Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2024

+ SẮC - KHÔNG Bất Dị (không khác nhau) Bài 3. Quán Chiếu BN tt - Lưu ý 1/. Chẳng nên CHẤP KHÔNG.

Khi tu Quán Không để đến Trí Không (Bát Nhã BLM) Hành Giả nên lưu ý:
1/. Chẳng nên CHẤP KHÔNG. (Chấp Không là Tà Kiến chấp).
1a) Học pháp "Không" & Chấp Không.
Người tu Quán Không. Khi thấy các Pháp đều Không, liền khởi chấp: Không có tội, không có phước, không nhân, không quả v.v... liền rơi vào Chấp Không.
Kinh dạy: - Nguồn cội các pháp là không có tự tánh. Không tự tánh thì không phải có nghĩa là Không có các pháp, mà là các pháp giả có . Nếu chấp cái Không ấy thì rơi vào Đoạn kiến Không, nếu chấp Đoạn kiến Không thì là Tà kiến. Do vậy phải quán Không Không. (hết trích)
Muốn loại trừ "Chấp Không", phải nên quán Không không.
ĐT ĐL dạy:
- Không Không là nói các pháp là NHƯ. Như là BẤT SANH, BẤT DIỆT, TỊCH DIỆT CHÂN NHƯ, LÀ UYÊN NGUYÊN VẮNG LẶNG BẶC NGÔN NGỮ SUY LƯỜNG. (hết trích)
Trong ĐT ĐL có dạy về Quán Không & Chấp Không. Như sau:
* Người tà kiến chấp Không,và Người Quán Không khác nhau chỗ nào ?
LUẬN:
....... Hỏi: Nói "Các pháp tánh thường tự Không như vậy, sao chẳng bị đọa về tà kiến" ?
....... Đáp: Người vô trí chấp chẳng có tội, chẳng có phước, chẳng có đời sau, lại chấp tự sanh rồi tự diệt như cây cỏ, đất đá. Vậy là tà kiến. vì sao ? Vì họ chẳng quán được "nội thân, ngoại thân cũng đều là tự tướng Không cả".
....... Người theo tà kiến thường làm các việc ác, đoạn các thiện căn.
....... Trái lại, người tu quán Không chẳng khởi tâm chấp; đến việc thiện còn chẳng chấp, huống nữa là khởi tâm làm việc ác.
....... Người theo tà kiến phá "Không Môn" về cả 2 mặt: Nhân và Quả. Có người chỉ phá Quả mà không phá Nhân, có người phá cả nhân lẫn quả. ví như người nói "Không nhân, không duyên, không tội, không phước, tất cả đều là Không cả", là người phá cả nhân lẫn quả vậy.
....... Hỏi: Người quán Không cũng nói tất cả đều Không. Như vậy, giữa người tà kiến và người Quán Không đâu có khác gì ?
....... Đáp: Người theo tà kiến cho rằng:"Các pháp đoạn diệt rồi thành Không". Trái lại, người tu theo Đại Thừa thì biết rõ "Các pháp đều ở nơi thể Chân Không, chẳng thể phá; chẳng thể hoại. Như vậy 2 bên hoàn toàn khác nhau, như lửa và nước, như cam lồ và độc dược vậy. Lại nữa, thể Chân không chẳng phải Có, mà cũng chẳng phải Không. Đây là "Không Tam Muội"; còn người theo tà kiến tuy cũng nói Không, mà chẳng phải thật Không vậy. (hết trích)
1b). Nhập Pháp Không: Muốn vào được Pháp Không mà không bị "Chấp Không", thì gọi là "Nhập Pháp Không".
ĐT ĐL dạy:
....... Người tu quán Không, do trước đã có tu bố thí, trì giới, thiền định, nên tâm được nhu nhuyến; lại do các kiết sử đã mỏng, nên mới vào được Chân Không.
....... Trái lại, người vô trí chấp không là do tà kiến, chẳng phải do trí huệ mà biết được Tánh Không của các pháp vậy. Chỉ ví như người nghe nói "muối làm tăng thêm mùi vị của thức ăn, có muối các thức ăn mới trở nên thơm ngon hơn", rồi bốc cả nắm muối bò vào nồi canh, khiến chẳng sao ăn được vậy.
....... Người vô trí, khi nghe nói "Không môn" là "Giải Thoát Môn" liền sanh tâm giải đãi, chẳng chịu tu các công đức, mà lại muốn được "Pháp Không", khiến phải đoạn mất thiện căn.
....... Người vào được 3 Giải Thoát môn rồi, do biết được rõ nghĩa của Phật pháp, nên chẳng rơi vào đối đãi, ở nơi mọi sự việc đều được vô ngại, tức đã được Bát nhã Ba- la- mật rồi vậy.
....... Những người nào không rõ nghĩa Bát nhã Ba- la- mật mà vào trong Pháp môn A Tỳ Đàm, thì liền rơi ngay vào chấp Có, chấp Không; dẫn đến vào trong pháp môn Côn Lạc cũng là như vậy.
....... Trái lại, Bồ tát hành Bát nhã Ba- la- mật, rõ biết hết thảy các pháp là Vô tướng, mà cũng biết rõ hết thảy Tướng của các pháp, biết rõ hết thảy tướng đều là một, không khác. Nói rõ hơn, Vô tướng cũng là Nhất tướng vậy. (Như vậy gọi là Nhập Pháp Không)
(hết trích)
1c). Học pháp "Không" và nhập vào pháp "Không" có gì khác nhau ?
ĐT ĐL dạy:
LUẬN:
.......Hỏi: Học pháp "Không" và nhập vào pháp "Không" có gì khác nhau chăng ?
.......Đáp: Lúc ban đầu phải học pháp "Không", rồi sau đó mới được vào pháp "Không". Học "Không" là phương tiện để nhập vào "Không". Khi đã nhập vào "Không" rồi, thì Bồ tát dụng "vô tướng" và "vô tác" để học và hành 37 phẩm trợ đạo cùng 3 giải thoát môn.
....... Tuy rằng 37 phẩm trợ đạo là pháp của Thanh Văn, nhưng đó cũng là đường dẫn vào Niết bàn, nên Phật dạy Bồ tát cũng phải học và hành các pháp đó.
....... Ngài Tu Bồ Đề dấy niệm rằng, " 37 phẩm trợ đạo là pháp dẫn đến Niết bàn. Như vậy, vì sao Bồ tát hành pháp ấy, mà lại chẳng tác chứng Niết bàn ? ".
....... Phật dạy: Bồ tát quán hết thảy các sắc pháp đều là không. Nhờ vậy mà thâm nhập được vào thâm thiền định, khiến tâm chẳng loạn động, được trí huệ vô ngại để hành các thiện pháp làm lợi lạc cho chúng sanh. Thế nhưng, Bồ tát chẳng chấp pháp không, chẳng tác chứng đạo Nhị thừa, chẳng ái trước vô ngã, thẳng vào Niết bàn, mà chẳng thấy có pháp Niết bàn để tác chứng.
....... Bồ tát biết rõ, nếu chia chẻ sắc pháp, thì sẽ dẫn đến cực vi trần. Thế nhưng, Bồ tát chẳng chấp cực vi trần, vì biết rõ sắc pháp dẫn đến cực vi trần đều là tự tướng không. Cho nên ở nơi pháp vô sắc cũng chẳng lưu niệm, thẳng vào "Không", mà chẳng tác chứng "không". Phật dạy như vậy, nhưng ngài Tu Bồ Đề chưa thấu triệt ý của Phật, nên hỏi : Bồ tát chẳng nên trú nơi pháp không, mà tác chứng. Như vậy, vì sao nói Bồ tát trú nơi pháp không, mà chẳng tác chứng ?
....... Phật dạy: Vì Bồ tát đã thâm nhập vào pháp tánh, nên chẳng tác chứng vậy.
....... Ví như người cắt cỏ tranh, nếu nắm quá chặt thì cạnh lá tranh có thể cắt đứt tay; trái lại, nếu khéo léo nắm nhẹ nhàng, nhanh nhẹn thì chẳng bị đứt tay. Cũng như vậy, người học pháp không mà chưa được vào pháp tánh, thì còn chấp pháp không, và còn thấy các tác chứng; trái lại, Bồ tát đã thâm nhập vào pháp tánh, nên biết rõ "pháp không" cũng là "không", Niết bàn cũng là "không", là chẳng có chỗ chứng (vô sở chứng).
....... Khi chưa vào pháp không, Bồ tát đã tự niệm rằng : Ta nên quán các pháp đều là tự tướng không, mà chẳng nên thủ chứng. Khi vào thiền định, ta chớ nên chuyên tâm nhiếp niệm nơi pháp không, là ta đã buộc tâm vào "không", chẳng thể nào thoát ly ra khỏi "không" được. Nếu chấp "không" như vậy, thì chẳng sao có thể nhiếp độ chúng sanh được. (hết trích)
Như vậy.- Chỗ khác nhau giữa: Học pháp "Không" và nhập vào pháp "Không" , là: Không Chấp Không và Không Chấp Chứng Đắc.
* Luận lại dạy: Không Chấp Không và Không Chấp Chứng Đắc.- Thì được Pháp Nhẫn.
(Trích - Phẩm 60. Học Không, Bất Chứng.)
1d). Không Chấp Không và Không Chấp Chứng Đắc.- Thì được Pháp Nhẫn.
Hỏi: Nếu nói “Các pháp từ vô thi đến nay vẫn thường Không, thì nay cũng là Không. Như vậy là ác tà kiên rồi. Vì sao lại cho là Pháp Nhẫn ”?
Đáp: Nếu quán các pháp rốt ráo là Không, mà tâm chấp tướng Không ây mới là ác tà kiến.
Nếu quán các pháp rốt ráo Không, mà tâm chăng chấp tướng Không ây là chăng sanh ác tà kiên. Như vậy mới gọi là Pháp Nhẫn.
Như bài kệ thuyết:
Biết tánh pháp thường Không,
Tâm cũng chẳng chấp Không,
Như vậy là Pháp Nhẫn.
Vô tướng vào Phật Đạo.
Khai mở cửa Tri huệ,
Quản Thật Tướng các pháp,
Giữ tâm không thối chuyển,
Không tùy theo các quán.
Trí huệ quán như vậy,
Lợi lạc cho chính mình,
Cùng lợi cho tất cả,
Mới thật là Pháp Nhẫn.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đền thờ và văn bản cho biết 'LỜI PHẬT DẠY VỀ CHỮ NHÂN'
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 3 người khác

SẮC - KHÔNG Bất Dị (không khác nhau) Bài 2.- Pháp học Bát Nhã, thứ II.- Trí Không & Quán Chiếu Bát Nhã:

(2/) Sự quán chiếu Bát-nhã. Là Pháp Thiền Quán để lột bỏ những tấm màn Vô Minh do Ý Thức vọng khởi ra ấy, đang ngăn che chúng ta với thực tại của mọi sự vật là tánh Không, bởi vì sự vật thì từ vô thủy đến vô chung vẫn chính là tánh Không: Trí biết các Pháp Tánh Không- Tức là Trí Không. - Dùng Trí Không để quán chiếu các Pháp. Gọi là Quán Chiếu Bát Nhã.
Về Quán Chiếu Bát Nhã này. Kinh điển Nikaya có nói đến:
+ Tưởng Tri, Thắng Tri và Liễu Tri.
- Tưởng Tri là thấy biết bằng Ý THỨC.
- Thắng Tri là thấy biết bằng Thiền Quán. Nên sự thấy biết rất thù thắng hơn Tưởng Tri.- Đây mới là Quán Chiếu Bát Nhã.
Hỏi: Thiền Quán như thế nào để đến được "Trí Không" ?
Đáp: Kinh Bát Nhã và ĐT ĐL dạy: Người tu quán 18 Không sẽ thấy được TÁNH KHÔNG của các Pháp. Thấy được Tánh Không của các Pháp thì có được Trí Không (Trí biết các Pháp là Không).
+ Lưu ý khi tu Quán Không trong Bát Nhã BLM :
Khi tu Quán Tánh Không trong Bát Nhã BLM, hành giả nên lưu ý 3 điều:
1/. Chẳng nên CHẤP KHÔNG. (Chấp Không là Tà Kiến chấp).
2/. "Tánh Không" chẳng phải là có 1 cái Tánh là KHÔNG (nếu hiểu vậy thì liền rơi vào Chấp Không, nêu trên).- Mà là Các Pháp đều KHÔNG CÓ TỰ TÁNH, nên là TÁNH KHÔNG.
3/. Khi tu Quán Tánh Không, cần biết rõ nên tu Pháp Không nào, để tránh rơi vào Thanh Văn Đạo.- Vào Thanh Văn thì không đến được Ba la Mật.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 2 người khác

SẮC - KHÔNG Bất Dị (không khác nhau) Bài 1. Ba Tầng Bậc Bát Nhã. - I/. Văn Tự Bát Nhã

Nhân có người bạn đàm đạo về vấn đề: Thế nào là SẮC chẳng khác KHÔNG.- Trong đoạn Bát Nhã Tâm kinh : "Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc" ? VQ xin trình kiến giải như thế này:
Kính các Bạn:
Gần như phật tử nào cũng biết đến bài Bát Nhã Tâm Kinh. - Đây là kinh nói về Trí Tuệ, nhưng không phải là tâm trí suy nghĩ thường tình của người đời, mà nói về cái Trí Huệ “đến bờ kia” (Ba la mật). Nó là cái trí có thể soi thấu được cội nguồn của mọi hiện tượng, sự vật v.v… trên thế gian. Bài kinh này là ngọn đuốc dẫn đường cho một hành giả tu Phật.
Khi học về Lý Bát Nhã của Phật Pháp. Chúng ta thường nghe nói có 3 Pháp học về Bát Nhã, đó là:
1/. Văn tự Bát Nhã.
2/. Quán Chiếu Bát Nhã.
3/. Thật Tướng Bát Nhã.
Nhưng thật ra - phân làm ba là do tâm của chúng sinh. Do căn cơ chúng sinh cạn mỏng, chưa thể một bước vào thẳng QUÁN CHIẾU hay THỰC TƯỚNG BÁT NHÃ, nên phải mượn ngôn từ chuyển tải 1 mà thành 3. Ý nghĩa như sau:
+ Pháp học Bát Nhã, thứ I
(1/.) Văn tự Bát-nhã: Là sự nghiên cứu ở cấp độ ý thức, nghĩa là suy nghĩ, phân biệt bằng bộ não của chúng ta, về những bản văn của hệ thống Kinh Bát-nhã.
Sự nghiên cứu này chưa đủ để đi vào Bát-nhã, mà phải thực hành Bát-nhã. Quán chiếu Bát-nhã là sự thực hành Bát-nhã để đạt đến thật tướng của Bát-nhã, tức là tánh Không.- Là đích đến của Hành Giả (người tu Phật).
Để chỉ hướng về Tánh Không. HT. Thích Thanh Kiểm, có dạy về 3 Tầng Bậc SẮC - KHÔNG , là: 1. Đối Đải. 2. Quán Chiếu 3. Thật Tướng.
a). SẮC - KHÔNG ĐỐI ĐẢI: Nghĩa là do Ý THỨC phân biệt mà phàm phu thấy Sắc (CÓ) đối lập với KHÔNG (Không Có). Đây là tầng bậc thứ I của Thế Gian Phàm phu, và là ở Tầng đầu 1/. Văn tự Bát Nhã. Ở tầng bậc này. Vì là Pháp Đối Đải, nên chúng ta chỉ thấy SẮC khác KHÔNG. - Không thể lẫn lộn. Thí dụ: Chúng ta nói "Tôi KHÔNG CÓ tiền" không thể nào lẫn lộn với "Tôi CÓ tiền". - Nếu lẫn lộn, thì là già cả lẫn lộn, hoặc là người bị mất trí !.
* Cái "Không" (trong vòng Đối Đải) này. Chưa phải là Tánh Không, mà Trí Huệ Bát Nhã chỉ bày.
Có thể là hình vẽ ngẫu hứng về võ thuật
Tất cả cảm xúc:
3

* Con người do ai sanh ? Có Ngã không ? Bài 10 - Chơn Ngã - 25 cõi đều có.(Trả lời và kết thúc bài viết về NGÃ)

Để trả lời câu hỏi: Con người do ai sanh ? Có Ngã không ?
Đáp:
* Với Giáo Lý Đạo Phật. Con người do Nhân Duyên sanh.(mà không phải do ai tạo ra cả). Bản thể của Duyên là Tánh Không.
* Với Giáo Lý Đạo Phật. TẤT CẢ PHÁP VÔ NGÃ. Nghĩa là không có cái Huyễn Ngã, Đại Ngã, Tiểu Ngã theo quan niệm sai lầm của Ngoại Đạo và Phàm phu vô minh. Không có cái Ngã do 5 Uẩn giả hợp.
* Nhưng cũng với Giáo Lý Đạo Phật. TẤT CẢ 25 CÕI ĐỀU CÓ NGÃ. Mà là Chơn Ngã.- Như bài kinh Đại Bát Niết Bàn Phật dạy sau:
kinh văn: Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Chúng sanh trong hai mươì lăm cõi có NGÃ không ?
Đức Phật dạy: Này Thiện Nam tử ! NGÃ đồng nghĩa với NHƯ LAI TÀNG. NHƯ LAI TÀNG đồng nghĩa với PHẬT TÁNH. Tất cả chúng sanh đều có PHẬT TÁNH ấy. Do vậy, chúng sanh trong hai mươi lăm cõi đều có NGÃ. NGÃ hay PHẬT TÁNH là cái vốn có của chúng sanh trong hai mươi lăm cõi; vậy mà từ lâu chúng sanh bị vô minh phiền não ngăn che lấp kín nên không nhận biết. Giống như cô gái nghèo, trong nhà đã sẵn có kho tàng ngọc báu, vàng ròng chôn dấu từ lâu mà không tự biết. Trong một dịp may, nhờ có người khách thông minh nhận biết chỉ bày cách khai quật, kho tàng châu báu hiển lộ ra, cô gái vui mừng khôn xiết, rất đỗi ngạc nhiên và kính trọng người khách tài ba đã làm việc hy hữu giúp mình !
Phật dạy: Này Ca Diếp ! Phật tánh của chúng sanh cũng như vậy. Tất cả chúng sanh chẳng nhận thấy được, có khác gì cô gái nhà nghèo kia có kho vàng mà không biết. Nay Như Lai chỉ bày Phật tánh sẵn có của tất cả chúng sanh đang bị phiền não vô minh che lấp. Như Lai chỉ bày kho báu giác tánh vốn có của chúng sanh. Giác tánh đó, chính là Phật tánh. Chúng sanh nhận thấy được, lòng rất vui mừng, trân trọng quy ngưỡng Như Lai.
Người khách thông minh giúp cô gái chỉ là người biết sự thật đã có. Như Lai chỉ bày Phật tánh của chúng sanh cũng chỉ là người chỉ ra một sự thật vốn có của chúng sanh mà thôi !
Phật dạy: Ngã, Như Lai tàng, Phật Tánh hay Chơn Như đều đồng một nghĩa. Do vậy chúng sanh ở 25 cõi đều có đầy đủ Như Lai tàng, Phật Tánh hay Chơn Như nên chúng sanh 25 cõi đều có Ngã.
Hổi: Thế thì vì sao 25 cõi chúng sanh đều bị Vô thường, khổ, bất tịnh chi phối ?
Đáp: Đó là vì chúng sanh vị vô minh che khuất chánh kiến, không thấy được vô thường nhưng vẫn là thường.
Vì lầm chấp Ý thức là Ngã nên khi ý thức tan rã thì cho là bị vô thường hoại diệt, mà không thể biết rằng ý thức đây hoại diệt thì lại sanh khởi hình thành Ý thức khác lại tiếp tục tái sanh, mà Như Lai Tàng, Phật Tánh vẫn THƯỜNG trụ không theo sanh diệt.
Chơn Ngã không phải là Ý thức. Chơn Ngã là Như Lai tàng, Phật Tánh hay Chơn Như nên chúng sanh 25 cõi đều có Ngã.
Vì chúng sanh 25 cõi có Chơn Ngã, nên cũng có Chơn Thường, Chơn Lạc, Chơn Tịnh.
THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH là NHƯ LAI TÁNH.
Hỏi: Vì sao lại lúc thì Ngã, lúc thì Vô Ngã ?
Đáp: Phật dạy.- NGÃ- VÔ NGÃ TÙY DUYÊN MÀ NÓI:
Hỏi: Vì sao Phật lại bảo ngài Ca Diếp rằng “Nói ngã làchấp một bên, nói vô ngã cũng ỉà chấp một bên. Phải ly cả hai bên mới vào được Trung Đạo Sao nay ỉại nói vô ngã là thật, nói ngã là phương tiện?
Đáp: Vì hai hạng người sau đây mà nói “vô ngã”. Đó là:
- Hạng người chấp tướng vô ngã.
- Hạng người phá ngã.
Người không chấp “vô ngã” mới là người xả ly nên Phật dạy: “Trước nói ‘vô ngã’ nhằm phá chấp một bên, sau cũng nói ‘vô ngã’ nhưng đó là nghĩa Trung Đạo, là pháp ấn vậy”.
Lại nữa, có hai nhân duyên mà Phật nói về ngã và vô ngã.
Đó là:
- “Ngã” chỉ là tùy thuận thế gian mà nói.
- “Vô ngã” là y theo Đệ Nhất Thật Tướng mà nói.
Như vậy, tùy theo trường hợp mà Phật nói “ngã”, hoặc nói “vô ngã” cũng chẳng có lỗi lầm gì cả.
(trích ĐT ĐL)
Kinh Đại Niết Bàn. Phật dạy:
Này Ca Diếp ! Như Lai cũng như vậy. Nhằm hóa độ chúng sanh, Như Lai dạy tu quán niệm pháp vô ngã. Nhờ quán niệm pháp vô ngã mà dứt được ý niệm chấp ngã nên thọ dụng được Niết bàn. Nhằm trừ bỏ những vọng kiến trên đời, Như Lai chỉ dạy pháp xuất thế gian. Chỉ rõ quan niệm chấp ngã của người đời là hư vọng, không chân. Tu quán niệm pháp vô ngã để thân tâm được nhẹ nhàng thanh thoát. Lời dạy đó của Như Lai, giống như cô gái kia nhằm chữa bệnh cho con, lấy chất đắng màu đen bôi lên vú...Như Lai vì muốn dạy tư duy quán niệm tánh "KHÔNG" của vạn pháp nên nói các pháp VÔ NGÃ. Cô gái khi rửa sạch vú rồi, gọi con đến bú. Hôm nay Như Lai chỉ dạy Như Lai Tàng (có ngã) các Tỳ kheo chớ có sanh lòng kinh nghi sợ sệt mà nên phân biệt nhận rõ Như Lai Tàng là sự thật. Đó chính là tánh chân ngã, chân tịnh, chân thường, chân lạc của vạn pháp.
Vô Ngã hay Ngã, người đệ tử Phật đều phải học kỷ, tu thật.
Hòa Thượng Thích Từ Thông làm bài trực chỉ:
Giáo lý của đạo Phật có: vô tự giáo, bán tự giáo và mãn tự giáo. Khi luận về vô ngã hay ngã phải đặt mình vào loại hiểu biết văn tự nào trong ba thứ văn tự ngôn giáo ấy.
Vô ngã là Như Lai dạy. Ngã cũng là lời Như Lai dạy. Dạy giáo lý "vô ngã", Như Lai dạy "lớp bán tự" cho Nhị thừa. Đại thừa Bồ tát học "mãn tự giáo" phải biết Ngã chính là Như Lai Tánh thường trụ không biến hoại. Như Lai dạy "vô ngã" cho hàng phàm phu, Nhị thừa, trong lúc "bệnh chấp" của họ còn tác động âm ỉ chưa tiêu.
Như Lai hành sử cách giáo hóa đó như người mẹ tự bôi đen vú mình và thoa chất đắng cay để cho con đừng đòi bú trong lúc thuốc trong bụng bé uống chưa tiêu.
Thuốc đã tiêu hóa bụng của bé ổn, người mẹ rửa sạch vú kêu con cho bú trở lại, vì sữa mẹ rất tốt con ạ !
Kinh Đại Bát Niết Bàn Như Lai dạy NGÃ, phải biết cho rõ.
Có NGÃ. NGÃ là PHẬT TÁNH. PHẬT TÁNH là NGÃ. NGÃ TÁNH tức là NHƯ LAI TÁNH thường trụ không biến hoại. Thường, Lạc, Ngã, Tịnh cũng là tánh chân thực không biến hoại như vậy.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
1