Thứ Năm, 11 tháng 4, 2024

Người Ngu Ăn Muối

 Một đời thuyết giáo trong bốn mươi chín năm, tùy theo căn cơ chúng sanh sai khác, Ðức Phật nói ra vô lượng Pháp môn không đồng. Khi nói thấp, khi nói cao, từ dễ lần đến khó, đem gần tỉ dụ xa. Chung qui chỉ hướng về một mục đích duy nhất là làm cho chúng sanh tự giác ngộ bản tánh sáng suốt của mình.

Trong kinh Bách Dụ, Phật đã dùng những chuyện xưa để thí dụ cụ thể sự dại dột mê lầm chung của chúng ta. VQ xin giới thiệu một vài đoạn:
1. Người ngu ăn muối
Thuở xưa có một người ngu đến nhà bạn thăm, chủ nhà mời ở lại dùng bữa cơm đạm bạc. Chàng chê canh lạt không ngon. Chũ nhà bèn thêm một chút muối, chàng ăn cảm thấy ngon lành.
Chàng tự nghĩ:
- Canh ngon là nhờ muối thêm vào, dùng ít còn vậy, nếu dùng nhiều chắc chắn ngon đặc biệt.
Thế rồi, chàng xin chủ nhà một chén muối bỏ trong miệng nuốt hết! Vì chất muối mặn kinh hồn, chàng cảm thấy gần như sắp chết, bèn vội vàng móc họng cho mữa muối ra. (hết trích)
Lời Bàn: Kinh là kho tàng vô giá, đưa con người đến an lạc, giải thoát, Niết-bàn. Thế nhưng trong rất nhiều bài kinh, Đức Phật dạy giáo pháp như chiếc bè dùng để qua sông. Chúng ta có thể thấy lời tuyên bố này trong kinh Kim cang thuộc văn hệ Bát-nhã: “Nhất thiết Tu-đa-la như tiêu nguyệt chỉ”, tạm dịch: Hết thảy kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng. Đức Phật nhấn mạnh hơn: “Nhữ đẳng Tỳ-kheo, tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp”. Nghĩa là: Này các Tỳ-kheo, các ông nên biết giáo pháp của Ta giống như chiếc bè đưa người qua sông; Chánh pháp còn xả, huống gì phi pháp. Dân gian thường nói, qua sông ắt phải lụy đò. Bởi nhớ ơn chiếc thuyền đưa người sang sông, nên người lên bờ rồi mà lòng vẫn còn luyến thương, tiếc nuối. Đó là tình cảm thường ngày, người đời ai cũng vậy.
Nhưng ở đây Đức Phật tỏ một thái độ cương quyết để người học Phật cần phải phân định rõ ràng, đâu là phương tiện, đâu là cứu cánh. Do có nhiều người lầm tưởng phương tiện là cứu cánh nên chấp vào phương tiện mà bỏ mục tiêu. Nhiều người tụng kinh hàng ngày, trì kinh và lạy kinh nhưng không hiểu kinh nói gì, lại chấp rằng mình tụng mấy vạn biến, lạy mấy bộ kinh rồi khoe khắp thiên hạ để chứng tỏ mình có tu. Mà tụng kinh, trì kinh để hiểu nghĩa lý lời dạy của Phật trong kinh rồi thực hành theo mới đúng là hành giả tu học Phật chơn chánh. Thành ra, kinh Kim cang dùng phủ định biện chứng của mình để đập vỡ các khái niệm chấp thủ của chúng sanh. Cú đập vỡ khái niệm này có thể làm rúng động những người bình thường, nhưng đó là tông chỉ của người học đạo chơn chánh. (theo Thích Trung Định)
Có thể là hình ảnh về đàn hạc và văn bản
Tất cả cảm xúc:
6

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2024

+ SẮC - KHÔNG Bất Dị. Bài 7. Thế nào là SẮC chẳng khác KHÔNG. Đáp:

Kính các Bạn. Với Ý Nghĩa "SẮC chẳng khác KHÔNG", trong Tâm kinh Bát Nhã. Có 2 phương diện:
1/. Nếu dùng Trí Thông minh của thế gian, lấy Ý Thức, não bộ để suy lường thì không thể nào thấu triệt được.
2/. Người tu hành dùng Trí Không (Trí biết các Pháp Không) để quán, thời mới biết SẮC chẳng khác KHÔNG.
- Quán như thế nào để biết ?
Đáp: Quán .- Các Pháp không thể tự có, mà do các duyên hội hợp mà có.
Trung Quán Luận. Tổ long Thọ nói:
............Nhân duyên sở sanh pháp
Ngã thuyết tức thị không
Diệc danh vi giả danh
Diệc danh trung đạo nghĩa.
nghĩa:
Nhân duyên sanh các pháp
Ta nói tức là không
Cũng gọi là giả danh
Cũng gọi nghĩa Trung Đạo.
Ý là: Thấy các pháp do nhân duyên sanh, thể tánh đều không tức là quán không. Thể tánh các pháp là không, song khi duyên hợp giả có, tức là quán giả. Không giả đều buông, chỉ còn nhất tâm chân như, tức là quán Trung đạo đệ nhất nghĩa.
* Các Pháp Thực tướng đều là KHÔNG. Bản Thể Đồng là CHÂN NHƯ.
- Nên:
SẮC là tướng duyên hợp > Thực tướng đều là KHÔNG. Bản Thể Đồng là CHÂN NHƯ.
KHÔNG là tướng duyên hợp> Thực tướng đều là KHÔNG. Bản Thể Đồng là CHÂN NHƯ.
Kết luận : SẮC chẳng khác KHÔNG.
Thí dụ:
Có một quán cafe đặc tên là "Sen hồng".
Lại có một quán cafe đặc là "Không tên".
Như vậy dù là quán có tên hay quán không tên đều là quán cafe như nhau. Bởi vì do nhân như vậy, duyên như vậy mà có tên là "Sen hồng". Cũng do nhân như vậy, duyên như vậy mà có tên là "Không tên".
Tóm lại: Muôn Pháp Bất Dị.- Nghĩa là không có sai khác vì đều từ bản thể Chân Như mà huyễn hiện.
như Tổ dạy: " Tất cả các pháp chỉ nương nơi vọng niệm mà có sai khác. Nếu lìa vọng niệm (tức lìa ý thức, não bộ suy lường) thời không có tướng của bất cứ cảnh giới nào. Cho nên tất cả các pháp, ngay trong bản chất, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên. Rốt ráo bình đẳng. Không có đổi khác. Không thể phá hoại. Chỉ là cái nhất tâm, cho nên gọi là Chân Như”.
* Các Bạn lưu ý: lìa ý thức, não bộ suy lường, không phải là tử vong, vô tri. Mà vẫn có Quán Trí, có trí Không, có Tánh giác.- Đó là Trí Huệ Bát Nhã Ba la mật.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
1

+ SẮC - KHÔNG Bất Dị. Bài 6. Pháp học BN thứ III. Thực tướng Bát nhã.

Do quán chiếu nên thấy được Thật tướng của Vạn Pháp là như thị .- Có 10 phương diện Như Thị: : “như thị tướng” , “như thị tính” , “như thị thể” , “như thị lực” , “như thị tác” , “như thị nhân” , “như thị duyên” , “như thị quả” , “như thị báo” , và “như thị bổn mạt cứu cánh đẳng” .
Thập Như Thị bổn lai là không (Pháp thể bổn không.- Đây là cái KHÔNG TUYỆT ĐÃI.- Lìa suy nghĩ, phân biệt). Cái bổn lai không đó chính là Thật tướng Bát nhã.
Thực hành QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ liên tục, đủ thời tiết nhân duyên ta nhận ra được THỰC TƯỚNG BÁT NHÃ.
Nói nhận nhưng không có cảnh giới sở nhận cũng không có chủ thể năng nhận. Thực tướng Bát nhã cũng chính là thực tướng của vạn pháp. Đó là chỗ không thể dùng lời nói để diễn tả, không thể dùng thức phân biệt mà thấu được. - Đây là cảnh giới Sắc Không Tuyệt Đãi, là Nhất Chân Như .
Tổ Mã Minh nói về Thật Tướng Nhất Chân Như: " Chân Như của tâm tức là cái thể của pháp môn “Nhất pháp giới đại tổng tướng”. Đó là cái bất sanh bất diệt của tâm tánh, Tất cả các pháp chỉ nương nơi vọng niệm mà có sai khác. Nếu lìa vọng niệm thời không có tướng của bất cứ cảnh giới nào. Cho nên tất cả các pháp, ngay trong bản chất, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên. Rốt ráo bình đẳng. Không có đổi khác. Không thể phá hoại. Chỉ là cái nhất tâm, cho nên gọi là Chân Như.”
Trí Tuệ mà tương ưng NHƯ, tức là Chân Trí, là Trí Không, là Trí Tuệ Bát Nhã Ba la mật.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đền thờ và văn bản cho biết 'Pháp Giới Nhất Chân'
Tất cả cảm xúc:
2

+ SẮC - KHÔNG Bất Dị. Bài 5. Quán Chiếu BN tt

- Lưu ý 3: Khi tu Quán Tánh Không, cần biết rõ nên tu Pháp Không nào, để tránh rơi vào Thanh Văn Đạo.
Trong các con đường đến Phật Đạo (để có được trí Không), có Nhị Thừa, gồm Thanh Văn Đạo + Duyên Giấc Đạo.- Chỉ là Hoá Thành (chưa rốt ráo), mà Mà Bồ Tát Đạo mới đến được Bát Nhã BLM.- Trí Không thật sự. Bởi vậy Hành giả nên nhắm đúng đích đến.
* Chỗ khác nhau về Pháp Không giữa Thanh Văn và Đại Thừa là nơi Pháp Quán Không.
+ Thanh Văn quán Tích Không,
+ Đại Thừa Quán Thể Không.
+ Tích Không Quán:
Cũng gọi Tích sắc nhập không quán, Tích giả nhập không quán, Tích pháp nhập không quán, Sinh diệt quán, Chuyết độ quán, Tích pháp quán. Đối lại: Thể không quán. Chỉ cho pháp quán phân tích các pháp để vào không. Tức phân tích những yếu tố cấu thành thân người như 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới... và chia chẻ các sắc pháp đến cực vi (đơn vị nhỏ nhất cấu thành vật chất); hoặc phân tích tâm pháp đến 1 niệm (60 sát na), rồi dựa theo kết quả của sự phân tích này mà quán xét lí Nhân không, Pháp không. Đây là pháp quán Không của Tiểu thừa.- (Thanh Văn Đạo)
(Từ điển Phật Quang)
+ Còn Thể không quán: (cũng gọi Thể giả nhập không quán, Thể pháp nhập không quán, Thể pháp quán, Xảo độ quán, gọi đủ là Thể sắc nhập không quán) thì chẳng nhờ vào kết quả phân tích, mà ngay nơi tự thân các pháp thấu suốt lí bản lai không, như mộng huyễn; tức các pháp tuy có đó nhưng thực chất là không. Đây là pháp quán Không của Đại thừa. Theo phán giáo của tông Thiên thai, trong 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên thì Tam tạng giáo thực hành Tích không quán; còn Thông giáo thì thực hành Thể không quán. [X. luận Thành thực Q.12; phẩm Vô sai biệt trong luận Phật tính Q.4; Duy ma kinh huyền sớ Q.2; Trung luận sớ kí Q.1, phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.3, hạ]. (xt. Đãn Không, Thể Không Quán).
(Từ điển Phật Quang)
* Dùng Thể Không Quán để chiếu kiến các pháp trên, mới thấy được Tự Tánh Không.
* Nếu chỉ dùng Tích Không để quán các pháp trên, thì chỉ đến được Thanh Văn quả (Alahan).
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
2

+ SẮC - KHÔNG Bất Dị (không khác nhau) Bài 4. Quán Chiếu BN tt

- Lưu ý 2/. "Tánh Không" chẳng phải là có 1 cái Tánh là KHÔNG (nếu hiểu vậy thì liền rơi vào Chấp Không, nêu trên).- Mà là Các Pháp đều KHÔNG CÓ TỰ TÁNH, nên là TÁNH KHÔNG.
Nếu chúng ta cho rằng Tánh Không, là các Pháp có một cái Tánh "cố định là KHÔNG", thì chúng ta rơi vào "cái Không " thuộc phạm trù đối đãi của phàm phu" cái Không thuộc ý thức suy lường này của phàm phu chúng ta cần nên loại bỏ, để tiến vào cái Không Bất Dị, và cái không Tuyệt Đãi của Bậc Thánh.
Kinh Bát Nhã, nói về Cái Không Bất Dị này, như sau:
"Tướng không của các pháp, không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không tăng không giảm" …
Nói TƯỚNG là thuận theo ngôn từ thế gian mà nói. Bởi đây vẫn là VĂN TỰ BÁT NHÃ. Vì là văn tự nên nó cho phép ta sử dụng ngôn từ phù hợp với ngữ điệu của thế gian để chúng sinh dễ nhận. Cái không mà ta nói đó, không phải bỏ sắc nhập không, không phải bỏ không nhập sắc, không phải là cái không duyên khởi cùng với sắc, mà là cái không “không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch …”. Nó không thuộc nhị biên phân biệt. Nó không phải là cái sinh của phàm phu, cũng không phải là cái diệt của Nhị thừa. Phi tất cả mà tức tất cả. Nó chính là thể tánh của tất cả pháp.
Kinh nói rằng:
"Cho nên, trong cái không đó, không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Không có nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không có nhãn giới cho đến ý thức giới. Không có vô minh cũng không có hết vô minh. Cho đến, không có già chết, cũng không có hết già chết. Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không trí cũng không đắc. Vì không có sở đắc, nên Bồ tát y nơi Bát nhã ba la mật đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, ly hẳn tất cả điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn".
Vì "KHÔNG" không thuộc nhị biên phân biệt (Sắc không đối đãi), nên cái ‘không’ mà tâm kinh nói đây, không những không có ấm, giới, nhập như hàng Nhị thừa đã chứng nghiệm, mà cũng không luôn pháp Tứ đế hay Thập nhị duyên sinh. Ngay cả cái gọi là trí, là chứng cũng không. Bởi phần thức ấm sâu xa là Alaida và Matna thảy đều không. Đây là mượn ngôn từ để nói về THỰC TƯỚNG BÁT NHÃ như Bát bất của luận Trung Quán, (trích...)
Nói chung, khi giải trừ Ý Thức, trầm tư vào Thiền quán, sẽ tiếp cận được Sắc Không Bất Dị, thấy được CHƠN KHÔNG - DIỆU HỮU, thấy được CHÂN KHÔNG mà Phật dạy ở Trí Không này.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'BÁT NHÃ TÂM KINH MA Ha BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất di sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.'
Tất cả cảm xúc:
2