Thứ Năm, 7 tháng 3, 2019

VẤN ĐỀ ; TU ĐẠO GIẢI THOÁT KHỔ



VẤN ĐỀ ; TU ĐẠO GIẢI THOÁT KHỔ...........
.
Nếu Bạn có đủ điều kiện và đủ thời gian để Bạn nghe nói về " cái ngon " của một món ăn ở Nhà Hàng Đồng Khánh. Nếu Bạn có đọc hàng vạn cuốn sách nói về cách nấu món ăn ngon ở Nhà Hàng Đồng Khánh, Bạn có thể BIẾT NGON không nếu Bạn chưa ăn trực tiếp ăn món ở đó ?.
Không, không bao giờ, phải không Bạn.
Nếu Bạn có đủ điều kiện và thời gian để học hỏi, nghe giảng và " làm theo, lập đi lập lại những gì được chỉ bảo " nghĩa là thực hành nghiêm mật tất cả các pháp để giải khổ mà Bạn KHÔNG BIẾT KHỔ là gì thì liệu có được giải không ?.
Không, không bao giờ phải không Bạn ?.
Vậy người tu Đạo Phật - Đạo giải khổ - Bạn hãy tự mình quán xét, thậm thâm cái KHỔ đi, nghĩa là việc đầu tiên Bạn phải BIẾT, thọ CÁI KHỔ thì Bạn mới có Pháp phù hợp cho mỗi cái khổ đó - một trong muôn ngàn cái khổ khác nhau - khác nhau hoàn tòan, không cái khổ nào giống cái khổ nào mà con người chúng ta sẽ và phải đối diện trong cuộc đời đầy gian truân này..
Chỉ có cách Bạn uống nước Bạn mới biết nước thế nào mà thôi.
Chỉ có cách chúng ta nghe theo Đức Phật dạy bằng lời KHÁCH QUAN, CHÍNH XÁC và VÔ VỊ LỢI nên tin được:
" KHỔ do VÔ MINH, do sự hiểu biết SAI LẦM, theo quan điểm của Đạo giải thoát khổ MÀ TRÁNH SAI LẦM - Đức Phật lại dạy một lời rất KHÁCH QUAN :
" đừng tin tưởng những gì do.......đừng tin tưởng những gì do......và cũng đừng tin tưởng kể cả Ta, người mà các ngươi kính trọng, tôn xưng là Thầy...hãy xem xét cẩn thận những gì có thể làm buồn phiền, đau khổ chính mình và người khác THÌ BỎ NÓ ĐI "'
Bạn không thể nói " tôi tu theo Đạo giải thoát khổ, tôi đang tu tập theo pháp này của........pháp kia của....hay của Vị.ở trên núi cảo rừng thẩm; tôi tu theo Vị này...bởi Vị ấy dạy cho tôi pháp bí truyền, bởi Vị ấy kể cho tôi nghe rất nhiều trường hợp đã dạy cho ai đó đã có kết quả..... là Bạn sẽ LÀM ĐƯỢC HẾT KHỔ ...?..
Không bao giờ - dù Bạn có nghiệm mật, cẩn trọng hành một pháp nào đó mà nhiều người ca tụng là tuyệt với, mà nhiều người hứa hẹn là hiệu quả nhất trong mọi pháp pháp, mọi thời đại.......Tôi hay Bạn tụng miệt mài một quyển Kinh mà gọi là huyền mật, vi diệu, bí truyền..... .....cầu xin mười phương Chư Phật phò hộ, độ trì đi nữa đều VÔ HIỆU và cũng không ai có thể ban phát cho Bạn được cả.
. Chỉ có một cách - pháp - duy nhất trong cuộc sống đang khổ này Bạn hay tôi nghe những lời khuyên CHÂN THÀNH, KHÁCH QUAN, VÔ DỊ LỢI của Đức Phật
"" con người sở dĩ khổ bởi con nguoi mãi ĐEO BÁM những SAI LẦM, u mê vô minh của CHÍNH MÌNH tạo ra "'mà chúng ta BUÔNG BỎ " bớt " hay hết Vô minh của chình mình.......tức bớt hay hết Tham, Sân, Si thì mình mới cảm nhận sung sường - loại sung sướng mà Bạn cảm, Đức Phật gọi là CẢM THỌ NIẾT BÀN và ngay trong cuộc sống CÓ KHỔ này.
Niết bàn tại thế là vậy.

.

VẤN ĐỀ ; TU và TU THEO ĐẠO PHẬT

VẤN ĐỀ ; TU và TU THEO ĐẠO PHẬT.
Bài 1 ; YẾU CHỈ CỦA PHẬT TỔ.............
Tôi tự hỏi và có lẽ Bạn cũng đã tự hỏi, từ lúc Thái Tử Tất Đạt Đa giác ngộ thành phật có phải Ngài đã trở thành một Vị quyền năng cao siêu ......hay không ?. Ngài có thật là đã phải tu tập hàng muôn ngàn kiếp trước đến giờ này mới thành tựu không ?.
KHÔNG , không phải thế - Đức Phật còn đó, một con người bình thuờng như Ngài xác định ....nhập thế hiền hòa, nhả nhặn, đôn hậu, thuyết pháp và đến nay ngày nay con người chúng ta ghi lại với rất nhiều Kinh, sách Luận giảng,...lưu truyền.
Mặc dù Ngài chẳng ghi lại nhưng rất nhiều buổi thuyết giảng nhưng cho đến ngày nay hầu như không mấy người khởi đầu thuyết giảng hay khởi đầu cuốn Luận giảng về Đạo Phật mà xác định với thính chúng " yếu chỉ của Đạo Phật " là gì?.
Đa phần Sư Thầy, Giảng sư thuyết giảng " hình như " con người PHẢI THEO MỘT PHÁP mà chỉ có pháp đó mời đưa đền giải thoát khổ sau này nếu qua quá trinh nghiêm mật chấp thủ pháp ấy.......một số còn lại có vẻ " búc phá " hơn....chung qui làm thính chúng không ít hoang man nếu để ý.
Chúng ta, ai cũng muốn và nghĩ rằng, hy vọng rằng khi chúng ta đã thấu hiểu được tường tận những điểm chính yếu của Yếu chỉ ấy thì sẽ bước được một quảng đường dài trên đường tu học hoặc tu hành của mình.
Chung quanh chúng ta không biết bao nhiêu Vị Đạo cao đức trọng, bao nhiêu Luận sư nổi tiếng với kiến thức uyên thâm, đã nhiều năm tu học hoặc tu hành nhưng suốt thời gian từ khi Thái Tử giác ngộ đến nay con người vẫn " dậm chân tại chỗ ", vẫn than đời là bể khổ mặc dù các Vị thường nhắc lại lời Đức Phật " ta là phật đã thành, chúng sinh là phật sẽ thành ". Chắc có lẽ để khuyến khích chúng sinh cố gắng tu hành, mặc dù đã biết NẾU NÓI ĐÓ là con đường thì đó lại là con đường không điểm đến sao.
Chúng ta, chúng sinh, thoát khổ là một mục đích tối thượng bởi không một con người nào lại không khổ, cho dù Bạn quan niệm thế nào về cuộc sống thì rốt cuộc Bạn cũng vướng bận âu lo, phiền muộn,....nói là vui sướng, hanh phúc...nhưng lo âu, sợ sệt nghĩa là khổ. Nhưng nếu có câu hỏi nêu lên: Yếu chỉ của Đức Phật, Yếu chỉ của Đạo giải thoát RỐT RÁO ĐAU KHỔ là gì ? thì hình như mỗi Vị có một cách trả lời, nhưng tựu chung là khác nhau !!. Mặc dù nhiều vị - tuy không xác định rõ nhưng ngôn ngữ và phong thái của Họ cho chúng ta nghĩ rằng Họ là những người " nắm được yếu chỉ của Đức Phật " rất rõ ràng...nhưng VẪN ĐƯA TAY cho chúng ta nắm...chắc chứ không nêu YẾU CHỈ..!!
Một số Vị thì bảo Tu Phật thì phải chú trọng đến Tứ Diệu đế : Khổ, Tập, Diệt, Đạo - bốn Chân lý cao cả đó được trình bày chỉ là những phương pháp tu tập có khả năng diệt trừ đau khổ, rồi sẽ đạt đến mục đích giải thoát, an lạc, hạnh phúc.
"" Khổ - cảm giác khổ đau chúng ta ĐÃ CẢM, đã thọ rồi mà..chúng ta diệt được nó à...
Một số Vị khác dạy cho chúng ta Ba nguyên lý căn bản, ba dấu ấn tối thượng : Khổ, Vô thường, Vô ngã.
Một số khác xác định với chúng ta CHỈ CẦN niệm, niệm, niệm danh hiệu Phật là quan trọng, là sẽ giải thoát những nghiệp chướng, là sẽ được về Tây phương Cực Lạc.
Và bình nhật chúng ta thường xuyên nghe từ các Vị tăng tu " hình như " nhấn mạnh vào trọng điểm là : hành thiện, lánh ác, bố thí, tích công đức, lập Chùa, cúng Tăng ....hoặc " gạn đục, lắng trong - tỉnh tâm là cốt lõi, như TÍCH CÓP " VỐN LIẾN " tu tập hay lột dần như " bánh tét lột dần "đến ngày nào đó bánh tét không còn là bánh tét....như lột củ hành........từng tép...từng tép rồi ngày nào đó củ hành không còn là củ hành chăng.
Tất cả những xác tín về yếu chỉ của Đạo giải thoát RỐT RÁO khổ nói trên đối với chúng ta - những chúng sinh sơ cơ, thiểu trí thì quả thật không có gì là không đúng nhưng tại sao, tại sao Yếu chỉ của Đức Phật lại được " đưa ra khác nhau "?, tại sao đường vào động Thiếu Thất lại không giống nhau ?.
Nếu chúng ta nhớ lời Đức Phật : " tất cả các pháp - thế pháp - đều là hư dối " thì ôi thôi....ôi thôi..... chúng ta gặp toàn là thế pháp...toàn là LỜI NÓI LẠI.
Nếu chúng ta nhớ lới Đức Phật : " hãy tự đốt đuốc mà đi " thì chúng ta mới biết rằng " lỗi tại ta, lỗi tại ta mọi bề " ( lời của Đức Chúa nói ) bới chúng ta quá nôn nóng hỏi " tu Phật là như thế nào ? " thì bổn phận của các Vị phải nói với chúng ta " Tu Phật là như thế.....là như thế....." chúng ta đâu ngờ rằng câu trả lời RẤT ĐÚNG ĐÓ là của CHỈ NGƯỜI ĐÓ chứ không phải của mọi người. Đúng đó nhưng đúng ở trường hợp này
.......thang thần dược cầm trên tay đó liệu có phải là thần dược của bịnh mình hay không ?.
Chúng ta không biết rằng : Đạo Phật hay Phật giáo là một " KHOA HỌC NỘI TÂM " và đối tượng của nền khoa học đó là " TÂM THỨC ". Nỗ lực thực hiện trực tiếp những kinh nghiệm do nền Khoa học ấy đem đến là TU TẬP và kết quả là kết quả của chỉ người tu sửa mới TRẢI NGHIỆM và CẢM THỌ - NIẾT BÀN. do vậy, cho dù rằng là Khoa học nhưng kết quả của Phật giáo KHÔNG THỂ KIỂM NGHIỆM LẠI không thể lập lại như thí nghiệm kiểm chứng của khoa học. Thế nên Đức Phật cảnh giác chúng ta " mọi thế pháp đều là Hư dối ", mọi thế pháp chỉ là những TAY CHỈ TRĂNG, là CON THUYỀN của CHỈ RIÊNG AI ĐÓ mà thôi.
Thế nên chúng ta mới thấy tại sao suốt gần nửa thế kỷ thuyết pháp - nói cách giải thóat khổ - mà Đức Phật bảo TA CHƯA NÓI LỜI NÀO cả. mỗi người một con đường, mỗi người một pháp vào dộng Thiếu Thất, mỗi " cái khổ có một CÁCH HOÁ GIẢI RIÊNG " - không phải thang thần dược của người này cũng là thần dược của người khác......đừng chấp vào pháp nào của ai cho dù ngay của Đức Phật nêu lên !!
"" Mọi thế pháp đều Hư dối cho dù pháp đó Như Lai vừa mới ban truyền mà bất cứ người nào lập lại ""
( còn tiếp phần 2 ).

VẤN ĐỀ 2 ; TU và TU THEO ĐẠO PHẬT

VẤN ĐỀ 2 ; TU và TU THEO ĐẠO PHẬT........
Các pháp mà chúng ta được nghe giảng, chúng ta được đọc qua kinh sách, giảng luận mà trước đây chúng ta nghĩ là những con đường sáng mà chúng ta noi theo giờ quá ra chỉ là hư dối, không thể LẬP LẠI, TU THEO RẬP KHUÔN, bởi nó chỉ là một con đường mà ai đó đã đi qua và vẻ lại - CÁC PHÁP ẤY KHÔNG CÓ GÌ LÀ SAI TRÁI nhưng nó CHỈ ĐÚNG ở MỘT TRƯƠNG HỢP của người đó, còn đối với bất cứ ai lập lại, nhái lại, tập luyện theo thì cũng là HƯ DỐI, bởi nó không là hoàn cảnh của chúng.
Đồng ý là KHỔ nhưng không có " cái khổ " nào giống cái khổ nào - không có một bịnh nào giống một bịnh nào nên thang thuốc này có thể là thần dược của bịnh này nhưng lại là độc dược của bịnh khác.
Thế thì đã rõ . Tại sao suốt hơn 2500 năm " nhái lại " nên không ai " cảm thấy giác ngộ ", không ai cảm thọ AN LẠC là thế. Không thể đi trên con đường của bất cứ ai mà đến nơi của chính mình !!. Không thể không đi mà đến nơi mình đến. Không thể không uống nước mà biết nước như thế nào - tuy rằng CHẮC CHẮN " cái mát " ấy không giống nhau nhưng chúng ta BIẾT NÓ MÁT NHƯ THẾ......nó làm cho chúng ta " đã khát "
Vậy Yếu chỉ của Phật tổ là gì ?. Vậy tu là làm sao ?.
Vấn nạn thứ nhất, chúng ta bình tỉnh thì cũng dễ nhận ra. Yếu chỉ của Phật tổ là " giải thoát rốt ráo đau khổ của con người " mà con người ĐANG SỐNG, hiện sống, hiện tồn tại trong thế gian này. ( không thể biết, không thể nói chắc rằng giải thoát ở một thế giới nào mà con người không hiện hữu ). Thế thì ngay tại thế gian này nếu con người giải thoát được cái CẢM THỌ KHỔ thì nhất định thân chứng được cái CẢM THỌ " Niết Bàn " cũng phải tại thế gian này. Đúng, đúng như lời Đức Phật dạy rồi. Tu, tu giải thoát khổ đau thì Niết bàn hiện ra, hiện ra tại thế, chứ không phải ở một nơi nào khác như Tây phương Cực Lạc, một nơi nào mà chưa bao giờ con người biết đến, chưa bao giờ cư ngụ nơi ấy và nhất là chúng ta ĐANG KHỔ mà phải đến lúc chúng ta ĐẾN MỘT NƠI NÀO ĐÓ mới hết khổ ...thì thôi Khổ vẫn còn đeo bám chúng ta suốt quãng đời này...
.......ôi thôi thật vô ích.
Ngoài ra - Giải thoát theo Đạo Phật là TRÁNH RA.., THOÁT ĐI KHỎI. những " cái THẤY, BIẾT SAI LẦM " do Vô minh của chính con người PHỦ LÊN TRÊN ĐỐI VẬT, TRÊN HIỆN TƯỢNG TƯƠNG TÁC làm cho con người THẤY, BIẾT KHÔNG như thật tính của nó, KHÔNG LÀ NHƯ LAI..............KHÔNG PHẢI NÓ ĐANG LÀ...... mà sanh ra những CẢM THỌ SAI TRÁI, sanh ra NGHIỆP lực để rồi kéo theo HÀNH động SAI TRÁI mà KHỔ.
Do vậy, việc tu giải thoát rốt ráo KHỔ theo quan điểm của Đạo Phật là phải đầu tiên NHỚ LỜI DẠY của Đức Phật "" KHỔ do VÔ MINH " - BẤT CỨ VIỆC GÌ LÀM CHO CHÍNH MÌNH VÀ CHO NGƯỜI KHÁC CÓ TUONG TÁC PHẢI LO ÂU SỢ SỆT, BUỒN PHIỀN ..........."" THÌ PHẢI BỎ ĐI "" .
Vấn nạn thứ hai, TU là làm sao ?. trong khi tất cả các pháp được bàn, được rao giảng, được truyền thừa đều là hư dối, đều là không thể NHÁI LẠI, làm lại mà có thể đạt được kết quả giải thoát khổ.
Thế thì Tu, tu theo Đạo giải thoát rốt ráo đau khổ là phải làm sao ?. Đức Phật dạy chúng ta và có thể tin được là phải TIẾP CẬN trực tiếp vấn đề thì mới hiểu vấn đề. KIẾN DIỆN NHƯ LAI ( thì mới ) GIẢI THOÁT ( được ) THÀNH PHẬT ( thành người không khổ ) Quả thật là một lời dạy rõ ràng
-- nếu chúng ta không ngộ nhận " như lai " là tên riêng của một Vị Phật mà con người tôn xưng..
-- nếu chúng ta phân định rõ ràng từ ngữ Hán Việt - Như lai là như nó ĐẾN, như nó đang trình hiện trước mặt chúng ta....nó ĐANG LÀ NHƯ THẾ...nghĩa là chúng ta THẤY, BIẾT được NHƯ THỊ......( thị hiện )
Có lẽ thế, thì con người chúng ta KHÔNG CÒN SAI LẦM ( sai lầm theo quan điểm của Đạo Phật ).
Có lẽ thế, thì con người chúng ta mới có thể TUỲ DUYÊN mà vận dụng được PHÁP - cách - mà chúng ta ĐÃ ĐƯỢC dạy, được giảng bởi các Sư, Thầy và các Thiện tri thức, Bạn bè tốt cho THÍCH HỢP với mỗi " cái KHỔ " mà chúng ta đương đầu. Ví dụ thất tình vì người yêu bỏ đi......., mặc cảm nghèo đói......., con cái đối xử không tương hợp......nên khổ sở....v...v.... .
Trong đời sống ở thế gian này, thế gian mà chúng ta không thể nào biét " tại sao tôi có mặt ở đây ??"" "" sau khi tôi chết tôi đi về đâu ?" thì Bịnh là nói chung NHƯNG mỗi bịnh mỗi khác nhau. thì KHỔ là nói chung NHƯNG mỗi khổ mỗi khác nhau hoàn toàn thế thì các pháp đã học mà Đạo Phật gọi là Thiện xảo SẼ ĐƯỢC VẬN DỤNG GIẢI QUYẾT MỖI CÁI KHỔ dễ dàng.... NẾU TƯƠNG THÍCH chứ không thể một pháp có thể áp dụng chung cho mọi cái khổ mà còn có thể đúng được....
( còn tiếp phần 3 )..
.

VẤN ĐỀ 5 : TU THEO PHẬT GIÁO........TU TUỆ - CHƯA GIẢI THOÁT KHỔ



VẤN ĐỀ 5 : TU THEO PHẬT GIÁO........TU TUỆ - CHƯA GIẢI THOÁT KHỔ.....mà phải nhận biết KHỔ và giải thoát.
Nếu trên cơ sở hình tướng để lý thì hai cách tu trên - Tu GIỚI phải giữ Chánh ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh mệnh ( Bát chánh đạo ) và hành Ba La Mật Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục . Tu ĐỊNH thì phải Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định ( Bát chánh đạo ) và hành Ba La Mật Tinh tấn, Thiền định - nghĩa là chỉ ĐẠT ĐẾN MỘT TRẠNG THÁI của TÂM THỨC mang đến cho Thiền giả sự bình an, tỉnh lặng và thái độ hành xử hài hòa dung hợp với hiện tượng giới, với chúng sinh tùy thuận cơ duyên. Trạng thái sống ( thường họ vẫn còn sống ), phong cách sống của Thiền giả " thong dong, nhàn hạ " hay gọi phiêu hốt cũng được, bởi Họ không vướng mắc gì kể cả trong tư tưởng , Thiền giả có một đời sống bình an, tự tại; một cách " sung sướng " có khác hơn bình thường chúng ta quan niệm.
Hai giai đoạn tu này vẫn còn dựa vào sự hiểu biết quy ước của trí não nhưng đã là cơ sở cho hướng đi tới SỰ QUÁN THẤY BẢN THỂ ĐÍCH THỰC và THỰC THỂ CỦA THẾ GIỚI CHUNG QUANH, hướng tới CÁI THẤY, BIẾT không vướng mắc gì cả, cái thật, biết tối thượng của Đạo Phật nhờ tuệ giác, bởi nói đến Đạo Phật là nói đến giải thoát rốt ráo vướng mắc, không minh danh, định phẩm, định lượng nên sanh ra khổ đau.
Thế nên trong Phật giáo, với Đức Phật, Ngài đề cập đến TU TUỆ với Chánh Tư duy, Chánh kiến ( Bát chánh đạo ) và hành Ba La Mật là trí TUỆ.
Trong tập 1 của bộ Quảng Thích Bồ đề tâm luận (Bhavana- krama ) ở thế kỷ thứ VIII có đoạn như sau :
" Khi đã đưa tâm thức vào một đối tượng Thiền định, ta có thể khảo sát đối tượng ấy nhờ vào sự quán xét sâu xa. Và chính từ đó sẽ bùng lên sự hiểu biết trong sáng và hạt mầm của Vô minh " TỰ LOẠI BỎ ".
Sự hiểu biết trong sáng và quán thấy sau cùng này là trí TUỆ; trí TUỆ sẽ đưa đến Giác ngộ và giác ngộ đưa đến giải thoát khổ. Giai đoạn chính yếu, cốt lõi của ÝÊU CHỈ Đạo Phật và cũng là mục đích của Thái Tử Tất Đạt Đa. Thế nên Tu giới, Tu định DÙ NÓI THẾ NÀO ĐI NỮA THÌ CŨNG CHỈ mới là bước chuẩn bị cho tâm thức đạt đến sự hiểu biết siêu nhiên, giải thoát viên mãn KHỔ.
Bởi thế, cho dù nói là TU TUỆ là trên lý thuyết để thấy, biết tiến trình tu tập chứ kỳ thật ba giai đoạn tu đó luôn luôn GẮN BÓ VỚI NHAU Từ hiểu biết quy ước đi đến hiểu biết vượt lên trên những tạo dựng nhị nguyên của tri thức; từ vô minh đến cái biết " biệt tích " vô minh, nghĩa là TUỆ hiện hữu và lúc đó - lúc đó mới có " cảm nhận và nắm bắt " SỰ THỰC gọi là TUYỆT ĐỐI tức thực thể của mọi hiện tượng Vô thường, Vô ngã, Tánh không - giác ngộ
Hai phương pháp - hai pháp Tu giới và Tu định - ( tạm dùng từ TIỆM TU hay TỊNH ĐỘ ) được đề cao trong Tiểu thừa và Đại thừa có lẽ các Vị Tiền nhân nghĩ đến con người sơ cơ thiểu trì nên cần chuẩn bị những bước căn bản, nghe cũng là hợp tình nhưng đó không phải là rốt ráo tinh thần giải thoát của Phật giáo do cả hai pháp ấy " dừng lại ở ngưỡng cửa " của giác ngộ toàn triệt.
Nhưng nếu người tu Phật cứ vào TU TUỆ - ( tạm dùng ĐỐN NGỘ, Thiền đốn ngộ ) Vipassanã là một phương pháp tu là một sai lầm KHÔNG BAO GIỜ CÓ TỊNH mà KHÔNG ĐỊNH hay THIỀN hoặc ngược lại KHÔNG BAO GIỜ CÓ ĐỊNH mà KHÔNG BẮT ĐẦU BẰNG TỊNH , " trực giác " vô bản chất của sự, vật đưa đến sự giải thoát hoàn toàn, đến sự thực chứng Chân lý tối hậu, Niết bàn, như " MỘT HOÁT NHIÊN ĐẠI NGỘ " nghe thì cũng hợp lý nhưng đó là CHUYỆN KHÔNG THỂ.... bởi phương pháp này căn cứ trên sự chú ý ( sati ), sáng suốt, thận trọng, quan sát ( anupassanà ) để thu tâm nghĩa là trở lại cần có hai phương pháp trước - Tu giới và Tu định, để phát sanh ra tỉnh tâm..., quán xét trong tỉnh tâm do sự sáng suốt không còn vướng mắc - TUỆ.
Như thế trên đường giải thoát rốt ráo khổ đau nếu chúng ta quá cố chấp vào pháp thì không thể đi đến đâu - Tịnh mà không Thiền thì như người không đầu; Thiền không Tịnh thì như người không chân. TÙY, tùy duyên. Tuy nhiên không ít ngộ nhận ....!! Những Tu nhân chưa rốt ráo - Người có duyên " khởi bước đầu BẰNG TỊNH " thì chê THIỀN như ngông cuồng yếm thế, người có duyên " khởi bước đầu BẰNG THIỀN " thì ghèm xiểm TỊNH như ù lì, con vẹt.......
Đức Phật KHÔNG BAN CHO CHÚNG SANH bất cứ thứ gì có sẵn, như NHỮNG THANG THUỐC có sẳn mà THỰC TẾ người Phật tử hay Tăng tu xuất gia TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT chính chúng ta phải tìm lấy sự giải thoát của TỪNG CAI KHỔ mà chúng ta đối đầu ngay trong từng khoảnh khắc của cuộc đời còn sống trong bể ta ba này - từng thứ bịnh cho chúng ta mắc phải, từng KIẾP CỦA SỰ, VIỆC mà chúng ta có tương quan liên hệ.....
Có thể có người dạy rằng " không cần phân tích, tìm hiểu về PHÁP - không ôm pháp "" cứ tu thông TUỆ đi thì pháp hiện hữu - điều này ĐÚNG là ĐÚNG với những Vị " ĐÃ NGỘ " rồi chứ không phải với người " ngồi nhìn vách núi "muôn năm, ngàn thu...thì vách núi vẫn là vách núi !!..
Có thể có người dạy rằng " không uốn nắn làm sao ngay, không tích tụ làm sao có,.....có nhiều công hạnh, có nhiều phước báu.- điều này cũng ĐÚNG với các Sư Thầy nghĩ và cho rằng đệ tử mình sơ cơ, thiểu trí,....NHƯNG rồi Họ cũng không để Đệ tử mình mãi SỜ ĐUÔI VOI, sờ tai voi.....mãi mãi.....cũng chỉ là đuôi voi, tai voi....
Chúng ta chỉ " phân tích " để nhận thức về pháp chứ không phải là Tu Phật. Tu Phật là phải SÁNG SUỐT, TỈNH TRÍ" phải bước đi trên chính con đường của mình " với chính hành trang của mình như người đi dây thăng bằng. Điều mà chúng ta có thể biến thành hành trang giống như kiến thức mà người đi dây thăng bằng học ở trường Nghệ thuật xiếc, là tu giới - hoàn thiện Tu giới đưa đến lòng TỪ; Tu Định - hoàn thiện Tu định đưa đến sự sáng suốt cho tâm thức; Tu Tuệ - hoàn thiện Tu Tuệ đưa đến sự hiểu biết siêu nhiên ( chỉ khác sự hiểu biết thông thường mà thôi ) đưa đến Giải thoát. trên NHƯNG trên dây..., trên đường đi, trên đường tu tập không ai có thể cả quyết rằng " tôi chỉ TU PHÁP NÀY MÀ THÔI " bởi đó giống như con người chỉ ÔM CHỈ MỘT THANG được cho là THẦN DƯỢC suốt cuộc đời mình ...thế nên ...thế nên.....Họ chết sớm vì các bịnh khác.
Vậy tiền trình tu tập của một Phật tử tại gia hay Tăng tu xuất gia không thể nói chỉ giữ GIỚI mà không có ĐỊNH - thiên hay ngược lại tu thiền mà không giữ giới NHƯNG CẢ HAI đều CHƯA ĐƯA ĐẾN GIẢI THOÁT TOÀN TRIỆT chỉ là BƯỚC CHUẨN BỊ BAN ĐẦU.....khi TUỆ GIÁC BỀN VỮNG...Hành giả sang giai đoạn giải thoát viên mãn, tuy rằng trong " cận " viên mãn có thể Họ đã có phong thái Đạo cốt thong dong, phiêu hốt đáng kính, và cả thần thông ( những thứ mà người bình thường không làm được ) đa phần Họ LUI VÀO TỈNH LẶNG...việc đã làm Họ đã làm xong.... tiếp cận với Họ thật là " MỘT KỲ DUYÊN " tuy nhiên ĐÂY CŨNG CHÍNH LÀ ĐIỂM " ĐÁNG LƯU TÂM " vì không ít Vị " đã vì sự nể trọng, đã vì " điều mình có được mà người bình thường không có được mà " hãnh diện, cao ngạo.....DỪNG LẠI Ở ĐÂY....".thụ hưởng " biết hay không biết, để rồi một ngày sẽ xa rời đời sống Phạm hạnh, trở lại cuộc sống ban đầu dưới một hình thức khác của phàm phu..!!
Như đã thưa với các Bạn, các Vị Thiện tri thức...tôi chỉ trình bày những gì tôi NGHĨ SUY nhất định có thể có, Bạn " đồng cảm " cũng có thể có những Vị nhận ra điều mình KHÔNG ĐỒNG CẢM, không vừa ý.....thì việc trình bày cũng không ảnh hưởng gì đến lòng quyết tâm tu tập của Quí Vị.........mà còn khơi dậy lòng TỪ mở rộng ban cho những lời khuyên....Tôi thành thật đa tạ như " cái gỏ đầu của Sư phụ tôi " ban cho chiêm nghiệm lại chính mình....

Lỗi Lầm Sư Trưởng Tăng – Tục

Lỗi Lầm Sư Trưởng Tăng – Tục
Đa số người học Phật ngày nay đều có chung một tâm lý kính tin đến thuần phục Tam Bảo. Kính tin Tam Bảo là điều tốt, song kính tin đến mức thái quá thì vấn đề đã sa vào một ngã rẽ lệch lạc, mê mờ.
Tăng Bảo là một con người có đủ đầy thất tình, lục dục. Tăng Bảo là một con người nên đương nhiên vẫn có thể mắc phải những sai lầm, thậm chí là những sai lầm nghiêm trọng nhất. Tăng Bảo chung cùng cũng chỉ là một người đang học Phật chứ không là Giác Giả nên lẽ đương nhiên là sẽ có những hiểu biết Phật học lầm lẫn.
Dù rằng Tăng Bảo là người có nhiều hơn cơ hội tham cứu kinh điển đạo Phật nhưng điều đó không có nghĩa là Tăng Bảo nhất định phải hiểu đúng, hiểu đủ về chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền. Thế nên người sáng mắt đã bày phương tiện cảnh tỉnh hậu nhân rằng “Y Kinh Diễn Nghĩa Tam Thế Phật Oan, Ly Kinh Nhất Tự Tức Đồng Ma Thuyết”. Và tương tợ để phá lỗi Chấp Pháp thường gặp ở người học Phật, Giác Giả đã bi mẫn dạy rằng “49 năm Như Lai Không Nói Một Lời Nào”.
Giới luật mà giới Tăng Bảo thọ trì giúp hoàn thiện nhân cách, đức độ, đạo hạnh chứ không đồng nghĩa với sự khai thông tuệ giác ở người học Phật xuất gia.
Ngày nay, vì quá kính trọng Tam Bảo nên người học Phật cơ hồ như dua vạy, đồng lõa với những lỗi lầm mà các sư thầy phạm phải, điều đó khiến cho đạo Phật thêm phần suy vi, hỗn mang.
Người học Phật mà không có chính kiến minh định chánh pháp thì khó mong thành tựu phước huệ viên mãn, việc giải thoát cho tự thân vì thế bị nghẽn lối, khó thoát nạn khổ Tam Đồ.
Vài mươi năm gần đây, trong giới Tăng Bảo nổi lên vị sư thầy Thích Thông Lạc dựng lại chiêu bài Không Có Linh Hồn cùng với việc gieo vào lòng những tín đồ Phật tử theo tông phong của Tu Viện Chơn Như một sự cực đoan, bảo thủ, cứng nhắc.
Sư thầy Thông Lạc lại cho rằng pháp tu do ông khởi xướng mới là pháp tu nguyên thủy của đạo Phật. Nhìn sâu vào hiện tượng Thích Thông Lạc ta sẽ thấy bóng dáng của người từng là sư phụ của thầy Thông Lạc, sư ông Thích Thanh Từ.
Tại sao tôi nói nhìn vào hiện tượng Thích Thông Lạc ta sẽ thấy bóng dáng của sư ông Thích Thanh Từ?
Bởi lẽ việc lập ra dòng tu Phật học mới ở sư Thông Lạc được dựa trên nền tảng khai tông, lập giáo của sư ông Thích Thanh Từ khi sư ông dựng lên Thiền Phái Trúc Lâm.
Việc sư Thông Lạc thoát ly dòng Thiền Trúc Lâm lập nên dòng Thiền Nguyên Thủy mang thương hiệu Thích Thông Lạc chỉ là việc chia Tông, rẽ Giáo thường thấy ở các hệ thống tôn giáo xưa nay. Và điều đó chỉ dựa trên nền tảng Bản Ngã Vi Định chứ không thể chạm đến sự tinh túy của câu Thiên Thượng, Thiên Hạ Duy Ngã Độc Tôn do Giác Giả từng nói.
Hiển nhiên là hệ phái Phật học Nam Tông cũng như những hệ phái Theravada sẽ không thừa nhận pháp tu của Tu Viện Chơn Như là dòng tu Phật học nguyên thủy chính thống.
Chính do sự cực đoan, bảo thủ, cứng nhắc của sư Thông Lạc cùng các tín đồ Phật tử Tu Viện Chơn Như đã góp phần khuấy động lại sự xung đột giữa hai hệ phái Phật học Nam Tông và Bắc Tông.
Tư tưởng biên kiến thiển cận Không Có Linh Hồn do sư ông Thông Lạc xưng tán thông qua cuộc xung đột tư tưởng Phật học Nam - Bắc Tông mà len lõi vào tri kiến Phật học ở những người học Phật đang rối bời giữa đời và đạo trở thành Sở Tri Chướng ngăn người học Phật đến với sự sáng rõ, viên dung của chánh pháp Như Lai Tạng.
Truy tung nguồn gốc Chấp Thủ - Không Có Linh Hồn ở sư Thông Lạc tôi được biết hóa ra sư Thông Lạc không do được tham khảo bản gốc kinh Nykaya từ ngôn ngữ Pali mà vọng chấp – Không Có Linh Hồn.
Sư Thông Lạc chỉ tiếp cận được những bản dịch kinh Nykaya do sư ông Thích Minh Châu biên dịch cùng với những buổi hành thiền - Hữu Tâm, Hữu Cầu mà rơi vào Chấp thủ - Không Có Linh Hồn.
Chính do cả tin Không Có Linh Hồn là cứu cánh của đạo Phật cùng với việc chịu sự ảnh hưởng tư tưởng ngỡ là Bài Tàu đang chi phối sâu sắc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ở sư Thích Minh Châu – sư Thông Lạc đã trở nên bảo thủ, cực đoan và cả quá khích trong việc hộ trì chánh pháp hay đó chỉ là việc bộc lộ bản ngã khi cả nghĩ mình đã chứng ngộ ở người học Phật chưa ngộ pháp vô sanh?
Ngạo Thuyết được biết trong các bản dịch kinh Nykaya của sư Thích Minh Châu ngoài việc dịch theo lối y kinh – Không Có Linh Hồn, sư ông Thích Minh Châu đã dùng những từ khác để thay vào những chỗ có cụm từ Linh Hồn để tránh việc những bản dịch giải trở nên tối nghĩa, điều này cho thấy sư ông Thích Minh Châu chỉ thay từ linh hồn mà ngoại đạo thường dùng bằng một từ gần gũi với người học Phật hơn, đó là từ Thức hoặc Thần Thức. Điều này có không, đúng sai thế nào chỉ cần người học Phật tham cứu 5 bộ kinh Nykaya do sư ông Thích Minh Châu dịch giải sẽ rõ.
...
Điều đáng tiếc là khi tham cứu bản dịch của sư ông Thích Minh Châu, sư thầy Thông Lạc đã quá vội vàng nên nỗi vừa sờ trúng đuôi voi đã ngỡ rằng ôm trọn cả con voi. Do nắm bắt sai ý diễn giải của sư ông Thích Minh Châu mà thầy Thông Lạc đã xưng tán việc Không Có Linh Hồn trên không phù hợp ý Phật, dưới chẳng khế hợp đương cơ từ đó tạo ra muôn sự lỗi lầm.
Và không chỉ có mỗi sư Thông Lạc ngộ nhận khi tham cứu những bản dịch kinh Nykaya của sư ông Thích Minh Châu về sự Không Có Linh Hồn, có khá nhiều vị Tăng xuất gia lẫn tục gia Phật tử ngộ nhận về điều này. Đây là những người học Phật tạm gọi là xem kinh nhưng bất liễu nghĩa, lẽ ra người học Phật xem kinh phải chuyển được kinh, đằng này đã không chuyển được kinh lại bị kinh chuyển đến mê mờ thêm dày nỗi vô minh.
Giáo lý Phật Thích Ca tuyên thuyết bày ra con đường trung đạo, lý trung đạo. Do đó, người học Phật đúng mực phải sáng tỏ rằng không có việc gì tuyệt đối có hay tuyệt đối không. Nếu cho rằng có việc tuyệt đối có hoặc tuyệt đối không là rơi vào biên kiến nhị nguyên, tức đã đánh mất trung đạo.
Người học Phật cho dù có định lực, phước lực, huệ lực được sự an tịnh nhất thời nhưng nếu tri kiến, chánh kiến bị kẹt nơi biên kiến thì khó mong được sự Thường An Lạc Tịnh viên mãn, lưới luân hồi khó thoát.
...
Nghiệp lực như là sợi dây trói, nghiệp lực chỉ là khách thể; Linh hồn hay một giả danh khác như Thức, Thần Thức, Vong,... mới thật là chủ thể. Nếu vọng chấp Linh Hồn Không Có tức Không Có Chủ Thể thì sợi dây trói nghiệp lực biết trói cái gì mà khiến chúng sinh trôi lăn nơi lục đạo luân hồi. Nói Không Có Linh Hồn, Chấp Không Có Linh Hồn là vọng, là hoang đường.
Khi truy tung nguồn gốc vọng chấp Không Có Linh Hồn ở sư Thông Lạc, Ngạo Thuyết biết đến Lời Giới Thiệu Kinh Trung Bộ tương truyền do sư ông Thích Minh Châu thủ bút, trong lời giới thiệu kinh Trung Bộ có đoạn:
“Càng dịch, chúng tôi càng thấy rõ ác ý của các nhà Bà La Môn đã dùng danh từ Tiểu Thừa để gán vào những lời dạy thực sự nguyên thủy của đức Phật và khiến cho các Phật tử không dám đọc, không dám học, không dám tu những pháp môn ấy. Càng dịch, càng thấy rõ dụng tâm hiểm độc của các vị Bà La Môn, đã khôn khéo xuyên tạc đạo Phật, khiến cho những giáo lý căn bản, những tinh hoa cao đẹp nhất của tư tưởng nhân loại, đã bị những tư tưởng tà giáo xen lẫn, bị ruồng bỏ, bị che dấu, không được biết đến, không được học hỏi tu hành. Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý, mặt trời bao giờ cũng là mặt trời. Những lời ba hoa của Ma Vương, các cuộc đo tài của những ngọn đèn lẻ tẻ mù mờ, lời lẽ bập bẹ của những kẻ mới tập tểnh đi vào con đường Triết lý, tất cả cũng chỉ là cuồng vọng đen tối, được ánh sáng rực rỡ của chân lý quét sạch”.
...
Đây chính là luồng tư tưởng chi phối rất nhiều sư Thích Thông Lạc trong quá trình giảng truyền đạo pháp. Sư Thông Lạc đã quá cực đoan, cố chấp khi dùng lối quy chụp để kết tội Phật giáo Trung Quốc, thầy Thông Lạc đã đánh đồng Đạo Bà La Môn với Phật Giáo Bắc Tông Kiểu Mẫu Trung Hoa. Lối quy nạp này không đúng với cách hành xử của một người học Phật đúng mực. Đạo Bà La Môn Là Đạo Bà La Môn, Không Thể Gượng Ép Nói Phật Giáo Trung Hoa Là Đạo Bà La Môn Chỉ Vì Ghét Hàng Tàu Hay Vì Mục Đích Cá Nhân.
Và càng không thể vì sự thể hiện pháp tu mình đang hành trì là pháp chính thống đạo Phật hoặc việc muốn bài xích, thải trừ tư tưởng Thiền Tông Trúc Lâm có ở những người Phật tử kính tin mình mà thầy Thông Lạc cho rằng hệ phái Thiền Trúc Lâm chịu ảnh hưởng của Thiền Đông Độ tức là hàng Tàu nên không thuộc về đạo Phật.
...
Lời lẽ của sư ông Thích Minh Châu khi khởi ý dịch những bộ kinh Nykaya thể hiện việc minh định lại kinh sách Phật học ở chiều sâu, chỉ ra sự xen tạp tư tưởng Bà La Môn gốc vào đạo Phật chứ không chỉ hẹp kém ở tư tưởng bài Tàu.
Hẳn là do thấy giáo hội Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng quá nhiều từ tư tưởng Thần quyền của Phật giáo Trung Quốc và sự chi phối của Đạo Mẫu - đạo Ông Bà len lõi trong giáo trình cũng như thời khóa công phu của Tăng nhân và người học Phật miền bắc cùng với xu hướng sẽ lan rộng xuống miền nam như bệnh dịch, đây là một vấn nạn của đạo Phật - những tư tưởng Phật học lệch lạc; Sư ông Thích Minh Châu đã quyết ý dịch giải những bản kinh gốc Nykaya để giúp người học Phật Việt Nam đến gần hơn với giáo lý Phật nguyên thủy.
Và trong quá trình dịch giải, dù rằng với tầm nhìn của một người chưa chứng ngộ pháp Phật nhưng sư ông Thích Minh Châu vẫn nhận ra những tư tưởng dị giáo xen lẫn trong giáo lý đạo Phật nên đã mở lời cảnh tỉnh người học Phật khá nên suy xét thận trọng khi tham cứu kinh sách để tường tận chân ngụy, thật giả... Sư ông Thích Minh Châu có niềm tin rằng khi mặt trời lên thì muôn chỗ tối tăm đều sẽ được soi sáng.
...
Song những bản dịch của sư ông Thích Minh Châu qua lăng kính của sư Thông Lạc lại trở nên hẹp hòi, nhỏ nhen. Hẳn do nặng mang tư tưởng bài Tàu để khẳng định mình sư Thông Lạc đã vung tay quá trán tạo nên làn sóng tẩy trừ Phật giáo Trung Quốc ở những tín đồ Phật tử cực đoan, quá khích. Đánh mất lý trung đạo, đây là lỗi lầm không đáng có ở những Tăng Bảo mang trên mình lý tưởng truyền trao chánh pháp Phật môn. Lỗi lầm này không chỉ trói chân Tông chủ nơi lục đạo mà còn khiến những tín đồ cả tin thêm lắm nỗi vô minh.
Ôm tư tưởng bài Tàu khi tham cứu kinh điển đạo Phật là điều không thể, không đúng mực và hỗn độn. Rất nhiều ngôn từ Phật học cơ bản khi chuyển ngữ từ tiếng Pali, tiếng Sanskirt,... sang ngôn ngữ tiếng Việt sẽ ra sao nếu không vay mượn những ngôn từ Thân, Thọ, Tâm, Pháp, Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế,... Vậy nên vọng chấp hàng Tàu chỉ là chỗ hẹp kém của người học Phật nửa vời.
Với một điều đúng thì dù diễn giải bằng ngôn từ nào đi chăng nữa thì diễn giải đúng vẫn sẽ đúng. Ngược lại nếu việc diễn giải sai thì dù cho dùng ngôn ngữ nào đi chăng nữa kể cả việc dùng ngôn ngữ gốc sai vẫn sẽ là sai. Thế nên vấn đề học Phật là ở sự hiểu biết chứ không ở ngôn ngữ trình bày.
...
Tăng Bảo, nhất là những vị Tăng Bảo danh tiếng, thân là giáo thọ cho muôn người học Phật khá nên cẩn trọng trong từng lời nói, bởi lẽ một lời nói ra ảnh hưởng đến muôn người. Tăng Bảo nên chăng việc gì biết rõ thì nói, không biết rõ thì việc thuyết giảng nên tựa nơi y kinh, tránh việc diễn giải cảm tính cá nhân mà gây ra sự ngộ nhận tri kiến Phật học nơi người học Phật.
Với những Tăng Bảo trẻ tuổi càng nên học hạnh nhẫn nhục, lắng nghe bởi lẽ tương lai Phật pháp có mang lại hạnh phúc cho nhân loại hay không là ở thế hệ Tăng sinh trẻ.
Giới Tăng Bảo phải hành hạnh của đất để khiêm cung, để biết yêu thương tất cả muôn loài.
Người học Phật xuất gia phải sáng tỏ rằng Thầy Của 3 Đời Chư Phật Chính Là Ngoại Đạo. Thế nên giới Tăng Bảo và người học Phật chớ cạn nghĩ rằng Giáo Lý Phật Thích Ca Trao Truyền Là Số Một, Là Vượt Lên Tất Cả Tri Kiến Nhân Gian mà đọa lạc vào vô minh mê lầm.
Trân trọng!

VẤN ĐỀ :SANH TỬ ĐẠI SỰ ??. hay THOÁT VÒNG SANH TỬ ?.

VẤN ĐỀ :SANH TỬ ĐẠI SỰ ??. hay THOÁT VÒNG SANH TỬ ?.
Rất nhiều Kinh sách, rát nhiều người thuyết giảng về THOÁT VÒNG SANH TỬ. Liệu chúng ta có ngộ nhận cụm từ " thoát vóng sanh tử " chăng ??.
'' Thoát vòng sanh tử '' trong Phật giáó có phải là con người Không còn CHẾT nữa hay không ??.?. Trường sanh bất tử chăng ??.hay là con người sẽ đi vào " một dạng sông nào đó nhưng cũng chính mình "" ?
Điều này không riêng gì các Sư Thầy, mà nhiều nhất ở các người Phật tử chúng ta nghĩ và tin, sau khi Thái Tử Tất Đạt Đa viên tịch thì giảng quá mập mờ.....LÀ SỐNG MÃI hay CÓ MỘT CÁI GÌ ĐÓ THUỘC VỀ TA SỐNG MÃI MÃI...KHÔNG HOẠI DIỆT VỚI THỜI GIAN .......thật khổ, thật nghiệt ngả cho chúng sanh...có lúc cũng muốn mình theo pháp của Thầy này...Ông nọ để vượt qua Tần Thuỷ Hoàng sống mãi KHÔNG CHẾT.....hoặc như THẦY PHÁP....tịnh không nào đó sẽ đến Tây phương cực lạc " sướng ơi là sướng......ăn không cần lo mà vẫn có còn nhiều hơn Vua Chúa ở trần gian, mặc không cần nghĩ mà vẫn đầy đủ...v...v..... .và.........v. ......v......."" còn cuộc đời này là một sự vay trả..., là nghiệp báu của kiếp TRƯỚC nào đó mà con người được hay bị phải thọ lãnh chỉ còn thực hiện ....đồng thời phải hành thiện, tích cóp nhiều phước báu để thụ hưởng SAU này....
Minh họa cho điều này, người ta xét vài trường hợp '' người chết trở về kể lại chuyện LÀNH sung sướng ở một nơi nào đó.........hay chuyện DỬ ghê rợn ...cũng ở một nơi nào đó.....mà cả hai nơi không ai biết.., ngoại trừ CHỈ NGHE KỂ ? và " sanh ra với hai bàn tay trắng, chết đi cũng lại trắng tay mà CHỈ CÓ...... NGHIỆP MANG THEO ".
Thế thì....nếu như các Vị nghĩ TẠI SAO TÔI KHÔNG SỐNG TỐT TRONG KIẾP CON NGƯỜI này mà phải chỉ lo về sau ?.
Thế thì....nếu các Vị nghĩ TẠO SAO TÔI LẠI KHÔNG BIẾT TÔI LÀ NGƯỜI NÀO ở kiếp trước ?. và TÔI VÃN LÀ TÔI ở kiếp SAU thì lý VÔ THƯỜNG của Đức Phật tuyên bố có còn đúng không ?. Luật biến chuyển dịch đổi liên tục của Khoa học ở trong trường hợp này có còn đúng không, để tôi vẫn là tôi mãi mãi ?.
Đó là vấn đề của chúng ta. Chúng ta là một sinh vật cao cấp có trí khôn, có sự suy nghĩ hơn các sinh vật khác ...
Đó là vấn đề của chúng ta. Chúng ta là Phật tử mà Dạo Phật là Đạo trí tuệ - Đạo không cho phép chúng ta u mê, mờ mịch TIN ở người khác..., ở truyền thống.., ở các Vị dù Người ấy là chính Đức Phật mà chúng ta kính trọng, tôn sùng.....
Đó là vấn đề của chúng ta. Chúng ta phải suy nghĩ cùng cạn ngay trong KIẾP LÀM CON NGƯỜI này, để biết rằng Đức Phật dạy : " Niết bàn tại thế " là đúng cho dù Ngài cũng bảo " Đời con người khổ " và đã từ bỏ ngai vàng, uy quyền, vợ đẹp, con ngoan để đi tìm .....
" Tại sao con người khổ ? " và khổ là cái gì ghê gớm vậy mà trước khi Ngài đảng sinh mọi người đều nói là do Thánh thần thưởng phạt nghiem minh?.
Không phải CHỜ....không phải trường sinh bất tử - " thoát vòng sinh tử '' là không CHẾT, điều mà Thái Tử Tất Đạt Đa cũng không tránh khỏi Sanh, Tử, Hoại, Diệt và không phải LO SỢ cho kiếp sau nào đó.... ..vì Ngài nói : NIẾT BÀN TẠI THẾ.
Đây là vấn đề của chúng ta.( tiếp )kh

Ô, sao lạ thế thì Ông có thể cho những Pháp Phật ghi lại cho hậu thế cũng mầu xám ư ?. Bao nhiêu công đức của các bậc đi trước phổ biến cho con người tu tập vô ích à ?. Tôi đang nghĩ thế.
-- Này thằng bé, con không nghe Đức Phật dạy à : " Mọi thế pháp đều hư dối " sao ?. Con không thể " nhân danh " lý do này, lý do kia " để cho rằng pháp này hay, pháp này hiệu quả nhất, tuyệt vời nhất...v..v mà tất cả những hệ thống đó bây giờ chỉ còn là lý thuyết thôi và nó chỉ cho con KIẾN THỨC về phật học. Đức Phật dạy :' Hãy chính mình là Ốc Đảo của mình " có nghĩa là con tự mình đốt đuốc mà đi - con tự đi thì mới đến chứ không phải con " đánh bóng đá mà thành gương soi " hay con " tụng " tên của Vị thuốc mà con hết bịnh. Đồng thời đừng tin có " Ai đó " rảnh hơi hay có quyền " đi chấm công " cho con mà thưởng phạt con hay con tung xưng Vị Thần Thánh nào đó mà Họ có quyền giúp con.
Chỉ cây đời, chỉ ở đây bây giờ, chỉ thực tại hiện tiền.
Con vừa nói dối Bạn dù có thể Bạn không biết nhưng CON BIẾT và con sẽ bận tâm " SỢ BẠN BIẾT, SỢ BẠN SẼ BIẾT " thế là con lọt ngay vào hỏa ngục rồi....Hỏa ngục có nhiều hình cụ lắm.....nơi đó sẽ làm con mất ăn, mất ngủ, mất bình tỉnh, bực dọc ..........và....và hằng trăm hằng nghìn hệ lụy tiếp theo sau làm con KHỔ.
Chỉ cây đời, chỉ ở đây bây giờ, thực tại hiện tiền.
Con vừa gập một người tàn tật, già đi bán vé số mà trong túi chỉ có năm mươi ngàn trong cái đời sống hiện tại, nhưng con " xót xa " bởi hoàn cảnh con mua một tờ, rồi ra đi....mua không phải hy vọng trúng số, mua không phải thể hiện lòng từ hay mua để hãnh diện với người chung quanh hay ngay cả với người bán vé số mà mua vì xót xa hoàn cảnh thì con không lọt vào hỏa ngục. Con sẽ " bình thản " tiếp bước của con - có thể con đang bước trong sự thiếu hụt, có thể con đang bước trong lo âu về vấn đề nào đó của con, của vợ, con của con, của công việc làm ăn, kinh doanh của con nhưng những thứ đó sẽ nhẹ đi chút ít, con có thể sáng suốt hơn một chút nhờ và sự BÌNH THẢN, NHẸ NHÀNG của tâm hồn vừa qua.
Ai ?. Ai đó lắm lới ?. Tôi tự hỏi và à...à ....tôi mỉm cười...... mình HOANG TƯỞNG. ....., hoang tưởng à.....? À ..hoang tưởng.
.
.