Thứ Ba, 2 tháng 4, 2019

VẤN ĐỀ 1 ; HIỂU TU và TU ĐẠO PHẬT..

VẤN ĐỀ 1 ; HIỂU TU và TU ĐẠO PHẬT..
.
Con người, bất cứ ai với " cái từ TU " đều nghe dể chịu trong mọi hoàn cảnh, mọi thời gian bởi nó hàm ý là một sự sửa chữa CHO ĐƯỢC TỐT HƠN trước đây. Và như thế từ TU trở thành dể dải cho người dùng nó, nó bắt đầu đi vào phạm vi khác - như Phật giáo .....và...và nó SAI, sai hoàn toàn với TINH THẦN GIẢI THOÁT KHÔ mà Thái Tử Tất Đạt Đa đã " xả thân, liều mạng " mới NHẬN RA !!. TU PHẬT là để GIẢI THOÁT KHỔ cho con người trong cuộc sống hiện tại con người ĐANG KHỔ chứ KHÔNG PHẢI LÀ ĐỂ LÀM CHO TỐT HƠN mặc dầu khi BỚT hay HẾT khổ những Đức tánh tốt SẼ HIỆN HỮU.
Trên phương diện cuộc đời, trong cách hành xử với nhau, trong phạm vi đối nhân xử thế hay trong Đạo nhân TU là mong muôn TỐT HƠN, LÀNH HƠN, và như thế tâm trí tôi chỉ có một khả năng lập đi lập lại, thực hành từ ngày này qua ngày khác một phương pháp nào đó, rập khuôn theo một hệ thống nào đó để cuối cùng tôi sẽ GIỐNG '" một mẫu mực nào đó.... TỐT ", với cố gắng, đương nhiên phải cố gắng rồi.....tôi ĐƯỢC một KẾT QUẢ, có một THÀNH QUẢ như đã DỰ KIẾN - một mô thức sống, một mẫu mực đã quy định, nghĩa là tâm trí tôi ĐÃ sao chép, bắt chước lập lại mà thôi, nghĩa là tôi cố gắng học hỏi, huấn luyện tâm trí của tôi hay nói cách khác tôi vặn vẹo, uốn nắn, tâm trí của tôi, để trong quá trình đó hay đến lúc nào đó với hy vọng của mình - tôi đạt được một phần thưởng vào lúc kết thúc, lời đánh giá tốt, một tấm bằng khen. bằng một giá trị mà xã hội con người chấp nhận hay ít ra tôi khen tôi. Cho dù lúc đó tôi có khác hơn lúc trước nhưng chắc chắn suốt quá trình đó TÔI MẤT TỰ DO, tôi bị tôi chèn ép, tôi phải rập khuôn.....!!!. Và chẳng biết gì ngoài " cái tôi đã học " cái tôi ĐÃ BIẾT, tôi đã nghe .
Nhưng TU trong Phật giáo KHÔNG PHẢI THẾ. hoàn toàn không phải thế......
Nếu chúng ta cứ giữ quan điểm tu như thế thì đó là một SAI LẦM, một cách không thể chấp nhận trong Phật giaso... nhất là Phật giáo nói riêng.
Bạn có thấy, có khám phá ra rằng bằng cách như thế thì kết cuộc là những gì Bạn đã DỰ KIẾN hay NGHE NÓI " lúc đầu " không ?. Trong quá trình đó Bạn khư khư với những hứa hẹn, những thú vui, những phần thưởng, những hình phạt mà hệ thống đó vẻ ra đã làm cho tâm trí trở thành máy móc, ngu đần, hôn trầm, mê mẫn...lúc khởi đầu bằng sự gò bó, ép buộc, không tự do ...vào lúc khởi đầu Bạn đã đặt ra một con đường mà tâm trí phải theo thì làm gì quá trình đó cho phép Bạn tự do quan sát, khám phá, thì làm gì có quá trình đó cho phép Bạn tự do, tự tại để THẤY, BIẾT cái gì khác hơn cái mà nó " được cho biết trước và mong đợi ".
Thế Bạn chỉ có lại CÁI ĐÃ BIẾT hoặc Ai đó ĐÃ BIẾT và nói lại Bạn nghe hay những TƯỞNG THỨC mà Bạn đã đặt ra mà thôi.
Thế nhưng trong Phật giáo TU nhất định không phải là chúng ta muốn nói đến một cái gì đó phải được thực tập, phải lập đi lập lại, nhái đến nhái lui, hành trì - nghĩa là chúng ta không thể chấp hành, theo một phương pháp, một pháp môn, một tông phái nào cả; nghĩa là chúng ta không thể giữ gìn, tuân thủ một hệ thống giáo điều, giáo quy, giáo bang nào cả.
Đây là một SAI LẦM, sai lầm trầm trọng vì chúng ta quá dể dui ....hời hợt, cho nên chúng ta cứ mãi nói chúng ta đã tu, đã mà tham thiền mà sao chúng ta KHÔNG GIÁC NGỘ mà chỉ được Thầy, Sư phụ khen và CHƯA GIẢI THOÁT KHỔ !!.
tiếp.....2.


Thứ Ba, 26 tháng 3, 2019

Hậu Chùa Ba Vàng Đắng Lòng Người Học Phật

Hậu Chùa Ba Vàng Đắng Lòng Người Học Phật (https://www.youtube.com/watch?v=xDQLOXHYL0w&t=54s)
Bạn Trúc Viên Trang tham vấn:
Pháp Niệm Phật Vãng Sanh, Hộ Niệm Vãng Sanh, Cầu An, Cầu Siêu,… Có Phải Là Pháp Do Phật Chỉ Dạy Hay Không?
Nhân sự kiện Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ làm Phật môn dậy sóng khiến rất nhiều người học Phật cả Tăng lẫn tục rơi vào vòng xoáy thị phi điên đảo, bạn Trúc Viên Trang đã cảm thán và hoài nghi tham vấn Ngạo Thuyết rằng:
Vậy pháp niệm phật vãng sanh..hộ niệm vãng sanh có phải pháp của Đức Phật không? Cầu an cầu siêu? Trai đàn chẩn tế? Trai tăng? 49 ngày đại tưởng tiểu tưởng? Tham gia xã hội...? Cho Trúc Viên Tra hỏi là pháp phật dạy...chứ?
Nếu phải thì phát huy..mà nếu không phải mà người học Phật cứ làm thì có bị gì không?
Ai là người ... phán quyết điều này?
Trong giới luật sadi cấm rờ đến tiền bac....vậy bây giờ tỳ kheo giữ tiền có trái với giới luật không?
Bạn Trúc Viên Trang lập luận:
Cuộc đời ngắn ngủi... như mộng, như chiêm bao nếu rảnh rang đi tìm đúng sai ..mình nghĩ như đi nắm hư không... như lấy vàng bắn chim... danh và lợi như là cái bánh vẽ, tranh giành để nắm lấy chiếc bánh vẽ thì thật vô nghĩa..., việc tranh giành tham đắm dễ khiến việc mình quên đi thực tại, quên đi rằng mình đang sống… biết bao bất công, biết bao điều dối gian, trí trá ... ở cuộc đời nơi mình, người… có lẽ vậy... mình nghĩ đó là pháp phật. Phật có nói: Cuộc đời là để nhận thức chứ không phải giải quyết nó... không biết nên làm sao?

Trả Lời Những Câu Hỏi Của Bạn Trúc Viên Trang, Ngạo Thuyết đáp rằng:
Trước tiên Ngạo Thuyết trả lời câu hỏi ai là người phán quyết sự đúng sai, chánh tà ở các pháp mà người đời sau nói rằng là pháp Phật. Về người phán quyết ở đạo Phật có thể nói là không có người phán quyết cụ thể, đây là điểm khác biệt khách quan và cũng đồng thời là khuyết điểm tối hậu ở đạo Phật so với ngoại đạo. Với các tôn giác khác như Nhất Thần Giáo thì ngoại đạo vì muốn ép tín đồ thuần phục, lệ thuộc hoàn toàn thì vai trò người phán quyết được giới lãnh đạo tinh thần được tối ưu hóa và bất khả xâm phạm.
Cụ thể như vai trò của đức giáo hoàng ở Kito giáo, đây là người phán quyết tối cao của Kito giáo, nhân vật này có đặc quyền phán quyết đúng sai dựa trên nền tảng hiểu biết cá nhân về kinh Thánh, về tri thức cộng đồng. Tính chủ quan, bảo thủ cá nhân ở đức giáo hoàng là rất lớn. Tuy nhiên, do có được đặc quyền đại diện Tiếng nói của Chúa nên lời nói của Đức giáo hoàng luôn đúng và bất khả xâm phạm. Và tín đồ con chiên của Chúa buộc phải tin một cách tuyệt đối, tin một cách thuần phục về những điều hoang đường, vô lý. Đơn cử như có một thời Giáo Hội Công Giáo bảo thủ rằng trái đất có hình vuông, vũ trụ - con người do một tay Chúa Cha nhào nặn, tượng hình trong 6 ngày, việc Đức mẹ Maria đồng trinh mà vẫn có thể sinh ra Chúa Jesu nơi máng cỏ. Hiển nhiên là những phán quyết này sẽ do Đức giáo hoàng xác lập, những lời phán quyết đấy hoàn toàn không đúng nhưng những lời phán quyết thiếu hiểu biết đó đã từng khuynh đảo cả mặt bằng chung tri thức loài người trong suốt một khoảng thời gian rất lâu xa. Và chi phối, ảnh hưởng đến con chiên ngoan đạo ngay đến tận bây giờ.
Đạo Phật không có việc áp đặt, ép uổng tín đồ Phật tử theo lối như thế. Phật dạy hãy tự thắp đuốc mà đi tức là người học Phật phải vận dụng trí tuệ của bản thân nhìn nhận, nhận thức, tư duy các pháp một cách khách quan, trong sáng nhất có thể. Nếu bản thân thiếu tri kiến Phật học thì nên gần gũi thiện tri thức học hỏi, tham vấn. Tuy nhiên, việc gần gũi thiện tri thức không đồng nghĩa việc giao phó tuệ tri, vận mạng của mình cho thiện tri thức mà người học Phật phải dùng tuệ tri tăng trưởng quán chiếu, tư duy, nhìn nhận lại những điều mà thiện tri thức chia sẻ có khế hợp với Phật pháp, với đương thời hay không.
Người phán quyết ở đạo Phật không lập thành chế định. Việc đúng sai, chánh tà ở các pháp sẽ do các thiện ác tri thức nhận diện và mỗi người học Phật phải tự quán chiếu, tư duy lại. Vai trò người tỏ ngộ hay nói cách khác là người sáng mắt nơi đạo Phật là người hoàn toàn có thể nhận diện đúng đắn việc đúng sai, chánh tà ở các pháp, song họ sẽ không buộc đại chúng phải tin nhận một cách tuyệt đối hoàn toàn. Họ có thể xác quyết việc đúng sai, chánh tà trong từng trường hợp, từng pháp cụ thể nhưng họ vẫn để ngỏ khả năng tư duy, nhận diện chánh pháp ở đại chúng học Phật.
Chính do không chế định hay nói đúng hơn là không thể chế định ra người phán quyết bởi lẽ người tỏ ngộ, chứng đắc hoàn toàn Phật pháp không hẳn lúc nào của xuất thế, hộ pháp nên những khi thiếu bóng dáng của Giác Giả trụ thế thì giáo lý đạo Phật dễ thường xảy ra hiện tượng đúng sai hỗn độn, chân ngụy rối bời. Đấy chính là khuyết điểm tối hậu của đạo Phật khi không có người phán xét chế định. Tuy nhiên, một khi giáo lý đạo Phật hãy còn đó thì tùy thời, khi khổ não chúng sinh Tam giới chạm đến sự cùng cực đau thương, Giác Giả sẽ xuất thế tùy duyên minh định lại chánh pháp, vạch rõ ranh giới chánh tà, chân ngụy ở đạo Phật, ở vạn pháp.

Về pháp niệm Phật vãng sanh, hộ niệm vãng sanh, cầu an, cầu siêu, cúng sao giải hạn, trai đàn chẩn tế, Trai Tăng, 49 ngày đại tưởng, tiểu tưởng, tham gia công tác xã hội,… có phải là pháp do Phật khởi xướng, xác lập hay không?
Phần đa những hình thức mà giới Tăng Bảo đạo Phật ngày nay đang chi trì đều không phải do Phật Thích Ca chế định. Một số rất ít trong các hình thức hoằng pháp ở Tăng Bảo đương thời đang lạm dùng mà bạn đề cập đến ở trên đã từng là một pháp phương tiện khéo để giúp người học đạo biết đến chánh pháp đạo Phật. Và những pháp phương tiện này vốn là pháp hành của ngoại đạo, Phật Thích Ca đã tùy biến ngõ hầu giúp người học đạo đến gần với đạo Phật.
Tiếc rằng giới Tăng Bảo từ lâu xa đã không thấu tỏ, hoặc có thể rõ biết đó là pháp hành ngoại đạo nhưng lại vì danh lợi nên vẫn lạm dùng các pháp phương tiện trên nhưng không theo đúng tinh thần chánh pháp đạo Phật mà hoàn toàn là pháp hành của ngoại đạo. Có thể nói các vị Tăng Bảo đã hành pháp phương tiện đạo Phật nhưng đã biến thể hoàn toàn thành pháp hành dẫn dụ ngoại đạo.
Những việc như cầu an, cầu siêu, cúng sao giải hạn, cúng vong tức trai đàn chẩn tế,… là những việc mà Phật Thích Ca bài trừ, khuyên dạy người học Phật nhất thiết phải xả bỏ khi dấn thân trên con đường chánh đạo giác ngộ giải thoát.
Việc tham gia công tác xã hội là điều mà Phật không khuyên Tăng chúng dấn thân. Phật dạy Bồ tát, tức người học Phật có tâm hạnh bồ tát – trước hãy tự giác, sau mới giác tha, hành được như vậy giác hạnh đồng viên mãn. Thế nên Phật khuyên người nên tự độ trước sau mới ra sức độ người bởi lẽ người mù chẳng thể dẫn người đi xa, đi đúng lối được. Ngu dốt mà nhiệt tình quá thành ra phá hoại chứ đâu thể hoằng pháp đúng với tinh thần chánh pháp đạo Phật.
49 ngày đại tưởng, tiểu tưởng hiển nhiên không do Phật Thích Ca bày ra, đấy chỉ là chiêu trò của người học Phật chưa ngộ.
Pháp niệm Phật vãng sanh, hộ niệm vãng sanh thời Phật Thích Ca là hoàn toàn không có. Và Phật Thích Ca cũng không truyền dạy pháp niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương. Tuy nhiên, ngoại đạo thời Phật tại thế có những pháp hành tương tợ như pháp cầu siêu, pháp nguyện cầu trợ duyên cho người bệnh tật, già yếu chết dễ.
Và bởi do người đời ở các nước quanh lưu vực sông Hằng có tín tâm với giới Tăng lữ, Bà la môn, các vị giáo chủ tôn giáo,… nên khi người nhà mất họ sẽ mời giới Tăng lữ, Bà la môn đến cầu nguyện, làm lễ rửa tội, lễ thánh tẩy để người sống an lòng, người chết an tâm. Phật và các vị đệ tử Phật được giới cư sĩ tại gia tín tâm, thuần phục nên những khi gia đình tín đồ đạo Phật có hữu sự cũng được mời đến. Do nhân duyên đó Phật đã tùy biến dùng việc thăm viếng người đã khuất khi được mời thỉnh làm phương tiện thuyết giảng chánh pháp độ sinh, Phật và đệ tử Phật sẽ thuyết giảng về Tứ diệu đế, về Bát chánh đạo. Và với đời sống của người xuất gia học Phật với 3 y 1 bát thì việc dùng phương tiện tạm gọi là cầu siêu để thuyết giảng chánh pháp Phật môn sẽ không đòi hỏi, không nhận lấy tiền cúng đám, hành lễ.
Trai Tăng không phải là việc Phật chế định, lễ Trai Tăng ra đời do bởi những vị cư sĩ vì kính ngưỡng Phật cùng giáo đoàn khất sĩ mà tổ chức ra việc dâng vật thực, cúng dường thuốc men, y bát,… Nói cho rốt ráo thì Lễ Trai Tăng cũng chỉ là lễ tiết của người đời dành cho chư Tăng Bảo lấy giới hạnh nghiêm thân. Tuy nhiên, ngày nay giới Tăng Bảo lạc lối chánh pháp sa đà lợi dưỡng đã làm lệch lạc đi ý nghĩa cũng như giá trị thật của những buổi lễ Trai Tăng, những buổi lễ Trai Tăng được tổ chức hoành tráng khuyến dụ người học Phật tu phước tranh giành nhau cúng dường, dâng y, dâng bát.
Đạo Phật ngày nay với sự quản lý điều tiết thiếu tâm, thiếu tầm của người làm công tác quản lý tôn giáo cũng như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đã từng bước hủy hoại chánh pháp sáng rõ nơi đạo Phật. Những điều mê tín dị đoan của ngoại đạo lần lượt được thành phần Tăng Bảo chèn vào đạo Phật, họ ra sức PR, makerting cho tà pháp ngang nhiên xâm hại sự sáng rõ minh bạch nơi viên ngọc quý chánh pháp.
Câu hỏi những việc như pháp niệm Phật vãng sanh, hộ niệm vãng sanh, cầu an, cầu siêu, cúng sao giải hạn, trai đàn chẩn tế, Trai Tăng, 49 ngày đại tưởng, tiểu tưởng, tham gia công tác xã hội,… không phải là chánh pháp mà là sự mê tín dị đoan nếu không loại trừ mà tiếp tục phát huy thì vấn đề sẽ ra sao, có bị nguy hại gì?
Câu trả lời là khi tà kiến, mê tín được gieo rắc sâu rộng vào lòng xã hội loài người thì đương nhiên là cuộc sống nhân sinh sẽ đảo lộn, âm thịnh – dương suy sẽ khiến việc vong nhập thêm nhiều làm náo loạn, khổ não giăng giăng. Tà kiến, tà pháp vượng thì chánh tín, chánh pháp suy vong, khổ não, phiền muộn, hận thù sẽ bức bách loài người.
Sadi không được rờ đến tiền chỉ là chế định của người đời sau nhằm ngăn chặn những người học Phật giai đoạn tập tu tham đắm tài vật, lạc lối chánh pháp. Tỳ kheo tích trữ, thâu đoạt tiền của có phạm giới luật không? Đây là câu hỏi rất ý vị. Người xuất gia chân chính sẽ sống đời với 3 y 1 bát, tỳ kheo mà không thuận hành 3 y, 1 bát thì vốn đã có thể xếp vào hạng tỳ kheo phạm giới rồi. Tham đắm tài vật, dùng mưu chước thâu đoạt của cải thì vị tỳ kheo đó đã đánh mất hoàn toàn giới thể, so với phàm phu hạng tỳ kheo đó đã không xứng hỏi rằng vị tỳ kheo đó có phạm giới luật không nghe thật đau lòng.
Trúc Viên Trang lại nói “Cuộc đời ngắn ngủi... như mộng, như chiêm bao nếu rảnh rang đi tìm đúng sai ..mình nghĩ như đi nắm hư không... như lấy vàng bắn chim... danh và lợi như là cái bánh vẽ, tranh giành để nắm lấy chiếc bánh vẽ thì thật vô nghĩa..., việc tranh giành tham đắm dễ khiến việc mình quên đi, thực tại, quên đi rằng mình đang sống… biết bao bất công, biết bao điều dối gian, trí trá ... ở cuộc đời nơi mình, người… có lẽ vậy... mình nghĩ đó là pháp phật. Phật có nói: Cuộc đời là để nhận thức chứ không phải giải quyết nó... không biết nên làm sao?”.
Cuộc đời ngắn ngủi như giấc chiêm bao ai đã sống được với lối lập luận đó hay đấy chỉ là lời nói suông. Chúng sinh Tam giới trôi lăn trong giấc trường mộng vô minh chưa biết đến ngày ra cớ sao lại tự trói mình vào kiến chấp cuộc đời như giấc mộng ngắn ngủi rồi từ bỏ giềng mối thoát khỏi lưới mộng vô minh luân hồi sinh tử. Danh lợi phù vân chỉ đúng với người có chí hướng thoát trần, xuất thế. Còn với đại đa số nhân sinh thì danh lợi luôn có sức cám dỗ lớn lao và có lắm kẻ sẳn sàng đoạt vật, mất người không tiếc. Người đời si mê là thế! Do đó, nhân sinh hàng ngàn năm vẫn cứ tranh đoạt, tham lam, trí trá, dối gian… người học Phật là người phải nhìn vào đấy, nhìn vào những Tham Sân Si Mạn Nghi đó cho thấu tột ngõ hầu hóa giải, chuyển hóa tất cả để thoát ra khỏi những mê lầm nhân vay, quả trả.
Cuộc đời là để nhận thức chứ không phải giải quyết nó, câu nói này không phát ra từ kim khẩu Phật Thích Ca. Một ai đó đã trí trá lộng giả thành chân, ngụy tạo một câu nói có hơi hướm minh triết thành lời Phật nói, điều này thật vô sỉ! Đáng tiếc!

Bóng ma vẫn lởn vởn trên bầu trời Phật pháp. Chuyện xưa kể rằng một thuở có một kẻ hãy còn u mê, nông nổi đã lập ngôn thế giới này vô thần. Và có một bầy đàn người đã tin nhận đều đó lập ra chủ nghĩa vô thần chuyên đả phá thế giới duy tâm, cho rằng những cõi giới vô hình không có. Với công cụ quyền lực trong tay những kẻ vô thần đó ra sức triệt hạ, tìm diệt những tôn giáo, những người theo chủ thuyết duy tâm. Việc làm sai trái, tầm bậy, tầm bạ này đã đẩy xã hội loài người vào vũng lầy của lòng tham và sự thực dụng.
Và ngày nay … tiếp nối những sai lầm xưa cũ, có những kẻ nắm trong tay quyền lực sinh sát đó lại không thừa nhận sai lầm ở việc đã truyền bá tư tưởng vô thần si mê, họ lại sai lầm hơn nữa khi hợp thức hóa việc có “vong nhập”, “Thỉnh vong”,… để gieo tà kiến rộng khắp xã hội loài người.
Ô hay! Chủ nghĩa vô thần thì vẫn cứ vô thần nhưng sau rốt lại làm bạn lữ với ma, cùng nắm tay ma, dắt dìu nhau đi vào ngõ tối. Thật gớm ghê thay ở lòng Tham khôn lường của con người.

Theo nguồn tin không chính thức nhưng khá tin cậy là Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ sẽ được hợp thức hóa, điều đó đồng nghĩa với việc mô hình Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ sẽ được nhân rộng ra toàn quốc. Do đó, có thể mai này chư Tăng sẽ kéo về chùa Ba Vàng nườm nượp để học cho kỳ được diệu pháp lừa người, mị dân. Thầy Thích Trúc Thái Minh - Chùa Ba Vàng sẽ từ vị trí tội đồ sẽ trở thành công thần trong việc triển khai mô hình điểm Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ.
Và hẳn là để hợp thức hóa điều này trong tình hình sóng gió Phật môn quá ư đa biến, và nếu vượt mức kiểm soát thì bàn tay ma sẽ chặn đứng dư luận bằng cách khóa mõm cơ quan ngôn luận báo đài về những vụ việc liên quan đến chùa Ba Vàng. Một khi dư luận lắng xuống, lộ trình hợp thức hóa Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ chính thức xác lập.
Điều này liệu có thể xảy ra không? Việc này hẳn là hồi sau sẽ rõ.
Doanh thu từ Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ, cầu siêu, cúng sao giải hạn,… quá ư khủng. Từ bỏ những điều đó quá ư phí phạm. Người học Phật hãy còn lắm kẻ mê, thế nên cớ sao phải từ bỏ miếng mồi béo bở như thế. Dẹp bỏ tất thì cả lũ cùng đói, thế nên duy trì ắt danh lợi theo về, vấn đề còn lại chỉ là chia chác theo một tỷ lệ thế nào cho đẹp lòng nhau. Và đây cũng là một kênh thu gom ngoại tệ, tiền vàng trong dân. Lợi ích nhiều đường… Rất nên duy trì, đã có người nghĩ như thế.
Chùa chiền, tự viện Việt Nam phần đa nếu không muốn nói là tất cả đều có cầu siêu, cầu an, cúng sao giải hạn,… do đó số lượng Tăng Bảo ủng hộ việc hợp thức hóa Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ nghe đồn là rất khủng. Lời nhận định này là đúng hay sai, đành thôi hạ hổi phân giải.
Có lẽ quả sẽ trổ thế nào sẽ dựa vào gió sẽ thổi theo hướng nào. Ngọn gió công luận có vẻ như không có một giá trị rõ rệt nào cả.
Lẽ nào hậu chùa ba vàng để lại dư vị chát đắng trong lòng người học Phật có đạo tâm.

Những điều Ngạo Thuyết nói là đúng hay sai với chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền, mọi người hãy lắng lòng xuống, suy nghiệm, tư duy lại bằng tuệ tri cởi mở, khách quan nhất có thể, hãy lìa xa hai biên kiến Đoạn – Thường, ngã chấp, ngã kiến.
Trước sự suy vi, rối bời của chánh pháp có nơi đạo Phật – Ngạo Thuyết sẽ minh định lại chánh pháp bằng tuệ tri khách quan, sáng rõ nhất. Và nếu đến một lúc nào đó, chánh pháp cần đến một ngọn lửa chánh tín bùng cháy, Ngạo Thuyết sẽ sẳn sàng tự thiêu để soi sáng lại những tri kiến mê lầm, những vô minh bền bỉ hiện tồn trong lòng nhân loại. 

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2019

Vài hạn chế đáng lưu tâm ở thầy Thích Nhật Từ qua buổi pháp thoại liên quan đến sự kiện chùa Ba Vàng

Vài Hạn Chế Đáng Lưu Tâm Ở Thầy Thích Nhật Từ Qua Buổi Pháp Thoại Ngày 21/3/2019 lúc 19h 22’ Liên Quan Đến Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ Ở Chùa Ba Vàng (https://www.youtube.com/watch?v=dydQ05maqTM)
Thưa tiến sĩ Phật Học Thích Nhật Từ! Ngạo Thuyết được biết danh tiếng của thầy rất lâu rồi và Ngạo Thuyết cũng từng nghe một vài buổi pháp thoại của thầy. Tuy nhiên, Ngạo Thuyết không đánh giá cao những bài thuyết giảng ấy.
Ngạo Thuyết phải thừa nhận rằng kiến thức Phật học của thầy rất sâu rộng, thầy có tác phong sư phạm nên việc giảng giải rất chuyên nghiệp. Và đó có lẽ là tất cả những gì mà thầy học hỏi, tích lũy được ở những năm tháng dài học Phật để mang về tấm bằng tiến sĩ Phật học hữu vi.
Ngạo Thuyết phải thừa nhận rằng Ngạo Thuyết rất kén chọn việc nghe Tăng Bảo giảng giải kinh Phật. Ngay khi mới tìm đến đạo Phật Ngạo Thuyết cũng từng thả lòng nghe sư thầy thuyết giảng song Ngạo Thuyết không tìm được một vị giảng sư Phật học nào giảng thoát ý, rõ nghĩa.
Tất cả những buổi pháp thoại ở các giảng sư mà Ngạo Thuyết từng nghe không thỏa mãn tri kiến Phật học buổi đầu còn non nớt của Ngạo Thuyết. Những bài giảng không có chiều sâu, mang đậm tư kiến và rất nhiều những mê tín dị đoan được các giảng sư Phật học vô minh gán ghép vào đạo Phật.
Và về sau, thi thoảng Ngạo Thuyết mới nghe pháp thoại của các giảng sư Tăng Bảo miền nam, ít khi nếu không muốn nói rằng không bao giờ xem chư Tăng miền bắc giảng pháp.
Tại sao lại như vậy?
Bởi lẽ Ngạo Thuyết biết rõ giới hạn tri kiến Phật, chánh kiến, chánh tín, chánh tư duy cũng như năng lực, vai trò của chư Tăng Bảo miền bắc. Ngạo Thuyết nông cạn nên sớm có sự nhìn nhận rằng Tăng Bảo mà là Đảng viên ưu tú, hưởng lương nhà nước thì khó có thể là một vị Tăng Bảo đúng mực theo tinh thần chánh pháp đạo Phật.
Nguyên tắc “Ăn cơm chúa phải múa tối ngày” dễ thường sẽ khiến việc học Phật của Tăng Bảo sẽ bị lạc lối, đây là điều khó tránh khỏi. Ngạo Thuyết ngu ngơ tin rằng phần đa Tăng Bảo danh tiếng miền bắc là Tăng Bảo hưởng lương nhà nước, và nếu điều đó là đúng thì những vị Tăng Bảo ấy chỉ là những thằng bù nhìn rơm, những con rối do người đời giật dây. Ngạo Thuyết thấy họ thật đáng thương, đáng tội nghiệp.
Song Ngạo Thuyết biết họ, những vị Tăng Bảo đó không nghĩ vậy bởi lẽ khi họ đến với đạo Phật là nhân duyên trọng trách “ý đảng, lòng dân”, họ gieo nhân khác nên quả họ hướng đến đâu từng là bồ đề, nhân sai biệt quả thành hư vọng. Họ đến với đạo Phật bằng dụng tâm khác nên tâm họ không trong sáng đúng theo tinh thần Phật đạo âu cũng là lẽ thường. Thế nên hẳn là họ đang choáng ngợp với thụ hưởng danh lợi theo về cùng với những đặc quyền, đặc lợi.
Tương tợ như vậy, Ngạo Thuyết không thừa nhận Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) cũng những tổ chức liên quan đến đạo Phật ở Việt Nam là thuộc về đạo Phật bởi lẽ Ngạo Thuyết tin rằng phần đa Tăng Bảo hoạt động ở các tổ chức Phật giáo đó ít nhiều đều hưởng lương nhà nước. Hưởng lương nhà nước vốn không có tội, hưởng lương nhà nước không phải là yếu tố quyết định đúng sai ở giới Tăng Bảo; Vấn đề phát sinh ở đây chính là tính khách quan, minh bạch trong công cuộc hoằng pháp đạo Phật đã không còn. Đạo Phật mà họ, những vị Tăng Bảo đó truyền thừa chỉ còn là một công cụ điều tiết, quản lý xã hội con người, tính giác ngộ giải giải thoát ở đạo Phật đã hoàn toàn vô nghĩa, mất hẳn tính khả dụng. Thậm chí, để tiện bề quản lý những vị Tăng Bảo này sẽ sẵn sàng gieo vào lòng tín đồ Phật tử sự mê tín dị đoan cũng như chính sách “ngu” tri kiến Phật. Đây là minh chứng cụ thể của nhân sai biệt, quả thành hư vọng.
Chính vì việc nhận diện vai trò, vị trí của Tăng Bảo ở GHPGVN đối với nước nhà nên Ngạo Thuyết không thừa nhận GHPGVN là đạo Phật, Ngạo Thuyết không kỳ vọng vào khả năng hoằng pháp đúng mực theo tinh thần chánh pháp đạo Phật ở GHPGVN cũng như ở các tổ chức liên quan đến đạo Phật.

Thưa thầy Thích Nhật Từ! Ngạo Thuyết được biết rằng thầy trước tu học theo Phật giáo Bắc Tông, về sau thầy theo về Phật giáo Nam Tông. Và từ đó ở những buổi pháp thoại thầy có xen vào tư tưởng bài xích Phật giáo Bắc Tông với lối lập luận kinh điển phát triển đại thừa Bắc Tông không phải là những bài pháp thoại do Phật Thích Ca thuyết giảng. Không chỉ vậy! Thầy còn tiến thêm một bước để “triệt phá” Phật giáo Bắc Tông bằng cách cho rằng kinh điển Bắc Tông là giáo lý Phật giáo bị Tàu lai (tức giáo lý của Trung Quốc ngụy tạo) nhằm thổi bùng lên tư tưởng “Bài Tàu” ở người đời cũng như người học Phật.
Và phải chăng đấy là việc thầy đang cố khắc dấu ấn đạo Phật mang thương hiệu Thích Nhật Từ?
Buổi pháp thoại lúc 19h 22’ ngày 21/3/2019, thầy Thích Nhật Từ đã có những trao đổi với phóng viên báo Lao Động TV về những vấn đề liên quan đến sự kiện chùa Ba Vàng, Ngạo Thuyết có nghe buổi pháp thoại đấy và nhận ra thầy vẫn dính mắc quá nhiều về những lỗi cũ rích thường thấy ở các bài pháp thoại của thầy. Một vài hạn chế đáng lưu tâm ở buổi pháp thoại đó, hạn chế thứ nhất là thầy Nhật Từ cho rằng hiện tượng vong nhập chỉ là một dạng bệnh về thần kinh, bệnh đa nhân cách; Hạn chế thứ hai là thầy quá quan trọng việc học Phật nhất thiết phải qua trường lớp chính quy, bài bản, phải đọc thật nhiều kinh sách Phật học; Hạn chế thứ ba là thầy có vẻ bức xúc thái quá về hiện tượng chùa Ba Vàng đến đáng ngờ,…
Về điểm hạn chế thứ ba, thầy thể hiện sự bức xúc thái quá đối với sai phạm của thầy Thích Trúc Thái Minh, rất nhiều câu chữ được thầy nhấn nhá để gần như là tuyên án tội trạng của thầy Thái Minh. Và đáng ngờ hơn khi thầy làm một việc mà theo Ngạo Thuyết là quá phận khi gần như là đưa ra khung hình phạt để tuyên xử thầy Thích Trúc Thái Minh theo đúng với luật pháp Việt Nam hiện hành. Việc làm này của thầy Ngạo Thuyết thấy không đúng, và rất không thỏa đáng. Việc làm sai trái của thầy Thích Trúc Thái Minh nếu lọt vào những khung hình phạt đó thì đó là việc làm của tòa án và pháp luật chứ không thể là cách thể hiện vung tay quá trán ở thầy Nhật Từ.
Và dường như thầy Nhật Từ đã chuẩn bị sẵn những tư liệu đầy đủ để tuyên án thầy Thái Minh ở buổi pháp thoại mà ban đầu thầy Nhật Từ khởi xướng là hỏi đáp tự do nhưng sau rốt là cuộc trao đổi giữa phóng viên báo Lao Động và sư Nhật Từ về vấn đề chùa Ba Vàng. Vô hình chung Ngạo Thuyết xét lại … cơ hồ như đây không phải là một buổi pháp thoại khách quan, mọi việc đã có sự sắp xếp, có kịch bản trước và việc còn lại chỉ là sự diễn xuất thể hiện ở mỗi người.
Về nhận định vong nhập thầy Nhật Từ khẳng định đấy chỉ là một dạng bệnh thần kinh đa nhân cách. Ở chỗ biết của Ngạo Thuyết thì Ngạo Thuyết khẳng định sự hiểu biết của thầy Nhật Từ về vong nhập hãy còn quá hẹp kém và hoàn toàn thiếu thực tế.
Có lẽ thầy Nhật Từ bị nhồi sọ và tự nhồi sọ kiến thức Phật học quá nhiều và lại mãi lo việc Phật sự nên không có thời gian suy nghiệm, tư duy lại, vì thế kiến thức Phật học ở thầy Nhật Từ cứ đá nhau, trước sau bất nhất.
Hiện tượng vong nhập thực tế là có thật, chứ không ảo – không là một dạng bệnh đa nhân cách như thầy Thích Nhật Từ lầm tưởng.
Và hiển nhiên khi có thật liền có giả. Cụ thể là việc vong nhập ở Pháp Thỉnh Oan Gia Trái Chủ ở chùa Ba Vàng phần đa là giả trá, là những vở diễn nhố nhăng, hý cuội…
Có một điều chắc thật là rất nhiều người đời cũng như kẻ học đạo đều biết ít nhiều về hiện tượng vong nhập xác phàm. Và để “trị” vong nhập, người thân sẽ đưa nạn nhân đến các thầy bùa nhờ “trục vong” hoặc đưa đến chùa nhờ sư thầy hóa giải. Các vị Tăng bảo có thể đưa nạn nhân lên chánh điện dùng câu kinh, lời kệ, chú thuật và niệm Phật để “trục vong”, với những vong cứng đầu thì lấy áo cà sa của vị Tăng Bảo chân tu với giới hạnh nghiêm thân khoác lên người nạn nhân hoặc đưa đầu nạn nhân vào đại hồng chuông, gióng chuông lên vong liền “chạy gấp” ra khỏi người nạn nhân. Đây là điều mà rất nhiều người biết đến. Việc giả trá hiển nhiên là có, song sự thật thì vẫn là sự thật.
Thầy Nhật Từ không tin việc vong nhập là có thật nhưng lại tin và tom góp, biên soạn một vài quyển sách nói về hiện tượng tái sinh ở người chết và khẳng định việc tái sinh là có thật, khoa học đã chứng thực. Điều này cho thấy ngã kiến của thầy Nhật Từ quá ư sâu nặng, kiến chấp trùng trùng.
Thêm nữa, nếu thầy Nhật Từ cho rằng không có việc vong nhập, điều này phải chăng là thầy nhìn nhận không có vong?
Trường hợp nếu thầy Nhật Từ cho rằng không có vong vậy thì sau mỗi thời pháp hoặc cụ thể hơn là ở cuối bài pháp thoại ngày 21/3/2019 thầy Nhật Từ khởi niệm hồi hướng, Ngạo Thuyết xin hỏi rằng việc hồi hướng đó, thầy Nhật Từ đang hồi hướng cho ai?
Trường hợp nếu thầy Nhật Từ cho rằng có vong vất vưỡng lang thang. Vậy Ngạo Thuyết hỏi thầy Nhật Từ rằng điều gì quyết định việc vong không nhập vào xác phàm, khi mà định tâm, định lực của nạn nhân quá yếu ớt, tán thần?

Về vấn đề thầy thể hiện điều tự phụ bình sinh sở học uyên nguyên, tri kiến Phật học hàm thụ ở bằng cấp tiến sĩ, điều này là rất dễ nhận thấy ở các buổi pháp thoại của thầy Nhật Từ.
Thầy Nhật Từ rất coi trọng việc học Phật nhất thiết phải qua trường lớp Phật học, phải được đào tạo bài bản, kinh sách đạo Phật phải tham cứu cho nhiều. Điều này không phải là vô ích, song xem kinh chuyển được kinh hay bị kinh chuyển mê mờ tri kiến Phật mới là vấn đề.
Học Phật là hàm thụ, chuyển hóa, buông bỏ bản ngã chứ không dừng lại ở nuôi lớn ngã chấp, ngã kiến ta biết, ta hiểu. Nay thầy Nhật Từ luôn thấy sở tri Phật học uyên nguyên, đấy chẳng phải là bị kinh chuyển đến điên đảo hay sao? Mong rằng thầy Nhật Từ sẽ sớm biết đến những lời cảnh tỉnh của Ngạo Thuyết mà tỉnh ngộ. Thầy Nhật Từ nên nhớ cho trung ngôn, nghịch nhĩ.
Lục tổ Huệ Năng khi xưa chỉ là gã đốn củi, quê mùa, ít học. Về sau, chỉ vì thâm đạt một câu Phàm Sở Hữu Tướng Giai Thị Hư Vọng mà liền thành thầy Tổ. Do vậy, Thường Bất Khinh Bồ Tát chẳng dám khinh người chưa học.
Ngạo Thuyết đến với đạo Phật không quá 6 tháng, và cũng không có duyên tham cứu nhiều kinh sách Phật học như thầy Nhật Từ, song Ngạo Thuyết có một điều mà thầy Nhật Từ cũng như chư Tăng Bảo hiện nay không có, cái Ngạo Thuyết đang có là một vầng trăng chánh pháp sáng viên dung.
Thưa thầy Nhật Từ! Thầy luôn tự hào rằng thầy là một vị giảng sư lâu năm, nhiều kinh nghiệm, nhiều học trò là những vị Tăng Bảo danh tiếng đương thời. Song thầy có từng nghĩ đến những vị học trò đó có thật sư kính nể, tôn trọng thầy hay không, hay chỉ là xem thầy trên tinh thần lục hòa tôn giáo.
Ngạo Thuyết tin rằng với ngã kiến lẫy lừng được thể hiện ở các bài thoại của thầy Nhật Từ sẽ khiến các vị Tăng Bảo khác không phục, không nể trọng vị Tăng Bảo tiến sĩ Phật học, vậy thì tấm bằng tiến sĩ Phật học cũng chỉ là tờ giấy không gói nổi ngọn lửa chánh pháp, chánh kiến, chánh tư duy.
Ngạo Thuyết xin hỏi một vài câu hỏi về nhân quả luân hồi mà giới Tăng Bảo thường giảng giải, chỉ bày, khuyên người học Phật tin nhận, thọ trì. Câu hỏi rằng thầy Nhật Từ có thật sự rõ biết về luật nhân quả không? Sát sinh đền mạng phải hiểu như thế nào cho đúng? Lẽ nào giết một con gà đền một mạng gà? Nếu thật thế thì sẽ mãi mãi không có chúng sinh giải thoát hoàn toàn khỏi Tam giới mất.
Tương truyền, khi xưa thầy Thích Thanh Từ vì không trả lời được một câu vấn đạo của Phật tử đã phải bế quan, ẩn tu một khoảng thời gian cho sáng đạo. Nay thầy Thích Nhật Từ sẽ phải hành xử thế nào?

Ngạo Thuyết biết giới Tăng Bảo ngày nay chịu rất nhiều áp lực, nhất là với những vị Tăng Bảo danh tiếng. Và thầy Thích Nhật Từ lại là người thể hiện rất năng nổ trong việc hoằng pháp, thế nên Phật tử luôn kỳ vọng thầy Nhật Từ sẽ giải thích rốt ráo những Sự Lạ, Hiện Tượng Lạ ở chốn Phật môn, chính vì lẽ đó, nếu không tỉnh táo, sáng suốt thì thầy Nhật Từ sẽ bị cuốn vào vòng xoáy thị phi điên đảo.
Vấn đề đặt ra là vậy làm cách nào để giới Tăng Bảo hữu danh không bị cuốn vào vòng thị phi điên đảo? Đứng ngoài cuộc ư? Không được! Vai trò của Tăng Bảo hoằng pháp không thể cô phụ lòng kỳ vọng, tin yêu của tín đồ Phật tử cũng như việc tránh né báo đền Phật ân.
Vậy phải làm sao trong những vòng xoáy thị phi chốn Phật môn?
Tăng Bảo hãy cởi trên sóng thj phi điên đảo mà dấn thân bằng vào tuệ tri khách quan, sáng suốt, tránh rơi vào ngã kiến là điều cần thiết. Trân trọng!

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2019

Trong bài 1 - Ý KIẾN - Niết bàn, Tây phương cực lạc

Trong bài 1 - Ý KIẾN - Niết bàn, Tây phương cực lạc có Bạn hỏi nguồn bài viết nên......xin trả lời...
79 tuổi đời chẳng gì vui
Nên viết " đại đại " cho tui đỡ buồn
Làm sao nhớ hết cội nguồn
Nhớ thì...thêm khổ....viết "tuông " cho lành
Bạn vui.....nhặt sớm....còn xanh
Chốc nữa ...nó héo...nó tanh nhất đời
Viết là....viết vậy để chơi
Xin Bạn lượng thứ....tôi mời trà nha...

VẤN ĐỀ ; ĐỘNG LỰC NÀO ĐƯA THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA TÌM GIẢI THOÁT KHỔ.................. Bài 6 : YẾU CHỈ CỦA ĐỨC PHẬT.

VẤN ĐỀ ; ĐỘNG LỰC NÀO ĐƯA THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA TÌM GIẢI THOÁT KHỔ..................
Bài 6 : YẾU CHỈ CỦA ĐỨC PHẬT.
Trong suốt quá trình truy tìm giải thoát Khổ của Thái Tử Tất Đạt Đa - về hiện tượng, về ý thức chúng ta thấy rằng ĐỘNG LỰC CHÍNH chính là Ở NGÀI, ngay những nỗi ưu tư, bức xúc của chính bản thân Ngài - cho dù chúng ta có tôn trọng Ngài, có muốn đề cao, tôn vinh Ngài đến đâu đi nữa - thì cũng phải nhận ra ĐÓ LÀ ĐỘNG LỰC CHÍNH. 
Và ở đây cho chúng ta nhận định thêm " động lực này " rất mạnh mẻ; mạnh mẻ đến độ không có con người nào có thể có được như Ngài. Chúng ta, con người có một trong nhiều lý do kính phục Ngài - trong Kinh sách, giảng luận thường nói Ngài là một con người đặc biệt hơn mọi người có lẽ là thế.
Thấy được động lực chúng ta mới có thể nhận ra " điều Ngài tìm " - YẾU CHỈ CỦA ĐỨC PHẬT. Trong quá trình tìm Ngài không để ý đến những " trạng thái tâm thức " - những cảnh Thiền - hay " Thiền giới " mà Ngài đạt được, rồi lại mạnh dạn, không luyến tiếc lìa bỏ kết quả. Điều này chỉ ra NHỮNG CẢNH GIỚI THIỀN đó " không đưa đến " cái Ngài cần tìm " - GIẢI THOÁT RỐT RÁO KHỔ. Vậy cảnh giới Thiền chỉ là " trạng thái TỈNH LẶNG, AN BÌNH hay gì gì........ " của tâm thức chứ không GIẢI THOÁT RỐT RÁO KHỔ 
Với Sư phụ thứ nhất - Đạo sĩ Alãrãma Kãlãma
-- Này Đạo hữu Kãlãma giáo lý mà chính Đạo hữu đã chứng ngộ bằng trí tuệ trực giác sâu rộng như thế nào ?
-- Ta đạt đến cảnh giới Vô Sở Hữu Xứ Thiền ( ãkincannyatana )., tầng Thiền Vô sắc ( Arùpa Jhàna ), cảnh giới có quan niệm về Hư Không rất cao.
Và sau đó không bao lâu chính Đạo sĩ Gotama cũng chứng ngộ và thành đạt trạng thái ấy - trí tuệ và trực giác nhưng Đạo sĩ Gotama biết mình chưa thấu triệt chân lý tối thượng giải thoát khổ nên có một cuộc chia tay đầy lưu luyến của Sư phụ Ngài khi yêu cầu Ngài ở lại nối pháp.
Với Sư phụ thứ hai - Đạo sĩ Uddakha Rãmaputta, một Đạo sư trứ danh và một thời gian người đệ tử thông minh, quyết tâm cũng chứng đắc Đệ bát thiền Vô sắc, tức tầng cao nhất của thiền Vô sắc giới, cảnh giới Phi tưởng, Phi phi tưởng, tầng thiền cao nhất trong Tam giới, tâm trở nên vô cùng tinh vi tế nhị đến nổi không có thể nói là có tâm hay không.
Tuy nhiên Đạo sĩ Gotama cảm thấy rằng đó cũng chưa phải là mục tiêu cứu cánh; cho dù Ngài hoàn toàn làm chủ tâm mình nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn còn ở mãi xa với Ngài !.
Không thỏa mãn với phương pháp tu tập của Sư phụ Uddakha Rãmaputta, Thái Tử Tất Đạt Đa lại ra đi......
" Cái mà " Thái Tử Tất Đạt Đa xem là mục đích không phải là trạng thái tâm thức nào đó của con người mà là " giải thoát rốt ráo khổ " - đó mới là cứu cánh. Và một đêm ......Ngài PHÁT HIỆN " RỐT RÁO KHÔNG CÒN Ô NHIỄM " ( một số kinh sách gọi là triệt tiêu có lẽ không chính xác lắm ), KHÔNG CÒN TIẾN TRÌNH THAM ÁI thì chứng ngộ thực tướng vạn pháp, thì hoàn toàn thoát khổ
Có phải chăng KHI VÀ CHỈ KHI KIẾN DIỆN KHỔ thì MỚI giải thoát khổ ?. Và có phải chăng YẾU CHỈ DUY NHẤT hay CHÂN LÝ DUY NHẤT mà Đức Phật lưu lại cho con người là đây ?.
Một cách đơn giản, Bạn có thể học mọi cách, mọi tiến trình, mọi kinh nghiệm để đạt được tình THƯƠNG CON nhưng Bạn vẫn chưa BIẾT THƯƠNG CON - chỉ KHI và CHỈ KHI Bạn ĐỐI DIỆN với con Bạn - nghĩa là Bạn làm Cha / Mẹ thì Bạn BIẾT THƯƠNG CON và chỉ như thế, và không có gì là cao siêu, không có gì là huyền nhiệm bởi Bạn THÂN CHỨNG nó được rồi và tất cả các pháp - các cách ứng xử Bạn sẽ VÓ NGAY TƯƠNG ỨNG với TÌNH THƯƠNG ấy.
Có lẽ thế......
Con đường giải thoát khổ NÓI CHUNG nhưng " mỗi cái khổ " thì không của ai giống ai, của Thái Tử Tất Đạt Đa là của riêng Ngài. " Cái khổ " của Bạn là của riêng Bạn và con đường giải thoát khổ của tôi là của riêng tôi DUY CHỈ MỘT ĐIỀU giống nhau KHÔNG THỂ KHÁC là PHẢI BIẾT " CÁI KHỔ " nghĩa là phải KIẾN DIỆN NHƯ LAI....nói cách khác KHÔNG THỂ TRÁNH NÉ CÁI KHỔ MÀ PHẢI TRỰC DIỆN VỚI NÓ...NGHĨA LÀ phải chấp nhận " SỰ HIỆN HỮU " CỦA NÓ nơi con người - như chấp nhận cơn bịnh - rồi mới biết LÀ DO ĐÂU MÀ CÓ 
"" KHỔ DO VÔ MINH "" - Khổ sanh ra do " sự nhận biết SAI LẦM của con người sanh ra..
Đó là Chân lý mà Vị Thái Tử đã hy sinh cả cuộc đời của mình mới tìm ra. 
Và trong Thế giới con người ĐANG SỐNG thì con người có hàng ngàn....ngàn.. " cái khổ " khác nhau như con người có hàng ngàn...ngàn....." cái bịnh " thế nên lúc sinh tiền, Ngài đi thuyết pháp ĐỘ CHÚNG tuỳ theo tương duyên và cũng nhắc gửi lại cho con người :
-- "" Những điều Ta nói đây chỉ là lá trong nắm tay, còn những điều ta biết như lá trong rừng " - những cách giải khổ Ta đã bày giải đây chỉ như là nắm lá trong tay còn RẤT NHIỀU CÁCH GIẢI KHỔ KHÁC như lá trong rừng.
-- "" Mọi thế pháp đều Hư dối, cho dù pháp đó Như Lai vừa mới ban truyền mà bất cứ người nào lập lại "". Một pháp Phật ( cách giải khổ ) Như lai vừa bày giải CHO AI mà đem áp dụng cho " cái khổ khác " CHẮC CHẮN là KHÔNG ĐÚNG...
Một thang thuốc là thần dược đối với một bịnh nhưng chắc chắn KHÔNG THỂ LÀ THẦN DƯỢC cho một bịnh nhân khác.
TUỲ...TUỲ.....các Bạn .

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.2)

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.2)

Câu hỏi đúng ra người hành thiền thì bộ não phải lành mạnh chứ của Kim Khanh Rosenfeld rất chuẩn và cần thiết đối với người học Phật ngày nay.
Đúng vậy ! Bộ não của thiền nhân thật sự sẽ rất vững vàng, lành mạnh. Và Ngạo Thuyết cũng nhắc lại là bộ não hành nhân sẽ vững vàng, lành mạnh khi hành pháp thiền đúng nguyên mẫu Phật pháp, hành thiền theo lối vô tâm, vô cầu – cốt giữ tâm an, thần nhàn, khí định, trước mắt là đích đến thản nhiên trước cuộc thịnh suy, được mất, tử sinh. Đó là lối hành thiền đúng tông phong Phật đạo, Tiên gia nguyên thủy.
Còn những pháp hành thiền của ngoại đạo hoặc đạo Phật lai căng dị giáo với việc thu nạp năng lượng, điều khí sinh thần, tụ khí đan điền, khai mở luân xa, đánh thức hỏa xà, cầu đắc thiên nhãn, đắc thần thông, tăng tiến tầng bậc tâm linh, lạm dụng thiền duyệt vi thực, lạm dụng định sinh hỷ lạc,… mà chánh định không vững, thiếu chánh kiến Phật môn … thì hành nhân sẽ dễ rơi vào ma đạo, loạn tưởng nhập tâm,…
Một khi hành nhân hành thiền sai chánh pháp mà không kịp thức tỉnh hồi đầu, chi trì pháp xả tâm, xả trược thì sớm muộn gì cũng dẫn đến bệnh hoang tưởng ra thứ dở người. Đến lúc ấy, đâu thể nói việc hành thiền đem lại não bộ vững vàng, lành mạnh nữa.

Nhân việc viết bài này, Ngạo Thuyết chợt nhận ra rằng việc hành thiền của hành nhân ngày nay dễ phát sinh dị khí câu lưu nơi nội thể, điều này dễ thường khiến hành nhân mới bước đầu tập hành thiền kinh hoảng, hoang mang. Kim Khanh RosenfeldVô Vi là hai trường hợp điển hình của việc phát sinh dị khí khi hành thiền,… Do đó, Ngạo Thuyết sẽ viết một bài viết ngắn về hiện tượng này, cách điều phục, hóa giải và hành xả tùy thời.
Câu hỏi “Tại sao một Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh cuối đời lại thế?”. Tương tự như vậy! Câu hỏi “Tại sao Thiền sư Thanh Từ cuối đời cũng lại như thế?”,… những câu hỏi chứa đựng sự hoài nghi chỉ dừng lại ở việc chứng ngộ của hai vị Danh sư Thiền Tông hay “xét nét” đến pháp hành của Thiền Tỉnh Thức thuộc Dòng Tu Tiếp Hiện và pháp Thiền Hằng Thấy, Hằng Biết thuộc Thiền Phái Trúc Lâm có thực sự mang lại điều rốt ráo giải thoát hay không? Những câu hỏi trên nếu không tìm ra được lời đáp chuẩn mực thì người học Phật còn đó tâm nghi sẽ bất an bởi còn biết tin vào ai, tin vào giáo lý hệ phái nào khi những Danh Sư Đương Thế - Những vị Bồ tát sống còn không thể làm chủ chính mình trong cuộc tử sinh.
Các hệ phái đạo Phật khác vì cả nghĩ pháp hành bổn môn có sự rốt ráo hơn, do Ngã kiến, do tư tâm hiềm khích lâu xa, việc tranh đoạt uy vọng, danh tiếng, tín đồ… sẽ có những vị Tông chủ cùng giáo đồ cực đoan, quá khích ra sức kích bác pháp môn Thiền Tông Bắc Truyền không mang lại sự giác ngộ giải thoát cho người học Phật.
Đã có những người học Phật làm điều đó, họ là Tông đồ của hệ phái nguyên thủy (Theravada), Nam Tông, Tịnh Độ Tông,… và cơ hồ như môn đồ của dòng tu nguyên thủy (dòng tu không được thừa nhận đạo Phật nguyên thủy chính thống) của thầy Thích Thông Lạc đã khơi ngòi cho sự xác quyết hai Danh Sư Thiền Tông chưa chứng ngộ, họ đã tái khẳng định điều mà họ không thật rõ biết bằng lời nói chỉ có sư Thích Thông Lạc là người duy nhất đắc quả vị A la hán trong số các Danh Tăng đương thời. Những người học Phật nửa vời, những con sâu làm rầu nồi canh cũng góp phần rất lớn trong việc làm nhiễu loạn tín tâm của đại chúng học Phật.
Không dừng lại đó. Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ truyền thông, “cảnh nồi da, xáo thịt” giữa các hệ phái Phật môn sẽ vượt khỏi ranh giới đạo Phật. Ngoại đạo sẽ đón nhận những thông tin và công kích, dèm pha, đả phá rằng Đạo Phật, một lũ hề - Điều này thật sự đã xảy ra. Tăng Bảo chứng ngộ gì với bệnh tật triền miên. Niềm tự tôn đạo giáo nào cũng có, việc giành giật tín đồ, triệt hạ uy tín tôn giáo đối phương là việc làm trải dài theo lịch sử loài người. Những vị Giáo chủ, Tông chủ cùng đồ chúng… kém khuyết đức hạnh, đạo tâm, thiếu lòng tự trọng, thừa tính hẹp hòi, đố kỵ xưa nay ở các tôn giáo không từng thiếu.
Do đó, nếu người học Phật không kịp thời chấn hưng lại sự lành mạnh chốn Phật môn, sự sáng rõ của viên ngọc quý ẩn tàng nơi đạo Phật thì tin rằng mai này đạo Phật sẽ hỗn độn, nhiễu nhương. Khi ấy, đạo Phật so với ngoại đạo liệu có còn chi khác hay cũng chìm trong danh lợi mong cầu và khắc khoải những niềm đau.

Câu hỏi “Tại sao những Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ cuối đời lại thế?” quả thật rất cần những người học Phật chân chính đặt ra, để nhận biết sâu sắc hơn về pháp hành, về việc chứng ngộ. Từ đó, những câu hỏi sáng tỏ hơn lại được người học Phật chánh tư duy đặt ra:
- Có không sự chứng ngộ vi diệu ở đạo Phật, có không những tầng bậc chứng ngộ nơi người học Phật? Đạo Phật có thật là đạo giác ngộ giải thoát hoàn toàn giúp chúng sinh vô minh vượt thoát sinh tử luân hồi? Hay giáo lý Phật môn chỉ dừng lại là ở những bài giảng thuyết giúp người học Phật thoát ra những khổ não đời thường? Chỉ thế thôi! Hay đạo Phật chỉ là chiếc bánh vẽ dụ trẻ con khi chúng còn mê ngủ?... Ôi! Rất, rất nhiều câu hỏi về Phật pháp mà người học Phật đúng mực với tri thức đương thời cần phải đặt ra.
- Và … nếu đạo Phật chỉ là chiếc bánh vẽ chẳng giúp no lòng khi đói thì người học Phật chân chính gìn giữ mà chi những nét vẽ đã hoen màu.
Trả lời câu hỏi tại sao các vị Thiền sư uy thế trấn môn như Tăng Bảo Nhất Hạnh, Thanh Từ ở cuối đời người thì tai biến đến xuất huyết não, người thì đột quỵ - Và phải chăng hai vị Danh sư Thiền Tông chưa chứng ngộ về đạo pháp?
Ngạo Thuyết khẳng định rằng cả hai vị Danh sư ấy đều không chứng ngộ một quả vị nào trong Tứ Quả Sa Môn tức Tứ Thánh Quả - A la hán, A Na Hàm, Tư Đà Hàm, Tu Đà Hoàn.
Và … với vị thế là người khai Tông, lập giáo mà hai vị Danh sư Thiền Tông đương thế còn không chứng ngộ ở tầng mức Nhập Lưu, Dự Lưu thì tin rằng giới Tăng Bảo Việt Nam học Phật tìm sự giác ngộ trên sách vở theo lối một tri, một giải ngày nay hiện không có lấy một người tỏ ngộ.
Không chỉ vậy! Ngạo Thuyết đã kiên nhẫn dõi mắt nhìn ra thế giới, 10 năm rồi cho việc tìm kiếm không hề ngăn ngại ở Nam Tông, Bắc Tông, Thiền – Tịnh – Mật, nhưng cuối cùng Ngạo Thuyết có thể khẳng định rằng “Đã khá lâu rồi không xuất thế một Chân Sư – Tăng Bảo Chứng Ngộ Pháp Vô Sanh” tùy nghi hộ pháp.
Tại sao lại như vậy?
Bởi lẽ đạo đời đã khiến Tăng Bảo bị nhốt vào biên kiến nẻo đạo từ lâu. Do duyên ấy cùng niềm tự tôn Phật pháp là đệ nhất chân nghĩa đế, đạo Phật là Number One,… Giới Tăng Bảo, người học Phật hết thế hệ này sang thế hệ khác truyền cho nhau những tri kiến lạc lầm. Những Chấp Thủ Sở Tri chồng lấp ngày càng thêm nhiều, giới Tăng Bảo vô hình chung đã đánh mất trung đạo, mặc dù ngày nay rất nhiều bài pháp thoại của các sư thầy vẫn thường nói đến lý trung đạo viên dung. Song giới hạn đạo đời đã phần nào khiến giới Tăng sinh kẹt lại ở lưới nhị nguyên; Lý thì như thị, sự thì nghi kỵ.
Thêm vào đó, ngày nay sự học Phật của chư Tăng bị quy hoạch thành trường lớp, những pho kinh sách lấp đầy vào não bộ, càng thêm dày nỗi vô minh.
Vì sao?
Vì việc học hành, thi cử để ra làm cử nhân, tiến sĩ Phật học đã tạo nên những mảng tri kiến lập tri ở Tăng sĩ xuất gia. Người sáng mắt dạy rằng tri kiến lập tri liền thì vô minh bổn. Do đó, khi tri thức Tăng Bảo nâng cao cùng với việc chăm học hơn hành trì, nghe sinh hiểu, ngỡ rằng biết liền thành sở tri chướng đóng bít cửa ngộ, lối vào Không môn của học nhân.
Chế định Tăng Bảo là thầy của Trời - Người, cùng với việc tích lũy nhiều kiến thức Phật học giới Tăng Bảo cả tin ngỡ rằng trí tuệ hơn người, từ đó sinh khởi tâm kiêu mạn, phóng dật và cứ thế chìm sâu vào sự tăm tối, mê mờ.
Theo quy chế trường chuyên Phật học cũng phải quán triệt đường lối Đảng Cộng Sản và lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Việc ăn cây nào, rào cây ấy – Tăng Bảo 3 Thời Ngày Nay Quy Y Ngoại Đạo Tự Bao Giờ. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến giới Tăng Bảo không thể “bùng nổ” tuệ tri.
Tăng Bảo, Tăng sinh ngày nay dễ thường rơi vào lỗi năng thuyết, bất năng hành. Vả lại đãi ngộ Tăng Bảo lại đang gặp thời hưng thịnh, điều kiện sống, sinh hoạt của giới Tăng Bảo ngày nay quá ư thừa mứa, Phiền não tức Bồ đề tự lúc nào cũng chỉ còn là những con chữ trên những tờ giấy chép kinh.
Đời sống Tăng sinh quá an toàn nên cái khổ, việc trực nhận chứng ngộ khổ giới Tăng Bảo ít khi được nếm trải; Đây là cánh cửa “đột phá” Phật môn và cánh cửa đó đã khép lại đối với giới Tăng Bảo đương thời.

Đó là hiện trạng của giới Tăng Bảo, Tăng sinh xuất gia ngày nay. Việc tỏ ngộ với họ giờ đã càng khó hơn việc “dắt lạc đà chui qua lỗ kim”.

Một số Tăng sinh Thiền môn theo lối chen ngang, cụ thể là thành phần chán đời giữa chừng, nương náu vào chốn tòng lâm những mong thoát khổ, cùng thêm một chút vọng cầu chứng ngộ khai tâm. Một số người học Phật theo lối chen ngang, khi khởi sơ phát tâm rất dũng mãnh nguyện thoát ly Tam giới nên rất miên mật hành trì. Chỉ đáng tiếc là danh sư chỉ dẫn thiếu khuyết, đồng môn thì giải đãi hành trì… Thế là sơ phát tâm bất thoái chuyển ban đầu dần lung lay, cái biết vô minh bổn rồi thì cũng nhập tâm, sự an toàn nơi chốn Tòng Lâm,… tất cả từng bước, từng bước hủy diệt tánh giác nơi người Tăng sinh lỗi nhịp nẻo đường đời. Tiếc thay! Một hạt mầm xanh đã gục chết trên mảnh đất màu mỡ.
Lại một câu hỏi đặt ra “Nếu quả thật hai vị Danh Tăng Thanh Từ - Nhất Hạnh chưa chứng ngộ thì tại sao họ đủ sức khai tông, lập giáo, chế định được những nét rất riêng cho bản sắc Tông môn?”.
Vấn đề này thuộc về duyên hội tụ, gặp thời thì cá chép vượt long môn. Phước báu chư Tăng ngày nay bị diễn giải sai, do đó người học Phật đắm mê phước báu cũng như mong mỏi tuệ tâm sẽ sẵn sàng chắp cánh cho người xuất gia có tâm đức, đạo hạnh. Sau lưng các vị Tăng Bảo luôn có những người rất sẵn sàng cúng dường tài vật, đất đai, sức người,… Hội đủ duyên nên Tăng Bảo Thanh Từ - Nhất Hạnh lập đạo tràng, xây hệ thống Thiền viện khang trang; Hiện tướng chùa to, Phật lớn chưa bao giờ là thước đo cho sự chứng ngộ.
Chẳng phải ngày nay chùa chiền, Tự viện được người đời dựng lên rất lộng lẫy, nguy nga. Và có không ít vị sư trụ trì những ngôi chùa xa hoa, hùng vỹ ấy chỉ là những con bù nhìn rơm, những Tăng Bảo bị mù tri kiến Phật.

Lẽ nào hai vị Danh sư trên không tỏ ngộ chút ít gì?
Hai vị Tăng Bảo Thanh Từ - Nhất Hạnh thuộc thế hệ trước nên họ ít nhiều nếm trải những khổ não, mất mát của thời chiến tranh binh lửa, họ lại là thành phần trí thức cấp tiến nên cũng có vốn tư lương vào đạo không hẹp chút nào. Các bản dịch kinh thời điểm đó dù không có nhiều nhưng giáo nghĩa mộc mạc, ít xen tạp phần diễn ý của dịch giả, thế nên các Tăng sinh ít bị nhiễu loạn thông tin, và họ phải đốt đuốc huệ để dò ngữ nghĩa nơi kinh Phật; Chánh kiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn, đạo tâm theo đó thêm dày dặn.
Thêm nữa, nền giáo dục thời đó rèn dạy con người nhân cách, đạo đức, nghĩa nhân… Những điều kiện cần xây dựng nên nền móng đức độ, giới hạnh của chư Tăng Ni. Đất nước khó khăn nên việc xuất gia học Phật ở giới Tăng sinh bị kiểm duyệt gắt gao, chỉ có những người bền chí mới có thể theo đuổi việc học Phật. Vào chùa, Tăng sinh phải vừa lao động, vừa hành trì tu học, miếng ăn đôi khi phải chạy từng bữa nên hun đúc thêm chí nguyện xuất Tam giới gia,…
Song do kinh sách Phật học ít, lại thiên về Tịnh Độ Tông, việc học Phật chỉ mong cầu tha lực, Ơn Trên gia hộ đã là tri kiến trói người học Phật thuở ấy. Do đó, Tăng sinh Thanh Từ được đào luyện để có thể thành người dịch giải kinh sách đạo Phật, vô hình chung đặt để thầy Thanh Từ trở thành nhà nghiên cứu, học giả Phật học; Thầy Nhất Hạnh là Tăng sinh của Dòng Thiền Lâm Tế, làm việc cho người Pháp, đây là thế mạnh của thầy Nhất Hạnh bởi thêm một ngoại ngữ là bầu trời chừng như rộng ra thêm, thầy Thích Nhất Hạnh nhờ đó mà tham khảo được nhiều kinh sách Thiền Tông.
Về sau, thầy Nhất Hạnh theo người Pháp rời Việt Nam tiếp tục con đường xuất gia ly hương, lòng đau đáu một nỗi niềm nước mất, nhà tan.
Bước trên những khổ đau, con người ta dễ trưởng thành hơn, kiến thức Phật học về Thiền Tông, sự mới mẻ của đạo Phật trên đất nước Pháp, Tăng Bảo Thích Nhất Hạnh khai lập Dòng Tu Tiếp Hiện với Chánh Niệm, với Tỉnh Thức. Dấu ấn của dòng Thiền mà sư Nhất Hạnh xác lập là sự thanh thoát, nhẹ nhàng toát lên ở phong thái các vị Thiền sinh, đây là một nét rất riêng của thiền sinh Dòng Tu Tiếp Hiện.
Tăng Bảo Thanh Từ thì bận rộn nhiều với Phật sự đa đoan trong nước, những cuộc thuyết giảng ở nhiều nơi khiến pháp hành có thiên hướng Tịnh Độ Tông của sư Thanh Từ lỗi nhịp. Và tương truyền rằng do một Phật tử tín thành hỏi sư Thanh Từ về một vấn đề đạo pháp mà sư Thanh Từ không thể trả lời, trực nhận sự kém khuyết tri kiến Phật, sau chuyến làm Phật sự ấy, sư Thanh Từ xin phép Hòa Thượng Bổn Sư được dừng lại những việc Phật sự còn dở dang, về núi ẩn tu những mong sáng đạo. Hẳn đây là thời gian sư Thanh Từ dành cho việc tham cứu Thiền Tông của Dòng Thiền Trúc Lâm cùng việc hành trì thiền định.
Ít lâu sau, sư Thanh Từ xuất quan và vung tay phất mạnh lá cờ Thiền Tông, Thiền Tông Việt Nam dựa trên nền móng Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử được chính thức xác lập.

Nếu nói thầy Nhất Hạnh, thầy Thanh Từ không chút tỏ ngộ nào thì cũng không thật đúng. Thật ra thông qua việc hành thiền cả hai vị Danh sư ít nhiều đạt được định tâm, và khi đó những câu từ Phật học trước chưa rõ, giờ trở nên dễ hiểu, có những tỏ ngộ - những đột phá tri kiến Phật học khiến hai vị hành nhân Thiền Tông ngỡ rằng đã thông đạt Phật môn, việc thoát ra được khỏi cái kén Tịnh Độ Tông (Bắc thuộc), hai vị danh sư hân hoan đón nhận sự hiểu biết mới mẻ và niềm hỷ lạc tràn đầy của thiền định, hai vị Danh sư nghĩ rằng đã đến lúc báo đền Ơn Phật – Tổ gia trì, xác quyết việc ra sức chỉnh đốn những hiểu biết sai lạc của Đạo Phật, ở pháp môn Tịnh Độ Tông, đây là chỗ cài then đòi hỏi pháp môn Thiền Tông phải tái xuất.
Đáng tiếc là chút tỏ ngộ của hai vị Danh sư chỉ dừng lại ở ngoài da của đạo Phật! Sự tỏ ngộ đó không chạm đến quả vị Bất Thối Chuyển, thế nên trước sau thầy Nhất Hạnh, Thầy Thanh Từ cũng chỉ là người học Phật hành bồ tát đạo ở vai trò Tăng Bảo xuất gia.
Việc nhập thế ở vai trò khai Tông, lập Giáo, hai vị Danh sư nghiễm nhiên trở thành Tông chủ bản môn. Thiền Tông vụt sáng lên giữa bầu trời đêm Tịnh Độ Tông tịch mịch, lê thê, nhàm chán. Thế nên việc Phật sự bộn bề đã chướng ngại rất nhiều đến việc hành trì, tu tập của hai vị học nhân Thiền Tông, chút tỏ ngộ mênh mang giờ khi mờ, khi tỏ, hai vị Danh sư dần trở thành hai học giả chốn Tòng Lâm, việc dịch thuật, diễn giải kinh sách Thiền Tông dần trở thành tri kiến lập tri ở hai vị Danh sư đương thế - Ta chứng ngộ rồi, mắt huệ khép từ đây. Xưa nay Tri kiến lập tri huyễn hoặc biết bao người học Phật.
Khi tuổi tác càng cao, lại do thiếu khuyết việc rèn luyện định tâm, con người ta dễ thường rơi vào tình trạng tâm chùn, chí cạn,… Cứ thế danh lợi vô tình âm thầm gây họa hoại đến các vị danh sư, bận rộn việc Phật sự miên man hai vị Thiền sư quên mất công phu thực học, quên mất cả việc cần lắm sự hành trì. Tâm chí dần mỏi mòn, hai vị Thiền sư khắc khoải vọng cầu rằng công đức làm Phật sự của bản thân vô lượng như thế hẳn là Ơn Trên, Chư Phật sẽ gia hộ đến suốt đời. Đây là tri kiến của những ngày xưa ấy quay về, khi mà việc học Phật theo lối Tịnh Độ Tông (Bắc thuộc) chèn lấp tâm trí của hai Tăng sinh thời trai trẻ.
Song có một điều rất thật là Phật xưa nay không từng ban phước, giáng họa cho ai bao giờ.
Thời gian cứ thắm thoát thoi đưa, do không ý thức được thời điểm dừng lại, việc Bế Quan – Tạ Khách - Ẩn Tu nên hai vị Danh sư phần nào đã hủy hoại biết bao công sức, tâm lực của chính mình và ảnh hưởng rất lớn đến pháp môn Thiền Tông.
Và sau cùng, một ngày nào đó hay hiện tại, ngay bây giờ, ở đây đang có hai chúng sinh vẫn tiếp tục lại cuộc hành trình thoát khỏi Tam giới còn đó sự dở dang với rất nhiều lao nhọc.

Nói như thế, phải chăng người chứng ngộ sẽ không bao giờ bị những bệnh về não, về hệ thần kinh và luôn tự chủ việc sinh tử?
Ồ! Không. Ngạo Thuyết không từng nói thế.
Bạn có biết không?
Vị Phật Thích Ca, ngày xưa đi đường, trời mưa rơi ướt áo.
Nắng vẫn rám làn da trên những lối đi về
Thế nên, bạn hãy tin rằng Phật – Người Chứng Ngộ
Vẫn đói no ấm lạnh,
Vẫn cười khi vui và trầm lặng mỗi khi buồn.
Đừng nghĩ rằng Phật chẳng chút xuyến xao
Khi vua Tịnh Phạn dứt ngừng… hơi thở cuối.

Thế nên, đừng nghĩ người chứng ngộ sẽ tử thủ vô tâm, bởi lẽ họ vẫn sống cuộc đời rất thật. Song những vui buồn, được mất tựa nơi trung đạo mà họ hằng sống sẽ không bao giờ vượt mức đến nghiệt ngã, thê lương.
Do đó,
Gió vô thường vẫn thổi muôn phương
Một dịp bước sang đường xe tông, người ngã
Hay một hôm, có cơn gió nào rất lạ
Tuổi già rồi người gục xuống hanh hao
Câu hỏi rằng: Người hỡi! Có đớn đau?

Nén dư lệ, người mỉm cười rất khẽ
Con người mà, nào phải quái nhân đâu.

Có một sự thật là người chứng ngộ dẫu có hiện tướng thế nào vẫn rạch ròi chánh định, do đó, ở quãng đời còn lại, họ sẽ không quên việc hành trì thiền định, việc làm ngõ hầu đảm bảo rằng tùy thời họ có ít nhiều sự tự chủ trong việc xả bỏ báo thân. Do đó, dẫu vô thường bất ngờ ập đến, thân người chứng ngộ hiện tướng bệnh, tâm người ấy vẫn thênh thang. Điều này có thể xác nhận lại thông qua cuộc đời thường nhật của họ. Tuy nhiên, bạn dòm ngó mà chi, sao không tự gột rửa ở nơi mình.
Và chỉ có những người chứng ngộ hành trì thành tựu pháp hành Diệt Tận Định của hạng nhị thừa mới thật sự có đủ khả năng thực hiện việc thị tịch một cách rốt ráo tự chủ.