Chứng Đạo Ca Trực Chỉ Đề Cương
Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 – 2543
THI CA 24 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO SỰ LÝ
Phiên âm:
Hàng long bát, giải hổ tích
Lưỡng cô kim hoàn minh lịch lịch
Bất thị tiêu hình hư sự trì
Như Lai bảo trượng thân tung tích
Dịch nghĩa:
* Gậy đuổi cọp, đến nay còn chứng tích
Bát thu rồng, của Lục Tổ hãy còn lưu
Thấy vật xưa, như gặp lại người xưa
Nhìn kỷ vật, để nhủ lòng thêm tinh tấn
* Cầm tích trượng, tưởng như nắm trong tay chân lý
Tứ diệu đề với thập nhị duyên sinh…
Trượng của Như Lai là biểu tượng của "bần tăng"
Chân đạo sĩ, chớ nên nghĩ: Đó là HƯ SỰ!
---o0o---
TRỰC CHỈ
Người học Phật, phải học, hiểu những vấn đề then chốt của nền giáo lý
Phật, trước khi vào nhà Phật học đồ sộ. Đó là vấn đề:
Sự - Lý
Phương tiện – Cứu cánh
Bất liễu nghĩa – Liễu nghĩa.
Tục đế – Chơn đế
Hiểu được ý nghĩa và công dụng của những cặp phạm trù đó, người đạo
sĩ thấy biết rộng sâu vào vấn đề:
- Lý pháp giới
- Sự pháp giới
- Lý sự pháp giới
- Sự sự pháp giới
- Lý vô ngại
- Sự vô ngại
- Lý sự vô ngại
- Sự sự vô ngại
Hiểu tõ tánh chất "vô ngại" qua bốn cách nhìn "pháp giới", người đạo sĩ
chợt nhận ra chân lý "Pháp giới nhất chân". Sự là "sự" của "lý". Lý là "lý của
"sự". SỰ LÝ VIÊN DUNG. Bấy giờ nhìn thấy gậy đuổi cọp, bát thu rồng,
bình bát, tích trượng như nhìn thấy Phật, Pháp và Tăng. Thấy được chân lý:
"Một là tất cả". "Tất cả là một". Thế cho nên với người chứng đạo những
chứng tích "hữu vi", "sự tướng" đó không ngoài "bản thể nhất chân" thì sao
được gọi là HƯ SỰ TRÌ?
Tuy nhiên, với người chưa tỏ ngộ châ lý, ôm giữ bình bát tích trượng, ba
y, chánh gốc của Phật tổ Như Lai, để mà "lễ bái" mà "cầu nguyện" mà "van
xin" mà "hy vọng", mà trông nhờ sự "phù hộ" sự "cứu rỗi" của Phật thì rõ là
HƯ SỰ TRÌ. Vì sự chỉ là sự "hữu vi pháp" thì của ai cũng đều như huyễn,
như hóa, như sương mai, như điện nhoáng mà thôi. Bo bo ôm giữ "sự tướng"
là dẫm chân một chỗ. Mà phải hiểu:
Sự để đạt đến Lý
Phương tiện để đạt đến cứu cánh
Bất liễu nghĩa để đưa lên liễu nghĩa
Tục đế để nhận thức tư duy chân đế".
---o0o---
THI CA 25 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỌNG, CHÂN
ĐỀU VỌNG
Phiên âm:
Bất cầu chân, bất đoạn vọng
Liễu tri nhị pháp không vô tướng
Vô tướng vô không vô bất không
Tức thị Như Lai chân thực tướng
Dịch nghĩa:
* Chân đạo sĩ chẳng cầu chân bỏ vọng
Vốn biết rằng: Chân, vọng không có gì!
Bảo rằng "KHÔNG", nhưng không được hiểu "NGOAN KHÔNG"
Rằng là "CÓ", mà không nói là "THỰC CÓ"
* Nhận thức rõ, "Như Lai chân thực tướng"
Sắc là không, không là sắc, bất tương ly
Chân lý duyên sanh, một đạo lý nhiệm mầu
Nhìn "đương thể": SẮC là KHÔNG, KHÔNG là SẮC
---o0o---
TRỰC CHỈ
Giáo lý liễu nghĩa thượng thừa trong đạo Phật, vần đề CHÂN, VỌNG
không là vấn đề đáng được bàn cãi đúng sai chân vọng nữa.
"Tánh chân thực của pháp hữu vi là KHÔNG
Vì duyên sinh
Ví như huyễn
Bản chất của pháp vô vi, không sinh không diệt
Vì không có thật
Ví như hoa đốm trong hư không"
Chỉ cái vọng, cốt hiển bày CHÂN. Không vọng tự nó CHÂN. Không có
CHÂN nào ngoài VỌNG. Vọng và Chân đều không tự tướng. Không tự
tướng đồng nghĩa với "không có gì". Gọi là CÓ chỉ là sự hội tụ duyên sinh
còn hòa hợp. Gọi là KHÔNG chỉ là sự phân tán của duyên sinh tan rã.
Người học Phật khi nói CÓ phải ý thức, mình đang nói CÓ cái gì. Lúc
nói KHÔNG cũng phải ý thực, mình đang nói KHÔNG cái gì!
SẮC KHÔNG, KHÔNG SẮC là vấn đề của người học đạo, hành đạo và
chứng đạo mới thấy rõ:
"… Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ…"
"… Duy chứng nãi tri nan khả trắc…"
Đó không phải là vấn đề nên "thảo luận" trong những buổi "tửu hậu trà
dư". Càng không được nói để chứng minh rằng đó là sai hay đúng. Nếu cả
đời mà ta chưa gặp "đạt giả" để "đồng du" thì chỉ còn một cách: "độc hành
độc bộ" mà thôi! Rồi thỉnh thoảng chờ nghe tiếng vọng trong không gian thủ
thỉ:
"Vui thì vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó, mặn mà với ai…"
---o0o---
THI CA 26 - CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO …
NHẤT THIẾT DUY TÂM…
Phiên âm:
Tâm cảnh minh, giám vô ngại
Hoát nhiên huýnh triệt châu sa giới
Vạn tượng sum la ảnh hiện trung
Nhất lỏa viên quang phi nội ngoại
Dịch nghĩa:
Gương tâm sáng, rõ soi không ngăn ngại
Thoắt ngộ rồi, thu hết thế giới hằng sa
Vạn tượng sum la, là ảnh hiện của tâm này
Có TUỆ GIÁC, "trong" "ngoài" không ranh giới
---o0o---
TRỰC CHỈ
Trong giáo lý Phật, đề cập TÂM là đi vào lãnh vực "chuyên", vào chiều
sâu thăm thẳm của tư duy và quán chiếu. Nói cách khác, người học Phật
muốn nhận thức về TÂM, thưởng thức được hương vị giải thoát của TÂM,
công dụng tuyệt vời thánh thiện của TÂM, người đạo sĩ phải thực hiện
THIỀN, phải vận dụng CHÁNH QUÁN.
Bởi vì TÂM ở trong đạo Phật nói có nhiều tên gọi. Mỗi tên gọi, một công
dụng, một giá trị lợi hay bất lợi, "bạn" hay "thù", chỉ người thực học, thực
tu, mới hiểu hết, hiểu kỹ từng công dụng của các thứ TÂM.
1. Nhục đoàn tâm
2. Vọng tâm
3. Chân tâm
4. Thường trú chân tâm
5. Như Lai Viên Giác diệu tâm
6. Duyên lự tâm
7. Bát thức tâm
8. Tích tụ tinh yếu tâm
Tâm có nhiều tên gọi như vậy, cho nên nghiên cứu đạo Phật sơ sài, hời
họt mà bàn luận về TÂM thì khó mà quán triệt vấn đề.
TÂM CẢNH MINH, chỉ cho cái tâm được loại bỏ "vọng tâm", loại bỏ
"duyên lự tâm", nhưng thứ tâm nghĩ ngợi lăng xăng, tạp nhạp, thứ tâm gây
ra một nguyên nhân và hậu quả khổ đau cho con người.
TÂM CẢNH MINH là NHƯ LAI VIÊN GIÁC DIỆU TÂM là THƯỜNG
TRÚ CHÂN TÂM của con người vốn có. Theo giáo lý đạo Phật, đó là "bản
thể" của vũ trụ vạn hữu. Hiện tượng vạn hữu là pháp "duyên sinh" từ tâm thể
đó mà ra:
"Nhược nhơn dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
NHẤT THIẾT DUY TÂM TẠO"
"Duy tâm tạo" là "tâm thể" bao hàm thu tóm hết vạn tượng sum la, không
còn vật nào "ở trong", cái gì "ở ngoài" nữa. Cũng như sóng mòi, bọt bong
bóng, không có cái gọi là "trong", là "ngoài", vì là cùng loại duyên sinh trên
mặt biển bao la vô tận của nước đại dương.
---o0o---
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét