Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

Hỏi đáp cùng người học Phật - Phần Trả lời
Trả lời:
Chào chú! Cháu là Tuấn, cũng là Vô Ưu,… những tên gọi đó chỉ là giả danh nó không thật cũng như bản chất vô thường của vạn pháp. Về những sự trải nghiệm của chú như việc xuất hồn, cảm giác thăng hoa thơi thới 3 ngày hay việc biết đến những người bị vong nhập thì với cháu không có gì đáng ngạc nhiên bởi cháu đã từng chạm đến không chỉ 1 lần…
Hẳn là chú không ngồi thiền theo phương pháp xuất hồn lâu rồi... Nói về phương pháp của thầy Lương Sĩ Hằng thì cháu khách quan đánh giá “ Đó không phải là pháp hành của Phật mà là pháp tu đã chịu sự ảnh hưởng của đạo Lão, gốc của việc xuất hồn là tạo thánh thai, hình thành huyễn thân, xuất huyễn thân rong chơi tiêu diêu, tự tại”. Với pháp tu này thì nếu người có định lực yếu dễ rơi vào hoang tưởng do bị tâm ma nhiễu loạn hoặc do bị các vong mượn nhà, đoạt xác. Còn trường hợp người định lực vững mà không rõ biết pháp tu thì sẽ tự nâng cao bản ngã, cái tôi. Điều này sẽ chướng ngại cho sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Có thể xem đây là một dạng của phép tu tiểu thừa. Nếu hành pháp tinh chuyên, thông suốt mà không kịp phá bỏ cái tôi trước khi nhắm mắt thì người hành pháp sẽ đạt 1 trong 4 quả vị thánh hoặc tự tạo ra tiên cảnh mà thọ dụng. Với trường hợp tạo ra tiên cảnh thì lâu về sau nhàm chán sẽ quay lại luân hồi nơi 3 cõi…
Cảm giác thảnh thơi, thoát tục là cảm giác thường thấy của người tu bên dòng thiền. Nó giúp người tu tin rằng cảm giác an lạc, tự tại là thật có khi con người thoát ra khỏi những dính mắc lợi danh, tiền của, mê đắm,… Và có lẽ mỗi người chỉ có cơ may nếm trải 1 lần cảm giác đó trong đời. Điều này giúp người học Phật tin sâu vào sự giải thoát hoàn toàn. Việc thần thức rời khỏi thân xác thì người hành pháp có thể chạm đến nhiều lần nhưng việc làm đó không hẳn là rất cần thiết cho việc giải thoát hoàn toàn. Vấn đề quan trọng nhất của đạo giải thoát là dùng sự hiểu biết để phá bỏ cái tôi mà mỗi người chấp giữ đã bao đời nay. Đây mới thật là vấn đề khó cho người hành pháp. Do chấp ngã, chấp vô ngã, chấp có, chấp không, chấp tâm, chấp cảnh, chấp việc đạt pháp, việc xuất hồn, việc kỳ đặc khi ngồi thiền, chấp giữ sự hiểu biết của mình là cùng tột,… mà người học Phật không thể chạm đến nguồn an lạc, tự tại ngay trong hiện kiếp. Và… đến khi rơi vào luân hồi, (Nếu duyên tốt nhập vào thai người) việc nhập thai ngục 9 tháng 10 ngày, quá trình trưởng dưỡng tuổi thơ, rồi việc học hỏi, giáo dục thiên lệch, chủ quan thì “người trở lại” đã quên công phu hành pháp tiền kiếp mà mãi không thoát ra được 3 cõi 6 đường.
Phật và Ơn Trên ai hơn ai? Tôi nghĩ, trước khi đức Phật Thích Ca sinh ra thì đã có chư Phật, vô số Phật đã thành rồi. Phật Thích Ca cũng là người như chúng ta. Nhưng ngài đã nhận lại và sống với bản lai diện mục, sống lại với tánh Vô Cùng sẵn có. Và vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô, khoảng không gian bao la không ngằn mé này đã có trước lâu lắm rồi. Nhưng khi tôi tin có Thượng Đế ( tạm gọi là vậy ) hoặc lực tối cao, hoặc thái cực hay gì gì đó thì có một câu hỏi trong tôi lại xuất hiện: Ai sinh ra Thượng đế đây? Đây là điều không thể hiểu nổi. Con người với trí óc hạn hẹp không thể trả lời câu hỏi này được.
Xem ra chú phải bỏ hết cái biết của mình thì mới có thể liễu nghĩa Tam tạng kinh. Hay nói cách khác chú phải bỏ cái biết của chú thì cháu mới có thể chọn thuốc giúp chú được. Chú có đồng ý không?
Vì không có điều kiện tiếp xúc chú nhiều nên cháu cần chú “gác” cái biết của chú sang 1 bên. Cho đến khi chú tham khảo sách và những giải trình của cháu xong thì chú hãy khách quan đánh giá. Nếu những điều cháu nói là vô ích, không có giá trị thì chú “vất đi” và dùng lại cái biết chú đã góp nhặt và cho rằng đúng hơn.
Chú đã tham khảo khá nhiều giáo lý các tôn giáo khác nhau. Trong đó có cả đạo Cao Đài. Có những sách viết đúng, có những sách viết không ổn nhất là những sách do những người chưa thực chứng viết hoặc dịch giải ra. Bởi do có câu “Y kinh giải nghĩa Tam thế Phật Oan, Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết - y kinh giải nghĩa thì oan cho cả 3 đời chư Phật, còn bằng rời kinh dù chỉ là một chữ tức là lời ma nói; cái chữ rời kinh mà thuyết để thành lời ma nói chính là chữ Tâm, rời Tâm mà nói thì là lời hư dối, lời ma mị”. Vì biết nhiều nên chú sẽ rối. Bây giờ cháu sẽ gỡ rối từ từ xem chú có vừa ý không trước đã.
Cháu khẳng định “Không ai hơn Phật Thích Ca”. Ơn trên, thánh Ala,… chỉ là một cụm từ chung chung và cũng là một dạng chúng sinh nơi 6 đường. Đó chính là nẻo Trời mà giáo lý nhà Phật đã chỉ ra. Cháu cũng không là đệ tử Phật, không còn là người học Phật, người bảo vệ Phật nên không có lý do gì để tâng bốc Phật Thích Ca. Chú còn nhớ câu “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn - chỉ có cái ngã là cao quý hơn cả; cái ngã đó là cái ngã trùm khắp, là Tâm, là Phật chứ không phải là cái tôi nhỏ bé mà mỗi người đang chấp giữ. Và … Vạn Pháp Quy Tâm hay nói cách khác là vạn pháp do tâm sinh đã lý giải những gút mắc về sự tồn tại của thượng đế, thánh Ala, chúa Jesu mà chú đề cập và nó cũng lý giải được câu “Ai là người sinh ra thượng đế đây?” của chú. Vấn đề thượng đế chú đã “hiểu nỗi” chưa? Chỉ do tâm tạo. Tâm của ai tạo? Tâm của người tạo chứ không phải tâm Phật. Tâm Phật chỉ tạo ra duy nhất Tam tạng kinh và do chúng sinh, vì chúng sinh 3 cõi mà Phật Thích Ca đã lập ngôn. Chú đừng bận tâm về những vị Phật quá khứ vì những vị Phật đó không tồn tại; chú chỉ cần biết 2 vị Phật là đủ. Đó là vị Phật Thích Ca và vị Phật là chú. Con người với trí óc phân biệt dính mắc sẽ không thể trả lời rốt ráo những vấn đề nơi sự sống, vũ trụ nhưng người nào sống với cái biết sáng rõ, khách quan, không dính mắc sẽ rõ mọi sự việc trên như giữa ban ngày. Vấn đề này chú đã thông chưa? Nếu chú thấy chưa thỏa đáng thì cứ nói chỗ không thỏa đáng cháu sẽ lý giải tường tận vì vấn đề này cháu rõ biết.
Không thể phân chia đạo Phật làm Phật giáo nguyên thủy hay Đại thừa hay gì gì nữa. Vì Phật Thích Ca đã nói: đạo ta chỉ có một vị duy nhất là giải thoát.
Nói không chia cũng không được chú à. Vì lẽ người ta đã chia rồi, vạn pháp do tâm sinh mà nhưng người đạt sự giác ngộ sẽ không chấp vào điều đó. Đại thừa, nguyên thủy, tiểu thừa,… rõ biết rồi không dính mắc nữa. Dù vậy, nếu người nào tin nhận mà chưa thông suốt thì vẫn nên tỏ bày không dính mắc, đền trả từ bi Tâm của Phật; còn những người u mê, tự phụ thông minh hơn người, không đủ duyên đành tùy thuận im lặng như người chết. Vì nói không đúng thời sẽ gây ra điều chống trái, hiềm khích,…
Phật giáo có vô số (84.000 pháp môn) được chia ra làm 3 tông : Thiền, Tịnh, Mật. Chúng sinh tùy chỗ chấp của mình mà chọn một trong 3 tông. Nhưng đích đến cũng là một. Như trong đời thường, bệnh về thể xác có nhiều loại từ bệnh nhẹ là cảm cúm đến bệnh các tạng phủ, bệnh do vi trùng… Mỗi bệnh phải dùng một số thuốc đặc hiệu. Nhưng đích đến vẫn là một: là sự khỏe mạnh. Do đó nếu tôi đau đầu do cảm, tôi uống loại thuốc này rất hay. Nhưng tôi không thể chỉ cho một người bị đau đầu do bị bệnh cao huyết áp được. Một thí dụ khác, hai người đi trên cầu khỉ. Người hướng dẫn không thể bảo hai người là phải cùng nghiêng bên phải hay bên trái được. Vì nếu 1 người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng phải thì anh hướng dẫn phải yêu cầu người ấy nghiêng về bên trái để được thăng bằng. Còn người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng trái thì anh hướng dẫn không thể nghiêng thêm bên trái được. Tôi nghĩ Phật Pháp là bất định pháp. Tùy chỗ chấp, chỗ sai lầm của chúng sinh mà có một phương cách thích hợp. Trong y dược, Sâm Nhung vô cùng tốt với người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp. Nhưng sâm nhung lại tối kỵ cho người bị bệnh cao huyết áp!
Phật giáo có 84000 pháp môn. Cái này bỏ đi vì đó chỉ là một lời nói nó không có nhiều giá trị, nó chỉ mang tính ước lệ rằng có rất nhiều cách để đạt được sự giải thoát hoàn toàn dù rằng không cần tỏ ngộ hết tất cả vạn pháp mà chỉ cần tỏ ngộ về sự giải thoát hoàn toàn. Vì nó và sự tỏ ngộ không đúng mực mà đệ tử Phật đã chia tông, rẽ giáo Thiền, Tịnh, Mật làm rối mắt nhân gian, khiến người học Phật rơi vào lối rẽ, đường cùn. Thử hỏi đã có mấy ai nhờ Thiền, Tịnh, Mật mà thành Phật? Phật pháp là bất định pháp là đúng nhưng phải nói thêm sự giải thoát hoàn toàn là định pháp thì mới đủ nghĩa về pháp Phật. Vậy nên Phật pháp là là định pháp và cũng là bất định pháp. Giáo lý nhà Phật lẽ ra là sống nhưng vì người học Phật tự trói mình vào Tam tạng kinh khiến kinh điển chết vì thế đạo Phật mới rơi vào thời mạt pháp. Trong giáo lý, kinh điển các tôn giáo thì chỉ có kinh điển đạo Phật là kinh điển mở nhưng vì kém hiểu biết người học Phật đã khiến kinh điển nhà Phật chết và mất dần giá trị. Việc tùy bệnh mà cho thuốc là việc làm rất đúng mực, có ý nghĩa.
- Những phương pháp tôi đã biết đã hành tôi tin rằng đều do các vị phò trợ vô hình hướng dẫn. Có những phương pháp áp dụng rồi không còn áp dụng nữa. Tôi cho đó là sự ôn tập những gì đã tu tập ở kiếp trước. Mọi việc xảy ra đều là bài học cho mình. Mọi bạn đạo đã quen biết đều có nhân duyên từ những kiếp trước và từ họ có thể có lợi ích cho mình và ngược lại.
Mong rằng chú bỏ qua niềm tin các vị vô hình hướng dẫn. Cháu không nói họ không tồn tại vì cháu đã từng tiếp xúc họ. Trên thực tế họ không biết đường thì làm sao có thể hướng dẫn chú cho đặng. Họ còn đang không rõ lối đi cho chính họ thì sao có thể giúp chú. Những người rõ biết đường thì đều nhập niết bàn tịch diệt cả rồi. Lời này cháu nói không hư dối chú à. Nếu chú tỏ ngộ thì chú còn phải giúp ngược lại họ, khuyên họ giải thoát khỏi thể không hư dối hoặc tìm lấy một hình người tu tập thoát luân hồi…
- Trong đạo Phật không có người nhỏ tuổi hay lớn tuổi hơn mình. Cũng như bây giờ tôi (64 tuổi) và một ông lão 100 tuổi. Năm sau ông lão chết và tái sinh trở lại. Lúc này thì tôi đã già hơn ông lão (vì lúc này ông mang thân xác của một em bé). Cuộc đời ví như một tuồng hát. Tôi thí dụ có thể hiện giờ anh đóng vai đạo sư. Tôi đóng vai bác sĩ. Hoặc ai khác đóng vai kẻ ăn xin… thì cũng chẳng qua là vai diễn. Và ai cũng có sẵn Phật tính (Chơn như, Bản lai diện mục, tánh Giác, tánh Biết thường hằng bất sinh bất diệt). Nếu chúng ta chấp vào vai diễn tạm trong kiếp này mà quên đi Phật tánh sẵn có thì chúng ta bị trôi lăn theo sinh tử vô thường. Còn chúng ta sống với tánh Biết vốn có thì chúng ta đã sống với cái bản chất Vô cùng của mình rồi.
Thực ra có lớn, có nhỏ vì ông cụ 100 tuổi khi trở thành một em bé đã không còn nhận biết về tiền kiếp của mình, bảo họ là 1 e rằng không phải lẽ; Dù vậy họ cũng chẳng phải 2. Tuy nhiên, với giao tiếp thông thường thì gặp người lớn gọi ông, gặp em bé kêu cháu thì ổn hơn.
Cháu sẽ nói rõ một chút về đạo Phật. Đạo Phật là đạo giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Giác ngộ đơn giản chính là sự hiểu biết; giác ngộ giải thoát hoàn toàn là sự hiểu biết sáng rõ đúng thật về sự giải thoát hoàn toàn. Thế nên sự hiểu biết đúng mực, đủ đầy về sự giải thoát là điều kiện tiên quyết giúp con người vượt khỏi luân hồi. Là chìa khóa để buông bỏ cái tôi mà mỗi người đang chấp giữ. Cái tôi mà mỗi con người đang chấp giữ chính là nguyên nhân khiến con người nhào lên, lộn xuống trong 3 cõi 6 đường.
Vì vậy cháu sẽ chỉnh sửa lại khái niệm Phật tính của chú. Phật tính chính là tánh giác, tánh biết về sự giải thoát hoàn toàn, là phần động, có tích lũy, gom góp; còn chân như, bản lai diện mục thì tạm gọi là Tâm, là phần tĩnh. Dù rằng cái biết sau cùng cũng phải buông bỏ nhưng phải biết rõ đúng sai, chẳng sinh lòng yêu ghét thì việc buông bỏ mới dễ dàng.
- Bản chất của vũ trụ (Phật tánh) là bất sinh bất diệt tròn đầy. Dù dưới hình hài của người trí, kẻ ngu, con vật… cũng mang bản chất của vũ trụ, cũng hàm chứa Phật tánh từ lúc mới sanh. Như nước biển, dù ở biển rộng bao la, hoặc dù rót vào bình, vào chai, vào lu thì đều là nước biển chớ không khác nhau do chúng được chứa vào vật đựng! Bản chất này không cần làm gì hết cũng là nước biển, cũng là Phật tánh sẵn có. Như vậy chỉ cần nhận lại và sống với Phật tánh có sẵn chớ thật ra không cần phải động thủ, chẳng cần phải tu đó là ý riêng của tôi).
Bản chất vũ trụ không là Phật tánh mà là tâm, là vạn pháp. Thế nên lập ngôn của chú có điều không ổn. Chúng sinh 3 cõi đều có Phật tánh là đúng nhưng chỉ có chúng sinh nẻo người đang tìm và đi trên con đường giác ngộ giải thoát may ra mới nhận biết Phật tánh mà thôi. Và ngày nay rất ít trong số họ sống bằng Phật tánh mà đạt được giải thoát hoàn toàn. Vì vậy hiện có rất ít người thoát khỏi luân hồi dù rằng có nhiều hơn điều kiện tiếp xúc kinh điển nhà Phật. Do có Phật tính mà không thể nhận biết thì khác gì không có Phật tính. Hơn nữa, nhận biết đã khó, sống đúng bằng Phật tánh càng không dễ. Thế nên bảo chỉ cần nhận lại và sống bằng Phật tánh sẵn có mà không cần động thủ, không cần tu e rằng hơi mạo hiểm trừ phi liễu ngộ vạn pháp, liễu ngộ Phật tánh. Nếu muốn làm được điều đó thì hãy tự xét lại căn cơ xem tự thân là người tiệm tu hay đốn ngộ. Người tiệm tu cần hành trì miên mật bảo nhậm bản tâm; người tu đốn ngộ sau khi nhận diện được bản tâm tự tu, tự hành cho đến khi liễu ngộ hoàn toàn thì tu mà không tu, hành mà không hành, không hành mà hành.
- Tôi tin lời đức Phật Thích Ca nói: Chúng sinh ai cũng có Phật tánh (bản chất của cái vô cùng, điểm linh quang của Thượng đế theo đạo Cao Đài, bản lai diện mục, Chơn Tâm…) .
Chú bỏ cái hiểu của đạo Cao Đài đi. Tôn giáo này là một bản photo, góp nhặt giáo lý các tôn giáo khác 1 cách không hoàn chỉnh, rơi vào đó càng rối trí thêm. Nếu liễu ngộ thì họ đã không đem thánh thần, thiên địa, Phật,… đặt cả lên bàn thờ và đưa thượng đế làm chủ tể của muôn vật; Rồi vẽ bày Phật tánh là điểm linh quang của thượng đế, còn trói con người với thượng đế thì việc giải thoát quá xa vời.
Do đó chỉ cần nhận lại Phật tánh và sống với Phật tánh là đạt được ý nguyện của kiếp nhân sinh. Nhưng đó chỉ là sự hiểu biết bằng trí óc (vẫn là dựa trên sinh diệt) chứ thật ra bấy lâu tôi vẫn cứ loay hoay. Tôi như con côn trùng cứ cố sức bay ra khỏi phòng nhưng không tìm được cửa mà cứ đâm đầu vào vách!
Và đến đây thì chú đã tự khẳng định về điều chú nói trước đó “chỉ cần nhận lại và sống bằng Phật tánh mà không cần phải hành trì” là có điều chưa ổn. Phải chăng chú tin mình có Phật tánh mà chưa sống được? Thế nên pháp xuất thế gian chẳng thể dùng cái hiểu biết, tư duy chủ quan mà thâm nhập được, chú Hải à! Chú đã hội đủ rất nhiều yếu tố để vượt khỏi luân hồi như sự tín tâm Phật tánh, tin nhận có thế giới vô hình,… Tuy nhiên, chính cái biết chưa thông suốt đang trói chú. Trong cái biết của chú có những cái đúng, có những cái sai, chú cứ thong thả gạn lọc lại, khi nhận ra những cái sai là chú sẽ có được cái đúng. Và với một sự khách quan chú hãy xem sách của cháu rồi cho cháu biết chú tìm được gì hay không thấy có gì mới so với những gì chú đã biết. Những điều gì chú cảm thấy chưa ổn, những gút mắc chú cứ trao đổi thẳng thắn với cháu. Cháu sẽ cùng chú mở những nút thắc đó. Đạo Phật là đạo hiểu biết vì thế hãy dùng sự hiểu biết để khai mở những điều chưa rõ về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Tôi lại nghe nói tâm yên thì Phật tánh hiển lộ. NHƯNG LÀM CÁCH NÀO TÂM YÊN?
Đây là câu nói đúng nhưng hơi vụng. Nó tựa như câu tâm bình thường thị đạo nhưng thế nào là tâm bình thường thì lại không nói rõ khiến người chẳng biết đường hành.
Tôi không biết tu có cần phải ngồi thiền hay không. Ngồi là ngồi bao lâu và khi ngồi phải làm gì, để tâm yên hay quán xét một vấn đề gì. Còn lúc không ngồi đi, đứng, nằm) thì phải tu như thế nào. Lúc đối diện với sắc (hình ảnh, màu, nam nữ, tiền bạc…), thanh (tiếng xe cộ, chửi rủa, khen chê, tiếng nhạc êm đềm, âm thanh chát chúa…), hương (mùi thơm, thối, mùi tóc, mùi thức ăn…), vị (mặn, ngọt, chua, cay, đắng…), xúc (sự tiếp xúc của thân này với tất cả các đối tượng )… thì phải tu như thế nào, phải sống như thế nào mới có thể trực nhận được chân lý??? Thật sự đây là một vấn đề quá hóc búa cho con người. Và với cá nhân tôi dù đây là chuyện tôi đã lưu tâm từ lâu vẫn không thể bước thêm một ly nào…
Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền,… là nhị pháp còn Phật pháp là pháp bất nhị. Dù vậy Lục Tổ không khiến người tu không ngồi thiền mà là đừng quá chấp chặt việc ngồi thiền. Thế nên việc ngồi thiền là tùy thuận, có điều kiện thì ngồi, ít nhiều, thời gian là tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Việc ngồi thiền giữ tâm lặng lẽ, lắng tâm sẽ giúp trí não khỏe mạnh, thân thể máu huyết cân bằng sẽ góp phần khai mở cái biết sáng rõ, đúng mực về con đường giải thoát hoàn toàn. Những lúc không ngồi thì “Tâm bình thường là đạo”, sắc thanh hương vị xúc là cảnh, cảnh vốn vô thường thì đừng tham đắm cảnh mà khiến tâm cũng vô thường, vọng tâm làm chủ, thường sống bằng vọng tâm sẽ hiển bày tham sân si mạn nghi là những tánh biết dính mắc khiến con người trôi nổi trong lục đạo… Chú cứ giữ tâm bình thường, an nhiên thì về sau chú sẽ nhận biết mình đã tiến xa chứ không chỉ là bước thêm vài ly. Điều quan trọng ở cái biết, trí tuệ khai mở và phải hằng sống với cái biết đúng mực, sáng rõ - Tâm bình thường là đạo.
Cho nên nghe anh viết, trình bày và xác nhận rằng anh đã đến nơi Phật Thích Ca đến, tôi hết sức vui mừng. Xin anh chẩn bệnh và bốc thuốc cho tôi để được tỉnh mộng thực sự, tỉnh mộng hoàn toàn. Tôi nguyện khi tỉnh thức sẽ đem mọi khả năng để tìm người thực tâm muốn trở về nhà, tìm mọi cách để họ có thể về được quê xưa như mình.
Cháu rất trân trọng tâm nguyện của chú. Vì thế cháu sẽ làm mọi cách có thể những mong chú đạt thành sở nguyện nhưng chính chú mới là người tự giải thoát cho chính mình. Tuy nhiên, cháu lại thêm một lần nữa khiến chú rối trí 1 chút. Thật không có nhà, không có quê xưa để về. Vì nếu còn muốn tìm về quê xưa, nhà cũ thì còn trôi nổi; vấn đề chỉ là sự dừng lại hay tiếp tục đi trong luân hồi mà thôi.
Không sai, cháu có nói đã đến nơi Phật Thích Ca đã đến. Đó là khi cháu nhận lại tánh giác. Khi rõ biết và sống với tánh giác thì có nơi nào người học Phật không đến được, 3 cõi ra vào tự tại, thường sống nơi niết bàn. Dù vậy niết bàn không phải là cảm giác thăng hoa, thoát tục, thơi thới mà chú đã từng tiếp xúc. Đó chỉ đơn giản là thường an lạc tịnh.
Chúc chú khỏe mạnh và sớm khai mở nguồn tâm, sống được nơi chân như.

Phải chăng chú đã 64 tuổi? Thế thì chú càng nên quen dần với việc buông bỏ thì sẽ tốt hơn. Cánh cửa cuối đường hầm và Dứt Phàm Thành Thánh có lẽ sẽ có chút ít giá trị đối với chú.
Thật ra con người còn sống là còn vướng cảnh là việc rất bình thường. Có điều vướng nhiều hay vướng ít, biết đến Phật tánh là phải biết buông bỏ, buông bỏ từ từ, từng chút một và rồi đời sống ngày càng thảnh thơi, an lạc hơn. Việc chú bị trôi theo những suy nghĩ viển vông là điều dễ hiểu vì chú đang sống kia mà. Nhưng chú hãy rèn luyện sự tỉnh thức đừng dính mắc vào những suy tư viễn vông đó, cái nào làm được thì làm; không làm được thì bỏ đi. Sự hiểu biết tự tánh vạn pháp sẽ có ích cho chú. Chú cứ tham khảo sách của cháu qua 1 lượt rồi xác định lại “cháu có chỗ để dùng không?” và trao đổi thêm. Nếu chú thấy cháu có chỗ không ổn thì chú cứ thẳng thắn chỉ rõ. Cám ơn chú đã liên lạc!

Hỏi đáp cùng người học Phật

Hỏi đáp cùng người học Phật - Phần Hỏi.
Hỏi:
Kính anh, email này tôi có gửi đến anh nhưng có lẽ không đến do sai địa chỉ email. Nay tôi xin viết lại. Như một bệnh nhân đang khai rõ bệnh mình, có những triệu chứng gì để thầy thuốc bắt mạch chẩn đoán và tiện ghi đơn thuốc. Xin anh dành chút thời gian quý báu để tôi trình bày quá trình tìm đạo của tôi:
- 30 năm trước, tôi có tập phương pháp của Ông Tám, Lương sĩ Hằng và tôi có được hiện tượng xuất hồn. Sau khi tôi ngồi thiển hơn 30 phút, lúc nằm xuống tôi thấy tôi vượt ra khỏi cơ thể. Lúc đó tôi có quan sát lại cơ thể mình đang nằm, chỉ thấy một hình dạng như cơ thể con người, có màu tối đen. Thời gian trước tôi có đọc sách Thông thiên Học và biết linh hồn có thể đi xuyên qua bức tường. Và tôi thử khi xuất hồn, tôi không đi ra ngoài phòng bằng lối cửa, mà tôi đi xuyên tường. Lạ thật tôi vượt qua bức tường dễ dàng. Sau đó tôi nhìn xuống đất (lúc đó đang ở trên lầu 1), thấy cảnh vật, cây cối trong một ánh sáng mờ mờ như lúc 6, 7 giờ chiều. Tôi đi một lúc và khi trở lại gần thân thể. Lúc ấy cái tạm gọi là linh hồn bị hút mạnh vào thể xác. Lúc đó tôi tỉnh lại và tôi cố gắng nhớ tư thế lúc ngủ để hy vọng rằng sẽ chủ động xuất hồn lần nữa. Nhưng từ đó hiện tượng xuất hồn không trở lại nữa. Đây là một hiện tượng lạ nhưng tôi nghĩ là do sự hoạt động của óc não nên có thể xảy ra những ảo giác, mặc dù ảo giác này rất thật.
- Thời gian sau nữa, tôi không nhớ rõ. Tôi có quen một anh bạn. Tôi nói với anh ấy là tôi không tin có thế giới vô hình. Và anh bạn dẫn tôi đến một anh bạn khác dạy ở Đại học Mỹ thuật Sài gòn. Anh này tên Nhựt, anh có một ông Lục người Miên theo. Khi anh làm chuyện gì không phải, ông Lục nhập vào và anh tự đánh đập vào cơ thể mình. Khi tỉnh lại anh mới biết. Một lần, tôi và bạn tôi cùng anh Nhựt đi đến nhà một người bạn khác. Anh bạn này thứ Ba, làm nghề chữa bệnh tà ma… Anh Ba và anh Nhựt gặp nhau lần đầu. Khi tôi, bạn tôi và anh Nhật vào nhà. Sau khi chào hỏi, giới thiệu. Anh bạn tôi nói với anh Ba, đây là anh Nhựt có ông Lục người Miên theo, ông Lục này có thể nhập vào bất cứ lúc nào. Lúc này, anh Ba nói: nhập ở đâu chớ tại đây thì không thể nhập vào xuất ra tùy ý được. Ngay lúc đó anh Nhựt thay đổi tư thế, anh khệnh khạng đi đến bàn thờ thắp nhang cặm vào lư hương rồi nói bằng thứ tiếng lạ, tôi không hiểu được ý nghĩa. Anh Ba cũng ngạc nhiên vì ông Lục vẫn nhập vào anh Nhựt dù ngay tại lãnh địa của anh. Định thần lại, anh Ba cũng đối đáp bằng thứ tiếng lạ đó. Hai người vẫn nói năng bằng những âm thanh mà chúng tôi không hiểu nghĩa được. Rồi anh Ba nói với anh Nhật: thôi mình nói bằng tiếng Việt đi, chớ như vầy thì anh em có ai biết được gì đâu. Bấy giờ hai anh nói bằng tiếng Việt, anh Nhựt thì nói giọng lơ lớ như người Miên nói tiếng Việt!.. Bây giờ những anh bạn đó mỗi người một nơi, có anh đã sống ở nước ngoài, còn anh ba Nhựt đã mất do tai nạn giao thông.
- Cạnh nhà tôi có một cô gái khoảng 18 tuổi. Cô này có bà ngoại chết cách đây vài năm. Một lần tôi đi làm về, thấy nhà bên cạnh rất đông người, ồn ào. Hỏi ra mới biết bà lão đã mất nhập vào cô gái 18 tuổi. Cô gái nói chuyện y hệt như một bà già. Cô nhắc chuyện xưa, hỏi thăm những người lối xóm. Cô đòi ăn bánh da lợn. Khi người nhà mua bánh về, bà lão (trên thân xác cô gái 18 tuổi khỏe mạnh) cầm miếng bánh da lợn và ăn miếng bánh da lợn như một bà lão. Cô gái này nói tụi bây cho tao ăn bánh da lợn gì mà dai quá! Sau khoảng một giờ, người nhà nói thôi ngoại nghỉ nói chuyện một lát đi để tụi con ăn cơm. Sau khi gia đình ăn cơm xong, thì cuộc đàm thoại giữa người âm kẻ dương lại tiếp tục!
- Vài sự việc trên đã cho riêng tôi một bài học vô cùng quý báu. Hơn 20 năm trước, khi đọc kinh Thủ lăng nghiêm, sau khi Phật chỉ rõ ông A nan là ông không phải là thân xác, mắt, óc não mà ông chính là tánh Biết thường hằng, bất sinh, bất biến, bất diệt. Lúc đó tôi còn nghi hoặc, tôi không tin. Vì tôi nghĩ đâu là thân, đâu là vọng tâm, đâu là chân tâm. Theo tôi chỉ có óc não là chủ đạo. Khi còn óc não thì còn hai trạng thái: một là tĩnh lặng, sáng suốt tạm gọi là chơn tâm và hai là sự nhận xét phân biệt khen chê, nghĩ quá khứ, tưởng đến tương lai, hạnh phúc, khổ đau… Nếu thân này chết đi óc não hư hoại thì còn đâu cái gọi là chân tâm, vọng tâm nữa??? Và nếu kinh sách hay người nào giải thích có lẽ tôi sẽ không bao giờ tin được.
Nhưng vài sự việc xảy ra mà tôi đã kể ở trên, đủ cho tôi thấy sau khi con người chết đi, thân thể, trí não này dù bị hư hoại đi, tánh Biết vẫn còn tồn tại và vẫn có sự sống sau khi con người chết đi, sau khi thân này, óc não này hư hoại.
- Vài năm sau, tôi đọc quyển Pháp bảo đàn kinh của Lục tổ Huệ Năng và suy tư về ý nghĩa của kinh. Câu mà tôi hay nhớ là: Tổ Huệ Năng bảo Huệ Minh: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?" Đột ngột, một lần tôi rơi vào một trạng thái lạ lùng. Tôi vẫn sinh hoạt như ngày thường, tôi vẫn đi làm việc, vẫn đang sống với vợ tôi. Tôi có cảm giác trong lòng hạnh phúc, thơ thới không tả được. Cảnh vật bên ngoài hình như sáng rỡ, lung linh. Trong thời gian rơi vào trạng thái này, hầu như tôi không còn suy nghĩ, phân biệt gì. Toàn bộ bộ máy suy nghĩ như dừng lại. Tôi cảm giác không một chút phiền muộn, thân thể như nhẹ nhàng hơn nhiều. Nếu suốt cuộc đời như ba ngày mà tôi trãi nghiệm có lẽ không thể dùng bất cứ gì để đánh đổi. Tôi nghĩ rằng mình đã rơi vào trạng thái ngộ đạo hay gì gì đó rồi. Nhưng sau ba ngày tôi trở lại bình thường như mọi ngày!

- Kính anh, còn những chuyện lạ khác, tôi xin được không kể ra. Nhưng tất cả sự việc xảy ra, cuối cùng cho tôi cảm nhận, tin tưởng tuyệt đối là có một đấng, hay một lực vô hình toàn tri, toàn năng. Và cũng có những vị phò trợ vô hình, họ có thể theo hướng dẫn cho mỗi người suốt một kiếp người. Vì tin như thế, tôi thường đứng thành tâm khấn nguyện Ơn Trên cho tôi gặp được một phương pháp có thể theo đó mà hòa với Ơn Trên sống với bản chất thực của mình… Đồng thời cho tôi gặp những bạn đạo cùng ý hướng… Trong hơn năm nay tôi có đọc được những trải nghiệm và bài giảng của đạo sư Duy Tuệ, và ba quyển sách của ông Eckhart Tolle (sức mạnh của hiện tại, sức mạnh của sự Tĩnh lặng, Một thế giới mới). Gần đây tôi biết được nhiều đạo hữu khác. Tất cả đều đem lại cho tôi những bài học, kinh nghiệm hữu ích.
Thưa anh, bây giờ tôi xin được nói về ý kiến cá nhân của tôi:
- Phật và Ơn Trên ai hơn ai? Tôi nghĩ, trước khi đức Phật Thích Ca sinh ra thì đã có chư Phật, vô số Phật đã thành rồi. Phật Thích Ca cũng là người như chúng ta. Nhưng ngày đã nhận lại và sống với bản lai diện mục, sống lại với tánh Vô Cùng sẵn có. Và vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô, khoảng không gian bao la không ngằn mé này đã có trước lâu lắm rồi. Nhưng khi tôi tin có Thượng Đế ( tạm gọi là vậy ) hoặc lực tối cao, hoặc thái cực hay gì gì đó thì có một câu hỏi trong tôi lại xuất hiện: Ai sinh ra Thượng đế đây? Đây là điều không thể hiểu nổi. Con người với trí óc hạn hẹp không thể trả lời câu hỏi này được.
- Không thể phân chia đạo Phật làm Phật giáo nguyên thủy hay Đại thừa hay gì gì nữa. Vì Phật Thích Ca đã nói “Đạo ta chỉ có một vị duy nhất là giải thoát”.
- Phật giáo có vô số (84.000 pháp môn) được chia ra làm 3 tông: Thiền, Tịnh, Mật . Chúng sinh tùy chỗ chấp của mình mà chọn một trong 3 tông. Nhưng đích đến cũng là một. Như trong đời thường, bệnh về thể xác có nhiều loại từ bệnh nhẹ là cảm cúm đến bệnh các tạng phủ, bệnh do vi trùng… Mỗi bệnh phải dùng một số thuốc đặc hiệu. Nhưng đích đến vẫn là một: là sự khỏe mạnh. Do đó nếu tôi đau đầu do cảm, tôi uống loại thuốc này rất hay. Nhưng tôi không thể chỉ cho một người bị đau đầu do bị bệnh cao huyết áp được. Một thí dụ khác, hai người đi trên cầu khỉ. Người hướng dẫn không thể bảo hai người là phải cùng nghiêng bên phải hay bên trái được. Vì nếu 1 người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng phải thì anh hướng dẫn phải yêu cầu người ấy nghiêng về bên trái để được thăng bằng. Còn người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng trái thì anh hướng dẫn không thể nghiêng thêm bên trái được. Tôi nghĩ Phật Pháp là bất định pháp. Tùy chỗ chấp, chỗ sai lầm của chúng sinh mà có một phương cách thích hợp. Trong y dược, Sâm Nhung vô cùng tốt với người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp. Nhưng sâm nhung lại tối kỵ cho người bị bệnh cao huyết áp!
- Những phương pháp tôi đã biết đã hành tôi tin rằng đều do các vị phò trợ vô hình hướng dẫn. Có những phương pháp áp dụng rồi không còn áp dụng nữa. Tôi cho đó là sự ôn tập những gì đã tu tập ở kiếp trước. Mọi việc xảy ra đều là bài học cho mình. Mọi bạn đạo đã quen biết đều có nhân duyên từ những kiếp trước và từ họ có thể có lợi ích cho mình và ngược lại.
- Trong đạo Phật không có người nhỏ tuổi hay lớn tuổi hơn mình. Cũng như bây giờ tôi (64 tuổi) và một ông lão 100 tuổi. Năm sau ông lão chết và tái sinh trở lại. Lúc này thì tôi đã già hơn ông lão (vì lúc này ông mang thân xác của một em bé). Cuộc đời ví như một tuồng hát. Tôi thí dụ có thể hiện giờ anh đóng vai đạo sư. Tôi đóng vai bác sĩ. Hoặc ai khác đóng vai kẻ ăn xin… thì cũng chẳng qua là vai diễn. Và ai cũng có sẵn Phật tính (Chơn như, Bản lai diện mục, tánh Giác, tánh Biết thường hằng bất sinh bất diệt). Nếu chúng ta chấp vào vai diễn tạm trong kiếp này mà quên đi Phật tánh sẵn có thì chúng ta bị trôi lăn theo sinh tử vô thường. Còn chúng ta sống với tánh Biết vốn có thì chúng ta đã sống với cái bản chất Vô cùng của mình rồi.
- Bản chất của vũ trụ (Phật tánh) là bất sinh bất diệt tròn đầy. Dù dưới hình hài của người trí, kẻ ngu, con vật… cũng mang bản chất của vũ trụ, cũng hàm chứa Phật tánh từ lúc mới sanh. Như nước biển, dù ở biển rộng bao la, hoặc dù rót vào bình, vào chai, vào lu thì đều là nước biển chớ không khác nhau do chúng được chứa vào vật đựng! Bản chất này không cần làm gì hết cũng là nước biển, cũng là Phật tánh sẵn có. Như vậy chỉ cần nhận lại và sống với Phật tánh có sẵn chớ thật ra không cần phải động thủ, chẳng cần phải tu (đó là ý riêng của tôi).
- Tôi tin lời đức Phật Thích Ca nói: Chúng sinh ai cũng có Phật tánh (bản chất của cái vô cùng, điểm linh quang của Thượng đế theo đạo Cao Đài, bản lai diện mục, Chơn Tâm…). Do đó chỉ cần nhận lại Phật tánh và sống với Phật tánh là đạt được ý nguyện của kiếp nhân sinh. Nhưng đó chỉ là sự hiểu biết bằng trí óc (vẫn là dựa trên sinh diệt) chứ thật ra bấy lâu tôi vẫn cứ loay hoay. Tôi như con côn trùng cứ cố sức bay ra khỏi phòng nhưng không tìm được cửa mà cứ đâm đầu vào vách!
Tôi lại nghe nói tâm yên thì Phật tánh hiển lộ. NHƯNG LÀM CÁCH NÀO TÂM YÊN??? Tôi không biết tu có cần phải ngồi thiền hay không. Ngồi là ngồi bao lâu và khi ngồi phải làm gì, để tâm yên hay quán xét một vấn đề gì. Còn lúc không ngồi (đi, đứng, nằm) thì phải tu như thế nào. Lúc đối diện với sắc (hình ảnh, màu, nam nữ, tiền bạc…), thanh (tiếng xe cộ, chửi rủa, khen chê, tiếng nhạc êm đềm, âm thanh chát chúa…), hương (mùi thơm, thối, mùi tóc, mùi thức ăn…), vị (mặn, ngọt, chua, cay, đắng…), xúc (sự tiếp xúc của thân này với tất cả các đối tượng )… thì phải tu như thế nào, phải sống như thế nào mới có thể trực nhận được chân lý??? Thật sự đây là một vấn đề quá hóc búa cho con người. Và với cá nhân tôi dù đây là chuyện tôi đã lưu tâm từ lâu vẫn không thể bước thêm một ly nào! Cho nên nghe anh viết, trình bày và xác nhận rằng anh đã đến nơi Phật Thích Ca đến, tôi hết sức vui mừng. Xin anh chẩn bệnh và bốc thuốc cho tôi để được tỉnh mộng thực sự, tỉnh mộng hoàn toàn. Tôi nguyện khi tỉnh thức sẽ đem mọi khả năng để tìm người thực tâm muốn trở về nhà, tìm mọi cách để họ có thể về được quê xưa như mình.
Thành tâm mong được sự khai ngộ của anh. Kính chúc anh luôn vui khỏe.

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2018

Ham Tiếc Sinh Tử
Tương truyền có một người đến hỏi Osho rằng:
- Thưa ngài! Tôi nghe tín đồ của ngài Rinpoche nói rằng Phật Thích Ca hiện tồn tại ở tầng thứ 7 trong bậc thang tiến hóa tâm linh; Còn ngài Rinpoche chứng ngộ cao hơn, ngài ấy ở tầng thứ 8 trên bậc tiến hóa. Điều này có đúng không?
Osho mỉm cười:
- Đúng vậy.
Ngay lúc người đến tham vấn còn đang ngẩn người ra suy tư, Osho nở nụ cười tinh quái nói tiếp:
- Ông biết vì sao ta nhận biết điều đó không? Vì ta đang đứng ở tầng thứ 14 nên ta nhìn thấy rất rõ.

Mặt bằng tri thức chung của người học Phật ngày nay hiển nhiên là cao hơn so với sự hiểu biết ở người học Phật thời trước. Và với sự phát triển truyền thông nhờ công nghệ thông tin thì người học Phật ngày nay dễ dàng tiếp cận kinh sách Phật học, một số người học Phật gần như là một pho Tam Tạng kinh sống. Mặc dù vậy người học Phật gần như là không thể ngộ nhập Phật tri kiến, không thể chứng ngộ vô sanh là vì lẽ gì?
Vì bởi tri kiến lập tri tức vô minh bổn, vì người học Phật bị trói vào định kiến “Đây là thời mạt pháp và vì người học Phật Ham Tiếc Sinh Tử.

Do có điều kiện tham khảo kinh sách đạo Phật và được biết đến nhiều pháp môn mang lại sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn nên người học Phật ngày nay dễ thường bị rối trí trong mạng lưới tri kiến Phật học cùng những pháp môn tu tập khác nhau. Có người học Phật ngỡ rằng học Phật bằng âm thanh – Quán Âm – Pháp nhĩ căn viên thông, có người học Phật tơ tưởng đến hào quang Phật – Ánh sáng, có người học Phật mong cầu Phật lực gia hộ như là từ trường – Năng lượng, có người lại tin rằng học Phật hay chứng ngộ là một chuỗi những tiến hóa tâm linh – có những nấc thang tâm linh để cho người học Phật tăng trưởng qua từng kiếp sống trong chuổi luân hồi, có người học Phật cho rằng hãy Tỉnh Thức trong từng phút giây, có người học Phật lại bảo hãy Chánh Niệm Tỉnh Giác với Cái Đang Là, ngay nơi đó là Niết bàn, ngay nơi đó là chứng ngộ chẳng cần tìm đâu xa, có người lại rằng người học Phật phải kiến tánh, sống được với Cái Thấy Biết Thường Hằng là chứng ngộ,…

Những định kiến mà người học Phật đang chất giữ, chứa nhóm ở bên trên và cho rằng đó là chứng ngộ, là giải thoát, là nấc thang tiến hóa tâm linh thể hiện rằng sự mong cầu, sự Thường Còn. Đó là sự lệch lạc học Phật ở người học Phật xưa nay. Đó là Ham Tiếc Sinh Tử.
Phật thuyết “Lấy sắc, lấy âm thanh cầu Ta, người ấy hành đạo Tà; Chẳng thể thấy Như Lai”, “Vạn pháp do duyên sinh, do duyên mà diệt”… thì làm gì có cái thường còn, bất biến, có Sinh ắt có Diệt, có Thường tất có Đoạn,… Chỉ khi nào ngộ pháp vô sanh thì mới liễu thoát sinh tử.
Vậy nên nếu người học Phật còn trói trong những định kiến chứa nhóm “Ham Tiếc Sinh Tử” hoặc người học Phật còn Ham Tiếc Sinh Tử mà nói Giác Ngộ Giải Thoát Hoàn Toàn thì chỉ là tà kiến vô minh đâu thể nếm trải được vị niết bàn vô sở đắc, luân hồi cứ thế trôi lăn vô định.
Người học Phật mà học Phật theo lối gieo duyên hoặc cho rằng sẽ tiến hóa tâm linh qua từng kiếp luân hồi cũng là tà kiến khá nên xem xét lại. Vạn pháp là bất định pháp chịu nhiều sự chi phối từ duyên lẫn cộng nghiệp, kiếp này mang thân người duyên may biết đến Phật pháp liệu mai này có còn mang được thân người hay đã mang lông, đội sừng hay đang góp nhặt xác thân từ những mảnh vụn của Không gian và Thời gian thêm nhiều vạn kiếp thì lấy đâu ra sự tiến hóa tâm linh?
Luân hồi nơi 3 cõi 6 đường qua lời Giác Giả đâu từng là một sự tiến hóa luôn luôn hướng lên trên mà là một chuỗi sự sống nhào lên, lộn xuống nơi Tam giới.
Lại nữa, Bồ tát cách ấm còn mê người học Phật còn trong tri kiến vô minh lấy niềm tin, sự hy vọng, lòng tham cầu để tiến hóa tâm linh mà bước lên những nấc thang vươn tới những tầm cao mới chăng?

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

Cương Đao Sát Sư – Sư Nhất Hạnh – Thanh Từ - Thông Lạc
Thầy Nhất Hạnh
Trong buổi đầu tìm đến chánh pháp Ngạo Thuyết không có nhiều điều kiện tiếp cận kinh sách Phật học. Ngạo Thuyết tìm đến đạo Phật cũng chỉ vì muốn thoát ra những khổ não đời thường.
Ngày ấy, Ngạo Thuyết được giới thiệu với một thanh niên trẻ tuổi nhưng là người học Phật hăng say, vị thiện tri thức này khi ấy là tín đồ của Tịnh Độ Tông. Sơ khởi cuộc trò chuyện người bạn đó khuyên Ngạo Thuyết niệm Phật và lấy Giới làm thầy. Khi đó, Ngạo Thuyết nào biết gì nên không có điều cố kỵ với việc niệm Phật. Nhưng nghe lấy Giới làm thầy thì Ngạo Thuyết thấy không lọt tai nên có chất vấn ngô nghê rằng đâu thể lấy Giới làm thầy vì mình là chủ, mình là đối tượng tạo tác; Nếu giữ Giới thì mình là chủ, Giới chỉ là đối tượng nương nơi chủ thì đâu thể lấy Giới làm thầy cho được. Và người bạn kia chống chế rằng Giới sinh Định, Định sinh Huệ. Do vậy nên lấy Giới làm thầy, Ngạo Thuyết nghe giải thích rồi cũng không lấy làm thỏa mãn nhưng cũng cho qua.
Giới sinh Định, Định sinh Huệ là một luận thuyết sai lầm mà rất nhiều người học Phật kể cả giới Tăng bảo lấy đó làm luận thuyết nền tảng cho việc truyền pháp, chỉ dạy người.
Ngày ấy, Ngạo Thuyết mang trong lòng niềm trăn trở hun hút trong tâm thức – Tâm là gì, Tâm ở đâu, Đạo là gì? – Ngạo Thuyết mang niềm thao thức hỏi một vị Tăng bảo cũng như vài vị thiện tri thức nhưng Ngạo Thuyết đã không tìm ra được câu trả lời chuẩn mực.
Đạo Phật khi ấy với Ngạo Thuyết xa lạ, huyền bí lắm. Phật Thích Ca với Tam Minh, Lục Thông thần biến vô cùng, Phật xa cách quá!
Về sau, Ngạo Thuyết hữu duyên được nghe tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng của thầy Thích Nhất Hạnh. Sư ông Làng Mai đã giúp Ngạo Thuyết trông thấy Phật hiền hòa, từ ái và gần gũi. Qua Đường Xưa Mây Trắng, Ngạo Thuyết sinh lòng tin phục, mến mộ, kính trọng thầy Nhất Hạnh. Dù thông điệp Tỉnh Thức của sư ông không đủ sức giúp Ngạo Thuyết thoát ra được những chộn rộn, rối ren nơi cuộc sống đời thường, nhưng sự gần gũi và thi vị của Phật Thích Ca đã đi vào tâm hồn Ngạo Thuyết.
Sau này, việc tự lực hành trì đã giúp đôi mắt Ngạo Thuyết trong sáng hơn khi tiếp vật. Duyên Ngạo Thuyết lại được xem bản dịch Kinh Dấu Chân Voi do sư ông Thích Nhất Hạnh chuyển ngữ, lúc bấy giờ Ngạo Thuyết đã biết sư ông Làng Mai hãy còn lẩn quẩn, đọc thêm vài tác phẩm khác của sư ông Làng Mai góp phần giúp Ngạo Thuyết nhận diện sư ông chỉ có tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng là sự thăng hoa Phật tánh, còn những bài pháp thoại khác chỉ là cách trang hoàng, điểm tô cho chiếc bánh vẽ Tỉnh Thức thêm phần tinh tươm, sạch sẽ cùng với một chút hương vị đạo Phật mát lành. Ngạo Thuyết xưa nay thuộc hạng người được không mừng, mất chẳng lo nên cũng chỉ thoáng qua một niềm thất vọng man mác. Chuyện sư ông Làng Mai từ đấy chẳng bận lòng.
Dù vậy vụ việc xung đột tu viện Làng Mai ở Lâm Đồng cũng thoảng qua tai, việc thầy Thích Nhất Hạnh tổ chức Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan cùng với Tăng y xênh xang, tay kết ấn quyết thì lòng tin của Ngạo Thuyết đối với sư ông Làng Mai thoảng tan nhanh như bọt bóng xà phòng. Đành vậy! Rồi thì sư ông Nhất Hạnh xuất huyết não nhập viện, môn hạ đồ tử, đồ tôn của sư ông kêu gọi Phật tử khắp nơi trên thế giới tổ chức cầu an cho sư ông Thích Nhất Hạnh thì hình tích đã rõ quãng đời hoằng pháp, danh tiếng, sự Tỉnh Thức của sư ông đã bị hủy trong tay những môn đồ đệ tử thân tín của sư ông. Sinh già bệnh chết là sự đương nhiên, há có thể cưỡng cầu. Sư ông Làng Mai vì mãi hoằng pháp hay vì một lẽ nào đó đã không có thời gian cho sự rời đi của bản thân một cách nhẹ nhàng. Tỉnh Thức ở sư ông Làng Mai đã rơi vào năng thuyết, bất năng hành.
Công danh, sự nghiệp thoảng một áng mây bay. Sự ra đi khó nhọc của sư ông Làng Mai minh chứng rằng sư ông còn có điều trăn trở, còn việc chưa làm xong nhưng với niệm Tỉnh Thức mà sư ông bảo nhậm bấy lâu – Sự Tỉnh Thức Vô Ký – sư ông sẽ về đâu nơi 3 cõi 6 đường.
Thầy Thanh Từ
Sư ông dòng Thiền Trúc Lâm – Thích Thanh Từ cũng là một phiên bản tương tự của một hành giả không trọn vẹn. Ngày trước, Ngạo Thuyết có qua lại với một Tăng bảo đồ tôn của sư ông và được biết rằng Thiền sinh Thiền viện Thường Chiếu có vài vị còn trẻ đắc pháp rồi liền báo trước ngày giờ và thị tịch. Ngày ấy và cả bây giờ cũng vậy, Ngạo Thuyết dễ tin người, tin rồi bỏ qua và tùy duyên sẽ có khởi nghi, do vậy Ngạo Thuyết cũng tin lời vị Tăng bảo đó nói và qua đó cũng cho Ngạo Thuyết một điều hy vọng rằng hành nhân có thể bỏ xác thị tịch. Và đã lâu rồi, Ngạo Thuyết có thể chứng nghiệm được rằng nếu hành giả chuyên chú hành trì, kiên cố dụng tâm thì việc làm chủ cái chết không khó. Song đối chiếu lại hiện trạng của sư ông Thanh Từ thì Ngạo Thuyết mơ hồ nhận ra Thiền sinh tu học ở Thiền Viện Thường Chiếu có thể tự chủ thị tịch là vấn đề cần xem xét lại. Tông chủ sư môn còn chưa thể an nhiên thị tịch thì đồ tử, đồ tôn đâu dễ làm chủ việc tử sinh, hiển nhiên là sẽ có điều ngoại lệ.
Ngạo Thuyết biết đến sư ông Thanh Từ cũng khá lâu và có xem qua bản dịch kinh Kim Cang và Bát nhã Tâm kinh, với Ngạo Thuyết thì những bản dịch đó không quá sâu sắc, cũng không gần gũi. Chỉ thế thôi! Nước sông không phạm nước giếng.
Khi ấy, gặp những người học Phật tầm sư Ngạo Thuyết vẫn giới thiệu cho họ về với dòng thiền Trúc Lâm. Và cách đây, nhiều năm Ngạo Thuyết có đưa một người em lên Thiền Viện Thường Chiếu dự là người em sẽ xuất gia ở nơi đấy. Ngạo Thuyết vào chùa tham quan Thiền cảnh, Thư viện… và bắt gặp tượng bán thân của sư ông Thanh Từ - Ừ thì Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.
Khuynh hướng của Ngạo Thuyết là Thiền Tông nên có duyên gặp khá nhiều môn hạ của sư ông Thanh Từ; Với Kim Bài Miễn Tử - Cái Thấy Biết Thường Hằng là bảo vật trấn sơn của dòng Thiền Trúc Lâm. Thiền phái Trúc Lâm có hai tuyệt kỷ - Một là thấy tánh tiếp tục tu; Hai là Cái Thấy Biết Thường Hằng bất biến.
Sự tu hành khởi phải từ lý, sau mới đến sự. Nếu lý đã không thông rồi thì việc hành sự dù có miên mật đi chăng nữa cũng chẳng thể tròn vành được. Lý đã vậy, sự chẳng thể khác được. Vậy mà người học Phật sùng tín, kính tin sư ông Thanh Từ lại cứ chấp thủ tri kiến Phật học sai lầm do chính sư ông tuyên thuyết và ra sức xiểng dương.
Xét lại Cái Thấy Biết Thường Hằng, Cái Đang Là, Tỉnh Thức dễ thường rơi vào hai lỗi chính trong chánh pháp Như Lai tạng. Cụ thể: Lỗi thứ nhất là sự hiện hữu Cái Đang Là, Cái Thấy Biết Thường Hằng, Sự Tỉnh Thức Xuyên Suốt đó là Ngã, đã có Ngã liền sinh ra Ngã Kiến; Lỗi mắc phải nghiêm trọng thứ hai đó là thường hằng, xuyên suốt, bất biến chính là rơi vào Thường Kiến của ngoại đạo.
Cho rằng Phật chứng đạo, người chứng ngộ nhập diệt vẫn còn đó Cái Thấy Biết Thường Hằng, đây là tà kiến chứ không phải là chánh kiến trong Bát chánh đạo. Lý thuyết Phật, người chứng ngộ giữ Cái Thấy Biết Thường Hằng mà không can thiệp, không tạo tác, không chi phối với xã hội loài người thì sự tồn tại đó đâu có ý nghĩa gì, sự tồn tại đã không còn ý nghĩa, vậy tồn tại mãi mãi để làm chi nữa. Và phải chăng Phật Thích Ca biết chế tạo vũ khí nguyên tử, vệ tinh, tàu ngầm…
Nếu Cái Thấy Biết Thường Hằng Bất Biến vậy hiện trạng sư ông Thích Thanh Từ thể hiện rằng ông chưa chứng ngộ và đang chịu sự trả nghiệp.
Quả thật, các vị Tăng bảo hành giả sau khi tỏ ngộ chút ít chánh pháp đã dấn thân hoằng pháp và mất luôn thời gian hành trì hàm thụ. Việc Phật sự bộn bề và các vị Tăng bảo vì không biết buông bỏ, biết dừng lại đúng lúc đã phơi bày ra hiện trạng “Lý sự chẳng đồng”, việc này ít nhiều gì cũng ảnh hưởng đến pháp môn truyền đăng nơi mỗi hành giả. Và vị Tăng bảo chưa chứng ngộ chánh pháp, chưa liễu vô sanh sẽ lại trôi lăn vô định nơi lưới mộng luân hồi. Xét lại thì cũng luống uổng một đời tu học – Tín Nguyện Phụng Hành.
Thầy Thông Lạc
Ngạo Thuyết vẫn luôn giữ niềm kính trọng của mình đối với các vị Tăng bảo tiền bối; Với Ngạo Thuyết họ luôn là những vì sao sáng trên bầu trời Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên thầy Thích Thông Lạc là điều ngoại lệ, Ngạo Thuyết cũng không khinh chê sư thầy Thông Lạc mà chỉ cảm thấy đáng tiếc cho sự học Phật, hành pháp của sư ông Thông Lạc. Sự học Phật bị giới hạn hẳn do sự kém khuyết sự hiểu biết thường thức, từ đó sư ông Thông Lạc rơi vào tình trạng biết 1 ngỡ rằng ngộ 10 nên ra sức hoằng pháp một cách cực đoan, bảo thủ và chủ quan.
Sư ông Thông Lạc vin níu vào một câu kinh dịch không tròn vành, rõ nghĩa – Không Có Linh Hồn trong bản dịch kinh của vị Tăng bảo Thích Minh Châu và từ đó thêm thắt ý tưởng cá nhân vào. Nếu thật sự Không Có Linh Hồn thì rơi vào biên kiến Đoạn Kiến, Tam Tạng kinh liền thành phế vật.
Những luận thuyết của thầy Thích Thông Lạc thường rất cực đoan, chủ quan, bảo thủ. Sư ông Thông Lạc cho rằng dòng Thiền do ông khai mở là Thiền nguyên thủy, pháp tu nguyên thủy nhưng thật ra dòng Thiền nguyên thủy đã là thương hiệu của hệ phái Nam Truyền, Theraveda.
Ở loạt bài Cương Đao Sát Sư, Ngạo Thuyết không có ý mổ xẻ sư Thông Lạc nhiều. Ngạo Thuyết chỉ điểm qua sai lầm nghiêm trọng trong giáo lý của sư ông Thông Lạc là Chấp Thủ - Không Có Linh Hồn và sự bảo thủ của sư ông đã khiến cho môn hạ, đồ tôn của sư ông Thông Lạc có một thời rất cực đoan, hiếu chiến và quá khích.
Có rất nhiều đồ tử, đồ tôn của sư ông Thông Lạc cho rằng sư ông Thông Lạc là một vị A la hán và là vị Tăng bảo duy nhất làm chủ sinh già bệnh chết. Nhận định này quá đỗi ngây ngô, nông cạn và rất cảm tính của những người học Phật sùng tín sư ông Thông Lạc, họ đâu biết rằng trước khi sư ông tịch 15, 20 ngày thì tình trạng của sư ông Thông Lạc là “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, chỉ có một người được tiếp xúc sư ông Thông Lạc ở những ngày cuối đời, và hiển nhiên đấy không là chủ ý của sư ông Thông Lạc. Điều này thể hiện rằng sư ông đã không thực sự tự tại như những lời đồn đoán.
Mặt khác, sư ông Thông Lạc không thực chứng A la hán vì lẽ người chứng ngộ A la hán không Toàn Giác như Phật nhưng không thể có kiến giải chánh pháp mắc sai lầm then chốt – Không Có Linh Hồn.
Nếu các bạn muốn tìm hiểu rõ hơn những sai lầm mắc phải ở sư ông Thông Lạc, các bạn có thể tìm trên internet bài viết Giải Mã Hiện Tượng Thích Thông Lạc.

Cương Đao Sát Sư – Sư Viên Minh 02
--- Bom Tấn ---
Chào các bạn! Hôm nay Ngạo Thuyết sẽ làm một cú hích nhằm tăng tính tương tác chia sẻ sự hiểu biết Phật học nơi mỗi người.
Chúng ta đã làm bạn với nhau đã lâu chưa nhỉ? Hẳn là có người bạn mới, có người bạn cũ. Nhưng tin rằng để có thể đàm luận với nhau ít nhiều thì mỗi người đã có những bước tiến dài, những mở lòng nhất định. Hẳn là các bạn còn đồng hành cùng Ngạo Thuyết là đã hiểu được Ngạo Thuyết phần nào, bên cạnh đó cũng sẽ có ít người bạn chờ xem Ngạo Thuyết ngã chỏng vó khi nào chỉ để mỉm cười ý nhị hoặc khẽ khàng buông lơi – Đáng đời Ngạo Thuyết! Ngạo Thuyết có vẻ hiểu các bạn nhiều hơn một chút, chỉ một chút thôi.
Hôm nay, Ngạo Thuyết sẽ đề cập vài nghịch lý nơi học Phật ở các bạn, trước mắt Ngạo Thuyết chỉ đề cập đến 2, hoặc 4 nghịch lý mà các bạn không thể ngờ đến.
Điều nghịch lý thứ nhất là giới Tăng bảo bấy lâu nay học Phật nhưng không tin mình có thể thành Phật ngay nơi hiện kiếp. Bạn cũng vậy, bạn học Phật lại không đủ niềm tin rằng mình sẽ thành Phật. Tại sao lại như thế? Điều gì đã xảy ra?
Đã từ lâu, người học Phật xuất gia lẫn tại gia đều bị “nhồi sọ” rằng đây đã là thời mạt pháp, cơ may có người chứng ngộ rất mong manh và xen vào đó một chút tự ti nơi mỗi người đã định hình nên học Phật chỉ gieo duyên, chỉ mong nẻo tốt nơi kiếp sau, sự giải thoát hoàn toàn xa xôi, viễn vông quá đỗi. Kết quả là khi niềm tin không có mỗi mỗi chúng sinh, mỗi mỗi người học Phật sẽ cứ thế trôi lăn không điểm dừng nơi lưới mộng luân hồi.
Giác Giả từng nói “Ta là Phật đã thành, chúng sinh 3 cõi là Phật sẽ thành” và “Đương lai hạ sanh sẽ là Phật Di Lặc”. Bạn chờ đợi Phật Di Lặc ra đời và đến thọ ký cho bạn thành Phật chăng? Ai trong số 7, 8 tỷ người sẽ có cơ may đấy?
Hơn 2,6 tỷ năm khi trái đất thành hình thì hành tinh xanh mới xuất hiện những mầm sống đầu tiên. Và cách đây 6 triệu năm mới có mặt loài người trên trái đất. Bạn chờ đợi hiện kiếp này hoại tức trái đất này hoại và bắt đầu góp nhặt hình hài từ những mảnh vỡ của không gian, thời gian, thế rồi khoảng bao nhiêu tỷ năm nữa bạn mới góp nhặt trí tuệ đủ để giác ngộ giải thoát hoàn toàn?
Tại sao bạn phải chờ một người khác thành Phật mà không đủ dũng khí để nhận ra rằng chính bạn là Phật Di Lặc?
Điều nghịch lý thứ hai là hẳn bạn ít nhiều được nghe rằng Thái tử Tất đạt đa xuất gia vào khoảng hơn 20 tuổi, thành đạo vào khoảng hơn 30 tuổi; Điều này có nghĩa là Thái tử Tất đạt đa chứng ngộ sau khoảng trên dưới 10 năm tầm đạo cùng hành trì.
10 năm để một người, một chúng sinh trôi lăn nơi 3 cõi 6 đường chứng ngộ Toàn Giác mà không có được một mẩu giấy kinh Phật gối đầu nằm. Vậy mà bây giờ người học Phật có cả pho Tam Tạng kinh tham cứu mà không có lấy một Giác Giả ra đời và đổ lỗi kinh Phật nói “Đây là thời mạt pháp”. Một người lên đường tìm đạo không có ai giác ngộ dẫn đường, chỉ lối lại Toàn Giác sau 10 năm dấn thân. Và bây giờ người người học Phật đi tầm đạo ôm ngón tay chỉ trăng – Pho Tam Tạng kinh mà không người nào thấy trăng cả. Điều gì đã xảy ra?
Điều nghịch lý thứ ba là khi Phật dấn thân truyền trao chánh pháp, người học Phật thời ấy chứng ngộ A la hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn cũng chỉ bằng vào những câu chữ mà giờ kết tập lại gọi là kinh Phật. Thực tế là chỉ bằng vào những câu từ giao tiếp Phật đã giúp người học Phật thời ấy sáng mắt, chứng ngộ vô sanh. Phật không truyền tâm ấn hay một phép màu huyễn hoặc nào lên những người đến tham học. Vậy điều gì đã xảy ra khi mà người học Phật ngày nay có đủ duyên tham cứu rất nhiều bộ kinh Phật mà không chuyển được kinh lại bị kinh chuyển đến mê tâm, nhũn trí, mờ mịt cả lối về giác ngộ?
Lẽ nào căn cơ, trình độ người học Phật ngày xưa cao thâm hơn người học Phật thời nay?
Thêm một ý nữa xem như là điều nghịch lý thứ tư – Tại sao chỉ có Phật là Toàn Giác còn hàng môn đệ lại chỉ dặm chân ở chỗ A la hán? Phải chăng Phật còn giữ miếng khi “truyền nghề”?
Thật ra không phải Phật đã không giữ miếng mà Phật là người khát khao, là người thao thức, là người dấn thân quyết liệt tìm con đường giải thoát hoàn toàn; Sự bế tắc tâm thức đã chính muồi mong mỏi giải thoát. Còn hàng môn đệ và cả người học Phật về sau do con đường đã sẵn có nên cứ nhẩn nha, ngún nguẩy bước đi, tính chủ quan về sự an toàn đã có luôn hiện hữu nơi người học Phật thanh văn thừa. Điều này giống như một người lạc giữa sa mạc với lương khô, nước cạn, người đó buộc phải dấn thân vì nếu chậm là sẽ chết. Ngược lại, với một đoàn lữ hành đi trên sa mạc với lương thực, thức uống đủ đầy lại cưỡi lạc đà và lộ trình thì cầm trên tay, thêm có người rành rẽ lối đi chỉ dẫn. Họ sẽ như là đi du ngoạn. Thế thôi!
Nhưng nào các bạn, các bạn đã cầm trên tay lộ trình thành Phật, lộ trình giác ngộ rồi hay sao mà nhởn nhơ đến lạ.

Lẽ ra… Nếu bạn học Phật và thực sự mong mỏi điều liễu thoát sinh tử thì bạn phải đặt nó ra trước mặt và hỏi mọi người, thầy bạn về những gút mắt, những điều mà ngăn ngại bạn chạm đến việc thành Phật. Nhưng bạn đã không làm vậy.
Tại sao?
Trước những vị sư thầy bạn đã không dám bộc bạch nỗi lòng của mình, bạn cũng không dám hỏi một câu xác tín rằng “Bạch thầy! Thầy đã chứng ngộ chưa? Con tham bái thầy chỉ mong rằng sẽ chứng ngộ, sẽ giải thoát hoàn toàn, sẽ thành Phật.”. Bạn đã không dám nói những điều đại loại như thế, bạn lại đi hỏi việc phóng sanh, cầu an, giải hạn, cúng sao, ngày giờ đẹp xấu, việc ăn chay, ăn mặn… Tại sao lại như vậy?
Là bạn đang tu phước?
Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đã từng cảnh tỉnh môn đồ như sau:
"Sinh từ là việc lớn. Các ông suốt ngày chỉ biết cầu phước báu, chẳng cầu lìa biển khổ sinh tử. Tự tánh nếu mê phước làm sao cứu được?".
Các bạn lại tin nhận lời các sư thầy – Tăng bảo khuyến dụ tu phước để giải nghiệp nào hay những vị Tăng bảo ấy là người tối mắt đâu biết rằng phước đâu từng rời họa. Khi bạn đặng phước báu thì liền đó công đức sẽ bị ngăn ngại, trí tuệ theo đó cũng nhạt nhòa.
Và hãy nhìn những chùa to, Phật lớn, bạn hãy nhìn bằng con mắt huệ - ở nơi chốn xa hoa đấy đâu thể có dấu chân Phật mà bạn đi tìm, có chăng chỉ là những kho kinh sách đầy bụi bám, nhện giăng. Phật không ở những nơi xa hoa đó, Phật – Bồ tát sẽ đến với những người khốn khổ vì sen không thể mọc ở nơi không có bùn lầy.

Ngạo Thuyết là ai?
Ngạo Thuyết chỉ là người muốn rằng bạn sẽ thấy Phật rất gần gũi, Phật luôn ở bên bạn, bạn có thể cầm tay Phật và bước đi trên con đường chánh đạo thênh thang. Và nếu muốn, nếu khát khao bạn sẽ thành Phật.
Bạn đừng nhầm lẩn rằng Ngạo Thuyết là người mà bạn cầm tay bước đi, người đấy không phải là Ngạo Thuyết. Ngạo Thuyết chỉ là gã chèo đò năm cũ.

Bây giờ, có lẽ chúng ta lại hiểu nhau thêm một chút. Ngạo Thuyết sẽ đưa một link dẫn một bài pháp thoại của thầy Viên Minh. Mời các bạn lắng nghe và mở lòng tương tác!
Bạn đã không dám mở lòng ra để nói chuyện với sư thầy vì niềm kính trọng, e rằng khi hỏi thẳng sẽ xúc phạm sư thầy nhưng ở một chiều kích khác bạn không biết rằng khi bạn không dám hỏi thẳng những điều bạn trăn trở về đạo pháp, điều đó đồng nghĩa rằng niềm tin của bạn với vị thầy là không đủ, và bên cạnh đó lại thể hiện rằng bạn coi thường vị sư thầy của mình ở một gốc độ vi tế hơn.
Chuyện đó gác lại, hiện chúng ta là những người bạn. Vậy chúng ta hãy thẳng thắn, cởi mở hơn trong việc soi sáng cho nhau. Trân trọng!
Cương Đao Sát Sư – Nỗi Khổ Tăng Già – P.2
Như đã trình bày ở phần 1, trong nội bộ của Tăng già Việt Nam có sự trà trộn của một số lượng người không hề ít theo chủ nghĩa vô thần và hiển nhiên là với dụng tâm sai biệt thì nhóm người này đâu thể, đâu dễ giác ngộ đạo lý giải thoát; Họ len lõi vào Tăng đoàn để nắm bắt, kiểm soát, khống chế sự hoạt động Tăng già cũng như điều tiết giới Tăng bảo tuân thủ theo đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước.
Mặt khác, lực lượng Tăng già ngày trước với đa số là những người trốn quân dịch, hoặc những người có hoàn cảnh khốn cùng, túng quẩn như đói ăn, thất tình, mồ côi, cơ nhỡ…
Thêm vào đó, bối cảnh đất nước thời chiến tranh binh lửa góp phần làm sự học của giới Tăng bảo ngày ấy bị hạn chế ít nhiều. Kiến thức thường thức căn bản không có nên phần đa thế hệ Tăng già lớn tuổi không dễ tiếp cận được kinh sách chính thống của đạo Phật, và họ học Phật theo lối miệng truyền miệng, đó là một trông những nguyên nhân khiến giới Tăng bảo ngày trước góp phần truyền đăng cho đạo Phật lai Thần quyền của Trung Quốc lan tràn mọi hang cùng, ngõ hẻm miền bắc Việt Nam.
Bởi do chiến tranh loạn lạc nên giới Tăng bảo miền nam Việt Nam ít chịu ảnh hưởng của đạo Phật lai Thần quyền Trung Hoa. Nhưng bởi do việc hạn chế điều kiện tham cứu kinh sách nên có một thời giới Tăng bảo tồn tại chỉ như là người đảm nhận việc giữ chùa.
Ngược thời gian vào khoảng 40, 50, 60 năm về trước thì người học Phật (nói chung), giới Tăng bảo (nói riêng) đâu dễ gì cầm được một quyển kinh Phật trên tay; Có được một bộ kinh Phật trên tay đã là quá khó thì người học Phật đâu dễ biết Tam Tạng kinh có bao nhiêu bộ, bộ nào tương hợp với căn cơ, trình độ bản thân. Chính vì lẽ đó giới Tăng bảo xưa học Phật như những kẻ mù lòa dò dẫm từng bước đi.
Một lợi thế của giới Tăng bảo xưa là họ thấm được nỗi đau mất mát người thân, họ phần nào nếm trải được nỗi khổ đói ăn, khát uống, già bệnh chết – chiến tranh ly loạn là thế. Và hiển nhiên là do không thông đạt Phật đạo họ, giới Tăng bảo xưa sẽ cầu nguyện, lễ bái rất chí thành. Giới Tăng bảo xưa thường trực sống trong khổ não nên sẽ nếm được vị ngọt lành – Phiền não tức bồ đề.
Một lợi thế khác ở giới Tăng bảo xưa là nền tảng tri thức Hán Nôm nên họ dễ tiếp cận kinh sách Phật học phần lớn có nguồn gốc Tàu, Hán từ đa âm, đa nghĩa hội tụ ngôn ngữ Việt phong phú, nhiều màu sắc, thế là những vị Tăng bảo xưa có thể nếm vị kinh sách ở nhiều hương vị, khẩu vị khác nhau làm cho bản dịch kinh sách thêm phần phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, thành phần Tăng bảo xưa hội đủ điều kiện chạm đến kinh sách Phật để học thuật, dịch thuật quả thật là không nhiều.
Chính do điều kiện, bối cảnh xã hội mà giới Tăng bảo xưa khó thông đạt Phật pháp. Bên cạnh đó, người học Phật xưa nay thường, luôn mang cái Ta Biết, Ta Hiểu đi học Phật; Chính cái vỏ bọc tri kiến này đã ngăn ngại người học Phật (nói chung), giới Tăng bảo (nói riêng) khó thể đón nhận được chánh pháp sáng rõ một cách dễ dàng. Hẳn là giới Tăng bảo ngày nay đâu dễ dàng gì nghe pháp thoại từ những Ưu bà tắc, Ưu bà di, thiện tri thức ở nẻo đời một cách chí thành và cung kính thọ trì; Đó là hiện tượng đã như là bản chất cho thấy rằng người học Phật luôn mang cái Ta Biết, Ta Hiểu đi học Phật. Chính vì lẽ đó cũng như nhiều yếu tố khác mà giới Tăng bảo xưa nay đánh mất trung đạo, ngụp lặn nơi biên kiến mà không hề hay biết.
Giới Tăng bảo xưa nay học Phật trong tình trạng không có Giác Giả hộ pháp nên sự học Phật ngày xa rời chánh đạo.
Trong giới Tăng bảo tiền bối không hẳn là không có Long Tượng ra đời, nhưng vị Tăng bảo này chỉ thâm đạt một pháp Tổ Sư Thiền và ra sức phổ truyền pháp môn đắc địa của bản thân. Vị Tăng bảo ấy chính là thầy Thích Duy Lực, người khai sáng pháp môn Tổ Sư Thiền ở Việt Nam.
Tuy nhiên, pháp môn Tổ Sư Thiền lại rất kén người, pháp môn Tổ Sư Thiền đòi hỏi một trình độ, một căn cơ tương hợp theo lối:
Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm
Chẳng phải nhà thơ chớ tặng thơ.
Hạn chế của pháp Tổ Sư Thiền cho thấy thầy Thích Duy Lực vẫn có giới hạn nhất định nơi Phật môn, và trên tất cả với sự phân định rạch ròi đời đạo thì giới Tăng bảo gần như là luôn bị rơi vào biên kiến nẻo đạo, đây là sự hạn chế rất lớn đối với việc phổ truyền chánh pháp. Vì thế cho nên đạo Phật chỉ sáng lên trong khoảnh khắc rồi lu mờ ngay sau đó.
Ngày nay, có lắm kẻ học Phật tham cứu, học bập bõm vài câu chữ nơi pháp Khán Thoại Đầu, Tổ Sư Thiền nói pháp như hoa rơi, nước chảy nhưng thật ra chỉ là khối tri kiến lập tri, chỉ là đắc pháp ở đầu môi, chót lưỡi.
Qua rồi thời Tổ Sư Thiền của thầy Thích Duy Lực lại đến thời Tịnh Độ Tông nở hoa như nấm mọc sau mưa. Tuy nhiên, hạn chế chết người ở giới Tăng bảo thuộc Tịnh Độ Tông là đặt đạo Phật vào đất chết khi ngu xuẩn cho rằng thời mạt pháp kinh sách Phật học sẽ không còn, có còn lại chăng là câu Nam mô A di đà Phật nhẫn đến A di đà Phật.
Người học Phật Tịnh Độ Tông đẩy đạo Phật vào thời mạt pháp thật sự với vỏn vẹn một chiêu thức thường niệm Lục Tự Di Đà mà không cần tham cứu kinh Phật. Lục Tự Di Đà tạo ra một khoảng trống tri kiến Phật học không thể nào bù đắp, Nam mô A di đà Phật không lấp đầy được khoảng trống nội tâm trong lòng con người.
Và người học Phật đã không thỏa mãn với câu niệm Nam mô A di đà Phật với không gì nữa, trải qua một khoảng thời gian tương đối dài Thiền chi loại dần dần bám rễ nơi mảnh đất Việt Nam với việc khơi mạch Thiền Trúc Lâm – Thích Thanh Từ, Thiền Tỉnh Thức – Thích Nhất Hạnh, Thiền Vipassana, và nhiều nhiều thể loại thiền lai căng ngụy dị khác.
Song có một điểm chung ở giới Tăng bảo trong nước cũng như ở phạm vi thế giới, từ Tịnh Độ Tông, Thiền Tông cho đến Mật Tông – Con bệnh của Phật môn. Điểm chung đó chính là sự Ham Tiếc Sinh Tử ở người học Phật, giới Tăng bảo cũng không là ngoại lệ.
Học Phật là thông đạt pháp vô sanh, là liễu sinh thoát tử mà người học Phật lại Ham Tiếc Sinh Tử thì làm sao có thể Liễu chân nghĩa Vô Thường – Khổ - Không – Vô Ngã. Người học Phật Tịnh Độ Tông mong mỏi về cõi Tây Phương cực lạc của Phật A Di Đà; Thiền Tông mê đắm với Cái Thấy Biết Thường Hằng, Cái Đang Là Thường Tại; Mật Tông với cõi giới vô hình chờ đợi khi đắc Mật pháp.
Tất cả sự mong cầu, mặc định ấy cho thấy rằng người học Phật (nói chung), giới Tăng bảo (nói riêng) đều mong mỏi được sống – Đấy là Ham Tiếc Sinh Tử.
Ngay đến những vị hành giả chân tu, thực học còn học Phật lạc lối thì những Tăng bảo sau này, những Tăng bảo thuộc cấp của Đảng và nhà nước với bản chất môn đồ tri giải, sa môn nghĩa học như Tăng bảo Thích Nhật Từ, Thích Chân Quang, Thích Chân Tính,… khó mong học thông đạt Phật đạo.
Tăng Bảo Thích Nhật Từ với gian hàng tạp hóa Phật môn bán đồ lạc – xoong các kiểu, Tăng bảo Thích Nhật Từ ở một bài pháp thoại hùng hồn tuyên bố đạo Phật dạy con người Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ cùng lối thuyết pháp như một Cha Xứ, bên cạnh đó là một sự cực đoan cùng tính kỳ thị. Vẩn vơ Ngạo Thuyết nghĩ rằng tấm bằng Tiến Sĩ Phật Học của vị Tăng bảo này ắt hẳn rất rẻ tiền.
Một thành phần Tăng bảo khác lại mê thơ phú, hát ca, bon sai – cây cảnh, đã mê tất đắm thì làm sao có thể sáng mắt, sáng đạo.
Lại có Tăng bảo chuyên nói về Ma, người học Phật càng học càng gần Phật. Đằng này học Phật riết lại gần với Ma, nhìn thêm vào phần hiện tướng của vị Tăng bảo này càng rõ “Nhân sai biệt, quả thành hư vọng”, nẻo xấu họ khó mong thoát ra nếu không chóng hồi đầu.
Cương Đao Sát Sư - Sư Giới Đức 01
Sư Giới Đức là Tăng bảo danh tiếng có uy tín thuộc hệ phái Nam Truyền, có thể nói sư Giới Đức là một thi sĩ, một nghệ nhân tài hoa. Theo như lời sư Giới Đức thì sư Viên Minh là bậc thầy, là anh cả của Giới Tăng bảo hệ phái Nam Truyền.
Qua những bài pháp thoại của Sư Giới Đức có thể nhận ra đây là một vị sư có đạo tâm. Tuy nhiên, tri kiến Phật của sư Giới Đức có rất nhiều sự hiểu biết sai lạc với chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền, những bài pháp thoại của sư Giới Đức mang nặng sự cảm tính, chủ quan đậm nét suy lường, tưởng tượng viễn vông. Có thể nói rằng sư Giới Đức đang phổ truyền những điều mê tín len lõi vào chánh pháp đạo Phật.
Mời các bạn tham khảo pháp thoại của sư Giới Đức, đây là cơ sở cho loạt bài viết Cương Đao Sát Sư cũng như phần trình bày về Thân Trung Ấm do Ngạo Thuyết trình bày sau này!