Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2024

PDK. Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.(tt) Vô Thường 2 mặt.

Thường khi nghĩ đến Vô Thường, người ta lo sợ lắm. Họ cho là Vô Thường là con quỷ ! Quỷ Vô Thường, Hắc Bạch Vô Thường (là ngày đêm là Vô Thường)
Nhưng xét về mặt tích cực. Vô Thường rất thiết yếu.
- Nếu không có vô thường đứa bé mới sanh chỉ mãi là hài nhi không sao lớn lên để được đi học . Đức trẻ đi học lớp một sẽ mãi là tiểu học không thể lên trung học, rồi đại học ra trường rồi trở thành bác sĩ kỷ sư, rồi thành người hữu dụng cho xã hội.
- Không có Vô Thường thì người chết đi vĩnh viển mất hẳn không thể tái sinh để 18 năm sau lại trở thành một đấng anh tài.
Cho nên ngày đêm Vô Thường cũng có thể nói rằng đó là Nàng Tiên Vô Thường đó.
Như sự quán sát trên. Thì Vô Thường- Sanh Tử cũng đâu có gì đáng sợ .
- Các tế bào tạo nên cơ thể đứa bé mới sanh, thì nó sanh tử hằng ngày để rồi tạo ra đứa trẻ lớn không.- Đứa bé sơ sinh cơ thể diệt đi để sanh ra đứa bé 1 tuổi rồi 2 tuổi 10 tuổi hoàn toàn khác biệt lúc mới sanh ?
Như vậy là nhờ sự luân hồi sanh tử mới được trưởng thành.
- Tâm thức đứa bé non nớt không biết suy nghĩ trái phải thị phi, phải diệt đi để huân tập học hành trở thành có suy nghĩ chính chắn nên bậc anh tài giúp nước.
Như vậy là nhờ sự luân hồi sanh tử mới được trưởng thành.
Nếu không có sự sanh tử luân hồi kể trên thì chỉ là một thế giới Chết !
Đó là 2 mặt dường như trái nghịch của Vô Thường.
- Vì Vô Thường là Pháp Duyên Khởi.
Kinh Phật dạy về vấn đề Vô Thường- Sanh tử.
Trước hiện thực phũ phàng của thân phận, người ta có nhiều thái độ khác nhau. Có người vô cùng sợ hãi với cái chết. Có người thì thản nhiên vì sanh tử là lẽ thường nhiên. Những người có điều kiện hơn thì đi tìm những phương cách trường sinh, thậm chí dựa vào các năng lực siêu nhiên để mong thoát khỏi tử thần. Nhưng cuối cùng, cái gì đến cũng sẽ đến.
Người học Phật không trốn tránh sự chết mà chấp nhận nó như là một sự thật khách quan. Chết chỉ là sự khép lại tạm thời của một tiến trình để mở ra một tiến trình sống mới. Đệ tử Phật chủ trương tu học để vượt thoát sanh tử không có nghĩa là tìm mọi cách để bảo dưỡng tấm thân tứ đại mà chính là thành tựu về tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
Chạy đâu cho thoát khỏi cái chết?
Đức Phật đã chỉ ra phương cách tu tập để “thoát sanh, già, bịnh, chết, sầu, lo khổ não” như sau:
“Một thời Phật ở thành La-duyệt, vườn trúc Ca-lan-đà cùng với năm trăm đại chúng Tỳ-kheo.
Bấy giờ bốn Phạm chí cùng đắc ngũ thông, tu hành pháp lành, ở chung một chỗ, bàn luận với nhau rằng: “Lúc thần chết đến, chẳng tránh người mạnh khỏe, mọi người hãy cùng ẩn nấp khiến thần chết không biết chỗ đến”.
Lúc ấy, một Phạm chí bay lên không trung, muốn được khỏi chết nhưng tránh chẳng khỏi mà chết ở không trung. Vị Phạm chí thứ hai lặn xuống đáy biển lớn muốn được khỏi chết, liền chết ở đó. Phạm chí thứ ba muốn khỏi chết, chui vào lòng núi Tu-di và chết trong đó. Phạm chí thứ tư chui xuống đất, đến mé kim cương, muốn được thoát chết, lại chết ở đó.
Bấy giờ Thế Tôn dùng thiên nhãn xem thấy bốn Phạm chí, mỗi người đều tránh chết mà đều cùng chết. Thế Tôn liền nói kệ:
Không phải hư không, biển,
Không vào trong núi đá,
Không có địa phương nào,
Thoát khỏi, không bị chết.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Ở đây, này Tỳ-kheo! Có bốn vị Phạm chí tụ tập một nơi, muốn được khỏi chết. Mỗi người quay tìm chỗ chạy mà không khỏi chết. Một người ở hư không, một người vào biển lớn, một người vào lòng núi, một người xuống đất, đồng chết hết. Thế nên, các Tỳ-kheo! Muốn được khỏi chết, nên tư duy bốn pháp bổn. Thế nào là bốn?
Tất cả hành vô thường, đó là pháp bổn đầu tiên nên nhớ tu hành; tất cả hành khổ, đó là pháp bổn thứ hai nên cùng tư duy; tất cả pháp vô ngã, đây là pháp bổn thứ ba nên cùng tư duy; diệt tận là Niết-bàn, đây là pháp bổn thứ tư nên cùng tư duy. Như thế, các Tỳ-kheo! Nên cùng tư duy bốn pháp này. Vì sao thế? Vì sẽ thoát sanh, già, bịnh, chết, sầu, lo khổ não. Ðây là nguồn của khổ. Như thế các Tỳ-kheo, hãy học điều này.(hết trích)
Vô Thường Sanh tử không đáng sợ.- Vì trước sau ai cũng phải chết
Cái đáng lo sợ nhất, là : VÔ THƯỜNG- SANH TỬ MÀ ƯU BI, KHỔ NÃO !
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
7

PDK. Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.(tt) Lúc nào sẽ chấm dứt Sanh tử ?

Thông thường, khi quán sát sanh tử.- Người ta thấy có Sanh thì có Tử mà sanh tử là sầu Khổ ! Do vậy, người ta khởi ý niệm "Tu để không còn Sanh Tử !".- Sự thật việc ấy như thế nào ?
Thật ra: Tâm Chân Như là Bản Thể- Ví như Biển, mà việc Sanh Tử là hiện tượng duyên sanh ví như sóng.
Hể Biển mà có nhân duyên thì có Sóng. Thế thì: Biển nào cũng có sóng- Hiền hay dữ mà thôi. Bản Thể nào cũng có Hiện Tượng- Trầm luân hay giải thoát mà thôi.
Ở Chứng Đạo ca Tổ Huyền Giác nói:
Ngã sư đắc kiến Nhiên-Ðăng Phật,
Ða kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên.
Kỷ hồi sinh? kỷ hồi tử?
Sinh tử du du vô định chỉ.
nghĩa:
Thầy ta được thấy Nhiên-đăng Phật,
Bao kiếp từng làm tiên nhẫn nhục.
Mấy hồi tử, mấy hồi sanh?
Sanh tử mơ màng không định dứt!
(CĐC VIII Tự giác)
Chính Đức Phật dạy trong kinh Bát Nhã:
"Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận."
Nghĩa:
"Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết".
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
6

Duyên Khởi Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.(tt) Bản Thể Vô Sanh- hiện Tượng có Sanh tử.

Tổ Huyền Quang dạy:
Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch.
Bổn vô nhơn ngã chi huyễn tướng, hà hữu sanh tử chi giả danh.
Nhân tối sơ nhất niệm sai thù, tùng mộng tưởng hữu tư sanh diệt.
Tuy vân diệt:
Diệt nhi bất diệt, tằng Đạt Ma chích lý Tây quy.
Sanh nhi bất sanh, nãi Thích Tôn song lâm thị tịch.
Nhược phi nhất nhơn hiểu liễu, nan miễn tứ đại tương man.
Cố Nhơn Thiên thượng hữu luân hồi, huống phàm cơ đắc vô sanh tử.
Kim vị tang chủ, linh tiền khốc huyết, thống duy: cố ....
Quyên tam xích chi huyễn xu, nhập cửu tuyền chi dị lộ.
Lâm thời hoảng hốt, phách tán hồn phiêu.
Tuy vân:
“Sanh viết ký nhi tử viết quy ”, bất xuất tứ sanh chi nội;
Nãi nhược, thăng vu thiên nhi giáng vu địa.
Tổng quy lục đạo chi trung.
Ô hô !
U quan ảm đạm minh tiền đồ, triền nghiệp lực nan năng giải thoát. Tuyền giới bàn hoàng sầu dị lộ, trượng Phật lực nhi toại tiêu diêu.
DỊCH NGHĨA
Tằng nghe rằng:
Giác tánh viên minh, xưa nay vắng lặng.
Vốn không ngã nhân huyễn tướng, nào có sanh tử giả danh!
Nhơn đầu tiên một niệm sai lầm, tùy vọng tưởng có sanh có diệt.
Tuy nhiên:
Diệt nào có diệt, Đạt Ma Tôn giả, quảy dép về Tây;
Sanh mà không sanh, Thích Ca Thế Tôn, song lâm nhập diệt!
Nếu không một phen thấu triệt, khó khỏi nhiều kiếp nổi trôi.
Nên, người trời còn có luân hồi, huống phàm thứ há không sanh tử?
(hết trích)
Lời bàn:
Trong Thật tế là không có sanh tử. Chỉ do "Nhơn đầu tiên một niệm mê lầm, theo vọng tưởng mà thấy có sanh có diệt".- Hiểu được lẻ này là thấy được NGỘ VÔ SANH. Mà Tổ dạy: "Hoa khai kiến Phật Ngộ Vô Sanh" là đây.
“Phần lớn chúng ta vì còn mê lầm nên chỉ thấy huyễn tướng mà chưa biết quán chiếu để thấy được thật tướng của pháp đó là tướng không bất sinh bất diệt….”
Tướng không không sinh không diệt có nghĩa là tướng không đã có từ vô lượng kiếp trước và nó còn tồn tại đến vô lượng kiếp sau này. Cái mà ta thấy sinh ra và mất đi đó là sinh ra và mất đi của ngũ uẫn (huyễn tướng), còn tướng không (thật tướng) thì không sinh không diệt.
khi ta thấy một người mới mất đi, đó là ngũ uẩn của họ ở kiếp này vừa mới mất đi, nhưng tướng không của người đó vẫn còn đó, và nó sẽ đi cõi mới với hình hài ngũ uẩn mới.
Vì sao tướng không bất cấu bất tịnh (không dơ không sạch)? Sạch và dơ bẩn là hai mặt đối đãi trong thế gian pháp, đó là đặc tính của huyễn tướng (ngũ uẩn). Nhưng khi xét về bản chất của pháp (tướng không), tướng không các các pháp đều giống nhau và thực sự không có pháp nào mang bản chất là dơ hay sạch. Vì tướng không rỗng lặng (không chứa gì trong nó cả) và không do duyên hợp của các pháp khác tạo thành, nên nó không bị cấu nhiễm bởi các pháp khác.
Vì sao nói tướng không không tăng không giảm? Khác với huyễn tướng vì có hình dạng nên thay đổi và có thể tăng giảm, tướng không là bản chất của pháp nên bất biến, không tăng không giảm dù nó ở bất kỳ trạng thái nào. Ví dụ như nước, dù ở thể lỏng, thể hơi, thể rắn, thì tướng không của nước vẫn vậy, không thay đổi, không thêm không bớt. Dù nước có kết hợp để tạo thành các pháp mới, nhưng bản chất nước dù ở bất kỳ đâu vẫn không thay đổi, vẫn là nước, vẫn nguyên vẹn đầy đủ đặc tính mà không thêm không bớt.
Đức Phật giảng về ngũ uẩn và câu này giảng về tướng không, ta có thể đúc kết lại rằng huyễn tướng (bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức) bị sinh diệt theo luật vô thường, còn tướng không (thật tướng) bất sinh bất diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm. Vì vô minh nên ta trụ vào huyễn tướng nên còn đau khổ. Các Bồ Tát và Đức Phật là Bậc giác ngộ nên thấy được thật tướng thường hằng nên không trụ vào huyễn tướng nên không còn đau khổ.(trích )
Do vậy kinh Hoa Nghiêm Phật dạy:
Quan sát nơi các pháp
Đều không có tự tánh
Tướng nó, vốn sanh diệt
Chỉ là danh thuyết giả.
Tất cả pháp vô sanh
Tất cả pháp vô diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.
Pháp tánh vốn không tịch
Vô thủ, cũng vô kiến
Tánh không, tức là Phật
Chẳng thể nghĩ lường được.
(Tu Di Đảnh kệ tán- Hoa Nghiêm kinh)
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
7