Thứ Năm, 4 tháng 1, 2024

Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương 24 - 26

 Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương

Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 – 2543
THI CA 24 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO SỰ LÝ
TƯƠNG HỒ
Phiên âm:
Hàng long bát, giải hổ tích
Lưỡng cô kim hoàn minh lịch lịch
Bất thị tiêu hình hư sự trì
Như Lai bảo trượng thân tung tích
Dịch nghĩa:
* Gậy đuổi cọp, đến nay còn chứng tích
Bát thu rồng, của Lục Tổ hãy còn lưu
Thấy vật xưa, như gặp lại người xưa
Nhìn kỷ vật, để nhủ lòng thêm tinh tấn
* Cầm tích trượng, tưởng như nắm trong tay chân lý
Tứ diệu đề với thập nhị duyên sinh…
Trượng của Như Lai là biểu tượng của "bần tăng"
Chân đạo sĩ, chớ nên nghĩ: Đó là HƯ SỰ!
---o0o---
TRỰC CHỈ
Người học Phật, phải học, hiểu những vấn đề then chốt của nền giáo lý
Phật, trước khi vào nhà Phật học đồ sộ. Đó là vấn đề:
 Sự - Lý
 Phương tiện – Cứu cánh
 Bất liễu nghĩa – Liễu nghĩa.
 Tục đế – Chơn đế
Hiểu được ý nghĩa và công dụng của những cặp phạm trù đó, người đạo
sĩ thấy biết rộng sâu vào vấn đề:
- Lý pháp giới
- Sự pháp giới
- Lý sự pháp giới
- Sự sự pháp giới
- Lý vô ngại
- Sự vô ngại
- Lý sự vô ngại
- Sự sự vô ngại
Hiểu tõ tánh chất "vô ngại" qua bốn cách nhìn "pháp giới", người đạo sĩ
chợt nhận ra chân lý "Pháp giới nhất chân". Sự là "sự" của "lý". Lý là "lý của
"sự". SỰ LÝ VIÊN DUNG. Bấy giờ nhìn thấy gậy đuổi cọp, bát thu rồng,
bình bát, tích trượng như nhìn thấy Phật, Pháp và Tăng. Thấy được chân lý:
"Một là tất cả". "Tất cả là một". Thế cho nên với người chứng đạo những
chứng tích "hữu vi", "sự tướng" đó không ngoài "bản thể nhất chân" thì sao
được gọi là HƯ SỰ TRÌ?
Tuy nhiên, với người chưa tỏ ngộ châ lý, ôm giữ bình bát tích trượng, ba
y, chánh gốc của Phật tổ Như Lai, để mà "lễ bái" mà "cầu nguyện" mà "van
xin" mà "hy vọng", mà trông nhờ sự "phù hộ" sự "cứu rỗi" của Phật thì rõ là
HƯ SỰ TRÌ. Vì sự chỉ là sự "hữu vi pháp" thì của ai cũng đều như huyễn,
như hóa, như sương mai, như điện nhoáng mà thôi. Bo bo ôm giữ "sự tướng"
là dẫm chân một chỗ. Mà phải hiểu:
Sự để đạt đến Lý
Phương tiện để đạt đến cứu cánh
Bất liễu nghĩa để đưa lên liễu nghĩa
Tục đế để nhận thức tư duy chân đế".
---o0o---
THI CA 25 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỌNG, CHÂN
ĐỀU VỌNG
Phiên âm:
Bất cầu chân, bất đoạn vọng
Liễu tri nhị pháp không vô tướng
Vô tướng vô không vô bất không
Tức thị Như Lai chân thực tướng
Dịch nghĩa:
* Chân đạo sĩ chẳng cầu chân bỏ vọng
Vốn biết rằng: Chân, vọng không có gì!
Bảo rằng "KHÔNG", nhưng không được hiểu "NGOAN KHÔNG"
Rằng là "CÓ", mà không nói là "THỰC CÓ"
* Nhận thức rõ, "Như Lai chân thực tướng"
Sắc là không, không là sắc, bất tương ly
Chân lý duyên sanh, một đạo lý nhiệm mầu
Nhìn "đương thể": SẮC là KHÔNG, KHÔNG là SẮC
---o0o---
TRỰC CHỈ
Giáo lý liễu nghĩa thượng thừa trong đạo Phật, vần đề CHÂN, VỌNG
không là vấn đề đáng được bàn cãi đúng sai chân vọng nữa.
"Tánh chân thực của pháp hữu vi là KHÔNG
Vì duyên sinh
Ví như huyễn
Bản chất của pháp vô vi, không sinh không diệt
Vì không có thật
Ví như hoa đốm trong hư không"
Chỉ cái vọng, cốt hiển bày CHÂN. Không vọng tự nó CHÂN. Không có
CHÂN nào ngoài VỌNG. Vọng và Chân đều không tự tướng. Không tự
tướng đồng nghĩa với "không có gì". Gọi là CÓ chỉ là sự hội tụ duyên sinh
còn hòa hợp. Gọi là KHÔNG chỉ là sự phân tán của duyên sinh tan rã.
Người học Phật khi nói CÓ phải ý thức, mình đang nói CÓ cái gì. Lúc
nói KHÔNG cũng phải ý thực, mình đang nói KHÔNG cái gì!
SẮC KHÔNG, KHÔNG SẮC là vấn đề của người học đạo, hành đạo và
chứng đạo mới thấy rõ:
"… Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ…"
"… Duy chứng nãi tri nan khả trắc…"
Đó không phải là vấn đề nên "thảo luận" trong những buổi "tửu hậu trà
dư". Càng không được nói để chứng minh rằng đó là sai hay đúng. Nếu cả
đời mà ta chưa gặp "đạt giả" để "đồng du" thì chỉ còn một cách: "độc hành
độc bộ" mà thôi! Rồi thỉnh thoảng chờ nghe tiếng vọng trong không gian thủ
thỉ:
"Vui thì vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó, mặn mà với ai…"
---o0o---
THI CA 26 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO …
NHẤT THIẾT DUY TÂM…
Phiên âm:
Tâm cảnh minh, giám vô ngại
Hoát nhiên huýnh triệt châu sa giới
Vạn tượng sum la ảnh hiện trung
Nhất lỏa viên quang phi nội ngoại
Dịch nghĩa:
Gương tâm sáng, rõ soi không ngăn ngại
Thoắt ngộ rồi, thu hết thế giới hằng sa
Vạn tượng sum la, là ảnh hiện của tâm này
Có TUỆ GIÁC, "trong" "ngoài" không ranh giới
---o0o---
TRỰC CHỈ
Trong giáo lý Phật, đề cập TÂM là đi vào lãnh vực "chuyên", vào chiều
sâu thăm thẳm của tư duy và quán chiếu. Nói cách khác, người học Phật
muốn nhận thức về TÂM, thưởng thức được hương vị giải thoát của TÂM,
công dụng tuyệt vời thánh thiện của TÂM, người đạo sĩ phải thực hiện
THIỀN, phải vận dụng CHÁNH QUÁN.
Bởi vì TÂM ở trong đạo Phật nói có nhiều tên gọi. Mỗi tên gọi, một công
dụng, một giá trị lợi hay bất lợi, "bạn" hay "thù", chỉ người thực học, thực
tu, mới hiểu hết, hiểu kỹ từng công dụng của các thứ TÂM.
1. Nhục đoàn tâm
2. Vọng tâm
3. Chân tâm
4. Thường trú chân tâm
5. Như Lai Viên Giác diệu tâm
6. Duyên lự tâm
7. Bát thức tâm
8. Tích tụ tinh yếu tâm
Tâm có nhiều tên gọi như vậy, cho nên nghiên cứu đạo Phật sơ sài, hời
họt mà bàn luận về TÂM thì khó mà quán triệt vấn đề.
TÂM CẢNH MINH, chỉ cho cái tâm được loại bỏ "vọng tâm", loại bỏ
"duyên lự tâm", nhưng thứ tâm nghĩ ngợi lăng xăng, tạp nhạp, thứ tâm gây
ra một nguyên nhân và hậu quả khổ đau cho con người.
TÂM CẢNH MINH là NHƯ LAI VIÊN GIÁC DIỆU TÂM là THƯỜNG
TRÚ CHÂN TÂM của con người vốn có. Theo giáo lý đạo Phật, đó là "bản
thể" của vũ trụ vạn hữu. Hiện tượng vạn hữu là pháp "duyên sinh" từ tâm thể
đó mà ra:
"Nhược nhơn dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
NHẤT THIẾT DUY TÂM TẠO"
"Duy tâm tạo" là "tâm thể" bao hàm thu tóm hết vạn tượng sum la, không
còn vật nào "ở trong", cái gì "ở ngoài" nữa. Cũng như sóng mòi, bọt bong
bóng, không có cái gọi là "trong", là "ngoài", vì là cùng loại duyên sinh trên
mặt biển bao la vô tận của nước đại dương.
---o0o---

Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương 21 - 23

 Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương

Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 – 2543
THI CA 21 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO KHÔNG
NÊN TRỤ PHÁP TU PHƯƠNG TIỆN
Phiên âm:
Giác tức liễu, bất thi công
Nhất thiết hữu vi pháp bất đồng
Trụ tướng bố thí sanh thiên phước
Do như ngưỡng tiễn xạ hư không
Thế lực tận, tiễn hoàn trụy
Chiêu đắc lai sanh bất như ý
Tranh tự vô vi thật tướng môn
Nhất siêu trực nhập Như Lai địa.
Dịch nghĩa:
* Giác là hết, chẳng cần tu với chứng!
Pháp hữu vi nhiều lắm kể sao cùng
Bố thí ra, lòng chấp, phước sanh thiên
Lúc phước hết, sinh lại cuộc đời không như ý
* Như tên bắn, xé hư không bay vút
Sức mỏn rồi, tên rớt biết về đâu!
Sao bằng ta, thẳng tiến THẬT TƯỚNG MÔN
Nhảy một nhảy, đến ngay vùng đất Phật
---o0o---
TRỰC CHỈ
Muốn đi con đường Phật, phải chú ý những điều cần biết ban đầu:
Về pháp môn, đại để có phương tiện và cứu cánh…
Về chủng tánh, đại để có tiểu thừa và đại thừa…
Về giáo lý, đại để có tiệm, đốn, viên…
Về căn cơ, đại để có lợi, độn…
Có hiểu những điều cốt lõi đó, trong quá trình nghiên cứu, học Phật mới
không sửng sốt, ngạc nhiên, kinh hãi, thậm chí phản đối và nguyền rủa, khi
đọc:
"Giác là hết, chẳng cần tu với chứng".
Đối với tư tưởng Đại thừa của người chủng tánh Đại thừa, đó là sự thật,
không hề cường điệu, đại ngôn, càng không hề dụng ý phủ định, chê bai, bôi
bác sự tu hành của người khác không cùng căn cơ, chủng tánh, trình độ và
pháp tu giống mình.
Người Đại thừa nhận thức rõ, pháp hữu vi "thiên sai vạn biệt", pháp tu thì
"vô lượng pháp môn", chạy theo nó mình sẽ làm gì đây? Làm cái nào cho
mau hiệu quả? Tu món gì để được "phước nhiều"? Hành kiểu chi để mau
thành Phật? v.v… Vô số vấn đề, bao nhiêu câu hỏi được đặt ra, chắc chắn
chẳng ai biết chắc phải làm gì để được thành công sớm nhất và to lớn đến cỡ
nào!
Riêng về pháp môn tu THIỀN của THIỀN TÔNG cũng còn không biết
cơ man nào rắc rối. Nếu không có duyên tu học VÔ VI THẬT TƯỚNG
MÔN thì đa số, người ta chỉ dạy nhau và tu với nhau những pháp môn
THIỀN LÁ SẢ mà thôi! Với người Đại thừa "Nhảy một nhảy đến ngay vùng
đất Phật".
Đó là chuyện có thật. Nhưng có điều chua chát là lời thật không phải ai
cũng bằng lòng. Tuy nhiên, không vì vậy mà người chứng đạo không vì lẽ
thật, nói ra lời thật để cho ai đó "đạt giả đồng du…" chứng nhập quả bồ đề
chân thật.
---o0o---
THI CA 22 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO NHÌN
BAO QUÁT NẮM TRỌNG TÂM
Phiên âm:
Đản đắc bổn, mạc sầu mạt
Như tịnh lưu ly hàm bảo nguyệt
Ký năng giải thử như ý châu
Tự lợi, lợi tha chung bất kiệt
Dịch nghĩa:
* Cần ôm gốc, quan tâm chi cành ngọn
Gốc vững rồi, cành ngọn sẽ sum suê
Như lưu ly, thu hết ánh trăng vàng
Sáng vằng vặc, sáng mơ màng, châu lưu ly thu trọn vẹn
* Cũng như thế, tâm ta là châu NHƯ Ý
NHƯ Ý châu, giá trị lớn vô cùng
Tỉnh thức rồi, với THƯỜNG TRÚ CHÂN TÂM
Dùng tự lợi, dẫu lợi tha đời không bao giờ hết.
---o0o---
TRỰC CHỈ
Nhìn bao quát nắm lấy trọng tâm là cách nhìn của người khôn ngoan
trong cuộc sống.
Nhà quân sự, cất cánh chiếc máy bay thám thính, bay lượn một vùng trời
hàng trăm "cây số" để nhìn bao quát và tìm nắm lấy một mục tiêu, một
"trong tâm" của đối phương trong một vài điểm.
Tiều phu vào rừng. Ngư phủ ra khơi. Người nội trợ đi chợ. Cô bán hàng
rong… đều vận dụng cách "nhìn bao quát, nắm lấy trọng tâm" trong nghề
nghiệp của mình. Đến như những bậc tiền bối dòng dõi tiên rồng cũng dạy
cho con cháu cách "nhìn bao quát nắm lấy trọng tâm" để chọn cho mình một
ý trung nhân trong lứa tuổi "xuân xanh xấp xỉ" búi tóc cài trâm rằng:
"Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giũa chốn ba quân".
Người đạo sĩ cũng có cái nhìn "bao quát" trong đường học đạo và hành
đạo. Người ta thường gặp nó trong một cái từ đẹp đẽ mới nghe qua tưởng
như hữu lý:
"Bồ-tát đa hạnh"
Thực vậy, "đa hạnh" không có gì phải chê trách và chối bỏ. Nhưng "đa
hạnh" chỉ là cách "nhìn bao quát" mà người thông minh, cần phải biết "trọng
tâm" để nắm lấy. Đa hạnh chỉ là lá, ngọn, cành… Lá, cành, ngọn, đọt có thể
tiêu ma tàn tụi dễ dàng nếu gốc sùng, hà, mục ruỗng.
Trọng tâm của đạo sĩ, qua cái thấy của người chứng đạo là TÂM. Tâm ở
đây được ví "tịnh lưu ly". Tịnh lưu ly thu hết ánh trăng vàng. "Chân tâm
thường trú", "Như Lai Viên Giác Diệu Tâm" mà phát hiện, mà tỉnh thức, mà
tỏ ngộ, mà thể nhập thì diệu dụng sẽ vô cùng vô cực. Dùng cho việc lợi
mình, dùng cho việc lợi chúng sinh từ đời nầy cho đến vĩnh viễn vô lượng
đời sau công đức không bao giờ cạn kiệt.
---o0o---
THI CA 23 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỮNG
CHÁNH NIỆM TRONG MỌI THỜI
Phiên âm:
Giang nguyệt chiếu, tòng phong xuy
Vĩnh dạ thanh tiêu hà sở vi?
Phật tánh giới châu tâm địa ấn
Vụ lộ vâ hà thể thượng y
Dịch nghĩa:
* Trăng vằng vặc, lung linh vờn đáy nước
Gió ngọn tùng, nghe như cật vấn lương tri
Cảnh đêm thanh, trăng sáng: Đã làm gì?
Rằng, Phật tánh, giới châu tôi in sâu vào tâm địa.
* Tôi lấy cả ráng, mây, làm màu áo
Lấy mù mai, sương sớm để làm màn
Vui trăng sông, tùng núi, gió vi vu
Ôm Phật tánh, giới châu làm bạn đường chung chăn gối!
---o0o---
TRỰC CHỈ
Cái thấy của người chứng đạo đối với việc "tu hành" nhẹ nhàng, cởi mở,
tự tại mà hiệu quả rất cao, người chứng đạo họ có giải thoát thật sự, họ có
giác ngộ chân lý thật sự, vì vậy không có gì ràng buộc được thân tâm con
người chứng đạo. Dưới mắt của người chứng đạo, vạn pháp đồng nhất thể.
Tùy duyên biến hiện mà dáng vẻ hình hài có sai khác đó thôi. Tất cả đều
cùng chung một tự tánh thanh tịnh bản nhiên của tự nó. Từ nhận thức chân
lý đó, cho nên vấn đề gọi là TU HÀNH chẳng có gì cực khồ khó khăn.
Van xin, cầu nguyện. Không cần
Lạy ngũ bách danh, tam thiên Phật. Không cần.
Tụng kinh, tay chuông, tay mỏ, ngày sáu thời. Không cần.
Tay lần chuỗi, miệng niệm danh hiệu Phật suốt ngày. Không cần.
Vậy người đạo sĩ, cần gì?
- Cần vững CHÁNH NIỆM. Có chánh niệm là có tất cả. Có chánh niệm
người đạo sĩ sẽ không rời Phật tánh. Luôn luôn tỉnh thức sống bằng Phật
tánh, đương nhiên có "giới châu", có "định châu", có "tuệ châu". Giới, định,
tuệ mà in sâu tâm địa thì còn cái gì ràng buộc được, lý do nào làm cho hành
giả "bận lòng"!
Như vậy, người đạo sĩ:
"Tôi lấy cả ráng, mây, làm màu áo
Lấy mù mai, sương sớm để làm màn
Vui trăng sông, tùng núi, gió vi vu
Ôm Phật tánh, giới châu làm bạn đường chung chăn gối!"
Đó là việc có thật. Có thật, tuy nhiên:
"Duy chứng nãi tri, nan khả trắc…"
---o0o---

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2023

Đọc thơ Tuệ Sỹ

 (Vĩnh Hảo) Đọc thơ Tuệ Sỹ_______Ai có thể tưởng được đây là bài thơ ngắn của một nhà sư?

“Em mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như cò trắng giữa đồng xanh bất tận
Ta yêu người vì khoảnh khắc chiêm bao.”
đây không cần phải luận bàn làm gì cái sở học uyên bác và trí tuệ cao thâm của nhà sư tác giả bốn câu thơ ấy. Chỉ nói riêng chút xíu về hồn thơ, hơi thơ của ông qua vài bài thơ mà nhiều người từng đọc và say mê. Trước nhất là bài thơ vừa đọc ở trên (có trong thi phẩm Giấc Mơ Trường Sơn), tựa đề: Thoáng Chốc.Bài thơ bắt đầu bằng nhân vật ở ngôi thứ ba: “Em” (cô ấy, người ấy); mà cũng có thể là nhân vật ngôi thứ hai lắm! Em. Vâng, tôi nói với em đấy. Không nói bằng lời mà bằng tâm.Em: mắt biếc, ngây thơTả một người đẹp chỉ bằng mấy chữ. Mắt biếc: cửa sổ tâm hồn. Ngây thơ: tâm hồn. Chỉ nhìn vào cửa sổ là thấy được cái gì ẩn sâu bên trong. Cửa sổ xanh biếc, xanh như ngọc, mở ra một tâm hồn trong trắng ngây thơ. Không những vậy, cái vẻ ngây thơ còn được xác định thêm bằng khung cảnh chung quanh, bằng sự rộn rịp đông đảo của một ngày hội lớn; qua đó, thi nhân thấy “em” ngây thơ chi lạ giữa chốn lễ hội chen chúc những người là người. Lễ hội nào đây? Phải là lễ hội lớn ở chùa thì mắt biếc mới giao cảm với cái nhìn của thi nhân. Tết thượng nguyên? Lễ Phật Ðản? Không. Những ngày lễ hội này vui lắm. Khí trời ấm cúng, lòng người nô nức hân hoan. Không thích hợp để lòng mình bất chợt nẩy sinh một nỗi buồn vu vơ, hoặc bỗng dưng mà tha thiết yêu người như vậy. Phải là ngày Lễ hội Vu Lan. Mùa thu. Gió lành lạnh. Buồn buồn. Một ngày lễ tuy cũng là hội lớn nhưng không rộn ràng vui tươi như ngày xuân hay Phật Ðản. Ngày ấy, những người con xa gia đình sẽ nhớ cha nhớ mẹ hơn; những nhà tu sẽ dễ chạnh lòng hơn.Nơi sân chùa, tiếng trống, tiếng chuông, tiếng mõ, ban kinh sư nhịp nhàng câu kinh tiếng kệ, hàng nghìn người bu quanh đàn tràng chờ đợi giờ phút giành giật thực phẩm cúng cô hồn… Và em bỗng nổi bật giữa chốn lễ hội ấy, với đôi mắt ngạc nhiên quan sát, tìm hiểu quang cảnh lễ hội một cách thú vị. Và rồi một thoáng bất chợt bắt gặp nhà sư thi sĩ.Khoé môi cười nắng quái cũng gầy haoNắng lúc ấy không còn gay gắt nữa. Màu nắng bỗng dưng dịu xuống… Dịu không phải vì nắng thu mà vì một khoé môi cười. Khoé môi cười làm cho “nắng quái” hao gầy đi, giảm gắt đi. Nói cách khác, trời nắng gắt bỗng dưng êm dịu đi khi nàng nở một nụ cười. Nụ cười gì đấy nhỉ? Cười với ai? Cười với bạn bè? với người thân? hay với nhà sư thi sĩ? Có lẽ là cười với nhà sư. Em mỉm cười thay một lời chào. Nhưng cười thế nào mà nắng quái cũng gầy hao? Cười thế nào mà lòng bỗng bâng khuâng, dìu dịu… để không kềm được lời ca:Em mắt biếc ngây thơ ngày hội lớnKhoé môi cười nắng quái cũng gầy haoChưa hết. Ngay lúc ấy, ngay ở quang cảnh tưng bừng lễ hội ấy, mà tự dưng dáng em bỗng trở thành hiện thân của một con cò trắng giữa đồng xanh. Rõ ràng là em đang đứng giữa rừng người mà sao thi nhân lại thấy khác đi. Thấy em nổi bật lên, không phải như con cò trắng đứng giữa bầy cò đen; cũng không phải như con cò trắng đứng giữa bầy gà, bầy vịt, mà đứng giữa đồng xanh bát ngát. Tất cả mọi người chung quanh đều mất dạng, không hiện hữu. Chỉ có một mình em áo trắng, ngây thơ, mắt biếc, đứng giữa đất trời mênh mông.Như cò trắng giữa đồng xanh bất tậnMắt biếc, ngây thơ, trong chiếc áo dài trắng, đứng lặng lẽ, nở một nụ cười, giữa đám người chộn rộn. Ôi, đẹp như thế, làm sao mà lòng khỏi bâng khuâng xao động; làm sao mà chẳng thành thơ; làm sao mà khỏi yêu được! Vì vậy:Ta yêu ngườiÐừng vội, hãy đọc ngang đó, ngắt ngang đó thôi. Khoan đọc tiếp mấy chữ cuối. Khoan chấm dứt bài thơ. Hãy dợm một chút ở nơi này. Và hãy mượn bài thơ của thi nhân để diễn tả thể cách yêu bình phàm của chúng ta:
Em mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như cò trắng giữa đồng xanh bất tận
Ta yêu người.Ta yêu người, chấm hết. Rồi bắt đầu bước chân chinh phục, chiếm hữu. Bước chân đó mỗi người có một cách riêng, không cần phải nói ra. Chỉ cần: Ta yêu người, là xong.Cái trình tự thương yêu của người trần sẽ trôi đi như thế. Thấy em mắt biếc, trong trắng, dịu dàng, cười rất có duyên, nổi bật giữa đám phàm phu tục tử khác… thì phải yêu thôi. Vâng, ta yêu người, tôi yêu cô, anh yêu em. Phải là như thế. Bài thơ của chúng ta, dù theo vần điệu và thể loại thì không muốn cắt ngang đó, tức lắm; nhưng trên thực tế đời sống thì chúng ta cắt ngang đó cái rụp, đâu có cần suy nghĩ gì nữa. Ðẹp, có duyên như vậy thì… yêu! Bài thơ chấm dứt, có một đoạn kết rất thực tế, rất phổ thông, rất là người.
PHẠM VĂN DŨNG cảm tác.
Em mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao
Như cò trắng giữa đồng xanh bát ngát
Ta yêu người vì một thoáng chiêm bao.
Đọc thơ và cảm xúc là tùy theo tâm trạng và hiểu biết của mỗi người cho nên thơ vốn chẳng giành riêng cho ai cả.Khi nghĩ về một bài thơ trước phải xem bài thơ được ra đời vào thời điểm nào, bối cảnh xã hội và nhà thơ đó là ai..Ở đây ta đang nói về bài thơ của một nhà thơ - tu sỹ phật giáo, một người nổi tiếng với đầy đủ tài hoa, phẩm hạnh và nhân cách của một nhà thơ - thi sĩ và một bậc tu hành giác ngộ thấu triệt nhân sinh..Tôi không dám nói nhiều về học thuật chỉ là một chút gợi ý , cảm xúc của mình với bài thơ cùng một tâm tư của người yêu thơ và thực hành phật đạo.Cuộc sống như một ngày hội lớn trong mắt người thi sĩ.
Chữ Em mở đầu câu thơ thật là tuyệt, không phải là một cô gái cụ thể mà tác giả đã rất tài tình gói trọn nhân tình thái thế vào một chữ Em như là một người con gái trong trắng hồn nhiên trong vũ điệu của cuộc sống, một ngày hội cho tất thảy chúng sinh được an bình vui tươi thọ hưởng kiếp đời như là một ân huệ mà tạo hoá đã ban cho.Chữ Em cũng chính là tác giả với cái nhìn đời trong veo mắt biếc giữa cuộc sống bao la như một ngày hội lớn, một cảm xúc bình an và ngây thơ không một mảy may lo âu sợ hãi trước cuộc đời..Nhưng sang câu thứ hai là:
Khoé môi cười nắng quái cũng gầy hao.
Đến đây cái thấy cái hiểu cái cảm thụ của tác giả đã hoàn toàn khác lạ với cái trong trắng ngây thơ mắt biếc không một gợn đục như trước nữa, mà một cảm xúc đầy trí tuệ, từng trải khám xét..không như nhà thơ Thế Lữ :
Bình minh chói lọi đâu đâu ấy
Còn chốn lòng riêng u ám hoài.
Tuệ Sỹ đã nhìn chân lý qua một nụ cười không phải là buồn thảm hay mắt biết ngây thơ như ngày nào nữa, mà cảm nhận cái nguồn ánh nắng không ngọt ngào trên một phần rất nhỏ ở bờ môi. Cái giọt nắng ngọt ngào mạnh mẽ như ngày nào giờ chỉ còn là anh chàng hao mòn gầy gò thiếu sức sống, một khoé cười chẳng khinh khi cũng không mủn lòng mà đầy chút thương tiếc, cảm thương và thấu tỏ cho một sự thật, chân lý vẫn còn đó niềm hy vọng chưa vụt tắt vạn vật cũng đổi hình biến dạng, nắng quái là một chút xót lòng xao động của thi sĩ đứng trên cả và vượt ra ngoài để cảm nhận, bao dung..
Câu thứ ba và thứ tư:
Như cò trắng giữa đồng xanh bát ngát Ta yêu người vì một thoáng chiêm bao.
Tác giả đã gắn mình như cò trắng, mà cò trắng trong ca dao nó thương lắm, yêu lắm nó không thể sống thiếu những cánh đồng xanh bát ngát, cái cuộc đời như thân cò cần mẫn chắt lọc gom góp cho đời.. Bát ngát đồng xanh mà thiếu một cánh cò bay thì câu ca dao không còn đằm thắm đọng lại trong trái tim bao người, tình yêu quê hương, non sông gấm vóc nó là hơi thở là cuộc sống là tất cả của một tâm hồn cao đẹp và đầy chất thi ca của Tuệ Sỹ.Ta yêu người vì một thoáng chiêm bao. Đây là một lời tự thú với chính mình và cũng là một lời cảnh tỉnhcho một sự thật đắng cay.. một sự bùng nổ về tâm thức, sự mê lầm ảo tưởng về một thời một đời..từ một thi sĩ đã chuyển thành bậc giác ngộ chân lý sự thật, thấy rõ được cả một tiến trình giác ngộ từ cảm xúc thi ca đến tuệ giác của một bậc tu hành .Tuệ Sỹ đã khẳng định một chân lý sự thật trong cái nhìn tuệ giác của một tu sĩ phật giáo.Như kinh Kim Cang: phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng..nó như khói như mây như bào như ảnh..Chúng ta đã và đang mê lầm, mê lầm chính bản thân mình, mê lầm ảo tưởng về một sự thật muôn đời, nó biến hoại, giả tạo và vô thường, nó như một giấc chiêm bao nó không thật sự tồn tại.. Cũng chính vì lẽ đó Tuệ Sỹ đã dùng tất cả những tháng ngày có được trong kiếp sống này để yêu thương, trân quý, hết thảy chân thành, hết thảy đều thủy chung. Chỉ một tâm hồn lớn, một trí tuệ lớn mới đủ để dang cánh cò bay giản dị, mà đồng hành mãi theo chiều dài lịch sử ca dao, của những cánh đồng xanh bát ngát trong lòng dân tộc. Nếu như bài thơ kết thúc ở câu : Ta yêu người. Như tác giả bài viết Vĩnh Hảo thì tôi nghĩ đôi cánh cò kia đã rụng mất ở một phương trời nào..Cảm ơn bạn đã quan hoài và chiếu cố đọc lời của một người thô vụng..mong được ý quên lời.

Khó khăn của sự giác ngộ..

 Khó khăn của sự giác ngộ là bạn chỉ có thể giác ngộ trong một kiếp sống, bởi vì đó là kiếp sống cuối cùng của bạn. Một khi bạn đã giác ngộ, bạn không thể trở lại cơ thể con người nữa. Bạn được giải thoát khỏi nhà tù, khỏi đau đớn, khỏi thống khổ, khỏi sự tồn tại khốn khổ, vô nghĩa.Bạn không còn bị giới hạn dưới bất kỳ hình thức nào; bạn đi vào một ý thức phổ quát vô hình dạng. Một khi đã giác ngộ, cái chết của bạn sẽ là cái chết cuối cùng. Nói cách khác, chỉ những người giác ngộ mới chết.Người chưa chứng ngộ: rất khó - họ cứ quay lại, họ không bao giờ chết. Chỉ người chứng ngộ mới có thể đảm đương được cái chết; người chưa chứng ngộ không thể đảm đương được điều đó, người đó vẫn chưa sẵn sàng.Cuộc sống là một trường học, và trừ khi bạn học được bài học đó, bạn sẽ phải quay lại lớp học đó nhiều lần. Một khi bạn đã học bài, vượt qua kỳ thi, thì cho dù bạn có muốn quay lại lớp học bạn cũng sẽ thấy mọi cánh cửa đều đóng lại đối với bạn. Bạn phải di chuyển cao hơn, đến một mức độ hiện hữu khác.Chúng ta đã chuyển từ dạng này sang dạng khác. Con người là hình thức cuối cùng. Bên ngoài con người là một ý thức đại dương, vô hình.

Osho.