Thứ Hai, 1 tháng 2, 2021

Sự Thật Về Đạo Phật (P. 3)

 


Sự Thật Về Đạo Phật (P. 3)
Hôm nay, Ngạo Thuyết sẽ chứng thực cho mọi người thấy rằng sa môn Cù Đàm không hề lập ra đạo Phật.
Ngạo Thuyết tin rằng nội dung bài viết này hứa hẹn sẽ đem đến cho các bạn những điều hay bất ngờ và cả sự vỡ mộng đối với rất nhiều người.
Lẽ nào người học Phật sẽ rất thất vọng và hụt hẫng khi nhận diện được rằng Phật Thích Ca không có chút quyền phép thần kỳ nào cả.
Từ rất lâu xa người học Phật xưa nay đã bị nhồi sọ rằng Phật Thích Ca chứng đạo, đắc Tam Minh, Lục Thông nên thần thông rất kỳ ảo, vô đối.
Thông qua kinh Phật, truyện cổ Phật giáo và cả những bộ phim về cuộc đời Phật Thích Ca, phim Tây Du Ký,... rất nhiều học Phật đã cả tin về quyền phép bất khả tư nghì. Khi ngoại đạo hóa hiện những ngọn núi chực chờ đè chết Phật cùng Tăng đoàn, Phật Thích Ca chỉ tay một cái những ngọn núi lập tức bật lại lơ lửng trên đỉnh đầu ngoại đạo; Khi Thiên Ma đến gây não hại Phật, Phật liền hóa hiện một tràng hoa tuyệt đẹp tặng cho Thiên Ma, Thiên Ma đeo vào cổ tràng hoa liền biến thành sâu chuỗi đầu lâu tanh tưởi, gớm ghiếc và dù dùng tất cả mọi Thần lực để thoát ra nhưng Thiên Ma vẫn không thể tháo gỡ sâu chuỗi đầu lâu ra khỏi cổ; Hoặc khi ngài Xá Lợi Phất khởi tâm suy lường phải chăng Phật Thích Ca khi tu hành tâm không thanh tịnh giải thoát nên cõi Ta Bà, nơi Phật Thích Ca hạ sinh chỉ toàn là gò nỗng, hầm hố với đầy những bẩn dơ thì Phật đã dùng ngón chân điểm xuống mặt đất liền biến cả cõi Ta Bà thành vàng ròng,...
Và những điều này đã mê hoặc rất nhiều người học Phật xưa nay. Thêm vào đó, những kẻ học Phật còn trong lưới vô minh đã phao ra tin đồn rằng người học Phật chứng ngộ sẽ có Thần thông, đây là phần lại quả kèm theo khi người học Phật tu chứng.
Chính những tri kiến vô minh này đã ngăn trở sự thấy biết chánh pháp chân thật mà Phật Thích Ca đã bi mẫn trao truyền.
Do bị mê hoặc ở quyền phép của việc chứng đạo mà người học Phật không nhận ra mục đích cốt lõi của lời Phật Thích Ca thuyết chính là sự thoát khổ và giải thoát hoàn toàn.
Do bị mê hoặc ở sự thần biến mà người học Phật không thể chạm đến sự thật rằng Phật Thích Ca là một con người bình thường như biết bao con người bình thường khác, cũng đói no, ấm lạnh, cũng sinh già bệnh chết. Phật Thích Ca cũng chịu sự tác động, chi phối của vô thường.
Điều khác biệt duy nhất, có giá trị nhất ở Phật Thích Ca chính là sau khi trải qua quá trình học đạo, tìm đạo, hành đạo tin cần mà vẫn mờ mịt lối đi, Phật đã bừng tỉnh và tự mình tìm ra con đường giác ngộ giải thoát; Việc tự thực chứng đó đã mang lại cho Phật một trí tuệ sáng suốt, tròn đầy.
Từ sự sáng suốt của tuệ tri Phật nhận diện rõ được quy luật sinh tử, nhân quả luân hồi và cả cách thức vượt thoát luân hồi chạm đến sự giải thoát hoàn toàn.
Sau khi suy xét, kiểm chứng hẳn hoi Phật Thích Ca đã chia sẻ sự hiểu biết đó cho những người bạn đồng tu - Năm anh em Kiều Trần Như và những người học đạo - cầu đạo chân chính như ba anh em nhà Ca Diếp, ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, vị Trưởng giả Cấp Cô Độc, kẻ giết người khét tiếng Ương Quật Ma,...
Nếu chúng ta tham cứu kinh Phật ở tầm tổng thể, toàn diện thì chúng ta sẽ nhận ra rằng những thần thông, quyền phép của Phật chỉ là hoa lá cành nhằm diễn nói trí tuệ viên dung, vô ngại của Phật Thích Ca; Những câu truyện tiền kiếp của Phật và môn đệ cũng chỉ là những câu truyện ngụ ngôn nhằm hướng con người đến việc làm lành, lánh dữ để phần nào tránh được những khốn cùng do nhân vay, quả trả.
Và sau tất cả chúng ta sẽ nhận ra được rằng những kinh sách tán thán thần thông, quyền phép của Phật phần nhiều là sản phẩm của người đời sau; Sau khi Phật Thích Ca nhập diệt lâu xa thì kinh sách Phật học diễn nói về thần thông, quyền phép của Phật ngày càng nhiều và điều này đã khiến rất nhiều người học Phật bị mê hoặc; Từ đó người học Phật do không nắm bắt được ý kinh, lấy ngụy làm chân đã dẫn đến lệch lạc sự nghiệp học Phật.
Chỉ khi nào người học Phật rũ bỏ được những thứ đầu thừa, đuôi thẹo - Thần thông, bùa chú, quyền phép thì may ra người học Phật mới chạm đến được chánh pháp giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Lúc bấy giờ, người học Phật sẽ trực nhận được rằng cốt lõi của đạo Phật nguyên sơ chính là diễn nói sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn. Và Phật Thích Ca đến với loài người bằng sự hiểu biết, bằng trí tuệ viên dung chứ không phải bằng vào những thứ thần biến ma mị, hoang đường.
...
Và Phật Thích Ca không hề có ý định lập ra đạo Phật.
Khi chứng nghiệm sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn Phật Thích Ca đã không vội vã hoằng truyền lý thuyết về con đường giác ngộ giải thoát. Phật Thích Ca cần thêm nhiều thời gian để suy xét lại mọi điều, cân phân lại sự nặng nhẹ của việc nên chăng phổ truyền giáo lý chánh pháp.
Và rồi Phật nhớ nghĩ đến sự khát khao hợp thể Đấng quyền năng của những vị thầy đáng kính mà Phật đã từng đến cầu đạo, nhớ đến năm anh em Kiều Trần Như, những người đã tín nhiệm mình về việc chứng nghiệm đạo quả,...
Thương tưởng hà sa chúng sinh học đạo mê lầm trôi lăn nơi 3 cõi, 6 đường nên sau cùng Phật hạ quyết tâm sẽ dấn thân hoằng pháp gieo duyên.
Tương truyền khi tìm đến hai vị thầy danh tiếng mà Phật đã từng thọ pháp là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta thì được biết cả hai người đều đã chết.
Tiếp đến, Phật tìm đến năm anh em Kiều Trần Như. Gặp được năm anh em Kiều Trần Như, Phật Thích Ca sớm nhận ra sự bất tín nhiệm của năm người bạn đối với mình nên Phật Thích Ca đã khẳng khái nói với đại ý rằng "Tôi đã giác ngộ hoàn toàn Thật tướng của vạn pháp, liễu thoát sinh tử, rõ biết luân hồi và cách thoát khỏi luân hồi. Tôi sẽ hướng dẫn các bạn. Và … nếu các bạn thọ nhận, hành trì thì tự các bạn sẽ chứng ngộ sự thật đó. Các bạn sẽ tự giải thoát hoàn toàn cho chính mình".
Vốn đã từng tín nhiệm trí tuệ cũng như năng lực hành trì của Phật và trước sự quả quyết như đinh đóng cột của Phật Thích Ca năm người anh em Kiều Trần Như thêm một lần nữa chinh phục.
Dù vậy Phật Thích Ca vẫn nhận ra sự e dè nghi ngại còn đọng lại nơi tâm trí những người bạn. Sau khi an vị, nghỉ ngơi đâu ra đấy Phật đã xô đổ bức thành trì hoài nghi ở năm người bạn khi thuyết giảng con đường trung đạo.
Nếu người học Phật hiểu đúng về thuyết trung đạo thì vốn dĩ sẽ không có sự tách biệt rạch ròi biệt con đường đạo - con đường đời.
Nói một cách khác là ngay khi thuyết lý trung đạo thì Phật đã xé toan bức rào cản ngăn cách đạo đời. Chính vì vậy ngay khi dấn thân phổ truyền chánh pháp thì Phật Thích Ca đã không chủ trương lập ra thêm một đạo giáo nào cả.
Khi hiểu đúng chúng ta sẽ nhận ra những lời Phật thuyết về con đường giác ngộ giải thoát chỉ là việc chia sẻ thông tin cho những người có ý chí vượt thoát ra mọi khổ não của việc luân hồi quẩn quanh.
Việc trao đổi chánh pháp ban đầu trên tinh thần học hỏi sẻ chia có tính thẳng thắn, khách quan giữa những người bạn chứ không lập nên rào cản thầy trò.
Tuy nhiên, do nhận thức được Phật là người sẽ chỉ bày mình thoát khỏi những khổ não tâm linh nên năm người anh em Kiều Trần Như tôn kính Phật làm vị đạo sự.
Vừa học, vừa hành dưới sự dẫn dắt của người chứng ngộ giải thoát năm người bạn đồng tu của Thái tử Tất đạt đa thuở nào mau chóng chứng nghiệm Chánh trí và dự vào hàng Bất thoái chuyển.
Chánh trí và Bất thoái chuyển chính là giềng mối xác thực việc thâm đạt Tứ quả vị Thánh chứ không phải là chứng nghiệm quả A la hán sẽ đắc Tam Minh, Lục Thông theo lối chú giải của người học Phật còn trong lưới vô minh.
...
Sự xuất hiện của Phật và việc y giáo phụng hành theo lối trung đạo, Bát chánh đạo, Tứ diệu đế sẽ khiến đời sống thường nhật của năm anh em Kiều Trần Như thay đổi; Sự cải biến trạng thái tinh thần từ yếm thế, ủ rủ của những người thọ trì pháp tu khổ hạnh sẽ được thay đổi bằng một tinh thần lạc quan, tươi tắn; Điều này sẽ là hữu xạ tự nhiên hương khiến tín chúng tìm đến Phật lãnh thọ pháp âm vi diệu.
Việc chạm mặt của Phật Thích Ca với ba anh em nhà Ca Diếp cũng với một màu sắc tương tự, Phật cứ dấn thân bước đi và tùy duyên hóa độ.
Mọi việc Phật ra sức vẫn trên tinh thần từ ái, khiêm cung và nhẫn nại; Phật tiếp người với sự bình đẳng xem như bạn và những người cầu đạo chân chính mau chóng nhận ra đây là vị đạo sư dẫn dắt mình vượt thoát những khốn cùng, những nghẽn lối tâm linh đang đeo mang. Và từ đó Phật trở nên là một vị đạo sư đáng kính trong lòng những người mộ đạo.
Ngày nay, chúng ta thường nghe "Nước sâu tĩnh lặng, người khôn kiệm lời". Và hiển nhiên là Phật cũng không phải là điều ngoại lệ.
Điều duy nhất mà Phật Thích Ca quan tâm chỉ là việc phổ truyền giáo lý giác ngộ giải thoát đến với xã hội loài người, giúp loài người nhận thức được sáng rõ giá trị chánh pháp và sự giác ngộ giải thoát.
Ngày nay, do học Phật theo lối truyền thống hầu hết người học Phật tin rằng giới luật do Phật Thích Ca lập ra.
Tuy nhiên, nếu chúng ta suy xét lại sẽ nhận ra rằng thực tế là Phật Thích Ca không lập ra giới cũng như Tam Quy.
Các bạn hãy tự ngẫm xem "Khi Phật chỉ bày giáo pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như, ba anh em nhà Ca Diếp, ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên,... Phật có cần răn dạy giới luật không?".
Cá nhân Ngạo Thuyết cho rằng với những người có tâm cầu đạo, họ sẽ tự ý thức được hành vi sống đúng mực với đời sống lành mạnh, tri túc, thiểu dục; Dù họ không mang danh nghĩa giữ giới nhưng đã là sống trọn vẹn với đời sống phạm hạnh rồi nên sẽ không phiền đến Phật phải chỉ bày nên sống ra sao.
Lâu về sau, khi giáo đoàn Khất sĩ lớn mạnh thì trong Tăng đoàn đã xuất hiện những hạng sa môn không có lòng cầu sự giác ngộ giải thoát, cụ thể là:
1. Có người xuất gia vì muốn trốn luật vua, phép nước.
2. Có người xuất gia là để được thân cận giới quyền quý cao sang.
3. Có người xuất gia là mong được quyền hành trong một ngôi chùa hay lãnh đạo Tăng lữ, đồ chúng.
4. Có người xuất gia vì thất nghiệp, muốn kiếm miếng cơm manh áo.
5. Có người xuất gia vì cô thế, cô thân, trốn kẻ thù nghịch.
6. Có người xuất gia vì mang công mắc nợ.
Những hạng tu sĩ này hiển nhiên có đời sống phóng túng, hưởng thụ, tâm tánh chất chứa nhiều sự bất thiện. Do đó, phẩm hạnh của những vị tu sĩ này làm ảnh hưởng rất nhiều đến uy tín của Tăng Đoàn, ngặt nỗi những hạng tu sĩ có tâm tà vạy lại thường chiếm số lượng đông đảo trong giáo đoàn Khất sĩ từ xưa đến nay.
Thấy sự nguy hại của đời sống phóng túng nơi các Tì kheo sẽ gây họa hại cho giáo đoàn Khất sĩ, những người đệ tử thượng thủ của Phật mới đề xuất ra việc lập giới luật để quản trị Tăng Đoàn vào đời sống phạm hạnh.
Sau khi bàn thảo cẩn thận những vị đệ tử Phật trình lên cho Phật và Phật tùy thời đồng thuận. Vậy nên phần nhiều giới luật là do đệ tử Phật xác lập chứ không phải do Phật Thích Ca chế định.
...
Không chỉ vậy. Có rất nhiều giới luật khi chúng ta xem xét sẽ cảm nhận được rằng đấy chỉ là tư kiến của một người hay một nhóm người.
Nhưng có lẽ để dễ dàng được phổ truyền người học Phật đã nhét chữ vào miệng Phật nhằm mau chóng đưa ra kết luận sau cùng nhằm chế định tín chúng.
Ngày nay, đất nước Ấn Độ hơn 1,3 tỷ người nhưng cách đây hơn 2550 năm về trước liệu các nước quanh lưu vực sông Hằng có được bao nhiêu người?
Từ đó, chúng ta phải nhận thức được rằng ngay khi Phật Thích Ca tại thế, dân số các nước quanh lưu vực sông Hằng thưa thớt; cách biệt địa lý, sự hạn chế của giao thông và khả năng lan truyền thông tin,... sẽ dẫn đến kết quả là thực sự không có rất nhiều người quy y đạo Phật. Bởi lẽ khi ấy ngoài đạo Phật ra thì có đến 6 giáo phái tôn giáo vốn rất vững mạnh, đạo Phật lúc bấy giờ chỉ mới tượng hình quả thật là chẳng thể tranh giành hết tín đồ của các tôn giáo khác.
Và chúng ta có thể lấy số tín đồ Phật giáo ngày nay tham chiếu với tín đồ các tôn giáo khác cũng sẽ nhận diện được ít nhiều điều:
- Kito Giáo: 2,4 tỷ người
- Hồi Giáo: 1,5 tỷ người
- Ấn Độ Giáo: 900 triệu người
- Đạo Giáo: 400 triệu người
- Tôn Giáo Dân Gian Trung Quốc: 394 triệu người
- Phật Giáo: 365 triệu người.
- Nho Giáo: 150 triệu người
...
...
Ở đây chúng ta cần nhận thức được một điều rằng Phật chủ động thuyết lý trung đạo là nhằm phá bỏ lớp rào cản nẻo đạo - nẻo đời. Do đó, Phật sẽ không có chủ trương tạo lập ra đạo Phật
Việc Phật ra sức chỉ là phổ truyền giáo lý chánh pháp giác ngộ giải thoát hoàn toàn vào mọi giai tầng xã hội.
Và chính do định chế cũng như quy ước xã hội vô hình chung tạo lập ra thêm một tôn giáo gọi là đạo Phật.
Chúng ta được biết sau khi Phật nhập diệt 3 tháng ngài Ca Diếp đã tiến hành Đại hội kết tập kinh Phật; Điều này cũng cho thấy rằng Phật Thích Ca không chủ trương lập ra một chủ thuyết, một giáo lý đạo Phật.
Chúng ta đều tin nhận Phật Thích Ca là người thông tuệ, nhìn xa trông rộng, thần thông vô lượng; Điều đó có nghĩa là lẽ ra Phật Thích Ca đã thấy được mầm mống sự chia rẽ mỗi khi kết tập kinh Phật.
Và nếu thấy biết được điều này và có ý kết tập kinh Phật thì Phật Thích Ca đã chủ trì kết tập kinh Phật trước khi nhập diệt.
Thế nên có thể khẳng định Phật Thích Ca không hề chủ trương việc tạo lập đạo Phật, Phật chỉ ra sức phổ truyền giáo lý chánh pháp giác ngộ giải thoát vào tri thức nhân loại mà thôi.
Và chúng ta cũng như người học Phật ở thế kỷ 21, 22 phải nhận diện và ý thức được rằng có rất nhiều những bộ kinh Phật hoàn toàn không do Phật Thích Ca thuyết, trong đó có phần lớn những câu chuyện tiền kiếp của Phật.
Đã có rất nhiều người học Phật vô minh đã nhét chữ vào miệng Phật và biến Phật Thích Ca thành một giống loài thần biến quái dị chứ không còn là một con người bằng xương, bằng thịt có trí tuệ sáng suốt.
Rồi thì đạo Phật tồn tại bằng vào những bộ kinh Phật được truyền miệng, được chú giải lệch lạc; Những vị Luận sư thuộc đạo Phật ra đời ra sức vá lỗi, và những sự chú giải lệch lạc cũng theo đó tăng trưởng.
Vài trăm năm về sau có một vị hành giả thông qua tâm pháp giác ngộ giải thoát của Phật Thích Ca mà chứng nghiệm sự Toàn Giác. Bởi do là người đời sau Phật Thích Ca những vài trăm năm nên vị Giác Giả thứ hai nhận diện sáng rõ tính Tiểu Thừa bảo thủ của giới Thanh Văn học Phật cũng như hiện trạng lệch lạc của đạo Phật, vị Giác Giả này đã ra sức phổ truyền giáo lý Kinh Phật đại thừa phát triển nhằm hóa giải những mê lầm của người học Phật xưa nay và gieo duyên sáng đạo cho người học Phật đời sau.
Thần thông, bùa phép, huyễn thuật được vị Giác Giả lồng ghép vào Kinh Phật nhằm giúp người học Phật đương thời vững tin vào giáo lý Phật Thích Ca và hàng loạt pháp dụ được dựng lên để dẫn dụ người học Phật vào chánh pháp.
Sau khi hoàn mãn việc phổ truyền pho giáo lý Phật giáo Bắc Truyền vị Giác Giả thứ hai đã dùng chiêu "qua cầu rút ván - qua sông bỏ bè" ngõ hầu giúp người học Phật thoát khỏi bến mê - Bốn mươi chín năm Như Lai không nói một lời nào; Đấy là sự phá mê trọn vẹn của vị Giác Giả thứ hai dành cho chúng sinh học Phật.
Người học Phật khi sáng đạo sẽ nhận ra phương tiện là phương tiện sẽ tùy duyên dùng phương tiện độ người.
Kẻ học Phật vô minh tức những kẻ mắt mù, tai điếc khi tìm đến đạo Phật mà không tỏ ngộ sẽ vin níu, vào pháp môn - vào phương tiện ra sức giảng thuyết sự thù thắng của pháp phương tiện một cách si mê, nói như đúng rồi nhưng lại thiếu khuyết trí tuệ chính thật là người đang diễn nói những điều mà họ không hề rõ biết tức là nói dóc, nói dối vậy. Họ phạm ngay giới cấm đầu tiên của người học Phật - Giới không nói dối.
Và đáng tiếc thay người học Phật cả Tăng lẫn tục ngày nay phạm giới Không Nói Dối rất nhiều. Thế là đạo Phật ngày càng trở nên u mê, tối tăm qua sự diễn nói của đại chúng học Phật không sáng đạo.
Bạn tìm đến đạo Phật với mục đích gì?
Nếu bạn tìm đến đạo Phật nhằm mục đích cứu khổ, giác ngộ giải thoát hoặc tìm cầu chánh trí thì bạn nhất thiết phải đặt xuống những cơ cầu thần thông, phép màu,...
Nếu bạn tìm đến đạo Phật nhằm mục đích tìm sự mầu nhiệm, thần thông thì điều đó đồng nghĩa rằng bạn đang hành phép tà vì con đường đó sẽ không là là đích đến của đạo Phật. Đó là Ngũ Thông của ngoại đạo và phần nhiều thần thông của ngoại đạo chỉ là những tin đồn - Bánh vẽ chẳng no lòng.
Và Ngũ Thông còn gây ra sự nhiễu loạn nhân quả luân hồi khiến bạn chìm đắm trong si mê trả vay.
Tóm lại, Phật Thích Ca không hề tạo lập đạo Phật. Người đời sau cùng với những si mê đã lập ra đạo Phật. Và cũng không có người học Phật nào thời Phật Thích Ca chứng ngộ A la hán đắc thành Lục Thông theo lối hư cấu hoang đường như sau:
1. Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ý muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, đi vào trong núi, đi trên mặt nước, một thân biến nhiều thân, nhiều thân biến thành một thân, tay có thể chạm vào Mặt Trời, mặt trăng, các ngôi sao,... tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ý muốn, không hề chướng ngại.
2. Thiên nhãn thông: Thấy sự lưu chuyển của Chúng Sinh trong các cõi giới luân hồi.
3. Thiên nhĩ thông: Nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong các cõi giới luân hồi.
4. Tha tâm thông: biết hết tất cả mọi ý nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
5. Túc mệnh thông: Đối Đức Phật và các Vị A la hán - ngài biết được vô lượng kiếp trước của chính bản thân mình vị ấy nhớ rõ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên gì, làm gì.
6. Lậu tận thông: Vị ấy thấy rõ Tứ Diệu Đế là chân lý của Pháp Giới Vũ Trụ này cuối cùng vị ấy đạt được giác ngộ giải thoát viên mãn.
Tri kiến Tam Minh, Lục Thông là phần chú giải lệch lạc của người học Phật đời sau.
Vị Giác Giả thứ hai trước hiện trạng đạo Phật suy vi và nền tảng đạo Phật trong lòng nhân loại chưa đủ vững chải đã phổ truyền pho giáo lý Kinh Phật Đại Thừa.
Ngày nay, đạo Phật đã phổ truyền sâu rộng trong lòng nhân loại nhưng với những tri kiến Phật học mê mờ, lệch lạc.
Và đây là sự đúng thời để Ngạo Thuyết giải mã đạo Phật nhằm trả chánh pháp giác ngộ giải thoát sáng rõ vào trong lòng nhân loại.
Lý trung đạo sẽ xé toạc những bức tường thành đạo và đời. Đấy là sự thật về đạo Phật.
Nam Mô Di Lặc Tôn Phật Thiên Bá Ức Hóa Thân!
...

Không có nhận xét nào: