Thứ Ba, 16 tháng 4, 2024

10 Huyền Môn. Bài 10 .- 2/. NHẤT ĐA TƯƠNG DUNG BẤT ĐỒNG MÔN (Môn Một nhiều tương dung chẳng đồng).- Ý Nghĩa.

kinh văn: Còn có Đại Bồ tát trụ Đại Niết Bàn đem cõi đại thiên để vào lỗ chân lông, mà lỗ chân lông không có to ra, cõi Đại thiên không có tướng teo nhỏ.(hết trích)
+ Thế nào là Một nhiều tương dung chẳng đồng ?
(trích) NHẤT ĐA TƯƠNG DUNG, tức là "một" và "Nhiều" dung chứa trong nhau. Đây là ước trên lý mà nói. Vì một vào nhiều, nhiều vào một nên nói là dung nhau (TƯƠNG DUNG).
Thể thì không có trước sau nhưng chẳng mất tướng một - nhiều, nên nói CHẲNG ĐỒNG. Đây chính là Thật Đức Duyên Khởi, chẳng phải là chỗ tu hành của trời người. Nên kinh nói “Vì một Phật độ đầy khắp mười phương, mười phương vào một Phật độ cũng không dư. Bổn tướng của thế giới cũng chẳng hoại. Nguyện lực tự tại nên được vậy”.
Ví dụ (tương dung chẳng đồng): (THỨC TÂM là 1) THỨC UẨN. Hiện ra 6 Thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.- Thể thì không có trước sau nhưng chẳng mất tướng một - nhiều, nên nói CHẲNG ĐỒNG.
Như phẩm Phổ Hiền nói “Thân tất cả chúng sanh vào trong thân một chúng sanh. Thân của một chúng sanh vào trong thân của tất cả chúng sanh”. Lại nói “Tất cả các thế giới nếu vào trong một vi trần mà các thế giới chẳng tích tụ cũng chẳng tạp loạn”. (hết trích)
+ Làm sao quán thấy được Nhất Đa Tương Dung ?
- Kinh Bát nhã Phật dạy: "Muốn lấy một mảy lông nâng được cả ba ngàn đại thiên thế giới, mà chẳng làm kinh động chúng sanh, phải tu tập Bát Nhã ba- la- mật."
* Nghĩa là muốn quán thấy được Nhất Đa Tương Dung, thì phải quán "Tánh Không" của các pháp.
Ví dụ như quán một cành hoa này (thay thế lỗ chân lông để quán):
- Hoa hồng này không phải tự nhiên mà có, nó phải do nhiều nhân duyên sanh khởi, phải có hạt giống hoặc cành giống, phải có con người chăn sóc, phải có nước, phân để tưới tẩm, có nước thì phải có mây tạo thành mưa, trong mưa cũng có sấm sét, muốn có mây phải có mặt trời chiếu diệu v.v... nghĩa là đã có cả càn khôn, vũ trụ trong cánh hoa này.
- Vũ trụ này cũng vậy. Phải do nhiều nhân tố nho nhỏ hợp lại mà thành, trong đó.- Một cành hoa hồng này cũng tàng trử trong vũ trụ.
- Cả vũ trụ hay là riêng một cành hoa hồng này, đều là tướng duyên hợp, đều là không tự tánh (Tánh không), nên là Như. Vì đều cùng một bản thể Như nên không ngăn ngại nhau (trong cái này đã có vô vàn cái kia).
* Đó là lý Nhất Đa Tương Dung bất đồng môn.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3

10 Huyền Môn. Bài 9 .- Tương Dung An vị.- Tình dữ Vô Tình đồng thành Phật Đạo.

Theo VQ cảm nhận.- Pháp quán Vi Tế Tương Dung.- Là Quán về Tướng của các Pháp để tìm vào THẬT TƯỚNG.
Kinh Bát Nhã Phật dạy:
.......Khi đã vào được nơi Thật Tướng pháp rồi, thì chẳng còn có sự phân biệt giữa tướng và tánh. Lúc bấy giờ, tướng và tánh chỉ là một, chẳng phải hai, chẳng phải khác.
.......Bởi vậy, nên Thật Tướng pháp còn được gọi là:
- Pháp như.
- Pháp tánh.
- Thật tế.
....... * Pháp Như:
....... Là tánh như như bất biến của các pháp. Tánh ấy vốn thường KHÔNG.
....... * Pháp Tánh:
....... Là bản tánh, là Thật thể của các pháp. Tánh ấy vốn thường KHÔNG.
....... * Thật Tế:
....... Là lý chân thật, vẹn toàn của các pháp. Thật tế vốn thường KHÔNG.(hết trích)
Vũ Trụ là Tướng lớn, hạt vi trần là Tướng nhỏ v.v... đều là hiện tượng của Tâm Chân Như (Như Tướng). Kinh Lăng Nghiêm dạy:" Phóng chi tắc cala pháp giới- Thâu chi tắc tế nhập vi trần". Nghĩa là: nói lớn, thì là Vũ trụ Pháp Giới. nói nhỏ, thì là thâu vào hạt bụi",- Đó là TÂM TƯỚNG (Như Tướng). Nói cách khác: Pháp Giới là Pháp Thân Phật.- Mà Pháp Giới là Vô Tình. Con người là Hữu Tình. Do vậy kinh nói: Tình dữ Vô Tình đồng thành Phật Đạo.
Theo Ngài Thiện Tri Thức Quảng Tánh:
“Tình dữ vô tình tề thành Phật đạo”? Vấn đề này nếu nghiên cứu trên lý thuyết thì thấy rắc rối, còn nếu đã có thực hành thì chẳng có gì rắc rối cả. Ví dụ người bị mờ mắt nhìn thấy cái gì cũng mờ mờ, người sáng mắt nhìn thấy cái gì cũng sáng rõ ràng.
Tình dữ vô tình đều trọn thành Phật đạo là tinh thần của kinh Hoa Nghiêm “Tình dữ vô tình đồng viên chủng trí”.
Chúng sanh có nghĩa là do nhiều nhân tố hợp lại (chúng) mà sanh ra (sanh) gồm tình và vô tình.
Tình là hữu tình chúng sanh, tức những loài có tình thức.
Vô tình là vô tình chúng sanh, tức những sinh vật và các sự vật hiện tượng.
Như vậy, chúng sanh bao hàm ý nghĩa không chỉ các loài hữu tình trong tam giới, lục đạo mà cả thiên nhiên, đất đá, cỏ cây…
Mặt khác, Phật là bậc Giác ngộ nhưng còn hàm ý là Phật tánh, Giác tánh, Bản giác, Bản thể và Chân như. Và dĩ nhiên, lời nguyện “Tình dữ vô tình đều trọn thành Phật đạo” nên được nhận thức về phương diện lý tánh hơn là sự tướng.
(theo Quảng Tánh)
Có bài kệ:
Phật Tánh tại hữu tình,
Pháp Tánh tại vô tri.
Phật- Pháp bổn lai vô nhị tánh.
Nhất hỏa năng siêu bách vạn sài.
(luận hiển dương thánh giáo)
Tóm lại: Vi Tế Tương Dung là nguyên lý vận hành của Vũ Trụ, vạn hữu, là Pháp Quán, phương cách để Nhập Pháp Giới, thành tựu Pháp Thân Như Lai.
Nam Mô Pháp Giới Tàng Thân A Di Đà Phật.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
5

10 Huyền Môn. Bài 8 .- Tương Dung An vị.- Lục Tướng:

Trong pháp giới, mỗi pháp đều có đủ 6 tướng: Tổng tướng-Biệt tướng, Đồng tướng-Dị tướng, Thành tướng-Hoại tướng.
Tổng đối với Biệt; Đồng đối với Dị; Thành đối với Hoại.
Tổng tướng: Là tướng bao quát toàn thể một vật hay một vật nào đó.
Biệt tướng: Là tướng đặc biệt của mỗi một bộ phận cấu thành toàn thể sự vật đó. Nhiều biệt tướng cọng thành một Tổng tướng. Đã có Tổng thì có Biệt, nếu không có Biệt thì cũng không có Tổng. Trong Biệt tướng lại có Đặc dị tính; trong Dị tướng có Sai biệt tính.
Ví dụ, sư tử là tổng tướng. Tổng tướng là tướng chung (universal). Năm căn của sư tử (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) tượng trưng cho biệt tướng. Biệt tướng là tướng riêng (particular). Tổng tướng do biệt tướng làm ra. Biệt tướng hợp lại thành tổng tướng.
Đồng tướng: Là tướng giống nhau của một số vật. Đó cũng là tính dung hòa không ngăn ngại, không chống đối nhau của mọi vật.
Dị tướng: Là tướng riêng biệt của vật này, vật khác. Hình tướng của mọi vật tuy có khác nhau, nhưng về mặt lý tính thì không có sai khác.
Theo kinh Hoa Nghiêm, thì không có một ngăn ngại, mâu thuẫn nào giữa Đồng và Dị, và giữa Dị và Dị
Dị là Sự, có nghĩa là mọi vật, mọi việc riêng rẽ nhau. Đồng là Lý hay là Nhất, mà Lý là Thể của Sự nằm trong Sự. Tất cả sự vật trên đời này không có thực thể đồng nhất bất biến, mà chỉ là một hiện tượng của nguyên thể hay chân thể, tức là Lý mà thôi.
Khi nhìn một Tổng tướng là cái nhà – Biệt tướng là các nhân tố để làm thành cái nhà. Tuy là từng viên gạch khác nhau, từng tấm ván khác nhau nhưng có một cái gì đó làm cho những cái khác nhau đến với nhau để làm thành một cái tổng quát. Trong cái đồng có cái dị và trong cái dị có cái đồng. Từng viên gạch, từng tấm ván là những cái khác nhau. Nhưng khi những cái khác nhau tới với nhau hòa hợp lại với nhau và làm thành một cái gọi là đồng tướng (sameness). Tất cả đều là nhà, nhìn vào viên gạch nào cũng thấy nhà mà nhìn vào tấm ván nào cũng thấy nhà. Tất cả những cái trong nhà, những chi tiết, những yếu tố, những mảnh nhỏ đều là nhà, không có cái nào không là nhà. Cái nào cũng có đồng tướng, tại vì nó là một phần của nhà, nó là nhà.
Thành tướng: Là tướng thành tựu của nhiều bộ phận hợp thành sự vật.
Hoại tướng: Là sự tan rã một sự vật lớn thành nhiều phần tử nhỏ.
Thành hoại là quy luật tất yếu do nhân duyên, mỗi sự mỗi vật trong Tổng-Biệt tướng đều trải qua từ Dị tới đồng – Đồng Đồng-Dị Dị mà hình thành, mà tan rã.
Khi nói Tổng-Đồng-Thành là đứng về phương diện toàn thể viên dung, bình đẳng của bản thể; Khi nói đến Biệt-Dị-Hoại là đứng về phương diện hiện tượng , trong đó mọi sự vật đều phơi bày riêng rẽ hình tướng khác nhau. Vạn hữu trong vũ trụ tựu trung đều gồm 2 tính cách Bình đẳng và Sai biệt.
Ba tướng Tổng-Đồng-Thành đều có tính cách viên dung, vô sai biệt; Ba tướng Biệt-Dị-Hoại đều có tính cách sai biệt bất bình đẳng và ngăn ngại nhau. Hết thảy mọi pháp trên thế gian này đều có đủ 6 tướng nói trên, không một pháp nào lại không viên dung tự tại, bởi thế nên gọi là 6 tướng viên dung.
Vạn vật đều gồm đủ 2 nghĩa: Sai biệt (trên mặt hiện tượng- Huyễn Tướng); và bình đẳng-vô sai biệt (trên mặt bản thể- Như Tướng). Không một pháp nào lại không có đủ cả hai mặt hiện tượng và bản thể. Hai lẽ ấy không lúc nào rời nhau, một ẩn bên trong; một hiện ra ngoài, bao bọc lấy nhau, trong-ngoài cùng là một vật. Và trên thực tế thì bên ngoài (hiện tượng- Huyễn Tướng) tức là bên trong (bản thể- Như Tướng). Chân như tức là Vạn pháp-Vạn pháp tức là Chân như. Lý tức Sự; Sự tức Lý theo tư tưởng Bất nhị.
Có thể là hình ảnh về đền thờ
Tất cả cảm xúc:
4

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2024

10 Huyền Môn. Bài 7 .- Tương Dung An vị.- Như Tướng.

Ở Môn Tương Dung An vị này, là quán về TƯỚNG.
Thông thường chúng sanh thấy được * Huyễn Tướng, bậc đạt Đạo thấy được * Như Tướng.
* Thế nào là Huyễn Tướng ? Đáp: Trong kinh A Hàm, Phật dạy rằng: “Các sự thấy nghe hay biết của chúng sanh đều do nhiễm trước nơi cảnh sở duyên mà có”.
+ Luận Đại Trí Độ giải: Chúng sanh do bị Vô minh ngăn che tâm trí, nên khởi sanh các tà kiến chấp, vì vậy mà bị các pháp sai sử.
Chỉ có trí huệ Bát Nhã mới làm tan biến được màn vô minh u ám, mới hiển bày được Thật Tướng của các pháp. Dùng trí huệ Bát Nhã soi chiếu đến tận gốc sẽ liễu ngộ được lý siêu việt chân thường, dẫn đến chỗ tuyệt tư cảnh giới. Trái lại, nếu dùng danh tự ngôn ngữ mà diễn đạt thì sẽ trái với chỗ thậm thâm vi diệu; còn nếu dùng lý trí mà tư duy thì sẽ mất đi chỗ y chí. (hết trích).
* Thấy Tướng Lớn (như núi Tu Di) Tướng Nhỏ (như hạt bụi).- Đó là do bị Vô minh ngăn che tâm trí, nên khởi sanh các tà kiến chấp rằng là Lớn ! Là Nhỏ ! Là ngàn sai, muôn biệt ! Đó là thấy Huyễn Tướng.
* Thế nào là Như Tướng ? Đáp:
+ Quán thấy: Cái Lớn. Như là Núi Tu Di, không phải tự nhiên mà có Núi Tu Di, phải do những phần tử nhỏ, như cát, như cây v.v.. duyên hợp lại mới thành, vì các pháp do duyên sanh. Lại tận cùng các duyên như cát, như cây v.v.., để sanh ra các pháp vẫn là do duyên sanh, trùng trùng duyên khởi không có đầu mối, nên Thật tướng núi Tu Di là Không thật sanh, chỉ do vọng tưởng mà hiển hiện. Thật Tướng là Chơn Không, Chơn Không là NHƯ TƯỚNG.
+ Quán thấy: Cái Nhỏ, như là Hạt cải, không phải tự nhiên mà có Hạt cải, phải do những phần tử nhỏ, như những phần tử hữu cơ C+ H+ O+ N v.v.. duyên hợp lại mới thành, vì các pháp do duyên sanh. Lại tận cùng các duyên như C+ H+ O+ N v.v.., để sanh ra các pháp vẫn là do duyên sanh, trùng trùng duyên khởi không có đầu mối, nên Thật tướng Hạt cải là Không thật sanh, chỉ do vọng tưởng mà hiển hiện. Thật Tướng là Chơn Không, Chơn Không là NHƯ TƯỚNG.
Phẩm Phổ Hiền nói “Tất cả các thế giới vào trong một vi trần, thế giới chẳng tích tụ cũng chẳng ly tán”. Nên biết, nếu tương ưng cùng khắp thì trong một vi trần có thể thấy vô lượng quốc độ mà chẳng tạp loạn, chẳng tăng, chẳng giảm. Sao có thể cho hạt cải chứa núi Tu Di là việc khó ?
Kinh Kim cang dạy: "Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn, bào ảnh". Vậy nên biết tất cả pháp huyễn tướng là ngàn muôn sai biệt, nhưng thật tướng chỉ NHẤT NHƯ. Vì Vô Tướng, là NHƯ, nên lớn và nhỏ có thể dung chứa nhau.
Chính là do thật đức NHƯ vô ngại tự tại duyên khởi làm cho TƯƠNG DUNG, chẳng phải do trời người tạo ra, nên AN VỊ. Đây là VI TẾ TƯƠNG DUNG AN VỊ MÔN.
Hiền Thủ Quốc sư trong Kim sư tử chương, thuyết cho Hoàng đế Võ Tắc Thiên về các đặc điểm của Hoa Nghiêm tông. Có 10 điều.- Trong đó.- Thứ 10. Nhập Niết bàn. Rằng:
Trí thể tức như, sinh đại Niết bàn. (Ví như con sư tử bằng vàng)
Bấy giờ thấy rõ sư tử chưa từng có, vàng ròng chưa từng không; chấm dứt tất cả tác dụng phân biệt của tâm trí. Vàng Như sư tử và sư tử Như vàng. Đó là vĩnh cửu bất sinh bất diệt. (hết trích)- Đây là Nhập Như Tướng.
Do muôn Pháp Nhất Như, nên Lớn có thể dung chứa nhỏ, mà Nhỏ cũng có thể dung chứa Lớn.- Vì Bản Thể đều là NHƯ. (Như cũng là tên khác của Chân Tâm của Phật Tánh. Nên Nhập Như Tướng, có nghĩa là về Pháp Thân Như Lai)
Cũng nơi ý này.- Thi Sĩ Vũ hoàng Chương, trong một phút xuất thần, đã tiếp cận được Lý Tương dung, qua câu thơ:
......Kìa non đã lở, này sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về
Trông ra bến hoặc, bờ mê
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương
......(Nguyện cầu- VHC)
Mang ý nghĩa:
+ Nghìn thu: nghĩa là nghìn năm.- Chỉ như nữa cái chớp mắt.- Nghĩa là Thời gian Tương Dung.
+ Bốn bề: Nghĩa là 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc- Chỉ là một Phương.- Nghĩa là Không gian Tương Dung.
* Thời gian + Không gian tức là Vũ Trụ đó.
Có thể là hình ảnh về 1 người, hành tinh và văn bản
Tất cả cảm xúc:
3