Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2024

Duyên Khởi. Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.

Trong 12 Nhân Duyên làm nhân quả sanh khởi cho nhau: Có Vô Minh, thì Hành có, có Hành thì Thức có, Có Thức thì Danh Sắc có, Có Danh Sắc thì Lục nhập có, có Lục nhập thì, Ái có, có Ái thì Thủ, có, có thủ thì Hữu có. Hữu có thì Sanh tử ưu bi khổ não có. Đó là vòng duyên khởi của kiếp con người.
Sau đây chúng ta khảo sát và Bản chất SANH TỬ (chi cuối của 12 Nhân Duyên).
Nhị thượng nhân viết bài thơ tuyệt bút:
Sinh như trước sam,
Tử như thoát khố.
Tự cổ cập kim,
Cánh vô dị lộ.
nghĩa:
Sống như mặc áo,
Chết như cởi quần.
Xưa nay vô cùng,
Không đường nào khác.
( Vô Nhị Thượng Nhân.- Trần Thánh Tông)
Kính thưa các bạn: Sống ư ? Chết ư ? Áo ư ? Quần ư ? Tuyệt !
Vậy theo các Bạn:
Sanh là gì ?
Tử là gì ?
hay:
Một câu hỏi lớn không lời đáp,
Cho đến bây giờ mặt vẫn chao ?
(trích thơ Xuân Diệu)
Thường nhân cho rằng:
Con người :
- khi mới gá vào bụng mẹ- gọi là thai.
- Khi lọt lòng mẹ gọi là sanh.
- Khi lớn gọi là trưởng thành.
- Khi tuổi cao đi đứng không nổi gọi là già.
- Khi tắt hơi thở gọi là chết .
(???)
Có bài thơ nhận thức sanh tử:
"Sống thì có gì vui
Chết thì có gì buồn
Thương thay cho con người
Sao lo buồn lắm vậy
Thương thay cho con người sao lo buồn lắm vậy."
Lời thì có gì hay
Chỉ là hơi túi thịt
Son phấn thì có gì đẹp
Chỉ che nét tàn phai
Thương thay cho con người
Sao bận lòng lắm vậy
Thương thay cho con người sao bận lòng lắm vậy.
Đường đời chia vạn nẻo
Đoạn thường và được mất
Vô thường diệc vô đoạn
Phi đắc phi sở đắc
(Bản lai vốn không tịch)
Không ta về đâu nhỉ?
Vạn nẻo là hư không!
Hòa Thượng Thích Từ Thông (Pháp Sư) giảng ở Chứng Đạo Ca:
Ham sinh sợ tử là việc thường tình. Bởi vì người đời quan niệm rằng "đời người có một lần". Một lần sinh ra. Một lần thi đỗ. Một lần kết hôn và đáng sợ nhất, một lần chết. Cuối cùng chết là hết!
Dưới nhãn quan của người chứng đạo: vạn pháp không có cái gì mất hẳn. Vạn pháp là hiện tượng vô thường nhưng chúng duyên sinh từ bản thể chân thường. Vì vậy, việc sinh tử không thể luận kiếp số, không có sự chấm dứt dòng sinh tử. Dòng sinh tử tử sinh cứ trôi mãi không có bến bờ dừng trụ. Nó "hằng" mà "chuyển". "Chuyển" trong cái "hằng".
"… Tử rồi sinh, sinh tử lững lờ trôi"
Không phải chỉ có con người mới tử sinh vô cùng vô tận về kiếp số. Qua cái thấy của người chứng đạo, Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni của ta cũng vậy, chư Phật trong mười phương ba đời cũng cùng thọ dụng một chân lý.
"… Việc sinh tử, kể sao cho cùng số…"
---o0o---
Việc sinh tử, kể sao cho cùng số… Vì nó vốn không thật có. Tổ dạy: "Còn mộng mơ, thấy có sáu nẻo luân hồi. Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết" (trích bài giảng chứng đạo ca- TC3).
Vâng ! Vấn đề Sanh - tử, :
Muôn pháp không thường còn,
Người sanh ắt có diệt.
Sanh tử như thủy triều,
Diệt tận, chơn phúc hiện.
Thác bền, sống không bền,
Người đời ai cũng chết.
Chết mục tiêu cuộc đời,
Đúng y lời Phật dạy!
Kiếp sống trong ngắn ngủi.
Chết thật là chắc chắn,
Sớm muộn xác thân này,
Trả về cho tứ đại.
Nhìn xem thể phách hoại,
Xác như gỗ mục hư.
Tánh thanh tịnh chơn như,
Niết-bàn vô sanh diệt.
(kinh Khất sĩ)
Vâng ! Ai cũng phải có sanh và ai cũng phải có tử, mà nguyên nhân của sanh tử là do ta có "Cái ngã". Do có ngã chấp nên có 2 thứ chấp là:
- Chấp sau khi chết là hết, tức là đoạn kiến.
- Chấp sau khi chết có cái hồn để tái sanh, đó là thường kiến.
Mà Thường kiến hay đoạn kiến đức Phật đều bát bỏ. Nên bài kinh nói:
Tánh thanh tịnh chơn như,
Niết-bàn vô sanh diệt
Nghĩa là Sanh- tử là huyễn mộng, Niết Bàn vô sanh diệt mới là Chơn Lý.
Như vậy: Việc Sanh Tử chỉ là Vọng Tưởng do Vô Minh mà thấy có.

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2024

Duyên Khởi. Bài 9.- 12 ND.3. Thức.

Khi đã có sự vận Hành, thì có sự nhận thức.- Đó à THỨC. Thức là biểu hiện của Tâm. Gồm có 8 Thức:
1 Nhãn thức
2 Nhĩ thức
3 Tỷ thức (cũng có nơi đọc là tị thức)
4 Thiệt thức
5 Thân thức
6 Ý thức
7 Mạt-na thức
8 A-lại-da thức.
Trong đó nổi trội nhất là Ý THỨC. Ý thức là sự phân biệt, suy nghĩ, phán đoán v.v...
Chúng sanh chấp Ý Thức này là Tự Ngã, làm linh hồn, mà không biết nó là pháp Duyên hợp, là vọng khởi, nên tạo nên tội và phước như huyễn.
Kinh dạy:
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình.
(Kinh Pháp cú )
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
5

Duyên Khởi. Bài 9.- 12 ND.2.Hành (tt).

Cũng với các Hành dụng như trên. HÀNH có thể chia làm 2 loại:
1/. Trí Huệ Hành.
2/. Vô Minh Hành.
* Trí Huệ Hành có nói ở 18 Bất Cộng Pháp của Phật và Bồ Tát. Đó là:
13.Nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả thân nghiệp đều hành động theo trí tuệ.
14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả khẩu nghiệp đều hành động theo trí tuệ.
15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả ý nghiệp đều hành động theo trí tuệ.
(Phật tạo tác ba nghiệp thân, khẩu, ý bằng trí tuệ, trước hết ngài quán sát sự được – mất, sau đó tùy theo trí tuệ mà hạnh động, cho nên cả ba nghiệp đều không có lỗi lầm mà chỉ có lợi ích cho chúng sinh).
* Vô Minh Hành: Là chúng Sanh, các tạo tác và hành động do Vô minh sai khiến. Đó là:
Thân: Sát sanh, trộm cướp, dâm dục.
Khẩu: Nói dối, nói thiêu dệt, nói lời hung ác, nói đâm thọc.
Ý: Tham, sân, si.
(Chúng sanh tạo tác ba nghiệp.- thân, khẩu, ý do Vô minh tác động, cho nên cả ba nghiệp đều có lỗi lầm cho mình và cho người).
Tóm lại: Hành là 1 trong 5 Uẩn (sắc, thọ, tưởng, HÀNH, thức. 5 uẩn này duyên hợp thành con người) Hành là tạo tác, là Nghiệp.- Do Vô Minh hoặc Trí Huệ sai sử mà có kết quả sai khác.
Có thể là hình minh họa về con voi
Tất cả cảm xúc:
3

Duyên Khởi. Bài 9.- 12 ND. Hành.

Giáo lý Tam Pháp Ấn. Đức Phật dạy:
Chư “Hành” vô thường- Chư pháp vô ngã- Niết Bàn tịch tịnh.
“Hành” là từ gọi cho mọi hiện tượng vận hành u uẩn, Đây là Pháp Duyên Sanh, đều bị sinh diệt nên nói: “Chư hành vô thường”.
Đặc tính của Hành Uẩn: (trích Phật pháp & cuộc sống)
• Trong 5 uẩn thì hành uẩn là cội nguồn phát sinh ra ý niệm, dòng tư tưởng sinh diệt xuất phát từ hành uẩn tuôn chảy không ngừng .
• Hành uẩn là những hiện tượng tâm lý còn được gọi là tâm sở. Duy thức học chia thành 51 tâm sở gồm cả thọ, tưởng, tức là cảm giác và tri giác cũng gọi là hành.
• Hành uẩn cũng có sáu loại do sự tiếp xúc giữa sáu giác quan và sáu đối tượng, hành còn gọi là Tư. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân này: Sắc tư, thinh tư, hương tư, vị tư, xúc tư và pháp tư. Đây gọi là hành”.
• Hành uẩn bao gồm mọi hiện tượng tâm lý, Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo. Phàm hành gì thuộc quá khứ, hiện tại hay vị lai; Nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là hành uẩn”. Tất cả những hiện tượng tâm lý, sinh lý hiện tại là kết quả của hành trong quá khứ.
• Hành tạo nên một năng lực tiềm ẩn điều khiển thúc đẩy ở trong chiều sâu tâm thức. Trong kinh thường gọi là t“phiền não tùy miên”, hay trong luận gọi là “câu sanh phiền não”. Chúng làm nền tảng và lực đẩy để hình thành một năng lực hành mới, dẫn dắt con người đi tới tương lai.
• Hành uẩn tồn tại nhờ các điều kiện do duyên sinh nên chúng vô thường, trống rỗng và biến động bất tận.
• Hành là sự biến chuyển thay đổi của tâm niệm. Con người lúc nào cũng suy nghĩ về quá khứ, hiện tại và vị lai. Suy nghĩ về mình, về người, về giàu, về nghèo khó, về công danh, về sự nghiệp, về sắc diện, về tinh thần, về vật chất…Ý niệm sau thay thế ý niệm trước và cứ thế mà sanh khởi liên tục trong tâm của con người .
• Hành uẩn là nguyên nhân phát sinh ra ý niệm làm che lấp chơn tâm và Phật tánh.
• Đối với người tu Phật thì hành uẩn là quan trọng . Vì nếu phá được hành uẩn là phá được nguồn gốc của tất cả những niệm khởi. Phá được vọng niệm thì lúc đó chơn tâm, Phật tánh mới hiện bày.
• Tướng hành uẩn là tướng giả dối. Nó không phải là tánh của nhân duyên và cũng không phải là tánh của tự nhiên hợp thành. Đức Phật muốn chúng sinh thấy rằng hành uẩn chỉ là tướng giả dối do duyên với ngoại cảnh mới có.
• Hành uẩn gây nên sự hỗn loạn của trí. Nó đem những ý nghĩ tương tự lặp đi lặp lại trong đầu và gây phiền não. Đau khổ đến ngay khi chúng ta lo lắng những việc tương lai như: Khi nào kết hôn, khi nào có con, bao giờ thì sẽ có tiền v.v. Cái trí cứ lẩn quẩn đeo đuổi những sự kiện hoàn toàn thuộc về một thời khắc khác. Rồi nó lôi kéo, thôi thúc ta đem chúng ra sống trong hiện tại.
Sau đây là những ví dụ về các suy nghĩ của cái trí bị sai lệch. Các tư tưởng này tự bản thân nó không gây phiền não. Nhưng khi cái trí chấp chặt vào chúng. Ứng dụng bừa bãi và bất chấp mọi lý lẽ thì sẽ kéo theo phiền não ngay tức thì. Các ví dụ dưới đây cho thấy tác động của hành uẩn vào sự vận hành của cái trí.
Khi trí đang quan sát các hiện tượng và các sự việc mới. Nó tìm trong ký ức, nơi mà nó đã tích trữ mọi điều: Từ nghe, thấy, trải nghiệm đến các thói quen, quy ước và mong muốn. Sau đó nó khư khư áp đặt những quan niệm và giá trị cũ lên sự việc mới. Rồi nếu thế giới chung quanh không thuận theo mong đợi và sự lý giải của nó, cái trí sẽ trở nên khó chịu. Nó có thể than phiền hay thậm chí là nổi giận.
• Nói tóm lại, đây là cách mà qua sự vận hành rối loạn, hành uẩn tạo nên những đau khổ cho chúng ta:
• Nó bận rộn lặp đi lặp lại những phiền não từ quá khứ.
• Nó đắm chìm trong lo lắng, sợ hãi, và lẩn quẩn mơ tưởng việc tương lai.
• Nó khắc khoải, vật vã trong việc ứng dụng một cách cứng nhắc và bất kể lý lẽ các quan niệm, nhân sinh quan mà xã hội loài người đã đặt ra.
• Nó phán đoán, phân tích, nhục mạ, tranh cãi, xây dựng các hình ảnh và cảm xúc của bạo động, oán hờn, ganh tị, v.v…
• Nó cũng là tác nhân mang nhiều bệnh hoạn và đau đớn cho cơ thể vì sự miên man tai hại kia cứ liên tục chuyển tải sự nhiễu loạn của tư tưởng đến các tế bào.
Sau đây là những ví dụ về các suy nghĩ của cái trí bị sai lệch. Các tư tưởng này tự bản thân nó không gây phiền não. Nhưng khi cái trí chấp chặt vào chúng. Ứng dụng bừa bãi và bất chấp mọi lý lẽ thì sẽ kéo theo phiền não ngay tức thì. Các ví dụ dưới đây cho thấy tác động của hành uẩn vào sự vận hành của cái trí.
Khi trí đang quan sát các hiện tượng và các sự việc mới. Nó tìm trong ký ức, nơi mà nó đã tích trữ mọi điều: Từ nghe, thấy, trải nghiệm đến các thói quen, quy ước và mong muốn. Sau đó nó khư khư áp đặt những quan niệm và giá trị cũ lên sự việc mới. Rồi nếu thế giới chung quanh không thuận theo mong đợi và sự lý giải của nó, cái trí sẽ trở nên khó chịu. Nó có thể than phiền hay thậm chí là nổi giận.
Hành uẩn gây nên sự hỗn loạn của trí. Nó đem những ý nghĩ tương tự lặp đi lặp lại trong đầu và gây phiền não. Đau khổ đến ngay khi chúng ta lo lắng những việc tương lai như: Khi nào kết hôn, khi nào có con, bao giờ thì sẽ có tiền v.v. Cái trí cứ lẩn quẩn đeo đuổi những sự kiện hoàn toàn thuộc về một thời khắc khác. Rồi nó lôi kéo, thôi thúc ta đem chúng ra sống trong hiện tại.
Khi một người lẩm bẩm nói một mình suốt ngày thì ta cho rằng người ấy mắc bệnh tâm thần. Còn bản thân ta và tất cả mọi người còn lại thì cũng nói suốt ngày đêm, không ngừng nghỉ. Có khác chăng là ta nói âm thầm trong đầu, không phát thành lời mà thôi.
Đây là một căn bệnh trầm kha nhưng vì mọi người ai cũng bị mắc phải bệnh này nên tưởng rằng đây là một trạng thái “bình thường”. Điều này cho thấy sự thao túng của Hành uẩn khi nó liên tục vận hành và điều khiển ta. Nó thúc đẩy từng ý tưởng, lời nói, việc làm, cảm xúc mà ta tưởng rằng ta làm, ta muốn, ta cảm nhận hoặc ta đau khổ.( hết trích)
Có thể là hình ảnh về bản thiết kế và văn bản cho biết 'Ngũ uẩn Sắc Thọ Tưởng Hành Thức Nhãn thức Tâm Nhĩ thức Bát Thức Địa Hỏa Thủy Phong (Thân vật lý tứ đại) Tâm Thức Thiệt thức Tỷ thức Thân Thức Ý thức Mạt na thức A Lại da thức'
Tất cả cảm xúc:
5

Duyên Khởi. Bài 9.- 12 ND. 1.Vô Minh

Trong 12 Nhân Duyên. Tổ Đức phân tích:
Vô minh, Ái, Thủ tam PHIỀN NÃO.
Hành, Hữu nhị chi thuộc NGHIỆP đạo.
Tùng Thức chí Thọ tinh Sinh, Tử,
Thất chi đồng danh nhất KHỔ đạo !
*** Vô Minh là gì ?
Đáp: Là Không sáng tỏ trong sự Thấy- Biết.
* Ở kinh Thủ Lăng Nghiêm. Đức Phật dạy; "Tri kiến lập tri, là gốc của Vô minh. Tri kiến không chấp vào tri kiến là Gốc Niết Bàn (Minh).
Nghĩa là các sự Thấy, nghe, hay, biết của chúng ta.- Nếu trú chấp vào THỨC (chủ yếu vào 6 Thức để phân biệt).- Đó là cội gốc của Vô minh.
*** Minh là gì ?
* Ở kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Đức Phật dạy: Ta vì một đại sự nhân duyên mà hiên ra nơi đời.- Đó là vì KHAI- THỊ- NGỘ- NHẬP PHẬT TRI KIẾN cho chúng sanh.-
Minh .- tức là TRÍ là PHẬT TRI KIẾN.
Mục đích Tu của đệ tử Phật là: Chuyển hóa Vô Minh, thành MINH . Chuyển THỨC thành TRÍ.
Khi không Vô Minh thì 11 chi còn lại cũng thành Trí Huệ, thành Minh Triết, Thành Vô Sanh. (tất cả các đặc tính Trí Huệ, Minh Triết, Vô Sanh gọi chung là Phật)
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3