Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

Hoa Nghiêm- Bài 38- 53 Thiện Tri Thức.- Văn Thù- Căn bản trí

+ Đầu tiên, Thiện Tài gặp Văn Thù tức là căn bản trí. Văn Thù tiêu biểu cho trí tuệ nên khởi đầu chúng ta tu học đến với Đức Phật bằng tri thức, không có tri thức thì không vào được đạo. Nhờ tri thức rọi sáng tâm ta, nếu không có chúng ta dễ thành người mê tín tà đạo. Thiện Tài là người có tri thức gặp được Văn Thù đã từng bước thâm nhập giáo lý Phật.
Với trí tuệ Văn Thù hướng dẫn, Thiện Tài tiếp tục hướng dẫn mọi tầng lớp thế gian, từng bước chân đi của Thiện Tài Đồng Tử hay của chính chúng ta đi vào pháp giới. Bài học vỡ lòng do Ngài Văn Thù Sư Lợi phát tâm Bồ Đề và cầu Thiện Tri Thức.
++++++++++++++++++
Bình giảng:
Văn Thù tiêu biểu cho trí tuệ.- Đặc biệt là Căn bản trí.
* Thế nào là Căn bản trí ?
Đáp: Trong nhà Phật có nêu ra nhiều loại trí. Căn bản trí hay còn gọi là như thật trí. Hai trí này là tên khác của bản giác hay chân như v.v… Nói căn bản là vì cái trí này nó sẵn có, không phải do tu mới có. Trí này còn gọi là Trí vô sư.
* Căn bản trí nương đâu mà phát hiện ?
Đáp: "Tâm địa nhược thông, huệ nhật tự chiếu" có nghĩa là "khi gạt hết mù ám trên đất tâm thì mặt trời Tuệ sẽ tự nhiên rọi sáng". Đây là câu nói của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (720 - 814) đã làm cho ngài Vô Ngôn Thông (? - 826) bừng tỉnh và đạt ngộ.- Huệ Nhật chiếu là chỉ cho Căn Bản Trí.
Có thể là hình ảnh về 1 người và đang tập yoga
Tất cả cảm xúc:
3
Thích
Bình luận
Chia sẻ

Hoa Nghiêm- Bài 36- Nội dung phẩm “Nhập Pháp Giới” .- Phát Bồ Đề Tâm.

Khởi đầu Thiện Tài Đồng Tử nhìn thấy tháp Phật trong rừng Ta La Song Thọ mà khởi lên một ý niệm về Phật. Đây là lần phát tâm Bồ Đề đầu tiên của Thiện Tài cũng là yếu tố cơ bản của người tu đến với Đức Phật và Đạo Pháp mà luận Phát Bồ đề Tâm của Ngài Thế Thân gọi là “Xưng tán Tam Bảo” thấy tượng tháp mà tâm sáng lên ý niệm tu hành giải thoát cho mình và người.
... Bồ Tát Văn Thù đi qua phương Nam, tới Phước Thành Ngài dừng lại ở cửa phía Đông, an trụ nơi đạo tràng trang nghiêm trong rừng Ta La. Nơi đó có một ngôi cổ tháp rất to lớn. Đây là nơi trước kia Đức Phật đã trải qua nhiều kiếp an trụ để giáo hóa chúng sanh. Đây cũng là nơi mà xưa kia Đức Thế Tôn đã từng tu hạnh Bồ Tát thường xả bỏ vô lượng những điều khó bỏ. Cho nên chỗ này được khen ngợi và nổi tiếng khắp cả mười phương thế giới Chư Phật và đây cũng là nơi tất cả trời rồng cùng tất cả các bộ thần, phi nhơn đều đến cúng dường. Ngài Văn Thù biết số người trong Phước Thành đã nhóm họp đông đủ. Trong những thanh niên đến nghe pháp, Ngài chú ý đến một thanh niên có những tư cách đặc biệt, đó là Thiện Tài Đồng Tử.
Ngài lại quán sát rõ biết Thiện Tài nhiều kiếp đã từng cúng dường quá khứ chư Phật, trồng các căn lành, đức tin rộng lớn, sức hiểu biết cao xa. Thiện Tài cũng thường hay gần gũi vui ưa vị Thiện Tri Thức, thân, ngữ, ý nghiệp không hề sanh lỗi quấy. Đồng Tử luôn thực hành Bồ Tát đạo, cầu nhất thiết trí, thành tựu pháp khí, tâm tánh thanh tịnh cũng như hư không.
Bồ Tát Văn Thù nhận thấy Đồng Tử có những cá tính sáng ngời, sau này sẽ thành bậc đại Bồ Tát, xiển dương Phật Pháp, hóa độ chúng sanh, có đầy đủ ba yếu tố hành Bồ Tát đạo: sức khoẻ, công đức và trí tuệ. Có sức khoẻ mới vượt qua được khó khăn gian khổ đầy dẫy của cõi Ta Bà này; có công đức mới dám vào cảnh đới ngũ trược; có trí tuệ mới không sa vào cạm bẫy của ngũ dục thế gian và phát sanh được đức nhẫn.
Thiện Tài cung kính bạch rằng: “Cúi xin thánh giả mở lượng từ bi hướng dẫn cho con hiểu rõ pháp học Bồ Tát Đạo và pháp tu Bồ Tát Hạnh. Làm thế nào để đi đến nơi Bồ Tát đã đến, và làm bao nhiêu việc Bồ Tát đã làm. Cầu xin thánh giả ban ơn chỉ bày giáo hóa cho con thông đạt sự lý”.
Bồ Tát Văn Thù vì Thiện Tài nói rằng: “Quý hóa và lợi hành thay! Thiện Nam Tử! Người phát tâm Bồ Đề, việc này đã khó. Đã phát tâm rồi lại cần cầu tu hạnh Bồ Tát Đạo thật là điều rất khó”.
Bồ Tát Văn Thù lại dạy thêm: “Nếu hành giả muốn thành tựu nhất thiết trí, cần phải quyết định tìm đến các bậc Chân Thiện Tri Thức. Khi thấy Thiện Tri Thức chớ sanh lòng biếng nhác, cũng không bao giờ xao lãng những điều khuyên bảo của Thiện Tri Thức”.
Thiện Tài Đồng Tử khi mới sanh ra thì châu báu từ dưới đất trồi lên đầy nhà nên cha mẹ đặt cho ông tên này, đây là phước đức của một người đã từng cúng dường vô số chư Phật. Đồng Tử có nghĩa là trẻ thơ, trẻ thơ là biểu tượng của một người đã đạt đến tâm bình đẳng vô phân biệt, tượng trưng cho căn bản trí. Vậy Thiện Tài Đồng Tử hàm ẩn phước trí hay phước huệ. Phước huệ ví như hai cánh tay giúp hành giả mở tung tòa lâu đài pháp giới.
++++++++++++
Lời bình:
Đọc kinh là muốn rõ ý của Phật. Do vậy khi nghe, đọc, học kinh điển chúng ta nếu may mắn mà gặp được các vị Thiện Tri Thức soi tỏ ý nghĩa thâm sâu.- Chân Thật Nghĩa .- Như bày luận kể trên là điều rất hy hữu và phước đức vô lượng.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3

Hoa Nghiêm- Bài 35 - 3 Thiện Tài Đồng Tử- Yếu tố Bồ Đề Tâm

Đồng Tử Thiện Tài tiêu biểu cho Bồ Đề Trí Giác hay Bồ Đề Tâm, đóng vai trò quan trọng trong việc giáo hóa của chư Phật. Vì Bồ Đề Tâm là đối tượng chính để Phật thị hiện khai thị, khơi dậy tiềm năng giác ngộ sẵn có trong mỗi con người.
Kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện mô tả Bồ Đề Tâm với hơn trăm ví dụ khác nhau. Bồ Đề Tâm ví như hạt giống sanh ra tất cả Phật Pháp, như ruộng tốt nuôi lớn các pháp thanh tịnh, như gió to, như mặt trời soi khắp thế gian, như vua chúa vượt hơn các hàng nhị thừa, như vườn hoa, như ông cha, như nhũ mẫu dưỡng dục Bồ Tát, như Đại tuyết sơn nuôi các cây thuốc trí tuệ, như hương sơn sanh các công đức, như hư không rộng lớn, như hoa sen mầu nhiệm chẳng bị nhiễm nhơ … Trong Kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền thứ 35 có viết: “Này thiện nam tử, Bồ Đề Tâm thành tựu vô lượng vô biên công đức tối thắng của Phật Pháp. Vì sao Bồ Đề tâm sanh ra các công hạnh của Bồ Tát, tất cả các Đức Như Lai ở mười phương ba đời đều từ Bồ Đề Tâm sanh ra. Thế nên, nếu có người nào hay phát tâm vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ắt đã sinh ra vô lượng công đức có thể nắm lấy hết đạo Nhất Thiết Trí”.
Qua đoạn Kinh trên cho ta thấy tầm cỡ của Bồ Đề Tâm và giá trị giác ngộ của con người, nó định tính hết thảy các công đức, là nơi xuất sanh các thiện pháp. Cho nên Bồ Đề Tâm chẳng những có công năng vi diệu như thế mà còn là nguồn mạch của sự sống của con người. Vì tâm Phật này không thể mất dù trải bao phong trần, đội mất lớp chúng sanh, dù mang thân phận của kẻ nghèo khốn đi chăng nữa nhưng chất Phật trong con người không vì vậy mà hao mòn hay hủy diệt và bình đẳng ở mọi người.
Thiện Tài Đồng Tử sau khi phát tâm qua sự khai tâm của Văn Thù và dưới sự chỉ dẫn của Ngài, từ đó cuộc du hành hoàn toàn nhằm vào việc học hỏi cách thức thực hành Bồ Tát hạnh. Cho nên Văn Thù đã hết lòng khen ngợi công hạnh của đệ tử mình: “Lành thay! Thiện Nam Tử, ít có thấy ai sau khi phát tâm mong cầu giác ngộ tối thượng, bây giờ lại muốn thành tựu Nhất Thiết Chủng Trí, hãy tinh tấn thân cận các bậc Thiện hữu tri thức”.
“Phát Bồ Đề Tâm” Phạn ngữ là Bodhicittotpàda nói đủ là anuhatraỳam sàmyyaksambodhau cittam utpàdam. Nghĩa là Phát khởi Vô Thượng Chánh Giác Tâm, tâm ấp ủ ước vọng mong cầu giác ngộ. Thiện Tài đã nuôi dưỡng Bồ Đề Tâm đến độ chín muồi nên sau khi được Ngài Văn Thù rưới mưa pháp lần đầu tiên tại Phước Thành, Thiện Tài vội thoát lớp áo khoác trần tục bỗng trổi dậy một khát vọng tâm linh đã từng yên ngủ. Đây là một định hướng mới của hoạt động tinh thần giúp Thiện Tài xác định con đường hành xử tương lai của mình và bước vào giai đoạn phát khởi của vị Bồ Tát. Bồ Đề Tâm vốn sẵn có nơi mỗi chúng sanh và nó thiết định bản chất cốt yếu bất sanh bất diệt, nhưng có điều tâm này bị bao phủ trong vô minh, vị kỷ nên không thấy đó thôi. Ngài Bàng Uẩn nói:
“Vụ trùng nhựt nan xuất
Vân hậu nguyệt mông lung
Hữu tâm cầu mích Phật
Trú đa dụng tâm công”.
Dịch nghĩa
“Sương dày trời khó hiện
Mây phủ giăng phủ mờ
Có tâm tìm cầu Phật
Ngày đêm gắng dụng công”.
(Trích Phật Tâm Luận – Thích Phước Hảo dịch)
Bồ Đề Tâm chính là yếu tố tạo nên tình thế của Phật, nó nằm sâu trong Tàng Thức, khi được thanh tịnh hóa hoàn toàn thì Phật tánh tự nhiên hiển lộ, tức không còn tham, sân, si. Tam độc bị tiêu diệt, thay vào đó là ánh sáng Tam minh, trong đó có đầy đủ Nhất Thiết Chủng Trí.
Thiện Tài là người hội đủ những đức tính tốt của một người đã có kinh nghiệm vĩ đại, đã có sự chuẩn bị tâm linh sẵn sàng tu theo Đạo Phật. Như hạt giống nằm sâu trong lòng đất, đúng thời tiết nhân duyên nứt mầm nhảy vọt và được vun trồng kỹ lưỡng. Mầm giác ngộ này thực sự khởi lên từ tâm đại từ bi, tâm an lạc, tâm lợi ích, tâm ai mẫn, tâm vô ngại, tâm quảng đại, tâm vô biên, tâm vô nhiễm, thanh tịnh và trí tuệ.
Từ khi phát Bồ Đề Tâm tu tập, Thiện Tài chỉ hướng đến một mục tiêu chính là cầu chứng Phật trí, đạt mười lực, bốn vô sở úy, được “Nhập Pháp Giới” để cứu bạt chúng sanh, thành tựu Nhất Thiết Trí và Chuyển Pháp Luân. Bồ Đề Tâm là sự phát khởi của vị Bồ Tát, với tâm này Thiện Tài đã nguyện hiến trọn đời mình cho Đạo Pháp, cho lý tưởng giác ngộ của mình. Trải qua năm mươi ba cuộc hành trình cầu đạo đầy thử thách, Thiện Tài Đồng Tử đã đến được Lâu Các Trang Nghiêm Tạng và được Ngài Di Lặc giảng rộng về ý nghĩa và tầm quan trọng của Bồ Đề Tâm; Nhờ vậy mà Thiện Tài hiểu đâu là hạnh và nguyện của Bồ Tát để cuối cùng nhận sự ấn chứng của Phổ Hiền Bồ Tát. Bấy giờ Thiện Tài trở thành một vị Bồ Tát thực sự không còn là đồng tử nữa mà biến thành một hóa thân của Trí và Bi và bắt đầu chuyển mình nhìn thẳng vào cuộc đời để thực hiện tiếp cái hoài bão to lớn của chư Phật là giáo hóa chúng sanh. Thiện Tài đã thành tựu trọn vẹn cả hai mặt của lý tưởng “Thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh”.
++++++++++++++
lời bình: Phát Bồ Đề Tâm là bước đầu và thiết yếu nhất để thành Phật.
Qua hình ảnh Thiền Tài Đồng tử. kinh hoa Nghiêm nhắc nhở chúng ta: Muốn chân chánh phát Bồ Đề Tâm, thì Tâm phải thuần lương như trẻ thơ (đồng tử). Nghĩa là xả bỏ mọi chấp mắc, thiên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ v.v..., mà ở kinh Pháp hoa gọi là Anh Nhi Hạnh (hạnh của đứa trẻ thơ còn nằm nôi). Phải xả bỏ mọi kinh nghiệm sống thường nhân. Phải giải trừ Ý thức , mới được Phật tri kiến.- Mới là Thiện Tài Đồng Tử.
Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
3