Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

THÀNH THẬT LUẬN quyển 10 đến quyển 12


THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 10 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Thành Thật Luận Trang 326 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 128 : Kiêu mạn
Hỏi : Đã nói 3 phiền não là cội rễ sinh tử. Lại còn có gì nữa
không ?
Đáp : Có. Là khinh mạn.
Hỏi : Khinh mạn là thế nào ?
Đáp : Do tà tâm tự cao gọi là mạn. Mạn nầy có nhiều thứ :
Như mình ở bậc thấp mà tự cao thì gọi là mạn. Ở bậc như nhau
mà chấp như nhau cũng gọi là mạn, vì trong ấy chấp tướng tà tâm
là ta hơn. Ở bậc ngang hàng mà tự cho cao hơn gọi là đại mạn. Ở
bậc hơn mà tự cao gọi là mạn mạn. Trong 5 ấm chấp lấy tướng
ngã, gọi là ngã mạng. Ngã mạn có 2 thứ : hiện tướng và không
hiện tướng. Hiện tướng là ngã mạn của phàm phu. Nghĩa là chấp
sắc là ngã, hay chấp hữu sắc là ngã, chấp sắc trong ngã; chấp ngã
trong sắc, cho đến thức cũng như vậy. Vì hiện ra 20 phần nầy nên
gọi là hiện tướng. Không hiện tướng là học nhân ngã mạn, như
Trưởng lão Sai-ma-già nói : Không nói sắc là ngã, không nói thụ,
tưởng, hành, thức là ngã, chỉ trong 5 ấm có ngã mạn, ngã dục, ngã
sử. Chưa dứt, chưa hết gọi là ngã mạn. Nếu chưa được các quả
công đức Tu-đà-hoàn v.v..., mà tự cho là đã được, gọi là tăng
thượng mạn.
Hỏi : Nếu chưa được vì sao sinh tâm đã được ?
Đáp : Vì trong khi tập thiền được chút ít khí vị có thể ngăn
chận kết sử không cho hiện hành trong tâm nên sinh mạn này. Lại
sức văn tuệ, tư tuệ thường gần thầy giỏi, thích hạnh viễn ly, biết
chút ít tướng 5 ấm, cho nên sinh tưởng được quả Tu-đà-hoàn
v.v… gọi là tăng thựong mạn.
Hỏi : Tăng thượng mạn có những lỗi gì ?
Đáp : Về sau sẽ lo buồn. Như trong kinh nói : Nếu Tì-kheo
nói ta dứt nghi được đạo, tức phải hiện tiền nói nhân duyên rất sâu
pháp xuất thế gian. Nếu Tì-kheo này thật không được đạo, khi
Thành Thật Luận Trang 327 Tuệ Quang Foundation
nghe pháp ấy thì sinh sầu não hối hận. Cho nên phải siêng dứt
tăng thượng mạn.
Lại người tăng thượng mạn, chư Phật Thế Tôn có tâm đại từ
bi hãy còn bỏ xa không vì nói pháp. Cho nên phải dứt.
Lại người tăng thượng mạn, vì trụ ở trong pháp tà kiến, nên
không có thật công đức, giống như người đi buôn vào sâu trong
biển cả, mà tham thứ ngọc giả. Người nầy cũng vậy, vào trong
biển cả Phật pháp, được chút niềm vui thiền vị, bảo là chân đạo
mà sinh tham đắm.
Lại người tăng thượng mạn, khi tuổi già sắp chết không
kham nổi thụ đạo pháp, nên phải siêng cầu chân thật trí tuệ.
Lại người tăng thượng mạn tự mất lợi ích mà tăng thêm ngu
si, vì thật chưa được mà tưởng đã được. Vì vậy không nên tự dối
mình, phải mau xa lánh lìa bỏ.
Nếu người đại thắng mà cho là không bằng chút nào, gọi là
bất như mạn. Người này tự cao và cũng tự hạ mình xuống.
Nếu người không có đức mà tự cao gọi là tà mạn. Lại lấy ác
pháp tự cao cũng gọi tà mạn.
Nếu đối với người thiện và bậc đáng trọng, mà không chịu lễ
kính gọi là ngạo mạn.
Tất cả những tên gọi như vậy là tướng kiêu mạn.
Hỏi : Mạn phát sinh như thế nào ?
Đáp : Không biết thật tướng các ấm thì sinh kiêu mạn. Như
trong kinh nói : Nếu người lấy sắc vô thường, tự nghĩ là thượng,
là trung, là hạ, người này chính là vì không biết tướng như thật.
Cho đến thức cũng như vậy. Nếu biết tướng của ấm thì không
kiêu mạn.
Lại khéo suy nghĩ tu thân thì không kiêu mạn. Như con bò
cậy cặp sừng nên sinh bạo mạn. Nếu bỏ cặp sừng thì không còn
năng lực nữa. Thân là bất tịnh, 9 lỗ chảy ra đồ bất tịnh, làm gì có
Thành Thật Luận Trang 328 Tuệ Quang Foundation
người trí ỷ vào đó mà tự cao. Nhờ những nhân duyên nghĩ về thân
như vậy, tức không kiêu mạn.
Lại người trí biết tất cả chúng sinh hoặc nghèo hoặc giàu,
hoặc sang hoặc hèn, cũng đều lấy xương thịt gân mạch, 5 tạng,
phân nhơ họp lại mà thành thân, đều có sinh lão bệnh tử buồn rầu
khổ não, cũng có tham sân v.v... các phiền não, các nghiệp tội
phúc, và địa ngục v.v... các phần ác đạo, làm sao mà khởi kiêu
mạn ?
Lại thấy nội ngoại tâm do nhân nguyên sinh, đều biết niệm
niệm diệt, thì không kiêu mạn.
Lại khéo tu tập không tâm thì không kiêu mạn. Bởi vì sao ?
Vì chạy theo tướng nên sinh kiêu mạn, nếu không có tướng khởi
mạn chỗ nào ?
Lại người trí tuệ, như thật có giới v.v… các công đức, thì
không sinh mạn. Bởi vì sao ? Vì giới v.v... các công đức đều vì để
làm hết các phiền não nầy. Nếu không công đức, làm gì có người
trí, đối với việc không có, mà khởi kiêu mạn ?
Lại quán tướng vô thường v.v... thì diệt kiêu mạn. Làm gì có
người trí, đem vật vô thường khổ, bất tịnh ra mà sinh kiêu mạn ?
Hỏi : Kiêu mạn có các lỗi gì ?
Đáp : Từ kiêu mạn có thân, từ thân sinh tất cả khổ. Như
trong kinh Phật nói : Nếu đệ tử ta ai không thể như thật biết tướng
kiêu mạn, thì ta thụ ký cho sẽ sinh về nơi nào đó, vì còn thừa kiêu
mạn chưa dứt.
Lại tất cả phiền não đều tùy theo chấp lấy tướng, mà ngã là
tướng lớn nhất trong các tướng. Cho nên biết là từ mạn có thân.
Lại kiêu mạn tức là phần của si. Bởi vì sao ? Vì mắt thấy sắc
bảo là ta có thể thấy.
Lại kiêu mạn nầy sinh không cần đạo lý. Bởi vì sao ? Vì tất
cả thế gian đều vô thường, khổ, vô ngã làm sao bởi đó mà sinh
kiêu mạn. Cho nên đối với tham sân si rất không có đạo lý.
Thành Thật Luận Trang 329 Tuệ Quang Foundation
Lại từ mạn khởi nghiệp vừa nhạy bén vừa nặng nề, vì tham
đắm sâu sắc, cho nên từ tham khởi nghiệp không được như vậy.
Lại vì sức mạnh kiêu mạn nên tham v.v... bùng phát, tức
tham nầy được chủng tính v.v... thì kiêu mạn thêm lớn bùng phát.
Lại nhân duyên ngã mạn bị sinh vào nhà thấp hèn, cũng sinh
trong loài sư tử cọp sói. Do nhân duyên nầy mà đọa địa ngục.
Kiêu mạn có những tội lỗi như vậy nhiều vô lượng..
Hỏi : Thế nào là nhiều kiêu mạn ?
Đáp : Người này cố chấp khó cùng nói chuyện. Người này
không có lòng cung kính, ít biết sợ, thích tự do tự tại, tự đại khó
dạy, có được chút ít tự cho là nhiều, hay khinh người. Những lỗi
nầy rất khó trừ. Cho nên người có trí rất không nên phạm kiêu
mạn, vì nó phá tất cả công đức nên sinh.
Phẩm 129 : Nghi
Luận giả nói nghi là đối với trong thật pháp tâm không quyết
định. Như có giải thoát hay không giải thoát ư ? Có thiện bất thiện
hay không ư ? Có Tam Bảo hay không ư ? Đó gọi là nghi.
Hỏi : Như thấy cây trơ trụi sinh nghi là cây hay người ? Thấy
cục đất sinh nghi là cục đất hay con bồ câu ? Thấy con ong sinh
nghi là con ong hay quả Diêm-phù ? Thấy con rắn sinh nghi là
con rắn hay sợi dây ? Thấy sóng nắng sinh nghi là ánh sáng hay
nước ? Những nghi như vậy do nhãn thức sinh. Nghe tiếng sinh
nghi là tiếng chim công hay người giả tiếng ? Ngửi nghe mùi sinh
nghi là mùi thơm hoa Ưu-bát hay mùi thơm hòa hợp ? Nếm vị
sinh nghi là vị của thịt hay vị giống như thịt ? Chạm xúc sinh nghi
là tơ lụa sống hay tơ lụa ươm ? Ý thức thì nhiều thứ sinh nghi :
Như nghi pháp này có Đà-la-phiêu hay chỉ Cầu-na ? Có thần hay
không có thần. Những điều như vậy có phải là nghi chăng ?
Thành Thật Luận Trang 330 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu cây trơ trụi, người v.v... mà sinh nghi thì không
phải phiền não, vi đó không thể làm nhân duyên cho thân sau, lại
vì người lậu tận cũng khởi như vậy.
Hỏi : Nghi ấy sinh như thế nào ?
Đáp : Như thấy nghe biết 2 thứ pháp, nên sinh nghi. Bởi vì
sao ? Vì trước thấy 2 vật đứng một là cây hai là người; sau mới xa
thấy người với vật như nhau thì sinh nghi là cây hay là người ?
Đất v.v... cũng như vậy. Hai thứ nghe là như nghe nói có tội phúc
đời sau, cũng nghe nói không có, cho nên sinh nghi. Hai thứ biết
là như trời mưa lớn nên kênh mương tràn nước hoặc khi đắp đập,
nước kênh mương cũng tràn. Như trời sắp mưa thấy kiến tha
trứng di cư, hoặc người đào đất cũng thấy mang trứng tránh đi.
Như chim công kêu, người có thể bắt chước tiếng kêu được. Thật
sự có thể thấy như cái bình. Không phải thật sự nhưng cũng có thể
thấy như vòng lửa quay tròn. Thật sự không thể thấy như rễ cây
dưới đất, trong nước. Không phải thật sự cũng không thể thấy
như cái đầu thứ 2, cái tay thứ 3. Như vậy v.v... 2 thứ pháp thấy,
nghe, biết nên mới sinh nghi.
Lại không xét kỹ khi thấy nên sinh nghi, như thấy ở xa v.v...
hay 8 nhân duyên.
Lại vì 2 tin nên sinh nghi. Như có người nói có đời sau; lại
có người nói không có. Tin cả 2 người nên mới sinh nghi.
Lại trong việc khả nghi đó, cho đến không thấy tướng gì
khác, cho nên sinh nghi. Nếu thấy tướng khác thì không nghi này.
Hỏi : Thấy tướng khác là thế nào ?
Đáp : Thấy nghe biết quyết định thì không có nghi. Trong
Phật pháp, tùy khi đích thân chứng pháp thật tướng mới rốt ráo
không nghi. Như Bồ-tát khi ngồi ở đạo tràng nói pháp tinh tiến,
Bà-la-môn chứng được pháp sâu xa hiện tiền các duyên thấy biết
tiêu tan hết, tức thì xé rách lưới nghi.
Thành Thật Luận Trang 331 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu được trí tuệ có đạo lý thì nghi nầy dứt, như người trí
nghe nói hành làm nhân duyên cho thức, liền quyết định biết rõ vô
thủy sinh tử là như vậy v.v...
Hỏi : Nghi có lỗi gì ?
Đáp : Nếu người đa nghi, thì tất cả sự nghiệp thế gian xuất
thế gian đều không thành tựu. Bởi vì sao ? Vì người nghi không
thể khởi phát sự nghiệp gì cả, nếu phát khởi cũng yếu ớt, nên
không thể thành tựu.
Lại trong kinh nói : Nghi là những nảy mầm nơi tâm, giống
như ruộng hoang nảy sinh mầm cây dại cho nên cỏ lạ còn không
mọc được, huống là lúa má. Tâm cũng như vậy, vì gốc nghi phá
hoại, nên đối với việc tà còn không quyết định được, huống chi có
thể quyết định việc chính.
Lại Phật gọi nghi là nhóm tối. Nhóm tối có 3 thứ là nhóm tối
quá khứ, nhóm tối vị lai, nhóm tối hiện tại. Nhóm tối nầy là nơi
sinh các ngã kiến.
Lại người nầy dù được định tâm cũng là tà định. Nếu lìa Phật
pháp thì không thể nói là người chính định được.
Lại nhiều chúng sinh hoài nghi cho đến chết, như nói A-tragià
v.v... người tiên được 5 thần thông mà cũng ôm nghi ngờ đến
chết.
Lại người nghi nầy, nếu tu phúc đức bố thí v.v..., thì hoặc
không quả báo, hoặc ít được báo. Bởi vì sao ? Vì các phúc nghiệp
nầy đều từ tâm khởi. Mà tâm người nầy thường bị nghi làm đục
vẩn, nên không có phúc thiện.
Lại trong kinh nói : Tâm nghi mà bố thí thì chịu quả báo sinh
ở chốn biên địa. Bởi vì sao ? Vì người đa nghi nầy không thể nhất
tâm, theo thời mà tay đưa cho, nhưng không thể sinh tâm cung
kính, nên được thụ chút quả báo sinh ở chốn biên địa, như tiểu
vương Ba-da-tuy chẳng hạn.
Thành Thật Luận Trang 332 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Không có nghi nầy đâu. Bởi vì sao ? Vì nghi là tâm số
pháp, mà các tâm số pháp thì niệm niệm sinh diệt. Nếu đúng thì
chẳng phải là nghi. Nếu sai cũng chẳng phải là nghi. Vì trong một
tâm không được vừa có đúng vừa có sai. Cho nên biết là không có
?
Đáp : Tôi không nói trong niệm niệm có nghi. Tâm không
quyết định luôn nối nhau gọi là nghi. Bấy giờ tâm không quyết
định rõ ràng là cái cây trơ trụi hay là con người. Cái tâm này nối
nhau luôn này vì không tin nên vẩn đục. Cũng bởi tà kiến nên
không tin, khi nghi hoặc có hoặc không. Không tin này có 2 thứ :
Một từ nghi sinh, hai từ tà kiến sinh. Từ nghi sinh thì nhẹ. Từ tà
kiến sinh thì nặng. Tin cũng có 2 thứ : Một từ chính kiến sinh, hai
từ nghe sinh. Từ chính kiến sinh thì tin bền chắc. Từ nghe mà sinh
thì sinh không được như vậy.
Phẩm 130 : Thân kiến
Trong 5 ấm, ngã tâm gọi là thân-kiến. Vì thật không có ngã
nên nói duyên lấy 5 ấm. Năm ấm gọi là thân; trong đó sinh kiến
chấp gọi là thân kiến. Trong không có ngã mà chấp lấy tướng ngã,
nên gọi là kiến.
Hỏi : Trong 5 ấm tạo tên gọi là ngã thì có lỗi gì ? Như cái
bình chẳng hạn, các vật đều có tự tướng, trong đó không lỗi, thì
ngã cũng vậy. Lại nếu nói lìa ấm riêng có ngã, đó mới là có lỗi ?
Đáp : Tuy không lìa ấm nói ngã, đó cũng có lỗi. Bởi vì sao ?
Vì ngoại đạo nói ngã là thường, vì đời nay khởi nghiệp, đời sau
chịu quả báo. Nếu nói như vậy 5 ấm phải là thường.
Lại nói là ngã vì ngã là một. Vậy thì 5 ấm tức phải là một ?
Đó là có lỗi.
Lại ngã tức là lỗi. Bởi vì sao ? Vì ngã tâm nên mới có ngã sở.
Bởi có ngã sở nên khởi ra tham giận v.v... tất cả phiền não. Cho
nên biết ngã tâm là nơi sinh phiền não.
Thành Thật Luận Trang 333 Tuệ Quang Foundation
Lại người nầy tuy không lìa ấm nói ngã, vì chấp lấy tướng
ấm nên không tu lý không. Vì không tu lý không nên sinh phiền
não. Từ phiền não sinh nghiệp, từ nghiệp sinh khổ. Như vậy sinh
tử nối nhau luôn không dứt.
Lại người nầy vì chấp ngã nên không thể phân biệt được
tướng thô như thân đầu mắt tay chân, huống chi có thể phân biệt
được các ấm, vì đã thụ ngã làm một, ngã là thường cho nên nếu
không phân biệt được thì làm sao có ngộ nhập lý không ?
Lại nếu chấp ngã thì sợ Nê-hoàn, vì cho ngã là không có.
Như trong kinh nói : Phàm phu nghe đạo lý không vô ngã sinh
khiếp sợ rất lớn, vì ngã là không có nên đều không được gì hết.
Phàm phu mà như vậy thì cho đến tham cầu thân con dã can bị
bệnh hủi, cũng không dùng Nê-hoàn. Nếu được không trí thì
không còn sợ nữa. Như Kinh Ưu-ba-tư-na nói : Người thanh tịnh
trì giới, khéo tu 8 Thánh đạo, đến khi mạng chung tâm vui mừng
như đập vỡ đồ đựng chất độc.
Lại nếu nói có ngã tức sa vào tà kiến. Nếu ngã là thường thì
khổ vui không biến đổi. Nếu không biến đổi thì không tội phúc.
Nếu ngã là vô thường, thì không có đời sau, tự nhiên giải thoát
cũng không tội phúc. Cho nên biết thân kiến là tội nặng.
Lại người thân kiến gọi là rất si. Tất cả phàm phu đều bởi
thân kiến loạn tâm chấp sâu hữu ngã, nên bị qua lại sinh tử. Nếu
thấy vô ngã thì dứt qua lại.
Hỏi : Nếu 5 ấm là vô ngã, Vì sao chúng sinh trong đó sinh
ngã tâm ?
Đáp : Hoặc nghe các danh tướng như người trời trai gái, vì
tưởng phân biệt nên sinh ngã tâm. Và cũng bởi chẳng phải nhân,
tương tự nhân nên sinh ngã tâm. Nghĩa là nếu không có ngã thì ai
chịu khổ vui, cử chỉ ngôn ngữ, khởi nghiệp tội phúc và chịu quả
báo v.v... ư ?
Thành Thật Luận Trang 334 Tuệ Quang Foundation
Lại từ vô thủy sinh tử tụ tập tướng ngã đã lâu thành thói quen
rồi bị nó sai khiến, như tướng cái bình v.v... nên sinh ngã tâm.
Lại trong các thụ ấm sinh ngã tâm, chứ không phải trong
không thụ. Cho nên nói là chỗ sinh ngã tâm, vì trong đó có ngã.
Bởi vì sao ? Vì không phải tất cả chỗ đều sinh được ngã tâm.
Lại vì ngu si nên sinh ngã tâm, giống như người mù nhặt
được gạch đá v.v... sinh tưởng là vàng ngọc.
Lại người nầy chưa được không trí phân biệt, vì si nên thấy
có ngã, như trong ảo hóa, chiêm bao, thành Càn-thát-bà, vòng lửa
quây tròn v.v…thẩy mà sinh tưởng có thật.
Hỏi : Hiện thấy sắc thân tóc lông móng v.v... các phần đều
khác. Làm sao người trí cho đó là ngã ?
Đáp : Có người thấy thần như hạt bắp, hạt cải v.v... trụ ở
trong tâm. Thần Bà-la-môn trắng. Thần Sát-lợi vàng. Thần Tì-xá
đỏ. Thần của Thủ-đà-la đen.
Lại trong sách Vĩ-đà nói : Thuở minh sơ, thần của các Đại
trượng phu sắc như ánh sáng mặt trời. Nếu ai biết thần nầy thì có
thể vượt qua sinh tử, mà không đường nào khác. Tiểu nhân thì
thần nhỏ, đại nhân thì thần lớn, trụ ở trong hang thân.
Lại người ngồi thiền được tướng quang minh, thấy thần ở
trong thân như sợi chỉ trong lòng hạt tịnh châu. Những người như
vậy chấp sắc v.v... làm ngã. Người suy nghĩ nông cạn nói thụ là
ngã, vì trong cây đá v.v... không có thụ, cho nên biết thụ tức là
ngã. Người suy nghĩ bậc trung nói tưởng là ngã, vì khổ vui tuy có
lỗi, nhưng còn có tưởng ngã tâm. Người suy nghĩ kỹ nói hành là
ngã, vì tưởng cái bình v.v... tuy có lỗi, nhưng còn có nghĩ ngã
tâm.
Người suy nghĩ sâu sắc nói thức là ngã, vì cái biết và suy nghĩ
còn thô, suy nghĩ nầy tuy có lỗi, nhưng còn có liễu biệt được ngã
tâm.
Thành Thật Luận Trang 335 Tuệ Quang Foundation
Lại với trong 5 ấm sinh ngã tâm, người nầy không thể phân
biệt được thụ v.v... các ấm. Trong sắc, tâm hòa hợp sinh ngã
tưởng, như trong sắc v.v... 4 pháp tổng hợp sinh tưởng cái bình, vì
sắc v.v... sai biệt nên có 20 phần thấy sắc là ngã. Bởi vì sao ? Vì
sắc là pháp bị ngã rõ biết và là chỗ nưong của thụ v.v.... Các thụ
v.v... nầy buộc ở nơi sắc, cho nên gọi là sắc là ngã.
Có người thấy sắc trụ ở trong thụ v.v..., vì thụ v.v... là pháp
không liễu biệt, cho nên bị sắc nương dựa, như hư không không
liễu biệt nên bị đất v.v... nương dựa. Như vậy 20 phần đều do si
sinh.
Hỏi : Vì sao trong mắt v.v... không nói ngã phần ?
Đáp : Cũng có. Như trong kinh nói : Nếu ai nói mắt là ngã,
thì không đúng. Bởi vì sao ? Vì mắt là sinh diệt mắt là ngã, thì ngã
cũng sinh diệt.
Lại mắt v.v... đều có tướng riêng; nếu nói mắt là ngã, tai
v.v... không phải ngã, thế là không được. Nếu tai v.v... là ngã thì
một người có nhiều ngã. Vì trong sắc v.v... có sai biệt nên có thể
nói sắc là ngã mà không phải thụ v.v....
Hỏi : Nếu nói vô ngã cũng là tà kiến. Việc ấy thế nào ?
Đáp : Có 2 đế lý. Nếu nói đệ nhất nghĩa đế mà có ngã, đó là
thân kiến. Nếu nói thế đế vô ngã, đó là tà kiến. Nếu nói thế đế nên
có ngã, đệ nhất nghĩa đế nên vô ngã, đó là chính kiến.
Lại đệ nhất nghĩa đế nên nói không; thế đế nên nói có, thì
không sa vào kiến trung. Như vậy có, không 2 cách nói đều
thông. Như cọp tha con, nếu ngoạm chặt con bị thương, ngoạm
lỏng con rơi mất. Như vậy nếu nói cả quyết là có ngã, thì sa vào
thân kiến, cả quyết nói không có ngã, thì sa vào tà kiến.
Lại thái quá và bất cập cả 2 đều có lỗi. Nếu cả quyết nói
không có ngã là thái quá. Nếu cả quyết nói có ngã là bất cập. Cho
nên trong kinh nói : Phải bỏ 2 bên. Nếu đệ nhất nghĩa đế nên nói
không, thế đế nên nói có, đó là bỏ 2 bên đi con đường chính giữa.
Thành Thật Luận Trang 336 Tuệ Quang Foundation
Lại Phật pháp là không thể tranh hơn. Nếu nói đệ nhất nghĩa
đế nên không, thì người trí không hơn; nếu nói thế đế nên có, thì
phàm phu không tranh.
Lại Phật pháp là thanh tịnh trung đạo phi thường phi đoạn.
Đệ nhất nghĩa đế là không, nên phi thường, Thế đế là có nên phi
đoạn.
Hỏi : Nếu pháp đệ nhất nghĩa đế cho nên không, thi lẽ ra phải
là không hẳn, sao lại nói thế đế cho nên có ?
Đáp : Tất cả thế gian có bao nhiêu ngôn thuyết nói nghiệp
và nghiệp báo, hoặc trói buộc hoặc cởi mở v.v... đều do si sinh ra.
Bởi vì sao ? Vì 5 ấm là trống không, như trò huyễn, như ánh lửa
nối nhau sinh. Vì muốn độ người phàm phu, nên mới tùy thuận
nói có, nếu không nói thì phàm phu mê muội hoặc sa vào đoạn
diệt. Nếu không nói các ấm thì không giáo hóa được, vì tội phúc
v.v... các nghiệp hoặc trói hoặc mở, đều không thành lập được.
Nếu phá được những lời si nầy thì tự có thể vào được lý không.
Bấy giờ không còn các tà kiến. Cho nên sau nói đến đệ nhất nghĩa
đế. Như ban đầu dạy quán thân để phá tướng nam nữ, kế đó lấy
tóc lông móng v.v... phân chia thân tướng chỉ có 5 ấm. Sau mới
lấy tướng không để diệt tướng 5 ấm. Diệt tướng 5 ấm gọi là đệ
nhất nghĩa đế.
Lại nếu nói thế đế cho nên có, thì không cần phải nói đệ nhất
nghĩa là không.
Lại trong kinh nói nếu biết các pháp không có tự thể tính, thì
có thể vào lý không, cho nên biết 5 ấm cũng không có.
Lại đệ nhất nghĩa không, trong kinh nói mắt v.v..., bởi đệ
nhất nghĩa đế nên không, thế đế nên có. Trong Kinh Đại Không
nói : Nếu nói đây là già chết, hoặc nói người nầy già chết, hoặc
ngoại đạo nói thân tức là thần, hoặc nói thân khác thần khác. Việc
này nghĩa là một, mà tên gọi khác. Nếu nói thân tức là thần, thân
khác thần khác, là không phải người phạm hạnh. Nếu ngăn người
Thành Thật Luận Trang 337 Tuệ Quang Foundation
nầy già chết tức nói vô ngã. Nếu ngăn đây là già chết tức phá lão
tử, cho đến vô minh. Cho nên biết trong đệ nhất nghĩa không có
lão tử v.v.... Nói sinh làm duyên cho lão tử, đều vì thế đế mà nói,
đó là trung đạo.
Lại trong Kinh La-đà nói : Phật bảo La-đà rằng : Sắc tán hoại
phá vỡ khiến diệt không còn hiện, cho đến thức cũng như vậy.
Như vách đá v.v..., vì không thật nên có thể phá hủy khiến không
còn hiện. Các ấm không hiện cũng vì đệ nhất nghĩa nên không có.
Tùy các ấm tướng tồn tại thì ngã tâm rốt ráo không đoạn, vì nhân
duyên không diệt. Như cây tuy đã bị đốn chặt, đốt cháy, cho đến
thành tro than, nhưng cái tưởng về cây hãy còn theo ám ảnh. Nếu
tro than nầy bị gió thổi, nước trôi, cái tưởng về cây mới diệt. Như
vậy, nếu phá vỡ tán hoại, diệt tướng 5 ấm, bấy giờ mới gọi là đầy
đủ tướng không.
Lại trong kinh nói : La-đà ông phá vỡ tán hoại, chia tách
chúng sinh, khiến không hiện tại. Đó là trong kinh nầy nói 5 ấm
vô thường, là chúng sinh không. Trong kinh trước nói 5 ấm tán
diệt, đó là pháp không.
Thành Thật Luận Trang 338 Tuệ Quang Foundation
Phẩm 131 : Kiến chấp một bên
Nếu các pháp hoặc đoạn hoặc thường, gọi là biên kiến, nghĩa
là chấp thiên lệch một bên. Có luận sư nói : Nếu ai nói ngã hoặc
đoạn hoặc thường, gọi là biên kiến chứ không phải tất cả pháp.
Bởi vì sao ? Vì hiện thấy các vật bên ngoài có đoạn diệt. Nên
trong kinh nói : Thấy có, là thường, thấy không, là đoạn.
Lại thân tức là thần gọi là đoạn kiến, thân khác thần khác gọi
là thường kiến.
Lại sau khi chết rồi không làm gọi là đoạn kiến, chết rồi lại
làm gọi là thường kiến, chết rồi cũng làm cũng không làm, trong
đó chỗ có tác giả gọi là thường, chỗ không có tác giả gọi là đoạn,
chẳng phải làm chẳng phải không làm cũng như vậy.
Hỏi : Điều thứ tư nầy không nên gọi là kiến chấp ?
Đáp : Vì người nầy trong thế đế cũng không có người không
có pháp nên gọi là kiến chấp. Thường, vô thường, hữu biên, vô
biên, 4 câu cũng như vậy.
Lại trong kinh nói : Sáu xúc nhập diệt hết, mà còn có cái
khác tức là thường, không còn cái khác tức là đoạn.
Lại nếu chấp ngã trước làm, sau sẽ làm nữa gọi là thường
kiến. Chấp ngã trước không làm, sau cũng không làm, gọi là đoạn
kiến.
Lại Kinh Tà Kiến nói : Thân người có bảy phần là đất, nước,
lửa, gió, khổ, vui, và thọ mạng. Nếu khi thân chết, 4 đại quy về
gốc, căn quy về hư không.
Lại nói : Lấy dao búa giết chúng sinh chứa thịt thành đống,
không tội sát sinh, đó gọi là đoạn kiến. Và Kinh Phạm Võng nói
đó là tướng đoạn kiến. Nếu nói có người là tác giả đời sau, tức
người ấy là thụ giả, gọi là thường kiến.
Hỏi : Đoạn kiến và thường kiến sinh như thế nào ?
Đáp : Tùy theo bởi nhân duyên nào đó mà nói chết rồi trở lại
làm nhân duyên đó nữa, nên sinh bên thường kiến. Tùy bởi nhân
Thành Thật Luận Trang 339 Tuệ Quang Foundation
duyên nào đó mà nói chết rồi không làm nhân duyên ấy nữa, nên
sinh đoạn diệt kiến.
Hỏi : Làm sao dứt được kiến chấp nầy ?
Đáp : Chính nhờ tu tập không quán thì không có ngã kiến. Vì
không ngã kiến nên không có chấp 2 bên. Như trong Kinh Diệmma-
già nói : Nếu mỗi mỗi ấm không phải là người, thì hòa hợp lại
cũng không phải người, mà lìa ấm ra cũng không phải người.
Hiện tại như vậy không thể được, làm sao nói A-la-hán chết rồi
không làm ? Cho nên biết người là không thể được. Vì người
không thể được nên ngã kiến và đoạn thường kiến cũng không.
Lại thấy các pháp do từ nhiều duyên sinh, thì không chấp 2
bên.
Lại như nói thấy thế gian có tụ tập, thì dứt chấp không, thấy
thế gian diệt, thì dứt chấp có.
Lại vì thực hành trung đạo, nên diệt cả 2 bên. Bởi vì sao ? Vì
thấy các pháp liên tục sinh thì dứt đoạn kiến, thấy niệm niệm diệt
thì dứt thường kiến.
Lại nói 5 ấm, không phải ngay ấm đó là người, cũng không
phải lìa ấm là người. Cho nên biết không phải thường không phải
đoạn. Vì có thể được thân khác nên không được nói là một. Vì
đều là chúng sinh nên không được nói là khác.
Lại 5 ấm nối nhau mới có chúng sinh chết sống. Trong đó
không được nói ngay ở đó, vì nối nhau luôn đổi khác. Cũng không
được nói khác, vì trong nối nhau kia có thể nói là một.
Lại từ ấm nầy đến ấm kia khác nhau, nên không được nói
thường; do sức nhân duyên nối nhau sinh nên không được nói
đoạn.
Phẩm 132 : Tà kiến
Nếu thật có pháp mà sinh tâm cho là không, đó là tà kiến.
Như nói không có Tứ đế, Tam Bảo v.v.... Trong kinh nói : Tà kiến
Thành Thật Luận Trang 340 Tuệ Quang Foundation
là : không bố thí, không thờ kính, không thiêu đốt, không thiện,
không ác, không có nghiệp báo thiện ác, không đời nay, không
đời sau, không cha mẹ, không chúng sinh thụ sinh thế gian,
không A-la-hán chính hành chính chí, và tự cho rằng mình rõ thấu
chứng đời nầy đời sau, biết ta sinh tử đã hết, phạm hạnh đã thành,
chỗ làm đã xong. Từ thân nầy trở đi không còn thân khác.
Bố thí là vì lợi tha nên thí cho. Thờ kính là những lời lẽ trong
sách Vĩ-đà do trời mà có nên phải thờ kính. Thiêu đốt là ở trong
miếu thờ trời đốt các hương tô hợp v.v... Thiện là có thể được 3
thứ quả được ưa thích của nghiệp thiện. Ác là bị 3 thứ quả không
được ưa thích của nghiệp ác. Nghiệp báo thiện ác là tên thiện ác
đời nay, quả báo thân trời đời sau v.v.... Đời nay là hiện tại. Đời
sau là vị lai. Cha mẹ là người sinh ra. Chúng sinh thụ sinh là từ
đời nay đến đời sau. A-la-hán là người hết phiền não. Nghĩa là
không có những việc trên gọi là tà kiến.
Lại chúng sinh bẩn sạch, có thấy biết, không thấy biết đều
không nhân duyên. Lại không sức, không mạnh và quả báo nầy
v.v..., gọi là tà kiến.
Nói tóm lại có tâm điên đảo đều là tà kiến. Như vô thường
tưởng thường; khổ tưởng vui, bất tịnh tưởng tịnh, vô ngã tưởng
ngã, không hơn tưởng hơn, đạo thanh tịnh tưởng chẳng phải đạo
thanh tịnh, đạo chẳng phải thanh tịnh tưởng đạo thanh tịnh, trong
không tưởng có, trong có tưởng không. Những tâm điên đảo như
vậy v.v..., như 5 kiến chấp trong Luận A-tì-đàm, 62 kiến chấp
trong Kinh Phạm Võng đều gọi tà kiến.
Hỏi : Tà kiến nầy sinh như thế nào ?
Đáp : Bởi si nên sinh. Nhiễm đắm cái chẳng phải nhân và cái
tương tự nhân, nên sinh tà kiến.
Lại vì nhiễm đắm nhân vui nên nói không Khổ.
Lại mất đạo lý không, nên nói không khổ, vì cho rằng không
có người chịu khổ.
Thành Thật Luận Trang 341 Tuệ Quang Foundation
Như nói muôn vật trong thế gian không nhân không duyên.
Hoặc nói nhân nơi trời Tự Tại v.v... chứ không phải nhân nơi ái.
Đó gọi là không Tập.
Tùy theo nhân duyên nào đó nói không có Nê-hoàn; hoặc nói
Nê-hoàn bằng một cách khác. Đó gọi là không Diệt.
Nếu không đạo Nê-hoàn thì đến chỗ nào ? Hoặc nói lại có
đạo giải thoát khác là nhịn ăn v.v.... Đó gọi là không Đạo.
Không Phật, là người nầy nói : Các pháp nhiều vô lượng làm
sao một người có thể biết hết được ? Hoặc sinh ý nghĩ như vầy :
Phật là bậc cao quý trong loài người, vì không người nào bằng,
nên biết không có Phật.
Không có phiền não hết, nên gọi là không có Pháp.
Không có người chính hành được Pháp nầy, nên gọi không
có Tăng.
Bởi bố thí không được hiện quả nên gọi không bố thí.
Lại có kinh sách nói không bố thí. So sánh mà biết cũng
không nhất định. Như thế gian có người ưa bố thí mà lại nghèo
cùng; người tham lam lại được giàu sang. Do các nguyên nhân
nầy nên nói không bố thí.
Không thờ cúng, không đốt hương cũng như vậy.
Nếu lửa đốt vật thành tro, thì trong đó có quả gì ?
Không có thiện ác, không có nghiệp báo thiện ác, là nếu
thần là thường thì không thiện ác, nếu thần vô thường thì không
có đời sau. Vì không đời sau nên không thiện ác, không nghiệp
báo thiện ác.
Không đời nay là phân tích các pháp, chung qui đều không
có gì cả.
Không đời sau là bởi sau khi chết rồi không làm nhân duyên
nên nói là không có đời sau.
Không cha mẹ nghĩa là cũng đem từng phần phân tích cho
đến hết.
Thành Thật Luận Trang 342 Tuệ Quang Foundation
Lại nói như do phân sinh trùng, phân không phải cha mẹ của
trùng.
Lại thân phần đầu v.v..., không phải tức thân phần của cha
mẹ.
Lại các pháp diệt trong tích tắc, thì lấy gì làm cha mẹ ?
Không chúng sinh thụ sinh là vì pháp chúng sinh không có,
nên đời nay còn không, huống là có thể thụ thân đời sau.
Lại suy nghĩ mà nói thì chúng sinh này là thân này hay
lkhông phải thân này ? Nếu là thân nầy, thì mắt thấy thân nầy
chôn thì thành đất; đốt thành tro; trùng ăn thành phân nên không
thụ sinh. Nếu là không phải thân nầy thì có 2 thứ : hoặc tâm, hoặc
lìa tâm. Nếu là tâm, thì tâm pháp sinh diệt trong tích tắc không
dừng trụ, huống chi đến thân đời sau. Nếu lìa tâm, thì không chấp
ngã. Với tâm người khác còn không chấp ngã, huống là chỗ vô
tâm. Cho nên không có người thụ sinh.
Không A-la-hán nghĩa là người nầy thấy mọi người đói cầu
ăn, lạnh cầu ấm, nóng cầu mát, phá hại thì giận, cung kính nuôi
dưỡng thì mừng, cho nên không ai hết phiền não được.
Lại kinh sách hoặc nói không A-la-hán, do đó vin lấy kinh
nầy nên sinh tà kiến.
Bẩn sạch v.v... không nhân duyên là người nầy thấy pháp
bẩn tự nhiên mà sinh. Và có thứ bẩn tự thể nó bẩn, nên mới nói
không có nhân. Thấy biết, không thấy biết cũng như vậy.
Không sức không mạnh là thấy tất cả chúng sinh đều nhờ
nhân duyên hoặc có người nói do trời Tự Tại tạo ra mới có.
Lại thấy chúng sinh thuộc nghiệp nhân duyên không phải do
trời Tự Tại, nên nói không sức mạnh và quả báo này.
Vô thường tưởng thường, là tùy đem nhân duyên nào đó để
phá niệm niệm diệt, nhờ nhân duyên đó nên sinh thường kiến.
Lại nói các pháp khi diệt lại thành vi trần, hoặc nói trở về
bản tính.
Thành Thật Luận Trang 343 Tuệ Quang Foundation
Lại các pháp tuy diệt, vì nhớ tưởng, nên có thể chịu khổ vui,
rồi sinh tưởng là thường.
Lại nói thần là thường, âm thanh cũng thường. Vì các duyên
cớ này nên sinh tưởng thường.
Khổ nghĩa là người ưa vui tùy đem nhân duyên nào đó, bảo
là có vui như trong Phẩm Ba thụ ở trước đã nói. Do nhân duyên
nầy, nên sinh tưởng vui.
Bất tịnh tưởng tịnh, là vì nhiễm đắm thân, nên mắt thấy bất
tịnh mà sinh tưởng tịnh. Hoặc nghĩ như vầy : Ta được tướng
người, thấy thân người này bất tịnh, mà có chúng sinh cho đó là
tịnh. Do các nhân duyên như vậy nên sinh tưởng tịnh.
Vô ngã tưởng ngã, là thấy ấm nối nhau sinh, mà nhận lấy
một tướng cho đó là ngã.
Lại như trước đã nói nhân duyên sinh thân kiến. Vì những
nhân duyên nầy, nên sinh tưởng ngã.
Không hơn tưởng hơn, là người nầy đối với các sư ngoại
đạo Phú-lan-na v.v... sinh tưởng thắng hơn.
Lại Phạm Vương tự nói : Ta là Đại Phạm Thiên Vương
người tạo ra muôn vật. Như vậy v.v....
Có người nói : Nếu người hưởng vui 5 thứ dục đầy đủ, đó là
pháp hơn hết.
Lại nói, nếu người lìa dục vào Sơ thiền cho đến Tứ thiền, đó
là pháp vượt trội hơn hết.
Lại nói hiện thấy chúng sinh trong thế gian Bà-la-môn là cao
cả, chứ không phải hiện thấy trời trong chúng sinh là cao tột. Đó
là không hơn tưởng hơn.
Hơn tưởng không hơn, là trong tất cả chúng sinh Phật là vượt
trội hơn cả, mà có người đối với Phật không sinh tưởng hơn lại
nói như vầy : Phật là dòng Sát-đế-lợi, lại mới học đạo không mấy
ngày. Lại còn bảo những lời trong Phật pháp không xảo diệu, văn
từ phiền phức trùng điệp không bằng sách Vi-đà, đó không gọi là
Thành Thật Luận Trang 344 Tuệ Quang Foundation
hơn. Trong chúng Tăng có 4 hạng người, cho nên không hơn. Như
vậy v.v... là trong hơn sinh tưởng không hơn.
Trong chẳng phải đạo thanh tịnh tưởng là đạo thanh tịnh,
nghĩa là như người nói lấy nước tro v.v... rửa người làm cho
thanhtịnh.
Lại nói xong hết sinh tử gọi là đạo thanh tịnh.
Lại chỉ tham đắm trì giỡi, phạm hạnh, cúng dường trời v.v....
Cũng nói do trời Tự Tại nên được thanh tịnh.
Hoặc nói tiêu hết bản nghiệp khổ hạnh, gọi là đạo thanh tịnh.
Lại nói dứt bỏ không dùng các thứ vị tân cay nồng và bơ sữa
v.v… nên được thanh tịnh.
Lại mỗi khi tắm rửa sạch sẽ phải đọc câu chú trong sách Viđà,
rồi sau mới ăn uống, gọi là đạo thanh tịnh.
Dùng các thứ tà đạo như vậy v.v... mà được giải thoát, chứ
không dùng 8 chính đạo cho là đạo thanh tịnh.
Trong có sinh tưởng không, là như trong pháp thế đế có mà
nói là không.
Trong không sinh tưởng có, là như nói có Đà-la-phiêu, có
hữu phần, cũng nói có Cầu-na, số lượng v.v... cũng nói tướng
chung, tướng riêng và tập hợp, cũng nói thế tính v.v... không vật
là có. Những nhân duyên như vậy v.v... sinh tâm điên đảo, đều gọi
là tà kiến.
Trong tà kiến nầy đặc biệt có 4 thứ kiến, còn bao nhiêu các
thứ nặng đều gọi tà kiến.
Hỏi : Làm sao dứt tà kiến nầy ?
Đáp : Trong kinh Phật nói chính kiến có thể làm tiêu tà kiến.
Hỏi : Làm sao sinh chính kiến ?
Đáp :Nếu thấy, nghe, so sánh biết, quyết định đúng đắn là
sinh chính kiến.
Lại khéo tu chính định, thì sinh chính kiến. Như kinh nói
nhiếp tâm có thể biết như thật, chứ không phải tán tâm.
Thành Thật Luận Trang 345 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Tà kiến như vậy có những lỗi gì ?
Đáp : Tất cả tội lỗi và các tổn não đều bởi tà kiến. Vì người
tà kiến bảo không tội phúc và nghiệp báo thiện ác. Cho nên hiện
tại họ không có các việc tốt huống chi là đời vị lai. Người phá
thiện ác như vậy gọi là đoạn thiện căn, chắc chắn sẽ đọa địa ngục
A-tì, như trong Luận A-tì-đàm, Lục Túc nói giết người nầy tội
nhẹ hơn giết loại trùng kiến.
Lại người tà kiến nầy làm ô nhiễm thé gian, vì làm nhiều
điều tổn giảm chúng sinh, cho nên họ sống như một loài cây có
độc vì có hại.
Lại người này khởi ra nghiệp thân khẩu ý đều là ác báo. Như
trong kinh nói : Người tà kiến khởi ra nghiệp thân khẩu ý, muốn
nghĩ nhớ dục, sân đều là ác báo, như trồng giống bầu đắng, giống
Câu-xa độc, ắt hại giống cây Mạn-đà. Trong ấy có bao nhiêu địa
chủng, thủy chủng, hỏa chủng, phong chủng đều có vị đắng, là vì
trồng giống đắng. Như vậy người tà kiến các tâm, tâm số pháp, vì
tà kiến nên đều bị ác báo. Cho nên người nầy dù có làm bố thí
v.v... quyết không có quả báo tốt, vì trước đã bị tâm tà kiến làm
hủy hoại. Những bất thiện người này tạo ra đều tăng thượng, vì từ
lâu chứa nhóm ác tâm.
Lại nhờ giới pháp nên có thể ngăn phi pháp, mà người nầy
không có thiện ác nên không thể cấm kỵ họ được, do đó rất phóng
tùng làm những điều bất thiện, chắc chắn phá hủy 2 pháp trong
trắng là hỗ với thẹn, nên chẳng khác loài súc sinh.
Lại nếu ai nói không thiện ác, tức trong tâm người ấy thường
ôm điều bất thiện.
Lại người nầy không có nhân duyên có thể thụ thiện pháp.
Bởi vì sao ? Vì người ấy không hay gần gũi người thiện, không
nghe thiện pháp, ác tâm dễ khởi, thiện tâm khó sinh. Vì dễ khởi ác
nên không có nhân duyên thiện. Như vậy dồn chứa thì dứt mất
thiện căn.
Thành Thật Luận Trang 346 Tuệ Quang Foundation
Lại người tà kiến nầy gọi là ở chỗ bị nạn, như chúng sinh
trong địa ngục không thể đắc đạo. Nếu người nầy, dù sinh ở trung
tâm trong nước, đầy đủ sáu căn, có thể phân biệt tốt xấu, nhưng
cũng không thể đắc đạo.
Lại người tà kiến nầy không ác nào không tạo, không kể nhẹ
nặng.
Lại họ gây chút bất thiện cũng đọa địa ngục, vì tâm nặng tội
mà khởi nghiệp nầy. Như trong Phẩm Nghiệp giải thích về nghiệp
địa ngục. Vì những nhân duyên này mà người ấy gây ra nghiệp gì
đều là địa ngục.
Lại người này không thể hết nghiệp tội ác, vì pháp bất thiện
thường ở trong tâm.
Lại người nầy xoay vần trong địa ngục khó được giải thoát.
Bởi vì sao ? Vì người đoạn thiện căn, trong khi thiện căn chưa nối
nhau quyết không ra khỏi địa ngục.
Lại vì người nầy tà kiến ở luôn trong tâm, thì thiện căn làm
sao tương tục lại được ?
Lại người tà kiến gọi là không thể chữa được, giống như
người bệnh nhân đã hiện tướng chết thì dù lương y cũng không
chữa được. Người nầy cũng vậy, vì không còn một chút thiện.
Cho đến chư Phật cũng không cứu được. Cho nên quyết phải đọa
địa ngục A-tì.
Phẩm 133 : Hai thủ
Đối với không phải thật sự, sinh tâm quyết định chỉ là sự
thật, ngoài ra đều là vọng ngữ. Đó gọi là kiến thủ. Và như trước
đã nói trong pháp không hơn, mà quyết định sinh tưởng cho là
hơn, cũng gọi kiến thủ.
Hỏi : Kiến thủ có những lỗi gì ?
Đáp : Người nầy được ít công đức , tự cho là đủ.
Thành Thật Luận Trang 347 Tuệ Quang Foundation
Lại người nầy uổng nhọc công lao. Bởi vì sao ? Vì người ấy
với việc chẳng phải thiện mà sinh tưởng là diệu thiện, rồi siêng
năng tinh tiến, do nhân duyên này về sau tâm sinh ăn năn.
Lại người nầy bị người trí chê cười, vì với không hơn mà
sinh tưởng là hơn.
Lại nếu người không hơn mà cho là hơn, là tướng ngu si,
giống như người mù đối với gạch ngói mà sinh tưởng là vàng bạc,
bị người sáng mắt cười cho xấu hổ. Kiến thủ có những lỗi như
vậy.
Nếu ai bỏ trí tuệ mà dùng giới v.v… tắm rửa mong được
thanh tịnh, gọi là giới thủ.
Hỏi : Vậy không cần giới mà được thanh tịnh sao ?
Đáp : Nhờ trí tuệ giới mới thanh tịnh vì trí tuệ là căn bản.
Hỏi : Giới thủ có những lỗi gì ?
Đáp : Nói lỗi kiến thủ, là lấy việc thấp kém cho là đầy đủ
v.v..., đều là lỗi này.
Lại nhân duyên giới thủ uổng chịu các khổ, nghĩa là như chịu
lạnh chịu nóng, nằm trên tro đất, nằm trên chông gai, gieo mình
xuống vực thẳm, nhảy vào lửa, gieo mình từ trên cao v.v..., thì đời
sau cũng chịu quả báo khổ kịch liệt, như trong kinh nói : Trì giới
trâu bò, nếu thành tựu thì lại làm trâu bò, mà nếu không thành thì
đọa địa ngục.
Lại người nầy là hạng người từ tối vào trong tối, vì thụ pháp
nầy hiện đời bị khổ, đời sau cũng khổ.
Lại người nầy bị tội rất nặng. Bởi vì sao ? Vì lấy phi pháp
cho là pháp, rồi hủy hoại chân pháp, và cũng bài báng những
người tu chính pháp, khiến nhiều chúng sinh phản lại chân tịnh
pháp, mà sa vào vòng tội lỗi. Vì chất chứa nhiều đại tội, nên bị
quả báo địa ngục A-tì. Thà chấm dứt còn hơn, chứ không nên tu
hành tà đạo. Bởi vì sao ? Vì nếu từ trước chưa tu dễ khiến tu đạo,
chứ tu tà hư tâm, nên khó vào chính đạo.
Thành Thật Luận Trang 348 Tuệ Quang Foundation
Lại tuy là oán tặc không thể khiến người suy não như sinh tà
kiến. Bởi vì sao ? Vì oán tặc không thể làm ô uế người, như chạy
theo tà kiến, chịu tu các tà giới ngoại đạo như lõa hình không xấu
hổ, bôi tro đất lên người, nhổ tóc v.v... Lại người tà kiến đều mất
tất cả lợi lạc thế gian. Hiện tại mất vui ngũ dục, vị lai mất vui sinh
về cõi thiện và vui Nê-hoàn. Nếu ai cầu vui mà bị khổ, cầu giải
thoát mà bị trói buộc, thì không gọi là cuồng ư ! Bởi vì sao ? Vì
nhân duyên thí một bữa ăn còn có thể được sinh lên trời. Mà
người nầy tu tà hạnh dù cho thí cả thân mạng cũng không lợi ích
gì !
Phẩm 134 : Tùy phiền não
Tâm nặng nề muốn nhắm mắt gọi là buồn ngủ. Tâm không
còn thức tỉnh gọi là ngủ. Tâm tản động duyên các trần gọi là trạo
động. Tâm ôm buồn lo gọi là ăn năn. Như điều không nên làm mà
làm, nên làm mà không làm. Tâm uốn khúc giả thiện gọi là siểm.
Tâm siểm được thành sự gọi là lừa gạt. Tự tác ác không biết xấu
gọi là không thẹn. Làm bậy giữa công chúng không biết ngượng
ngại gọi là không xấu hổ. Tâm chạy theo bất thiện gọi là phóng
dật. Thật không công đức mà hiện tướng khiến người ta cho là có,
gọi là dối trá. Hiện tướng kỳ lạ vì cầu lợi dưỡng, dùng lợi khẩu
làm cho đẹp lòng người gọi là La-ba-na. Vì muốn được vật của
người, nên biểu lộ muốn được, như nói vật này tốt v.v..., gọi là
hiện tướng. Nếu vì muốn chê bai người nầy, nên ngợi khen người
kia, như nói : Thân phụ của ông tịnh tiến, ông không bằng , gọi là
nói cạnh khóe. Nếu đem của thí đã được đề cầu của thí nữa, như
nói đây là vật thí do người nào đó mới cúng những lối như vậy
gọi là dùng lợi để cầu lợi. Nếu người có bệnh ưa ngủ, gọi bệnh
Đơn-trí-lợi. Nếu được chỗ tốt đầy đủ nhân duyên hành đạo, mà
thường buồn rầu, gọi là bất hỷ. Nếu người hay uốn mình, thân
không điều thích, vì nhân duyên ngủ nghỉ, gọi là uể oải. Nều
Thành Thật Luận Trang 349 Tuệ Quang Foundation
người không biết ít nhiều điều hòa sự ăn uống , gọi là ăn không
điều độ. Nếu không tinh tiến nổi, gọi là thoái tâm. Nếu các tôn
trưởng có lời dạy bảo, mà không kính sợ, gọi là không tôn kính.
Ưa thích người ác, gọi là ưa bạn ác. Những điều như vậy gọi là
tùy phiền não. Vì theo phiền não phát sinh.
Phẩm 135 : Bất thiện căn
Ba bất thiện căn là tham, sân và si.
Hỏi : Những kiêu mạn v.v... lẽ cũng là bất thiện căn, Vì sao
chỉ nói 3 thứ ấy ư ?
Đáp : Tất cả phiền não đều do 3 phiền não nầy, còn mạn
v.v... cũng là si phần nên không nói rộng.
Lại 3 thứ phiền não nầy phần nhiều ở trong tâm chúng sinh,
mạn v.v... không phải vậy.
Lại tất cả những ai chưa lìa dục, cho đến con trùng con kiến,
3 phiền não này đều có ở tại tâm, kiêu mạn v.v… không như vậy.
Lại tham là bất thiện căn của sân, vì trái hoặc mất cái mình
tham thì liền sinh sân. Còn si làm gốc cho cả 2. Bởi vì sao ? Vì
nếu ai không si thì không tham sân.
Lại trong kinh nói 10 nghiệp bất thiện có 3 thứ do tham sân
si sinh chứ không nói do mạn v.v... sinh.
Lại chỉ có 3 thứ thụ, chứ không có thụ thứ tư. Trong 3 thụ
nầy bị 3 phần phiền não kia sai khiến; nếu riêng có mạn v.v... thì
sai khiến ở trong thụ nào ? Điều này thật không nói được. Phải
biết 3 thứ nầy là gốc của các phiền não.
Hỏi : Vì sao trong lạc thụ do tham sai khiến ?
Đáp : Vì hiện thấy sinh ở trong đó. Như trong kinh nói :
Người được lạc xúc sinh mừng, bị khổ xúc không mừng. Người
nầy đối với các thụ như tập, diệt, vị, quá và xuất, vì không biết
như thật nên trong thụ không khổ không vui, bị vô minh sử sai
khiến. Bởi vì sao ? Vì người nầy bị buộc trong cõi Vô sắc, các ấm
Thành Thật Luận Trang 350 Tuệ Quang Foundation
nối nhau, không biết như thật nên trong đó sinh tưởng tịch diệt,
hoặc tưởng giải thoát, hoặc tưởng không khổ không vui, hoặc
tưởng ngã. Cho nên nói si sinh trong thụ không khổ không vui.
Hỏi : Các thứ sử nầy là ở trong pháp mà sai khiến, hay là ở
trong chúng sinh mà sai khiến ?
Đáp : Do pháp mà sinh tâm chúng sinh; tùy tâm chúng sinh
mà nhận các thứ thụ, tùy các thứ thụ tham v.v... các phiền não sai
khiến. Cho nên biết do pháp sinh sử rồi sai khiến chúng sinh. Làm
sao biết được ? Nếu chúng sinh chưa dứt sử nầy thì bị nó sai
khiến, trái lại là không còn khiến nữa. Nếu như trong pháp mà sai
khiến, thì pháp là thường có, lẽ ra phải thường sai khiến, vì
thường không nên dứt.
Lại phi chúng sinh số lẽ ra cũng có sai khiến. Nếu như vậy
thì như vì người sai khiến thì cái vách tường v.v... cũng có sai
khiến; vì người biết nên cái vách tường v.v... lẽ ra cũng có biết.
Điều này thật không có. Như vậy thì không có A-la-hán, vì người
khác có sử, nên mình cũng có sử.
Hỏi : Sử nầy chưa dứt thì sai khiến, mà dứt rồi không sai
khiến ?
Đáp : Có 2 thứ sử sai khiến là duyên sử, và tương ưng sử. Sử
nầy hoặc dứt, hoặc không dứt, tức là duyên và tương ưng. Vì sao
nói dứt thì không sai khiến ? Nếu như vậy, phải nói tướng sử thứ
3 ? Vì không thể nói được, nên phải biết là không có.
Lại sử có thể duyên cõi khác mà không sai khiến, cho nên
biết chỉ sai khiến trong chúng sinh, chứ không phải trong pháp.
Hỏi : Hai thứ sử 1 duyên 2 tương ưng là các sử của chúng
sinh, không phải duyên, không phải tương ưng, làm sao sai khiến
?
Đáp : Điều này trước đã đáp: Các sử do pháp sinh mà sai
khiến chúng sinh. Như trong A-tì-đàm thân trung nói : Chúng sinh
Thành Thật Luận Trang 351 Tuệ Quang Foundation
cõi Dục có bao nhiêu thứ sử sai khiến v.v...?. Nếu không sai khiến
chúng sinh làm sao có những câu hỏi như vậy ?
Hỏi : Nếu sử sai khiến chúng sinh, mà trong kinh lại nói
tham sử trong lạc thụ, thì mâu thuẫn nhau sao ?
Đáp : Đó là lời nói chưa hết. Nên phải nói là trong lạc thụ
sinh tham rồi sai khiến chúng sinh.
Hỏi : Tham nầy cũng do sắc v.v... sinh ra, vì sao trong đó chỉ
nói do lạc thụ sinh ?
Đáp : Bởi nghĩ nhớ phân biệt vui mừng v.v..., nên tham mới
sinh, chứ không phải chỉ do sắc v.v... sinh.
Hỏi : Do khổ thụ cũng sinh tham, như nói người vui không
cầu, người khổ cầu nhiều. Vì sao chỉ nói do lạc thụ sinh ?
Đáp : Là không sinh tham khổ thụ. Người này bị khổ làm
bức bách ngặt nghèo, nên sinh tham lạc thụ.
Hỏi : Trong bất khổ bất lạc thụ, cũng bị tham sử sai khiến, vì
sao chỉ nói trong lạc thụ ?
Đáp : Người nầy cho bất khổ bất lạc thụ là vui nên sinh
tham, cho nên nói trong lạc thụ tham sai khiến. Vì trong 3 thứ thụ
nầy, 3 phiền não sai khiến, nên chỉ nói ba.
Phẩm 136 : Tạp phiền não
Hỏi : Trong kinh nói 3 lậu : dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
Thế là thế nào ?
Đáp : Trong cõi Dục, trừ vô minh, còn tất cả phiền não là
dục lậu. Hữu lậu trong cõi Sắc và Vô sắc cũng như vậy. Vô minh
trong 3 cõi gọi là vô minh lậu.
Hỏi : Các lậu tăng trưởng như thế nào ?
Đáp : Vì pháp từ hạ, trung, thượng lần lượt tăng trưởng. Lại
được sắc v.v... các thắng duyên, nên các lậu tăng trưởng.
Hỏi : Ba lậu nầy vì sao nói 7 lậu ?
Thành Thật Luận Trang 352 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Thật lậu có 2 thứ : Thấy đạo lý dứt được là các lậu căn
bản. Suy nghĩ mà dứt được là quả của các lậu. Năm nhân duyên
giúp cho lậu họp lại thành bảy, tức là phiền não này. Phật tùy theo
nghĩa nên nói 3 lậu, 4 lưu, 4 phược, 4 thủ, 4 kết v.v....
Hỏi : Bốn lưu là dục lưu, hữu lưu, kiến lưu, vô minh lưu.
Thứ nào ra làm sao ?
Đáp : Trừ kiến và vô minh, còn tất cả phiền não cõi Dục, gọi
là dục lưu. Hữu lưu cõi Sắc và Vô sắc cũng như vậy. Các thứ kiến
gọi là kiến lưu, vô minh gọi là vô minh lưu.
Hỏi : Trong lưu, vì sao riêng nói kiến lưu, mà trong lậu
không nói ?
Đáp : Ngoại đạo phần nhiều bị kiến chấp làm trôi nổi, cho
nên riêng nói trong lưu. Vì hay nổi chìm nên gọi là lưu, vì hay trói
buộc 3 cõi nên gọi là phược.
Hỏi : Bốn thủ gồm dục thủ, kiến thủ, giới thủ, và ngã ngữ
thủ. Thứ nào ra làm sao ?
Đáp : Vì vô ngã nên chỉ lấy lời nói gọi là ngã ngữ thủ. Nếu
người có ngã kiến, tức sinh chấp 2 bên, là ngã hoặc thường hoặc
vô thường. Nếu quyết định nói vô thường thì thủ lấy ngũ dục, vì
cho rằng không có đời sau nên đắm nhiễm vui hiện tại. Nếu quyết
định nói thường, nếu người độn căn thì lấy trì giới mong được vui
đời sau, người có chút lợi căn thì nghĩ như vầy : Nếu thần là
thường thì khổ vui không biến đổi, tức không tội phúc nên khởi tà
kiến. Như vậy chỉ do ngã ngữ mà sinh 4 thứ thủ.
Hỏi : Bốn kết là thân kết tham lam ganh ghét, thân kết giận
dữ, thân kết giới thủ, và thân kết tham trước thật thủ. Thứ nào là
thế nào ?
Đáp : Tham lam vật của người khác mà người không cho thì
sinh tâm giận dữ, dùng đến roi gậy v.v... mà lấy, đó là cội rễ đấu
tranh của người tại gia, cũng gọi là theo bên vui. Nếu người trì
giới muốn nhờ giới nầy mà được thanh tịnh, liền bảo đây là thật,
Thành Thật Luận Trang 353 Tuệ Quang Foundation
ngoài ra là vọng ngữ, kiến chấp nầy liền theo. Đó là cội rễ tranh
cãi của người xuất gia, cũng gọi là theo bên khổ. Năm ấm gọi là
thân, là 4 thứ kết nầy cần phải có thân khẩu mới thành, nên gọi là
thân kết.
Lại có người nói 4 pháp nầy có thể trói buộc sinh tử nên gọi
là kết.
Hỏi : Năm thứ che là tham dục, giận dữ, ngủ nghỉ, trạo hối
và nghi, việc ấy thế nào ?
Đáp : Người tham đắm các thứ dục, nên giận dữ bám theo.
Như trong kinh nói : Do ái sinh giận dữ và ganh ghét v.v... các
phiền não; roi gậy v.v... các nghiệp ác đều bởi tham dục sinh.
Người nầy thân và tâm bị sự tham giận làm hư hoại. Nhiều việc
mệt nhọc thì muốn ngủ nghỉ. Người nầy mới ngủ nghỉ một chút
thì tham giận lại đến nữa làm tâm tán loạn. Tâm không được thiền
định, nên chạy rông theo cảnh ngoài, nên mới sinh trạo hí. Người
có nghiệp bất tịnh thì tâm thường lo lắng ăn năn. Vì tán tâm và
hối tâm nên tâm thường sinh nghi ngờ có giải thoát hay chăng ?
Như Vương Tử bảo A-di-la là Sa-di.
Hỏi : Sao gọi là che?
Đáp : Tham dục, giận dữ có thể che khuất giới phẩm. Trạo
hối có thể che định phẩm. Ngủ nghỉ có thể che tuệ phẩm. Có
người vì muốn trừ cái che nầy nên nói đây là thiện, đây là bất
thiện. Người đó trong đó sinh nghi là có hay là không ? Nghi nầy
thành, có thể che 3 phẩm trên. Vì sức của 5 thứ che, 3 pháp nầy
mạnh, nên được gọi độc nhất là che. Sức của 2 thứ che yếu, nên
phải hợp 2 pháp mới thành. Lại 2 thứ che nầy nhân duyên cùng
sinh, cho nên hợp lại mà nói.
Năm pháp nhân duyên của ngủ nghỉ là Đơn-trí-lợi, không
vui, uể oải, ăn không điều độ, tâm lui chìm.
Bốn pháp nhân duyên của trạo hối là biết bà con xóm làng,
biết đất nước, biết không chết, và nghĩ nhớ việc vui chơi nói cười
Thành Thật Luận Trang 354 Tuệ Quang Foundation
trước đây, là sinh nhân. Vì thuốc trị bệnh cũng đồng, nên ngủ nghỉ
lấy tuệ làm thuốc, trạo hối lấy định làm thuốc. Vì che khuất cũng
đồng nên hợp 2 thứ lại làm che. Năm pháp nầy hoặc là che hoặc
không phải che. Bất thiện trói buộc cõi Dục gọi là che, ngoài ra
không gọi là che. Năm thứ kết hạ phần là tham dục, giận dữ, giới
thủ. Vì đọa xuống nên gọi là hạ phần. Như giữ giới trâu bò thành
tựu thì làm trâu bò, bất thành thì vào địa ngục. Nghi, ngăn ngại,
lìa dục, thân kiến, là 4 thứ căn bản, đó gọi là 5.
Lại vì tham giận nên không ra khỏi cõi Dục. Thân kiến
không ra khỏi tâm chấp ngã. Giới thủ không ra khỏi hạ pháp.
Nghi không ra khỏi phàm phu.
Lại vì tham dục và giận dữ nên không vượt khỏi cõi Dục.
Nếu vượt quá thì bị kéo lại. Còn 3 thứ kia không vượt khỏi phàm
phu, nên gọi là hạ phần, 5 thứ thượng phần thì trạo hí phá hoại
thiền định, nên tâm không tịch diệt. Trạo hí nầy tùy lấy tướng
kiêu mạn nên sinh. Tâm lấy tướng nầy từ vô minh sinh, nên mới
có nhiễm cõi Sắc, nhiễm cõi Vô sắc, 5 thứ kết nầy bậc học nhân
gọi nó là đi lên, nên gọi thượng phần, 5 thứ kết nầy là đối với tâm
người học nhân mà nói, chứ không là phàm phu.
Hỏi : Vì sao trạo hí trong cõi Sắc, Vô sắc gọi là kết, mà cõi
Dục không nói ?
Đáp : Trong đó không có thô phiền não, nên trạo hí rõ rệt.
Lại trạo hí nầy có sức phá định, nên gọi là kết. Dứt được
thượng phần nầy thì được giải thoát. Có người trong cõi Sắc và
Vô sắc sinh tưởng giải thoát. Vì muốn ngăn lầm nầy, nên mới nói
có thượng phần kết.
Năm thứ xan là trụ xứ xan, gia xan, thí xan, xưng tán xan, và
pháp xan. Trụ xứ xan là chỉ mình ta ở đây, không có cho người
khác. Gia xan là chỉ mình ta ra vào nhà nầy, không cho ai cả, dẫu
có ai ở đây ta là hơn họ. Thí xan là ở trong đây độc một mình ta
được bố thí, không cho người khác, dẫu có ai nữa, chớ cho hơn ta.
Thành Thật Luận Trang 355 Tuệ Quang Foundation
Xưng tán xan là chỉ khen ngợi mình ta, đừng khen người khác,
dẫu có khen ai cũng đừng hơn ta. Pháp xan là chỉ độc nhất mình ta
biết nghĩa 12 bộ kinh, và biết sâu sắc nghĩa bí mật mà không nói
cho ai hết.
Hỏi : Năm thứ xan tham nầy có những lỗi gì ?
Đáp : Trụ-xứ ấy v.v... là cọng hữu của nhiều người. Người
nầy đã từng bỏ nhà mình, đến ở chỗ cọng hữu lại sinh tâm keo
kiệt bủn xỉn là tệ phiền não.
Lại người ấy đối với pháp giải thoát hoàn toàn không có
phần. Bởi vì sao ? Vì người ấy đối với pháp cọng hữu hãy còn
không xả được, huống chi có thể xả được tự thân 5 ấm ư ?
Lại người nầy sinh đọa ngạ quỷ v.v... các chỗ ác.
Lại người nầy vì lợi dưỡng che tâm, thì kiêu mạn, khinh dễ
các người thiện, nên đọa địa ngục.
Lại vì phá hoại người khác bố thí, nên dẫu được trở lại thân
người thì bị nghèo cùng.
Lại vì tâm keo kiệt làm dứt mất công đức người thí, vật thí,
người thụ, nên bị tội nặng. Nếu xan lẫn pháp thì bị tội báo đui mù
v.v..., như mù bẩm sinh và sinh vào chỗ nhiều người ác, không
được tự tại, thoái mất Thánh thai, là oán tặc 3 đời 10 phương chư
Phật. Thường qua lại sinh tử làm người ngu si, người thiện xa
lánh. Vì xa lìa người thiện nên không điều ác nào cũng gây.
Ác có 3 thứ : ác ác, đại ác, và ác trong ác. Ác ác là giết, trộm
v.v.... Đại ác là tự mình giết, cũng dạy bảo người giết. Tự keo kiệt
cũng dạy người keo kiệt. Ác trong ác là tự lẫn tiếc pháp cũng dạy
người lẫn tiếc pháp.
Người nầy lẫn tiếc Pháp khiến nhiều người đọa vào ác. Cũng
là diệt Phật pháp. Như trong kinh nói trụ xứ xan có 5 lỗi. Vị thiện
Tì-kheo chưa đến không muốn cho đến, đã đến thì nhăn nhó
không vui, nghĩ muốn khiến đi, cất giấu thí vật của Tăng, các thí
vật của chư Tăng sinh tâm của mình.
Thành Thật Luận Trang 356 Tuệ Quang Foundation
Gia xan có 5 lỗi. Vì tham đắm nhà cửa nên cùng chung buồn
vui với người thế gian, dứt việc làm phúc của người thế gian, dứt
người thụ giả được của thí. Vì dứt 2 điều này nên sinh làm con quỉ
ở trong chuồng tiêu của nhà ấy.
Thí xan có 5 lỗi là thường thiếu thốn vật nuôi sống, phá hoại
lợi hai người, mắng nhiếc người thiện, tâm thường ôm lo buồn.
Khen ngợi xan tham có 5 lỗi là nghe khen người khác tâm
thường vẩn đục, trong trăm trăm ngàn đời thường không tịnh tâm,
chê trách người thiện, tự cao bản thân hạ thấp người khác, khiến
thường mang tiếng xấu.
Lại tất cả xan tham chung có những lỗi này : chứa nhóm
nhiều vật, khiếp sợ đại chúng, bị nhiều người ghét, tâm thường
vẩn đục, thân thường cô độc, sinh vào nhà nghèo hèn. Như vậy
nhiều vô lượng là tội lỗi của 5 thứ xantham.
Năm thứ tâm trồng là nghi Phật, nghi Pháp, nghi giới nghi
giáo hóa, nếu có Tì-kheo được Phật và các bậc Đại nhân khen
ngợi, người nầy liền đem ác khẩu sàm báng. Đó gọi là 5 thứ. Nghi
Phật là khởi ý nghĩ như vầy : Phật là lớn hay Phú-lan-na v.v... là
lớn ? Nghi pháp là Phật Pháp là hơn hay Vi-đà v.v... của ngoại
đạo là hơn ? Nghi giới là giới Phật nói là hơn hay giới kê cẩu
v.v… là hơn ? Nghi giáo hóa là nghi pháp A-na-ba-na v.v... là có
thể đến Nê-hoàn hay chăng ? Sàm báng là đem tâm giận dữ không
chút kính nể mà xâm hại người thiện. Người này bị 5 pháp ấy làm
bại hoại tâm, không kham trồng các thiện căn, nên gọi là tâm
trồng.
Hỏi : Người ấy vì sao đối với Phật v.v... sinh nghi ?
Đáp : Người nầy không thể đa văn, cho nên sinh nghi. Nếu
những người đa văn thì ít nghi ngờ. Và người nầy ngu si vô tri
không biết phân biệt Phật pháp và các pháp khác, cho nên sinh
nghi.
Thành Thật Luận Trang 357 Tuệ Quang Foundation
Lại người nầy đối với Phật pháp, không thể có được ý vị, cho
nên sinh nghi.
Lại không học không đọc các kinh Vi-đà mà chỉ nghe người
khen ngợi rồi sinh tâm quý trọng.
Lại người này đời đời tà nghi nặng nhiều, vì tâm thường vẩn
đục nên đối với Phật v.v... sinh nghi, như người thị giả của Phật
tên Tô-na-sát-đa-la.
Lại người nầy cùng với nhiều người tà kiến cọng đồng sự
nghiệp, nên khiến sinh nghi.
Lại người này vì đọc tụng Vi-già-đà-hòa-la-na v.v... các kinh
tà kiến, nên chính trí tuệ bị hỏng mà sinh nghi.
Lại người nầy với các pháp nghĩa ưa sinh tà niệm, không thể
lãnh hội được ý của tác giả kinh điển, cho nên sinh nghi.
Lại người nầy thủy chung không thể được công đức tự lợi.
Vì những duyên cớ này nên đối với Phật v.v... sinh nghi.
Năm thứ tâm trói là nếu ai vì không lìa thân dục nên sinh
tham đắm. Thân không lìa 5 thứ dục nên tham đắm dục.
Lại cùng với những người tại gia xuất gia hòa hợp, đối với
Thánh ngữ nghĩa tâm không ưa thích được chút lợi ích tự cho là
đủ. Trong đó, 4 thứ trói là do tham dục mà khởi. Nếu người không
lìa nội thân dục nên đối với ngoại cảnh, trong Sắc v.v... sinh đắm
nhiễm, cho nên ưa cùng đông người ồn náo hòa hợp. Vì ưa ồn ào
náo nhiệt nên với Thánh ngữ nghĩa hiển thị pháp tịch diệt thì tâm
không ưa thích. Cho nên đối với trì giới đa văn và thiền định v.v...
được chút ít lợi ích tự cho là đủ. Vì tham đắm chút lợi ích nầy nên
bỏ mất lợi lớn. Người trí không nên tham đắm lợi nhỏ mà tổn hại
lớn. Người nầy nếu lìa 8 nạn, được thân người khó, cho nên cần
phải nhất tâm siêng năng tinh tiến.
Lại pháp phàm phu không thể tin. Nếu lìa nhân duyên đầy đủ
nầy, hoặc có duyên nào khác thì hoàn toàn không còn có thể vào
Thánh đạo.
Thành Thật Luận Trang 358 Tuệ Quang Foundation
Lại không tham tiểu lợi thì có thể được quả báo xuất gia, đến
khi lâm chung cũng không ăn năn, cũng được lợi mình lợi người.
Lại người nầy trong công đức còn không tham đắm huống là
ác pháp, nên mới gọi là chính hành.
Lại lầm lỗi phàm phu không thể thấm nhiễm được.
Hỏi : Lỗi phàm phu là vậy nào ?
Đáp : Trong kinh nói : Người phàm phu cần lấy 20 pháp
chiết phục tâm mình. Nên nghĩ vầy : 1. Ta chỉ có hình thức ăn
mặc khác với người tục. 2. Hoàn toàn không được gì. 3. Ta sẽ vì
bất thiện mà chết mất. 4. Sẽ rơi vào biển rất khiếp sợ. 5. Sẽ phải
đến chỗ sợ sệt. 6. Không biết chỗ không sợ. 7. Cũng không biết
Đạo pháp. 8. Không được thiền định. 9. Thường chịu khổ thân.
10. Khó lìa tám nạn. 11. Oán tặc thường đuổi theo. 12. Các đường
đều mở chưa thoát đường ác. 13. Thường bị vô lượng kiến chấp
trói buộc. 14. Với tội ngũ nghịch chưa thể đề phòng. 15. Vô thủy
sinh tử chưa có biên giới. 16. Không gây tạo thì không được tội
phúc. 17. Thiện ác không thể thay thế nhau. 18. Không tu pháp
thiện quyết không an ổn. 19. Đã tạo thiện ác quyết không tiêu
mất. 20. Ta sẽ vì không điều phục mà đến chết. Đó là 2 mươi
pháp không thể ô nhiễm được.
Lại việc đáng làm người nầy đã làm xong, nên tâm không ăn
năn. Nếu ai tham đắm thì không có thể thành pháp tại gia và xuất
gia. Cho nên không nên tham đắm tiểu lợi 7 thứ sử.
Hỏi : Các phiền não sao gọi là sử ?
Đáp : Trong sinh tử nối nhau thường đeo bám theo chúng
sinh, nên gọi là sử. Giống như người vú nuôi thường theo đứa bé,
như bệnh sốt rét chưa khỏi, như mắc nợ ngày càng sinh lãi, như
chuột hại chưa trừ, như tướng đen tấm sắt nóng, như mầm lúa,
như tự ký giấy ở đợ, như người đoán việc mà làm chứng, như trí
tuệ dần chứa, như nghề nghiệp thường tập, như lửa đèn thường
Thành Thật Luận Trang 359 Tuệ Quang Foundation
nối nhau. Cứ như vậy thứ lớp nối nhau liên tục tăng trưởng nên
gọi là sử.
Hỏi : Sử nầy tương ưng với tâm hay không tương ưng ?
Đáp : Tương ưng với tâm. Bởi vì sao ? Vì đã nói tham v.v...
là tướng của sử. Các tướng nầy của sử cùng với vui mừng tương
ưng. Nếu không tương ưng với lòng vui mừng là không đúng. Sự
vui mừng nầy hoặc ở trong cảm thụ vui gọi là tham sử. Lại tham
là đắm nhiễm, mà trong tâm không tương ưng thì không có nghĩa
đắm nhiễm. Cho nên biết các sử cùng tương ưng với tâm.
Hỏi : Không phải vậy. Các sử không phải tương ưng với tâm.
Bởi vì sao ? Vì trong kinh nói : Đứa trẻ con dâm tâm còn không
có huống chi có thể hành động dâm dục mà cũng bị dục sử sai
khiến ?
Lại nói không nghĩ, không phân biệt, cũng có duyên thức trụ.
Lại trong kinh nói : Khi dứt thân kiến các sử đều dứt hết.
Lại Thánh đạo và phiền não không được đồng thời. Cho nên
Thánh đạo sinh, thì tâm bất tương ưng sử dứt. Nếu không phải
vậy, thì Thánh đạo dứt những gì ?
Lại nếu không có tâm không tương ưng, thì phàm phu, học
nhân hoặc khi ở tâm thiện, tâm vô ký lẽ ra phải là A-la-hán ?
Lại sử là nhân trói buộc, từ sử sinh trói buộc, bị trói thì sử
bùng thịnh lên. Cho nên biết các sử không tương ưng với tâm.
Lại nếu người ở trong tâm thiện, vô ký cũng gọi có sử, nếu
không có tâm không tương ưng với sử, thì sao gọi là có sử được ?
Cho nên biết các sử không tương ưng với tâm ?
Đáp : Không phải vậy. Người nói đứa trẻ con không dục
cũng có tham sử. Điều này không đúng. Đứa trẻ con chưa được
thuốc trừ tham, tham dục chưa hết, nên bị tham sử sai khiến, như
người bệnh vì quỷ, tuy khi chưa phát hiện, cũng gọi người bệnh
quỷ. Bởi vì sao ? Vì bệnh nhân chưa được chú thuật, thuốc men
để trừ bệnh. Cũng như bệnh sốt cách 4 ngày, tuy 2 ngày không
Thành Thật Luận Trang 360 Tuệ Quang Foundation
phát, cũng gọi là người bị bệnh sốt. Cũng như chuột hại chưa trừ,
nên khi nghe tiếng sấm thì phát hiện. Như vậy không luận trong
tâm nào, chưa được thuốc trừ sử đều gọi là không dứt. Các câu
hỏi khác cũng như đã đáp chung rồi.
Ông nói không nghĩ, không phân biệt cũng có duyên thức
trụ. Đó là cũng vì chưa dứt sử.
Ông nói thân kiến cùng sử đều dứt, ông cho rằng trói buộc là
tương ưng với tâm khi chưa sinh cũng dứt, sử cũng như vậy, tuy
khi Thánh đạo không có, cũng gọi là dứt, vì bị pháp trái nhau.
Ông nói đạo với phiền não không đồng thời, đó cũng bởi
chưa dứt nên nói có thể có.
Ông nói phàm phu, học nhân nếu ở trong tâm thiện, vô ký lẽ
ra phải là A-la-hán, A-la-hán đã dứt, người nầy chưa dứt nên như
người không thụ pháp đoạn nhục, tuy không ăn thịt, nhưng không
gọi là người đoạn nhục.
Lại có vô minh tà niệm, tà tư duy v.v... nên phiền não nào
chưa dứt thì sinh. A-la-hán không nhân nầy, nên không đồng với
những người khác.
Lại ông nói bị trói buộc thì sử bùng phát mạnh. Điều này
không đúng. Các phiền não vì từ pháp hạ, trung, thượng nên bùng
phát mạnh, chứ không phải bị trói buộc.
Ông nói người ở tâm thiện, vô ký gọi là có sử. Đó là cũng vì
chưa dứt nên gọi có sử. Vì những duyên do nầy nên biết tham
v.v... các sử chẳng phải không tương ưng. Tám tà đạo, tà kiến cho
đến tà định, vì không biết như thật, hiểu biết điên đảo nên gọi là
tà kiến cho đến tà định.
Hỏi : Chính mạng với tà mạng không lìa nghiệp thân khẩu.
Vì sao nói riêng ?
Đáp : Người xuất gia khó dứt tà mạng, cho nên phải nói
riêng. Tà mạng là dùng dối gạt v.v... 5 pháp có thể được lợi
dưỡng, nên gọi tà mạng. Nói tóm lại các người xuất gia đều không
Thành Thật Luận Trang 361 Tuệ Quang Foundation
nên làm các nghề nuôi sống như làm sứ giả cho vua, buôn bán,
thầy thuốc v.v..., và không nên lấy tiền gạo v.v... của chúng sinh.
Nếu lấy đều gọi là tà mạng.
Lại trong Luật cấm lấy đó làm kế nuôi sống, đó đều gọi là tà
mạng. Như trong kinh nói Ưu-bà-tắc không nên buôn bán 5 thứ.
Hỏi : Lấy gì nuôi sống ?
Đáp : Đúng như pháp cầu xin, lấy đó sinh sống không nên tà
mạng. Bởi vì sao ? Vì tâm bất tịnh thì hủy hoại thiện pháp, không
thể tu đạo.
Lại người hành đạo nên nghĩ như vầy : Vào trong Phật pháp
là vì mục đích tu đạo, không vì sinh sống. Cho nên người ưa thiện
pháp nên tu tịnh mạng.
Lại Tì-kheo nên an trụ trong pháp Tì-kheo, nếu làm tà mạng
là không phải pháp Tì-kheo.
Phẩm 137 : Chín thứ kết
Ái v.v... 9 thứ kết.
Hỏi : Vì sao trong các thứ kiến, riêng nói 2 thứ thủ ?
Đáp : Giới thủ khó lìa khỏi, như khúc gỗ nổi trôi vào dòng
nước xoáy, khó thoát ra được. Người nầy cũng vậy, họ nghĩ như
vầy : Ta nhờ trì giới nầy sẽ sinh lên trời. Vì lẽ đó nên họ cam chịu
lao xuống vực sâu, gieo mình vào lửa, tự nhào xuống từ trên cao
v.v... nhiều thứ khổ hạnh.
Lại người thế gian, trong giới thủ không thấy lầm lỗi, nên
Phật nói là kết.
Lại y theo giới thủ nầy có thể bỏ 8 Thánh đạo.
Lại đó không phải chính đạo, không phải thanh tịnh đạo, nên
gọi là tùy khổ biên.
Lại giới thủ là trói buộc người xuất gia. Các dục trói buộc
người tại gia.
Thành Thật Luận Trang 362 Tuệ Quang Foundation
Lại người giới thủ tuy có tu các pháp xuất gia, mà luống
không được gì cả.
Lại người giới thủ đời nay không được vui, đời sau chịu khổ
lớn. Như giữ giới trâu bò, thành thì làm trâu bò, bại thì đọa địa
ngục.
Lại bởi giới thủ nầy có thể hủy báng chính đạo và người tu
chính đạo.
Lại giới thủ là chỗ các ngoại đạo sinh khởi kiêu mạn. Họ
khởi nghĩ như vầy : Ta nhờ pháp nầy có thể thắng những người
khác.
Lại vì giới thủ nên 96 phái đều có pháp sai khác nhau.
Lại giới thủ thô dễ thấy, nên nhiều chúng sinh tu hành theo.
Đạo trí tuệ mầu nhiệm khó thấy, nên người đời không biết tu được
lợi ích.
Lại kiến chấp nầy có thể lôi kéo lòng người, nên những
người ngu si phần nhiều tu pháp nầy.
Lại đó gọi là ác kiến nặng, vì nghịch với chính đạo mà làm
theo phi đạo. Người kiến thủ tham đắm tà pháp không lìa bỏ được
là vì sức mạnh của kiến thủ. Lại vì sức kiến thủ nên kết càng kiên
cố.
Hỏi : Trong Kinh Đế Thích Vấn hỏi vì sao chỉ nói người trời
có 2 kết xan và tật ?
Đáp : Hai thứ phiền não nầy là bỉ ổi tệ lậu nhất. Bởi vì sao ?
Vì thấy các chúng sinh đói khát khổ não, mà lòng bủn xỉn nên
không thương xót cứu giúp, thấy người nào được điều gì cũng
sinh tâm ganh ghét, lòng ôm nóng nảy. Vì những lý do nầy nên
đọa vào chỗ nghèo hèn, xấu xí không chút oai đức.
Lại Thích Đề Hoàn Nhân, 2 kết nầy nhiều hằng đến làm não
tâm, nên Phật vì nói.
Lại 2 kết nầy là nhân duyên tội nặng. Bởi vì sao ? Vì bởi 2
kết nầy mà khởi ác nghiệp nặng.
Thành Thật Luận Trang 363 Tuệ Quang Foundation
Lại trong 3 thứ độc, tham giận có thể khởi tội nặng. Tham
giận thịnh nên khởi 2 kết nầy.
Lại 2 kết nầy có thể não hại nam nữ.
Lại khó lì bỏ. Bởi vì sao ? Vì nếu tu sâu thiện tâm mới có thể
dứt hẳn tính ganh ghét, tu sâu bố thí sau mới dứt hết lòng bủn
xỉn. Vì không thấy nghiệp báo mà có thể xả trọng vật đó là việc
rất khó. Như người thấy con đắc thắng việc hơn mình, lòng còn
khó mừng vui, huống là kẻ địch. Vì 2 kết nầy dựa vào 2 tính ghét
ưa, nên rất khó trừ dứt. Vì những lý do nầy mà Phật nói riêng.
( còn tiếp )
Thành Thật Luận Trang 364 Tuệ Quang Foundation
THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 11 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 138 : Các câu hỏi khác
Luận giả nói : Tất cả phiền não phần nhiều gồm thâu trong
10 sử, cho nên phải do nơi 10 sử mà tạo luận. Mười sử là tham,
giận, mạn, vô minh, nghi và 5 kiến chấp.
Hỏi : Mười phiền não đại địa pháp nầy là không tin, biếng
nhác, nhớ sai, tán tâm, vô minh, tà phương tiện, tà niệm, hiểu sai,
nô đùa, phóng dật. Pháp nầy thường chung cùng với tất cả tâm
phiền não. Việc đó thế nào ?
Đáp : Trước đã phá tương ưng, chỉ tâm pháp mỗi mỗi sinh
cho nên không đúng.
Lại đó là không đúng đạo lý. Vì sao biết ? Hoặc có tâm bất
thiện cùng tín bất thiện chung. Hoặc có tâm bất thiện mà không
tín. Tinh tiến v.v... cũng như vậy. Cho nên biết không phải tất cả
trong tâm phiền não có 10 pháp nầy.
Lại ông nói ngủ nghỉ và vui đùa ở trong tất cả tâm phiền não,
cũng không đúng. Nếu tâm mê chìm, bấy giờ mới có ngủ nghỉ,
chứ không phải ở trong tâm vui đùa. Có những lỗi như vậy.
Hỏi : Trong cõi Dục có 10 phiền não. Cõi Sắc và Vô sắc trừ
sân, còn lại tất cả. Điều này thế nào ?
Đáp : Trong đó cũng có ganh ghét v.v.... Vì sao biết được ?
Trong kinh nói có Phạm Vương bảo các Phạm chúng rằng : Các
ngươi đừng đến Sa-môn Cù-đàm, các ngươi chỉ ở đây với ta tự sẽ
được hết sự già chết. Đó là ganh ghét. Vì có ganh ghét nên phải có
giận dữ.
Thành Thật Luận Trang 365 Tuệ Quang Foundation
Lại kinh nói Phạm Vương nắm tay một Tì-kheo kéo ra khỏi
chúng Tăng, bảo rằng : Tì-kheo ! Ta cũng không biết 4 đại ở chỗ
nào diệt hết không còn. Như vậy đem tâm gièm siểm gạt các
Phạm chúng đó gọi là gièm siểm. Như nói ta là tôn quý tạo ra
muôn vật. Đó là kiêu mạn phóng dật. Những điều như vậy, trong
đó cũng có những ác phiền não, nên phải biết cũng có bất thiện.
Có luận sư nói : Nếu tham phụ mẫu và Hòa thượng, A-xà-lê
v.v... gọi là tham thiện, tham vật của người khác v.v... gọi là tham
bất thiện, không làm tổn hại, hay lợi ích người khác gọi là tham
vô ký. Giận pháp bất thiện và ác tri thức v.v... gọi là giận thiện,
nếu giận thiện pháp và chúng sinh gọi là giận bất thiện, nếu giận
vật phi chúng sinh gọi là giận vô ký. Nếu dựa ngạo mạn để dứt
ngạo mạn gọi là ngạo mạn thiện, khinh chúng sinh gọi là ngạo
mạn bất thiện. Vô minh v.v... cũng như vậy.
Lại có luận sư khác nói : Nếu như thiện thì không gọi là
phiền não.
Hỏi : Thân kiến ở cõi Dục phải gọi vô ký. Bởi vì sao ? Vì
nếu thân kiến là bất thiện thì tất cả phàm phu đều sinh ngã tâm,
không thể khiến đều đọa địa ngục, nên gọi là vô ký. Việc đó thế
nào ?
Đáp : Thân kiến là căn bản của tất cả phiền não, làm sao gọi
vô ký được ! Lại người nầy đọa là vì người khác nói có thần ngã,
bấy giờ làm sao được gọi vô ký ? Biên kiến cũng như vậy.
Hỏi : Nếu chuyển người tà kiến sang đọa vào trong nghi,
người nầy là bất thiện chăng ?
Đáp : Người đó không phải là bất thiện. Bởi vì sao ? Vì thà
đọa trong nghi không vào tà kiến.
Hỏi : Có người nói tất cả phiền não trói buộc cõi Dục có thể
khiến dục hữu nối nhau, buộc cõi Sắc và Vô sắc cũng như vậy.
Việc đó thế nào ?
Thành Thật Luận Trang 366 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Chỉ ái có thể khiến các hữu nối nhau, vì trước vui
mừng rồi sau mới sinh.
Lại nói ái là nhóm khổ, cũng nói ái ưa uống ăn tham dục
v.v... nên tùy theo chỗ mà thụ sinh. Trong tà kiến v.v... không có
nghĩa như vậy. Tuy trong kinh nói khinh mạn nhân duyên sinh.
Cũng trước mạn sau ái nên mới sinh. Giận cũng như vậy. Cho nên
biết đều bởi ái nên các hữu nối nhau.
Hỏi : Trong các phiền não có mấy thứ thấy đạo lý thì dứt,
mấy thứ suy nghĩ mới dứt ?
Đáp : Tham, sân, mạn và 2 thứ vô minh, thấy đạo lý và suy
nghĩ dứt, ngoài ra 6 thứ chỉ thấy đạo lý là dứt.
Hỏi : Người học nhân cũng có ngã tâm. Cho nên biết không
thị hiện tướng đó thôi, vì học nhân một phần thân kiến chưa dứt ?
Đáp : Đó là mạn không phải kiến. Kiến là tướng thị-hiện.
Hỏi : Có người nói bủn xỉn, ganh ghét, hối tiếc, gièm siểm
v.v... chỉ suy nghĩ dứt. Việc đó thế nào ?
Đáp : Đó đều có 2 thứ, có kiến đế dứt, có tư duy dứt. Vì sao
biết được ? Như Ni-kiền tử v.v... vì thấy đệ tử Phật được cúng
dường nên sinh tâm ganh ghét. Tâm ganh ghét nầy thấy đạo thì
diệt. Cho nên biết kiến đế thì dứt liền.
Có người trước đối với đệ tử Phật, lẫn tiếc không thí, vì được
thấy đạo nên có thể cúng thí. Lẫn tiếc nầy thấy đạo là dứt. Như
Tô-na-sát-đa-la v.v..., hối tiếc cũng thấy đạo là dứt. Như Tu-đàhoàn
nhân duyên đọa địa ngục v.v... và thụ thân đời thứ 8, gièm
siểm v.v... cũng thấy đạo lý mới dứt.
Hỏi : Các phiền não có mấy thứ thấy khổ đế dứt, mấy thứ
thấy tập, diệt, đạo đế dứt, và mấy thứ suy nghĩ dứt ?
Đáp : Trước đã nói thấy đạo lý dứt 6 sử là 4 thứ, thấy khổ đế
dứt, thấy tập, diệt, đạo đế dứt. Ngoài ra 4 sử là 5 thứ.
Hỏi : Thân kiến, biên kiến chỉ thấy khổ đế dứt, giới lấy 2 thứ,
thấy khổ thấy đạo dứt. Việc đó thế nào ?
Thành Thật Luận Trang 367 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Các phiền não khi thật thấy diệt đế mới dứt. Cho nên
thân kiến v.v... không phải chỉ thấy khổ đế mà dứt được.
Lại thân kiến đối với 4 đế hiểu sai lầm. Năm ấm vô thường
do nhân duyên sinh. Ngã không phải vô thường, không do nhân
sinh. Năm ấm có diệt, ngã không diệt. Đạo đế cùng với ngã kiến
là pháp trái nhau. Cho nên thân kiến 4 thứ dứt. Biên kiến cũng 4
thứ dứt. Bởi vì sao ? Vì hành giả thấy khổ đế do tập đế sinh thì
dứt dứt kiến. Kiến chấp do đạo đế được dứt, thì dứt thường kiến.
Giới lấy cũng có 4 thứ. Có nhân có quả, cho nên khi thấy khổ đế
biết giới nầy là khổ, không, nhờ đó mà được thanh tịnh. Phải thấy
khổ đế mới dứt. Biết giới nầy là nhân khổ, không, nhờ đó mà
được tịnh. Phải là thấy tập đế mới dứt. Vì tà kiến bài báng Nêhoàn,
cho rằng nhờ kiến chấp nầy được tịnh. Phải là thấy diệt đế
mới dứt. Bởi đó mà bài báng đạo. Phải thấy đạo đế mới dứt. Như
kiến lấy dựa vào tà kiến nên có 4 thứ, giới lấy cũng như vậy.
Hỏi : Nếu như vậy thì không gọi 98 thứ sử ?
Đáp : Các sử tùy bậc mà dứt, không tùy cõi, nên không hạn
số 98.
Hỏi : Tham, mạn và trừ tà kiến, còn 4 kiến kia đều tương ứng
với 3 căn. Trừ khổ căn ưu căn, giận dữ cũng tương ứng với 3 căn.
Trừ lạc căn hỷ căn, vô minh tương ưng với 5 căn. Tà kiến, nghi
tương ưng 4 căn. Trừ khổ căn, giận, che giấu tội, xan lẫn, ganh
ghét không tương ưng với ưu căn. Việc đó như thế nào ?
Đáp : Trước đã phá không có tương ưng rồi. Ra sau sẽ nói.
Trong 5 thức không có phiền não.
Lại trong pháp của ông, tham tương ưng với hỷ căn, mà xan
thì không phải như vậy. Đó là không lý do, vì xan là một phần của
tham. Như vậy kiêu mạn không cùng tương ưng với ưu căn cũng
không lý do. Cho nên biết chỗ lập luận của các ông đều tự nhớ
tưởng phân biệt.
Thành Thật Luận Trang 368 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Có người nói thấy khổ đế, dứt được 5 thứ kiến. Nghi
và tham, sân, mạn không tương ưng với vô minh. Và tập đế dứt
được tà kiến, kiến lấy. Nghi và tham, sân, mạn không tương ưng
vô minh. Đó gọi là sử biến khắp, ngoài ra không phải biến khắp.
Việc đó thế nào ?
Đáp : Tất cả biến khắp. Bởi vì sao ? Vì tất cả đều cùng chung
nhân duyên.
Lại đối với tà kiến của mình sinh tâm tham, như nói không
khổ cho đến không đạo. Tham đắm kiến chấp nầy mà giữ lấy làm
tự cao, nếu nghe nói khổ thì sinh ghét giận.
Lại tham nầy có thể duyên diệt đế, sân cũng có thể ghét giận
Nê-hoàn, cũng lấy Nê-hoàn sinh tâm tự cao. Đạo cũng như vậy.
Phải biết các sử khác cũng có thể biến khắp.
Lại phiền não trói buộc cõi Dục có thể duyên cõi Sắc, như
bởi tham nên mừng, bởi giận nên oán ghét, vì lấy pháp kia tự cao,
cũng lấy đó cho là hơn, không phải chỉ có cõi Dục. Như phiền não
cõi Dục có thể duyên cõi Sắc, phiền não kiến v.v... cõi Sắc cũng
có thể duyên quả cõi Dục. Cõi Vô sắc cũng như vậy.
Lại phiền não nầy đều có thể có tướng chung tướng riêng.
Bởi vì sao ? Vì tham cũng có thể có tướng chung như nhiễm cả 4
thiên hạ.
Lại như Kinh Trường Trảo nói : Tất cả nhẫn là tham, tất cả
bất nhẫn là sân. Tất cả bất nhẫn là tham, tất cả nhẫn là sân. Cũng
lấy phiền não nầy tự cao. Phiền não nầy đều có thể khởi nghiệp
thân khẩu. Bởi vì sao ? Vì trong kinh nói : Sinh tâm thấy biết như
vậy, nói việc như vậy. Nghĩa là có thần v.v....
Lại tất cả phiền não nầy đều ở trong thức thứ 6, trong 5 thức
kia không có. Bởi vì sao ? Vì tưởng hiện hành trong thức thứ 6,
nên tất cả phiền não đều do tưởng sinh. Nếu không phải như vậy,
thì thân kiến v.v... cũng phải ở trong 5 thức. Bởi vì sao ? Vì mắt
thấy sắc bảo ta có thể thấy. Nghi nạn v.v... cũng như vậy.
Thành Thật Luận Trang 369 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong kinh nói 6 ái chúng. Vì sao nói trong 5 thức kia
không phiền não ?
Đáp : Như 6 ý hành đều hiện hành trong ý thức. Chỉ nhờ mắt
v.v... mở cửa và dẫn đường, nên mới gọi 6 ý hành. Điều này cũng
vậy.
Lại trong ý thức có những phân biệt nhân duyên, mà trong 5
thức kia không có. Cho nên biết trong 5 thức không có phiền não.
Phẩm 139 : Dứt lỗi
Hỏi : Có người nói các phiền não có 9 bậc hạ, trung, thượng
là hạ hạ, hạ trung, hạ thượng; trung hạ, trung trung, trung thượng;
thượng hạ, thượng trung, thượng thượng. Trí cũng có 9 bậc là
phiền não trước dứt thượng thượng, sau cùng dứt hạ hạ. Đem trí
hạ hạ dứt phiền não thượng thượng, cho đến đem trí thượng
thượng dứt phiền não hạ hạ. Việc đó thế nào ?
Đáp : Dùng tâm nhiều vô lượng dứt các phiền não. Bởi vì sao
? Trong kinh Phật nới : Vì như người thợ khéo, tay cầm cán rìu,
mắt thấy chỗ ngón tay nắm, tuy hằng ngày không thể phân biệt
mòn hết bao nhiêu, nhưng khi mòn hết mới hay là mòn hết. Tìkheo
cũng vậy, khi đang tu đạo, tuy không phân biệt biết ngày nay
diệt được hết bao nhiêu phiền não, hôm qua đã diệt hết bao nhiêu;
nhưng đến khi diệt hết rồi mới biết là hết. Cho nên biết phải dùng
vô lượng trí diệt mới hết các phiền não chứ không phải 8 không
phải 9.
Hỏi : Dựa định nào, diệt những phiền não nào ?
Đáp : Nhờ 7 chỗ dựa diệt được phiền não. Như trong kinh
Phật nói : Nhờ Sơ thiền lậu hết, cho đến nhờ Vô sở hữu xứ lậu
hết.
Lại lìa 7 chỗ dựa nầy cũng có thể hết lậu, như trong kinh Tuthi-
ma nói lìa 7 chỗ dựa cũng được hết lậu. Cho nên biết dựa vào
định cõi Dục cũng được hết lậu.
Thành Thật Luận Trang 370 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Kiến đế thì phiền não dứt, không cần nưong định Vô
sắc mà dứt, vì lẽ hành giả nầy đã hoại sắc tướng ?
Đáp : Điều này trước đã đáp rồi, nghĩa là Vô sắc định có thể
duyên Sắc.
Hỏi : Vì là trước từ Sơ thiền rồi tuần tự lìa dục đến Nhị thiền
v.v... là đồng thời hay sao ?
Đáp : Phải tuần tự, vì lìa Sơ thiền muốn sinh Nhị thiền.
Hỏi : Trong cõi Dục cũng có thứ tự sao ?
Đáp : Các phiền não diệt từng mỗi niệm nên cũng phải thứ
tự.
Lại như những người ở các cõi trời Diệm-ma, khi ôm nhau
thì thành dâm dục. Trời Đâu-suất-đà nắm tay nhau thành dục. Trời
Hóa Lạc miệng nói với nhau thành dục. Trời Tha Hóa Tự Tại
nhìn nhau là thành dâm dục. Phải biết phiền não cõi Dục cũng
tuần tự mới dứt hết.
Có người nói nhờ nhân duyên phúc đức mà sinh về trong đó,
chứ không phải nhờ dứt phiền não, vì chỗ sở dục vi diệu nên mới
có sai khác.
Lại do căn chậm lụt nên ôm nhau mới thành dục; căn linh lợi
nên nhìn nhau là thành dục.
Hỏi : Có người nói phiền não do tư duy thì dứt là dứt dần
dần. Trước dứt trói buộc cõi Dục, sau dứt trói buộc cõi Sắc và Vô
sắc. Còn kiến đế thì dứt là đồng thời dứt.. Việc đó thế nào ?
Đáp : Tùy theo kiến đế mà dứt, nhưng thật ra tất cả phiền
não, thấy diệt đế mới dứt. Điều này trước đã nói. Như nói kiến đế
dứt các phiền như thân kiến v.v... đều là khi thấy diệt đế mới dứt.
Từ Noãn pháp, dùng vô thường v.v… tu quán tướng 5 ấm mới dứt
phiền não, thấy diệt đế mới hết.
Hỏi : Quán khổ trói buộc cõi Dục, có thể dứt kết cõi Dục.
Tập cũng như vậy. Như cõi Dục cho đến Phi Tưởng Phi Phi
Thành Thật Luận Trang 371 Tuệ Quang Foundation
Tưởng xứ cũng như vậy. Quán diệt cõi Dục có thể dứt kết cả 3
cõi. Đạo cũng như vậy. Việc đó thế nào ?
Đáp: Diệt trí có thể dứt phiền não. Cho nên lời ông nói không
đúng.
Hỏi : Trong kinh nói quán 5 ấm vô thường v.v..., nên được
quả Tu-đà-hoàn, cho đến quả A-la-hán. Sao ông nói chỉ quán diệt
đế là dứt phiền não ?
Đáp : Trí quán 5 ấm nầy sinh diệt hợp lại mà quán nên có thể
dứt kết sử. Như trong kinh nói: Tì-kheo quán sắc nầy là sắc tập, là
sắc diệt.
Lại còn nói thấy pháp biết pháp thì dứt phiền não. Mới biết là
thấy diệt đế nên dứt hết các phiền não.
Lại 5 ấm là ở trong khổ sinh các phiền não, nếu thấy 5 ấm
diệt cho là tịch diệt an ổn. Như vậy là khổ tưởng đầy đủ. Cho nên
biết thấy các ấm diệt, thì phiền não hết. Như nói vì các pháp
không thể tính, nương một xả tâm mà dứt, Không thể tính tức
diệt. Nếu hành giả thấy sắc không thể tính, cho đến thức cũng
không thể tính, thì được xa lìa sâu.
Lại 3 môn giải thoát đều duyên Nê-hoàn, vì môn giải thoát
nầy có thể dứt phiền não, không còn phương tiện nào khác. Cho
nên biết chỉ vô vi duyên đạo mới có thể dứt phiền não. Cho nên
ông nói phương pháp dứt phiền não là việc đó không đúng.
Luận giả nói : Các phiền não có vô lượng môn phân biệt như
vậy v.v..., người cầu giải thoát cần phải biết. Bởi vì sao ? Vì biết
đó là trói buộc là tội lỗi nên được giải thoát. Như người biết kẻ
oán nên mới xa lìa được. Như biết đường hiểm nên mới tránh
được. Phiền não cũng như vậy.
Lại phiền não trói buộc rất là chặt chẽ, quá hơn vua A-tu-la
Tỳ-ma-chất-đa-la, cho nên chúng sinh ở cõi Hữu Đỉnh cũng vẫn
thường bị phiền não trói buộc. Cho nên phải biết tội lỗi đó.
Thành Thật Luận Trang 372 Tuệ Quang Foundation
Lại chúng sinh, cho đến cõi Hữu Đỉnh vẫn còn thoái đọa trở
lại, là vì đều không thể thấy biết tội lỗi của phiền não.
Lại vì không dứt kết nên sinh tăng thượng mạn, tự cho mình
đã dứt, sau thì nghi ngờ hối hận. Cho nên phải biết lỗi các phiền
não, đừng để bị lừa gạt.
Lại nếu chúng sinh lìa bỏ cái vui tịnh diệu của Nê-hoàn, lại
tham vui dục lạc tệ lậu. Hễ có vui thì đều do lỗi các phiền não.
Nếu dứt các phiền não thì được lợi ích lớn. Cho nên phải biết thấy
lỗi các phiền não có chướng ngại pháp giải thoát tức là phiền não.
Nếu không dứt phiền não quyết không có nhân duyên giải thoát.
Bởi vì sao ? Vì các phiền não là nhân duyên có thân; tùy phiền
não có thân, tùy thân có khổ. Cho nên người cầu lìa khổ, cần phải
siêng năng tinh tiến dứt các phiền não.
Phẩm 140 : Thuyết minh về nhân
Hỏi : Phiền não làm nhân duyên cho thân, điều này cần phải
thuyết minh. Bởi vì sao ? Vì có các ngoại đạo không tin điều này.
Hoặc nói thân nầy không nhân không duyên, giống như cỏ cây tự
nhiên sinh. Hoặc nói muôn vật là do Đại Tự Tại v.v… các Trời
sinh ra. Hoặc nói muôn vật từ thể tính sinh ra. Hoặc vi trần hòa
hợp sinh ra. Có những thuyết lập luận như vậy, cho nên phải
thuyết minh ?
Đáp : Từ nghiệp có thân, việc nầy trước đã thành lập. Nghiệp
đó do phiền não sinh nên lấy phiền não làm nhân duyên sinh thân.
Hỏi : Vì sao biết bởi phiền não mới có nghiệp ?
Đáp : Tùy tâm giả danh gọi là vô minh. Tâm giả danh đó có
thể nhóm các nghiệp, cho nên biết nhân duyên phiền não mới có
nghiệp.
Lại A-la-hán các nghiệp không nhóm không thành, cho nên
biết các nghiệp do phiền não mà thành. Như trong kinh Phật nói :
Nếu người được minh, lìa vô minh, người đó có thể khởi tội
Thành Thật Luận Trang 373 Tuệ Quang Foundation
nghiệp, phúc nghiệp và bất động nghiệp chăng ? – Thưa không,
Thế Tôn !
Lại không có nghiệp vô lậu, cho nên biết chỉ tùy giả danh có
thể khởi các nghiệp. Tâm vô lậu không tùy giả danh nên không
khởi nghiệp.
Lại người học nhân không hành, như kinh nói : Học nhân
hoàn mà không hành, diệt mà không tác. Tướng tác là hành, hành
là nghiệp.
Lại vì tâm vô lậu không phải tướng của hành, nên không có
nghiệp vô lậu. Cho nên tất cả nghiệp thụ thân đều bởi phiền não
sinh.
Lại người dứt phiền não không còn thụ sinh. Cho nên biết có
thân đều bởi phiền não.
Hỏi : Tất cả chúng sinh đều là không phiền não, sau khi sinh
mới khởi, như người khi sinh không răng, về sau mới mọc ?
Đáp : Không phải vậy. Người có phiền não tùy có những
tướng, nghĩa là khi mới sinh ra hiện có tiếng khóc v.v.... Cho nên
biết đều cùng với phiền não cọng sinh.
Lại hiện thấy chúng sinh phần nhiều sinh trong chuồng xí
v.v... chứ không sinh trên đá bàn thạch. Phải biết vì tham đắm
hương vị v.v... nên mới sinh vào trong đó. Cho nên biết do phiền
não mà sinh.
Hỏi : Trong địa ngục v.v... không nên sinh được. Bởi vì sao ?
Vì không ai tham vui trong địa ngục ?
Đáp : Chúng sinh vì sức mạnh ngu si, nên ở trong tâm điên
đảo mà sinh, khi sắp chết xa thấy địa ngục lầm cho là ao hoa do
đó tham đắm, nên sinh vào trong đó. Như trong kinh nói : Nếu
người ở trong chỗ chật hẹp ồn ào mà chết thì muốn được chỗ rộng
rãi là sinh trong loài chim. Nếu người chết vì khát có thể là sinh
làm loài trùng trong nước. Nếu người chết vì lạnh thì sinh trong
địa ngục nóng, chết nóng thì sinh trong địa ngục băng giá. Nếu
Thành Thật Luận Trang 374 Tuệ Quang Foundation
tham đắm dâm dục thì sinh trong loài chim sẻ. Tham đắm ăn uống
thì sinh làm loài trùng trong thây chết.
Lại bởi vì chỗ tham đắm nên gây các ác. Vì các nhân duyên
ác bắt buộc phải thụ quả báo.
Lại vì tham đắm thân, nên các nghiệp có thể sinh quả báo.
Bởi vì sao ? Vì sức mạnh ngu si tham đắm thân mình, nên sinh
các phiền não kiêu mạn v.v.... Do đó có thể tụ tập thành nghiệp,
vì nghiệp nên vào trong các đạo.
Hỏi : Nếu vì nhân duyên phiền não mới có thân, Người dứt
phiền não, lẽ ra 5 ấm không còn nối nhau được ?
Đáp : Thân nầy gốc do phiền não mới sinh, phiền não tuy
hết, nhưng vì thế lực nên thân vẫn còn không dứt. Như lấy gậy
quay bánh xe, tuy tạm bỏ gậy, nhưng bánh xe vẫn còn chạy không
ngừng.
Hỏi : Nếu vì thế lực phiền não nghiệp trước nên mới có thân
thì những người dứt phiền não, cũng vì thế lực phiền não nghiệp
trước nên cũng phải thụ thân ?
Đáp : Cốt yếu là vì lấy lấy tướng nên thức mới trụ được.
Người nầy hết thế lực nghiệp trước, nay khéo tu môn vô tướng
giải thoát nên không thụ thân sau.
Lại như các hạt giống không sinh trên đá nóng. Như vậy lấy
lửa trí tuệ làm nóng các thức xứ thì giống thức không sinh, là dứt
không còn nối nhau đời sau.
Lại vì nhân duyên các hành không đầy đủ nên không còn nối
nhau nữa. Như trong kinh Phật nói : Thức là hạt giống, nghiệp
hành là ruộng, tham ái là nước, vô minh là che khuất. Vì nhân
duyên nầy nên thụ thân sau. A-la-hán duyên nầy không đủ nên
không có thân sau. Phải biết nhân duyên phiền não mà thụ sinh.
Lại người không phiền não, có tâm biết khổ v.v.... Nay
những người thụ sinh không thấy có những tâm nầy. Cho nên biết
người không phiền não không thể thụ sinh.
Thành Thật Luận Trang 375 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Tu-đà-hoàn v.v... có tâm biết khổ v.v... mà khi sinh
cũng không thấy có ?
Đáp : Các A-la-hán sức trí tuệ mạnh, tất cả phiền não không
thể thắng nổi, nên khi mạng sắp chết ngăn được thụ sinh. Tu-đàhoàn
v.v... trí lực không bằng, cho nên không nên đem so sánh.
Lại ông nói như răng về sau dần dần mọc, phiền não cũng
vậy. Việc đó không đúng. Bởi vì sao ? Vì các A-la-hán dùng trí
tuệ vô lậu đã đốt cháy phiền não, nên không còn thụ sinh nữa, như
hạt giống bị rang cháy không còn mọc được.
Lại hiện thấy đời nay do phiền não sinh thân, như do tham
dục mà thân sắc biến khác, giận dữ cũng vậy. Cho nên biết 5 ấm
thân đời sau cũng do từ phiền não sinh.
Hỏi : Cũng thấy do nhân duyên uống ăn v.v... có 5 ấm sinh,
mà sao không gọi uống ăn là nhân duyên thụ thân ?
Đáp : Uống, ăn nương nhờ tâm mà có thể sinh sắc v.v....
Phiền não không phải như vậy.
Lại vì không chỗ nương để sinh sắc v.v.... Cho nên biết phiền
não là nhân duyên thụ thân.
Lại hiện thấy chim sẻ v.v... nhiều dục, rắn độc v.v... nhiều
giận, heo v.v... nhiều ngu si. Phải biết các chúng sinh đó chắc
chắn đã nhóm họp dâm dục v.v... các phiền não, nên mới sinh vào
trong các loại đó.
Hỏi : Pháp sinh xứ là vậy, nhưng không phải trước đã nhóm
họp nhân duyên phiền não ?
Đáp : Nếu như vậy thì dâm dục v.v... không có nhân, điều
này không thể được. Phải biết do từ trước nhóm họp nhân duyên
nên mới có.
Lại tham giận v.v... phiền não bùng phát mạnh thì gây các tội
sát hại v.v…. Vì tội này nên hiện chịu các khổ roi gậy trói buộc.
Phiền não, nếu mỏng thì được trì giới tu thiện, làm các điều lợi ích
v.v.... Nhờ giới thiện nầy hiện được vui tiếng khen lợi dưỡng
Thành Thật Luận Trang 376 Tuệ Quang Foundation
v.v.... Nếu hiện đời này suy bại lợi lạc, là đều bởi phiền não thì
biết đời sau sẽ cũng như vậy.
Hỏi : Nếu do phiền não mà có thân, thì không có sinh tử qua
lại. Bởi vì sao ? Vì phiền não thịnh nên đọa trong ác đạo. Thân đã
chịu tội, phiền não càng tăng, hẳn không nhân giải thoát. Như vậy
không thể được sinh chỗ thiện. Nếu thụ thân phúc thì phúc lại
tăng lên, tức không còn sinh lại chỗ ác. Như vậy thì không có sinh
tử qua lại ?
Đáp : Người đó tuy đọa chỗ ác, hoặc cũng có được thiện tâm,
tuy sinh chỗ thiện hoặc cũng có khởi ác tâm, cho nên sinh tử qua
lại không dứt.
Lại tùy tham v.v... phiền não giảm ít, theo đó mà được sinh
chỗ tốt, tùy tham v.v... nhiều, theo đó mà sinh chỗ xấu, như heo
chó v.v.... Người tùy theo phiền não giảm sinh chỗ tốt, như vì
phiền não mỏng nên có thể tu bố thí, trì giới v.v... phúc sinh cõi
trời Lục Dục, vì dứt tâm dâm dục nên được vui thắng thiền, vì dứt
sắc nhiễm nên được vui thắng định, hết tất cả kết thì được vui Nêhoàn
không gì so sánh. Cho nên biết thân nầy bởi phiền não mà
có.
Lại hiện thấy chúng sinh ưa cõi nước tồi tệ, và ưa ở những
chỗ tồi tệ của người ác là đều do tham đắm. Cho nên biết chỗ ở
của chúng sinh trong sinh tử cũng do tham đắm, như con bướm
tham ánh sáng mà bị đèn đốt cháy. Sự tham đắm đó không do trí
sinh. Bởi vì sao ? Vì con bướm kia không biết lửa đèn là khổ xúc
nên mới gieo mình vào. Cũng vậy, chúng sinh bị khổ thân sau,
đều bởi nhân duyên vô minh tham ái nên mới sinh. Như cá nuốt
mồi câu; hưu nai chạy theo tiếng kêu giả của người thợ săn, đều
do tham đắm nên đến nỗi phải chết chóc.
Lại như người vì tham đắm nên đi đến phương xa lạ mà
không thể hồi hương. Phải biết đều bởi phiền não sinh ra.
Thành Thật Luận Trang 377 Tuệ Quang Foundation
Lại như cây không nhổ rễ thì cây mọc lại. Cũng như vậy rễ
tham không nhổ thì cây khổ vẫn còn. Như Phật nói : Rễ cây
không nhổ, dù chặt gốc cây vẫn còn sinh. Tham sử không nhổ,
thường thường chịu khổ.
Lại thân này là bất tịnh, vô thường, khổ, không, vô ngã, tự
không vô minh, thì làm gì có người trí mà tham thụ khổ nầy.
Giống như người mù mới có thể đem áo bẩn mà gạt là đồ quý báu.
Như vậy là bị vô minh làm mù quáng, thì có thể chịu tội lỗi 5 ấm
bất tịnh.
Lại bởi ngã tâm nên thụ thân, tuy khổ mà không thể rời bỏ.
Nếu không có ngã tâm, thì có thể xa lìa, như Xá-lợi-phất nói :
Người thanh tịnh trì giới đắc đạo, khi chết vui mừng, như phá vỡ
bát thuốc độc. Cho nên biết nhân duyên phiền não mà có thân.
Lại có người vì vô trí nên tham đắm thân nầy, như lấy chiếc
hộp sơn vẽ đựng đầy đồ bất tịnh, khi chưa mở nắp, thì thấy có thể
yêu thích, nhưng khi mở ra thì toàn là hôi thối.
Lại như rắn độc đầy trong nhà tối, khi đèn chưa soi thì sinh
lòng vui đắm, mà khi thấy thì bỏ chạy ngay. Chúng sinh cũng vậy,
tùy có vô minh thì vui thế gian, nếu khi hết vô minh thì tâm chán
lìa. Như vậy tham ái là căn bản của thụ thân. Bởi vì sao ? Vì tham
ái nên cầu. Cầu có 2 thứ là dục cầu và hữu cầu. Cầu các dục hiện
tại gọi là dục cầu, lại cầu thân sau gọi là hữu cầu. Cho nên biết
tham ái là gốc của sự thụ thân.
Lại nếu tham đắm 5 ấm tức sinh thân kiến. Như nói : Ngã
nầy là ngã ngữ thủ. Nhân thủ nầy sinh 3 thủ khác. Thủ làm nhân
duyên hữu, hữu làm nhân duyên sinh. Phải biết phiền não là căn
bản của thân.
Lại thân nầy đều khổ. Với khổ thân nầy sinh tưởng điên đảo
là vui. Do vui điên đảo nầy sinh ái điên đảo; vì ái điên đảo nầy mà
có thể thụ thân sau. Cho nên biết nhân duyên tham ái mới có thân.
Thành Thật Luận Trang 378 Tuệ Quang Foundation
Lại thân nầy nhờ nhân duyên ăn nên mới sống còn. Đắm
trước đoàn thực nên không vượt khỏi cõi Dục. Như trong Phẩm
Nghiệp nói tham hương vị nên sinh trong chuồng xí v.v.... Vì
tham đắm xúc nên sinh trong bào thai. Vì tham đắm xúc ấm mát,
nên sinh trong trứng, chỗ ướt, đều không vượt khỏi cõi Dục.
Nhân 3 thứ xúc nầy mà sinh 3 thứ thụ, nên mới nói xúc làm nhân
duyên thụ. Ý tư thực cũng như vậy. Phát nguyện muốn được thân
đời sau rằng ta sẽ làm điều này. Không thấy biết thức là gốc tham
ái, có thể khiến có thân sau. Cũng như vậy, 4 cách ăn đều do tham
ái. Tất cả chúng sinh đều nhờ ăn mà sống còn, cho nên biết ái làm
nhân duyên cho sinh.
Lại 4 loài sinh là sinh trứng, sinh thai, sinh bằng sự ẩm ướt,
và sinh bằng biến hóa. Vì ái dâm dục nên sinh trứng sinh thai.
Tham hương vị v.v... nên sinh chỗ ẩm ướt. Tùy chỗ yêu thích nên
khởi nghiệp nặng nề thì thụ hóa sinh. Cho nên biết 4 loài sinh sai
khác đều do tham ái.
Lại 4 thứ thụ thân có thứ có thể tự giết mà người khác không
thể giết, như vậy v.v... 4 thứ đều do tham ái sai khác mà có. Cho
nên biết tham ái là nhân duyên có thân.
Lại 4 thức xứ là tùy sắc thức trụ, y sắc, duyên sắc, lấy hỷ làm
nhuận thấm. Thụ, tưởng, hành cũng như vậy, mà không nói thức
là thức xứ, vì khi thức tỉnh là không phiền não. Cho nên biết phiền
não là nhân duyên có thân.
Lại 12 nhân duyên đều do vô minh. Bởi vì sao ? Vì theo tâm
giả danh gọi là vô minh. Nhân vô minh nầy mới khởi nghiệp phúc
hành, tội hành và bất động hành. Muốn an lạc chúng sinh gọi là
phúc hành, làm khổ não chúng sinh gọi là tội hành, nhiếp tâm từ
bi v.v... gọi là bất động hành. Tùy theo các hành nghiệp nầy mà
thức trụ thân đời sau. Dựa vào thức sinh danh sắc, lục nhập, xúc,
thụ. Bốn chi nầy là quả báo phiền não nghiệp đời trước.
Thành Thật Luận Trang 379 Tuệ Quang Foundation
Lại nhân ái nầy sinh ái, lấy và hữu là nghiệp phiền não có thể
sinh sinh, lão và tử đời sau. Như vậy 12 hữu phần nối nhau đều
lấy vô minh làm gốc. Cho nên biết phiền não là nhân duyên có
thân.
Lại sinh tử vô thủy, vì sao biết được ? Trong kinh nói : Từ
nghiệp nhân duyên mới có mắt v.v... các căn. Do ái có nghiệp, do
vô minh nên có ái. Vô minh do nhớ nghĩ tà vạy, nhớ nghĩ tà vạy
trở lại do mắt duyên sắc, từ si sinh. Cho nên biết sinh tử luân
chuyển không có khởi đầu.
Nếu nói do trời Tự Tại v.v... thì chẳng phải vô thủy, điều này
không thể được. Cho nên biết phiền não nhân duyên có thân.
Lại diệt hết phiền não thì được giải thoát.
Lại thân chúng sinh có nhiều tạp loại. Nếu do Tự Tại v.v...
thì lẽ ra không tạp. Vì nghiệp phiền não có nhiều thứ nên thân
cũng không phải một.
Lại 22 căn, do 6 căn sinh 6 thức. Trong đó có nam nữ căn.
Các pháp nầy nối nhau không dứt nên gọi là mạng. Mạng nầy lấy
gì làm căn ? Đó gọi là nghiệp. Nghiệp nầy do nơi phiền não.
Phiền não nương thụ, nên lấy 5 thụ làm căn. Như vậy sinh tử lần
lượt nối nhau. Nương tín v.v... các căn v.v... có thể dứt sự nối
nhau. Như vậy 22 căn qua lại sinh tử. Cho nên biết đều bởi phiền
não có thân.
Lại người cầu giải thoát mới sinh các phẩm giới định tuệ,
giải thoát, giải thoát tri kiến. Những thứ nầy dùng để làm gì ? Đều
để diệt các phiền não. Người trí thấy lợi ích đó nên mới dựa vào
các phẩm nầy. Cho nên biết là nhân duyên phiền não có thân.
Lại các phiền não thứ lớp diệt hết. Dứt 3 kết được quả Tu-đàhoàn.
Mỏng dần tham dục v.v...được quả Tư-đà-hàm. Hết kết cõi
Dục được quả A-na-hàm. Trong các thiền định cũng như vậy. Thứ
lớp tất cả đều hết thì chứng được quả A-la-hán. Như vậy tùy theo
các phiền não thứ lớp diệt nên thân cũng dần diệt theo. Nếu thân
Thành Thật Luận Trang 380 Tuệ Quang Foundation
do trời Tự Tại v.v... thì không phải dần diệt. Cho nên biết là nhân
duyên phiền não có thân.
Lại phiền não tham v.v... các người thiện đều cầu dứt diệt, vì
chắc sẽ thấy nhân duyên tham v.v... đời này đời sau bị việc suy
hại, cho nên cầu dứt. Nếu không như vậy thì không cầu dứt. Nếu
ai nói thân là do trời Tự Tại v.v..., thì người đó cũng cầu dứt tham
dục v.v.... Cho nên biết tham dục v.v... là nhân duyên có thân.
Lại người trí biết dùng trí tuệ mà được giải thoát. Có thể biết
vì do vô trí nên phải trói buộc. Cho nên biết là do nhân duyên
phiền não có thân.
Lại Phật nói trong các kinh : Diệt hết tham, và vui mừng mới
được chính giải thoát. Bởi vì sao ? Vì mắt, sắc v.v... không gọi là
trói buộc, tham và vui mừng mới gọi là trói buộc. Vì phá tham và
vui mừng, nên tâm được chính giải thoát. Chính giải thoát nên
tâm mới có thể vào Nê-hoàn. Cho nên biết là do nhân duyên phiền
não có thân.
Lại dùng không, vô tướng, vô tác mà được giải thoát. Cho
nên biết là nhân duyên phiền não có thân. Bởi vì sao ? Vì quán
các pháp trống không, tức không có tướng có thể được. Vì diệt
tướng nên không nguyện muốn thân sau. Cho nên dùng không,
làm môn giải thoát. Trái lại kia là trói buộc. Vì các lẽ trên nên biết
do phiền não mà có thân. Điều này thuyết minh đã rõ.
Hết nhóm Tập đế.
Phẩm 141 : Trước tiên lập giả danh
trong nhóm diệt đế
Luận giả nói : Diệt 3 thứ tâm gọi là diệt đế. Đó là giả danh
tâm, pháp tâm, và không tâm.
Hỏi : Làm sao diệt 3 tâm này ?
Đáp : Giả danh tâm thì hoặc dùng nhân duyên trí đa văn mà
diệt, hoặc dùng nhân duyên trí tư duy mà diệt. Pháp tâm ở trong
Thành Thật Luận Trang 381 Tuệ Quang Foundation
noãn pháp v.v... dùng không trí mà diệt. Không tâm thì vào Diệt
tận định diệt, hoặc khi vào Nê-hoàn vô dư, khi dứt nối nhau là
diệt.
Hỏi : Sao gọi giả danh ?
Đáp : Bởi các ấm có phân biệt, như bởi 5 ấm nói có người,
bởi sắc, hương, vị, xúc mới nói có cái bình v.v....
Hỏi : Vì sao lấy đó cho là giả danh ?
Đáp : Trong kinh Phật nói : Như trục, bánh xe, hòa họp nên
gọi là cái xe. Các ấm hòa họp nên gọi là người.
Lại như Phật bảo các Tì-kheo : Các pháp là vô thường, khổ,
không, vô ngã. Do nhiều nhân duyên sinh, không có tính nhất
định. Chỉ có tên gọi, chỉ có nghĩ nhớ và chỉ có tác dụng. Do 5 ấm
nầy sinh nhiều thứ tên như là chúng sinh, người, trời, v.v.... Trong
kinh đó ngăn pháp thật có, nên nói chỉ có tên gọi.
Lại Phật nói 2 đế là chân đế và tục đế. Chân đế là sắc v.v...
pháp và Nê-hoàn. Tục đế là chỉ có giả danh không có tự thể. Như
sắc v.v... nhân duyên thành cái bình, nhân duyên 5 ấm thành
người.
Hỏi : Nếu trong đệ nhất đế không có thế đế thì cần gì phải
nói ?
Đáp : Thế gian chúng sinh thụ dụng thế đế. Làm sao biết
được ? Như nói vẽ lửa người ta cũng tin nhận. Chư Phật, Hiền
thánh muốn cho thế gian lìa bỏ giả danh, nên đem thế đế giảng
nói. Như trong kinh Phật nói : Ta không tranh với thế gian, mà
thế gian tranh với ta. Vì người trí không cần tranh cãi.
Lại người thời thượng cổ vì muốn dùng sự vật, nên khi vạn
vật sinh thì đặt tên, như cái bình v.v.... Nếu trực tiếp pháp đó thì
không thể dùng được, nên nói thế đế.
Lại nếu nói 2 đế thì Phật pháp thanh tịnh. Vì đệ nhất nghĩa đế
nên người trí không hơn. Vì thế đế nên người ngu không tranh cãi.
Thành Thật Luận Trang 382 Tuệ Quang Foundation
Lại nói 2 đế thì không rơi vào đoạn, thường, không sa vào tà
kiến và bên khổ bên vui, nghiệp quả báo v.v... đều có thể thành
lập được.
Lại thế đế là căn bản giáo hóa của chư Phật, như bố thí trì
giới được quả báo sinh chỗ thiện. Nếu lấy pháp nầy điều hòa tâm
nhu thuận mới kham thụ đạo giáo, rồi sau vì nói đạo lý đệ nhất
nghĩa. Như vậy Phật pháp ban đầu không sâu gấp mà giống như
biển cả sâu dần dần, nên nói thế đế.
Lại nếu thành tựu được đạo trí tuệ, mới có thể vì nói thật
pháp. Như Phật nghĩ rằng : Tì-kheo La-hầu-la nay đã có thể thành
tựu đạo trí tuệ, sẽ vì nói thật pháp. Ví như cái ung nhọt đã chín
muồi thì dễ vỡ mà chưa muồi thì khó phá. Cũng như vậy, dùng trí
thế đế khiến tâm điều hòa nhu thuận, rồi sau mới lấy trí đệ nhất
mà phá chấp.
Lại trong kinh nói : Trước biết phân biệt các pháp, rồi sau
mới biết Nê-hoàn. Hành giả trước biết các pháp là giả danh có,
hay là chân thật có ? Sau mới có thể chứng diệt đế.
Lại các phiền não trước thô sau tế, lần lượt diệt hết, như lấy
các tướng tóc lông diệt tướng nam nữ, lấy tướng sắc v.v… diệt
tướng tóc lông. Sau mới lấy không tướng mà diệt sắc tướng v.v...,
như lấy nêm tháo nêm, cho nên nói thế đế.
Lại nhờ thế đế nên được thành lý trung đạo. Bởi vì sao ? Vì 5
ấm nối nhau sinh nên không dứt; niệm niệm diệt nên không
thường. Lìa dứt thường này gọi là trung đạo. Như trong kinh nói :
Thấy thế gian nhóm thì diệt chấp không; thấy thế gian diệt thì diệt
chấp có. Vì có thế đế nên mới có thể thấy tập, thấy diệt, cho nên
nói thế đế.
Lại vì thế đế nên Phật pháp đều thật. Nghĩa là có các môn có
ngã không ngã. Nếu vì thế đế nên nói có ngã thì không lỗi, vì đệ
nhất nghĩa nên nói không có ngã cũng là thật.
Thành Thật Luận Trang 383 Tuệ Quang Foundation
Lại vì thế đế nên có lời nạn vấn mà để đó không đáp. Nếu
đứng về thật pháp thì đều có thể đáp.
Lại nếu chấp thật có chúng sinh là đại si ám. Nếu nói thật
không, cũng đọa vào si ám. Bởi vì sao ? Vì 2 chấp có, không, nầy
là sa vào chấp đoạn thường, khiến hành giả thoát được bên có, lại
rơi vào bên không. Nếu không có thế đế thì do đâu được ra khỏi ?
Lại nếu người chưa được trí tuệ chân không, mà nói không
có chúng sinh, vậy là tà kiến, vì không chúng sinh chịu sinh tử,
nên gọi tà kiến. Nếu được không trí, nói không chúng sinh thì
không lỗi. Như trong kinh nói : A-la-hán Tì-kheo-ni hỏi ác ma
rằng : Ngươi lấy gì cho là chúng sinh ? Chỉ có nhóm 5 ấm trống
không, thật không có chúng sinh.
Lại nói thân này 5 ấm nối nhau, trống không, không có gì cả,
như trò ảo hóa dối gạt phàm phu, gọi là oán là giặc, như mũi tên,
như ung nhọt, khổ, không, vô ngã, chỉ là tướng sinh diệt bại hoại.
Hỏi : Đều là tâm không có gì cả, mà vì sao gọi là tà kiến,
hoặc gọi đệ nhất nghĩa ?
Đáp : Nếu người chưa sinh trí tuệ chân không, vì có ngã tâm
nên nghe nói vô ngã liền sinh khiếp sợ. Như Phật nói : Nếu phàm
phu nghe không, vô ngã, thì rất kinh sợ không còn làm gì nữa.
Cho nên biết chưa được không trí, vì có ngã tâm nên khiếp sợ Nêhoàn,
vậy là tà kiến. Được trí chân không, biết bản lai không, thì
không e sợ.
Lại người này chưa được chân không mà thấy không có gì
thì đọa ác kiến, tức là đoạn kiến, tà kiến. Nếu người đó trước nhờ
thế đế nên biết có ngã, tin nghiệp quả báo, sau quán tướng các
pháp vô thường sinh diệt, dần dần chứng được diệt. Không còn
ngã tâm thì diệt tâm tham. Nếu nghe nói không có gì, thì không
tội lỗi nên nói thế đế.
Lại có ngoại đạo chê Phật là Sa-môn Cù-đàm phá chân thật
Thần. Cho nên Phật nói : Ta dùng thế đế nói có chúng sinh. Ta
Thành Thật Luận Trang 384 Tuệ Quang Foundation
biết rõ trong chính kiến nói có chúng sinh qua lại sinh tử. Đó gọi
là chính kiến. Chỉ vì phàm phu tà niệm nên trong cái thật không
chúng sinh, mà nói là thật có, nên chỉ phá tà niệm nầy mà không
phá chúng sinh. Như cái bình v.v... là lấy giả danh mà nói. Trong
đó không phải sắc v.v… là cái bình, không phải rời sắc v.v... riêng
có cái bình. Cũng như vậy, không phải sắc v.v... các ấm là chúng
sinh, cũng không phải rời sắc v.v... các ấm riêng có chúng sinh.
Như do sắc v.v... quá giả danh, cũng như vậy lấy tướng diệt quá
sắc v.v..., lấy thí dụ khiến nghĩa dễ hiểu. Cũng như cái đèn vẽ,
cũng gọi là cái đèn, mà thật không có công dụng của cái đèn. Như
vậy tuy nói có cái bình, mà không phải thật có, tuy nói 5 ấm mà
không phải đệ nhất nghĩa.
Phẩm 142 : Tướng của giả danh
Hỏi : Làm sao biết các vật như cái bình v.v... là giả danh mà
có, không phải chân thật ?
Đáp : Trong giả danh, hiển thị cái tướng, trong chân thật,
không hiển thị tướng. Như nói sắc nầy là sắc của cái bình, không
nói được là sắc của sắc, cũng không nói được là thụ v.v... của sắc.
Lại đèn vì dụng cụ của sắc có thể soi, dụng cụ của xúc có thể
đốt. Thật pháp không thấy như vậy. Bởi vì sao ? Vì thức không vì
khác dụng cụ thức, thụ cũng không vì khác dụng cụ thụ. Cho nên
biết có dụng cụ là giả danh có.
Lại nhân pháp khác mà thành tên, giả danh là có, như nhân
sắc v.v... thành cái bình. Thật pháp thì không nhân pháp khác mà
thành. Bởi vì sao ? Vì như thụ không nhân pháp khác mà thành.
Lại giả danh có nhiều sở năng, như đèn có thể soi có thể đốt.
Thật pháp không thấy như vậy. Bởi vì sao ? Vì như thụ không thể
vừa thụ vừa thức.
Lại tên cái xe ở trong bánh xe, trục xe v.v.... mà tên gọi sắc
v.v... không ở trong vật. Có sai khác như vậy.
Thành Thật Luận Trang 385 Tuệ Quang Foundation
Lại bánh xe, trục xe v.v... là nhân duyên thành cái xe, trong
đó không có tên cái xe. Vậy thì trong nhân duyên cái xe không có
pháp cái xe, mà chỉ nhờ đó thành xe. Cho nên biết cái xe là giả
danh.
Lại như vì tên gọi sắc v.v... được nói là sắc v.v..., mà tên gọi
cái bình v.v... không được nói cái bình v.v.... Cho nên biết cái
bình v.v... là giả danh.
Lại có trong giả danh tâm động không định. Như người thấy
con ngựa, hoặc nói thấy đuôi con ngựa, hoặc nói thấy thân con
ngựa, hoặc nói thấy da, hoặc nói thấy lông. Hoặc nói nghe tiếng
đàn tranh, hoặc nói nghe tiếng đàn huyền. Hoạc nói ngửi hoa,
hoặc nói ngửi mùi thơm của hoa. Hoặc nói nếm bơ, hoặc nói nếm
vị bơ. Hoặc nói chạm phải người, hoặc nói chạm thân người, hoặc
nói chạm cánh tay người, hoặc nói chạm tay người, hoặc nói chạm
ngón tay người, hoặc nói chạm đốt ngón tay. Ý thức đối với trong
chúng sinh v.v... động, bảo thân là chúng sinh, tâm là chúng sinh.
Sắc v.v... là cái bình, rời sắc v.v... có bình. Như vậy v.v... trong
thật pháp tâm định không động. Không được nói tôi thấy sắc cũng
thấy tiếng v.v....
Lại trong pháp khả tri v.v... bất khả thuyết cũng gọi là có, vì
đó là giả danh như cái bình, cho nên biết cái bình v.v… là giả
danh có. Bởi vì sao ? Vì các pháp như sắc v.v... không gọi là bất
khả thuyết trong các pháp khả tri v.v...
Lại như pháp sắc v.v... là tự tướng khả thuyết mà cái bình
v.v... là tự tướng bất khả thuyết. Cho nên biết là giả danh có. Hoặc
có thuyết nói tướng giả danh là tướng ở những chỗ khác, không ở
trong giả danh. Như trong kinh nói : Nghiệp là trí, tướng là chẳng
có trí. Nếu thân khẩu ý có thể khởi nghiệp thiện gọi là trí, mà thân
khẩu ý khởi nghiệp bất thiện gọi là chẳng phải trí. Thân nghiệp
khẩu nghiệp nương 4 đại, ý nghiệp nương tâm. Ba việc nầy vì sao
Thành Thật Luận Trang 386 Tuệ Quang Foundation
gọi là tướng của trí, tướng của chẳng phải trí ? Cho nên biết giả
danh không có tự tướng.
Lại tướng giả danh tuy ở các chỗ khác cũng không phải một.
Như nói người chịu khổ não như mũi nhọn đâm vào tâm não hoại
là sắc tướng.
Lại thụ là thụ tướng, cũng đối với người mà nói. Như Phật
nói : Người trí người ngu đều thụ khổ vui mà người trí trong khổ
vui không sinh tham giận, lấy nhiều ít v.v...Tướng là tướng tưởng,
cũng đối với người mà nói. Như nói tôi thấy ánh sáng, thấy sắc tác
khởi, đó là tướng của hành. Cũng với người mà nói. Như nói
người nầy khởi tác phúc hành, cũng khởi tội hành và bất động
hành. Thức là thức tướng, cũng với người mà nói, như nói người
trí biết pháp như lưỡi nếm vị. Cho nên nếu ở các chỗ khác mà nói
cũng có nhiều tướng là tướng giả danh. Tướng sắc v.v... không ở
các chỗ khác, cũng không nhiều tướng.
Lại nếu pháp bị tất cả thứ sử sai khiến, là giả danh có. Thật
pháp không bị sử sai khiến, vì các sử sai khiến người.
Lại trong giả danh không sinh biết, mà trong sắc v.v... trước
sinh biết, sau do tà tưởng phân biệt nói tôi thấy cái bình v.v....
Lại trong cái bình, cái biết cần đợi sắc v.v.... Bởi vì sao ? Vì
nhân sắc, hương, vị, xúc mới gọi là cái bình, mà cái biết trong thật
pháp lại không cần đợi gì cả.
Lại trong giả danh sinh nghi, như nghi là thân cây trơ trụi,
hay là con người ? Mà trong sắc v.v... không sinh nghi là sắc hay
là thanh.
Hỏi : Trong sắc v.v... cũng có nghi là có sắc hay không có
sắc ?
Đáp : Không phải vậy. Nếu thấy sắc quyết chắc thì không
nghi là âm thanh.
Thành Thật Luận Trang 387 Tuệ Quang Foundation
Lại vì các nhân duyên khác nên mới nghi có sắc không sắc.
Như nghe nói sắc không mà lại thấy sắc thì sinh nghi nói là có hay
là không. Nếu thấy được diệt đế thì nghi nầy liền dứt.
Hỏi : Trong diệt đế cũng có nghi là có diệt hay là không diệt
?
Đáp : Trong sở chấp sinh nghi chứ không phải trong diệt đế.
Như nghe chấp có diệt, cũng chấp không diệt, trong đó sinh nghi
là có hay là không. Người nầy bấy giờ không thấy diệt đế. Bởi vì
sao ? Vì người thấy diệt đế không còn nghi. Cho nên biết chỗ sinh
nghi là giả danh có.
Lại trong một vật được sinh nhiều nhận thức. Đó là giả danh
có, như bình v.v.... Trong thật pháp không có như vậy. Bởi vì sao
? Vì trong sắc không sinh nhĩ thức v.v...
Lại nhiếp thuộc nhiều nhập, là giả danh có, như cái bình
v.v.... Cho nên có người nói giả danh gồm có 4 nhập. Thật pháp
không được nhiếp thuộc nhiều nhập.
Lại nếu không tự thể mà có thể có tạo tác, là giả danh có.
Như nói người tạo tác mà thể của người và thể của nghiệp không
thể được.
Lại có bao nhiêu phân biệt là người oan người thân v.v...,
đều là giả danh chứ không phải thật pháp có. Bởi vì sao ? Vì nếu
chỉ thẳng ở trong pháp sắc v.v... thì không sinh tưởng người oan
người thân gì cả.
Lại đi lại v.v..., đoạn hoại v.v..., đốt nát v.v... có bao nhiêu
việc ra làm, đều là giả danh không phải thật pháp mà có. Bởi vì
sao ? Vì thật pháp không đốt, không phá hoại.
Lại các nghiệp tội phúc đều giả danh có. Bởi vì sao ? Vì sát
sinh v.v... là tội, mà lìa sát sinh v.v... là phúc, đều không phải thật
có.
Lại giả danh có đối đãi nhau mới thành, như đây kia, nhẹ
nặng, dài ngắn, lớn nhỏ, thầy trò, cha con và sang hèn v.v.... Thật
Thành Thật Luận Trang 388 Tuệ Quang Foundation
pháp không có đối đãi mà thành. Bởi vì sao ? Vì sắc không đợi
các vật khác để thành âm thanh v.v....
Lại không nhờ không, mà phá là giả danh có, như dựa vào
cây phá rừng, dựa vào gốc rễ phá cây, dựa vào sắc v.v... phá gốc
rễ. Nếu lấy không mà phá là thật pháp có. Như sắc v.v... cần lấy
không mà phá.
Lại tùy không hành xứ là giả danh có. Tùy vô ngã hành xứ là
thật pháp có.
Lại có 4 lối lập luận : 1. Một. 2. Khác; 3. Bất khả thuyết. 4.
Không. Bốn thứ lập luận này đều có lỗi. Cho nên biết cái bình
v.v... là giả danh có. Một, là sắc, hương, vị, xúc tức là cái bình.
Khác, là lìa sắc v.v... riêng có cái bình. Bất khả thuyết, là không
thể nói sắc v.v... là cái bình, hay lìa sắc v.v... riêng có cái bình.
Không, là không có cái bình nầy. Bốn lối lập luận nầy đều không
đúng. Cho nên biết cái bình là giả danh.
Phẩm 143 : Phá chấp cho là một
Hỏi : Chấp này trong 4 lối lập luận có lỗi gì ?
Đáp : Lỗi lập luận cho là một, là sắc v.v... các pháp, tướng
đều sai biệt.
Nếu là một, thì cái bình không có được.
Lại sắc v.v... mỗi mỗi không gọi là địa, thì hòa hợp lại làm
sao thành địa được ? Bởi vì sao ? Vì như mỗi mỗi con ngựa không
gọi là con bò, thì hợp lại làm sao thành bò được ?
Hỏi : Như mỗi mỗi hạt mè không thể thành đống mè, mà hòa
hợp là có thể thành đống mè. Như vậy sắc v.v... mỗi mỗi không
thể thành địa, mà hòa hợp lại thì thành ?
Đáp : Không phải vậy. Bởi vì sao ? Vì đống mè là giả danh
có, còn lập luận cho là một v.v... là luận trong thật pháp, làm sao
đem ví dụ được !
Thành Thật Luận Trang 389 Tuệ Quang Foundation
Lại sắc, hương, vị, xúc là 4 pháp, mà địa là 1 pháp, 4 không
phải là 1. Nếu 4 là 1 thì 1 cũng phải là 4 ? Việc đó không thể
được. Cho nên biết sắc v.v... không tức là địa.
Lại thế gian đều nói địa sắc, địa hương, địa vị, địa xúc, mà
không thấy nói là sắc sắc, mà cần lấy pháp khác để chỉ cho nhau,
như nói nhà người nào đó v.v....
Hỏi : Đó không lấy pháp khác chỉ cho nhau, mà tức lấy tự
pháp tự chỉ, như tay chân người bằng đá. Bởi vì sao ? Vì lìa tay
chân lại không có người đá. Như vậy tuy không lìa sắc v.v... là
địa, mà cũng lấy tự thể tự chỉ, đâu có lỗi gì ?
Đáp : Nếu nói địa lấy sắc v.v... tự hiển thị là không có lý nầy.
Ông tuy nói thí dụ người đá, nhưng thí dụ nầy không đúng. Bởi
vì sao ? Vì như khi chỉ tay người đá, phải lấy các thân phần khác
mới thành người đá.
Lại giữa hư không cũng nói có, như khi nói thân người đá,
bấy giờ người đá lại không còn có nữa, mà cũng nói được. Như
Phật nói trong thân này có tóc lông máu thịt v.v..., lìa tóc đây
v.v... lại không có thân. Chỗ nương ở của tóc nầy v.v... tuy không
có chỗ nương riêng mà cũng có thể nói. Cho nên biết nói người đá
cũng là nói không đúng. Nếu ông cho người đá thành địa, cũng
không thành địa được. Trong kinh của ông nói có sắc, hương, vị,
xúc là địa. Địa nầy tức không phải như thân, cho nên biết sắc,
hương, vị, xúc không phải là địa.
Lại trong các Cầu-na không thể hiển thị cho nhau được, vì
không được nói sắc này có hương, mà chỉ nói địa có sắc, hương,
vị, xúc. Cho nên biết không phải là một.
Lại sắc tâm v.v... với địa tâm đều khác. Cho nên biết sắc
v.v... không phải địa.
Lại sắc v.v... tên khác, địa tên cũng khác.
Hỏi : Tâm khác, tên khác, đều ở trong hòa hợp mà có khác ?
Thành Thật Luận Trang 390 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu tâm và tên chỉ là hòa họp mới có, mà hòa họp chỉ
là tên gọi. Vậy thì địa chỉ có tên gọi, không thể luận là một.
Lại địa có thể lấy tất cả căn mà biết. Làm sao biết được ? Vì
có người nghĩ như vầy : Ta thấy địa, ngửi địa, nếm địa và chạm
xúc địa. Nếu sắc, hương, vị, xúc là địa, thì không nên chỉ trong
sắc sinh tưởng về địa mà bảo là ta thấy địa. Hưong v.v... cũng như
vậy, mà thật chỉ trong sắc mới sinh tưởng về địa. Cho nên biết
không phải sắc v.v... là địa. Chỉ nhờ nhân duyên tên gọi, trong
một phần cũng có thể nói tên gọi giả danh. Như người chặt cây,
cũng nói chặt cây, cũng nói chặt rừng.
Lại bên các Cầu-na khác với Đà-la-phiêu. Trong đó có bao
nhiêu nhân duyên, vì nhân duyên đó mà không thành luận cho là
một.
Lại người phái Tăng-khư nói 5 Cầu-na là địa. Đó cũng
không đúng. Bởi vì sao ? Vì như trước đã nói tiếng lìa sắc v.v...
niệm niệm diệt, rồi nối nhau sinh lại, mà không phải nhân để
thành 4 đại. Cho nên biết không phải tất cả 4 đại đều có âm thanh.
Phẩm 144 : Phá chấp cho là khác
Hỏi : Trong lập luận chủ trương cho là khác có những lỗi gì ?
Đáp : Lìa pháp sắc v.v... lại không còn địa. Làm sao biết
được ? Vì không lìa sắc, hương, vị, xúc sinh tâm biết địa, chỉ
trong pháp sắc v.v... mà sinh tâm. Bởi vì sao ? Vì như sắc khác,
thanh v.v... khác, không đợi thanh v.v... mà sinh tâm biết sắc. Nếu
lìa sắc v.v... riêng có địa thì cũng nên không đợi sắc v.v... sinh
tâm biết địa. Mà thật không phải không đợi. Cho nên không riêng
có địa.
Hỏi : Không phải không đợi các pháp khác, cần đợi sắc
tướng mới sinh tâm biết sắc ?
Đáp : Đến Phẩm phá tướng chung sẽ nói. Lìa sắc không
riêng có sắc tướng, cho nên không phải vậy.
Thành Thật Luận Trang 391 Tuệ Quang Foundation
Lại khác với pháp địa v.v... không căn có thể biết. Cho nên
biết không riêng có địa v.v....
Hỏi : Địa v.v... dùng 2 căn có thể lấy, là thân căn và nhãn
căn. Vì sao biết được ? Vì mắt thấy biết là cái bình, hoặc lấy thân
căn chạm xúc cũng biết là cái bình. Cho nên ông nói không căn
lấy địa. Điều này không đúng ?
Đáp : Nếu như vậy thì cái bình là 4 căn lấy, nghĩa là cũng
dùng tĩ căn ngửi đất bùn, thiệt căn nếm đất bùn.
Hỏi : Tĩ căn thiệt căn không thể lấy lấy cái bình. Bởi vì sao ?
Vì trong tối không thể phân biệt là ngửi cái bình hay ngửi cái
chậu, nếm cái bình, hay nếm cái chậu ?
Đáp : Tuy không thể phân biệt là cái bình hay cái chậu,
nhưng ở trong đất bùn sinh biết là ngửi bùn nếm bùn.
Lại nếu chôn cái bình để ló miệng, hoặc thấy, hoặc chạm
không thể biết chắc là cái bình hay là cái vò hay là miếng sành.
Cho nên biết nhãn căn thân căn cũng không thể lấy được cái bình.
Lại trong tối tuy sinh tâm biết cái bình, mà không thể phân
biệt là cái bình vàng hay bình bạc. Cho nên biết nhãn căn thân căn
cũng không thể lấy được cái bình.
Lại tĩ căn thiệt căn có thể lấy được các pháp như hoa quả bơ
sữa v.v... , mà nhãn căn thân căn thì không thể lấy được. Như thấy
hoa v.v... không thể phân biệt biết thơm, hôi, tốt, xấu và ngọt,
chua v.v.... Cho nên nếu bảo nhãn căn thân căn biết Đà-la-phiêu,
mà tĩ căn thiệt căn không biết là không có chuyện đó. Như tĩ căn
thiệt căn không thể khác với Đà-la-phiêu mà vẫn riêng có phân
biệt. Nhãn căn thân căn cũng như vậy, tuy không khác với Đà-laphiêu
mà cũng phân biệt được.
Lại trong 5 căn không có lấy giả danh mà biết. Cho nên biết
giả danh không phải sở đắc của các căn mắt, thân, mũi, lưỡi, mà
trong căn thứ 6 có biết giả danh. Bởi vì sao ? Vì ý thức có thể
duyên tất cả pháp.
Thành Thật Luận Trang 392 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu mắt có thể thấy sắc, mà cũng thấy phi sắc, thì lẽ ra
cũng phải có thể thấy được âm thanh v.v...? Nếu vậy thì không
còn cần tai v.v... các căn. Việc đó không thể được. Cho nên không
đem nhãn căn thân căn lấy Đà-la-phiêu.
Hỏi : Do sắc mới rõ Đà-la-phiêu thì mắt có thể thấy, chứ
không phải tất cả những gì khác với sắc pháp đều có thể thấy.
Đáp : Do sắc nên rõ cái bình, việc đó không đúng. Bởi vì
sao ? Vì cái gì làm ra sắc của cái bình chỉ là hòa hợp. Cho nên
không phải sắc làm rõ cái bình.
Lại nếu vì pháp có thể thấy rõ các pháp khác, khiến có thể
thấy là vì cái bình v.v... pháp không thể thấy rõ sắc, sắc cũng phải
là không thể thấy.
Lại cái bình cần 2 thứ là vừa có thể thấy vừa không thể thấy.
Vì là pháp có thể thấy, vừa không thể thấy rõ.
Lại nếu cần vì pháp sắc v.v... rõ, nên nhãn căn v.v... có thể
biết, thì sắc tướng không nên là cái bị biết của nhãn căn. Bởi vì
sao ? Vì pháp của ông do sắc tướng nên sắc mới có thể thấy. Sắc
tướng nầy lại không có tướng. Vậy thì sắc tướng lẽ ra không thể
thấy. Cho nên không đúng.
Lại nếu vì sắc rõ nên có thể thấy, thì các căn đều phải biết
Đà-la-phiêu; nhĩ căn cũng phải biết hư không, vì âm thanh rõ.
Lại người phải lấy thân căn biết gió, vì xúc rõ, mà pháp của
ông không phải như vậy. Cho nên không có pháp rõ nầy.
Hỏi : Các pháp khác cũng không thể làm rõ, chỉ sắc có thể
làm rõ ?
Đáp : Không phải vậy. Trong đó không có nhân duyên chỉ
nói sắc có thể làm rõ, mà các pháp khác lại không thể. Như ông
nói Đà-la-phiêu lớn nhiều, trong đó sắc có thể thấy. Như vậy thì
nhân sắc nên được sắc, lẽ ra phải lấy sắc tướng để rõ sắc, rồi sau
mới có thể được, không chỉ có sắc có thể làm rõ. Nếu nói như vậy
cũng không tránh khỏi lỗi như trước.
Thành Thật Luận Trang 393 Tuệ Quang Foundation
Lại khi khác thời sinh tâm biết sắc thì khác thời sinh tâm biết
cái bình. Cho nên dù cho sắc có thể rõ, đối với cái bình có ích gì ?
Lại như người mù vì quen thuộc với cái bình, nên tuy mất
nhãn căn, chỉ cần chạm xúc cũng biết cái bình. Cho nên không
phải chỉ có sắc có thể làm nhân cho thấy.
Lại người mù thân căn cũng có thể biết gió, cho nên không
phải chỉ sắc rõ, mới có thể sinh tâm biết.
Lại trong kinh của ông cũng nói cái xúc đến chạm xúc thân
không phải là địa, thủy, hỏa. Phải biết cái tướng không thể thấy đó
là gió. Đó cũng không đúng. Bởi vì sao ? Vì người mù khi biết gió
nầy, cũng không biết cái xúc nầy là có thể thấy hay không thể
thấy.
Lại người mắt thấy các pháp số lượng, trong đó không có cái
biết về sắc, có nghe hương cũng biết được pháp không phải
hương, nếm vị cũng có thể biết được pháp không phải vị. Cho nên
phải do sắc rõ Đà-la-phiêu, rồi sau mới biết được. Việc đó không
đúng.
Hỏi : Nếu sắc rõ trong cái thấy không phải nhân, nếu số
lượng các pháp, ở trong Đà-la-phiêu không thể thấy và gió lẽ ra
cũng thấy được ?
Đáp : Pháp của tôi, lìa sắc thì không còn có pháp nào có thể
thấy được. Cho nên tùy trong pháp nào đó có sắc sinh thì mắt có
thể thấy. Mắt đã thấy sắc rồi tức sinh tưởng cái bình. Nếu trong
pháp không sắc sinh, thì trong đó dù có mắt vẫn không sinh tưởng
có khác với cái bình. Cho nên, nếu lìa sắc v.v... riêng có cái bình
là không có lý lẽ nầy.
Phẩm 145 : Phá chấp cho là bất khả thuyết
Hỏi : Trong lập luận cho là bất khả thuyết có những lỗi gì ?
Đáp : Thật pháp không có trong các lập luận cho là một, là
khác, là bất khả thuyết. Bởi vì sao ? Vì không có nhân duyên thí
Thành Thật Luận Trang 394 Tuệ Quang Foundation
dụ cho rằng cái biết này là bất khả thuyết. Vì sắc v.v... pháp thật
có, nên không phải bất khả thuyết.
Lại các pháp đều có tướng của chính nó, như não hoại là
tướng của sắc mà không có tướng nào khác, sao gọi là bất khả
thuyết ?
Lại tùy nhận thức sai khác nên pháp mới có sai khác, như
dùng nhãn thức biết màu sắc, không biết âm thanh v.v.... Cho nên
trong đó không có cái gọi là bất khả thuyết.
Lại sắc là nhiếp thuộc về sắc nhập, không phải nhiếp thuộc
về thanh v.v.... Nếu ông muốn cho có cái bất khả thuyết đó, thì
sắc nầy là sắc khả thuyết, hay sắc nầy là phi sắc bất khả thuyết ?
Thanh v.v... cũng như vậy.
Lại các pháp có số thứ lớp, nếu là bất khả thuyết, thì các
pháp không có số. Bởi vì sao ? Vì thứ nhất thứ hai không có khác
nhau. Cho nên biết thật sự không có pháp gọi là bất khả thuyết.
Chỉ ở trong giả danh gọi là một, là khác, nên mới nói là bất
khả thuyết.
Phẩm 146 : Phá chấp không
Hỏi : Trong lập luận cho là không, thì có những lỗi gì ?
Đáp : Nếu không thì không có quả báo tội phúc v.v..., không
có tất cả các pháp trói buộc, giải thoát v.v...
Lại nếu chấp không, không có gì hết, thì cái chấp đó cũng
không có nốt, bởi không có ai nói điều đó và không có ai nghe
điều đó.
Lại lập luận có, không v.v... đều bởi tin mới nói. Hoặc tin do
hiện thấy biết, hoặc tin do so sánh biết, hoặc theo kinh sách mà
biết. Nếu nói không có gì hết, thì không ở trong 3 trường hợp nầy.
Ý ông hoặc bảo tôi theo kinh sách. Điều này cũng không
đúng. Vì ý trong kinh sách cũng khó hiểu. Hoặc khi nói có, hoặc
Thành Thật Luận Trang 395 Tuệ Quang Foundation
khi nói không, làm sao tin được ? Nếu tin do so sánh biết, thì
trước phải hiện thấy rồi sau mới so sánh biết.
Lại pháp cái bình v.v... nay hiện thấy có, vì có thể sinh tâm
biết. Tùy có thể sinh tâm thì pháp nầy có, nên chẳng phải không.
Lại nay cái bình, cái chậu v.v... hiện có sai khác, nếu tất cả là
không, thì đâu có sai khác ? Ý ông hoặc bảo vì tà tưởng nên có
phân biệt đó. Vậy sao không ở giữa hư không mà phân biệt cái
bình v.v....
Lại nếu ông bảo vì si nên sinh tâm biết vật đó. Nếu tất cả là
không, thì cái si nầy cũng không, lấy đâu mà khởi ?
Lại ý ông bảo tất cả pháp là không, thì biết do duyên nào mà
sinh ? Các cái biết không lẽ không có duyên mà sinh ? Vì biết vật
nên gọi là biết. Cho nên biết không nên nói không.
Lại nếu là đều không, thì nay tất cả người đời đều tùy ý ra
làm. Những người thiện đều vui các pháp thiện như bố thí trì giới
nhẫn nhục, xa lìa các pháp bất thiện. Cho nên biết chẳng phải
không.
Lại pháp cái bình v.v... hiện nay có thể biết, mà ông nói hiện
tại đều không có. Nếu không có pháp thì cũng không nên tin kinh
sách. Vậy do nhân duyên gì mà nói tất cả không ? Tất cả không,
việc này cần phải thuyết minh. Nếu không thể dùng nhân duyên
để thuyết minh, thì chỗ chấp của người ta tự nhiên phải được
thành lập. Luận của người ta được thành lập, thì pháp của ông
phải bị phá. Nếu có nhân duyên có thể thành, thì không gọi là
không.
Phẩm 147 : Thành lập không
Người lập luận cho là không, nói : Tuy ông dùng ngôn thuyết
phá không, nhưng thật sự các pháp không có, vì các căn trần đều
không thể được. Bởi vì sao ? Vì trong các pháp không có hữu
phần có thể lấy. Cho nên tất cả pháp là không thể lấy, vì không
Thành Thật Luận Trang 396 Tuệ Quang Foundation
thể lấy cho nên là không. Nếu ông bảo hữu phần tuy không thể
lấy, nhưng các phần có thể lấy. Điều này không đúng. Trong các
phần không sinh tâm. Bởi vì sao ? Vì các vật thô như cái bình
v.v... là có thể lấy.
Lại phần không làm hữu phần. Bởi vì sao ? Vì nhân hữu
phần nên mới nói phần, mà hữu phần là không, nên phần cũng
không.
Lại Đà-la-phiêu, Cầu-na không phần, cho nên không phần.
Lại nếu thấy phần vi tế, thì phải thường sinh phần tâm, mà
không sinh tâm biết cái bình. Bởi vì sao ? Vì nếu thường nghĩ
phần, thì phải hoàn toàn không sinh tâm biết cái bình.
Lại nếu trước nhớ phần, sau sinh tâm biết cái bình, thì tâm
biết cái bình phải lâu mới sinh, mà thật không phải lâu mới sinh,
cho nên không nghĩ nhớ phần.
Lại nếu thấy cái bình không sinh tâm phần phân biệt, tức
sinh tâm biết bình.
Lại không có tất cả phần. Bởi vì sao ? Vì tất cả phần đều có
thể chia tách tan nát cho đến thành vi trần, rồi mới phá vi trần
chung qui đều không có.
Lại tất cả các pháp rốt ráo ắt sinh không trí. Cho nên trong đệ
nhất nghĩa các phần đều không.
Lại nếu nói phần, thì phá 2 đế lý. Bởi vì sao ? Vì ai nói
không có hữu phần mà chỉ có các phần, thì không có các nghiệp
khứ, lai, kiến, đoạn v.v... . Như vậy là không có thế đế. Ông cho
đệ nhất nghĩa là không. Trong đệ nhất nghĩa cũng không có các
phần. Cho nên biết chỉ nói các phần thì không vào 2 đế. Mà vi
không vào trong 2 đế nên không có.
Lại nếu pháp có thể vượt qua tức là không có, như nhân phần
vượt qua hữu phần rồi cũng lại nhân các phần khác vượt qua phần
trước. Vì có thể qua nên không có phần luận nầy.
Thành Thật Luận Trang 397 Tuệ Quang Foundation
Lại sắc v.v... cũng không. Bởi vì sao ? Vì mắt không thể thấy
sắc vi tế, ý không thể lấy sắc hiện tại. Cho nên sắc không thể lấy
được.
Lại nhãn thức không thể phân biệt sắc nầy. Ý thức ở quá
khứ, không ở trong sắc, nên không có khả năng phân biệt được
sắc. Vì không phân biệt, nên sắc không thể lấy.
Lại thức đầu tiên không thể phân biệt sắc, thì thức thứ hai
v.v... cũng như vậy. Cho nên không có khả năng phân biệt được
sắc.
Hỏi : Nhãn thức lấy sắc, rồi sau mới đem ý thức nghĩ nhớ,
cho nên chẳng phải không phân biệt ?
Đáp : Nhãn thức thấy sắc xong liền diệt, kế đó mới sinh ý
thức. Ý thức nầy không thấy sắc. Không thấy làm sao có thể nhớ ?
Nếu không thấy mà có thể nhớ, thì người mù cũng phải nhớ sắc,
mà thật ra không nhớ ? Cho nên ý thức không thể nhớ.
Hỏi : Từ nhãn thức sinh ý thức, cho nên có thể nghĩ nhớ ?
Đáp : Không phải vậy. Bởi vì sao ? Vì tất cả tâm sau, đều
nhân nhãn thức sinh. Vậy thì lẽ ra đều có thể nhớ ?
Lại quyết không được quên, vì từ nó sinh, mà thật không
phải như vậy. Cho nên biết ý thức cũng không thể nhớ. Như nhớ
hư vọng, lấy sắc cái bình v.v... vạn vật cũng đều hư dối, không mà
vọng lấy. Cho nên không có tất cả vật.
Lại nếu nói mắt thấy là đến sắc thấy hay không đến mà có
thể thấy ? Nếu đến thì không thể thấy, vì mắt không có tướng đi.
Điều này trước đã nói rõ. Nếu không đến mà thấy lẽ ra phải thấy
sắc tất cả các nơi. Mà thật ra là không thấy. Cho nên biết chẳng
phải không đến có thể thấy.
Hỏi : Sắc ở cảnh bị biết thì mắt có thể thấy ?
Đáp: Cảnh bị biết là thế nào ?
Hỏi : Tùy khi mắt có thể thấy gọi là cảnh biết ?
Thành Thật Luận Trang 398 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Nếu mắt không đến cũng gọi là cảnh biết, thì sắc tất cả
chỗ phải đều là cảnh biết. Cho nên đến và không đến đều không
thể thấy. Cho nên biết sắc là không thể thấy.
Lại nếu trước có mắt và sắc, sau nhãn thức mới sinh, thì nhãn
thức nầy không chỗ nương và duyên. Nếu đồng thời thì không gọi
mắt và sắc làm nhân duyên sinh thức, vì đồng thời không làm
nhân cho nhau được.
Lại mắt là 4 đại, nếu mắt có thể thấy, thì tai v.v... lẽ ra cũng
có thể thấy, vì đồng là 4 đại. Sắc cũng như vậy.
Lại nhãn thức nầy nên hoặc có chỗ, hoặc không chỗ cả hai
đều có lỗi. Bởi vì sao ? Vì nếu nhãn thức nương vào mắt thì có
chỗ, nếu vật không chỗ thì không nương đâu được. Nếu ông bảo
thức sinh một chỗ phần ít nơi mắt, hoặc khắp sinh, hoặc trong 2
mắt đồng thời sinh thức thì có chỗ. Mà có chỗ tức là hữu phần.
Như vậy thì do nhiều thức, mà thành một thức. Có những lỗi như
vậy, và cũng có lỗi nhiều thức đồng thời sinh.
Lại mỗi mỗi phần thức không thể biết được hữu phần đó, mà
lẽ ra phải biết. Mà thật ra là không có hữu phần. Có những lỗi như
vậy. Nếu không chỗ thì không nên nương mắt.
Phẩm 148 : Phá chấp về âm thanh
Người nói không, nói : Một lời cũng không có. Bởi vì sao ?
Vì tâm niệm niệm diệt, âm thanh cũng niệm niệm diệt. Như nói
Phú-lâu-sa, lời nầy không thể nghe. Bởi vì sao ? Vì vừa nghe Phú
thì thức không nghe Lâu, nghe Lâu thì thức không nghe Sa.
Không có một thức có thể lấy cả 3 lời. Cho nên không có thức có
thể lấy một lời. Cho nên biết âm thanh không thể nghe.
Lại tản tâm nghe tiếng, định tâm không thể nghe, vì sở tri
của định tâm là thật. Cho nên tiếng không thể nghe.
Lại tiếng nầy, hoặc đến hoặc không đến đều không thể nghe,
vì không thể nghe nên không tiếng.
Thành Thật Luận Trang 399 Tuệ Quang Foundation
Lại có người nói : Tai là tính của hư không, vì nó không vật
nên gọi hư không. Cho nên không tai. Không tai nên không tiếng.
Lại nhân duyên của tiếng là không. Cho nên không tiếng.
Nhân duyên của tiếng là các đại hòa hợp, pháp hòa hợp này là
không thể được. Bởi vì sao ? Vì nếu thể của các pháp có khác thì
không hòa hợp. Nếu thể không khác làm sao tự hợp. Dù ở một
chỗ cũng niệm niệm diệt. Cho nên hòa hợp không được.
Phẩm 149 : Phá chấp về hương vị xúc
Hương không thể lấy. Bởi vì sao ? Vì tĩ thức không thể phân
biệt là hương Chiêm-bặc là hương Chiêm-bặc hay các thứ hương
khác. Ý thức không thể nghe hương, cho nên ý thức cũng không
thể phân biệt là hương Chiêm-bặc.
Hỏi : Tuy không thể phân biệt là hương Chiêm-bặc, nhưng
có thể lấy hương ?
Đáp : Không phải vậy. Như người không được cây Chiêmbặc,
vì ngu si nên tâm sinh cây Chiêm-bặc. Như vậy không được
hương thể, vì ngu si nên sinh tâm hương.
Lại như trước đã nói hương hoặc đến, không đến mà lấy, hai
lẽ đều có lỗi. Cho nên không hương. Vị cũng như vậy. Xúc cũng
không. Bởi vì sao ? Vì trong phần vi trần v.v... còn không sinh
biết xúc, như trước đã nói. Cho nên không có xúc.
Phẩm 150 : Phá chấp về ý thức
Ý thức cũng không thể lấy pháp. Bởi vì sao ? Vì ý thức
không thể lấy sắc hương vị xúc ở hiện tại, như trước đã nói quá
khứ vị lai thì không có. Cho nên ý thức không lấy sắc v.v....
Hỏi : Nếu ý thức không biết pháp sắc v.v..., thì phải biết tự
thể.
Đáp : Pháp không tự biết. Bởi vì sao ? Vì hiện tại không thể
tự biết, như cái dao không thể tự cắt mình. Còn quá khứ vị lai vì
Thành Thật Luận Trang 400 Tuệ Quang Foundation
không pháp nên cũng không có tâm nào khác. Cho nên ý thức
không thể tự biết.
Hỏi : Nếu ai khi biết tâm người khác, tức ý thức có thể biết
tâm pháp ?
Đáp : Như người tâm không tự biết, mà cũng khởi ý nghĩ
như vầy: Ta có tâm ở trong tâm người khác, cũng lại như vậy.
Lại nếu pháp vị lai không, cũng có thể sinh biết tâm người
khác. Nếu vậy có lỗi gì ?
Lại ý thức có thể duyên pháp thì có nhiều lỗi. Như ý đến
duyên, và ý thức không đến duyên, không nên nhớ sắc v.v..., vì
các lỗi này nên ý thức không biết pháp.
Phẩm 151 : Phá chấp về nhân quả
Người nói không, nói : Nếu có quả lẽ ra trong nhân trước
phải có Cầu-na mới sinh, hay trước không Cầu-na mà sinh ? Cả 2
đều có lỗi. Như trong 2 tay trước không tiếng mà có thể có tiếng.
Trong nhân rượu, trước không rượu cũng có thể sinh rượu. Trong
nhân xe, trước không xe mà có thể thành xe. Cho nên không phải
trong nhân trước có Cầu-na mà sinh quả. Nếu ông bảo trong nhân
trước không Cầu-na mà sinh quả, thì như vi trần của gió không
sắc, phải có thể sinh sắc ? Nếu vậy thì gió có sắc. Trong kim
cương v.v... cũng phải có mùi thơm.
Lại hiện thấy chỉ trắng thì thành vải trắng, chỉ đen thì thành
vải đen. Nếu trong nhân trước không Cầu-na mà sinh quả đó thì vì
sao chỉ trắng vẫn thành trắng mà không thành đen ư ? Cho nên
không phải trong nhân trước không Cầu-na mà sinh quả. Xét cho
cùng, 2 lý đều có lỗi, cho nên không có quả.
Lại nếu trong nhân có quả thì không cần sinh lại, vì đã có,
còn sinh làm chi nữa ! Nếu không cũng không sinh được, vì
không làm sao sinh.
Hỏi : Hiện thấy làm cái bình, sao nói không quả ?
Thành Thật Luận Trang 401 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Cái bình này, nếu trước không làm, thì sao làm được ?
Vì nó không có. Nếu trước đã làm, còn làm chi nữa ? Vì nó có rồi.
Hỏi : Chính khi làm gọi là làm ?
Đáp : Không có khi nào là khi làm. Bởi vì sao ? Vì chỗ phần
có làm đã rơi vào trong làm, chỗ phần chưa làm rơi vào trong
chưa làm, cho nên không có cái gọi là khi làm.
Lại nếu cái bình có làm, thì phải là quá khứ, vị lai hay hiện
tại ? Quá khứ không làm, vì đã diệt mất. Vị lai không làm vì chưa
có. Hiện tại không làm vì là có.
Lại nhân có người làm mới có thành nghiệp. Mà trong đó
người làm, thật không thể được. Bởi vì sao ? Vì thân phần cái đầu
v.v... đối với việc làm đó là vô sự, nên không có người làm. Vì
không có người làm nên việc làm cũng không.
Lại nhân ở trong quả hoặc trước hoặc sau, hoặc đồng thời
đều không đúng. Bởi vì sao ? Vì nếu nhân trước, quả sau thì nhân
đã diệt hết, quả làm sao sinh, như không cha làm sao sinh con ?
Nếu nhân sau quả trước; nhân tự chưa sinh, làm sao sinh quả ?
Như chưa đẻ ra cha, ai sinh con ? Nếu nhân quả đồng thời thì
không có lý. Như 2 sừng đồng mọc không được nói tướng tả hữu
làm nhân cho nhau. Xét cho cùng, 3 điều này đều không đúng,
cho nên không có quả.
Lại nhân quả nầy hoặc một hoặc khác, cả hai đều có lỗi. Bởi
vì sao ? Vì nếu khác thì lẽ ra lìa chỉ phải có vải. Nếu là một thì
chỉ và vải không khác nhau.
Lại người đời không thấy có pháp nhân quả nào không sai
khác.
Lại nếu có quả lẽ phải tự mình làm, hoặc người khác làm,
cùng chung làm hay không nhân mà làm, đều là không đúng. Bởi
vì sao ? Vì không có pháp nào có thể làm ra tự thể. Nếu sẵn có tự
thể thì cần gì tự làm. Nếu không tự thể làm sao có thể tự làm được
?
Thành Thật Luận Trang 402 Tuệ Quang Foundation
Lại không thấy có pháp nào có thể làm ra tự thể, nên không
tự làm. Người khác làm cũng không đúng. Bởi vì sao ? Vì như
mắt và sắc đối với việc sinh thức vô sự, nên người khác không
làm được.
Lại vì không có nghĩ tưởng làm, nên tất cả pháp không có
người làm. Như hạt giống không nghĩ là ta nên nảy mầm. Mắt và
sắc cũng không nghĩ là chúng ta nên hợp lại mà sinh thức. Cho
nên các pháp không có tưởng làm. Hợp lại làm cũng không đúng
vì có lỗi tự mình và người khác. Không có nhân làm cũng không
đúng, vì nếu không nhân, cũng không có tên quả. Nếu 4 thứ đều
không, làm sao có quả, nếu phải nói ?
Lại quả nầy phải hoặc trước có tâm làm, hay trước không có
tâm làm. Nếu trước có tâm làm thì thân phần như mắt v.v... của
thai nhi là ai có tâm làm ? Trời Tự Tại v.v... cũng không làm nên
được. Trước đã nói nghiệp cũng không tâm đối với việc làm.
Nghiệp nầy ở trong quá khứ làm sao có tâm làm. Cho nên nghiệp
cũng không tâm. Nếu trước không tâm mà làm, thì làm sao làm
khổ, người khác bị khổ, làm vui, người khác được vui ?
Lại hiện trong nghiệp làm cũng đem tâm phân biệt nên làm
như vầy, không nên làm như vầy. Nếu không tâm mà làm, thì sao
có sai biệt này ? Cho nên nói trước có tâm không tâm đều không
đúng. Như vậy tất cả căn, trần đều không thể được. Cho nên là
không có pháp.
Phẩm 152 : Thế đế
Đáp : Tuy ông đem các thứ nhân duyên nói các pháp đều
không, nhưng nghĩa nầy không đúng. Bởi vì sao ? Vì trước tôi đã
nói nếu tất cả không, luận nầy cũng không có, cũng không ở trong
các pháp. Như vậy phá không, ông hoàn toàn không đáp. Hãy còn
cố tâm thành lập không, cho nên không phải không có tất cả các
pháp.
Thành Thật Luận Trang 403 Tuệ Quang Foundation
Lại ông đã nói không căn không duyên v.v.... Điều này
không phải chỗ minh luận của chúng tôi. Bởi vì sao ? Vì trong
kinh Phật tự ngăn điều này. Đó là 5 việc không thể nghĩ bàn : việc
thế gian, việc chúng sinh, việc nghiệp nhân duyên, việc của
người tọa thiền, và việc chư Phật. Điều này nếu không phải bậc
nhất thiết trí thì không thể nghĩ lường quyết đoán, chỉ chư Phật
mới có thể phân biệt pháp trí. Thanh Văn, Bích-chi-phật, chỉ có trí
tuệ thông đạt Nê-hoàn, còn đối với trí phân biệt các pháp chỉ được
phần ít. Chư Phật đối với tất cả pháp, tất cả chủng loại, gốc ngọn,
thể tính, tướng chung, tướng riêng đều có thể biết thông suốt, như
người, nhà cửa các vật, dễ hoại khó thành. Cũng như vậy, không
trí dễ được, mà trí tuệ phân biệt đúng các pháp thì khó sinh.
Hỏi : Như Phật ngồi đạo tràng, chứng được các pháp tướng.
Cứ đúng như Phật đã nói, phải như vậy mà nói ?
Đáp : Tuy Phật nói tất cả pháp, nhưng không nói tất cả
chủng, vì không được giải thoát. Như Phật nói các pháp từ nhân
duyên sinh, nhưng không nói mỗi mỗi từ nhân duyên nào, mà chi
nói điều cần thiết có công dụng có thể dứt khổ mà thôi. Các màu
sắc hội họa, các âm thanh kỹ nhạc, các thứ hương vị xúc vô lượng
sai biệt không thể nói hết được. Nếu nói cũng không lợi ích gì lớn
lao, nên Phật không nói những việc như vậy, không được nói là
không có.
Lại như người không biết phân biệt các phép hội họa mà nói
đó là không. Ông cũng như vậy, việc không thể thành sự, mà nói
là không có việc đó. Nhưng với người trí thì có, mà người không
biết cho là không. Như người mù bẩm sinh nói không có đen
trắng, vì tôi không thấy. Không nên vì không thấy mà nói không
có các sắc như vậy. Như không thể vì tự duyên thành, mà nói
không có tất cả pháp.
Thành Thật Luận Trang 404 Tuệ Quang Foundation
Lại chư Phật Thế Tôn là bậc nhất thiết trí, được chúng ta tin,
Phật nói có 5 ấm, cho nên biết sắc v.v... tất cả pháp là có, như cái
bình v.v... do thế đế cho nên có.
THÀNH THẬT LUẬN
( Quyển 12 )
Ha-lê-bạt-ma tạo luận
Cưu-ma-la-thập dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt
Phẩm 153 : Diệt pháp tâm
Hỏi : Ông trước nói diệt 3 tâm gọi là diệt đế. Đã biết nhân
duyên diệt tâm giả danh. Nay pháp tâm là thế nào ? Và vì sao phải
diệt ?
Đáp : Có tâm thật cho 5 ấm, gọi là pháp tâm. Khéo tu không
trí, thấy 5 ấm trống không, thì pháp tâm diệt.
Hỏi : Hành giả quán 5 ấm trống không là trong 5 ấm vô
thường pháp, định pháp, bất hoại pháp, bất biến pháp, ngã, ngã sở
pháp, vì không có các pháp nầy nên nói là nó trống không, chứ
không phải không thấy 5 ấm ?
Đáp : Hành giả cũng không thấy 5 ấm. Bởi vì sao ? Vì hành
giả dứt tâm duyên hữu vi, được tâm duyên vô vi. Cho nên hành
giả không thấy 5 ấm, mà chỉ thấy ấm diệt.
Lại nếu thấy 5 ấm thì không gọi là không. Vì ấm chẳng phải
không, như vậy thì không đầy đủ không trí.
Hỏi : Hành giả thấy sắc, vì vô ngã nên không. Như trong
kinh nói : Hành giả thấy sắc nầy trống không, cho đến thức cũng
trống không. Phải biết các ấm chẳng phải không có sắc.
Đáp : Có nói như vậy, nhưng không phải thanh tịnh. Như
trong Kinh Pháp Ấn nói : Hành giả thấy tướng các pháp như sắc
Thành Thật Luận Trang 405 Tuệ Quang Foundation
v.v... là vô thường, bại hoại, dối giả, chán lìa. Đó cũng gọi là
trống không. Nhưng chưa phải là thanh tịnh. Về sau người này
thấy 5 ấm diệt, là do tu quán mới được thanh tịnh. Cho nên biết
thấy các ấm diệt.
Hỏi : Vì trí duyên hữu vi, sao không được thanh tịnh ?
Đáp : Hành giả hoặc khi khởi tưởng 5 ấm, nên tâm giả danh
sinh trở lại. Cho nên tâm duyên hữu vi không được thanh tịnh.
Nếu chứng các ấm diệt, thì 5 ấm không hiện tiền nữa. Vì thành
tựu diệt được nhân duyên giả danh nên tưởng giả danh không
theo đuổi nữa. Ví như có cây, cưa chặt, đốt cháy, tro than đều tiêu
hết, cái tưởng về cây mới diệt không còn theo đuổi nữa. Việc này
cũng vậy.
Lại Phật bảo La-đà : Ông phá vỡ tan nát chúng sinh, khiến
không tồn tại.
Lại một kinh khác nói : La-đà ! Ông phá vỡ tan nát sắc, cho
đến thức, khiến không tồn tại. Cho nên biết nếu hoại chúng sinh là
giả danh trống không. Nếu phá hoại sắc gọi là pháp không.
Lại có 2 pháp quán là không quán và vô ngã quán. Không
quán là không thấy giả danh chúng sinh, như người thấy cái bình,
vì không có nước nên trống không. Cũng như vậy vì thấy trong 5
ấm không có người cho nên trống không. Nếu không thấy pháp
thì gọi là vô ngã.
Lại trong kinh nói : Được trí vô ngã thì chính giải thoát. Cho
nên biết sắc tính diệt, thụ, tưởng, hành thức, tính diệt, gọi là vô
ngã. Vô ngã tức là vô tính.
Hỏi : Nếu gọi vô tính là vô ngã thì 5 ấm thật sự không có sao
?
Đáp : Năm ấm thật sự là không, vì thế đế nên có. Bởi vì sao ?
Vì Phật nói các hành v.v... đều như huyễn, như hóa, vì thế đế nên
có. Vì thế đế nên có, là không phải thật có.
Thành Thật Luận Trang 406 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói đệ nhất nghĩa không. Nghĩa nầy vì đệ nhất
nghĩa đế nên trống không, chứ không phải vì thế đế mà không. Đệ
nhất nghĩa là như nói sắc trống không không có gì hết, cho đến
thức trống không, không có gì hết. Cho nên nếu người quán các
pháp như sắc v.v… trống không, gọi là thấy cái không của đệ
nhất nghĩa.
Hỏi : Nếu vì thế đế nên có 5 ấm . Vì sao nói các pháp như
sắc v.v... là chân đế ?
Đáp : Vì chúng sinh nên mới nói có. Người đối với 5 ấm sinh
tưởng chân thật. Vì đó nên nói 5 ấm, vì đệ nhất nghĩa nên trống
không.
Hỏi : Trong kinh không nói có nghiệp có quả báo. Chỉ tác giả
không thể được sao ?
Đáp : Đó bởi các pháp mà nói tác giả là không thể được. Đó
là nói giả danh trống không. Như trong kinh nói các pháp chỉ có
cái tên gọi giả. Cái tên gọi giả đó, như vô minh, nhân duyên các
hành, cho đến lão tử các khổ, tập, diệt. Do lời nói nầy nên biết 5
ấm cũng vì đệ nhất nghĩa nên không.
Lại trong Kinh Đại Không, nói : Nếu ai nói lão tử này lão tử
kia, hoặc ai nói thân tức là thần, hoặc nói thân khác thần khác,
những lời nói đó khác mà nghĩa đồng. Nếu có kiến chấp nầy,
không phải đệ tử ta, không phải người Phạm hạnh. Nếu ngăn lão
tử kia, tức phá giả danh, ngăn lão tử nầy là phá 5 ấm.
Lại nói sinh duyên lão tử gọi là trung đạo. Phải biết đệ nhất
nghĩa đế nên nói không lão tử; thế đế nên nói sinh duyên lão tử.
Lại như tưởng quá hơn cái bình thì đệ nhất nghĩa nên không
có cái bình. Cũng như vậy quá hơn pháp như sắc v.v… thì đệ nhất
nghĩa nên không có sắc.
Lại trong kinh nói : Nếu pháp đó là lừa gạt, tức là hư vọng,
nếu pháp không phải lừa gạt tức gọi là thật. Các pháp hữu vi đều
Thành Thật Luận Trang 407 Tuệ Quang Foundation
biến đổi khác, nên đều gọi là lừa gạt. Lừa gạt nên hư vọng. Hư
vọng nên không phải chận thật có.
Như kệ nói :
Thế gian hư vọng trói,
Trạng như tướng quyết định
Thật không, thấy như có,
Quán sát thấy đều không.
Phải biết các ấm cũng trống không.
Lại thấy diệt đế nên gọi là đắc đạo. Cho nên biết diệt là có
của đệ nhất nghĩa, không phải là các ấm. Nếu các ấm thật có, hành
giả cũng phải thấy mà được đạo, nhưng thật ra không phải vậy.
Cho nên biết 5 ấm không phải là có của đệ nhất nghĩa.
Lại vì ấm diệt là thật, cho nên biết các ấm không phải thật.
Không nên nói các ấm là thật, không ấm cũng thật.
Lại có bao nhiêu pháp được thấy đều bởi si, như người măt
không thể gạt được, thì không thấy huyễn. Như vậy nếu không
ngu si thì không thấy các ấm. Cho nên các ấm không phải là có
của đệ nhất nghĩa.
Lại trong kinh nói : Tùy có ngã tức là động xứ. Mà trong ấm
có ngã, như A-nan nói : Nhân pháp thành ngã. Nghĩa là nhân sắc
ấm, cho đến thức ấm.
Lại như chư Thượng tọa Tì-kheo hỏi Sai-ma-già : Ông lấy
sự gì làm ngã ?
Đáp : Tôi không nói sắc là ngã, không nói lìa sắc là ngã, cho
đến thức cũng vậy. Có điều là trong 5 ấm ngã mạn chưa dứt.
Ý kinh nầy cho rằng học nhân hoặc khi tâm niệm bị tán loạn
mới khởi ngã mạn. Nếu nhiếp tâm niệm diệt 5 ấm thì ngã mạn
diệt. Như hoa không phải chỉ rễ chồi nhánh lá là hoa, mà cũng
không rời các thứ đó là hoa. Như vậy không phải sắc v.v... là ngã,
mà cũng không rời sắc v.v... là ngã. Như vậy nhân duyên diệt ngã
thì ngã mạn không khởi. Cho nên biết các ấm cũng không.
Thành Thật Luận Trang 408 Tuệ Quang Foundation
Lại hành giả nên diệt tất cả tướng, chứng vô tướng. Nếu thật
có tướng, sao không nghĩ nhớ ? Không phải như ngoại đạo khi lìa
nơi sắc, biết thật có sắc, nhưng không nhớ nghĩ. Hành giả cần
phải thấy sắc v.v... các ấm diệt hết. Vì thấy diệt hết nên gọi là vào
vô tướng. Cho nên biết sắc v.v... không phải đệ nhất nghĩa.
Lại tùy có 5 ấm thì có ngã tâm. Phải biết không có 5 ấm thì
ngã tâm diệt. Cho nên các ấm đều trống không.
Lại trong Kinh Thủy Mạt, Phật nói : Nếu ai thấy đám bọt
nước, quan sát kỹ thì biết chúng không phải chân thật. Tì-kheo
cũng vậy, nếu chính quán sắc ấm, tức biết dối gạt không bền
không chắc, là tướng bại hoại. Quán thụ như bong bóng nước.
Tưởng như sóng nắng. Hành như cây chuối. Thức như ảo hóa.
Cũng như vậy, 5 dụ trên đây đều chỉ rõ nghĩa trống không. Bởi vì
sao ? Vì mắt thấy đám bọt nước, khi tiêu hết là hoàn lại không.
Bong bóng nước cũng như vậy. Cho nên biết các ấm không phải
chân thật có.
Lại như đệ tử Phật rất chán sinh tử, đều bởi thấy các pháp
xưa nay không sinh, không có sở hữu. Nếu thấy vô thường thì chỉ
có thể sinh bại hoại khổ tướng, cũng như vậy thấy vô tính, không
còn tướng gì khác thì mới có thể đầy đủ hành khổ. Đủ 3 khổ này
gọi là được giải thoát. Phải biết tất cả các pháp đều trống không.
Lại không, là cửa giải thoát. Không này không phải chỉ
chúng sinh không, mà hữu pháp cũng không. Như nói mắt khi
sinh không từ đâu đến, khi diệt không đi đến đâu, thì biết quá khứ,
vị lai mắt là trống không. Mắt hiện tại cũng do 4 đại phân biệt nên
không. Như Phật nói mắt trong hình thịt, có bao nhiêu cứng và
nương cứng gọi là địa v.v.... Nếu được cái không này tức nói
không có gì hết.
Lại nói tất cả các hành dứt gọi là đoạn tính, lìa gọi là ly tính,
diệt gọi diệt tính. Cho nên biết tất cả các hành đều diệt. Nếu thật
có các hành thì không có chính, đoạn, ly, diệt. Diệt gọi là không.
Thành Thật Luận Trang 409 Tuệ Quang Foundation
Phải biết vì đệ nhất nghĩa nên các hành đều không có. Chỉ vì thế
đế nên mới có các hành.
Phẩm 154 : Diệt tận
Nếu duyên Nê-hoàn gọi là không tâm.
Hỏi : Nê-hoàn không có pháp tâm thì duyên vào đâu ?
Đáp : Tâm nầy duyên vô sở hữu. Điều này trước đã rõ vì biết
Nê-hoàn.
Hỏi : Không tâm nầy diệt ở chỗ nào ?
Đáp : Hai chỗ diệt : một là vào trong vô tâm định diệt, hai là
khi vào Nê-hoàn vô dư, dứt tương tục mà diệt. Bởi vì sao ? Vì diệt
nhân duyên nên tâm nầy cũng diệt. Trong vô tâm định vì duyên
diệt nên diệt, khi dứt tương tục vì nghiệp hết nên diệt.
Luận giả nói : Hành giả, nếu diệt được 3 tâm nầy, thì các
nghiệp phiền não vĩnh viễn không còn khởi lại nữa.
Hỏi : Vì sao không khởi ?
Đáp : Người nầy đầy đủ vô ngã, nên nghiệp phiền não diệt,
như khói đèn đen có chỗ nương là trụ lại, mà không chỗ nương thì
không trụ. Như vậy nếu có ngã tâm làm chỗ nương thì nghiệp
phiền não tụ tập, không thì không tụ lại.
Lại vô lậu chính kiến đốt hết các tướng, khiến không còn sót,
như kiếp hỏa đốt cháy hết đất v.v... không sót. Vì vô tướng nên
các nghiệp phiền não không tụ tập lại nữa.
Lại người có ngã tâm thì nghiệp phiền não tụ lại. A-la-hán
thông đạt không trí, vì không ngã tâm nên không còn tụ lại.
Hỏi : Người nầy tuy nghiệp mới không tụ, nhưng vì sao
nghiệp cũ không sinh ?
Đáp : Người đó đem chính trí tuệ phá hoại nghiệp nầy, nên
không thể trả báo được, như hạt giống rang cháy không còn sinh
được.
Thành Thật Luận Trang 410 Tuệ Quang Foundation
Lại nếu không có ái tâm thì tác nghiệp không thể trả báo
được, như đất không ướt thì giống không mọc.
Lại hành giả nầy với các thức xứ diệt hết các tướng, thức
không chỗ nương nên không có chỗ sinh, như giống không chỗ
nương thì không mọc được.
Lại đủ nghiệp phiền não mới có thể thụ thân, mà không đủ
thì diệt. Người nầy không phiền não nên nhân duyên không đủ, dù
có các nghiệp cũng không thụ sinh được.
Lại chúng sinh vì phiền não nên thụ thân ở các nẻo. Vì thụ
thân nên các nghiệp trong đó có thể cùng với quả báo. Nếu không
phiền não thì không thụ thân. Không thụ thân, thì các nghiệp làm
sao có thể cùng quả báo được ? Như người mắc nợ nhờ cậy thế
lực, thì chủ nợ không làm gì được. Hành giả cũng vậy, nếu không
ở trong sinh tử thì dù có các nghiệp cũng không trả báo được.
Lại như người bị trói, những người không bị trói tha hồ
mắng nhiếc. Cũng như vậy, chúng sinh bị phiền não trói buộc, tùy
nghiệp nhiều ít đều có thể trả báo. Người được giải thoát, thì
phiền não không làm gì được.
Lại tự nghiệp mình có thể trả quả báo. Người này tu hạnh
không hành, nên đối với các pháp không có tự tướng, cho nên các
nghiệp không trả báo được, như dùng con mình làm đứa giúp việc
thì khỏi trả tiền thuê. Điều này cũng như vậy.
Lại sức mạnh phiền não có thể chuyển các nghiệp, mà phiền
não hết thế lực, thì các nghiệp không chuyển được. Như bánh xe
tuy còn, mà động lực đã hết, thì bánh xe không lăn.
Lại sức phiền não có thể biến đổi các nghiệp, như mẹ vì
thương con nên máu biến thành sữa. Khi hết lòng thương, thì máu
không biến. Như vậy do sức phiền não, nên nghiệp có thể báo, lìa
thì không thể.
Lại người này, nhờ các công đức tu thân như giới, định, tuệ
v.v… thế lực lớn, nên các nghiệp không làm gì được. Cho nên tuy
Thành Thật Luận Trang 411 Tuệ Quang Foundation
có các nghiệp cũ mà không trả báo được. Như vậy, người nầy
nghiệp cũ hiện tại trả báo chút ít, mà không gây nghiệp mới, như
lửa đốt củi, củi hết thì tắt. Người này cũng vậy, vì không thụ nên
diệt, diệt 3 tâm nên đối với tất cả các khổ được vĩnh viễn giải
thoát. Cho nên người trí cần phải diệt 3 tâm.
Xong nhóm diệt đế.
Phẩm 155 : Định nhân
trong định luận của nhóm đạo đế
Luận giả nói : Nay luận về đạo đế. Đạo-đế là 8 con đường
chính thẳng từ chính kiến cho đến chính định. Tám chính đạo nầy
được nói có hai : một gọi là Tam-muội và dụng cụ, hai gọi là trí.
Nay sẽ luận về Tam-muội.
Hỏi : Tướng Tam-muội ra sao ?
Đáp : Tâm trụ một chỗ là tướng Tam-muội.
Hỏi : Tâm nầy làm sao trụ được một chỗ ?
Đáp : Tùy chỗ tập luyện nhiều và trụ ở nơi đó. Nếu không
tập nhiều, thì mau rời bỏ.
Hỏi : Tập bằng cách nào ?
Đáp : Tập tùy sở thích.
Hỏi : Làm sao có thể thích ?
Đáp : Thân tâm nặng nề gọi là khổ. Dùng phương pháp làm
khoan khoái trừ tướng thô nặng nơi thân tâm, thì có thể sinh vui
thích.
Hỏi : Làm sao sinh khoan khoái ?
Đáp : Dùng nhân duyên hoan hỷ, nên thân tâm điều hòa vui
thích.
Hỏi : Làm sao sinh hỷ ?
Đáp : Do nghĩ Tam Bảo và nghe pháp v.v... tâm ưa thích nên
sinh hỷ.
Hỏi : Làm sao sinh ưa thích ?
Thành Thật Luận Trang 412 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Do thanh tịnh trì giới, tâm không sinh ăn năn.
Hỏi : Đã nói nhân Tam-muội. Nay Tam-muội lại làm nhân
cho cái gì ?
Đáp : Làm nhân cho như thật trí. Như thật trí là không trí.
Như nói hành giả như vậy nhiếp tâm, thanh tịnh tâm, trừ che tâm,
trụ tâm, và không động tâm, thì có thể biết như thật khổ thánh đế,
tập, diệt, đạo thánh đế. Cho nên ai muốn được như thật trí, phải
siêng tinh tiến tu tập Tam-muội. Người tản tâm còn không thể
được lợi ích kinh sách, nghề nghiệp công xảo v.v... của thế gian,
huống chi có thể được lợi ích xuất thế gian. Cho nên biết tất cả lợi
ích thế gian, và xuất thế gian, đều nhờ định tâm mới được.
Lại tất cả diệu thiện đều nhờ chính trí, tất cả tệ ác đều bởi tà
trí. Như trong kinh nói : Vô minh làm đầu, không hổ thẹn làm tùy
tùng khởi tất cả ác. Bởi minh làm đầu, hổ thẹn làm tùy tùng khởi
tu tất cả thiện. Mà Tam-muội là nhân chính trí tuệ. Cho nên biết
tất cả diệu thiện đều nhờ Tam-muội. Cho nên phải siêng năng tinh
tiến tu tập.
Phẩm 156 : Tướng của định
Hỏi : Ông nói tâm trụ một chỗ là tướng Tam-muội. Vậy
Tam-muội với tâm là một hay là khác ?
Đáp : Tam-muội với tâm không khác. Có người nói Tammuội
khác với tâm, vì tâm được Tam-muội thì mới an trụ một
chỗ. Tuy có lời đó, nhưng nghĩa không đúng như vậy. Nếu tâm
được Tam-muội có thể ở trong cảnh duyên đó, thì Tam-muội nầy
cũng trụ ở trong cảnh duyên, và cũng phải làm nhân cho Tammuội
khác trụ. Như vậy là vô cùng, việc đó không thể được. Nếu
Tam-muội nầy tự nhiên trụ thì tâm cũng như vậy, không phải
nhân Tam-muội mà an-trụ. Cho nên nếu nói Tam-muội khác với
tâm, nghĩa đó vô ích.
Thành Thật Luận Trang 413 Tuệ Quang Foundation
Lại thụ tưởng v.v... các tâm số pháp cũng trụ ở trong cảnh
duyên, đó lại là nhân pháp nào mà trụ ? Việc đó nên nói. Nếu thụ
tưởng v.v... đều có Tam-muội, tức đồng lỗi như trước.
Lại trong kinh chỉ nói nhất tâm là tướng của Tam-muội,
không nói tâm được Tam-muội nên trụ. Cho nên biết không đúng.
Lại nói nhất tâm thì không nói rõ các pháp khác. Như trước
đã nói tùy chỗ tâm vui, duyên trụ ở đó. Phải biết với tâm không có
Tam-muội riêng, tùy tâm trụ lâu gọi là Tam-muội.
Hỏi : Tam-muội đó là hữu lậu hay là vô lậu ?
Đáp: Có hai thứ Tam-muội, hữu lậu và vô lậu. Các thiền định
thế gian là hữu lậu. Các Tam-muội khi vào pháp vị gọi là vô lậu.
Bởi vì sao ? Vì bấy giờ gọi là thấy biết như thật. Bấy giờ 2 thứ
cũng gọi là Tam-muội, cũng gọi là tuệ. Nhiếp tâm nên gọi Tammuội.
Biết như thật nên gọi là tuệ. Nhiếp tâm có 3 thứ là thiện, bất
thiện, và vô ký. Trong đó lấy thiện nhiếp tâm là Tam-muội, chứ
không phải bất thiện vô ký. Tam-muội nầy cũng có 2 thứ, một là
giải thoát nhân, hai là phi giải thoát nhân. Giải thoát nhân, gọi là
định căn. Có luận sư nói : Chỉ định vô lậu gọi là định căn. Lời nói
nầy không đúng. Nếu hữu lậu vô lậu có thể làm nhân giải thoát
đều được gọi là định căn.
Tam-muội nầy tùy trụ duyên, nên mới phân biệt 3 thứ : tiểu,
đại và vô lượng. Tâm khi trụ giây lát, nếu thấy chút cảnh duyên,
đó gọi là tiểu. Còn 2 thứ kia cũng vậy.
Lại tùy thời nên có 3 tướng : chế tướng, phát tướng, và xả
tướng. Khi tâm lui chìm, nên dùng phát tướng. Khi tâm lay động
nên dùng chế tướng. Khi tâm hòa vui, nên dùng xả tướng. Như
thợ vàng gia công vàng, khi thì cho vào lửa thét, khi thì ngâm vào
nước, khi thì để tự nhiên. Nếu trui luôn thì chảy tiêu, ngâm mãi thì
sống, thường để tự nhiên thì không thích hợp. Tâm hành giả cũng
vậy. Nếu động mà không chế ngự thì thường tán loạn. Chìm mà
Thành Thật Luận Trang 414 Tuệ Quang Foundation
không phát thì sinh biếng lười. Nếu điều hòa thích hợp rồi mà
không xả thì lại thành không điều hòa thích hợp.
Lại như tập ngựa, nếu chạy nhanh thì gò, chậm thì giục, vừa
thì xả. Hành giả điều ngự tâm mình cũng như vậy.
Lại Tam-muội nầy có 3 phương tiện là phương tiện nhập
định, phương tiện trụ định, phương tiện khởi định. Đúng như pháp
mà nhập đinh là phương tiện nhập định. Ở trong định không động
là phương tiện trụ định. Đúng như pháp mà xuất định là phương
tiện khởi định.
Hỏi : Làm sao được 3 phương tiện đó ?
Đáp : Hành giả lấy tướng tự tâm chế ngự như vậy, phát động
như vậy, và xả như vậy thì có thể nhập định, trụ định, và xuất định
cũng như vậy.
Hỏi : Chỉ lấy thẳng định, cần gì phải dùng phương tiện ?
Đáp : Nếu không sinh 3 thứ phương tiện nầy thì có lầm lỗi.
Không được tùy ý muốn nhập thì khởi, muốn khởi lại nhập, có
những lỗi này.
Lại lấy lợi làm tổn, lấy tổn làm lợi như thấy chút tịnh sắc và
chút ánh sáng, bảo là đã được đại lợi. Hoặc niệm vô thường, khổ,
không v.v..., tâm không được vui, lại cho là tổn.
Hỏi : Hành giả, vì sao có người được định, hoặc có người
không được ?
Đáp : Có 4 nhân duyên được định : 1. Đời nay siêng tập. 2.
Tiền thân có duyên. 3. Khéo lấy tướng định. 4. Y theo định pháp.
Lại có 4 thứ tu định : 1. Thường xuyện tập mà không nhất
tâm hành. 2. Nhất tâm hành mà không thường tu tập. 3. Cũng
thường tu tập, cũng nhất tâm hành. 4. Không thường tập, không
nhất tâm hành.
Lại có 4 thứ : Có nhiều thiện ít tuệ, có ít thiện nhiều tuệ, có
nhiều thiện nhiều tuệ, có ít thiện ít tuệ. Trong đó thứ 3 chắc hành
Thành Thật Luận Trang 415 Tuệ Quang Foundation
giả có thể được định, thứ tư chắc chắn không thể được, thứ nhất
và thứ 2 nếu điều hòa đồng đều thì được.
Phẩm 157 : Ba Tam-muội
Hỏi : Trong kinh nói có 3 pháp Tam-muội là nhất phần tu
Tam-muội, cọng phần tu Tam-muội, và Thánh chính Tam-muội.
Mỗi pháp như thế nào ?
Đáp : Nhất phần tu là như tu định không tu tuệ, hoặc tu tuệ
không tu định. Cọng phần tu là vừa tu địinh cũng vừa tu tuệ. Đó là
thế gian Tam-muội ở trong pháp noãn v.v.... Thánh chính Tammuội
là như vào pháp vị có thể chứng diệt đế, gọi là Thánh chính.
Làm sao biết được ? Như Trưởng lão Tì-kheo bảo hành giả lấy
định tu tâm, nhờ tuệ có thể ngăn được phiền não, lấy tuệ tu tâm,
nhờ định ngăn được phiền não, lấy cả định tuệ tu tâm, nhờ tính
được giải thoát tính. Đó gọi là đoạn tính, ly tính và diệt tính.
Lại như định tuệ đồng thời đầy đủ, nên gọi Thánh chính, như
nhờ cả định tuệ được giải thoát gọi là đều giải thoát .
Hỏi : Có người nói: Nhất phần tu là nếu nhân Tam-muội có
thể thấy ánh sáng không thấy các sắc, nếu thấy các sắc không thấy
ánh sáng. Cọng phần tu là có thể thấy sắc cũng thấy ánh sáng.
Thánh chính là Tam- muội mà các bậc học và vô học chứng được.
Việc đó thế nào ?
Đáp : Không có kinh nào nói chỉ thấy ánh sáng mà không
thấy sắc. Trong kinh chỉ nói ta vốn đã từng thấy ánh sáng cũng
thấy các sắc. Nay mất ánh sáng cũng không thấy sắc.
Lại ông phải nói nhân duyên vì sao có thể thấy ánh sáng mà
không thấy sắc ? Vì những lẽ đó, lời ông nói là sai.
Hỏi : Lại trong kinh nói 3 Tam-muội là không, vô tướng, vô
nguyện. Ba Tam-muội nầy sai khác nhau thế nào ?
Đáp : Nếu hành giả không thấy chúng sinh cũng không thấy
pháp, đó gọi là không. Trong không như vậy không có tướng có
Thành Thật Luận Trang 416 Tuệ Quang Foundation
thể lấy; cái không đó tức là vô tướng. Trong không, không có
nguyện cầu gì, cái không đó gọi là vô nguyện. Cho nên 3 mà
nghĩa là một.
Hỏi : Nếu vậy nói 3 làm gì ?
Đáp : Công năng của cái không nầy là cần phải tu không. Vì
tu không mà được lợi ích là không thấy tướng. Vì không thấy
tướng nên là vô tướng. Vì vô tướng nên không nguyện cầu. Vì
không nguyện cầu nên không thụ thân. Vì không thụ thân nên mới
giải thoát được tất cả khổ. Được những lợi ích như vậy đều nhờ tu
không mà có. Cho nên phải nói có 3.
Hỏi : Có luận sư nói : Nếu Tam-muội lấy hành không vô
ngã, đó gọi là không. Nếu hành vô thường, khổ, nhân tập mà sinh
duyên đạo như hành xuất, đó gọi là vô nguyện. Nếu hành diệt
chính diệu ly, đó gọi là vô tướng. Việc đó thế nào ?
Đáp : Ông nói hành vô thường, khổ gọi là vô nguyện, điều
đó không đúng. Bởi vì sao ? Vì Phật thường nói nếu vô thường
tức là khổ, nếu khổ tức là vô ngã. Biết vô ngã thì không nguyện
nữa. Cho nên biết cũng bởi không, nên mới không nguyện. Nếu
nói hành nhân tập sinh duyên gọi là vô nguyện, đây hoặc có thể
được. Bởi vì sao ? Vì trong kinh nói : Thấy tướng sinh đều là
tướng diệt thì sinh chán lìa.
Lại trong đạo, không nên có hành vô nguyện. Bởi vì sao ? Vì
nguyện là một phần của ái, như kinh nói : Nguyện, thượng, trung,
hạ trong đạo không sinh tham ái. Cho nên không có hành vô
nguyện.
Lại trong kinh nói : Năm ấm diệt nên gọi là diệt. Phải biết
tùy không có 5 ấm, đó gọi là không. Không tức là diệt. Trong đó
vô nguyện vì ái thân nên mới nguyện. Cho nên biết đó 3 mà nghĩa
là một, không nên cho là sai khác.
Hỏi : Lại trong kinh nói 3 Tam-muội là không không, vô
nguyện vô nguyện, vô tướng vô tướng. Mỗi thứ là thế nào ?
Thành Thật Luận Trang 417 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Lấy không, để thấy 5 ấm là không, lại lấy một cái
không nữa để có thể làm không cái không này, đó gọi là không
không. Lấy vô nguyện để nhàm chán 5 ấm, lại lấy một vô nguyện
nữa để nhàm chán cái vô nguyện này, đó gọi là vô nguyện vô
nguyện. Lấy vô tướng để thấy 5 ấm tịch diệt, rồi lại dùng một vô
tướng nữa để không lấy vô tướng này, đó gọi là vô tướng vô
tướng.
Hỏi : Có luận sư nói : Ba Tam-muội nầy là hữu lậu. Việc đó
thế nào ?
Đáp : Đó không phải hữu lậu. Bởi vì sao ? Vì bấy giờ không
có lậu có thể sai khiến.
Lại Tam-muội nầy đối với các không v.v... vượt trội hơn,
làm sao nói là hữu lậu ?
Hỏi : Nếu không v.v... 3 Tam-muội, là thật trí tuệ, vì sao gọi
là Tam-muội ?
Đáp : Vì các Tam-muội sai khác nhau.
Lại Tam-muội có thể sinh như thật tri kiến, cho nên gọi Tammuội
vì trong quả nói nhân.
Hỏi : Có luận sư nói : Các không không v.v... 3 Tam-muội
nầy, chỉ bậc vô học được, không phải ai cũng được. Việc đó thế
nào ?
Đáp : Học nhân cũng được. Bởi vì sao ? Vì hành giả phải
chứng hữu lậu vô lậu tất cả pháp diệt. Cho nên học nhân cũng cần
phải chứng vô lậu pháp diệt.
Phẩm 158 : Bốn định
Có tu định vì vui hiện tại. Có tu định vì tri kiến. Có tu định vì
tuệ phân biệt. Có tu định vì hết lậu. Như Tam-muội có thể được
vui hiện tại là đệ nhị thiền v.v.... làm sao biết được ? Vì Phật nói :
Đệ nhị thiền là do Tam-muội sinh hỷ lạc nên vì đó đặt tên mà
không vì các pháp khác, như vào thành Xá-vệ, là vì khất thực.
Thành Thật Luận Trang 418 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Sơ thiền cũng có hỷ lạc, vì sao không nói có hiện vui ?
Đáp : Sơ thiền lẫn lộn các giác quán hay làm tản tâm, nên
không nói hiện vui.
Hỏi : Đệ nhị thiền cũng có hỷ v.v... hay làm loạn tâm pháp,
mà sao gọi vui ?
Đáp : Trước diệt các giác, nhiếp tâm sâu, nên mới nói hỷ
v.v... là vui. Nhưng vì hành khổ nên tất cả gọi khổ.
Lại trong sơ thiền khổ ở trạng thái thô, trong nhị thiền khổ ở
trạng thái vi tế. Vì khổ vi tế, nên mới được gọi là vui.
Hỏi : Trong đệ nhị thiền v.v... cũng có hành vui đời sau, sao
chỉ nói vì vui hiện tại ?
Đáp : Như vì vua A-xà-thế nói quả Sa-môn hiện tại.
Lại vì gần nên nói.
Lại vì muốn phá vui 5 dục, nên nói vui hiện tại. Nếu ai tham
đắm vui 5 dục, nên không được các thiền định, vì thế nên nói.
Nếu các người có thể lìa vui 5 dục, sẽ được vui hơn vui hiện tại.
Lại chư Phật không ca ngợi việc thụ thân sau, nên không nói
vui đời sau.
Lại người đời nói người tại gia vui, không phải người xuất
gia vui.
Lại 4 pháp tu định đều vì hiện vui, vì đầu tiên nhận được tên,
nên độc nhất nói hiện vui.
Hỏi : Nếu 4 pháp tu định nầy, có thể thành các thứ lợi, sao
chỉ nói 4 lợi ?
Đáp : Lợi có 2 thứ là lợi ích thế gian, và lợi ích xuất thế gian.
Tu định thứ 2 là lợi thế gian, như các lợi tri kiến, biết 8 trừ nhập,
10 nhất thiết nhập v.v... , thấy 5 thần thông v.v... Bởi vì sao ? Vì
lợi mắt có thể thấy, nên gọi là thấy. Việc này nhờ lấy ánh sáng mà
thành, nên gọi tri kiến tức nói tướng ánh sáng. Hai là lợi ích xuất
thế gian. Lấy tuệ phân biệt 5 ấm, gọi là tuệ phân biệt. Nên trong
Thành Thật Luận Trang 419 Tuệ Quang Foundation
kinh nói : Tuệ phân biệt là hành giả, hoặc sinh các thụ, các giác,
các tưởng, đều có thể phân biệt biết.
Phân biệt biết là cái biết chấp ngã. Làm sao khiến thành
không ?
Nghĩa là phân biệt tưởng nam nữ v.v... là giả danh. Nếu phá
được tưởng nầy thì không có các giác. Như trong kinh nói : Các
giác nhân đâu? Là tưởng. Cho nên biết chỉ phá tưởng thì không có
giác. Vì các giác không, nên các thụ cũng không. Cho nên biết vì
phá giả danh, nên gọi là tuệ phân biệt. Vì tuệ phân biệt nên được
hết lậu. Như trong kinh nói : Hành giả quán tướng 5 ấm sinh diệt,
nên chứng được ấm diệt. Cho nên mới biết tất cả lợi thế gian và
xuất thế gian đều thâu nhiếp trong 4 pháp.
Hỏi : Có luận sư nói trong đệ tứ thiền, có thể chứng được quả
A-la-hán vô ngại đạo, gọi là hết lậu. Việc đó thế nào ?
Đáp : Trong đó không có nhân duyên gì sai khác mà chỉ
trong đệ tứ thiền vô ngại đạo gọi là hết lậu mà không phải các
pháp khác. Cho nên không đúng.
Lại tu định vì 3 lợi : một vì hiện vui, hai vì tri kiến, ba vì dứt
kết. Hoặc nói vì hai, như nói vì rốt ráo hết, khéo thanh tịnh, sinh
tử hết, phân biệt các thứ tính. Đó là người có mắt nói đạo. Trong
đó, trước 3 nói dứt, sau 1 nói trí. Phật trong đó không nói hiện tại.
Phẩm 159 : Bốn vô lượng định
Bốn vô lượng là từ bi hỷ xả. Từ là thiện tâm, trái nhau với
giận dữ. Như các thiện tri thức, vì người thiện tri thức thường cầu
cho sự an ổn lợi lạc. Hành giả cũng vậy, vì tất cả chúng sinh
thường cầu an lạc. Cho nên người nầy là thiện tri thức của tất cả
chúng sinh.
Hỏi : Tướng của thiện tri thức ra sao ?
Thành Thật Luận Trang 420 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Thường vì cầu lợi ích an vui đời nầy và đời sau cho
nhau, quyết không trái nhau cầu việc vô ích. Hành giả cũng vậy,
chỉ vì chúng sinh cầu việc an lạc, không cầu việc không an lạc.
Bi là từ tâm, trái nhau với não hại. Bởi vì sao ? Cũng vì
chúng sinh cầu an vui vậy.
Hỏi : Giận dữ và não hại có gì khác nhau ?
Đáp : Sinh tâm niệm giận, muốn đánh đập hại chúng sinh
nầy. Từ giận khởi nghiệp thân khẩu, gọi là não hại.
Lại giận làm nhân cho hại, vì người ôm lòng giận quyết làm
hại cho kỳ được.
Hỷ là từ tâm, trái với ganh ghét. Ganh là thấy việc tốt người
khác, tâm không chịu được tức sinh ghét giận. Hành giả thấy tất
cả chúng sinh được những điều tăng ích, sinh lòng rất vui mừng,
như tự mình được lợi.
Hỏi : Ba pháp nầy đều là từ cả sao ?
Đáp : Tức là tâm từ có 3 thứ sai khác. Bởi vì sao ? Vì không
giận là từ. Có người tuy không hay giận, nhưng thấy chúng sinh
khổ không có tâm bi. Nếu có thể đối với tất cả chúng sinh tu sâu
tâm từ, như thấy con mình gặp khổ hại cấp bách, bấy giờ tâm từ
chuyển gọi là tâm bi. Hoặc có người đối với việc khổ hại của
người khác có thể sinh tâm bi, mà đối với việc tăng ích của người
khác không hay sinh tâm hoan hỷ. Vì sao biết được ? Vì có người
thấy người oán tặc khổ, có thể còn sinh tâm bi, thế mà thấy con
đắc thắng việc hơn mình vẫn không thể hoan hỷ. Hành giả thấy tất
cả chúng sinh được sự tăng ích sinh tâm hoan hỷ như mình được
không khác. Đó gọi là tâm hỷ. Cho nên biết sai khác của tâm từ là
bi và hỷ.
Hỏi : Bỏ thứ gì gọi là xả ?
Đáp : Tùy thấy oán, thân thì tâm từ không bình đẳng. Nghĩa
là đối với người thân thì trọng đãi không gì bằng, đối với người
oán thì khinh bạc. Bi, hỷ cũng như vậy. Cho nên hành giả muốn
Thành Thật Luận Trang 421 Tuệ Quang Foundation
tâm được bình đẳng thì đối người thân xả hết thân, đối với người
oán bỏ hết oán, rồi sau tâm từ đối với tất cả chúng sinh mới bình
đẳng. Bi, hỷ cũng vậy. Nên trong kinh nói : Vì muốn cắt đứt sự
ghét, thương phải tu tập tâm xả.
Hỏi : Nếu như vậy thì không riêng có tâm xả ? Chỉ lấy tâm
bình đẳng gọi là xả ?
Đáp : Tôi trước đã nói sai biệt của tâm từ là bi hỷ.
Lại tâm từ do pháp hạ, trung, thượng nên có 3 thứ. Có thể
khiến 3 thứ nầy bình đẳng, nên gọi là xả. Như nói dùng tâm từ bậc
thượng tu tập tam thiền.
Hỏi : Dùng phương tiện nào được tâm từ nầy ?
Đáp : Sau sẽ nói tội lỗi của giận dữ. Biết tội lỗi này rồi, sẽ tu
tâm từ. Như trong kinh nói : Người tu tâm từ, ngủ yên, thức yên,
không thấy ác mộng, được trời hộ người mến, không trúng độc;
không bị đao binh, không bị nước lửa làm hại. Như vậy tất cả
nghiệp báo do giận dữ sinh, không bằng đó sao ? Nghe lợi ích đó
nên siêng tu tập.
Lại hành giả tự nghĩ : Ta khởi giận dữ, tự chịu quả báo,
không phải ai chịu cho, vậy không nên giận mà nên tu tâm từ.
Lại hành giả suy nghĩ : Ta vì chút ác làm hại người, thì tự
chịu nhiều ác gấp trăm lần không sánh kịp, nên phải lìa bỏ ác.
Lại trong kinh nói 5 thứ nhân duyên trừ giận, thường phải
nhớ.
Lại giận dữ không phải là điều đáng có của người tu hành.
Lại phải nghĩ việc thiện lợi ích của người kia mà trừ bỏ việc
ác, thì tự dứt giận dữ.
Lại phải quán nhân duyên trước sau của người kia. Như
người này đời trước, hoặc từng làm mẹ ta, ôm thai sinh đẻ nuôi
dưỡng ta, vì ta chịu khổ nhọc, hoặc từng làm cha, anh, em, vợ,
con ta thì làm sao có thể giận ?
Thành Thật Luận Trang 422 Tuệ Quang Foundation
Lại nghĩ : Đời sau, họ có thể sẽ làm cha mẹ anh em ta, hoặc
sẽ làm La-hán, Duyên Giác, hay chư Phật, thì làm sao dám giận ?
Lại thấy người ác vì làm ác nên bị khổ cả 2 đời. Cho nên
không giận.
Lại quán kỹ thể tính người kia là thiện hay ác. Nếu là ác họ
làm ác với ta, cớ sao sinh giận ? Như lửa đốt người, có ai giận lửa
?
Lại thấy người kia bị phiền não bức bách, không được tự tại,
giống như bị quỷ ám, thì sinh giận làm gì ?
Lại tùy dùng nhân duyên nào đó mà tu tập nhẫn nhục, phải
nghĩ nhớ pháp đó, thì dứt giận dữ, tâm từ thêm lớn.
Công đức nhẫn nhục là hành giả tâm nghĩ rằng : Nếu ta giận
người, tức cũng thô bỉ như người không khác. Cho nên phải nhẫn.
Như Phật nói kệ :
Ví như tập voi,
Chịu đao, cung tên.
Ta cũng như vậy,
Nhẫn nhịn các ác.
Lại kệ nói :
Ác khẩu mắng nhiếc,
Nhục mạ giận dữ,
Tiểu nhân không kham :
Chim bị mưa đá.
Ác khẩu mắng nhiếc,
Nhục mạ giận dữ,
Đại nhân kham nổi :
Voi tắm mưa hoa.
Cho nên phải nhẫn.
Lại đem việc ác nầy chuyển làm công đức , làm cho các việc
ác đó chuyển thành công đức.
Thành Thật Luận Trang 423 Tuệ Quang Foundation
Lại hành giả biết chúng sinh nầy ngu si không hiểu biết, như
trẻ con, không nên giận. Nhờ các phương tiện nầy có thể tu tâm
từ.
Hỏi : Làm thế nào tu bi ?
Đáp : Hành giả thấy chúng sinh vui ít khổ nhiều nên sinh tâm
bi. Ta nỡ nào đối với chúng sinh khổ kia lại gây thêm khổ ?
Lại thấy chúng sinh quá tham đắm vui, sinh ý nghĩ rằng : Ta
nay làm sao dứt lòng tham của chúng, nên sinh tâm bi.
Lại thấy chúng sinh khổ, vì hiện khổ cho nên khổ, thấy
chúng sinh vui, vì vô thường nên khổ. Cho nên tất cả chúng sinh
đều có phần khổ, hoặc sớm hoặc muộn, không ai thoát được. Vì
nhân duyên nầy, nên sinh tâm bi.
Hỏi : Làm sao tu hỷ ?
Đáp : Hành giả thấy người ganh lợi với người khác là tướng
xấu xa, cho nên tu hỷ, khởi nghĩ như vầy : Ta phải cho chúng sinh
vui, nhưng nay chúng tự được, vậy là đã giúp ta. Cho nên sinh hỷ.
Lại thấy ganh ghét đó luống uổng vô ích, không tổn ai được,
mà lại chỉ hại mình.
Lại như kinh nói ganh ghét là tội lỗi. Muốn lìa lỗi đó, nên
sinh hoan hỷ.
Hỏi : Làm sao tu xả ?
Đáp : Thấy lỗi tâm không bình đẳng, muốn cho tâm bình
đẳng, cho nên tu xả.
Lại hành giả thấy lỗi của tâm tham giận nên tu hành xả.
Hỏi : Vô lượng tâm nầy ở trong cõi nào ?
Đáp : Đều ở 3 cõi.
Hỏi : Có luận sư nói từ tam thiền trở lên không có hỷ căn.
Việc đó thế nào ?
Đáp : Tôi không nói tâm hỷ là hỷ căn tính chỉ vì tâm lợi tha,
hỷ không làm vẫn đục, nên gọi là hỷ. Bốn vô lượng tâm nầy đều
là tuệ tính.
Thành Thật Luận Trang 424 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Trong cõi Vô sắc làm sao có 4 vô lượng tâm ? Vì có
sắc tướng mới phân biệt chúng sinh, trong cõi đó sắc tướng đã
hoại, làm sao có được ?
Đáp : Chúng sinh vô sắc cũng có thể phân biệt. Như trong
kinh nói : Phải làm hữu sắc và vô sắc v.v...
Lại trong kinh nói : Tu từ rất xa, được báo Biến tịnh, tu bi
rất xa, được báo Không xứ, tu hỷ rất xa được báo Thức xứ, tu xả
rất xa được báo Vô sở hữu xứ. Cho nên biết trong Vô sắc cũng có
vô lượng tâm.
Hỏi : Trong mỗi mỗi cõi có một vô lượng tâm. Phi tưởng phi
phi tưởng xứ không có sao ?
Đáp : Tất cả xứ có tất cả, chỉ tu từ ở bậc thượng nên sinh về
Biến tịnh xứ. Vì các nghiệp sinh quả báo tương tự, nghĩa là
chúng sinh cầu vui lại được báo vui. Bi cũng như vậy. Do có thân
nên tụ tập các khổ. Vô sắc trong hư không, nên tâm ở Thức xứ
trong cảnh duyên rất vui, nên bỏ hết. Vô sở hữu xứ thì hành giả
vì bị tưởng làm mỏi mệt, nên vào Vô sở hữu xứ. Phi tưởng phi phi
tưởng cũng có vô lượng tâm. Nhưng vì vi tế không rõ nên không
nói.
Lại tất cả xứ có tất cả, nhưng tùy nhiều mà nói, trong Biến
tịnh, tâm từ cao tột nên như vậy v.v...
Lại trong các thiền định, 4 vô lượng tâm thụ quả báo vượt
trội, vì duyên chúng sinh.
Hỏi : Có luận sư nói 4 vô lượng tâm nầy chỉ duyên chúng
sinh cõi Dục. Việc này thế nào ?
Đáp : Vì sao không duyên các chúng sinh khác ư ? Là phải
nói nhân duyên. Trong vô lượng kinh Phật nói tâm từ của hành
giả bao trùm khắp chúng sinh 4 phương trên dưới. Chúng sinh
trong cõi Sắc, Vô sắc cũng có vô thường bại hoại đọa các nẻo ác,
tại sao lại không duyên.
Thành Thật Luận Trang 425 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Có luận sư nói chỉ sinh cõi Dục hành giả mới có thể
hiện nhập vô lượng. Việc đó như thế nào ?
Đáp : Tất cả sinh xứ đều có thể hiện vào.
Hỏi : Nếu sinh trong đó cũng có thể hiện vào thì phúc không
thể hết, vì thường sống trong đó ?
Đáp : Như trong đó cũng hiện nhập thiền v.v..., các thiện
pháp khác, cũng vẫn có thoái lui. Từ v.v... cũng như vậy.
Hỏi : Nếu có lẽ nầy, sao không mau thoái lui ?
Đáp : Có nghiệp như vậy, tuy có nhân duyên thoái lui, mà
không mau thoái lui, như các cõi trời trong cõi Dục v.v..., tuy có
thiện nghiệp mà cũng sinh ác đạo. Việc này cũng vậy.
Hỏi : Người tu từ Tam-muội, vì sao đao binh, nước lửa
không làm hại được ?
Đáp : Đó là nhờ phúc thiện sâu dày, nên các ác không hại
được, lại còn được chư thiên bảo hộ.
Hỏi : Kinh nói với từ cùng tu giác ý. Hữu lậu và vô lậu làm
sao cùng tu ?
Đáp : Từ nầy và giác ý thuận nhau như trong kinh nói : Nếu
ai nhất tâm nghe pháp, thì có thể dứt 5 thứ ngăn che. Tu 7 pháp
giác ý không cần nghe pháp, cũng tu giác ý được.
Lại trong kinh nói : Này các Tì-kheo ! Tu tập tâm từ, ta bảo
đảm các ông được quả A-na-hàm. Tâm từ tuy không dứt kết,
nhưng trước dùng tâm từ nhóm họp các lợi ích phúc đức trí tuệ,
nên được Thánh đạo, vì Tuệ có thể dứt các kết, nên mới nói tu từ
được A-na-hàm. Cùng với từ tu giác cũng như vậy.
Hỏi : A-la-hán dứt tưởng chúng sinh, làm sao tu vô lượng
tâm ?
Đáp : A-la-hán tuy vào tâm từ, mà không thể nhóm họp
thành nghiệp từ, là vì không thụ sinh.
Hỏi : Thế nào là đại bi của chư Phật Thế Tôn ?
Thành Thật Luận Trang 426 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Chư Phật Thế Tôn có trí không thể nghĩ bàn như vầy :
Tuy biết các pháp rốt ráo không mà có thể hành đại bi sâu sắc hơn
phàm phu, chỉ không được quyết định tướng chúng sinh.
Hỏi : Bi với đại bi có gì sai khác ?
Đáp : Gọi bi chỉ có lòng thương xót, có thể thành xong sự
nghiệp, mới được gọi đại bi. Bởi vì sao ? Vì Bồ-tát thấy chúng
sinh khổ, muốn hết khổ nầy mới siêng có thể tu tinh tiến.
Lại trong vô lượng kiếp tu tập được thành, nên gọi đại bi.
Lại đem con mắt trí tuệ thấy khổ chúng sinh, quyết định phát
tâm phải trừ diệt, nên gọi đại bi.
Lại làm nhìều việc lợi ích, nên gọi đại bi. Cũng không bị gì
ngăn ngai, nên gọi đại bi. Bởi vì sao ? Vì tâm bi nếu nghĩ ác về
người khác thì sinh ngăn ngại, chứ đại bi đối với các ác dữ dội
thông suốt không ngại.
Lại tâm bi có dày, mỏng không đồng, còn tất cả bình đẳng
nên gọi đại bi.
Lại tự bỏ lợi mình, mà cầu lợi cho người, nên gọi đại bi. Tâm
bi không được như vậy. Đó là các tên sai khác. Như vậy từ, v.v...
ở Phật đều gọi là đại. Nhưng vì bi có thể cứu khổ, cho nên được
nêu riêng.
Phẩm 160 : Năm nhánh Thánh Tam-muội
Trong kinh nói 5 nhánh Thánh Tam-muội là hỷ, lạc, thanh
tịnh tâm, minh tướng, và quán tướng. Hỷ là sơ thiền nhị thiền
tướng hỷ như nhau, nên gọi chung làm một nhánh. Đệ-tam thiền
vì lìa hỷ lạc nên riêng làm một nhánh. Trong đệ tứ thiền tâm thanh
tịnh nên gọi nhánh thứ 3. Nương 3 nhánh nầy có thể sinh minh
tướng, quán tướng. Minh tướng và quán tướng nầy làm nhân, có
thể phá rách 5 ấm. Quán 5 ấm trống không, gọi là quán tướng. Có
thể đến Nê-hoàn, nên gọi là Thánh.
Hỏi : Trong kinh nói 5 Thánh trí Tam-muội là thế nào ?
Thành Thật Luận Trang 427 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Phật tự nói : Hành giả khởi nghĩ như thế này : Ta với
Tam-muội nầy là Thánh thanh tịnh, đó là sơ trí. Tam-muội nầy
phi phàm phu mới đến gần được, là Tam-muội được người trí
ngợi khen, đó là trí thứ hai. Tam-muội nầy phải tịch diệt diệu ly
mới được, đó là trí thứ ba. Tam-muội nầy hiện tại vui, sau được
quả báo vui, đó là trí thứ tư. Tam-muội này ta nhất tâm nhập, nhất
tâm xuất, đó là trí thứ năm. Phật chỉ thị cho biết trong định cũng
có trí tuệ. Không những chỉ buộc tâm, mà hành giả khi tu tập
định, nếu sinh phiền não thì trong đó sinh trí trừ phiền não ấy.
Muốn làm cho Tam-muội là Thánh thanh tịnh gọi là sơ trí. Thánh
thanh tịnh là hạng phi phàm phu mới đến gần được, là điều người
trí ngợi khen. Nói phi phàm phu nghĩa là các Thánh nhân vì đã
được trí nên không gọi phàm phu. Trí nầy có thể phá giả danh, đó
là trí thứ hai. Mỏng dần các phiền não, tham v.v..., phiền não diệt,
nên gọi tịch diệt. Vì tịch diệt nên diệu, lìa các phiền não nên gọi là
ly. Được pháp nầy đều là đạo lìa dục, đó là trí thứ ba. Tùy chứng
phiền não dứt, được an ổn tịch diệt, được cái vui lìa nóng nảy, nên
nói hiện vui, sau vui. Hiện vui, là vui lìa phiền não. Sau vui là vui
Nê-hoàn, đó là trí thứ tư. Hành giả thường hành tâm vô tướng,
nên thường nhất tâm nhập Tam-muội xuất Tam-muội, đó là trí thứ
năm. Cho nên nếu người nào chưa sinh 5 trí thì phải sinh, sinh rồi
tức được quả Tam-muội.
Phẩm 161 : Sáu Tam-muội
Hỏi : Trong kinh nói 6 Tam-muội là : Có một tướng tu làm
một tướng. Có một tướng tu làm nhiều các tướng. Có một tướng
tu làm một tướng và nhiều các tướng. Nhiều các tướng tu cũng
như vậy. Thế là thế nào ?
Đáp : Một tướng đó phải là thiền định. Vì thiền định ở trong
một cảnh, duyên nhất tâm hành. Cho nên nhiều các tướng phải là
Thành Thật Luận Trang 428 Tuệ Quang Foundation
tri kiến, vì biết các pháp nhiều các tính, nên có phương tiện đối
với các pháp trong 5 ấm v.v...
Hỏi : Một tướng tu làm một tướng là thế nào ?
Đáp : Là như người nhờ định lại được sinh định. Còn một
tướng tu làm nhiều các tướng là như người nhờ định được sinh tri
kiến. Một tướng tu làm một tướng và nhiều các tướng là như
người nhờ định được sinh thiền định và 5 ấm phương tiện. Nhiều
các tướng tu cũng như vậy.
Hỏi : Có luận sư nói : Một tướng tu làm một tướng, phải là
như người nhờ đệ tứ thiền chứng quả A-la-hán. Một tướng tu làm
nhiều các tướng là như người nhờ đệ tứ thiền chứng 5 thần thông.
Một tướng tu làm một tướng và nhiều các tướng là như nhờ đệ tứ
thiền chứng quả A-la-hán và 5 thần thông. Nhiều các tướng tu làm
nhiều các tướng là như người nhờ 5 nhánh Tam-muội chứng quả
A-la-hán và 5 thần thông.
Còn 2 pháp kia cũng như vậy. Nghĩa đó thế nào ?
Đáp : Phải nói nhân duyên vì sao đệ tứ thiền và quả A-la-hán
là một tướng, 5 nhánh Tam-muội và 5 thần thông là nhiều các
tướng ?
Lại 5 nhánh không nên làm chỗ nương, vì 5 nhánh Tammuội
là minh tướng quán tướng của 4 Thiền, thì làm sao nương
đó được quả A-la-hán ? Bởi vì sao ? Vì cần phải nương một thiền
mới được A-la-hán quả.
Lại cũng không nên nương minh tướng để được quả A-lahán.
Cho nên không đúng.
Hỏi : Có người nói có 6 thứ nhập định là thuận nhập, nghịch
nhập, nghịch thuận nhập, thuận siêu, nghịch siêu, và nghịch thuận
siêu. Việc đó thế nào ?
Đáp : Có luận sư nói : Hành giả muốn được diệt tận định,
nên thứ lớp nhập xuất các thiền. Cho nên không nên hoặc nghịch,
hoặc thuận, hoặc nghịch thuận, và siêu việt v.v....
Thành Thật Luận Trang 429 Tuệ Quang Foundation
Năm thứ nhập xuất được lợi ích gì ?
Hành giả muốn được diệt tận định, quyết phải nhập theo thứ
lớp, cũng phải xuất theo thứ lớp.
Lại nếu được bậc thượng, vì sao lại nhập bậc hạ ?
Vì bậc hạ gai góc, như người lớn không còn ưa cách chơi
đùa của trẻ con.
Lại như người vì nghề nghiệp đã tinh xảo, thì không còn ưa
sự vụng về nữa. Việc này cũng phải như vậy.
Lại nếu nói siêu việt thì việc này không đúng. Trong kinh chỉ
nói thứ lớp vào các thiền định. Hành giả nếu có thể vượt đến thứ
3, sao không thể vượt đến 4, 5 ? Nếu nói vậy sức mạnh chỉ chừng
đó, như người trèo lên thang lên một bậc không lên được bậc nữa,
ví dụ này cũng không hẳn nhất định.
Lại người sức mạnh có thể bước lên bậc 4, lại cũng có thể
vượt trên trăm bậc. Cho nên không đúng. Trong kinh tuy nói khi
Phật nhập Nê-hoàn, nghịch thuận vượt lên vào các thiền định.
Kinh nầy trái với chính nghĩa, không nên tin thụ. Tuy có câu đó,
nhưng nghĩa không phải vậy. Bởi vì sao ? Nếu nói hành giả đến
diệt tận định, chỉ nên thuận nhập mà không cần 5 thứ. Hành giả
nếu muốn đến thẳng diệt định, thì không cần. Nếu muốn tự thử
tâm mình ở trong thiền định xem có thể tự tại không thoái lui, nên
mới nghịch thuận nghịch, xuất nhập, siêu việt, như người cỡi
ngựa, nếu tại trận đối địch thì không nên chạy quanh, còn như
muốn tập luyện trong lúc nhàn rỗi thì nên. Nếu nói bậc dưới gai
góc thì không nên vào đó, không vì bậc dưới thắng hơn mà sau lại
vào, mà vì là chỗ hành đạo của hành giả. Nếu nói như người
không ưa trẻ nít đùa giỡn, mà vì nhân duyên phải làm trẻ nít đùa
giỡn, như người dạy vũ đạo phải múa nhảy trọn ngày, đâu phải
lòng mình ưa vui mà vì dạy dỗ luyện tập. Như vậy Thánh nhân
nghịch thuận ra vào vượt lên các thiền, là vì muốn thị hiện cho
trời, người và các thần, tiên biết sức tự tại trong các thiền định.
Thành Thật Luận Trang 430 Tuệ Quang Foundation
Lại khi Phật vào Nê-hoàn, vì muốn đem thâm diệu thiền định
để huân tu ngọc Xá-lợi, nên tự tại vào ra nghịch thuận vượt lên.
Lại người thấy Phật khi vào Nê-hoàn vô dư, chán hết tất cả
pháp hữu vi, cho nên Phật hiện pháp báu quí đáng yêu mến này.
Ông nói kinh này trái với chính nghĩa, điều này không đúng.
Ông nói vì sao không thể vượt đến thứ 4, là vì trong Bồ-tát
Tạng nói tướng vượt lên từ sơ thiền khởi vào diệt tận đinh, từ diệt
tận định khởi cho đến vào trong tản tâm, vì tâm lực vĩ đại nên mới
có thể như vậy.
Phẩm 162 : Bảy Tam-muội
Luận giả nói có 7 chỗ nương : Nương sơ thiền được hết lậu,
cho đến nương Vô sở hữu xứ được hết lậu. Nương là nhân nhờ 7
chỗ này được Thánh trí tuệ, như nhiếp tâm được sinh thật trí. Có
người chỉ được thiền định cho đó là đủ. Cho nên Phật nói đó
không phải đã đủ. Cần phải nương định nầy cầu thêm thắng pháp.
Nghĩa là hết các lậu, cho nên nói là nương.
Hỏi : Làm sao nương thiền định nầy được hết các lậu ?
Đáp : Phật nói hành giả tùy đem tướng nào, duyên nào vào
sơ thiền là hành giả đó không còn nghĩ nhớ tướng đó, duyên đó
nữa, mà chỉ quán trong sơ thiền, có các sắc, hoặc thụ, tưởng,
hành, thức như bệnh, như ung nhọt, như tên bắn, đau nhức, vô
thường, khổ, không, vô ngã. Khi quán như vậy, tâm sinh chán lìa,
giải thoát các lậu. Cho đến Vô sở hữu xứ cũng như vậy. Chỉ trừ 3
không xứ vì không có sắc có thể quán được. Hành giả thấy cõi
Dục rối loạn, sơ thiền tịch diệt, rồi sau mới được. Cho nên Phật
nói : Đừng nghĩ tướng vui tịch diệt ở sơ thiền, mà chỉ quán 5 ấm
và 8 thứ tội lỗi của sơ thiền mà thôi. Các chỗ nương khác cũng
vậy.
Hỏi : Cõi Dục vì sao không nói nương ?
Thành Thật Luận Trang 431 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Trong Kinh Tu-thi-ma nói : Trừ 7 chỗ nương lại có
Thánh đạo xứ. Cho nên biết cõi Dục cũng có nương.
Hỏi : Có người nói nương một bên sơ thiền chưa đến chỗ
được quả A-la-hán. Việc đó thế nào ?
Đáp : Không phải vậy. Nếu chưa đến nơi mà có chỗ nương,
tức là có lỗi. Nếu chưa đến chỗ có thể được, vì sao vì không vào
sơ thiền? Cho nên không phải.
Hỏi : Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vì sao không nói nương ư ?
Đáp : Trong đó không rõ định nhiều tuệ ít, nên không nói có
nương. Bảy tưởng định là 7 chỗ nương.
Hỏi : Vì sao Phật nói 7 chỗ nương là 7 tưởng định ?
Đáp : Ngoại đạo không có chân trí nên chỉ nương dựa nơi
tưởng. Tất cả chỗ nương dựa đều bị tưởng làm nhiễm ô không giải
thoát, nên gọi là tưởng định. Thánh nhân có thể phá hoại tưởng,
chỉ nương định nầy thẳng lấy hết lậu, nên gọi là nương. Như nói
hành giả quán các pháp nầy như tật bệnh, như ung nhọt. Phi tưởng
phi phi tưởng xứ cũng vì tưởng không rõ rệt, nên không nói tưởng
định.
Phẩm 163 : Tám giải thoát
Luận giả nói : Trong kinh nói 8 giải thoát : Trước tiên tưởng
nội sắc, quán ngoại sắc. Hành giả nhờ giải thoát nầy xé rách các
sắc. Làm sao biết được ? Vì trong đệ nhị giải thoát nói : Nội
không sắc tưởng, quán sắc bên ngoài. Để phá sắc bên trong nên
nói nội không sắc tưởng. Cho nên biết hành giả trong sơ giải
thoát, phá dần sắc thân, đến trong đệ nhị giải thoát, đã phá được
sắc bên trong, chỉ còn sắc bên ngoài. Trong đệ tam giải thoát sắc
bên ngoài cũng phá, nên không thấy sắc trong ngoài, đó gọi là sắc
không. Như trong Kinh Ba-la-diên nói : Phá rách sắc tướng, dứt
diệt các dục, trong ngoài không thấy, ta hỏi việc đó. Trong 4 giải
thoát nói tâm thức trống không, như trong Kinh Lục Chủng nói :
Thành Thật Luận Trang 432 Tuệ Quang Foundation
Nếu Tì-kheo đối với 5 thứ rất sinh chán lìa, chỉ còn có thức. Phải
biết trong 4 giải thoát nầy phá rách các sắc, đến giải thoát thứ 8
mới diệt hết tất cả. Bởi vì sao ? Nếu diệt sắc diệt tâm thì hữu vi
đều diệt, đó gọi là quả A-la-hán. Dùng thứ lớp như vậy mới được
diệt hết. Đó gọi là 8 giải thoát. Có người nói giải thoát đầu tiên và
thứ hai là bất tịnh, giải thoát thứ ba là tịnh. Việc này không đúng.
Bởi vì sao ? Vì là giải thoát không bởi quán bất tinh mà được giải
thoát, tịnh quán cũng không giải thoát, chỉ do không quán mới có
thể giải thoát.
Lại ngoại đạo có thể được tịnh và bất tịnh quán, mà không
gọi là được giải thoát.
Hỏi : Ngoại đạo cũng có thể phá rách sắc tướng, việc đó thế
nào ?
Đáp : Ngoại đạo lấy tín giải quán, phá hoại sắc tướng, mà
không phải không quán. Bởi vì sao ? Như dùng tín giải mà quán.
Thấy thân đã chết đem bỏ trong gò mả cho trùng, thú ăn v.v....
Hỏi : Ngoại đạo lìa sắc được vô sắc định, lẽ ra phải có vô sắc
giải thoát ?
Đáp : Ngoại đạo tuy có vô sắc định, mà vì tham đắm nên
không gọi giải thoát. Thánh nhân nhờ vô sắc định có thể quán 4
ấm bệnh v.v... 8 việc, nên gọi giải thoát.
Hỏi : Ông nói diệt định là quả A-la-hán. Điều này không
đúng. Bởi vì sao ? Vì học nhân cũng gọi là được 8 giải thoát. Ông
nói diệt định gọi là lậu tận, vậy thì học nhân phải được lậu tận ?
Đáp : Trong kinh nói diệt tướng chung mà không phân biệt
nói là tâm diệt hay là phiền não diệt. Như trong kinh nói 2 thứ diệt
: một diệt, hai thứ lớp diệt, 2 thứ Nê-hoàn : một hiện tại Nê-hoàn,
hai cứu cánh Nê-hoàn, cũng nói 2 thứ yên ổn : một an ổn, hai đệ
nhất an ổn, người được an ổn cũng 2 dạng : một được an ổn, hai
được đệ nhất an ổn. Cho nên sở đắc của học nhân không phải là
chân thật diệt.
Thành Thật Luận Trang 433 Tuệ Quang Foundation
Lại trong kinh nói : Nếu Tì-kheo có thể vào diệt định là xong
tất cả việc. Nếu diệt định không phải quả A-la-hán thì không nên
nói xong tất cả việc.
Hỏi : Học nhân thật không được 8 giải thoát sao ?
Đáp : Trong kinh nói học nhân được 9 thứ lớp định, không
nói được diệt tận. Hành giả nếu được diệt tận, mà không thể vào
các thiền định, gọi là tuệ giải thoát, nếu có thể vào các thiền định
mà không được diệt tận, gọi là thân chứng. Nếu cả 2 đều được,
gọi là đều giải thoát. Bởi vì sao ? Vì các lậu là một phần chướng,
mà pháp thiền định là một phần đắc. Giải thoát 2 phần trên gọi là
đều giải thoát.
Hỏi : Trong các thứ lớp diệt và trong các giải thoát diệt, có gì
khác nhau ?
Đáp : Tên đồng mà nghĩa khác. Trong thứ lớp diệt, gọi là
tâm, tâm số diệt. Trong giải thoát diệt, gọi là các phiền não diệt.
Như trong kinh nói các hành thứ lớp diệt. Nghĩa là vào sơ thiền
diệt ngôn ngữ, vào nhị thiền diệt giác quán; vào tam thiền diệt hỷ,
vào tứ thiền diệt lạc, vào không xứ diệt sắc tướng, vào thức xứ
diệt không tướng, vào vô sở hữu xứ diệt thức tướng, vào phi
tưởng phi phi tưởng xứ diệt vô sở hữu tướng, vào diệt tận định
diệt các tưởng thụ. Các diệt trong đây lại có thắng diệt, như hành
giả đối với tâm tham sân si nhàm chán nên được giải thoát.
Hỏi : Làm sao biết trong thứ lớp tâm, tâm số diệt, trong giải
thoát các phiền não diệt ?
Đáp : Tên diệt tuy đồng mà nghĩa phải có khác. Trong thứ
lớp nói diệt tưởng thụ. Trong giải thoát nói diệt vô minh xúc thụ.
Bởi vì sao ? Vì từ giả danh sinh thụ, phá giả danh thì diệt. Trong
thứ lớp không phải như vậy. Trong các kinh có sai khác như vậy.
Nếu nói thẳng hành giả được diệt tận thì xong tất cả mọi việc.
Phải biết vì khi chứng Nê-hoàn các phiền não diệt, không nói tâm,
tâm số diệt.
Thành Thật Luận Trang 434 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu 8 giải thoát là pháp diệt phiền não thì tất cả A-lahán
v.v... đều phải được ?
Đáp : Đều được, nhưng không thể vào. Nếu chứng được các
thiền định, thì có thể vào.
Hỏi : Hành giả nếu không thiền định, làm sao có thể được
thân tâm trống không, và hết các phiền não ?
Đáp : Người này có định mà không thể chứng.
Lại có như điện Tam-muội, nhờ Tam-muội này được hết
phiền não. Như trong kinh nói : Ta thấy Tì-kheo khi muốn lấy áo
có phiền não, lấy áo rồi tức không phiền não. Như vậy là bởi vì
sao ? Vì tâm như điện, Tam-muội như kim cương. Chân trí có thể
phá phiền não.
Lại nghĩa này trong đệ tam lực của Phật có nói : Như các
thiền, giải thoát, Tam-muội, nhập, cấu, tịnh, sai biệt, như thật
biết, trong đó thiền là 4 thiền. Có người nói 4 thiền, 4 vô sắc định
đều gọi là thiền. Giải thoát là 8 giải thoát. Tam-muội là trong một
niệm Tam-muội như điện. Nhập là được sức tự tại trong thiền giải
thoát Tam-muội. Như Xá-lợi-phất nói : Ta trong 7 Giác, có thể
xuất nhập tự tại. Cho nên biết tuệ giải thoát, với A-la-hán có các
thiền định không thể nhập, thâm tu tập mới có thể tự tại nhập.
Hỏi : Vì sao A-la-hán có vị không tu tập sâu các thiền định ?
Đáp : Người đó được đạo, việc làm đã xong, vui tu tâm xả,
nên không hay tập nữa. Nếu không tâm xả, thì vào định không
khó. Như trong kinh nói : Hành giả khéo tu 4 pháp như ý túc, có
thể thổi tan núi Tuyết thành bụi đất, huống chi thứ vô minh chết ư
? Cho nên biết trong 8 giải thoát nói diệt hết lậu, không phải nhập
định diệt.
Lại trong kinh nói : Có minh tính, có không tính, có vô biên
hư không tính, có vô biên thức tính, có vô sở hữu tính, có phi
tưởng phi phi tưởng tính, có diệt tính. Bởi tối nên có tính sáng.
Bởi chẳng không, nên có tính không. Bởi sắc nên có tính vô biên
Thành Thật Luận Trang 435 Tuệ Quang Foundation
hư không. Bởi tính vô biên hư không, nên có tính vô biên thức.
Bởi vô biên thức nên có tính vô sở hữu. Bởi vô sở hữu nên có tính
phi tưởng phi phi tưởng. Bởi 5 ấm nên có tính diệt. Nếu không thể
phá tướng giả danh của 5 ấm đó gọi là tối. Nếu có thể phá giả
danh của 5 ấm, thì gọi là tính sáng. Như Phật bảo một Tì-kheo :
Ông đối với không, trong các hành phải quán các hành trong trống
không, để tự điều phục tâm mình. Như người cầm đèn vào trong
căn nhà trống không, tất cả chỗ thấy đều không. Hành giả lấy sắc
chứng sắc nầy diệt, gọi là không tính. Ngoại đạo nhờ vô biên hư
không xứ được lìa sắc, cho đến nhờ phi tưởng phi phi tưởng xứ
mà lìa vô sở hữu xứ. Bởi các ấm có diệt tính đó, hành giả có
những suy nghĩ, có các tác khởi đều diệt là vi diệu. Đó gọi là bởi
các ấm có diệt tính.
Hỏi : Các tính nầy nương định nào mà được ?
Đáp : Trong kinh nói minh tính cho đến phi tưởng phi phi
tưởng tính, đều do tự hành nhập định mà được. Nghĩa là hành
duyên hữu vi đạo nên được. Bởi vì sao ? Vì trí mới duyên sắc gọi
là minh tính. Tính thứ hai cũng lấy sắc, lấy rồi phân biệt khiến
không. Như vậy cho đến phi tưởng phi phi tưởng tính, diệt tính,
vào diệt tính, tất cả pháp hữu vi đều không, cho nên mới được.
Trong đây vì diệt tận các hữu vi cho nên biết trong đây nói diệt
gọi là lậu tận Nê-hoàn.
Hỏi : Các giải thoát nầy ở trong bậc nào ?
Đáp : Hành giả muốn phá hoại sắc, hoặc nương cõi Dục mà
trụ định, hoặc nương cõi Sắc mà trụ định, thì có thể được sắc
không. Tất cả trong các bậc có thể được tâm không.
Hỏi : Giải thoát nầy có mấy hữu lậu, mấy vô lậu ?
Đáp : Là không tính cho nên tất cả là vô lậu.
Phẩm 164 : Tám thắng xứ
Thành Thật Luận Trang 436 Tuệ Quang Foundation
Thắng xứ thứ nhất : Tưởng nội sắc thấy ngoại sắc ít hoặc tốt
hoặc xấu. Đối với các sắc nầy thắng tri thắng kiến, nên gọi là
thắng xứ.
Thứ hai tưởng nội sắc thấy ngoại sắc nhiều.
Thứ ba tưởng nội không có sắc, thấy ngoại sắc ít.
Thứ tư tưởng nội không có sắc, thấy ngoại sắc nhiều.
Thứ năm tưởng nội không có sắc, thấy ngoại sắc xanh, hình
xanh, sáng xanh, như hoa Ưu-ma-già, như sắc chân thanh nhuộm
áo Ba-la-nại.
Thứ sáu thấy vàng.
Thứ bảy thấy đỏ.
Thứ tám thấy trắng.
Hành giả thấy các sắc nhiều vô lượng như thế bởi vì sao ? Vì
không chỉ có 4 sắc xanh v.v... này, mà vì lược nói nên mới có 8
thắng xứ. Nếu hành giả có thể dùng không quán phá rách các sắc,
bấy giờ gọi là thắng xứ.
Hỏi : Ai có thể được pháp này ?
Đáp : Đệ tử của Phật chứ không phải ai khác.
Hỏi : Tám thắng xứ nầy ở trong bậc nào ?
Đáp : Ở cõi Dục, và cõi Sắc.
Hỏi : Là hữu lậu hay vô lậu ?
Đáp : Trước là hữu lậu, mà dùng không quán phá sắc thành
vô lậu.
Hỏi : Vì sao pháp này riêng gọi là thắng xứ ?
Đáp : Đó là chỗ tham đắm nhất của hành giả. Cho nên Phật
vì đệ tử nói tên thắng xứ, nghĩa là chỉ thị cho biết cần phải thắng
cảnh duyên nầy.
Phẩm 165 : Chín thứ lớp của Sơ thiền
Thành Thật Luận Trang 437 Tuệ Quang Foundation
Chín thứ lớp của định là 4 thiền, 4 vô sắc định và diệt tận
định. Sơ thiền là như trong kinh nói : Hành giả lìa các dục các
pháp ác bất thiện, hữu giác, hữu quán, ly sinh hỷ lạc vào sơ thiền.
Hỏi : Chỉ nên nói tướng sơ thiền, sao lại nói lìa các dục ư ?
Đáp : Có người chê bai nói thế gian không ai có thể lìa dục,
vi người đời đều ở trong 5 dục, không ai mắt không thấy sắc, tai
không nghe tiếng, mũi không ngửi mùi, lưỡi không nếm vị và
thân không chạm xúc. Cho nên nói lìa dục, là dục tâm chứ không
phải là sắc v.v... Như nói sắc v.v... các vật không gọi là dục.
Làm sao biết được ?
Có người tinh tiến, sắc v.v... vẫn tồn tại, mà có thể dứt dục.
Lại trong kinh nói : Sắc v.v... là phần không gọi là dục.
Trong đó tâm tham mới gọi là dục. Nếu sinh tâm tham thì tìm cầu
các dục. Vì nhân duyên tìm cầu dục, nên mới có tham giận, roi
gậy, giết hại, các ác pháp tiếp theo. Như trong Kinh Đại Nhân nói
: Nhân nơi ái sinh cầu v.v.... Cho nên biết lìa tham dục gọi là lìa
dục.
Có người nói lìa sắc v.v... 5 thứ dục gọi là lìa dục, lìa pháp ác
bất thiện, gọi là lìa 5 thứ ngăn che. Sơ thiền gần với tâm tán loạn,
nên gọi hữu giác.
Lại định lực của hành giả nầy chưa thành, tâm tán loạn phát
khởi, nên gọi là hữu giác. Như trong kinh nói : Ta tu hạnh hữu
giác hữu quán. Phải biết Phật nói tản tâm là giác. Giác nầy yếu
dần nhiếp tâm chuyển thành sâu, thì gọi là quán. Tùy theo định
lực thành tựu, không tản tâm nhiều, bấy giờ nói là quán. Quán nầy
đi theo hành giả đến bậc thiền trung gian. Nếu lìa giác quán được
hỷ gọi là ly sinh hỷ. Hỷ nầy mới được có thể lợi ích nơi thân, nên
gọi là lạc. Lìa giác quán vui trụ trong một cảnh duyên, đó gọi là
thiền. Thiền nầy bị giác quán làm loạn nên được quả báo thân có
sai khác. Vì hạ, trung, thượng sai khác nên có trời Phạm Chúng,
trời Phạm Phụ, trời Đại Phạm.
Thành Thật Luận Trang 438 Tuệ Quang Foundation
Hỏi : Nếu lìa giác quán hỷ, gọi là sơ thiền, thì không cần
dùng 5 nhánh làm sơ thiền. Nếu lìa giác quán thì với đệ nhị thiền
có gì khác nhau ?
Lại trong kinh nói : Sơ thiền có giác có quán, khoái lạc khác,
hỷ cũng khác. Nếu hỷ tức là lạc, thì trong 7 giác ý không nên
riêng nói khoan khoái giác ý ?
Đáp : Ông nói sơ thiền không có 5 nhánh. Điều này không
đúng. Không nói 5 nhánh là tính của sơ thiền. Sơ thiền gần địa có
giác quán nầy, nên gọi là nhánh.
Hỏi : Nếu gần địa có pháp số là nhánh, thì sơ thiền cũng gần
5 dục, thì phải nói là nhánh ?
Đáp : Năm dục không gọi là gần, vì tâm hành giả nầy đã lìa.
Lại sơ thiền thứ lớp không khởi dục tâm.
Lại 5 dục không trụ làm nhánh sơ thiền. Nhánh gọi là nhân.
Nhân tức là phần, như thánh đạo phần nhóm họp đủ v.v.... Giác
quán cũng như vậy, là nhân của sơ thiền. Nếu định tâm của hành
giả ở trong cảnh duyên bị thoái lui, thì trở lại lấy định tướng.
Nhiếp tâm nơi cảnh, nhớ nghĩ bản tướng, đó gọi là giác quán. Cho
nên biết giác quán là nhân của sơ thiền. Trong đệ nhị thiền, định
tâm đã thành, cho nên không do giác quán làm nhân, nhị thiền
cũng thứ lớp mà không sinh giác quán.
Nếu ông nói sơ thiền cùng chung với giác quán, đó cũng
không đúng. Vì từ sơ thiền khởi, kế đó sinh giác quán. Vì gần giác
quán nên gọi là cùng chung, như cùng đi chung với đệ tử, tuy chút
xa nhau, nhưng cũng gọi là chung được.
Lại trong bậc nầy có sinh nhân duyên, nên gọi có giác quán,
như người bệnh quỉ ám, tuy khi không phát cũng gọi là bệnh.
Người nầy bị quỉ ám nếu có cơ hội là phát ra, nên gọi là bệnh.
Lại lạc thụ tức là hỷ, chỉ nói sai khác cũng từ khoái mà riêng
nói là lạc. Như trong kinh nói : Được thân khoái thì thụ lạc.
Hỏi : Nếu như vậy, sao sơ thiền nói 5 nhánh ư ?
Thành Thật Luận Trang 439 Tuệ Quang Foundation
Đáp : Tùy lúc nói 5, như 7 giác ý được thời tiết, thì gọi là 14
giác ý. Trong đây nói có khoái thân, khoái tâm mà thật ra thân
không khoái, chỉ có tâm vui nên thân cũng thụ vui. Hỷ cũng như
vậy, ban đầu đến nơi thân gọi là hỷ. Mới đầu được tướng hỷ lạc,
nên gọi là lạc. Về sau chỉ gọi hỷ, vì khác thời gian.
Lại không riêng có pháp khoái, chỉ khi hỷ sinh thân tâm
không còn thô nặng, mà được nhu nhuyến điều hòa, nên gọi là
khoái. Như bệnh 4 đại diệt, bệnh 4 đại không sinh, người đó gọi là
vui. Khoái cũng như vậy.
Lại trong pháp trừ diệt cũng gọi là khoái. Như trong kinh nói
: Các hành thứ lớp diệt. Như nhập sơ thiền, ngôn ngữ diệt, cho
đến nhập diệt tận định các tưởng thụ diệt. Cho nên không riêng có
pháp khoái. Nếu nói sơ thiền tương ưng với giác quán cũng
không đúng. Bởi vì sao ? Trong kinh nói : Hành giả nếu vào sơ
thiền thì diệt ngôn ngữ. Giác quán là nhân của ngôn ngữ, làm sao
có nhân ngôn ngữ mà ngôn ngữ diệt ? Nếu bảo rằng giác quán vẫn
còn, chỉ ngôn ngữ diệt, thì như người ở cõi Dục khi tâm không
muốn nói, cũng gọi là diệt.
Hỏi : Nếu trong sơ thiền không giác quán, phải gọi là Thánh
mặc nhiên. Mà Phật chỉ nói nhị thiền là Thánh mặc nhiên, không
nói sơ thiền. Cho nên biết sơ thiền, phải có giác quán ?
Đáp : Vì gần giác quán nên không nói mặc nhiên, chứ không
phải giác quán tương ưng nên không nói.
Lại trong kinh nói sơ thiền còn có âm thanh kích thích, nên
không nói là mặc nhiên.
Hỏi : Trong sơ thiền vì sao có âm thanh kích thích ?
Đáp : Sơ thiền an trụ định tâm yếu ớt như hoa trên mặt nước,
đệ nhị thiền v.v... an trụ định tâm mạnh như sơn sơn vào gỗ.
Lại xúc v.v... cũng gọi những kích thích đối với sơ thiền, vì
xúc có thể khiến khởi sơ thiền vậy. Nhị thiền v.v... không như
Thành Thật Luận Trang 440 Tuệ Quang Foundation
vậy. Bởi vì sao ? Vì trong sơ thiền các thức không diệt, nhị thiền
v.v... 5 thức diệt hết.
THÀNH THẬT LUẬN

Không có nhận xét nào: