bị diệt. Bởi
vì sao ? Sắc không gọi là hư không. Pháp không có, không thể lại
không có nữa. Cho nên sắc không diệt hư không.
Lại ông nói hư không là sắc. Trong đó không có lý do có thể
khiến là sắc.
Hỏi : Hiện thấy hư không trong cửa v.v..., trong việc hiện
thấy không cần lý do ?
Đáp : Hư không không hiện thấy được. Như trước đã phá rồi,
như trong tối cũng có thể biết v.v....
Hỏi : Nếu hư không không phải sắc, vậy là pháp gì ?
Đáp : Hư không gọi là vô pháp. Những chỗ không có sắc gọi
là hư không.
Hỏi : Trong kinh nói : Do 6 thứ nên chúng sinh thụ thân.
Lại nói hư không là vô sắc vô đối, không thể thấy. Nếu vô
pháp, thì không được nói như vậy. Không ai nói sừng thỏ gọi là
vô sắc vô đối không thể thấy ?
Đáp : Nếu thật có pháp thì đều có chỗ sở y, như danh y vào
sắc, sắc lại y vào danh. Hư không không y vào đâu nên biết là vô
pháp.
Cái ông là không đó cũng không đúng. Bởi vì sao ? Vì sắc
ngăn ngại sắc, sắc nầy được, sắc khác mất, nên được tăng thêm.
Vì nghĩa nầy nên Phật nói do 6 thứ chúng sinh thụ thân.
Ông nói hư không vô sắc, vô hình, vô đối. Cũng vì phá các
vật, nên mới nói như vậy, chứ không nói có tướng hư không.
Ông nói không có ai nói sừng thỏ là vô sắc, vô đối, không
thể thấy. Đó cũng không đúng. Bởi vì sao ? Vì đều do hư không
được có những việc sở tác khứ lai v.v.... Trong sừng thỏ v.v...
không có nghĩa như vậy.
Hỏi : Tâm cũng như vậy. Vô sắc, vô hình, vô đối có thể nói
không được chăng ?
Thành Thật Luận Trang 451 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tâm có tác nghiệp, nghĩa là có thể lấy cảnh duyên, hư
không không tác nghiệp, chỉ vì không, nên được có chỗ tác dụng.
Cho nên biết vô pháp, vì vậy định nầy trước tiên duyên hư không.
Hỏi : Định nầy có thể duyên bậc nào ?
Đáp : Định này duyên tất cả bậc, và duyên diệt đạo nữa.
Hỏi : Có người nói các vô sắc định tuy có thể duyên diệt,
nhưng chỉ duyên tỷ trí phần diệt, không duyên hiện trí phần diệt.
Việc đó thế nào ?
Đáp : Duyên tất cả diệt, dùng hiện pháp trí duyên diệt tự địa
hiện tại, dùng tỷ trí duyên các diệt khác. Đạo cũng như vậy, có thể
duyên tất cả pháp.
Hỏi : Chúng sinh cõi Vô sắc có thể khởi tâm các địa không ?
Đáp : Có thể khởi tâm các địa và tâm vô lậu.
Hỏi : Nếu vậy làm sao không chìm ?
Đáp : Trụ trong nghiệp quả báo nên có thể không chìm, như
sức thần thông trong 2 cõi Dục và Sắc. Trụ sắc khác tâm khác mà
có thể không chìm. Trong đó cũng vậy.
Hỏi: Vô biên hư không định, cùng hư không xứ nhất thiết xứ
có gì khác nhau ?
Đáp : Muốn vào hư không định phương tiện đạo gọi là nhất
thiết. Vào định thành rồi gọi là hư không định. Trong đây nhân
quả của định là bậc và tất cả hữu lậu vô lậu, hoặc định hoặc phi
định, hoặc cấu hoặc tịnh đều gọi là vô biên hư không xứ.
Phẩm 170 : Ba Vô sắc định
Qua tất cả vô biên hư không xứ, mới vào vô biên thức xứ.
Hành giả rất chán sắc, nên cũng bỏ luôn pháp đối trị sắc, như
người đã qua sông bỏ luôn cả thuyền mà đi, như được ra khỏi giặc
muốn bỏ đi cho xa. Hành giả cũng vậy, tuy nhờ không phá sắc,
cũng muốn bỏ không mà đi xa.
Thành Thật Luận Trang 452 Tuệ Quang Foundation
Vô biên thức, là hành giả dùng thức có thể duyên hư không
vô biên, thì thức cũng vô biên. Cho nên bỏ không duyên thức.
Lại như sắc vì mỏi mệt nên duyên hư không. Như vậy bị hư
không làm mỏi mệt, muốn ngăn dứt nên mới duyên nơi thức.
Lại người nầy dùng thức có thể duyên hư không vì cho thức
là thắng, nên chỉ duyên thức. Hành giả dùng thức tùy duyên tùy
lúc, nên sinh mệt nhọc, vô cùng chán lìa, lại muốn phá thức, nên
vào vô sở hữu xứ, nghĩ như vầy : Tùy có thức thì khổ, nếu ta có
thức vô biên, ắt phải có vô biên khổ. Cho nên thu nhiếp tâm
duyên thức. Vì tâm vi tế nên cho là vô sở hữu.
Lại nghĩ như vầy : Vô sở hữu tức là tưởng. Mà tưởng là khổ
não, như tật bệnh, như ung nhọt. Nhưng nếu không tưởng lại là
ngu si nếu ta thấy vô sở hữu tức đó là hữu, nên đối với các tưởng
chưa được giải thoát. Hành giả thấy tưởng là suy nhược, là bênh
hoạn mà vô tưởng là ngu si, tịch diệt là vi diệu, đó là phi tưởng
phi phi tưởng xứ. Phàm phu thường e sợ vô tưởng, vì cho là ngu
si, cho nên rốt cuộc không thể diệt tâm.
Có người nói chúng sinh vô tưởng cũng có thể diệt tâm. Điều
này không đúng. Bởi vì sao ? Vì nếu những người trong cõi Sắc
có thể diệt tâm, thì trong cõi Vô sắc sao lại không thể ?
Hỏi : Cõi Sắc có sắc nên có thể diệt tâm. Trong cõi Vô sắc
trước đã diệt sắc nay lại diệt tâm. Nếu thấy sắc tâm đều diệt thì
kinh sợ bàng hoàng ?
Đáp : Nếu người ở trong kia không thể diệt mà sinh về trong
đây thì phải có thể diệt, như diệt tận định.
Hỏi : Quả của diệt tâm là vô tưởng, cho nên nếu diệt cả sắc
lẫn tâm thì mất hẳn ?
Đáp : Diệt tận định cũng có quả hữu tâm. Điều này cũng như
vậy.
Lại nếu quả không dứt cũng gọi trụ ở quả, như ở sắc biến
hóa. Biến hóa trong tâm lại sinh quả, nên không gọi mất hẳn
Thành Thật Luận Trang 453 Tuệ Quang Foundation
được. Cho nên trong cõi Sắc không nên nói diệt tâm. Nếu nói thì
trong cõi Vô sắc cũng cần phải nói.
Lại trong vô tưởng định, tâm không nên diệt. Bởi vì sao ? Vì
hành giả cần chán lìa tâm, nên có thể diệt tâm. Nếu người chán
tâm, còn không sinh trong cõi Vô sắc huống sinh cõi Sắc.
Lại người phàm phu trong tâm sinh ngã tưởng sâu. Như
trong kinh nói : Phàm phu từ lâu tham đắm tâm nầy, cho đó là
ngã. Cho nên không thể có chút chán lìa.
Lại trong kinh nói : Ngoại đạo có thể nói dứt diệt 3 thứ thủ
mà không thể nói dứt ngã ngữ thủ. Cho nên không thể diệt tâm.
Lại nếu biết đúng đắn pháp nhân duyên, có thể được tâm
không. Như trong Kinh Viên Hầu Dụ nói : Phàm phu hoặc có thể
lìa thân, mà không thể lìa tâm. Thà quán thân thường, đừng quán
tâm thường. Bởi vì sao ? Vì mắt thấy thân nầy, hoặc sống còn 10
tuổi cho đến trăm tuổi, như nói hoặc tâm hoặc ý hoặc thức, niệm
niệm sinh diệt biến khác, như vượn khỉ chuyền cây, buông một
nhánh, liền vin một nhánh, không đứng một chỗ. Nếu đệ tử Phật
trong đó quán đúng đắn pháp nhân duyên thì có thể biết vô
thường.
Lại người biết pháp nhân duyên, vì thụ sai khác nên có thể
phân biệt thức. Các ngoại đạo vì không có trí phân biệt nhân
duyên, nên không thể diệt tâm.
Lại người phàm phu lìa sắc mà không lìa tâm nên không
được giải thoát. Nếu cả 2 đều có thể diệt thì sao không được giải
thoát ?
Lại người phàm phu e sợ diệt, nên đối với Nê-hoàn rốt cuộc
không thể sinh tưởng tịch diệt an ổn. Như trong kinh nói : Không
có ngã và không có ngã sở là chỗ phàm phu rất khiếp sợ.
Lại trong vô tưởng sinh tâm ngu si. Nếu đối với Nê-hoàn
không sinh tâm tưởng tịch diệt an ổn, làm sao có thể diệt tâm.
Thành Thật Luận Trang 454 Tuệ Quang Foundation
Lại pháp phàm phu cần nhờ bậc trên, mới có thể xả bậc dưới,
cho nên không có nhân duyên có thể diệt tâm, chỉ nhờ sức định
suy tưởng tỉ mỉ tâm hiện tiền, không hiểu cho nên tự cho là vô
tưởng. Nếu khởi thô tưởng tức thì thoái lui. Như người thiểu trí
gọi là vô trí, như thức ăn ít mặn gọi là không mặn, như mê ngất
xỉu mất nhớ, như loại sâu nằm lâu năm trong lòng đất, như loại cá
nằm trong băng giá. Trong đây nói phi tưởng phi phi tưởng xứ
cũng vậy. Tuy thật có tưởng, nhưng vì tùy theo thế tục, nên nói là
vô tưởng.
Phẩm 171 : Diệt tận định
Qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thân chứng tưởng thụ
diệt.
Hỏi : Vì sao trong các thiền không nói qua tất cả ? Trong vô
sắc định không nói diệt?
Đáp : Tôi nói trong các thiền định đều có các pháp giác quán
hỷ lạc, cho nên không nói qua tất cả.
Hỏi : Vô biên hư không xứ có sắc tâm. Điều này đã rõ, nên
trong Vô sắc cũng không nên nói qua tất cả ?
Đáp : Như vào trong vô biên hư không định thoát được sắc
tâm, mà không thoát được các pháp giác quán.
Lại có người nói : Nếu nói qua, diệt, chìm, đều là nghĩa một
mà tên khác.
Lại trong vô sắc định tâm kiên cố. Trong các bậc dưới tâm bị
tán loạn làm hoại, cho nên không nói qua tất cả.
Hỏi : Nếu đều nói có gai góc là sắc tưởng v.v..., sao lại nói
tâm kiên cố ?
Đáp : Tuy đều nói gai góc, nhưng cũng gọi đệ tứ thiền là
không động. Như vậy trong vô sắc định, định lực lớn nên được
kiên cố.
Thành Thật Luận Trang 455 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Học nhân không nên được diệt tận định, vì chưa qua tất
cả phi tưởng phi phi tưởng xứ ?
Đáp : Học nhân có thể thấy tất cả hành diệt của Phi tưởng phi
phi tưởng xứ, nhưng chưa có thể khiến nó không sinh, nên cũng
được nói là qua.
Hỏi : Nếu ý trong đây lấy Nê-hoàn cho là diệt, thì trước ông
nói trong 9 thứ lớp diệt là tâm và tâm số diệt, trái nhau sao ?
Đáp : Diệt định có 2 thứ : một là diệt hết các phiền não, hai
là diệt chưa hết. Người hết phiền não ở trong giải thoát. Người
phiền não chưa hết ở trong thứ lớp.
Lại một là diệt phiền não nên gọi diệt định, hai là diệt tâm,
tâm số, pháp cũng gọi diệt định. Diệt phiền não là giải thoát thứ 8,
cũng gọi là quả A-la-hán. Quả A-la-hán là diệt tất cả tưởng, không
cho sinh lại nữa. Trong đây tuy diệt các tưởng, nhưng còn thừa
kết sử, nên không thể khiến không tái sinh.
Hỏi : Nếu hành giả dùng 9 thứ lớp định có thể diệt tâm thì
Tu-đà-hoàn v.v... làm sao có thể chứng pháp tâm diệt ?
Đáp : Trong 9 thứ lớp diệt gọi là đại diệt. Như người khéo tu
các thiền định, nhờ sức mạnh đạo tâm nên có thể được diệt nầy.
Nếu không sức đó, thì chỉ được có diệt, không thể được đại lực
như vậy, cho nên nói thứ lớp định. Các chỗ khác cũng có tâm diệt,
như trong đệ tứ thiền có thể diệt tâm, tâm số pháp, vào trong vô
tưởng, thì trong Sơ thiền v.v... vì sao không diệt ?
Lại chỗ khác cũng phải có nghĩa diệt tâm, như trong kinh nói
: Tu-đà-hoàn v.v... đều có thể chứng diệt. Chỉ tâm diệt gọi là diệt,
không có pháp nào khác diệt. Cho nên biết lìa 9 bậc này cũng có
tâm diệt.
Hỏi : Nếu diệt tận định có thể diệt tất cả tâm, tâm số pháp, vì
sao chỉ nói tưởng thụ diệt ?
Đáp : Tất cả tâm đều gọi là thụ. Thụ nầy có 2 thứ : một là
tưởng thụ, hai là tuệ thụ. Tưởng thụ là hữu vi duyên tâm, vì tưởng
Thành Thật Luận Trang 456 Tuệ Quang Foundation
hiện hành trong pháp giả danh. Giả danh có 2 thứ : một là do hòa
họp giả danh, hai là pháp giả danh. Cho nên tất cả hữu vi duyên
tâm đều gọi là tưởng. Tuệ thụ là vô vi duyên tâm. Cho nên nếu
nói tưởng thụ diệt là nói tất cả diệt.
Hỏi : Trong tất cả tâm, tâm số pháp, thụ tưởng là hơn cả cho
nên nói riêng. Bởi vì sao ? Vì phiền não có 2 phần : một là ái
phần, hai là kiến phần. Thụ sinh ái phần, tưởng sinh kiến phần.
Lại trong cõi Dục, cõi Sắc thụ thắng hơn, trong cõi Vô sắc
tưởng thắng hơn. Cho nên chỉ có 2 thứ.
Lại trong các thức xứ chỉ nói thụ tưởng. Thức xứ từ tâm khởi
nên gọi là hành.
Lại nếu nói thụ tưởng diệt, thì nói tất cả tâm, tâm số diệt, vì
các tâm số không rời nhau ?
Đáp : Không phải vậy. Ông nói thắng hơn cho nên nói riêng
thì cần phải nói tâm. Bởi vì sao ? Vì trong kinh nhiều chỗ nói tâm
là chủ mà cũng là chỗ nương của 2 phần phiền não. Và cũng vì
tâm sai khác nên gọi là thụ tưởng, cho nên phải nói tâm.
Lại nói tâm thì dễ, cho nên lời ông nói không đúng.
Hỏi : Định nầy vì sao nói thân chứng ?
Đáp : Tám giải thoát đều phải nói thân chứng.
Lại diệt pháp này không phải dùng lời nói mà thấu rõ được,
nên nói thân chứng, như người chạm vào nước mới biết tướng
lạnh, chứ không phải nghe nói mà có thể biết được. Việc này cũng
vậy.
Lại đây là pháp vô tâm, cho nên phải dùng thân chứng ?
Hỏi : Ông nói diệt định là pháp vô tâm. Nghĩa nầy không
đúng. Bởi vì sao ? Vì người vào định nầy là chúng sinh, thế gian
không có chúng sinh vô tâm, cho nên không đúng.
Lại trong kinh nói : Mạng sống, hơi nóng, ý thức, 3 pháp nầy
thường không rời nhau, cho nên không diệt tâm.
Thành Thật Luận Trang 457 Tuệ Quang Foundation
Lại tất cả chúng sinh đều nhờ 4 lối ăn mới được sống còn.
Mà người vào diệt tận định thì không còn các lối ăn nầy nữa. Bởi
vì sao ? Vì người này không ăn lối đoàn thực, xúc thức v.v... cũng
đều diệt hết, cho nên không ăn.
Lại tâm từ tâm sinh, nếu tâm nầy diệt, các tâm khác không
sinh, vì không thứ lớp duyên thì hậu tâm làm sao sinh nữa được ?
Lại tâm chỉ nhập Nê-hoàn vô-dư, khi dứt tương tục mới diệt,
không phải ở các chỗ khác mà diệt được. Như trong kinh nói :
Lấy sắc vượt qua các dục, lấy vô sắc vượt qua sắc, lấy diệt vượt
qua các tác niệm tư duy. Tâm là tác niệm tư duy, cần phải lấy diệt
mới có thể vượt qua. Được Nê-hoàn hữu dư thì tâm cáu bẩn diệt.
Được Nê-hoàn vô dư thì tâm không cáu bẩn diệt. Đó chính là
nghĩa Phật pháp.
Lại người vào diệt định không gọi là chết. Tâm diệt gọi là
chết. Nếu tâm diệt sinh lại, người chết cũng phải sống lại, vậy thì
rốt cuộc không có chết. Nếu tâm diệt sinh lại, thì người vào Nêhoàn
cũng phải sinh lại, vậy thì rốt cuộc không có giải thoát. Mà
thật không phải như vậy, cho nên tâm không diệt ?
Đáp : Ông nói không có chúng sinh vô tâm. Tuy đồng là vô
tâm, mà khác với người chết. Như trong kinh hỏi rằng : Người
vào diệt tận định với người chết có khác gì không ? Đáp rằng :
Người chết thì sinh mạng, hơi nóng, ý thức 3 thứ đều diệt. Người
vào diệt tận định chỉ tâm diệt, mạng sống và hơi nóng không rời
khỏi thân. Cho nên biết phải có chúng sinh vô tâm.
Lại người này tâm thường còn, vì có sức nên cũng gọi có
tâm, không như gỗ đá.
Ông nói 3 việc không rời nhau, đó là chúng sinh cõi Dục cõi
Sắc, cho nên nói trong cõi Vô sắc có mạng có thức mà không
nóng.
Thành Thật Luận Trang 458 Tuệ Quang Foundation
Lại người vào diệt tận định, có mạng có nóng mà không có
thức, tức trong kinh này cũng nói thức rời thân. Cho nên, nếu nói
3 việc không rời nhau là tùy có chỗ mà nói.
Ông nói không ăn làm sao sống ? Thân này trước dùng ý tư
thực nên tồn tại. Hiện tại dùng lạnh v.v... các xúc nên có thể chi
trì thân.
Ông nói tâm do tâm sinh, đó là tâm làm nhân cho tâm khác.
Làm nhân rồi diệt, cho nên có thể sinh tâm khác.
Hỏi : Tâm diệt làm sao có thể sinh tâm khác ? Như mắt đã
diệt là không thể sinh thức ?
Đáp : Như nghiệp diệt rồi, quả báo mới sinh được. Việc này
cũng vậy.
Lại ý với ý thức 2 việc ngại nhau, mà nhãn cùng nhãn thức
không phải như vậy. Cho nên không phải nhân.
Ông nói khi dứt tương tục thì tâm diệt. Điều này không
đúng. Diệt có 2 thứ là sắc diệt và tâm diệt. Hoặc sắc diệt tâm
không diệt, như trong Vô sắc. Hoặc tâm diệt chẳng phải sắc như
vào diệt định. Hoặc sắc tâm đều diệt, như khi diệt tương tục.
Ông nói vào diệt tận định không gọi là người chết đó. Người
nầy mạng và nóng không diệt, mà người chết 3 thứ đều diệt. Đó là
chỗ khác nhau.
Lại người nầy nhờ mạng và nóng nên tâm có thể sinh lại, mà
người chết thì không phải vậy.
Ông nói nếu diệt tâm lại sinh thì không ai giải thoát. Điều
này không đúng. Bởi vì sao ? Vì người vào Nê-hoàn nghiệp trước
chiụ mạng, nóng, thức đã diệt không đợi sinh lại. người nầy mạng
và nóng không diệt, trước mong tâm sinh, Như trong Phẩm Diệt
tận định nói : Người vào diệt tận định nhờ 6 nhập nầy và thân
mạng nên được khởi lại, cho nên tâm có thể sinh lại. Người vào
Nê-hoàn tâm không sinh lại, nên biết định nầy vô tâm.
Thành Thật Luận Trang 459 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Vì sao bố thí người khởi định nầy có thể được hiện báo
?
Đáp : Người từ định nầy khởi tâm rất tịch diệt. Như trong
kinh nói : Người khởi diệt tận định tâm thuận với Nê-hoàn.
Lại người nầy sức thiền định mạnh, nương định nầy nên trí
tuệ cũng lớn. Trí tuệ lớn, nên có thể làm cho người thí được quả
báo vượt trội. Như người cúng dường trăm ngàn Thanh Văn
không bằng một Phật, trong đó đều lấy trí tuệ làm vượt trội,
không phải ở chỗ dứt các kết. Việc này cũng như vậy.
Lại người vào định nầy do huân tu nhiều pháp thiện nơi tâm,
nên sinh đại quả. Như người làm ruộng giỏi chắc thu hoạch được
nhiều.
Lại người thí có thể chán đời nhiều thì được báo lớn.
Nói người chẳng phải tâm cáu bẩn, là người này không đem tâm
cáu bẩn giả danh cho nên cúng dường được quả lớn.
Lại người nầy thường trụ đệ nhất nghĩa đế, những người
khác ở trong thế đế.
Lại người nầy thường trụ trong pháp không tranh chấp. Bởi
vì sao ? Vì tâm duyên hữu vi thì có tranh tụng.
Lại như trong kinh nói : Cỏ dại làm hại lúa, tham lam dục
vọng hại tâm. Cho nên thí người vô dục được quả báo lớn. Nhân
duyên tham dục là tướng giả danh. Người khởi định nầy vì duyên
Nê-hoàn nên lìa tướng giả danh.
Lại trong kinh nói : Nếu người thụ đàn-việt cúng rồi, vào vô
lượng định, đàn-việt nầy nhờ nhân duyên đó được phúc vô lượng.
Người khởi diệt định duyên tâm Nê-hoàn nên gọi là vô lượng, diệt
định nầy cũng là vô lượng, nên được vô lượng phúc, nên có thể
được hiện báo.
Lại nhờ 8 công đức trang nghiêm phúc điền nầy. Tâm duyên
Nê-hoàn là chân chính kiến, các phúc phần khác tùy tòng, cho nên
có thể sinh hiện báo.
Thành Thật Luận Trang 460 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Có người nói diệt tận định là tâm bất tương ưng hành,
cũng gọi thế gian pháp. Viếc này thế nào ?
Đáp : Như trên đã nói người khởi định nầy có rất nhiều các
công đức tịch diệt v.v... là những công đức mà thế gian không
thể có.
Hỏi : Diệt tận định gọi là pháp ngăn, vì nhờ pháp nầy khiến
tâm không sinh. Cho nên phải gọi tâm bất tương ưng hành, như
sắt vào lửa thì không còn tướng đen, mà rời lửa lại sinh. Việc này
cũng như vậy ?
Đáp : Nếu là vậy, Nê-hoàn cũng phải là tâm bất tương ưng
hành. Bởi vì sao ? Vì bởi Nê-hoàn nên các ấm không sinh. Nếu
Nê-hoàn không phải tâm bất tương ưng hành, thì định này cũng
không được gọi là bất tương ưng hành. Nhưng các người hành giả
thì pháp phải như vậy. Vào trong định nầy tùy theo sở nguyện
nên tâm có thể không sinh. Cho nên không nên gọi là bất tương
ưng hành.
Hỏi : Định nầy thứ lớp như vậy vào, rồi cũng thứ lớp như
vậy ra sao ?
Đáp : Cũng thứ lớp ra, rồi chậm rãi nhập vào thô tâm.
Hỏi : Trong kinh nói : Người mới khởi diệt tận định chạm
vào 3 thứ xúc đó là vô động, vô tướng, vô sở hữu. Vì sao như vậy
?
Đáp : Trong vô vi duyên tâm, có các xúc gọi là vô động, vô
tướng, vô sở hữu. Vô động tức là trống không. Hữu vi duyên tâm,
nhẹ nên có động, như lấy sắc, thụ v.v.... Trong không, không có
tướng. Trong vô tướng không có tham v.v... Người vô tâm nầy
mới bắt đầu duyên Nê-hoàn, sau duyên hữu vi, cho nên mới nói
khi khởi chạm vào 3 thứ xúc.
Hỏi : Có người nói vào diệt tận định tâm là hữu lậu. khởi
định tâm hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Việc đó thế nào ?
Thành Thật Luận Trang 461 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Không phải hữu lậu. Hành giả muốn nhập định nầy
phải phá hoại tất cả hữu vi từ trước. Phá xong mới vào được. Khi
khởi tâm duyên Nê-hoàn hiện tiền. Cho nên biết đều là vô lậu.
Hỏi : Trong kinh nói : Hành giả nhập diệt tận định không tự
nghĩ là mình nhập, khi khởi cũng không tự nghĩ. Nếu vậy làm sao
có thể nhập ?
Đáp : Thường tu tập nên định lực kiên cường, tuy không tự
nghĩ mà có thể nhập được.
Lại hành giả nầy từ khi dứt hữu vi đến nay đã từng vào diệt.
Nếu không ngăn nổi tâm, để cho duyên hữu vi thì không gọi là
nhập. Cho nên kinh nói : Người vào định nầy, trước phải điều tập
tâm. Cho nên có thể vào được.
Hỏi : Nếu không có cái không khác, có thể được tu vô vi
duyên tâm, thì được ích gì ?
Đáp : Vì tu tập đã lâu thì định kiên cố, thấy biết rõ ràng như
tâm duyên hữu vi thấy niệm niệm diệt, cũng không khác niệm
niệm diệt, chỉ tu tập lâu thì tâm kiên cố, Việc này cũng vậy.
Phẩm 172 : Mười nhất thiết xứ
Không phá hỏng duyên trước, tâm lực tự tại, gọi là nhất thiết
xứ. Hành giả lấy một ít tướng rồi, nhờ sức tin hiểu khiến nó thêm
rộng. Bởi vì sao ? Sức nhiếp tâm này nếu vào trong thật, thì đều
có thể khiến trống không, mà vào trong tín giải đều có thể khiến
tùy theo trước đã lấy tướng.
Hỏi : Thế nào là tính tín giải ?
Đáp : Xanh v.v... các màu sắc nhiều vô lượng. Lược nói căn
bản có 4 thứ : là địa v.v... 4 đại. Bốn sắc căn bản có thể phá 8 việc
nầy. Đó là hư không. Vì thức có thể biết vô biên không, nên cũng
gọi là vô biên. Bởi vì sao ? Vì không phải pháp hữu biên có thể
lấy vô biên. Đó gọi là 10.
Thành Thật Luận Trang 462 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong địa thật có thủy v.v..., Vì sao hành giả có thể
quán chỉ là địa ?
Đáp : Tập lâu quán nầy thường lấy địa tướng, về sau chỉ thấy
địa mà không thấy vật gì khác.
Hỏi : Hành giả đã thấy địa tướng thật là địa không ?
Đáp : Vì sức tín giải nên thấy là địa, kỳ thật không phải địa.
Hỏi : Nếu do sức biến hóa mà có, thì vật bị biến hoại không
phải thật sao ?
Đáp : Biến hóa là do sức định mà thành, nên thứ được làm ra
đều thật, như ánh sáng, nước, lửa v.v....
Hỏi : Có luận sư nói vào nhất thiết xứ chỉ ở trong đệ tứ thiền.
Việc đó thế nào ?
Đáp : Nếu ờ cõi Dục và trong tam thiền thì có lỗi gì ? Hai
nhất thiết xứ sau đều ở tự địa. Mười pháp nầy đều là hữu lậu, vì
không phá hoại được cảnh duyên.
Hỏi : Tướng hư không không phá hoại sắc sao ?
Đáp : Hành giả cũng nhờ tín giải lấy không tướng trong mắt
mũi v.v... làm tướng trống không, chứ không thể trực tiếp phá
được thật sắc. Cho nên cũng gọi là tín giải.
Hỏi : Trong kinh nói người vào định nhất thiết địa nghĩ địa
tức là ngã, ngã tức là địa. Vì sao khởi nghĩ như vậy ?
Đáp : Hành giải nhận thấy tâm đầy khắp đầy nên mới sinh ý
nghĩ tất cả là ngã này.
Hỏi : Có người nói định nầy chỉ duyên địa hệ thuộc cõi Dục.
Việc đó thế nào ?
Đáp : Nếu duyên tất cả địa hệ thuộc 2 cõi Dục, Sắc v.v... có
lỗi gì ? Giả sử định nầy lại duyên các pháp khác lại có lỗi gì ?
Lại định này là tín giải quán duyên hư vọng, không có địa
không hư vọng v.v....
Hỏi : Đệ tử Phật cũng quán địa v.v.... Việc đó thế nào ?
Đáp : Học nhân nếu quán đều vì để phá hoại.
Thành Thật Luận Trang 463 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Thật không phải tất cả đều là địa v.v.... Làm sao định
nầy không phải điên đảo ?
Đáp : Trong quán này có phần si, vì trong quán này khởi ngã
kiến. Quán bất tịnh v.v... tuy không phải chân thật, nhưng tùy
thuận ly dục. Quán nầy không như vậy, nên có phần si.
Hỏi : Vì sao không quán thụ v.v... vô biên, mà chỉ quán thức
ư ?
Đáp : Có thể lấy là địa v.v..., lấy là thức. Cho nên thấy thức,
mà không thấy thụ.
Lạị như trước đã nói thụ v.v... đều là sai biệt của tâm.
Lại hành giả không thấy thụ v.v... đầy khắp, vì không phải tất
cả chỗ thụ khổ vui. Đệ tử Phật nếu tu định nầy là vì phá hoại cảnh
duyên. Bởi vì sao ? Vì cảnh duyên đó là chỗ tham đắm của hành
giả. Nếu không phá hoại thì đồng với phàm phu.
Phẩm 173 : Mười tưởng vô thường tưởng
Mười tưởng là vô thường tưởng, khô tưởng, vô ngã tưởng,
thực yểm tưởng, nhất thiết thế gian bất khả lạc tưởng, bất tịnh
tưởng, tử tưởng, dứt tưởng, ly tưởng và diệt tưởng.
Vô thường tưởng là trong pháp vô thường biết chắc là vô
thường.
Hỏi : Vì sao tất cả vô thường ?
Đáp : Tất cả pháp đó đều từ nhân duyên sinh. Nhân duyên
hoại nên đều quy về vô thường.
Hỏi : Không phải vậy. Có pháp tuy từ duyên sinh, mà không
phải vô thường. Như kinh ngoại đạo nói ai lập 3 đền thờ được
sinh về nơi thường còn ?
Lại thân trời Phạm Thế là thường còn ?
Đáp : Thì trong pháp của ông cũng nói Thích Đề Hoàn Nhân
có thể làm trăm ngôi đền cũng bị thoái đọa.
Thành Thật Luận Trang 464 Tuệ Quang Foundation
Lại trong bài kệ nói : Có nhiều các Đế Thích v.v..., tạo lập
hơn trăm ngàn ngôi đền, v.v... đều vô thường hết. Trăm ngàn đền
thờ còn không tồn tại, cho nên biết 3 đền cũng chẳng thường còn !
Lại Thích Đề Hoàn Nhân và các Thiên Vương, thân phần
cũng hết. Cho nên pháp do duyên sinh không gì có thể thường còn
được.
Lại trong pháp của ông lấy sách Vi-đà làm quí. Trong Vi-đà
nói do trí tuệ nên được phép bất tử. Như nói : Thấy sắc mặt trời
đại nhân quá hơn nơi thế tính. Trước tùy thuận ý người nầy, có thể
được đạo bất tử, mà không có đạo nào khác. Tiểu nhân có thần
nhỏ, đại nhân có thần lớn thường ở trong thân. Nếu người nào
không biết tướng thần đó thì dẫu có đọc tụng kinh Vi-đà v.v...
cũng không ích gì. Vì trong pháp của ông nói Phạm Vương cũng
thường thờ tự, trì giới, làm các công đức . Nếu biết thân thường,
cần chi phải làm phúc ?
Lại nghe trong kinh của ông nói các vị Phạm Vương có ác
dâm dục. Nếu có dâm dục ắt có sân v.v... tất cả phiền não. Nếu có
phiền não ắt có tội nghiệp. Như vậy người tội làm sao có thể được
thường giải thoát.
Lại không phải tất cả thần tiên đều thờ trời, cũng không phải
tất cả tu hành theo đạo Phạm Thiên. Nếu đó là thường thì tất cả
phải đều thờ đều tu theo.
Lại tất cả vạn vật v.v... đều vô thường. Bởi vì sao ? Vì nếu
khi đại kiếp tận diệt thì đất nước gió lửa trở lại không còn nữa.
Lại thời gian vần chuyển như bánh xe, nên biết vô thường.
Lại thành tựu giới định tuệ v.v... vô lượng công đức , các vị
Đại Thánh nhân, Phật Định Quang v.v... và Bích-chi-phật, Ma-hatam-
ma-già v.v..., các vị vương kiếp sơ, v.v... đều vô thường thì
đâu có vật gì là thường !
Lại Phật tự nói tất cả sinh pháp đều định tướng vô thường.
Như trong Kinh Ngưu Phấn nói : Phật lấy một ít phân bò cho các
Thành Thật Luận Trang 465 Tuệ Quang Foundation
Tì-kheo xem mà rằng không có sắc gì thường định không biến
đổi. Trong kinh nầy nói rộng quả báo của các vua Thích, Phạm,
Chuyển luân, cũng sẽ hết. Cho nên biết tất cả vô thường.
Lại tất cả tuổi thọ của 3 cõi đều có hạn lượng. Thọ mạng một
kiếp trong địa ngục A-tì bằng thọ mạng nửa kiếp trong địa ngục
Tăng-già-đà. Ngoài ra hoặc nhiều hoặc ít. Loài rồng v.v... tối đa
cũng thọ một kiếp. Ngạ quỷ tối đa thọ 7 vạn năm. Phất-vu-đãi thọ
250 năm. Câu-da-ni thọ 500 năm. Uất-đan-việt định thọ ngàn
năm. Diêm-phù-đề thọ hoặc vô lượng kiếp, hoặc thọ 10 tuổi. Trời
Tứ Thiên Vương thọ 500 năm, cho đến cõi Hữu Đảnh thọ 8 vạn
kiếp. Cho nên biết tất cả 3 cõi đều vô thường.
Lại lấy 3 thứ tín tin biết vô thường. Trong hiện thấy không
có pháp thường còn. Trong lời Thánh nhân đã nói cũng không có
pháp thường còn. Và trong so sánh biết cũng không có thường vì
cần phải trước hiện thấy sau mới so sánh biết.
Lại nếu có chỗ thường, có đâu người trí diệt tất cả pháp để
cầu giải thoát ? Ai không muốn cùng người mình yêu thường ở
cùng nhau chung hưởng khoái lạc ? Mà thật người trí đều cầu giải
thoát. Cho nên biết sinh pháp không thường còn được.
Lại còn phải nói tất cả sinh pháp đều niệm niệm diệt, còn
không tạm ngừng huống chi thường còn được.
Hỏi : Tu tưởng vô thường có thể làm xong việc gì ?
Đáp : Có thể phá phiền não. Như trong kinh nói : Khéo tu vô
thường tưởng, phá được tất cả Dục nhiễm, Sắc nhiễm và Vô sắc
nhiễm, trạo, mạn, vô minh.
Hỏi : Không phải vậy. Tưởng vô thường nầy lại càng tăng
tham dục, như người biết tuổi trẻ không được bao lâu, nên rất
tham đắm dâm dục. Biết hoa đẹp không tươi mãi, thì gấp dùng
cho bằng thích. Biết sắc đẹp kia không phải của mình thường có,
thì càng mau tăng dâm dục. Như vậy tùy theo biết vô thường, mà
Thành Thật Luận Trang 466 Tuệ Quang Foundation
sinh tham đắm. Cho nên tưởng vô thường không thể phá được
tham dục.
Cũng có người vì biết vô thường nên mới làm việc sát hại
v.v.... Và cho đến loài súc sinh đều biết vô thường, mà cũng
không thể phá các phiền não. Cho nên tu tưởng vô thường không
lợi ích gì cả ?
Đáp : Bởi vô thường nên mới sinh khổ ly biệt, khổ vì mất
tuổi xuân xanh, sự an vui, tuổi thọ và sự giàu sang. Người trí do
đó không sinh tâm vui mừng. Không tâm vui mừng nên không
sinh lòng tham. Bởi thụ nên ái. Thụ diệt thì ái cũng diệt theo. Cho
nên biết tưởng vô thường có thể dứt tham dục.
Lại nếu pháp vô thường tức là vô ngã thì hành giả có thể
quán vô thường vô ngã thì không sinh ngã tâm. Không ngã tâm
nên không ngã sở. Ngã và ngã sở không có, thì tham dục cái gì ?
Lại người tu tập vô thường tưởng, đối với thân mình thân
người, thấy diệt chết trong từng mỗi niệm, làm sao sinh tham ?
Lại hành giả sở cầu điều gì đều vô thường bại hoại, tức đã bị
lừa gạt cho nên không sinh tham đắm.
Lại chúng sinh không ưa việc không bền chắc, như người
không thích đồ vật hư cũ. Cũng như một cô gái biết chàng trai nào
đó chỉ sống được không hơn 7 ngày nữa, thì dù là trẻ tuổi, đẹp
trai, sang trọng, có thế lực, cũng chẳng ai màng đến. Người nầy
chính nhờ tưởng vô thường nên không sinh tham đắm.
Lại người trí thường tập tưởng ly biệt, nên không ưa hòa
hợp. Bởi vì sao ? Vì người trí thường lo nghĩ cái khổ thoái lui
v.v.... Cho đến dục lạc cõi trời cũng không sinh tham, chỉ cầu giải
thoát.
Ông nói vô thường làm tăng thêm tham dục, điều này không
đúng. Nếu người chưa dứt ngã mạn, thấy ngoại vật vô thường mới
sinh buồn rầu, vì mất chỗ yêu mến tiếc thương nên sinh tham cầu.
Người phàm phu nầy trừ bỏ dục lạc, lại không biết lìa khổ, giống
Thành Thật Luận Trang 467 Tuệ Quang Foundation
như đứa con nít bị mẹ đánh, trở lại chui vào lòng mẹ. Người trí
biết còn nhân khổ, là còn khổ không thể dứt, nên lìa bỏ nhân khổ,
như 5 ấm.
Lại hành giả nầy xé rách nội ấm, được tâm vô ngã, dù mất
ngoại vật không sinh buồn rầu. Người đó được vô ngã lại cầu tìm
gì nữa. Người tu tưởng vô thường cũng không có gì để cầu.
Lại tưởng vô thường nầy, nếu chưa có thể sinh tưởng khổ, vô
ngã, thì không gọi là đầy đủ có thể phá diệt phiền não. Nên trong
kinh nói : Phải nhất tâm chính quán 5 ấm vô thường. Nếu không
phá hủy nội ấm, thấy ngoại vật vô thường, vì còn có ngã tâm nên
sinh buồn rầu, đó không gọi là chính quán.
Lại người tuy thấy vô thường, mà không sinh chán lìa như kẻ
hàng thịt, thợ săn v.v..., tuy biết vô thường mà không gọi là người
khéo tu tập.
Lại người tuy có thể chính quán mà không thể thường siêng
tu tập thì lòng tham xen lẫn, nên phải nói nhất tâm.
Lại người ít tu vô thường, mà nhiều phiền não thì không thể
phá diệt được, như thuốc ít mà bệnh nhiều. Điều này cũng như
vậy, cho nên mới nói nhất tâm chính quán vô thường có thể phá
phiền não.
Lại biết pháp vô thường, mới gọi là chân trí tuệ, trong chân
trí tuệ không có tham v.v... các phiền não. Bởi vì sao ? Vì nhân
duyên vô minh nên có tham v.v... Phải biết vô thường không phải
tăng thêm tham dục.
Lại tưởng vô thường có thể diệt tất cả phiền não. Hành giả,
nếu biết vật đó vô thường thì không có tham.
Lại biết người này ắt rồi cũng sẽ chết, nổi giận làm gì. Có
đâu người đại trí lại giận người sắp chết.
Lại nếu pháp vô thường, lẽ đâu lấy đó mà sinh tâm cao
ngạo.
Thành Thật Luận Trang 468 Tuệ Quang Foundation
Lại biết các pháp là tính vô thường thì không sinh si. Vì
không si nên cũng không nghi v.v.... Cho nên biết vô thường trái
với các phiền não.
Phẩm 174 : Tướng của khổ
Nếu pháp xâm hại đó gọi là khổ thì khổ nầy có 3 thứ là khổ
khổ, hoại khổ, và hành khổ. Hiện tại thật khổ như là dao gậy
v.v..., gọi là khổ khổ. Nếu khi tình yêu thương chia lìa sinh khổ
như vợ con v.v..., gọi là hoại khổ. Nếu được trí không vô ngã, biết
pháp hữu vi đều có thể xâm hại, gọi là hành khổ. Tùy khổ tâm đó
gọi là khổ tưởng.
Hỏi : Nếu tu khổ tưởng được những lợi gì ?
Đáp : Khổ tưởng nầy có quả chán lìa. Bởi vì sao ? Vì người
tu khổ tưởng không nương tham hỷ. Vì không có hỷ này nên
không có ái.
Lại hành giả nếu biết được pháp đó là khổ thì không thụ các
hành. Nếu pháp tuy vô thường vô ngã mà không thể sinh khổ thì
quyết không bỏ. Vì khổ nên bỏ, vì bỏ khổ nên với khổ được thoát.
Lại tất cả chúng sinh chỗ rất sợ là khổ. Nếu thiếu, tráng, lão
niên, hiền ngu, sang hèn biết tướng khổ nầy đều sinh chán lìa. Tất
cả người tu hành đối với Nê-hoàn có thể sinh tâm yên ổn tịch diệt,
đều ở trong sinh tử sinh khổ tưởng. Làm sao biết được ? Vì nếu
chúng sinh bị khổ hệ thuộc cõi Dục làm sao não hại, thì đối với sơ
thiền sinh tưởng tịch diệt. Như vậy lần lượt cho đến bị khổ cõi
Hữu Đảnh não hại, thì đối với Nê-hoàn sinh tưởng tịch diệt.
Lại trong sinh tử có bao nhiêu tội lỗi đều là khổ. Như trong
kinh nói : Lỗi trong các sắc đó là tướng khổ của sắc vô thường bại
hoại.
Lại bởi vô minh nên tham đắm khổ nầy. Vì sao biết được ?
Vì chúng sinh ở trong thật khổ mà sinh tưởng vui. Nếu sinh
tưởng rất khổ thì sẽ chán lìa. Cho nên Phật nói : Ta giác ngộ được
Thành Thật Luận Trang 469 Tuệ Quang Foundation
khổ nên mới nói chân lý của sự khổ. Trong đó Phật nhân thế đế
mà chỉ dạy nghĩa như vậy. Tùy theo tất cả chỗ mà trời, người, thế
gian sinh tưởng vui, thì đệ tử ta trong đó sinh tưởng khổ. Sinh
tưởng khổ rồi mới có thể chán lìa.
Lại chỗ rất ngu si là trong khổ mà sinh tưởng vui. Vì tưởng
nầy nên tất cả chúng sinh qua lại sinh tử, tâm thức não loạn. Nếu
có thể tưởng khổ thì được giải thoát.
Lại vì 4 lối ăn nên khiến có thân sau. Dùng tưởng khổ này
dứt được các cách ăn kia, như ăn thịt con, như ăn bò không da,
như ăn đống lửa, như ăn trăm mũi giáo nhọn. Trong 4 cách ăn như
vậy đều là nghĩa khổ. Nhờ tưởng khổ nầy có thể dứt các cách ăn.
Lại người tu tưởng khổ, ý không ưa trụ trong 4 thức xứ, vì
đều thấy là khổ. Như con bướm si mê nhào vào ngọn lửa vì tưởng
là sung sướng. Người trí biết lửa có thể thiêu đốt nên tránh xa.
Phàm phu cũng như vậy, vì vô minh si mê nên gieo mình thân sau
vào lửa. Người trí do tưởng khổ nên có thể được giải thoát.
Lại tất cả 3 cõi đều là khổ, là nhân duyên của khổ. Trong đó
khổ thụ là khổ, có thể sinh khổ thụ là nhân duyên của khổ. Tuy
không khổ ngay, nhưng lâu sau chắc chắn bị khổ, cho nên phải
quán thế gian tất cả đều là khổ, sinh tâm chán lìa, không thụ các
pháp, thì được giải thoát.
Phẩm 175 : Tưởng vô ngã
Hành giả thấy tất cả pháp đều là tướng phá hoại. Như chấp
sắc là ngã, khi sắc đó bại hoại thì biết là tướng bại hoại, vậy thì lìa
ngã tâm, thụ v.v... cũng như vậy. Như người bị nước từ trên núi
cuốn trôi, chụp nắm được vật gì đều bị gãy vuột trốc đứt mất.
Hành giả cũng như vậy, chấp vật làm ngã, thấy vật đó hoại thì biết
ngay là vô ngã. Cho nên ở trong vô ngã, tu tưởng vô ngã.
Hỏi: Tu tưởng vô ngã được những lợi gì ?
Thành Thật Luận Trang 470 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tu tưởng vô ngã mới có thể đủ các tưởng về khổ.
Phàm phu vì tưởng ngã nên ở trong thật khổ mà không thấy được
cái khổ. Dùng tưởng vô ngã nên ở trong một chút khổ cũng đã
biết sự não hại của khổ.
Lại ở trong tưởng vô ngã nên có thể tu tâm xả. Bởi vì sao ?
Vì tưởng ngã nên lo sợ mất ngã vĩnh viễn. Nếu có thể thật biết thì
chỉ mất khổ, không có ngã có thể mất thì có thể tu xả.
Lại do tưởng vô ngã nên có thể được thường lạc. Bởi vì sao ?
Vì tất cả vô thường, trong đó, nếu sinh tâm ngã và ngã sở, thì bảo
là ngã sẽ không có, và ngã sở cũng không có, là thường có khổ.
Nếu khởi nghĩ như vầy : Không có ngã và ngã sở, thì khi các pháp
bại hoại không sinh đau khổ.
Lại hành giả nhờ tưởng vô ngã nên tâm được thanh tịnh. Bởi
vì sao ? Vì tất cả phiền não đều do ngã kiến sinh. Bởi cho rằng
điều này có ích lợi cho ta, nên sinh tham dục, trái lại điều này có
tổn hại cho ta, nên sinh giận dữ, vì cho đó là ngã, tức sinh kiêu
mạn. Sau khi mạng ta chết sẽ làm hay không làm ? Liền sinh
nghi kiến. Những lỗi như vậy đều do ngã nên khởi các phiền não.
Chứ dùng tưởng vô ngã thì các phiền não kia dứt. Dứt phiền não
nên tâm được thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, nên mới có thể bình
đẳng với vàng đá, chiên đàn dao búa, ngợi khen mắng nhiếc, tâm
lìa ghét thương, yên ổn tịch diệt. Cho nên biết người tưởng vô
ngã, tâm được thanh tịnh.
Lại trừ tưởng vô ngã, không còn con đường nào khác có thể
được giải thoát. Bởi vì sao ? Vì người nói có ngã, nếu khi biết
không ngã và không ngã sở hữu, thì khi tâm có thể quyết định như
vậy, liền được giải thoát.
Hỏi : Không phải vậy. Hoặc bởi tưởng vô ngã lại sinh tâm
tham, như tham nữ sắc, là vì không phải bà con với ta. Do đó tùy
theo bởi không phải ngã, có thể nhóm tội phúc. Bởi vì sao ? Vì tự
mình làm tổn hại hay ích lợi cho bản thân, đâu có tội phúc ?
Thành Thật Luận Trang 471 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Người có ngã tâm có thể sinh tham dục. Với tự thân
sinh tướng nam, với thân người kia sinh tướng nữ, rồi tham đắm.
Lại tham đắm khởi đều do giả danh. Tướng người kia tức là
giả danh. Cho nên không phải vô ngã mà sinh tâm tham.
Lại người tâm vô ngã không nhóm các nghiệp. Như A-la-hán
dứt ngã tưởng nên không nhóm các nghiệp. Tưởng vô ngã nầy có
thể dứt tất cả phiền não và nghiệp, cho nên cần phải tu tập.
THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 14 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 176 : Tưởng chán ăn
Tất cả khổ sinh đều bởi tham ăn. Cũng bởi ăn nên giúp phát
sinh dâm dục. Ở trong cõi Dục có bao nhiêu thứ khổ đều bởi ăn
uống dâm dục sinh ra. Dứt tham ăn nên phải tu tưởng nhàm chán.
Lại như chúng sinh ở thời kỳ kiếp sơ, từ trên trời đến hóa
sinh nơi đây, thân có ánh sáng, bay đi tự tại. Bắt đầu ăn vị đất.
Người nào ăn nhiều, liền mất oai lực của ánh sáng. Như vậy dần
dần có già đau chết. Đến ngày nay sống chỉ trăm tuổi, nhiều các
khổ não. Bởi đều tham ăn nên mất các lợi trên. Cho nên phải quán
đúng đắn việc ăn uống.
Lại tham đắm ăn uống nên sinh dâm dục. Do dâm dục sinh
các phiền não. Do các phiền não gây các nghiệp bất thiện. Do
nghiệp bất thiện có thể tăng thêm 3 nẻo ác, mà giảm bớt chúng
trời, người. Cho nên tất cả tổn hại khổ não đều bởi tham ăn.
Lại tướng già đau chết đều bởi ăn uống.
Thành Thật Luận Trang 472 Tuệ Quang Foundation
Lại ăn là chỗ rất tham đắm. Dâm dục tuy nặng nhưng không
hay não người, như người vì ăn. Hoặc thiếu tráng, lão niên, tại gia
hay xuất gia không ai không vì cái ăn mà bị não hại.
Lại nên ăn cái ăn nầy mà tâm không đắm, đối với người chưa
lìa dục đó là điều rất khó, như bị dao cắt, như uống thuốc độc, như
nuôi rắn độc. Cho nên Phật nói : Phải tu tập, lấy đó mà ăn, đừng
để cái khổ tham ăn làm não hại. Có các ngoại đạo tu pháp nhịn ăn,
cho nên Phật nói : Việc ăn nầy không phải nhịn mà lìa được, phải
suy nghĩ mà ăn. Nếu chỉ nhịn ăn mà không hết phiền não, thì chết
uổng vô ích. Cho nên Phật nói : Đối với việc ăn nầy nên sinh
tưởng chán lìa, thì không các lỗi như trên.
Hỏi : Làm sao đối với việc ăn nên sinh tưởng chán lìa ?
Đáp : Thể tính của ăn là bất tịnh. Cho dù ăn thức ăn thượng
vị cũng đều là bất tịnh, cho nên phải sinh chán.
Lại như tất cả thức ăn uống thơm ngon tinh khiết, khi thành
bất tịnh có thể lợi ích cho thân. Như dùng răng ngậm nhai ngấm
nước miếng, trạng giống như đồ nôn mửa, nuốt xuống bao tử có
thể lợi ích thân, cho nên biết bất tịnh.
Lại ăn uống nầy vì không biết nên ưa thích. Nếu người tuy
ăn thức ăn ngon, nhưng nhổ ra rồi không thể ăn lại được. Phải biết
vì không biết nên cho là ngon đó thôi.
Lại vì nhân duyên ăn uống mà chịu bao nhiêu khổ nhọc làm
lụng vất vả, chứa để giữ gìn. Do nhân duyên nầy gây vô lượng tội
lỗi.
Lại có bao nhiêu đồ bất tịnh đều do ăn uống mà ra. Nếu
không ăn uống thì đâu có da thịt máu xương và phân nhơ v.v...
các vật bất tịnh ?
Lại có bao nhiêu ác đạo như những loại trùng ở trong nhà xí,
đều bởi tham đắm hương vị nên mới sinh vào trong đó. Như trong
Phẩm Nghiệp đã nói : Chúng sinh chết vì khát thì sinh làm loại
Thành Thật Luận Trang 473 Tuệ Quang Foundation
trùng sống trong nước, chết nơi ồn ào sinh vào loại chim, chết vì
tham dâm dục thì sinh trong bào thai v.v....
Lại nếu lìa ăn nầy thì được vui lớn như sinh về cõi Sắc và
trong Nê-hoàn.
Lại tùy vì ăn nên mới có khổ cày cấy đó. Như vậy quán việc
ăn uống là khổ bất tịnh, cho nên cần tu tưởng nhàm chán.
Phẩm 177 : Tưởng tất cả thế gian không gì có thể vui
Hành giả thấy tất cả thế gian đều khổ nên tâm không chút
vui.
Lại hành giả này tu định ly hỷ : như vô thường tưởng, khổ
tưởng, vô ngã tưởng, thực yểm tưởng, tử tưởng v.v..., nên tâm
không vui tất cả những gì của thế gian.
Lại người nầy thấy những gì mình yêu thích thì tăng thêm
tham dục, thấy những gì mình ghét thì tăng thêm giận dữ, cho nên
đều không vui.
Lại thấy người giàu sang thì có cái khổ bảo vệ, thấy những
người nghèo cùng có cái khổ thiếu thốn v.v....
Lại thấy người ở chỗ tốt sẽ đọa chỗ xấu, thấy người ở chỗ
xấu đang chịu các khổ.
Lại thấy người giàu sang hiện tại biết chắc sẽ đọa lạc, vì đó
cũng là chỗ mà các tham sân phiền não tụ hội. Còn những người
nghèo cùng hiện biết không có cơ hội có thể ra được. Cho nên
không tham vui tất cả thế gian.
Lại ít có chúng sinh được sinh chỗ tốt, phần nhiều đọa ác
đạo, như trong kinh nói : Ít sinh chỗ tốt, nhiều sinh chỗ xấu, thấy
lỗi đó rồi, chỉ cầu Nê-hoàn.
Lại người nầy thấy lỗi tham v.v... các phiền não thường đeo
bám chúng sinh như người thù oán rình giết người, được cơ hội là
hạ lấy ngay. Sống trong giặc thù đó làm sao vui được ?
Thành Thật Luận Trang 474 Tuệ Quang Foundation
Lại thấy do phiền não sinh nghiệp bất thiện, nghiệp quả bất
thiện thường đuổi theo, quyết không thoát được. Như trong kinh
nói : Nếu ngươi tạo ác nghiệp nay tạo, đã tạo và sẽ tạo, thì cho dù
bay lên hư không, quyết không thể giải thoát. Cho nên không vui.
Lại nữa, sinh v.v... 8 khổ còn theo người có phúc huống là
người vô phúc ? Như vậy làm sao vui với thế gian.
Lại như hòm rắn độc, 5 tên giặc rút dao, giặc phá tan làng
xóm. Các khổ ở bờ bên nầy thường theo chúng sinh làm sao vui
được ?
Lại như bị trôi trong sông nước mặn của ái dục. Khổ 5 dục
như mũi nhọn tẩm độc, vô minh đen tối, và trong hầm lửa, thường
bám theo chúng sinh, thì làm sao vui được !
Lại hành giả biết vui yên ổn ít, mà khổ não nhiều. Bởi vì sao
? Vì thấy các thế gian ngày tốt, hội vui, cây rừng hoa quả sum sê
tươi tốt, đất nước yên vui không được bao lâu, hoan lạc ít, mà
chịu khổ thì nhiều. Cho nên không vui được với tất cả thế gian.
Hỏi : Với tưởng nầy, tu tập được những lợi gì ?
Đáp : Có thể đối với tất cả tướng thế gian tâm không tham
đắm.
Lại nhờ tu tưởng này nên mau được giải thoát, không còn ở
lâu trong sinh tử nữa.
Lại hành giả nầy được lợi ích trí tuệ, vì thường học tập tất cả
hành tướng tội lỗi.
Lại tâm người này không sinh phiền não, nếu sinh cũng mau
diệt, như một giọt nước rơi trên tấm sắt nóng. Hành giả do không
vui thế gian, nên rất ưa thích tịch diệt. Nếu không chán thế gian
thì không thể ưa vui tịch diệt. Cho nên phải tu tập tưởng tất cả thế
gian là không có gì đáng vui.
Phẩm 178 : Tưởng bất tịnh
Hỏi : Tu tưởng bất tịnh như thế nào ?
Thành Thật Luận Trang 475 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Hành giả thấy hạt giống của thân là bất tịnh. Nghĩa là
từ đường bất tịnh của cha mẹ sinh 2 giọt đỏ và trắng hòa hợp.
Lại thân này do vật bất tịnh mà thành. Đó là thức ăn vữa nát
thành chất nhão lỏng.
Lại sinh ở chỗ bất tịnh là trong thai mẹ đầy nhẫy bất tịnh.
Lại phân nhơ v.v... các vật bất tịnh họp lại mà làm thân, 9 lỗ
nơi thân thường chảy bất tịnh.
Lại chỗ đặt mình là chỗ không tốt không sạch.
Lại ăn uống áo mặc đắp trên thân người đều thành bất tịnh,
bị người nhờm gớm.
Lại vật dùng cho thân nầy đều là bất tịnh, như nước tắm gội,
hoặc bồn tắm v.v....
Lại từ thân sinh ra móng, tóc, mồ hôi, mũi dãi v.v... đều là
bất tịnh.
Lại thấy thây chết thật là bất tịnh, thì thân ta đây khi chết đâu
có khác gì ? Phải biết xưa nay thường là bất tịnh. Khi sống chỉ vì
ngã tâm che lấp, cho đó là tịnh, mà khi chạm thân người chết, cho
đó là bất tịnh; mà tóc móng v.v... là các vật thường chết, nhiều
loại trùng chết cũng thường ở trong thân. Cho nên biết thân nầy
xưa nay bất tịnh.
Lại loài bất tịnh như rận rệp ruồi muỗi v.v... các loại trùng
chết cũng thường chạm đến thân. Cho nên biết bất tịnh.
Lại thân nầy giống như nhà xí thường đầy bất tịnh, do đó
nên trong nhà xí sinh hàng ngàn thứ trùng, thân này cũng như vậy.
Lại thân này như mồ mả. Bởi vì sao ? Vì chỗ đặt thây chết
nên gọi là mả. Thân nầy cũng có nhiều trùng chết đang nằm trong
đó.
Lại thân nầy hay tạo ra bất tịnh, như chỗ sạch, hoa tươi, quần
áo, chuỗi anh lạc v.v..., do thân nầy nên đều bị bất tịnh.
Lại các người Bà-la-môn không ăn ở những nhà đang có
người chết và người sinh đẻ, vì cho là bất tịnh. Mà ở trong thân
Thành Thật Luận Trang 476 Tuệ Quang Foundation
nầy có hàng ngàn vạn thứ trùng thường sinh đẻ thường chết, thì
không nên theo nó mà thụ ăn uống. Cho nên biết là bất tịnh.
Lại chỗ bất tịnh trên đời là lao ngục. Thân nầy là lao ngục
nhốt hàng ngàn loại trùng, nên gọi bất tịnh.
Lại thân nầy thường phải tắm gội, nếu nói là sạch cần gì tắm
gội ?
Lại dùng hoa đẹp hương thơm, chuỗi anh lạc trang sức cho
thân nầy, phải biết thân nầy thể tính bất tịnh, nên mới nhờ tịnh vật
bên ngoài để trang điểm.
Lại thân người rất là bất tịnh, như da, lông, móng, răng, gân,
xương, thịt, nếu có cần dùng, thì thân người không một thứ nào có
thể lấy, vì là bất tịnh.
Lại như hoa sen như Ưu-bát-la, Bát-đầu-ma v.v… từ chỗ bất
tịnh sinh, nên gọi bất tịnh, thân nầy không như vậy, không bởi các
vật khác khiến nó bất tịnh, mà chính là tính nó bất tịnh.
Lại nếu thân nầy là sạch, thì cần gì dùng áo quần che đắp ?
Như người lấy áo che đống đại tiểu tiện để dối gạt người khác. Nữ
nhân cũng như vậy, dùng đồ phục sức che đậy tấm thân để dối gạt
nam tử, trái lại nam tử cũng làm như vậy. Phải biết là bất tịnh.
Lại khắp cả thân nầy thường chảy ra bất tịnh. Đó là 9 lỗ cửa
ngõ của bất tịnh và các lỗ chân lông không một chút sạch. Nên
biết bất tịnh.
Hỏi : Tu tưởng bất tịnh được những lợi gì ?
Đáp : Bởi tưởng rằng nam nữ là sạch nên khởi tham dục, từ
tham dục đó mở các cửa tội lỗi. Tu tưởng bất tịnh thì có thể chế
phục tham dục. Bởi vì sao ? Vì thân nầy đều là hôi thối bất tịnh,
chỉ lớp da mỏng che khuất nên không biết được, tựa như lấy áo
che đống bất tịnh. Ai ưa sạch sẽ thì hãy tránh xa !
Lại người hành giả nầy, nhờ tưởng xanh bầm v.v... mà phá
hoại tất cả chấp thân. Vì phá chấp thân này nên không sinh tham
dục.
Thành Thật Luận Trang 477 Tuệ Quang Foundation
Lại cũng chỉ hiện thấy các sắc xanh bầm.
Hỏi : Như thật chưa xanh, vì sao thấy xanh ?
Đáp : Hành giả nhờ sức tín giải lấy tướng xanh nầy thấy tất
cả sắc đều xanh bầm.
Hỏi : Quán như vậy chẳng phải là điên đảo sảo ?
Đáp : Trong thân nầy có phần xanh bầm. Như trong kinh nói
trong nước có tính sạch.
Lại thường tu tập tướng xanh bầm nên có thể thắng các sắc
khác, như ánh sáng viên ngọc xanh có thể làm át sắc trắng. Như
vậy tập lâu tướng xanh bầm v.v... thì tưởng bất tịnh đầy đủ. Bất
tịnh đầy đủ thì không khởi dâm dục. Không khởi dâm dục thì
đóng bít các cửa tội lỗi, tùy thuận Nê-hoàn. Tu tưởng bất tịnh
được lợi như vậy.
Phẩm 179 : Tưởng về sự chết
Hành giả vì tưởng về sự chết thì đối với thọ mạng tâm không
quyết định, cho nên phải tu tập.
Lại người nầy thường rất ưa thích pháp thiện, trừ dứt bất
thiện. Bởi vì sao ? Vì chúng sinh phần nhiều quên cái chết, nên
mới khởi nghiệp bất thiện, nếu nghĩ nhớ cái chết thì có thể trừ dứt.
Lại thường nhớ đến cái chết, nên đối với cha mẹ, anh em, chị
em, bà con, láng giềng, bè bạn v.v..., mỏng bớt sự tham ái.
Lại tu tập tưởng đến cái chết thì được tự lợi. Nghĩa là có thể
nhất tâm tụ tập các pháp thiện, chúng sinh thế gian nhiều vui lợi
tha mà bỏ tự lợi.
Lại người nầy có thể mau được giải thoát. Bởi vì sao ? Vì
người thường theo qua lại trong thế gian nên có chết chóc, người
nầy chán sự chết chóc nên cầu giải thoát.
Hỏi : Nên tu tưởng về sự chết như thế nào ?
Đáp : Như trước đã nói chung tất cả vô thường. Nay chỉ nói
quán thân vô thường. Dứt ấm luôn nối nhau gọi là chết. Tưởng
Thành Thật Luận Trang 478 Tuệ Quang Foundation
thân này vô thường hơn cả sự vật bên ngoài, giống như bình chén
không có tướng bền chắc. Hành giả quán thân mong manh hơn
các vật kia. Bởi vì sao ? Vì bình chén kia, nếu gia tâm giữ gìn
hoặc có thể còn lâu dài, còn thân nầy có lâu lắm cũng không hơn
trăm năm. Vì không bền chắc cho nên phải nghĩ nhớ tưởng đến
cái chết.
Lại thân nầy có nhiều pháp làm hại như là dao, gậy, mũi
nhọn, giặc thù, hầm hố, ăn uống không tiêu hóa, các chứng bệnh
lạnh, nóng, gió. Tóm tắt mà quan sát tất cả chúng sinh và vật phi
chúng sinh, đều là pháp trái hại của thân. Cho nên phải tu tưởng
về sự chết.
Lại hành giả thấy thân, trong mỗi niệm thường là tướng hư
hoại không bảo đảm được một niệm, cho nên tu tưởng về sự chết.
Lại hành giả hiện thấy tuổi trẻ, tuổi già, có bệnh, không
bệnh, không ai có thể đuổi cái chết đi được, mới tự nghĩ thân
mình rồi cũng sẽ có ngày như vậy. Cho nên tu tưởng về sự chết.
Lại hành giả thấy có nghiệp báo bất định, không phải tất cả
nghiệp đều chịu hết trong khoảng tuổi thọ trăm năm. Vì nghiệp
bất định nên cái chết cũng đến không nhất định Cho nên phải nghĩ
nhớ sự chết.
Lại trong vô lấyy sinh tử có vô lượng nghiệp. Có những
nghiệp có thể làm hại các nghiệp khác. Ta cũng có thể có nghiệp
chết phi thời, thì làm sao tin chắc được mạng sống nầy ư ?
Lại hành giả thấy cái chết nó có thế lực lớn, không thể dùng
lời mềm mỏng dụ dỗ, hay dối gạt bằng của cải, hoặc theo đuổi
tranh tụng mà thoát được, như núi đá lớn từ 4 phía áp đến không
chỗ chốn tránh.
Hỏi : Nếu ai có thể khiến vua Diêm Vương hoan hỷ thì được
thoát chết ?
Đáp : Nói vậy là ngu si. Diêm Vương không có quyền tự do
sinh sát, mà chỉ có thể khảo xét việc làm thiện hay ác mà thôi.
Thành Thật Luận Trang 479 Tuệ Quang Foundation
Nếu thụ báo hết, lại bị nhân duyên hại thân thì chết. Cho nên hành
giả thấy thân không chỗ nương nhờ và cầu cứu, ở trong con
đường chết, cho nên nghĩ nhớ tưởng về sự chết.
Lại hành giả thường thấy thân nầy bị già bệnh làm khổ não,
tính không bền chắc. Vì không có tính bền chắc, và niệm niệm
sinh diệt nối nhau, vì nghiệp thức trói buộc, cho nên tu tưởng về
sự chết.
Lại hành giả nầy thấy chết là định mệnh, thì bất định ắt
thắng, vì bất định nên tu tưởng về sự chết.
Hỏi : Vì sao không nói tưởng về già bệnh v.v... mà chỉ nói
tưởng về sự chết ?
Đáp : Già bệnh cướp người không thể cướp hết được. Bệnh
tật cướp mất sự khỏe mạnh. Già nua cướp tuổi thanh xuân, mà
dòng họ láng giềng của cải và thân vẫn còn. Còn cái chết thì cướp
đi hết.
Lại già bệnh v.v... là nhân duyên của chết, nên không cần nói
riêng.
Lại trong kinh nói chết là một sự tối tăm to lớn, không có
ánh sáng và không ai cứu giúp, cũng không bè bạn, không chỗ
nương cậy, là chỗ rất đáng sợ. Cho nên phải nghĩ đến cái chết.
Lại chúng sinh vì nhân duyên chết nên khiếp sợ đời sau.
Lại trong 3 cõi tất cả đều có chết, mà già bệnh thì không như
vậy.
Hỏi : Nếu không rời chúng sinh có tướng chết đó, chúng
sinh tức là giả danh. Hành giả tu tập tưởng làm gì ?
Đáp : Không hoại tướng chúng sinh là khiếp sợ đối với sự
chết. Nếu tu tưởng về sự chết thì không sinh kinh sợ, cho nên phải
tu tập.
Lại tưởng vô thường gọi là con đường gần. Còn tưởng bất
tịnh, tưởng chán ăn và tưởng về sự chết gọi là đướng xa. Người
chưa đắc đạo dùng các tưởng nầy nên có thể chế phục được tâm.
Thành Thật Luận Trang 480 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 180 : Ba tưởng sau
Tưởng dứt là như trong 4 chính cần có nói : Vì muốn dứt
pháp ác bất thiện đã sinh nên siêng năng tinh tiến. Các pháp ác bất
thiện nầy là nhân duyên khổ não của địa ngục v.v..., và cũng là
gốc các điều khổ của các tiếng tăm xấu ác và tâm ăn năn v.v....
Cho nên phải dứt.
Hỏi: Phải dứt bằng cách nào ?
Đáp : Được pháp không tạo tác, bấy giờ là dứt.
Lại nghĩ nhớ tà là nhân tham dục v.v... các phiền não. Dứt sự
nghĩ nhớ tà vạy đó là pháp dứt.
Hỏi : Tu tưởng dứt nầy được những lợi ích gì ?
Đáp : Người tu tưởng nầy thường không theo pháp ác, mà
làm những việc đáng làm.
Lại đây là lìa 8 nạn, làm thân người lợi, gọi là dứt phiền não.
Lại ưa dứt phiền não là mặc pháp phục hủy bỏ hình hảo, lợi
người xuất gia. Nếu ai không như vậy thì luống uổng tự hổ thân.
Lại nếu hành giả ưa tu tưởng dứt, thì dùng pháp cúng dường
Phật.
Tưởng lìa dục, tưởng diệt, là nếu dục hết không sinh gọi là
lìa dục. Nghĩ lìa dục nầy gọi là tưởng lìa.
Hỏi : Nếu nói tưởng dứt tức là tưởng lìa, sao còn nói lại ?
Đáp : Do dứt được lìa. Dứt là diệt trừ tham dục. Như trong
kinh nói : Vì dứt tham dục nên 5 ấm dứt.
Lại tưởng dứt là tưởng lìa dục. Bởi vì sao ? Vì nếu với pháp
nầy không tham gọi là dứt pháp đó. Cho nên nếu được lìa dục, thì
khổ não diệt. Như trong kinh nói : Người lìa dục được giải thoát.
Được giải thoát tức là dứt. Nếu vào được vô dư, đó gọi là diệt.
Lại trong kinh nói có 3 tính là tính dứt, tính lìa dục và tính
diệt. Nếu nói tính dứt, tính lìa dục tức là A-la-hán, dứt tất cả phiền
Thành Thật Luận Trang 481 Tuệ Quang Foundation
não, lìa dục 3 cõi, trụ Nê-hoàn hữu dư. Nếu nói tính diệt tức lâm
chung xả thọ mạng dứt ấm nối nhau vào Nê-hoàn vô dư.
Lại có 2 thứ giải thoát là tuệ giải thoát và tâm giải thoát. Nếu
nói dứt tức là lìa vô minh, nên tuệ được giải thoát. Nếu nói lìa dục
tức là lìa tâm ái, được giải thoát. Quả của 2 giải thoát nầy gọi là
diệt.
Lại nếu nói dứt tưởng tức là nói dứt lậu vô minh. Nếu nói lìa
tưởng dục tức là nói dứt dục lậu hữu lậu. Nếu nói tưởng diệt tức là
2 quả nầy.
Lại như trong kinh nói : Dứt tất cả các hành nên gọi là dứt,
lìa tất cả các hành nên gọi là lìa, diệt tất cả hành nên gọi là diệt.
Vậy thì 3 pháp này nghĩa một mà tên khác nhau. Nếu tu tưởng vô
thường cho đến tưởng diệt thì xong tất cả việc. Diệt các phiền
não, dứt ấm kết nối nhau, vào Nê-hoàn vô dư.
Phẩm 181 : Năm định cụ đầu trong các định cụ
Hỏi : Ông trước nói đạo đế, gọi là định cụ và định. Đã nói
định, nay cần phải nói định cụ. Bởi vì sao ? Vì nếu có định cụ thì
định mới thành, nếu không là không thành ?
Đáp : Định cụ có tất cả 11 pháp : 1. Thanh tịnh trì giới. 2.
Được thiện tri thức. 3. Giữ gìn căn môn. 4. Ăn uống biết lường. 5.
Đầu đêm cuối đêm bớt ngủ nghỉ. 6. Đầy đủ thiện giác. 7. Đầy đủ
tín giải. 8. Đủ phần hành giả. 9. Đủ chỗ giải thoát. 10. Không bị
chướng ngại. 11. Không chấp trước.
1. Thanh tịnh trì giới : Lìa nghiệp bất thiện gọi là trì giới.
Nghiệp bất thiện như là sát, đạo, tà dâm là 3 thân nghiệp. Vọng
ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ là 4 khẩu nghiệp. Xa lìa tội nầy
gọi là trì giới.
Lại lễ kính đưa rước, và cúng dường v.v..., tu hành các pháp
thiện cũng gọi là giới. Vì giới có thể làm nhân cho định cho nên
phải thụ trì. Bởi vì sao ? Vì như gia công vàng, trước trừ chỗ thô
Thành Thật Luận Trang 482 Tuệ Quang Foundation
bẩn. Như vậy trước lấy trì giới trừ lỗi lớn là phá giới, sau mới lấy
định v.v... trừ các lỗi nhỏ. Bởi vì sao ? Vì nếu không trì giới thì
không có thiền định. Nhờ nhân duyên trì giới thiền định dễ thành.
Như trong kinh nói : Giới là gốc đạo và cũng là bậc thang tốt.
Lại nói : Giới là cái xe đầu tiên, nếu không lên xe đầu làm
sao lên được xe thứ hai v.v....
Lại nói : Giới là đất bằng; đứng nơi đất bằng này quan sát
được 4 đế.
Lại nói : Hai sức là sức nghĩ và sức tu. Sức nghĩ tức là trì
giới, sức tu là đạo. Trước suy nghĩ so lường tội lỗi phá giới, lợi
ích trì giới nên mới có thể trì giới. Sau khi đắc đạo tự nhiên lìa ác.
Lại nói : Giới là rễ cây Bồ-đề, mà không rễ là không cây.
Nên phải có tịnh giới.
Lại pháp là phải như vậy. Nếu không trì giới thì không thiền
định, giống như liệu pháp trị bệnh, phải dùng như vậy trị bệnh
phiền não, nếu không trì giới thì liệu pháp không đủ.
Lại nói người trì tịnh giới thì tâm không ăn năn, cho đến lìa
dục tâm được giải thoát, các công đức nầy đều do trì giới, nên gọi
định cụ.
Lại có nghiệp chướng, phiền não chướng. Quả 2 thứ chướng
nầy gọi là báo chướng. Nếu trì tịnh giới thì không có 3 chướng
nầy. Nếu tâm không có chướng thì có thể thành định.
Lại người tịnh trì giới không bại hoại, ắt đến Nê-hoàn, như
gỗ trôi trong dòng sông Hằng.
Lại tịnh trì giới nên có thể an lập. Trì giới có thể ngăn nghiệp
bất thiện nơi thân miệng. Thiền định có thể ngăn nghiệp bất thiện
nơi ý. Ngăn các phiền não như vậy, được trí thật chân trí thì rốt
ráo dứt trừ.
Lại lâu đài của đạo phẩm lấy giới làm trụ cột. Thành trì của
tâm thiền định lấy giới làm tường thành chung quanh. Qua biển
sinh tử lấy giới làm cầu. Vào trong đám đông người thiện lấy giới
Thành Thật Luận Trang 483 Tuệ Quang Foundation
làm dấu tin. Ruộng 8 Thánh đạo lấy giới làm bờ. Nếu ruộng
không bờ không giữ nước. Cũng như vậy, nếu không tịnh giới
nước định không giữ được.
Hỏi : Sao gọi là tịnh trì giới ?
Đáp : Nếu hành giả thâm tâm không ưa làm ác, khiếp sợ đời
sau và tiếng xấu, gọi là tịnh trì giới.
Lại hành giả đem tịnh tâm nên trì giới thanh tịnh. Như trong
Kinh Thất Dâm Dục nói : Thân tuy không phạm, mà tâm không
tịnh nên giới không tịnh.
Lại nhân duyên phá giới là các phiền não, nếu có thể chế
phục là trì giới được tịnh.
Lại Thanh Văn trì giới chỉ vì Nê-hoàn; người cầu Phật đạo
đem lòng đại bi vì tất cả chúng sinh không chấp giới tướng, có thể
khiến giới đó, như tính Bồ-đề. Trì giới như vậy gọi là thanh tịnh.
2. Thiện tri thức : Trong kinh nói do 2 nhân duyên có thể
sinh chính kiến là một theo người nghe pháp, hai tự nghĩ nhớ
đúng đắn pháp đã được nghe. Đó gọi là thiện tri thức.
Hỏi : Nếu vậy, sao chỉ nói thiện tri thức ?
Đáp : Trong kinh nói : A-nan hỏi Phật : Con ngồi yên một
nơi, suy nghĩ như vầy: Gặp được thiện tri thức là được nửa phần
nhân duyên đắc đạo ? Phật bảo đừng nói như vậy. Thiện tri thức
là nhân duyên đắc đạo đầy đủ. Bởi vì sao ? Vì chúng sinh sinh lão
bệnh tử được ta làm thiện tri thức, thì đều được giải thoát sinh lão
bệnh tử.
Lại chúng sinh nhờ thiện tri thức, được tăng trưởng giới v.v...
5 pháp. Như cây Sa-la nhờ núi Tuyết-Sơn được 5 sự tăng trưởng.
Lại Phật hãy còn ưa thích thiện tri thức. Như khi mới đắc
đạo nghĩ như vầy : Nếu người không có thầy thì không khiếp sợ,
không có tâm cung kính, thường bị ác pháp che khuất, không có
hạnh yên ổn. Ta phải lấy ai làm thầy, nương ai mà trụ ? Khởi nghĩ
như vậy rồi mới khắp xem tất cả không ai hơn mình được, liền
Thành Thật Luận Trang 484 Tuệ Quang Foundation
sinh ý nghĩ rằng : Pháp ta đã chứng được, nhờ đó mà thành Phật,
nay phải trở lại nương pháp đó. Các Phạm thiên cũng khen rằng :
Vậy không ai bằng Phật. Tất cả chư Phật đều lấy pháp làm thầy.
Lại thiện tri thức giống như đèn sáng; có mắt mà không đèn
thì không thấy gì được. Như vậy hành giả tuy có lợi căn phúc đức
nhân duyên mà không có thiện tri thức thì không được ích gì.
Hỏi : Người như thế nào là thiện tri thức ?
Đáp : Tùy theo có thể làm cho người tăng trưởng pháp thiện
gọi là thiện tri thức.
Lại tất cả những người thiện an trụ nơi chính pháp, đều là
thiện tri thức của trời người thế gian.
3. Giữ gìn căn môn : Là nghĩ nhớ chân chính. Hành giả
không nên nhắm mắt không thấy, chỉ nên nhất tâm chính niệm
hiện tiền.
Lại gọi là chính tuệ, lấy chính tuệ nầy có thể phá cảnh duyên
hiện tiền. Có thể phá cảnh duyên hiện tiền nên có thể không chấp
lấy tướng. Không chấp lấy tưởng nên không chạy theo giả danh.
Nếu không giữ các căn, để chấp lấy tướng thì các phiền não sinh,
lưu xuất ra 5 cửa tức thì phá giới các pháp thiện. Nếu có thể giữ
gìn căn môn thì các giới được bền chắc.
4. Ăn uống biết lường : Không vì sức mạnh, dâm dục, tham
vị mà ăn, ăn chỉ để nuôi thân.
Hỏi : Hành giả nuôi thân để làm gì ?
Đáp : Để tu pháp thiện. Nếu bỏ pháp thiện thì không đạo
pháp. Không đạo pháp thì làm sao lìa khổ được ! Nếu người
không vì tu hành mà ăn, là luống uổng nuôi kẻ giặc thù, và cũng
phá hoại phúc của thí chủ, tổn hại người cúng dường. Như vậy
không nên ăn thức ăn của người.
Hỏi : Lấy gì mà lường sự ăn uống ?
Đáp : Tùy lượng đủ có thể giúp nuôi thân, đó gọi là lường.
Hỏi : Nên ăn những thứ gì ?
Thành Thật Luận Trang 485 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu thức ăn không tăng thân bệnh như lạnh nóng
v.v..., tâm bệnh tham giận v.v..., là nên ăn. Những thức ăn nầy
cũng phải tùy thời, như biết thức ăn đó đối với lúc nầy có thể tăng
thêm các bệnh lạnh nóng tham giận v.v... thì không nên ăn.
Hỏi : Các ngoại đạo nói : Nếu ăn thứ thanh tịnh thì có thể
được phúc thanh tịnh, nghĩa là tùy ý thèm muốn sắc, hương, vị,
xúc, nhưng nước phải lọc lượt chú nguyện rồi sau mới ăn dùng.
Đó gọi là tịnh. Việc đó thế nào ?
Đáp : Đồ ăn uống không có quyết định là tịnh. Bởi vì sao ?
Vì nếu cho rằng đồ ăn thừa là bất tịnh, thì tất cả đồ ăn uống không
thứ nào không phải là thừa. Như sữa là vật thừa của bò con, mật là
đồ thừa của ong, nước là thừa của trùng, hoa là thừa của ong, và
trái cây là thừa của chim chóc. Cứ như vậy v.v....
Lại thân nầy từ bất tịnh sinh ra, thể tính bất tịnh, bất tịnh đầy
nhẫy. Đồ ăn uống trước là bất tịnh, sau vào trong thân không một
chút tịnh. Chỉ vì điên đảo mê lầm vọng tưởng đó là tịnh mà thôi.
Hỏi : Nếu đều là bất tịnh, thì cùng hạng người hèn hạ, Chiênđà-
la đâu có khác chi ?
Đáp : Lại nhờ không sát hại sinh mạng, không trộm cắp,
không nuôi sống bất chính v.v..., đúng như pháp mà có cái ăn.
Đem trí tuệ quán tưởng các lỗi do ăn uống, gạn lọc bằng nước trí
tuệ xong rồi sau mới ăn. Không phải chỉ có lọc nước mà cho là
tịnh.
5. Đầu đêm cuối đêm bớt ngủ nghỉ : Hành giả biết sự nghiệp
do tinh tiến siêng năng mà thành đạt nên không ngủ nghỉ.
Lại thấy ngủ nghỉ luống qua không được gì. Nếu ông cho
ngủ nghỉ là vui, chút vui hèn đó không đáng nói.
Lại hành giả không ưa chung cùng với phiền não, như người
không ưa ở chung với kẻ oán thù. Lẽ đâu có người đang ở trong
trận giặc mà ngủ ngon ? Cho nên không ngủ nghỉ.
Hỏi : Cơn buồn ngủ đến làm sao xua đuổi ?
Thành Thật Luận Trang 486 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Người nầy được mùi vị Phật pháp, tâm rất vui mừng,
nên có thể xua đuổi được.
Lại nghĩ tội lỗi già bệnh chết trong sinh tử thì tâm khiếp sợ
nên không ngủ nghỉ.
Lại hành giả nhận thấy được làm thân người, các căn đầy đủ,
lại may được gặp Phật pháp, có thể phân biệt tốt xấu, phải quấy là
việc rất khó, mà nay không cầu độ còn đợi khi nào mới được giải
thoát ? Cho nên phải siêng năng tinh tiến để diệt trừ ngủ nghỉ.
Phẩm 182 : Bất thiện giác
6. Đầy đủ thiện giác: Nếu người tuy không ngủ nghỉ mà khởi
các bất thiện giác, như dục giác, sân giác, não giác, hoặc thân lý
giác, quốc độ giác, bất tử giác, lợi tha giác, khinh tha giác v.v....
thì thà nên ngủ nghỉ, để đừng khởi những thứ bất thiện giác nầy.
Cần phải nghĩ nhớ cần, chính, xuất, các thiện giác, như xuất
giác, không sân não giác, 8 bậc Đại nhân giác.
Dục giác là nương lòng tham dục mà sinh tri giác, trong 5
dục thấy có lợi lạc, gọi là dục giác.
Làm suy hại chúng sinh, gọi là sân giác, não giác. Hành giả
không nên nhớ nghĩ 3 thứ giác nầy. Bởi vì sao ? Vì nghĩ đến 3
giác này thì bị tội nặng.
Lại như trước đã nói tội lỗi tham v.v.... Bởi tội lỗi nầy không
nên nghĩ nhớ.
Hỏi : Sao không nói si giác ?
Đáp : Ba ác giác nầy sinh theo thứ lớp, còn các phiền não
khác không phải như vậy. Hành giả nếu nghĩ đến 5 dục nên sinh
tham giác, tham mà không được mới sinh giận dữ; thành giận dữ
gọi là não. Cho nên không nói si.
Lại kết quả của si là tham giận. Nếu từ tham giận sinh nghiệp
bất thiện. Ba giác nầy là nghiệp nhân bất thiện. Như trong kinh
Thành Thật Luận Trang 487 Tuệ Quang Foundation
nói : Ví như cục đất, đêm thì khói ra, ngày thì lửa đốt. Khói tức là
giác, lửa gọi là nghiệp.
Thân lý giác : Bởi bà con, xóm làng nên khởi nghĩ nhớ muốn
làm cho bà con, xóm làng được yên ổn vui vẻ. Nếu nghĩ đến suy
hại thì sinh buồn rầu. Nếu nghĩ muốn cùng cộng tác với bà con
xóm làng làm việc nọ việc kia gọi là thân lý giác. Hành giả không
nên nghĩ nhớ thứ giác nầy. Bởi vì sao ? Vì bản nguyện khi xuất
gia đã xả bỏ bà con xóm làng, mà nay lại khởi giác nầy là điều
không nên.
Lại nếu người xuất gia lại nghĩ đến bà con xóm làng thì
luống bỏ gia thuộc, uổng công không thành gì. Vì yêu bà con xóm
làng nên sinh tham đắm. Vì tham đắm mới giữ gìn. Vì nhân duyên
giữ gìn mà các nghiệp bạo lực thứ tự sinh khởi. Cho nên không
nên sinh thân lý giác.
Lại cùng bà con xóm làng hòa hợp thì không thể tăng trưởng
pháp thiện.
Lại hành giả nghĩ tất cả chúng sinh trôi lăn trong sinh tử,
không một ai là không phải bà con xóm làng thì vì sao chấp đắm
thiên lệch.
Lại trong sinh tử vì bà con xóm làng nên buồn thương khóc
lóc nước mắt chảy thành biển cả, mà nay lại tham đắm nữa thì khổ
không bao giờ hết.
Lại chúng sinh vì nhân duyên lợi ích nên thân ái nhau không
có nhất định.
Lại người hay nghĩ bà con là tướng ngu si. Người ngu ở thế
gian không có ai chưa lợi mình mà muốn lợi người. Nếu nghĩ bà
con xóm làng thì ít tự lợi. Vì những lẽ trên đây nên hành giả
không nên khởi thân lý giác.
Quốc độ giác : Hành giả sinh ý nghĩ có cõi nước nào đó giàu
vui yên ổn nên đến đó có thể được an vui.
Thành Thật Luận Trang 488 Tuệ Quang Foundation
Lại tâm nông nổi muốn dạo xem khắp. Hành giả không nên
khởi ý giác như vậy. Bởi vì sao ? Vì tất cả cõi nước đều có lỗi
xấu, có nước rất lạnh, có nước rất nóng, có nước nhiều nguy hiểm,
có nước nhiều bệnh tật, có nước nhiều giặc trộm. Có nhiều lỗi
khác nhau như vậy, nên không nên nghĩ tới.
Lại người nông nổi thì mất thiền định. Tùy theo chỗ ưa vui
có thể được tăng thêm pháp thiện thì đó là tốt, chứ cần gì phải
xem khắp các cõi nước ? Tất cả các cõi nước chỉ nghe từ xa, đến
đó chưa chắc vừa lòng, vì người đời phần nhiều nói quá sự thật.
Lại những người đi qua các nước chịu nhiều sự khổ.
Lại thân là nhân khổ, mà mang nhân khổ nầy theo thì đi đến
đâu cũng đều chịu khổ.
Lại hưởng chịu khổ vui do nghiệp nhân thì dù đi xa đến đâu
cũng không ích gì. Cho nên không nên khởi quốc độ giác.
Bất tử giác : Là hành giả khởi nghĩ như vầy : Ta nên từ từ sẽ
tu đạo. Trước hết phải đọc tụng Tu-đa-la, Tì-ni, A-tì-đàm, tạp
tạng, Bồ-tát tạng, rộng họp các sách ngoại điển, nuôi nhiều đệ tử,
dắt dẫn người thiện, cúng dường 4 tháp, khuyến hóa chúng sinh
khiến tu đại bố thí, sau phải tu đạo
gọi là bất giác tử.
Hành giả không nên khởi nghĩ như vậy. Bởi vì sao ? Vì giờ
khắc chết không định được, không thể dự biết trước được. Nếu
trong khi đang kinh doanh các việc, không may mạng tận thì đâu
kịp tu đạo được. Đến khi sắp chết lòng dạ ăn năn buồn rầu rằng ta
luống dưỡng thân nầy uổng không được gì hết, đồng chết như loài
súc sinh nào khác. Như trong kinh nói : Phàm phu nên dùng 20
pháp để chiết phục tự tâm nghĩa là như vầy : Ta chỉ có hình hài và
y phục khác người thế tục mà không được một sở đắc gì hết. Cho
đến sẽ như thế này cho đến chết thôi.
Lại người trí không làm những việc không nên làm. Như
trong Kinh Pháp Cú nói :
Thành Thật Luận Trang 489 Tuệ Quang Foundation
Không nên làm, không làm,
Nên làm thì thường làm.
Nghĩ nhớ tâm an tuệ,
Thì được hết các lậu.
Lại trong kinh nói :
Người chưa được 4 đế,
Phương tiện vì muốn được,
Phải siêng năng tinh tiến,
Hơn cứu lửa cháy đầu.
Cho nên không nên khởi bất tử giác.
Lại bất tử giác là tập khí ngu si, có đâu người trí biết mạng
sống vô thường, như hạt sương trên cành, dễ gì có thể bảo tồn một
khắc !
Lại trong kinh nói : Phật hỏi các Tì-kheo : Các ông tu tập
tưởng chết như thế nào ? Có vị thưa Phật rằng : Con không bảo
đảm được 7 năm. Có vị thưa 6 năm. Cứ như vậy giảm bớt cho đến
còn trong giây lát. Phật nói : Các ông đều là những người phóng
dật mà tu tưởng về sự chết. Khi đó có một Tì-kheo trịch vai áo
bên hữu thưa Phật rằng : Con thì cho rằng hơi thở ra không chắc
đã hít vào, hơi hít vào không chắc sẽ thở ra. Phật khen : Hay thay
! Hay thay ! Ông mới là chân thật tu tưởng về sự chết. Cho nên
không nên khởi bất tử giác.
Lợi tha giác: Là đối với người không phải trong bà con xóm
làng muốn làm cho họ được lợi ích. Nếu khởi ý nghĩ như vầy : Có
thể tu bố thí làm cho ai đó giàu sang an vui, còn ai đó thì không.
Hành giả không nên khởi giác như vậy. Bởi vì sao ? Vì
không bởi ý nghĩ mà có thể làm cho ai được khổ vui. Chỉ có tự
mình vì ý nghĩ đó làm hoại loạn định tâm mà thôi.
Hỏi : Muốn khiến người được lợi không phải tâm từ hay sao
?
Thành Thật Luận Trang 490 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Hành giả cầu đạo nên nghĩ đến lợi đệ nhất nghĩa là vô
thường v.v.... Trong đó tuy có ít được phúc nhưng vì có thể hại
đạo, lợi ít hại nhiều, vì loạn định tâm. Nếu đem tản tâm nghĩ lợi
người khác thì không thể thấy tội lỗi tham đắm, cho nên không
nên nghĩ.
Khinh tha giác : Là hành giả, hoặc nghĩ người này chủng
tính, hình sắc, giàu sang, tài năng, trì giới, lợi căn, thiền định, trí
tuệ v.v... đều không bằng ta.
Hành giả không nên khởi giác như vậy. Bởi vì sao ? Vì tất cả
muôn vật đều vô thường, nếu thượng trung hạ đâu có sai khác ?
Lại tóc lông móng răng của người này đều gọi là bất tịnh như
nhau không khác.
Lại già bệnh chết v.v... và suy não cũng vẫn đồng nhau.
Lại tất cả chúng sinh trong ngoài khổ não đều đồng nhau
không khác.
Lại phàm phu mà giàu sang là nhân duyên gây tội lỗi.
Lại giàu sang không bao lâu rồi cũng nghèo cùng lại. Cho
nên không khởi giác khinh dể người khác.
Lại kiêu mạn là một phần của vô minh, người trí làm sao
khởi giác đó.
Phẩm 183 : Thiện giác
Xuất giác : Là tâm ưa xa lìa, như lìa 5 dục và 2 cõi Sắc, Vô
sắc. Ưa vui xa lìa này nên gọi xuất giác. Vì ưa vui xa lìa nầy là
không các khổ mà tùy theo tham đắm mới có khổ, không tham
đắm thì vui. Trong các giác, 2 thứ giác vui là vô sân giác và vô
não giác. Bởi vì sao ? Vì 2 giác nầy gọi là an ổn giác. Như trong
Phẩm Như Lai nói : Như Lai thường có 2 thứ giác hiện tiền là an
ổn giác và viễn ly giác. An ổn giác tức thứ giác không sân não.
Viễn ly giác tức là xuất giác.
Thành Thật Luận Trang 491 Tuệ Quang Foundation
Lại nghĩ 3 giác nầy thì phúc tăng trưởng, cũng có thể thành
định tâm, và tâm được thanh tịnh.
Lại nghĩ 3 giác nầy có thể ngăn các trói buộc, vì dứt các trói
buộc nên mau chứng được dứt diệt.
Lại hành giả vì ưa xa lìa, nhóm họp được nhiều pháp thiện,
nên mau được giải thoát.
Tám bậc đại nhân giác : Là trong Phật pháp, nếu người thiểu
dục mới có thể được lợi ích, chứ không phải người đa dục, người
tri túc, người xa lìa, người tinh tiến, người nghĩ nhớ chân chính,
người định tâm, người trí tuệ, người không hý luận có thể được
lợi ích, và người phi hý luận gọi là tám.
Thiểu dục mà gọi là hạnh, là vì muốn tu đạo nên phải muốn
vật cần dùng, nhưng không nên cầu nhiều vật thừa không dùng,
gọi là thiểu dục.
Tri túc là có người hoặc vì nhân duyên, hoặc vì trì giới, hoặc
muốn người khiến người khác tâm được thanh tịnh, cho nên lấy ít
mà tâm không cho là đủ. Nếu có người lấy ít tâm cho là đủ, đó gọi
là tri túc. Có người tuy lấy ít vật mà tìm thứ tốt, đó là thiểu dục
mà không phải là tri túc. Nếu lấy vừa được ít vật, gọi là tri túc.
Hỏi : Nếu lấy vật cần dùng gọi là thiểu dục, thì tất cả chúng
sinh đều được gọi thiểu dục vì đều lấy vật cần dùng thôi ?
Đáp : Hành giả không đem lòng tham đắm mà lấy, chỉ vì
dùng mới lấy nên không lấy nhiều, không như người đời vì trang
điểm, tiếng khen, thường lấy mà lấy nhiều.
Hỏi : Hành giả vì sao phải thiểu dục và tri túc ?
Đáp : Trong việc giữ gìn thấy có tội lỗi.
Lại chứa để mà không dùng là tướng ngu si.
Lại người xuất gia không nên tích trữ như người thế gian. Vì
các lỗi đó nên phải thiểu dục tri túc.
Lại hành giả, nếu không thiểu dục tri túc thì lòng tham tăng
dần, rồi vì tài lợi mà tìm cầu những gì không đáng tìm cầu.
Thành Thật Luận Trang 492 Tuệ Quang Foundation
Lại tham tài lợi rốt cuộc không yên ổn, vì quá tham đắm.
Lại người xuất gia nầy ưa tu hạnh xa lìa, mà vì tham lợi nên
quên mất điều nên tu.
Lại cũng không thể bỏ các phiền não. Bởi vì sao ? Vì ngoại
vật còn không bỏ được huống chi nội pháp.
Lại thấy lợi dưỡng là nhân suy não, như mưa đá hại lúa má.
Cho nên thường tu tập thiểu dục tri túc.
Lại thấy nhận của tín thí khó đền, như mắc nợ không trả, về
sau phải chịu khổ não.
Lại thấy lợi dưỡng là vật bỏ của Phật và người thiện. Như
Phật nói : Ta không gần lợi dưỡng, lợi dưỡng đừng gần ta.
Lại hành giả này đầy đủ pháp thiện, nên bỏ lợi dưỡng. Như
Phật nói : Chư thiên còn không thể được vui xuất, vui ly, vui tịch
diệt và vui chân trí như ta đã được. Cho nên bỏ lợi dưỡng.
Lại như Xá-lợi-phất nói : Ta khéo tu vô tướng, lấy không
Tam-muội quán tất cả vạn vật bên ngoài, coi như đờm dãi.
Lại hành giả không thấy có người nào thụ dục mà chán đủ,
như uống nước mặn không trừ hết khát được. Cho nên siêng cầu
trí tuệ mới là đầy đủ.
Lại thấy người đa dục thường phát nguyện cầu, cầu nhiều mà
được ít, nên thường bị khổ.
Lại thấy người cầu xin, bị người khinh tiện không chút kính
trọng như người thiểu dục.
Lại người xuất gia mà đa cầu là việc rất không nên làm, mà
người ta cho không lấy mới phải. Cho nên cần phải tu hạnh thiểu
dục tri túc.
Viễn ly : Là đối với những người tại gia xuất gia tu thân xa
lìa, với các phiền não tu tâm xa lìa. Đó gọi là viễn ly.
Hỏi : Hành giả vì sao phải xa lìa ?
Thành Thật Luận Trang 493 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Những người xuất gia tuy chưa đắc đạo lấy xa lìa làm
vui. Ở trong các chỗ người thế gian, nơi nữ sắc, chỗ ồn ào quyết
không thể an vui được.
Lại nếu xa lìa thì tâm dễ vắng lặng, như nước không khuấy,
tự nhiên lắng trong. Cho nên tu xa lìa.
Lại pháp xa lìa nầy đã được chư Phật nhiều như cát sông
Hằng ngợi khen. Vì sao biết được ? Là Phật thấy Tì-kheo ngồi
thiền định gần nơi xóm làng thì lòng không vui, mà thấy Tì-kheo
nằm ngủ ở chỗ trống vắng thì hoan hỷ. Bởi vì sao ? Vì ngồi thiền
gần xóm bị nhiều nhân duyên làm tán loạn định tâm, khiến cho
điều nên được thì không được, pháp phải chứng thì không chứng.
Còn nằm ngủ chỗ vắng tuy có chút biếng nhác, nhưng nếu thức
dậy cầu vào định thì thâu nhiếp được tâm tán loạn. Nhiếp tâm là
có thể được giải thoát.
Lại bởi chấp lấy tướng nên mới khởi tham v.v... các phiền
não. Còn chỗ trống vắng không có sắc v.v... các tướng thì phiền
não dễ dứt, như lửa không củi, thì tự nhiên tắt mất.
Lại trong kinh nói : Nếu Tì-kheo ưa ở chỗ đông người, ưa
nói năng đủ chuyện, không lìa chỗ đông người còn không thể
được ái duyên giải thoát, huống là có thể được bất hoại giải thoát.
Người tu hạnh xa lìa thì chắc chắn chứng được cả hai.
Lại như đèn lìa gió thì có thể soi sáng. Hành giả cũng như
vậy, nhờ tu hạnh xa lìa nên có thể mau được chân trí.
Tinh tiến : Là hành giả, nếu tu chính cần, dứt pháp bất thiện,
tu nhóm thiện pháp. Trong đó siêng năng tu nên gọi là tinh tiến.
Như vậy thì có thể được lợi Phật pháp. Bởi vì sao ? Vì nhóm họp
pháp thiện ngày ngày tăng trưởng như các loài hoa sen Ưu-bát-la,
Bát-đầu-ma v.v... tùy theo nước mà tăng trưởng dần lên. Còn
người hành giả biếng nhác như khúc chày gỗ từ khi được làm
thành đến nay, ngày một mòn dần đến hết.
Thành Thật Luận Trang 494 Tuệ Quang Foundation
Lại người tinh tiến, vì được lợi ích nên tâm thường hoan hỷ,
còn người biếng khác bị ác che tâm hằng ôm khổ não.
Lại người tinh tiến trong từng niệm pháp thiện tăng trưởng,
thường xuyên không có tổn giảm.
Lại thâm tu tinh tiến được chỗ vượt trội hơn hết là đạo của
chư Phật. Như trong kinh Phật bảo A-nan rằng thâm tu tinh tiến
có thể đến Phật đạo.
Lại người tinh tiến dễ được định tâm.
Lại kẻ độn căn mà tinh tiến tuy còn ở trong sinh tử cũng mau
được giải thoát; còn người lợi căn mà biếng nhác thì không thể
được.
Lại có bao nhiêu lợi ích đời nay, đời sau, thế gian, xuất thế
gian đều nhờ tinh tiến. Trái lại tất cả thế gian có bao nhiêu sự suy
não đều do biếng nhác. Như vậy thấy lỗi biếng nhác, lợi ích tinh
tiến, nên phải nghĩ nhớ tinh tiến.
Nghĩ nhớ chân chính : Là thường đối với thân, thụ, tâm và
pháp, tu tập nghĩ nhớ chân chính.
Hỏi : Nghĩ nhớ 4 pháp nầy được những lợi ích gì ?
Đáp : Pháp ác bất thiện không đến nhập vào tâm, như khéo
giữ đề phòng thì kẻ ác không xâm nhập được.
Lại như bình đầy thì nước không vào nữa được. Như vậy
người nầy pháp thiện đầy nhẫy nên không dung các điều ác.
Lại nếu tu nghĩ nhớ chân chính nầy thì gồm thâu tất cả pháp
thiện nghiệp vào trong phần giải thoát như uống nước biển là
uống đủ các nguồn, vì tất cả nguồn đều chảy vào biển cả.
Lại tu nghĩ nhớ chân chính nầy gọi là an trụ chỗ hành xứ tự
tại, ma dân phiền não không thể phá hoại được, như ví dụ chim
ưng chim cắt.
Lại người này tâm đã an trụ khó động như động, như chiếc
bình tròn đã đặt trên cái đế.
Thành Thật Luận Trang 495 Tuệ Quang Foundation
Lại người nầy không bao lâu sẽ được lợi ích, như trong Kinh
Tì-kheo-ni nói : Các Tì-kheo-ni hỏi A-nan rằng : Thưa Đại đức !
Bọn chúng tôi khéo tu niệm xứ giác khác hơn trước ? A-nan bảo :
Khéo tu pháp đó là như vậy.
Định tâm : Là nếu tu tập định tâm được lợi ích vi diệu. Như
trong kinh nói : Người tu định tâm có thể biết như thật.
Lại vì người nầy thân có phép hơn người như là thân mình
phun ra nước lửa, bay đi tự do v.v....
Lại người nầy được cái vui, cho đến chư thiên và Phạm
Vương v.v... không thể nào bằng được.
Lại người nầy là người làm việc đáng làm, không làm điều gì
không nên làm.
Lại khéo tu tập định, pháp thiện thường tăng.
Lại người tu tập định, về sau tâm không ăn năn, người nầy
gọi là được quả xuất gia. Cũng gọi là người thuận theo Phật dạy,
chứ không như những người luống lãnh của tín thí cúng dường.
Người nầy có thể trả ơn cho người thí phúc, mà người khác không
thể trả được.
Lại pháp định tâm nầy được chư Phật và Hiền thánh đều gần
gũi.
Lại có thể kham thụ tất cả pháp thiện.
Lại nếu định tâm được thành tựu thì chứng Thánh đạo, mà
không thành thì sinh về Tịnh thiên là 2 cõi Sắc và Vô sắc. Bởi vì
sao ? Vì như bố thí v.v... không thể được việc như vậy. Nghĩa là
có thể rốt ráo không tạo ác. Như trong kinh nói : Nếu đứa trẻ con
từ lúc còn nhỏ bé, tu tập lòng từ, có thể khởi tâm ác nghĩ việc ác
chăng ? Thưa không, Thế Tôn ! Đó đều là định lực.
Lại định tâm gọi là nhân chân trí tuệ. Nhân chân trí tuệ mới
có thể diệt hết các hành nghiệp. Các hành hết nên các khổ não
cũng diệt hết.
Thành Thật Luận Trang 496 Tuệ Quang Foundation
Lại hành giả đối với việc tất cả thế gian và xuất thế gian khởi
nghĩ tức làm xong không nhọc gia công sức. Còn các người khác
còn không thể phát tâm lường chỗ sở đắc của người kia cho nên
nói định tâm có thể được lợi ích.
Trí tuệ : Là người trí trong tâm không sinh phiền não, nếu
sinh liền diệt, như một giọt nước rơi trên tấm sắt nóng.
Lại tâm người trí không khởi các tướng, nếu khởi liền diệt,
như sương trên cành, gặp ánh nắng liền khô.
Lại nếu có con mắt trí có thể xem Phật pháp, như người có
mắt ban ngày dùng được.
Lại người trí gọi là được phần Phật pháp, như chính là con
thì được hưởng phần của cải của cha mẹ.
Lại trí tuệ gọi là có mạng sống ngoài ra gọi là chết.
Lại người trí tuệ gọi là người chân đạo nhân, vì có thể biết
đạo.
Lại người trí biết mùi vị Phật pháp, như thiệt căn không hư
có thể phân biệt 5 vị.
Lại người trí tuệ ở trong Phật pháp tâm định không động,
như núi đá gió không lay động được.
Lại người trí tuệ gọi là Tín, vì tự được 4 pháp tin mà không
theo người khác mới có được.
Lại được Thánh tuệ căn gọi là đệ tử Phật, ngoài ra là ngoại
phàm phu. Cho nên nói người trí có thể được lợi ích.
Vô hý luận : Là như lối nghị luận cho là một, hoặc cho là
khác, gọi là hý luận. Như A-nan hỏi Xá-lợi-phất : Nếu 6 xúc nhập,
lìa dục diệt hết rồi, nếu có còn thừa ư ? Xá-lợi-phất nói : Nếu 6
xúc nhập lìa dục tận diệt rồi, nếu còn có thừa là không thể luận
mà ông luận ư ? Nếu không có cũng có, cũng không, không phải
có, không phải không, hỏi đáp cũng như vậy.
Hỏi : Việc ấy vì sao không thể luận ?
Thành Thật Luận Trang 497 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Hỏi nầy là hỏi pháp thật ngã là một hay là khác, cho
nên không đáp, vì ngã không quyết định. Chỉ trong 5 ấm giả lập
danh tự mà nói đó thôi. Nếu lấy có, không mà đáp, tức là sa vào
dứt, thường. Nếu đem pháp nhân duyên mà luận nói ngã thì không
phải là hý luận.
Lại nếu người thấy chúng sinh trống không, pháp trống
không, thì không hý luận. Cho nên nói người không hí luận mới
được lợi ích của Phật pháp. Đó gọi là đầy đủ thiện giác.
Phẩm 184 : Năm định cụ sau
7. Đầy đủ tín giải tốt : Nghĩa là như người hành giả có thể ưa
thích Nê-hoàn mà chán ghét sinh tử gọi là tín giải tốt. Tín giải như
vậy chóng được giải thoát.
Lại người ưa thích Nê-hoàn tâm không đắm gì cả.
Lại ưa thích Nê-hoàn thì không khiếp sợ. Bởi vì sao ? Vì nếu
là phàm phu mà tâm nghĩ Nê-hoàn liền sinh kinh sợ cái ngã sẽ
mất hẳn.
Hỏi : Do nhân duyên gì tín giải Nê-hoàn ?
Đáp : Hành giả thấy thế gian vô thường, khổ, không, vô ngã
thì đối với Nê-hoàn sinh tưởng tịch diệt.
Lại người nầy bản tính phiền não nhẹ yếu, nghe nói Nê-hoàn
thì lòng tin vui ưa thích.
Lại nếu theo vị thầy giỏi, hoặc đọc kinh sách, nghe sinh tử
tội lỗi, như Kinh Vô Thủy và các Kinh Ngũ Thiên Sứ v.v... nói,
thì chán lìa sinh tử tin vui Nê-hoàn.
8. Đủ phần hành giả : Như trong kinh nói có 5 phần của hành
giả là : 1. Có tin. 2. Tâm không dua dọc. 3. Ít bệnh. 4. Tinh tiến. 5.
Trí tuệ.
Có tin là tâm đối với Tam Bảo và 4 đế không nghi hối.
Không nghi hối nên mau được thành định.
Thành Thật Luận Trang 498 Tuệ Quang Foundation
Lại người có lòng tin nhiều vui vẻ nên chóng được thành
định.
Lại người có tin, tâm điều hòa dễ thu nhiếp nên chóng được
định.
Hỏi : Nếu do định sinh tuệ, sau có thể dứt nghi. Nay vì sao
trước định rồi nói không nghi ?
Đáp : Vì nhờ đa văn nên có thể dứt nghi chứ không phải
được định.
Lại sinh vào nhà rất có lòng tin, hoặc cùng làm việc với
những người có lòng tin, nên thường tu lòng tin, tuy chưa được
định, nhưng không sinh nghi v.v....
Không dua dọc : Là đem tâm chất trực, tâm không che giấu,
thì dễ độ, như người nói thật và đầy đủ bệnh trạng với thầy thuốc
thì dễ cứu chữa.
Ít bệnh : Ít bệnh thì có thể đầu đêm cuối đêm tinh tiến không
dứt. Nếu người tật bệnh thì trở ngại sự hành đạo.
Tinh tiến : Là vì cầu đạo nên thường siêng năng tinh tiến,
như dùi cây để lấy lửa mà không nghỉ tay thì chóng được lửa.
Trí tuệ : Nhờ có trí tuệ nên được quả 4 việc. Đó là Thánh
đạo.
Hỏi : Các pháp niệm xứ ... cũng là phần của hành giả. Vì sao
chỉ nói 5 pháp nầy ?
Đáp : Tuy đều là phần, mà pháp nầy vượt trội hơn, nên hành
giả phải cần dùng, cho nên nói riêng. Cũng lìa tất cả ác, nhóm tất
cả thiện, nên gọi phần của hành giả, như có nói trong Kinh Cù-nisa.
9. Đủ chỗ giải thoát : Là 5 giải thoát xứ : 1. Như Phật và các
Tì-kheo tôn thắng vì đó nói pháp, theo chỗ được nghe, riêng có
thể tính thông đạt ngôn ngữ nghĩa lý. Nhờ thông đạt đó nên sinh
tâm hoan hỷ. Hoan hỷ thì thân khoan khoái, khoan khoái thì thụ
vui, thụ vui là tâm được thu nhiếp. Đó là chỗ giải thoát đầu tiên.
Thành Thật Luận Trang 499 Tuệ Quang Foundation
Hành giả an trụ chỗ giải thoát nầy nên nhớ nghĩ mạnh mẽ thì tâm
nhiếp định, các lậu được diệt hết, chắc chứng được Nê-hoàn. 2.
Siêng đọc tụng kinh điển. 3. Vì người khác nói pháp. 4. Ở riêng
một chỗ suy nghĩ các pháp. 5. Khéo giữ định tướng, là 9 tướng
v.v... như trên đã nói.
Hỏi: Phật và Tì-kheo tôn thắng vì sao nói pháp cho hành giả
nầy ?
Đáp : Vì có khả năng thụ pháp có thể được lợi ích lớn, cho
nên nói cho hành giả này.
Lại Tì-kheo nầy nhờ Phật xuất gia các căn thuần thục, nên vì
nói pháp. Còn Tì-kheo tôn thắng vì chỗ đồng nghiệp nên nói cho
nhau.
Lại người hành giả nầy cần phải nghe pháp, cho nên vì nói.
Lại người nầy có các công đức tịnh giới v.v... đã thành tựu,
giống như cái đồ đựng đã làm xong có thể đựng đồ vật, cho nên vì
nói pháp. Đó gọi là 3 tuệ. Thông đạt ngôn ngữ là đa văn tuệ,
thông đạt nghĩa lý là tư duy tuệ. Do đạt 2 tuệ trên có thể sinh tâm
hỷ, cho đến nhiếp tâm sinh như thật trí, đó gọi là tu tuệ. Ba tuệ
nầy có 3 thứ quả là chán, lìa, và giải thoát.
Lại nữa, nghe pháp, đọc tụng, vì người nói pháp là đa văn
tuệ. Suy nghĩ so lường các pháp là tư duy tuệ, khéo giữ lấy định
tướng là tu tuệ.
Hỏi : Tâm giải thoát và hết lậu 2 pháp đó có gì sai khác ?
Đáp : Dùng định ngăn phiền não nên nói tâm giải thoát, vĩnh
viễn dứt hẳn phiền não mới nói hết lậu.
Hỏi : Như tu pháp trì giới v.v... cũng là chỗ giải thoát, như
nói trì giới thì tâm không hối, tâm không hối thì hoan hỷ v.v....
Hoặc nhờ thí v.v... cũng được giải thoát. Vì sao chỉ nói 5 pháp nầy
ư ?
Đáp : Vì vượt trội nên được nói riêng.
Hỏi : Pháp nầy có gì vượt trội ?
Thành Thật Luận Trang 500 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Là nguyên nhân gần của giải thoát, giới v.v... vì là
nguyên nhân xa nên không nói.
Hỏi : Sao biết được là nguyên nhân gần ?
Đáp : Hành giả nghe pháp biết ấm, giới, nhập v.v... chỉ các
pháp hòa hợp, trong đó không ngã, cho nên tức là đã phá giả
danh. Phá giả danh tức là giải thoát, nên gọi đó là nguyên nhân
gần.
Lại trong kinh nói : Công đức đa văn là không theo người
khác cầu nghe pháp, tâm dễ thâu nhiếp v.v.... Cũng do đó nên biết
là nguyên nhân gần.
Lại Phật pháp có công đức lớn có thể diệt phiền não, đến Nêhoàn
v.v.... Trong pháp tịch diệt nầy, hoặc nghe hoặc tụng hoặc tự
suy nghĩ thì chóng được giải thoát, cho nên gọi là nguyên nhân
gần.
Lại thí được đại phú, trì giới được tôn quý, đa văn được trí.
.Nhờ trí tuệ nên được diệt hết các lậu, chứ không nhờ phú quí cho
nên biết là nguyên nhân gần.
Lại Xá-lợi-phất v.v... được tôn xưng là bậc đại trí, đều do đa
văn.
Hỏi : Nếu nhờ đa văn tâm dễ nhiếp thì vì sao A-nan đầu
hôm, giữa đêm, cuối đêm đều không được giải thoát ?
Đáp : Đầu của A-nan chưa kê lên gối đã được giải thoát. Cho
nên thường ở trong pháp hiếm có, vì sao không nhanh chóng ?
Lại A-nan trong đêm đó tinh tiến có chút lỗi, vì quá mỏi mệt
nên không được giải thoát.
Lại A-nan tự thề rằng : Trong đêm nay ta quyết được hết lậu.
Cũng như Bồ-Tát tự thề trong đạo tràng. Thử hỏi ai có sức nầy ?
Người như A-nan đều là nhờ sức đa văn.
10. Không bị chướng ngại : Như nói 3 chướng là nghiệp
chướng, báo chướng, và phiền não chướng. Nếu ai không có 3
Thành Thật Luận Trang 501 Tuệ Quang Foundation
chướng ngại nầy thì không đọa chỗ nạn. Nếu lìa được các nạn là
kham thụ đạo pháp.
Lại người đó gọi là đầy đủ 4 luân là : cõi nước tốt đẹp, y chỉ
người thiện, tự phát chính nguyện và phúc đức đời trước.
Lại có thể thành tựu 4 phần Tu-đà-hoàn là : gần gũi người
thiện, ưa nghe chính pháp, tự nghĩ nhớ chân chính và có thể thực
hành theo chính pháp.
Lại có thể lìa bỏ tham v.v... 3 pháp, như trong kinh nói :
Không dứt 3 pháp thì không vượt qua được già, bệnh, chết.
11. Không chấp trước : Là không đắm trước bờ bên này,
không đắm trước bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không vọt
lên đất bằng, không bị người bắt lấy, và phi nhân bắt lấy, không
vào trong dòng nước xoáy, không tự mục nát. Bờ bên này là 6
nhập bên trong. Bờ bên kia là 6 nhập bên ngoài. Giữa dòng là
tham, hỷ. Đất bằng là ngã mạn. Người bắt là hòa hợp với người
tại gia xuất gia. Phi nhân bắt lấy là trì giới để sinh lên trời. Dòng
xoáy là phá giới. Mục nát là phá trọng cấm. Nếu người đối với nội
nhập chấp ngã, tức đối với ngoại nhập sinh tâm ngã sở. Từ nội
ngoại nhập kia sinh tham hỷ, cho nên mới chìm đắm trong đó. Từ
đó sinh ngã mạn. Tại vì sao. Nếu người đắm chấp thân thụ có vui,
cho nên người đến khinh chê thì sinh kiêu mạn. Như vậy vì ngã,
ngã sở, tham hỷ, ngã mạn làm loạn tâm, nên mới gây thành các
việc khác.
Hỏi : Trong dụ này lấy gì làm nước, nếu lấy 8 Thánh đạo làm
nước, thì không nên lấy nội ngoại 6 nhập làm bờ sông, tham, hỷ
v.v... làm giữa dòng, cũng không nên có dòng xoáy, mục nát. Nếu
lấy tham ái làm nước, thì làm sao theo đó được đến Nê-hoàn ?
Đáp : Lấy 8 Thánh đạo làm nước. Thí dụ bất tất khiến cho
giống hệt nhau hết. Như cây này nếu lìa 8 nạn quyết trôi đến biển
cả. Tì-kheo cũng vậy, lìa các dòng, nạn, thì theo nước 8 Thánh
đạo trôi vào Nê-hoàn. Như nói sữa trắng như vỏ sò, chỉ lấy màu
Thành Thật Luận Trang 502 Tuệ Quang Foundation
sắc của sò mà không lấy cứng mềm, cũng như nói mặt như mặt
trăng, mà chỉ lấy cái đầy đặn mà không lấy hình dạng vậy.
Lại hành giả ra khỏi Thánh đạo rồi, lại đắm trước nội ngoại
nhập, thì không bằng cây này ở giữa dòng nước, vướng mắc bờ
bên này bờ bên kia và mục nát v.v....
Lại có luận sư nói : Như nước sông Hằng quyết chảy về biển
lớn. Như vậy 8 Thánh đạo chắc đến Nê-hoàn. Cho nên mới lấy
làm thí dụ.
Như trên đã lược nói đủ 11 định cụ. Nếu có pháp này tự
nhiên được định.
Phẩm 185 : Hơi thở ra vào
A-na-ba-na tức hơi thở, có 16 hạnh tất cả là : Nghĩ nhớ hơi
thở ra vào hoặc dài hoặc ngắn. Nghĩ hơi thở khắp thân, trừ các
thân hành, giác hỷ, giác lạc, giác tâm hành, trừ tâm hành. Nghĩ
hơi thở ra vào, giác tâm, khiến tâm hỷ, khiến tâm nhiếp, khiến tâm
giải thoát. Nghĩ hơi thở ra vào, tùy vô thường, quán tùy dứt, quán
ly diệt. Nghĩ hơi thở ra vào hoặc dài hoặc ngắn.
Hỏi : Thở dài ngắn là thế nào ?
Đáp : Như người trèo lên núi, hoặc gánh nặng bị mệt lả nên
hơi thở ngắn. Hành giả cũng như vậy, còn ở trong thô tâm bấy giờ
là ngắn. Thô tâm đó chỗ gọi là tâm vội vả tán loạn. Hơi thở dài là
nếu hành giả ở trong trạng thái tế tâm thì hơi thở dài. Bởi vì sao ?
Vì tâm dịu nên nên hơi thở cũng tùy theo đó mà dịu dàng dần.
Như ngay khi người đó quá mệt nên nghỉ để thở thì cũng tùy mà
dịu, bấy giờ thì hơi thở dài.
Khắp thân, là hành giả vì tin và hiểu thân trống không nên
thấy tất cả lỗ chân lông có gió ra vào.
Trừ thân hành, là hành giả được sức cảnh giới, tâm yên ổn
nên hơi thở thô diệt, bấy giờ hành giả mới nhớ đủ chỗ trong thân.
Thành Thật Luận Trang 503 Tuệ Quang Foundation
Giác hỷ, là người đó từ định pháp nầy tâm sinh đại hoan hỷ,
trước kia tuy có hoan hỷ nhưng không bằng, bấy giờ gọi là giác
hỷ.
Giác lạc, là từ hỷ sinh lạc. Bởi vì sao ? Vì nếu tâm được hoan
hỷ thì thân điều hòa thỏa thích, thân điều điều hòa thỏa thích là
được an vui khoan khoái. Như trong kinh nói : Tâm hoan hỷ nên
thân khoan khoái, thân khoan khoái thì cảm thụ vui.
Giác tâm hành, là hành giả thấy tội lỗi của hỷ là vì có thể
sinh tham. Tham là hành vi của tâm, do tâm khởi, cho nên trong
thụ sinh tham, cho nên thấy thụ là hành vi của tâm.
Trừ tâm hành, là hành giả thấy lỗi do thụ sinh tham. Trừ diệt
thì tâm yên ổn, cũng trừ diệt thô thụ nữa nên nói trừ tâm hành.
Giác tâm, là hành giả trừ mùi vị của cảm thụ nên thấy tâm
tịch diệt không chìm không động. Tâm này có khi lặn chìm, bây
giờ khiến hỷ. Nếu tâm lại nổi động thì bấy giờ khiến nhiếp giữ.
Nếu lìa được 2 pháp nầy, bấy giờ nên xả, cho nên nói khiến tâm
giải thoát. Hành giả như vậy tâm tịch định nên sinh vô thường
hành. Nhờ vô thường hành dứt các phiền não, gọi là dứt hành. Dứt
phiền não nên tâm chán lìa gọi là ly hành. Vì tâm lìa nên được
được tất cả diệt, gọi là diệt hành. Như vậy thứ lớp được giải thoát,
nên mới gọi là 16 hạnh nghĩ nhớ hơi thở ra vào.
Hỏi : Vì sao nghĩ nhớ thở ra vào gọi là Thánh hạnh, Thiên
hạnh, Phạm hạnh, học hanh, vô học hạnh ư ?
Đáp : Gió vận hành trong hư không, tướng hư không có thể
mau mở đường cho tướng hoại. Tướng hoại tức là trống không.
Không tức là Thánh hạnh, cho nên gọi là Thánh hạnh. Vì muốn
sinh về cõi tịnh thiên nên gọi là thiên hạnh. Vì muốn đến tịch diệt,
nên gọi Phạm hạnh. Vì muốn học pháp nên gọi là học hạnh. Vì
đến bậc vô học, nên gọi là vô học hạnh.
Hỏi : Nếu quán bất tịnh rất chán lìa thân, chóng được giải
thoát, cần gì tu 16 pháp hạnh nầy ư ?
Thành Thật Luận Trang 504 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tu bất tịnh quán chưa được lìa dục, tự chán ghét thân
tâm thì sinh mê muội, như uống thuốc quá liều thì lại gây thêm
bệnh. Như vậy bất tịnh ưa sinh chán ghét. Như các Tì-kheo tu
quán bất tịnh bên bờ sông Bạt-cầu-mạt, nên rất sinh chán ghét, bởi
đó mà gây ra các việc như uống thuốc độc, nhào đầu từ trên cao tự
sát v.v.... Hạnh nầy không như vậy. Có thể được lìa dục mà không
sinh chán ghét, nên gọi là thắng.
Lại hạnh nầy dễ được, duyên tự thân nên bất tịnh dễ mất.
Lại hạnh nầy vi tế, vì có thể tự hoại thân, bất tịnh hạnh thô
kịch, khó hoại tướng xương.
Lại hạnh nầy có thể phá tất cả phiền não, bất tịnh chỉ phá
dâm dục. Bởi vì sao ? Vì tất cả phiền não đều do giác sinh, nghĩ
nhớ hơi thở ra vào để dứt các giác.
Hỏi : Hơi thở ra vào là thuộc thân hay thuộc tâm ?
Đáp : Cũng thuộc thân, cũng thuộc tâm. Bởi vì sao ? Vì ở
trong thai không có, nên biết do thân, nếu đệ tứ thiền v.v..., và
những người vô tâm không có nên biết do tâm.
Hỏi : Thở không cố ý khởi, không nên do tâm. Bởi vì sao ?
Hơi thở này không do ý khởi như tâm nghĩ các việc khác. Hơi thở
thường ra vào, như thức ăn vào bụng tự tiêu, như bóng tự di
chuyển theo hình, không phải người làm ?
Đáp : Thở không do cố ý khởi, không do nghĩ nhớ, chỉ do
các duyên hòa hợp mà khởi. Nếu có tâm thì có, mà không tâm là
không, cho nên biết do tâm.
Lại tùy theo tâm mà có sai khác. Thô tâm thì ngắn, tế tâm thì
dài.
Lại thở ra vào còn do cõi do tâm. Nếu ở tại cõi thở ra vào,
cũng có cõi tâm thở ra vào, bấy giờ thì có thở ra vào. Cõi như là
cõi Dục và Tam thiền. Nếu ở tại cõi thở ra vào, mà không cõi tâm
thở ra vào, và tại vô tâm, bây giờ thì không có. Nếu tại cõi không
thở ra vào, bấy giờ cũng không có.
Thành Thật Luận Trang 505 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Khi khởi thở, thở ra trước hay thở vào trước ?
Đáp : Khi sinh trước ra, khi chết sau vào. Ra vào đệ tứ thiền
cũng như vậy.
Hỏi : Nghĩ nhớ thở ra vào này, sao gọi là đầy đủ ?
Đáp : Hành giả nếu được 16 hạnh nầy, bấy giờ gọi là đầy đủ.
Có luận sư nói : Do 6 nhân duyên nên gọi đầy đủ. Đó là Sổ,
Tùy, Chỉ, Quán, Chuyển, Duyên, Thanh tịnh.
Sổ, là đếm hơi thở ra vào từ 1 đến 10. Có 3 lối đếm : hoặc
bằng, hoặc quá hơn, hoặc giảm bớt. Bằng là 10 thì đếm là 10. Quá
hơn là 11 đếm cho là 10. Giảm bớt là đếm 9 cho là 10.
Tùy, là tâm hành giả theo dõi hơi thở ra vào.
Quán, là hành giả thấy hơi thở luồn trong thân như sợi chỉ
luồn hạt châu.
Chỉ, là khiến tâm trụ theo hơi thở ra vào.
Chuyển, là chuyển thân.
Duyên, là tâm khiến thụ duyên tâm hiện tiền. Tâm pháp cũng
như vậy.
Thanh tịnh, là hành giả lìa tất cả phiền não và các nạn, tâm
được thanh tịnh. Đây không nhất định. Bởi vì sao ? Vì trong các
hạnh nầy không nhất thiết phải cần dùng 2 pháp Số, Tùy, hành giả
chỉ khiến tâm trụ trong hơi thở để dứt các giác. Nếu có thể tu 16
pháp nầy gọi là đầy đủ.
Lại tướng đầy đủ nầy cũng không quyết định, vì chỗ sở hành
của người độn căn đối với người lợi căn là không đầy đủ.
Hỏi : Thở ra vào nầy, vì sao trong kinh nói gọi là ăn ?
Đáp : Nếu thở ra vào ngừng v.v..., thân được khoái lạc như
được ăn thứ ngon, lợi ích hòa thích cho thân thể nên gọi là ăn.
Hỏi : Trong 16 hành nầy, đều phải nhớ thở ra vào luôn sao ?
Đáp : Người nầy gọi là xé rách 5 ấm phương tiện. Nếu xé
rách 5 ấm trừ giả danh rồi, đâu còn dùng nghĩ nhớ hơi thở ra vào
Thành Thật Luận Trang 506 Tuệ Quang Foundation
làm chi nữa ? Đó gọi là thân nhớ. Có 4 pháp nhớ thân nên gọi
thân nhớ.
Hỏi : Nhớ là duyên về quá khứ, thở là hiện tại, mà sao gọi là
nhớ ?
Đáp : Đó là trí phá giả danh, vì nhớ nên mới nói. Các tâm số
pháp thay nhau mà gọi tên như 10 tưởng v.v..., cũng nhớ chỗ sở
hành trước sau, nên gọi là nhớ.
Hỏi : Trong thở dài ngắn v.v... không nói Thánh hành, vì sao
vô hành lại gọi chỗ nhớ ? Trong kinh nói : Nếu hành giả học thở
ra vào, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc khắp thân, hoặc trừ thân hành,
bấy giờ gọi là chỗ nhớ thân ?
Đáp : Đó là phương tiện đạo đầu tiên. Vì muốn tâm thanh
tịnh nên về sau gọi là dứt đạo.
Lại trong đây có vô thường v.v... các hạnh. Chỉ kinh đó
không nói, các kinh khác có nói. Hành giả ở trong thở ra vào quán
thân sinh tướng, diệt tướng, và sinh diệt tướng.
Lại nói quán thân vô thường v.v.... Chỉ trong đệ tứ vô thường
v.v... các hành đầy đủ cho nên nói.
Phẩm 186 : Định nạn
Định nầy, nếu lìa chướng ngại các nạn có thể thành lợi ích
lớn. Định nạn, là như thô hỷ. Như trong kinh nói : Ta sinh thô hỷ
là pháp tâm nạn. Hành giả không nên sinh thô hỷ đó, vì sẽ có các
lỗi tham đắm làm loạn định tâm.
Hỏi : Từ pháp sinh hỷ, làm sao không cho sinh được ?
Đáp : Hành giả nghĩ nhớ trống không thì không sinh hỷ. Vì
tưởng có chúng sinh nên mới sinh hỷ, chứ 5 ấm trống rỗng không
có chúng sinh thì làm sao có hỷ ?
Lại hành giả nên khởi nghĩ như vầy : Vì nhân duyên nên có
các pháp sinh, nghĩa là ánh sáng v.v..., trong đó có gì đáng vui
mừng ư ?
Thành Thật Luận Trang 507 Tuệ Quang Foundation
Lại hành giả thấy pháp được hỷ đều liền bại hoại, thì thô hỷ
diệt.
Lại hành giả lại còn cầu việc lớn, không dùng ánh sáng v.v...
các pháp làm gì, cho nên không sinh hỷ.
Lại hành giả vì thấy tướng diệt là lợi, nên không cho ánh
sáng v.v... các tướng là đáng vui mừng.
Lại hành giả nầy tu tập tịch diệt để muốn dứt hết phiền não,
nên không sinh hỷ. Bởi các duyên nầy nên có thể diệt được thô
hỷ.
Lại có định nạn khiếp sợ. Hành giả thấy duyên đáng sợ nên
sinh sợ hãi. Thế gian có bao nhiêu điều đáng sợ hãi hành giả đều
thấy hết. Đối với những việc đó đều phải nghĩ kỹ vô thường bại
hoại, không nên tùy theo nó. Bởi vì sao ? Vì trong pháp tọa thiền
có thấy những nhân duyên nầy là việc có thể sợ, không nên vì đó
mà sinh khiếp sợ, vì việc đó đều hư vọng trống không, như ảo
thuật có thể gạt người phàm chứ không phải chân thật. Suy nghĩ
như vây là lìa được sợ hãi.
Lại nương không pháp thì không sợ hãi.
Lại khởi ý nghĩ như vầy : Do sức ta tu nên mới cảm hiện
tướng lạ nầy, không nên khiếp sợ.
Lại tự nghĩ thân có các công đức trì giới đa văn đầy đủ,
không nhân duyên nào có thể gia hại ta được, nên không khiếp sợ.
Lại hành giả nầy vì vui đạo sâu sắc, nên không tiếc thân
mạng, nào còn sợ gì nữa ?
Lại tâm người nầy thường ở trong chính niệm, cho nên việc
khiếp sợ không thể chen vào được.
Lại nghĩ tướng dũng cảm nên không sợ hãi. Sợ hãi là tướng
khiếp nhược. Dùng các pháp như vậy để diệt trừ sợ hãi.
Lại có định nạn không thích hợp, là hành giả có bệnh nóng
lạnh v.v..., hoặc các nhân duyên mệt mỏi mất ngủ khiến thân thể
không điều hòa thích hợp, hoặc có các phiền não tham buồn ganh
Thành Thật Luận Trang 508 Tuệ Quang Foundation
ghét v.v... khiến tâm không điều hòa thích hợp, nên mất thiền
định. Cho nên hành giả phải tự lo giữ gìn thân tâm cho được điều
hòa thích hợp.
Lại có định nạn dị tướng, là như tướng nhơ bẩn, và cũng có
tướng không không phải nhơ bẩn nhưng có thể làm loạn thiền
định, như tướng bố thí v.v....
Lại có định nạn không bình đẳng, là như tinh tiến, hoặc mau
hoặc chậm. Mau thì thân tâm mỏi mệt, chậm thì không lấy được
định tướng, đều thoái lui mất định, như bắt chim, gấp thì mỏi mệt,
hoãn thì bay mất.
Lại như chỉnh dây đàn, nếu căng hoặc chùng đều không
thành tiếng.
Lại tinh tiến nếu mau thì khó rốt ráo. Như Phật bảo A-na-luật
rằng : Ông tinh tiến quá sau ắt sẽ trễ nải. Bởi vì sao ? Vì nếu quá
tinh tiến thì việc không thành trở lại biếng nhác, mà tinh tiến nếu
chậm việc cũng không xong. Cho nên không bình thường cũng
gọi là định nạn.
Lại có định nạn vô niệm, là không nghĩ pháp thiện, dù có
nghĩ pháp thiện lại không phải chỗ sở thụ.
Lại không nghĩ định tướng mà nghĩ ngoại sắc. Đó gọi là
không nghĩ nhớ. Hành giả nên nhất tâm tinh tiến nghĩ nhớ pháp đã
thụ như tay bưng bát dầu đầy.
Lại có định nạn điên đảo, là người nhiều tâm dục chịu tu
pháp tâm từ, người nhiều giận dữ tu tập pháp bất tịnh. Hai hạng
người trên quán 12 nhân duyên.
Lại trong tâm chìm mà tu chỉ, trong tâm động mà tu tinh tiến,
trong 2 tâm này mà tu xả, đó gọi là điên đảo.
Lại có định nạn nhiều lời, nghĩa là nhiều giác quán. Giác
quán là nhân của ngôn ngữ. Lại vì tâm không lạc trụ, bắt buộc ở
tại cảnh duyên.
Thành Thật Luận Trang 509 Tuệ Quang Foundation
Lại có định nạn không lấy tướng. Có 3 thứ tướng là chỉ
tướng, tiến tướng và xả tướng.
Lại có 3 tướng nữa là nhập định tướng, trụ tướng và khởi
tướng. Hành giả không rành phân biệt các tướng như vậy, nên mất
thiền định.
Lại có mạn định nạn, là như nói ta đây vào định được, mà
người kia không vào được, gọi là kiêu mạn. Hoặc nói người kia có
thể mà ta không thể, gọi là bất như mạn. Hoặc chưa được định mà
tự bảo đã được, là tăng thượng mạn. Đối với định không vi diệu
mà sinh tưởng cho là vi diệu, gọi là tà mạn.
Lại pháp tham v.v... cũng gọi định nạn. Như trong kinh nói :
Nếu hành giả một pháp thành tựu thì không thể quán mắt vô
thường. Đó gọi là tham.
Hỏi : Tất cả những người chưa lìa dục, đều không thể quán
mắt vô thường sao ?
Đáp : Lời đó có chút lỗi. Phải nói hiện tại khởi tham không
thể quán mắt vô thường.
Lại trong thành tựu có sai khác. Có người tham v.v... dày
nặng thường đến với tâm, thì hay chướng định, hoặc mỏng mà
không thường xuyên, thì không thể làm chướng nạn.
Lại trong kinh nói 13 pháp ác đều gọi là định nạn, 13 bạch
pháp đều là thuận định.
Như Phật nói : Nếu không dứt 3 pháp thì độ được già, bệnh,
chết. Đó là tham, nhuế, si. Nếu không dứt 3 pháp đó thì không thể
dứt tham, nhuế, si là thân kiến, giới lấy, nghi.
Lại có 3 pháp là tà niệm, tà hành, tâm chìm.
Lại có 3 pháp là nhớ quấy, bất an, tuệ loạn tâm.
Lại có 3 pháp là điệu hý, không giữ các căn, phá giới.
Lại có 3 pháp là bất tín, tà giới, biếng nhác.
Lại có 3 pháp là không ưa người thiện, ghét nghe chính pháp,
ưa xoi bói lỗi người.
Thành Thật Luận Trang 510 Tuệ Quang Foundation
Lại có 3 pháp là không cung kính, khó trao đổi giải bày, tập
theo ác tri thức. Nếu không dứt 3 pháp thì không dứt được sự
không cung kính, khó trao đổi giải bày, ác tri thức, nghĩa là không
hổ, không thẹn, phóng túng. Nếu dứt được sự không hổ, không
thẹn, phóng túng thì dứt được sự không cung kính, khó trao đổi
giải bày, quen tập theo ác tri thức, cho đến dứt được thân kiến,
giới thủ, nghi, thì dứt được tham, nhuế, si độ thoát già, bệnh, chết.
Trong đây độ thoát già, bệnh chết là Niết-bàn vô dư. Dứt
tham, nhuế, si là quả A-la-hán Nê-hoàn hữu dư. Dứt thân kiến,
giới thủ, nghi, là 3 quả Sa-môn. Dứt tà niệm, tà hành, tâm chìm là
ở trong noãn v.v... đạt phần thiện căn. Dứt nghĩ nhớ sai quấy,
không an tuệ, loạn tâm là tu 4 ức niệm xứ. Dứt điệu hý không giữ
các căn phá giới, là thụ giới xuất gia. Dứt sự không ưa người
thiện, ghét nghe chính pháp, ưa xoi bói lỗi người, không tin tà
giới, biếng nhác, không cung kinh, khó trao đối giải bày, quen tập
theo ác tri thức, không hổ, không thẹn, phóng túng, là tại gia
thanh tịnh.
Bởi vì sao ? Vì nếu người ở một mình làm ác mà không biết
xấu hổ, gọi là không hổ, người nầy về sau tâm ác tăng dần, ở giữa
chúng mà làm ác cũng không chút liêm sỉ, gọi là không thẹn. Mất
gốc pháp thiện của 2 bạch pháp nầy nên thường đuổi theo pháp ác
gọi là phóng túng. Bởi thành tựu 3 ác pháp nầy nên không chịu
vâng lãnh những lời giáo huấn của các bậc sư trưởng tôn quí, gọi
là không cung kính. Chống trả lời thầy dạy, gọi là khó trao đối
giải bày. Như vậy xa lìa sư trưởng, gần gũi người ác gọi là tập
quen theo ác tri thức.
Trong đây, từ chỗ không hổ sinh không cung kính, từ không
thẹn sinh khó trao đổi giải bày, từ phóng túng sinh quen tập theo
ác tri thức. Cho nên sinh bất tín mà thụ pháp tà giới, thường biếng
nhác, gần gũi người ác, được dạy cho điều bất tín, rằng làm ác
không có báo. Hoặc nghe nói làm ác bị quả báo, liền thụ hành giới
Thành Thật Luận Trang 511 Tuệ Quang Foundation
pháp gà, chó v.v..., mong chóng hết tội. Thụ hành giới pháp nầy
không ngờ có chút lợi lại sinh biếng nhác, vì biếng nhác nên
không ưa người thiện, cho rằng không phải người chân thật làm
chính hạnh. Cũng ghét nghe chính pháp, cho rằng tu chính pháp
đều như tà pháp không được lợi ích gì. Bởi tâm vẩn đục nên ưa
xoi bói lỗi người, cho rằng pháp người kia làm cũng như mình
đều không được gì cả. Như vậy không chế ngự được phiền não
nên tâm hý điệu. Vì hý điệu nên không nhiếp hộ các căn thì có thể
phá giới, vì phá giới nên sinh nghĩ nhớ sai quấy, mà hành không
an tuệ tâm chí tán loạn liền sinh tà niệm. Sinh tà niệm nên liền tu
tà đạo. Khi tu tà đạo không được lợi ích, nên tâm mê mờ. Tâm
không sáng suốt, nên không dứt được 3 kết. Không dứt 3 kết, nên
không dứt được tham v.v... các bệnh phiền não ... các suy kém.
Trái với những thứ kể trên thì gọi là bạch pháp tức là pháp
thanh tịnh.
Lại có định nạn lo rầu, là hành giả sinh ý nghĩ : Ta đã trải
nhiều năm tháng mà không đắc định nên sinh lo rầu.
Lại tham đắm mùi vị hỷ lạc, đó cũng là định nạn.
Lại có định nạn không vui, nghĩa là tuy được chỗ tốt thầy
giỏi v.v… duyên tâm cũng không vui.
Lại tham v.v…các thứ ngăn che, cũng đều gọi là định nạn.
Tóm lại, cho đến áo mặc, ăn uống v.v... các pháp làm tổn
giảm thiện căn, tăng trưởng bất thiện đều gọi là định nạn, tức
những khó khăn trong tu định, cần phải biết rõ, siêng cầu mong
lìa bỏ.
THÀNH THẬT LUẬN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét