Vì Sao Giới Tăng Bảo Ngày Càng Trở Nên Rất Đời Như Thế?
Phật pháp tại thế gian, chẳng thể lìa thế gian mà giác ngộ đặng. Đây là điều mà phần lớn người học Phật đều được biết. Tuy nhiên liệu có được mấy người học Phật liễu được chân nghĩa câu nói nghe chừng rất đơn thuần đó.
Phần đa người học Phật cả Tăng lẫn tục khi tìm về đạo Phật đều sẽ rơi vào kiến thủ mặc định kinh Phật, pháp Phật là cao tột và không có một tri thức thế gian nào có thể so bì.
Vì thế người học Phật chỉ cần tham học giáo lý đạo Phật là đủ. Chính chấp thủ này đã khiến học nhân, hành nhân Phật học xa rời thực tại thế gian, chìm đắm vào biên kiến đạo Phật dẫn đến đánh mất trung đạo. Từ đó con đường giác ngộ giải thoát ngày càng trở nên mờ mịt, tối tăm.
...
Ở bài viết Vì Sao Giới Tăng Bảo Ngày Càng Trở Nên Đổ Đốn Đến Tệ, Ngạo Thuyết đã chứng thực cho mọi người nhận diện ra được rằng gần như là tất cả người xuất gia từ lâu xa nhẫn đến đương đại đều là những người khốn cùng, túng ngặt hoặc đầy đau khổ, muộn phiền.
Số lượng người xuất gia học Phật có chí nguyện chân chánh thoát khổ nơi đời này, đời sau bằng chí thoát ly sinh tử luân hồi thật sự rất hiếm hoi đến mức gần như là không tồn tại.
Hiển nhiên là những người vào chùa từ thuở bé thơ sẽ khó thể xác định được mục tiêu học Phật của chính mình.
Chỉ có những người học Phật ở trường đời, va chạm với cuộc sống nghiệt ngã, gặp nhiều điều bất toại ý mới có thể phát nguyện chí xuất trần chạm đến sự giải thoát hoàn toàn.
Song do thiếu khuyết minh sư sáng đạo chỉ dẫn, do việc sớm chìm đắm vào chấp thủ kinh Phật cao tột cùng với sự trọng thị của người đời, tâm nhân ngã của người xuất gia sẽ được nuôi lớn dần, những khổ não nơi đời phai nhạt,... chí nguyện chân chánh xuất gia ban đầu sau cùng sẽ tan biến không lưu lại chút dấu vết. Đây là nguyên nhân khiến ngày nay không có những bậc Long Tượng xuất thế ở nơi chùa chiền, tự viện.
Con người tìm đến đạo Phật phần đa đều khởi nguồn từ sự đau khổ, khốn cùng, bế tắc,... Đây là một sự thật luôn đúng. Và chỉ có những con người sống trong tận cùng những bế tắc mới có cơ may chạm đến sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Phật Thích Ca là một minh chứng điển hình. Khi còn là một Thái tử, Tất Đạt Đa sớm chất chứa, ôm giữ niềm thao thức "Làm sao thoát khỏi nỗi khổ sinh già bệnh chết?". Niềm thao thức đó "trùm kín" tâm hồn của Thái tử Tất Đạt Đa. Sự tranh giành hơn thua, được mất giữa người với người nơi cuộc sống không kéo Tất Đạt Đa ra khỏi những phiền muộn tâm thức. Việc kết hôn, việc kế thừa vai trò quốc vương đất nước Thích Ca không khiến Tất Đạt Đa "quên bẵng" niềm trăn trở "ra ngoài" luân hồi sinh tử
Ái dục của đời sống vợ chồng cũng không khiến Tất Đạt Đa lãng quên niềm thao thức tâm linh. Sự ra đời của cậu bé La Hầu La nhắc Tất Đạt Đa nhớ đến cái chết của mẹ chàng, hoàng hậu Ma Da, điều đó đã thổi bùng lên ngọn lửa Phải Tìm Ra Con Đường Thoát Ly Sinh Tử, vượt thoát hoàn toàn mọi khổ não thế gian. Và sau cùng Thái tử Tất Đạt Đa đã dũng mãnh lên đường.
Thế đấy, Thái tử Tất Đạt Đa dấn thân tìm đạo cùng thành đạo bởi do những bế tắc tâm linh cùng với sự kiên định mục tiêu tìm đạo.
Ái dục khoái lạc không thể trói được chân người học đạo chân chính bởi lẽ người học đạo chân chính thường nhóm chứa ba món bảo vật, đó là Chờ Đợi, Suy Tư Và Nhịn Đói (Đây là nhận định của một nhà nghiên cứu tôn giáo phương Tây, ông Herman Heese - Và hẳn nhiên đây không phải là một nhận định không có đạo lý).
...
Ở bối cảnh xã hội ngày nay cùng với sự can thiệp sâu sát của thành phần lãnh đạo đất nước Việt Nam vào các hệ thống tôn giáo đã dẫn đến một thực trạng đớn đau cho đạo Phật đó là những người xuất gia học Phật chỉ còn là những hạng người xuất gia với tư tưởng hám danh lợi, đắm dục vọng hoặc do hoàn cảnh bức ngặt, khốn cùng như nợ nần chồng chất, đói ăn, tội phạm lẩn trốn,... cùng những bế tắc nơi cuộc sống, những kẻ chán đời, nhụt chí,...
Và bên cạnh đó là một lực lượng không hề ít những cán bộ nhà nước được quy hoạch làm sư thầy Tăng Bảo ngõ hầu quốc hữu hóa đạo Phật.
Mặt khác, với những khoản huê lợi khổng lồ mà tín đồ Phật tử tham cầu sẵn sàng cung phụng cho chư Tăng Bảo đã khiển biết bao kẻ là Con Ông Cháu Cha, Cán Bộ Nhà Nước sẵn sàng "đấu thầu" để trở thành một ông sư, một vị Tăng Bảo ngự ở những ngôi chùa hoành tráng như chùa Bái Đính, chùa Tam Chức, chùa Ba Vàng, chùa Địa Ngục, chùa Cửu Long Sơn Tự, chùa Đại Tòng Lâm,... hệ thống chuỗi tự viện Thiền Tông Trúc Lâm,...
...
Số người xuất gia có đạo tâm sẽ sớm bị thải loại bởi sự xa hoa, tráng lệ của những ngôi chùa vương giả. Và kết quả là giới Tăng Bảo xuất gia đến với đạo Phật hoàn toàn đánh mất chí nguyện xuất trần giải thoát, việc xuất gia chỉ còn là việc tranh giành, gồm thâu lợi dưỡng, lợi danh giữa các vị Tăng Bảo giảo hoạt. Đấy là giấc mơ con của những người xuất gia học Phật ngày nay. Và giấc mơ con đè nát cuộc đời con đang dần dần hủy hoại đạo Phật ở Việt Nam cũng như đạo Phật ở phạm vi thế giới.
...
Không phải mãi cho đến bây giờ đạo Phật mới trở nên Rất Đời như thế. Dù muốn dù không thì Phật pháp tại thế gian chẳng thể lìa thế gian mà có thể tồn tại.
Ngạo Thuyết sẽ cùng các bạn ngược dòng thời gian để nhận diện Phật Giáo Việt Nam đã trượt dài sự Rất Đời như thế nào cũng như Phật pháp tại thế gian chẳng lìa thế gian ra sao?
Luôn có một sự tương tác gắn kết, chặt chẽ giữa đời và đạo Phật. Và chúng ta không cần phải ngược dòng lịch sử quá xa để tránh việc nhận những thông tin sai lạc, mịt mờ,...
Cỗ máy vượt thời gian đã dừng lại ở thời kỳ thực dân nửa phong kiến nơi đất nước Việt Nam. Lúc bấy giờ chiến tranh loạn lạc, nạn binh lửa triền miên. Kiếp người chừng như rất mong manh và đạo Phật như là một nơi gửi gắm cả linh hồn và thể xác của người Việt lúc bấy giờ.
...
Lúc bấy giờ người xuất gia có đầy đủ các hạng từ trốn lính, đói ăn, bế tắc khốn cùng và cả những chí sĩ yêu nước ẩn nhẫn chờ thời. Khi ấy, núp bóng chốn Phật môn còn có những người học Phật có chí nguyện xuất trần đơn thuần được kế thừa từ giới Tăng Bảo đời trước và cả những người trí thức, tú tài lỡ dở đường công danh,... cùng với những kẻ đầu trộm, đuôi cướp,...
Ở chốn Phật môn vẫn thường là nơi long xà lẫn lộn.
Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo ý thức hệ của giới xuất gia thời thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam sẽ có những nét Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín. Do đó những người xuất gia có đạo tâm sẽ không ngừng ra sức giữ gìn mối đạo cùng với việc truyền tải ý thức hệ yêu nước, đoàn kết giống nòi. Kinh sách Phật học được gìn giữ trao truyền, dịch giải và giảng thuyết lồng ghép vào tinh thần yêu nước, thương dân.
Đạo Phật đã gắn kết với đời như thế, tư tưởng xuất thế được dung hòa tư tưởng tu nhân của Khổng giáo.
...
Nhờ có đạo Phật mà có biết bao người núp bóng chốn Phật môn được sống sót, được cơm ăn, áo mặc trải qua một quãng thời gian dài chiến tranh loạn lạc.
Chiến tranh rồi cũng qua đi để lại nơi đất nước Việt Nam những điêu tàn, đổ nát. Một số những người xuất gia núp bóng Phật môn để sống còn thoát ly chùa chiền tái thiết lại cuộc sống riêng mình. Những người xuất gia núp bóng đạo Phật làm cách mạng, ẩn nhẫn chờ thời thoát ly đạo Phật về làm công tác quản lý đất nước,...
Một số khác núp bóng đạo Phật không biết đi đâu, về đâu sẽ tiếp tục ở lại các ngôi chùa sống qua ngày đoạn tháng.
Những người xuất gia có đạo tâm, có chí nguyện cao cả sẽ tiếp tục dấn thân vào con đường gìn giữ, truyền trao chánh pháp, kinh Phật.
Do được hàm dưỡng ở nền giáo dục Nho giáo cùng với việc trải qua những năm tháng loạn lạc, đau thương những người xuất gia có đạo tâm thời bấy giờ sống một đời sống thanh cao, phạm hạnh, đáng kính trọng.
Và do sự hàm dưỡng tích lũy ở đời, đạo hạnh của các vị Tăng Bảo xuất gia chân chính ngày ấy chói ngời ánh sáng đạo.
Tấm lòng từ bi, bác ái của những vị Tăng Bảo thời hậu chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ đã giúp đạo Phật có chỗ đứng vững chắc trong lòng dân tộc Việt Nam.
Lắng lòng một chút chúng ta sẽ nhận thấy nho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến giới hạnh của chư Tăng Bảo thời phong kiến, thực dân nửa phong kiến, hậu thời phong kiến rất rõ rệt. Và thực tế là chư Tăng Bảo thời bấy giờ sống đời thanh cao, nghiêm trì phạm hạnh. Thêm nữa, trước cảnh đất nước điêu tàn, nạn đói triền miên,... chư Tăng Bảo đương thời dẫu có khởi lòng tham cũng chẳng thể được.
...
Chiến tranh qua đi, giới lãnh đạo đất nước Việt Nam được "nhồi sọ" tư tưởng vô thần của Đảng Cộng Sản Quốc Tế. Luận biện chứng nửa mùa "Vật Chất Quyết Định Ý Thức" đã khiến giới lãnh đạo đất nước Việt Nam lập ra những chế tài nhằm ngăn chặn người Việt Nam xuất gia làm sư thầy Tăng Bảo. Họ sợ rằng việc xuất gia sẽ "hao hụt" lực lượng lao động tạo ra của cải, vật chất tái thiết đất nước.
Chiêu bài bày trừ mê tín dị đoan được giới quản lý đất nước dựng lên nhằm cản trở sự phát triển lớn mạnh của các hệ thống tôn giáo, đồng thời góp phần "thâu tóm" sự Tự do tôn giáo, tự do ngôn luận ở các tôn giáo khác nhau.
Mặc dù bị quản thúc nhưng đạo Phật vẫn tùy thuận lách qua khe cửa hẹp - Những chế tài khắt khe mà tồn tại.
Có không ít những người thuộc những phe cánh chính trị đối lập và cả những kẻ trộm cướp thuộc chế độ cũ ẩn thân vào các ngôi chùa làm sư thầy, làm chú tiểu nhằm tránh sự "tìm diệt" của giới lãnh đạo đất nước, Đảng và Nhà Nước đương thời.
Đảng và Nhà Nước lúc bấy giờ cũng biết rằng sẽ có những thành phần chính trị ẩn nhẫn nơi các hệ thống tôn giáo chờ thời nên đã từng bước triển khai việc quốc hữu hóa đạo Phật bằng cách cài cắm cán bộ Đảng vào nội bộ các hệ thống tôn giáo, đồng thời chống lưng cho họ để họ dễ dàng nắm giữ vai trò lãnh đạo các hệ thống tôn giáo. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cùng những tổ chức Phật giáo Việt đã ra đời trong bối cảnh xã hội như thế.
Thời kỳ hậu phong kiến việc tu thân, bồi dưỡng đạo đức ở ngành giáo dục, ở văn hóa người Việt vẫn hãy còn được xem trọng. Điều này đã phơi bày qua lối sống không những của sư thầy Tăng Bảo mà cả ở mặt bằng chung văn hóa ứng xử của người Việt lúc bấy giờ.
Chính vì vậy sư thầy Tăng Bảo thuở ấy không dễ dàng sa ngã, đọa lạc với những hiện tướng trơ trẽn, bẩn thỉu về mặt giới hạnh xuất gia. Đây cũng là một thời kỳ đói nghèo của đất nước Việt Nam.
...
Hoa nở rồi tàn, tàn rồi lại nở...
...
Trải qua một thời kỳ bao cấp sai lầm về biện chứng đất nước Việt Nam chìm sâu vào đói nghèo, quẩn bách. Cùng tắc biến... giới lãnh đạo đất nước Việt Nam đã thực hiện chính sách "Mở Cửa" để phát triển kinh tế đất nước.
Do chính sách Mở Cửa mà kinh tế Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cùng những bước nhảy vọt. Và kết quả là sự "hổng chân" đã đang và sẽ khiến cho đất nước Việt Nam mất định hướng cùng những mối nguy đổ vỡ, tan thương.
Sự nóng vội, bệnh thành tích,... hiện tồn nơi đất nước Việt Nam đã khiến tri thức người Việt bị "hổng chân" bày ra những khiếm khuyết không dễ gì "lấp đầy".
...
Vì lợi ích 10 năm trồng cây; Vì lợi ích 100 năm trồng người.
Tiếc rằng những nhà làm quản lý đất nước Việt Nam đã quên bỏ điều đó. Do mải mê chạy theo thành tích ngành giáo dục Việt Nam và cả gia đình cùng xã hội Việt Nam đã quên bỏ việc rèn giũa nhân cách, đạo đức cho chính bản thân cũng như cho thế hệ trẻ. Lối sống vật chất lên ngôi và mau chóng nhấn chìm xã hội người Việt vào vũng lầy của sự thực dụng cùng man trá.
Khoảng trống nội tâm hình thành trong mỗi người và lan tỏa vào mọi thành phần, tầng lớp người Việt.
Tìm một chỗ để nương náu tâm hồn và các hệ thống tôn giáo là điểm đến mà người Việt vin níu. Và đạo Phật, Phật, Bồ tát,... các sư thầy Tăng Bảo danh tiếng là chọn lựa thường thấy ở người Việt, đó là dư âm một thời của đạo Phật thuở nào.
Nắm bắt tâm lý đó và để "báo ân" Phật bằng vào việc hoằng dương chánh pháp những lợi ích của đạo Phật, của cúng dường Tam Bảo được giới Tăng Bảo ra sức xiểng dương.
Cùng với lòng tham cùng sự thực dụng các vị Tăng Bảo không chứng ngộ thông qua việc mang danh nghĩa hoằng dương chánh pháp đã từng bước hủy hoại sự chân thật của đạo lý giác ngộ giải thoát.
...
Do đã qua rồi thời tư tưởng nho giáo chi phối đạo Phật với Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, những tính cách quân tử, chánh trực mà người học đạo thường hàm dưỡng, người học Phật đương đại, cả Tăng Bảo xuất gia lẫn cư sĩ tại gia đều bị "một khoảng trống rèn giũa nhân cách, đạo đức" do ngành giáo dục và xã hội đương đại mang lại.
...
Với một khoảng trống mông lung của việc hàm dưỡng nội tâm những sư thầy Tăng Bảo dấn thân vào chùa do những khốn cùng, bế tắc nơi cuộc sống bỗng trở nên được trọng vọng, kính ngưỡng. Và đây là một mảnh đất màu mỡ cho sư thầy Tăng Bảo trượt sâu vào tâm nhân ngã với những tham lam, thấy lợi tối mắt.
Dựa vào danh nghĩa hoằng pháp các sư thầy Tăng Bảo ra sức kêu gọi tín đồ Phật tử xây dựng chùa to, Phật lớn ngõ hầu thâu đoạt tín đồ để thu hoạch những lợi dưỡng, lợi danh.
Kinh sách nhà Phật được các sư thầy Tăng Bảo hám danh, tham lợi tận dụng làm chiếc cần câu tài vật một cách hữu hiệu.
Giáo lý chuẩn mực của đạo Phật từng bước bị chỉnh sửa, thêm thắt và tầm thường hóa bởi tâm nhân ngã nơi những người học Phật nửa vời.
Danh lợi gồm thâu cùng với việc hàm dưỡng nội tâm thiếu khuyết, các sư thầy Tăng Bảo ngày càng bộc lộ tâm nhân ngã và trượt dài vào những lỗi Rất Đời.
Ăn no, rửng mỡ các sư thầy Tăng Bảo không thật tu mau chóng hiện tướng sư hổ mang với những tham đắm dục vọng. Và chúng ta đã đang và sẽ thấy một thế hệ sư thầy Tăng Bảo ăn no, rửng mở như sư Thích Thanh Toàn, Thích Phước Hoàn, Thích Trúc Thái Minh, Nguyễn Nhân, Thanh Hải Vô Thượng Sư, Trần Tâm, Thích Chân Quang, Thích Nhật Từ,,... những kẻ học Phật môi miệng, biến đạo Phật thành chiếc cần câu cơm, câu tài vật, câu danh lợi.
...
Sự tương tác gắn kết chặt chẽ đạo đời qua các thời kỳ xã hội khác nhau đã phơi bày ra hình tướng, đạo hạnh của các sư thầy Tăng Bảo Việt Nam trải qua chiều dài lịch sử Việt Nam.
...
Lẽ ra Phật pháp tại thế gian chẳng lìa thế gian giác nhưng do chí nguyện xuất của giới Tăng Bảo ngày nay không còn là chí nguyện xuất trần giải thoát sinh tử nên chúng ta, tôi và các bạn sẽ chỉ có thể nhìn thấy những sư thầy Tăng Bảo Rất Đời đến trơ trẽn, hèn hạ.
...
Mời Các Bạn Tiếp Tục Tham Khảo Bài Viết - Vì Sao Giới Tăng Bảo Ngày Nay Lại Phơi Bày Hiện Tướng Khuyết Tật, Bệnh Hoạn?
