Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2023

Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương 7 - 9

 Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương

Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 – 2543
THI CA 7 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ LẬP
TRƯỜNG VÀ LÝ TƯỞNG CỦA MÌNH
Phiên âm:
Quyết định thuyết, biểu chân tăng
Hữu nhơn bất khẳng nhiệm tình trung
Trực triệt căn nguyên Phật sở ấn
Trích diệp tầm chi ngã bất năng!
Dịch nghĩa:
* Nếu được nói, tôi lập trường thẳng thắng
Để tỏ ra, lời của một chân tăng
Huynh đệ nghe, nghịch ý chẳng chung lòng
Gay gắt trách, tôi xin cam nhận hết
* Tôi không thích ba hoa vặt vãnh
Thích học điều, Phật tổ đã đinh ninh
Diễn rõ căn nguyên "liễu nghĩa thượng thừa"
Không được vậy, tôi không còn gì để nói
---o0o---
TRỰC CHỈ
Quyết định thuyết là lời nói có lập trường, có trách nhiệm, nhàm bảo vệ
mục đích và lý tưởng của mình. Lý tưởng của tác giả là chánh pháp liễu
nghĩa thượng thừa của Phật tổ đã đinh ninh dặn dò khuyên dạy. Lập trường
của tác gải là "nói thẳng, nói thật". Nói để diễn đạt chân lý, truyền bá chân lý
liễu nghĩa thượng thừa cho mọi người con Phật cùng học hỏi, tiếp thu để
hành đạo và chứng đạo. Không nói "vuốt đuôi". Không nói để "chiếm cảm
tình". Không nói kiểu "thỏa hiệp". Không nói kiểu "phương tiện"… để rồi
người nghe không được tí nào lợi ích.
Học chánh pháp, hành chánh pháp, sống theo chánh pháp và truyền bá
chánh pháp không thể sử dụng các kiểu nói tầm thường vừa kể. Để bảo đảm
giá trị lời nói của một "chân tăng", một vị thầy đúng danh nghĩa của đệ tử
mình, lời nói phải có lập trường, phải phục vụ cho một lý tưởng giải thoát,
giác ngộ tuyệt vời cao đẹp.
Một chân tăng, theo tác giả Chứng Đạo Ca, sẵn sàng chấp nhận cô đơn,
chấp nhận sự công kích, sự thóa mạ… của mọi người. Hoặc sẵn sàng "không
nói gì hết". Bao nhiêu ngôn ngữ nhường hết cho…
---o0o---
THI CA 8 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO TÂM TÁNH LÀ
NGỌC MA NI
Phiên âm:
Ma Ni Châu, nhân bất thức
Như Lai tàng lý thân thâu đắc
Lục ban thần dụng không bất không
Nhất lỏa viên quang sắc phi sắc
Dịch nghĩa:
* Tâm trong sáng người người ai cũng có
Nó là Ma Ni là Như Ý bảo Châu (1)
Chẳng mấy ai, biết rõ cái tâm này
Nó mầu nhiệm, thu gọn cả Như Lai tàng tánh (2)
* Sáu thần dụng, thấy sắc mà phi sắc (3)
Một viên quang, rằng không nhưng lại phi không (4)
Nghĩa sắc không, mầu nhiệm vô cùng
Chứng "thật tướng", mối nghi này mới mở hết.
---o0o---
TRỰC CHỈ
Con người ai cũng có Chân Tâm. Tự thể chân tâm vốn trong sáng, thanh
tịnh, vắng lặng, nhiệm mầu. Trong Chân Tâm không có một gợn phiền não
khổ đau, bất mãn, bất bình. Cũng không có ý niệm ta, người, thương, ghét,
thân, sơ… Kinh điển Phật thường ví Chân Tâm ấy như Ngọc Ma Ni.
Ai cũng sẵn có ngọc Ma Ni mà không biết mình có ngọc Ma Ni quí báu
ấy. Ngọc Ma Ni vô giá trong người mà không phát hiện để sử dụng cái công
dụng NHƯ Ý của ngọc. Có ngọc Như Ý, con người sẽ không còn gì để
"thiếu". Phát hiện ngọc Như Ý, sử dụng ngọc Như Ý, nhìn vạn pháp bằng
"Phật nhãn" cho nên:
"Sáu thần dụng thấy sắc mà phi sắc
Một viên quang, rằng không nhưng lại phi không"
Vì, người phát hiện ngọc Như Ý, sử dụng ngọc Như Ý là người chứng
thật tướng của vạn pháp rồi.
"… Chứng thật tướng vô nhơn pháp
Sát na diệt khước A tỳ nghiệp"…
---o0o---
THI CA 9 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO MỐI TƯƠNG
QUAN CỦA NGŨ NHÃN VÀ NGŨ LỰC
Phiên âm:
Tịnh ngũ nhãn, đắc ngũ lực
Duy chứng nãi tri nan khả trắc
Kính lý khán hình kiến bất nan
Thủy trung tróc nguyệt tranh niêm đắc
Dịch nghĩa:
Tịnh ngũ nhãn, sẽ kéo thêm ngũ lực
Chung môi trường mới biết được diệu dụng kia
Rủ giành trăng, đáy nước… chuyện còn khuya!
Đứng trước kính, ngắm thân hình là việc dễ!
---o0o---
TRỰC CHỈ
Giáo lý đạo Phật dạy rằng, con người có khả năng và quyền sử dụng "ngũ
nhãn". "Khả năng" và "quyền" thì mọi người đều có quyền thừa hưởng, sử
dụng bình đẳng. Tuy nhiên, đây là thứ bình đẳng có điều kiện. Mọi người
phải cùng ở "môi trường TU" thì mới cùng được ở trong "môi trường
CHỨNG".
"Tịnh ngũ nhãn" là người đạt đến giai đoạn CHỨNG. Ngũ nhãn đạt đến
giai đoạn CHỨNG ĐẮC THANH TỊNH thì chỉ có người tự chứng tự biết.
Người khác môi trường nói và kể cho họ bảo kể cho nghe, chẳng khác "Rủ
nhau giành trăng ở đáy nước" hy vọng gì người khác môi trường bảo họ hiểu
hoàn cảnh của riêng mình. Phải cùng đứng trong vườn LAN HUỆ mới cùng
thưởng thức được mùi hoa Lan Huệ. Phải cùng đứng nơi chợ cá ươn mới
thấm thía "hương vị" của chợ bán cá ươn.
Vì vậy, TỊNH NGŨ NHÃN, ĐẮC NGŨ LỰC là việc có thực, nhưng
diễn đạt cảnh giới thanh tịnh của "ngũ nhãn" của mình cho người khác nghe
biết là điều không dễ. Bảo người khác phải nghe và phải hiểu về cảnh giới
CHỨNG ĐẮC của mình lại càng khó, khó đến nỗi tác giả Chứng Đạo Ca ví
với chuyện "Rủ nhau giành trăng đáy nước".
Ngũ nhãn là năm thứ mắt, nói cách khác, năm cách "tư duy" mà cùng
một cách ngó nhìn. Đó là: nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn và
Phật nhãn.
Ngũ nhãn thanh tịnh, con người tự có năm thứ sức mạnh, đủ sức tiến
mạnh trên con đường Bồ Đề Vô thượng. Đó là:
CHÁNH TÍN, CHÁNH TINH TẤN, CHÁNH NIỆM, CHÁNH ĐỊNH
VÀ TRÍ TUỆ BA LA MẬT.
Điều đó nói với ai? Dễ có mấy người biết! Dễ có mấy người tin! Đó là:
"… Duy chứng nãi tri, nan khả trắc"
Họ không tin, không có gì đáng trách, vì họ khác "môi trường"!
---o0o---

Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương bài 4 - 6

 Chứng Đạo Ca

Trực Chỉ Đề Cương
Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 – 2543
THI CA 4 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ TỘI PHƯỚC
VÀ THIỆN ÁC
Phiên âm:
Vô tội phước, vô tổn ích
Tịch diệt tánh trung mạc vấn mịch
Tỉ lai trần kính vị tằng ma
Kim nhật phân minh tu phẫu tích
Dịch nghĩa:
+ Tội là chi, phước lại là chi?
Đa mang chi hai gánh nặng như chì!
Ai bắt tội? Ai là người chịu tội?
+ Thiện là chi, ác cũng lại là chi?
Sợ làm chi hai danh tự vô nghì!
Sợ cái đáng sợ! Lương tâm tự hành hạ lấy.
+ Gương lòng sáng, xưa nay ta vốn có
Mặc cho bụi mờ vĩnh viễn chẳng quan tâm
Ngày hôm nay, có cơ hội lau chùi
Sáng soi thấy, "phước" và "tội" không ai ban ai phạt!
---o0o---
TRỰC CHỈ
Nền giáo lý Phật nhằm đào tạo cho con người đức tánh tự tôn. Cái nhân
bản của con người là tối tôn và hoàn toàn trong sáng. Con người hãy phát
huy đức tánh vốn có ấy để mà sống một cách tự tin ở khả năng, ở nơi nhân
bản cao đẹp vốn có của mình.
Người đệ tử Phật không tôn trọng ai khác, ngoài nhân bản thanh cao
trong sáng, mà tác giả Chứng Đạo Ca gọi cái đó là "Bản nguyên tự tánh
thiên chân Phật" của chính con người. Vì vậy, người đệ tử Phật, học Phật, tu
theo đạo Phật không được sợ bất cứ một thế lực "linh thiêng", một sức mạnh
vô hình hay một đấng thưởng phạt siêu nhiên nào đó, như một số người nhẹ
dạ dễ tin thường sợ. Người theo đạo Phật chỉ sợ nhân quả. Tâm não của con
người là "căn cứ địa" phát xuất và biểu hiện ra "nghiệp nhân" THIỆN hay
ÁC. Chữ "nghiệp" trong đạo Phật chỉ sự hành động của THÂN của KHẨU
của Ý được biểu hiện cụ thể. Gieo nghiệp nhân THIỆN sẽ#7863;t hái trái
ngon, tốt lành. Gieo nghiệp nhân BẤT THIỆN cũng sẽ được thu hoạch trái
không ngon, cay đắng… Nhân thế nào quả thế ấy, như bóng theo hình.
Chung qui lại, do TÂM làm chủ hết. Tạo nghiệp nhân thiện hay ác, sẽ tự
nhận lấy quả khổ hay vui. Hễ nhận lấy quả khổ thì người ta cho là do mắc
TỘI. Nếu nhận lấy quả vui thì người ta cho là được PHƯỚC. TỘI hay
PHƯỚC rõ ràng chỉ là kết quả của con người gieo nhân THIỆN hay ÁC ở
thời gian trước đó mà thôi.
Đúng chân lý mà nói thì không ai là người có quyền ban cho và không ai
là người phải chịu tội với ai cả.
Lập trường bình đẳng của đạo Phật, biểu hiện cụ thể qua tính "bình đẳng
về nhân bản của mọi con người".
"Sáng soi thấy: TỘI, PHƯỚC không ai ban và ai phạt".
---o0o---
THI CA 5 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ TĨNH TÂM
VÔ NIỆM
Phiên âm:
Thùy vô niệm? Thùy vô sanh?
Nhược thực vô sanh vô bất sanh
Hoán thủ cơ quan mộc nhân vấn
Cầu Phật thi công tảo vãn thành
Dịch nghĩa:
* Ai là người thường ước mơ vô niệm
Ai là người hằng mong đạt đến vô sanh
Vô niệm vô sanh là ước mơ cuồng vọng hảo huyền
Rất oan uổng! Hóa đá một kiếp người tràn đầy linh động.
* Để trắc nghiệm, xin hỏi, "ông Robot" người máy
Quả Bồ đề! Bao năm tháng nữa, ông thành?
Hỏi là hỏi vậy thôi, hỏi tức trả lời
Ai can đảm, đủ sức chờ "ông" giải đáp.
---o0o---
TRỰC CHỈ
Tu đạo Phật, rất cần CHÁNH NIỆM mà không cần VÔ NIỆM. Có thể
nói: Có chánh niệm là có tất cả đức tốt, hạnh lành. Có chánh niệm rất dễ
thành công trên tám nẻo đường "bát chánh". Suốt cuộc đời hóa đạo chúng
sanh, đức Phật không lúc nào rời chánh niệm. Chánh niệm nuôi lớn ngũ căn,
chánh niệm phát triển ngũ lực, chánh niệm gìn giữ thất thánh tài, chánh niệm
trưởng dưỡng thất giác chi. Chánh niệm cũng là chất liệu bổ dưỡng để tưới
tẩm, để đượm nhuần cho quá trình phát triển của 18 pháp bất cộng của Như
Lai Phật.
Tu Phật mà mong cầu VÔ NIỆM là tu sai. Vô niệm thì còn ai để biết, để
tư duy chân lý và những gì phi chân lý!
Tu mà cầu được vô sanh cũng là lối tu sai lạc. Trên cõi đời, có cái gì
không biến chuyển vận hành sinh diệt? Đá gỗ còn không ra ngoài vòng vận
động vô thường "hằng chuyển" sát na sanh diệt, huống hồ là một hữu tình
"tối linh ư vạn vật"!
Mong trở thành người VÔ NIỆM, cầu được chứng đắc VÔ SANH là ý
tưởng cuồng vọng sai lầm và không có ngày hiện thực. Giả sử cái ngày hiện
thực đến, con người VÔ NIỆM VÔ SANH "tệ" hơn loài khoáng vật, thực
vật vô tình… Con người hữu tình, vốn có tri giác lại trở thành người máy có
"cơ quan" điều khiển vậy thôi sao?
Việc làm của người tu hành, tương tợ như việc làm của người huấn luyện
khỉ. Người huấn luyện khỉ có tài là "thuần hóa" được khỉ, dạy khỉ làm trò,
làm xiếc… theo ý muốn của mình. Chứ huấn luyện khỉ làm cho "óc khỉ" trở
thành chứng bệnh phân liệt, không còn hoạt động được gì, đó không phải là
cách huấn luyện khỉ của người có tài, có trí.
Tu hành cần có những giờ phút "tĩnh tâm" nhưng tĩnh tâm, không được
hiểu đó là những phút giây VÔ NIỆM.
VÔ SANH là một ý niệm mà người tu Phật phải từ bỏ dứt khoát. Vô sanh
đồng nghĩa với "đoạn diệt". Tự mình làm cho mình "rớt" vào hàng ngũ của
ngoại đạo "đoạn kiến" là cách tu sai lạc, đáng thương!
---o0o---
THI CA 6 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO Ả NGÃ XẢ
PHÁP LÀ THÀNH PHẬT
Phiên âm:
Phóng tứ đại mạc bả tróc
Tịch diệt tánh trung tùy ẩm trác
Chư hạnh vô thường nhất thiết không
Tức Thị Như Lai Đại Viên Giác
Dịch nghĩa:
* Thân tứ đại đừng sanh tâm chấp đắm
Quay trở về thể vắng lặng của chính mình
Đói thì ăn, khát uống ngại ngùng chi?
Gọi là Ngã thể, vẫn hư thì đời còn chi thật
* Các hành pháp luật vô thường chi phối hết
Tuệ nhãn nhìn, đương thể tức không
Hiểu sâu xa, quán chiếu tận nguồn chân
Tánh của vạn pháp, là NHƯ LAI VIÊN GIÁC
---o0o---
TRỰC CHỈ
Thân tứ đại là thân kết hợp bởi bốn chất: địa, thủy, hỏa, phong. Nó là cái
thân bị lệ thuộc chi phối bởi luật vô thường như vạn vật hiện tượng khác. Nó
còn là cái kết quả của khổ và bất an nhiều mặt. Kinh điển thường ví sự tạm
bợ mong manh vô chủ của nó qua từ "huyễn thân". Ấy thế mà ở đời không
có mấy ai thấy được tánh chất huyễn của nó. Trái lại người ra rất qúi trọng
nó hơn bất cứ thứ gì trên cõi đời. Điều đáng nói là vì nó mà tạo nghiệp bất
thiện, trong suốt cuộc đời để phục dịch vun bồi cho nó không có phút giây
nhàm chán. Ý niệm đam mê luyến ái nặng nề về thân, kinh điển gọi đó là
"chấp ngã", tức là quá tôn tọng cái thân. Rồi vì thân mà tạo ác nghiệp, vì
thân mà chịu khổ…
"Thân tứ đại đừng sanh tâm chấp mắc
Quay trở về thể vắng lặng của chính mình
Đói thì ăn, khát uống ngại ngùng chi
Gọi là "ngã thể" vẫn hư, thì đời còn chi thật.
"Phóng tứ đại" con người sẽ nhẹ nhàng, sẽ có an lạc trong cuộc sống, vì
con người vốn có tánh vắng lặng, thanh tịnh, trong sáng, có thể thọ dụng nó
từ đời này sang đời khác vĩnh viễn không có cạn kiệt.
Nhận thấy được tánh chất "ngã không" thì "pháp không" không còn là
vấn đề khó biết nữa. Chủ thể nhận thức đã là vô thường, vô ngã, khổ, bất
tịnh và không, thì đối tượng nhận thức cũng không vượt qua ngoài sự chi
phối đó! Cho nên người đạt đạo sẽ nhận thấy rõ:
"Chư hạnh vô thường nhất thiết không".
Thấy được tánh "giai không" của vạn pháp, thấy được tánh vô thường
của hành pháp, thì cái NĂNG TRI và SỞ TRI đó trở thành một bầu vũ trụ
NHƯ LAI VIÊN GIÁC nhiệm mầu. Lúc bấy giờ:
Ta không cầu thành Phật
Phật cũng chẳng cầu thành ta
Ta là Phật
Phật là ta.
---o0o---

Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương bài 1 - 3

 CHỨNG ĐẠO CA

Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư

Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 – 2543
THI CA 1 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
Phiên âm:
QUÂN BẤT KIẾN!
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tường bất cầu chân
Vô minh thực tánh tức Phật tánh
Ảo hóa không thân tức pháp thân
Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật
Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc thủy bào hư xuất một
Dich nghĩa:
Ai có biết !
Bậc tuyệt học vô vi nhàn đạo
Vọng không trừ, tưởng chẳng cầu chân
Tánh của vô minh và Phật tánh không hai
Phật Tánh ấy! Chính là thật tánh của Vô Minh đấy!
* Thân ảo hóa với Pháp thân cũng vậy
Ảo hóa thân là hiện tượng của Pháp thân
Biển Pháp thân ví: bản thể vô cùng
Thân ảo hóa tựa sóng mòi lao xao trên mặt nước
* Nhận thức rõ hai thân pháp hóa (1)
Chợt tỉnh ra rằng: "vạn pháp giai không"
Tánh thiên chân là thật tánh của mình
Mình là Phật vốn là thiên chân Phật
* Thân ngũ uẩn chỉ là phù vân tụ tán
Hợp rồi tan trong vũ trụ bao la
Sự diệt sanh, sanh diệt vô cùng
Nó hiện hữu với thời gian vô tận
* Gọi tam độc thực tánh không hề độc
Ví như bọt bèo, sanh diệt huyễn hư
Hể u mê thì tam độc hoành hành
Bằng tỉnh thức, không sao tìm được chúng.
---o0o---
TRỰC CHỈ
Đi con đường Đạo, thường phải qua ba giai đoạn. "Học đạo", Hành đạo"
và "Chứng đạo". Đến giai đoạn CHỨNG ĐẠO, được gọi là con người "nhàn
đạo". Người "nhàn đạo" là người đã vượt qua giai đoạn "học đạo" và "hành
đạo". Vì vậy, người "chứng đạo" còn được gọi là người TUYỆT HỌC, là
người đạt đến VÔ VI, cho nên bậc TUYỆT HỌC, VÔ VI, NHÀN ĐẠO tức
là con người CHỨNG ĐẠO.
Cái thấy của người chứng đạo, không thấy qua cái thấy của nhục nhãn
bình thường mà thấy bằng "Tuệ nhãn". Về "cái thấy", giáo lý đạo Phật dạy
có năm cách nhìn thấy khác nhau. Dựa trên thành quả tu chứng mà cái thấy
của người học đạo, hành đạo và chứng đạo đối với hiện tượng vạn hữu chia
thành năm cách thấy: Cái thấy qua "nhục nhãn". Cái thấy qua "thiên nhãn".
Cái thấy qua "pháp nhãn". Cái thấy qua "tuệ nhãn". Cái thấy qua "Phật
nhãn". Cái thấy qua "nhục nhãn" là cái thấy "tầm thường". Cái thấy qua
"thiên nhãn" là cái thấy "bình thường". Cái thấy qua "pháp nhãn" là cái thấy
của người "đạt đạo", của hàng Tiểu thừa THANH VĂN, DUYÊN GIÁC.
Cái thấy qua "Tuệ nhãn" là cái thấy của người CHỨNG ĐẠO, cái thấy của
căn cơ Đại thừa, của Bồ tát trên đoạn đường gần đến VÔ THƯỢNG
CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC của "Phật nhãn".
Người CHỨNG ĐẠO, nhìn thấy thấu triệt bản chất căn nguyên của vạn
pháp. Nói cách khác, người chứng đạo nhìn hiện tượng vạn pháp họ thấy
được cái "thực tướng" của vạn pháp. Họ biết rất kỹ rằng cái tướng thực của
vạn pháp là "không có gì". Tất cả chỉ là duyên sanh, mà duyên sanh thì như
huyễn, không thật có.
Qua cái thấy của con người chứng đạo, "vọng tưởng" đã là vọng thì còn
quan tâm, còn mơ tưởng, còn kết giao, gá nghĩa với nó được sao? Biết nó
vọng thì mình đã "không vọng". Không vọng là đã tự "chơn" rồi. Do vậy,
"vọng" không phải "trừ", "chơn" không cầu, không cần "mơ ước" mà tự có.
Nước trong, trăng hiện, mây tan, trời hiện, phiền não vô minh hết, Phật
tánh hiện. Trăng vốn sẵn có trong lúc nước ao hồ vẩn đục. Phật tánh thanh
tịnh vốn có trong lúc con người biểu lộ đầy những phiền não vô minh đau
khổ. Giác là Phật, mê là tục tử phàm phu.
"Không trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân".
"Thật tánh của vô minh là Phật tánh".
Kinh điển Phật thường để cập "Tam thân" của con người chứng đạo.
Pháp thân là cái bản thể châu biến. Về thời gian xuyên suốt quá khứ, hiện tại
và vị lai. Về không gian khắp cùng đông, tây, nam, bắc, tứ duy, thượng hạ.
Từ Pháp thân đó, duyên sanh ra các hiện tượng vạn hữu. Ảo hóa thân là một
hiện tượng trong vô vàn hiện tượng "duyên sanh". Vì thế cho nên ảo hóa
thân không ngoài Pháp thân. Từ nơi Pháp thân duyên khởi sanh ra ảo hóa
thân. Ảo hóa thân và Pháp thân, không phải LÀ mà không phải KHÔNG
LÀ. Đó là chân lý "Bất tức, bất ly", trung đạo. Bảo rằng: lu, hũ, chum, ché,
không phải đất. Đúng, nhưng không đúng trọn vẹn. Bảo rằng: lu, hũ, chum,
ché là đất. Đúng, nhưng cũng không đúng trọn vẹn. Mà phải hiểu rằng: lu,
hũ, chum, ché không "là" đất nhưng chúng không ngoài đất. Đất không phải
là lu, hũ, chum, ché, nhưng ngoài đất không làm sao có lu, hũ, chum, ché.
Người biết học đạo, hành đạo theo chánh pháp, không xem khinh thân ảo
hóa, vì biết rằng thân ảo hóa là diệu dụng duyên khởi của Pháp thân. Thân
ảo hóa và Pháp thân "bất tức mà bất ly" như đồ gốm và đất sét của đại địa
mênh mông kia vậy.
"Ảo hóa không thân tức Pháp thân"
Nhận rõ và thực chứng được bản thể thanh tịnh châu biến, chuyên sanh
mầu nhiệm của Pháp thân, bấy giờ chợt tỉnh và thấy rằng tất cả hiện tượng
vạn hữu có cùng một bản thể chung cùng, chỉ do nhân duyên không đồng mà
có sự sai khác. Dù hiện tượng vạn hữu có ngàn sai muôn khác nhưng cái
thấy của người chứng đạo: Tất cả cùng một thể thanh tịnh không hề có sự
vật nầy là nguyên nhân, gây đau khổ cho sự vật nọ.
"Pháp thân giác liễu vô nhất vật".
"Vô nhất vật" là do "người chứng đạo" sử dụng tuệ nhãn, nhìn vạn pháp
bên mặt Tổng. Thấy có nhiều "vạn vật" tại vì dùng nhục nhãn nhìn vạn pháp
bên mặt Dị Biệt duyên sanh của nó.
Từ nhận thức đó, người chứng đạo thấy rằng: "duyên sanh" vạn pháp "vô
tình" cũng như "duyên sanh" vạn loại "hữu tình", cùng có chung một "bản
nguyên", một cội nguồn thanh tịnh là "Thiên chân Phật".
"Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc thủy bào hư xuất một".
Dưới con mắt của người chứng đạo, thân con người kết hợp bởi ngũ uẩn,
duyên sanh. Vì duyên sanh cho nên thân của phàm nhân hay thân của thánh
đức đều chung một dạng "phù hư". Vì là "phù hư" cho nên nó sanh diệt, khứ
lai, tụ tán. Cái điểm ưu việt khác hơn người của con người chứng đạo là họ
thấy rõ và biết kỹ rằng phù vân dù có sanh diệt, khứ lai, tụ tán nhưng nó
không bao giờ mất mà nó vĩnh cửu khứ lai, sanh diệt, tụ tán trong bầu hư
không vốn dĩ bất sanh bất diệt. Dưới cái nhìn của người chứng đạo, vấn đề
sanh tử chỉ là chuyện tầm thường như vô vàn sự vật diệt sanh tan hợp khứ lai
bình thường khác.
Tham, sân, si, nhà Phật gọi chúng là "Tam độc". Vì tánh tác hại của
chúng gây cho loài người không sao kể hết những biến chứng khổ đau cùng
cực do chúng gây ra. Nhưng bình tâm mà nói. Vận dụng tuệ nhãn mà nhìn
thì "tam độc" không có thực tánh. Tam độc cũng có thể xuất hiện khiến cho
con người khổ đau cùng cực. Tam độc cũng có thể biến mất không để lại
một bóng dáng, một dấu vết xấu xa nào. Tam độc có hay không có tùy thuộc
ở con người MÊ hay GIÁC. Thực chất của tam độc là không có chất. Chúng
như những bong bóng nổi chìm sanh diệt của những cơn sóng vỗ mặt ghềnh!
Hiểu rõ chân lý đó, đối với sự tử sanh, sanh diệt của tự thân cũng như của
hiện tượng vạn pháp, người chứng đạo thấy bằng cái thấy bình tĩnh, an
nhiên, không có gì phải lo âu, phải sợ hãi. Chẳng những thế, người chứng
đạo còn thấy biết rõ: Khi mình sanh ra từ đâu và đến và lúc chết sẽ đi về
đâu!
---o0o
THI CA 2 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ NHƠN PHÁP
Phiên âm:
Chứng thực tướng vô nhơn pháp
Sát na diệt khước a tỳ nghiệp
Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh
Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp
Dịch nghĩa:
Chứng "thật tướng" thấy rõ cõi đời "vô tướng"
VÔ TƯỚNG đồng với "vạn pháp giai không"
Tướng "PHÁP", "NHƠN" mà còn chẵng có gì!
A tỳ nghiệp vì gì mà hiện hữu
Đấy lẽ thật, đây lời nói thật
Nói cho mình và hy vọng đến với ai kia
Không có ý chi dối gạt phỉnh phờ
Được phép thệ! Dù thề độc cũng xin cam nhận
---o0o---
TRỰC CHỈ
Người chứng đạo quán triệt thật tướng của vạn pháp là vô tướng, người
ta sẽ không còn chấp NHƠN và PHÁP. Do diệt bỏ ý niệm chấp mà tâm hồn
thanh thoát khinh an đến độ tự tại NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG. Vì vậy, cái gọi
là nghiệp A tỳ nếu có, cũng tự hóa giải tiêu dong. Đó là sự thật mà đạo lý có
thể chứng minh.
Nghiệp A tỳ nếu có, nó phát nguyên từ ý niệm chấp mắc. Chấp nhơn và
chấp pháp là hai đối tượng chấp, nó sanh ra vô vàn đâu khổ và là nguyên
nhân đau khổ. Tám mươi bốn ngàn trần lao phiền não đều do hai thứ chấp
VÔ NHƠN mà ra. Thấy biết rõ tánh chất VÔ NHƠN, VÔ PHÁP thì diệt hết
khổ nạn A tỳ trong sát na là chân lý đương nhiên vậy.
Người học Phật, tu Phật không được THỀ. Vì thiết tha với chân lý, vì
muốn truyền trao chánh pháp trong sáng cho mọi người con Phật, tác giả
CHỨNG ĐẠO CA, phải thốt ra lời: như cam kết, như tự THỀ để nói lên nỗi
lòng thành thật và tha thiết đối với chánh pháp.
"Được phép thệ, dù thề độc cũng xin cam nhận".
---o0o---
THI CA 3 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO SỰ MẦU NHIỆM
CỦA NHƯ LAI THIỀN
Phiên âm:
Bốn giác liễu Như Lai thiền
Lục độ vạn hạnh thể trung viên
Mộng lý minh minh hữu lục thú
Giác hậu không không vô đại thiên
Dịch nghĩa:
Thoắt chứng nhập NHƯ LAI thiền định
Vạn hạnh tròn mà lục độ cũng châu viên
Còn mộng mơ, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết
---o0o---
TRỰC CHỈ
Người tu hành, đến một lúc nào đó có thể chợt tỉnh thức và khi tỉnh thức
người ta có khả năng thể nhập, đi sâu vào Như Lai Thiền. Như Lai Thiền là
thứ Thiền chỉ khi nào đền địa vị Như Lai mới có. Thể nhập Như Lai Thiền
đối với vạn pháp không cần tu mà vạn hạnh tự nhiên đã sẵn đủ. Thể nhập
Như Lai Thiền với lục độ không cần hành mà hành một cách viên mãn rồi.
Bởi vì Như Lai Thiền là thứ Thiền viên mãn và siêu viên mãn nữa.
Vậy NHƯ LAI THIỀN là THIỀN như thế nào?
Đáp: Như Lai Thiền là Thiền kkhông cần ngồi, vì nó vượt cái cần thiết
ngồi. Như Lai Thiền không cần định tâm vắng lặng, vì nó vượt ngoài cái cần
thiết định tâm vắng lặng. Như Lai Thiền là thứ Thiền không cần gia công
dụng ý để thiền, mà thiền trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi và thiền ở mọi nơi
chốn, ở mọi thời gian. Như Lai Thiền là kết quả, là THIỀN RỔI tất cả tám
muôn bốn ngàn thứ thiền khác. Cho nên tỉnh thức và thể nhập Như Lai
Thiền thì không đức tốt, hạnh lành nào là không viên mãn.
Thành quả của Như Lai Thiền được đúc kết qua các tiêu chuẩn như sau:
1. Thân vô thất
2. Khẩu vô thất
3. Ý vô thất
4. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ hành
5. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành
6. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành
7. Trí tuệ tri quá khứ vô ngại
8. Trí tuệ tri hiện tại vô ngại
9. Trí tuệ tri vị lai vô ngại
10.Vô dị tưởng
11.Vô bất định tâm
12.Vô bất tri. Tri hỉ xả
13.Dục vô giảm
14.Niệm vô giảm
15.Định vô giảm
16.Tinh tấn vô giảm
17.Giải thoát vô giảm
18.Giải thoát tri kiến vô giảm
Có ngần ấy tiêu chuẩn thì những đức tốt, hạnh lành trên cõi đời này có
cái thứ nào mà còn thiếu! "Lục độ vạn hạnh thể trung viên", đối với con
người "Đốn giác liễu Như Lai Thiền" hẳn không phải là thứ danh ngôn
cường điệu.
Người đệ tử Phật có học Phật thật, có ham tu thật và có hiểu kỹ về Phật,
người ta không thèm sợ sáu nẻo luân hồi như là: cảnh giới địa ngục, cảnh
giới ngạ quỷ, cảnh giới súc sanh, cảnh giới người, cảnh giới A-tu-la và cảnh
giới trời ở ngoại cảnh. Mà người ta chỉ quan tâm "Lục Thú" ở nội tâm. Lục
thú ở nội tâm nó trực tiếp tác động hoành hành cuộc sống hiện tại của con
người. Đó mới là đáng lo sợ.
Không sợ sự luân hồi của lục thú nội tâm mà chỉ lo sợ cho sự luân hồi lục
thú ở kiếp tương lai thì quả là con người giàu tưởng tượng! "Chẳng khác chi
người chưa làm giàu mà sợ ăn cướp. Chưa ăn cướp mà lo sợ ở tù!".
Vấn đề "đại thiên thế giới, cõi Ta bà" có hay không? Vấn đề "Tây
phương Cực lạc" không hay có? Đó là vấn đề người học Phật phải quán triệt
sâu sắc.
Y cứ nền giáo lý liễu nghĩa thượng thừa và sử dụng tuệ nhãn mà nhìn vũ
trụ vạn hữu trong pháp giới mười phương, thì pháp giới chỉ có một. Pháp
giới "nhất chân" không có hai, không có pháp giới nào khác với pháp giới
nào. Pháp giới có cùng một bản thể "chân như" y nhau. Vì "chân" cho nên
không thể tiêu hoại cho mất đi. Vì "như" cho nên không tăng bổ cho thêm
nhiều. Vì "chân như" cho nên mười phương pháp giới đồng một thể: Bất
sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Qua cái thấy của tuệ
nhãn, chỉ nói tuệ nhãn của người chủng tánh Đại thừa thôi, pháp giới đã là
"nhất chân" rồi. Do nghĩa đó, người chứng đạo thấy rõ ràng.
"Còn mộng mê, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết".
Người đệ tử Phật có chánh niệm, có tư duy, có quán chiếu nội tâm sẽ
thấy rõ cái chân lý đó.
Kinh Hoa Nghiêm đức Phật dạy:
"Nếu ai muốn biết rõ
Mười phương Phật ba đời
Nên quán chiếu thể tánh của Pháp giới
Hết thảy do tâm mình kiến lập"
Do vậy:
"… Còn mộng mê, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết".
---o0o---