Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2024

PDK. Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.(tt) Lúc nào sẽ chấm dứt Sanh tử ?

Thông thường, khi quán sát sanh tử.- Người ta thấy có Sanh thì có Tử mà sanh tử là sầu Khổ ! Do vậy, người ta khởi ý niệm "Tu để không còn Sanh Tử !".- Sự thật việc ấy như thế nào ?
Thật ra: Tâm Chân Như là Bản Thể- Ví như Biển, mà việc Sanh Tử là hiện tượng duyên sanh ví như sóng.
Hể Biển mà có nhân duyên thì có Sóng. Thế thì: Biển nào cũng có sóng- Hiền hay dữ mà thôi. Bản Thể nào cũng có Hiện Tượng- Trầm luân hay giải thoát mà thôi.
Ở Chứng Đạo ca Tổ Huyền Giác nói:
Ngã sư đắc kiến Nhiên-Ðăng Phật,
Ða kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên.
Kỷ hồi sinh? kỷ hồi tử?
Sinh tử du du vô định chỉ.
nghĩa:
Thầy ta được thấy Nhiên-đăng Phật,
Bao kiếp từng làm tiên nhẫn nhục.
Mấy hồi tử, mấy hồi sanh?
Sanh tử mơ màng không định dứt!
(CĐC VIII Tự giác)
Chính Đức Phật dạy trong kinh Bát Nhã:
"Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận."
Nghĩa:
"Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết".
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
6

Duyên Khởi Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.(tt) Bản Thể Vô Sanh- hiện Tượng có Sanh tử.

Tổ Huyền Quang dạy:
Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch.
Bổn vô nhơn ngã chi huyễn tướng, hà hữu sanh tử chi giả danh.
Nhân tối sơ nhất niệm sai thù, tùng mộng tưởng hữu tư sanh diệt.
Tuy vân diệt:
Diệt nhi bất diệt, tằng Đạt Ma chích lý Tây quy.
Sanh nhi bất sanh, nãi Thích Tôn song lâm thị tịch.
Nhược phi nhất nhơn hiểu liễu, nan miễn tứ đại tương man.
Cố Nhơn Thiên thượng hữu luân hồi, huống phàm cơ đắc vô sanh tử.
Kim vị tang chủ, linh tiền khốc huyết, thống duy: cố ....
Quyên tam xích chi huyễn xu, nhập cửu tuyền chi dị lộ.
Lâm thời hoảng hốt, phách tán hồn phiêu.
Tuy vân:
“Sanh viết ký nhi tử viết quy ”, bất xuất tứ sanh chi nội;
Nãi nhược, thăng vu thiên nhi giáng vu địa.
Tổng quy lục đạo chi trung.
Ô hô !
U quan ảm đạm minh tiền đồ, triền nghiệp lực nan năng giải thoát. Tuyền giới bàn hoàng sầu dị lộ, trượng Phật lực nhi toại tiêu diêu.
DỊCH NGHĨA
Tằng nghe rằng:
Giác tánh viên minh, xưa nay vắng lặng.
Vốn không ngã nhân huyễn tướng, nào có sanh tử giả danh!
Nhơn đầu tiên một niệm sai lầm, tùy vọng tưởng có sanh có diệt.
Tuy nhiên:
Diệt nào có diệt, Đạt Ma Tôn giả, quảy dép về Tây;
Sanh mà không sanh, Thích Ca Thế Tôn, song lâm nhập diệt!
Nếu không một phen thấu triệt, khó khỏi nhiều kiếp nổi trôi.
Nên, người trời còn có luân hồi, huống phàm thứ há không sanh tử?
(hết trích)
Lời bàn:
Trong Thật tế là không có sanh tử. Chỉ do "Nhơn đầu tiên một niệm mê lầm, theo vọng tưởng mà thấy có sanh có diệt".- Hiểu được lẻ này là thấy được NGỘ VÔ SANH. Mà Tổ dạy: "Hoa khai kiến Phật Ngộ Vô Sanh" là đây.
“Phần lớn chúng ta vì còn mê lầm nên chỉ thấy huyễn tướng mà chưa biết quán chiếu để thấy được thật tướng của pháp đó là tướng không bất sinh bất diệt….”
Tướng không không sinh không diệt có nghĩa là tướng không đã có từ vô lượng kiếp trước và nó còn tồn tại đến vô lượng kiếp sau này. Cái mà ta thấy sinh ra và mất đi đó là sinh ra và mất đi của ngũ uẫn (huyễn tướng), còn tướng không (thật tướng) thì không sinh không diệt.
khi ta thấy một người mới mất đi, đó là ngũ uẩn của họ ở kiếp này vừa mới mất đi, nhưng tướng không của người đó vẫn còn đó, và nó sẽ đi cõi mới với hình hài ngũ uẩn mới.
Vì sao tướng không bất cấu bất tịnh (không dơ không sạch)? Sạch và dơ bẩn là hai mặt đối đãi trong thế gian pháp, đó là đặc tính của huyễn tướng (ngũ uẩn). Nhưng khi xét về bản chất của pháp (tướng không), tướng không các các pháp đều giống nhau và thực sự không có pháp nào mang bản chất là dơ hay sạch. Vì tướng không rỗng lặng (không chứa gì trong nó cả) và không do duyên hợp của các pháp khác tạo thành, nên nó không bị cấu nhiễm bởi các pháp khác.
Vì sao nói tướng không không tăng không giảm? Khác với huyễn tướng vì có hình dạng nên thay đổi và có thể tăng giảm, tướng không là bản chất của pháp nên bất biến, không tăng không giảm dù nó ở bất kỳ trạng thái nào. Ví dụ như nước, dù ở thể lỏng, thể hơi, thể rắn, thì tướng không của nước vẫn vậy, không thay đổi, không thêm không bớt. Dù nước có kết hợp để tạo thành các pháp mới, nhưng bản chất nước dù ở bất kỳ đâu vẫn không thay đổi, vẫn là nước, vẫn nguyên vẹn đầy đủ đặc tính mà không thêm không bớt.
Đức Phật giảng về ngũ uẩn và câu này giảng về tướng không, ta có thể đúc kết lại rằng huyễn tướng (bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức) bị sinh diệt theo luật vô thường, còn tướng không (thật tướng) bất sinh bất diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm. Vì vô minh nên ta trụ vào huyễn tướng nên còn đau khổ. Các Bồ Tát và Đức Phật là Bậc giác ngộ nên thấy được thật tướng thường hằng nên không trụ vào huyễn tướng nên không còn đau khổ.(trích )
Do vậy kinh Hoa Nghiêm Phật dạy:
Quan sát nơi các pháp
Đều không có tự tánh
Tướng nó, vốn sanh diệt
Chỉ là danh thuyết giả.
Tất cả pháp vô sanh
Tất cả pháp vô diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.
Pháp tánh vốn không tịch
Vô thủ, cũng vô kiến
Tánh không, tức là Phật
Chẳng thể nghĩ lường được.
(Tu Di Đảnh kệ tán- Hoa Nghiêm kinh)
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
7

Duyên Khởi. Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.(tt) Bản Thể Vô Sanh- hiện Tượng Sanh tử.

Pháp Bảo Đàn- Phẩm Cơ Duyên có mẫu chuyện:
Thiền Sư Huyền Giác (665-712)
(Đời thứ 1 sau Lục Tổ)
Vĩnh Gia, Ôn Châu
Lục Tổ Huệ Năng → Vĩnh Gia Huyền Giác
Sư họ Đới, quê ở Vĩnh Gia Ôn Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Sư xem khắp ba tạng Kinh, trí đức viên mãn, trụ trì chùa Hưng Long. Sư tinh thâm về pháp môn Chỉ Quán của Đại sư Trí Khải ở núi Thiên Thai, trong bốn oai nghi lúc nào cũng khế hợp thiền quán. Thấy cạnh chùa dưới sườn núi có cảnh đẹp, Sư bèn xuống cất một Thiền am, lưng tựa ngọn núi xanh, hông kề dòng suối trong. Sư sống một đời thanh đạm, không hề nghĩ đến việc thế tục.
Sư nhân xem kinh Duy Ma phát minh được tâm địa. Gặp đệ tử của Lục Tổ là thiền sư Huyền Sách, hai bên nói chuyện với nhau đều thích hợp lời chư Tổ.
Huyền Sách hỏi: Nhân giả đắc pháp nơi thầy nào?
Sư đáp: Tôi nghe trong các kinh luận Phương Đẳng mỗi vị đều có thầy trò trao truyền. Sau xem kinh Duy-ma ngộ được Tâm tông, mà chưa có người chứng minh.
Huyền Sách bảo: Từ đức Phật Oai Âm Vương về trước, không có thầy chứng minh thì được. Từ đức Phật Oai Âm Vương về sau, không thầy tự ngộ đều là ngoại đạo thiên nhiên.
Sư nói: Xin nhân giả vì tôi chứng minh.
Huyền Sách bảo: Lời nói tôi nhẹ lắm. Ở Tào Khê có Lục Tổ đại sư bốn phương học giả tụ họp về thọ pháp, nếu nhân giả muốn đi thì tôi cùng đi với.
Sư bèn theo Huyền Sách đi đến Tào Khê.
Đến nơi, Sư tay cầm tích trượng vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng. Tổ hỏi: Phàm Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, Đại đức là người phương nào đến, mà sanh đại ngã mạn như vậy?
Sư thưa: Sanh tử là việc lớn, vô thường quá nhanh.
Tổ bảo: Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sanh, liễu chẳng mau ư?
Sư thưa: Thể tức vô sanh, liễu vốn không mau.
Tổ khen: Đúng thế! Đúng thế!
Lúc đó đại chúng nghe nói đều ngạc nhiên. Sư bèn đầy đủ oai nghi lễ tạ Tổ. Chốc lát sau Sư xin cáo từ.
Tổ bảo: Trở về quá nhanh!
Sư thưa: Vốn tự không động thì đâu có nhanh.
Tổ bảo: Cái gì biết không động?
Sư thưa: Ngài tự phân biệt.
Tổ bảo: Ngươi được ý vô sanh rất sâu.
Sư thưa: Vô sanh có ý sao?
Tổ bảo: Không ý, cái gì biết phân biệt?
Sư thưa: Phân biệt cũng không phải ý.
Tổ khen: Lành thay! Lành thay!
Sư ở lại đây một đêm để hỏi thêm đạo lý. Sáng hôm sau, Sư cùng Huyền Sách đồng xuống núi trở về Ôn Giang. Thời nhân gọi Sư là Nhất Túc Giác (một đêm giác ngộ).
Từ đây về sau, học chúng bốn phương tìm đến tham vấn Sư thật đông. Sư được tặng hiệu là Chơn Giác Đại Sư.
Đời Đường niên hiệu Tiên Thiên thứ hai (713) ngày mười bảy tháng mười, tại viện riêng ở chùa Hưng Long, Sư ngồi vui vẻ thị tịch, thọ bốn mươi chín tuổi. Vua sắc ban là Vô Tướng Đại Sư, tháp hiệu Tịnh Quang.
Tập Chứng Đạo Ca và Thiền Tông Ngộ Tu Viên Chỉ do Sư trước tác, sau này môn đồ là Ngụy Tinh làm Thích sử Khánh Châu, góp lại làm thành mười thiên gọi là Vĩnh Gia Tập. □
[TSTH1 – HT]
(hết trích)
Lời bàn:
Sư Huyền Giác nêu vấn đề: Sanh tử là việc lớn, vô thường quá nhanh.
Sư thưa: Thể tức vô sanh, liễu vốn không mau.
Tổ khen: Đúng thế! Đúng thế!
Ý nói việc Sanh Tử là Vô Thường- Thời gian chóng qua cái chết liền đến.
Tổ bảo: Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sanh, liễu chẳng mau ư?
Ý Tổ khai thị: Bản Thể Chân Như Tâm là VÔ SANH, thấu hiểu Thật Tướng thì Thời gian chẳng có, thì làm gì có nhanh chậm.
Huyền Giác thưa: “Thể tức là vô sanh, liễu vốn không có mau.”
Tổ bảo: “Như thế, như thế !”
Đây là Chân Lý : Bản Thể Vô Sanh- hiện Tượng Sanh tử.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3