Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2024

* Con người do ai sanh ? Có Ngã không ? Bài 9 - Chân Như - Phật Tánh của Đạo Phật.- Khác với Đại Ngã của ngoại đạo thế nào ?

ĐT ĐL có đoạn:
Ngoại Đạo khác Phật Đạo:
như sửa trâu và sửa lừa, tuy đồng mà cũng khác. Sửa trâu có thể biến chế ra chất Tô lạc (chất bơ), còn sửa lừa thì chẳng được như vậy.
.......Pháp Phật và Pháp Ngoại đạo đều dạy chúng sanh "Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm", đều dạy nhiếp tâm tu Quán và tu Định, nhưng Đạo quả thì rất sai khác. Vì sao ? Vì Pháp Phật dạy chúng sanh dùng TRÍ Huệ Bát nhã quán chiếu. Còn hàng Ngoại đạo, do bị tà kiến chấp ngã trói buộc, nên chẳng sao tự giải thoát được.
* hoại tướng - bất hoại tướng .
.......Pháp Ngoại đạo là hoại tướng, ví như da trâu để lâu ngoài trời, dầm mưa giãi gió ắt phải bị hủy hoại. còn pháp Phật là bất hoại tướng, giống như hư không, chẳng có gì có thể phá được vậy.
.......Pháp Phật chẳng chấp Thường, nên chẳng bị rơi vào Thường kiến. Vì sao ? Vì nếu chấp Thường thì chẳng có tội, chẳng có phước, chẳng cần phải lánh nạn, cũng chẳng cần phải tìm phước.
.......Phật pháp cũng chẳng chấp Đoạn, nên chẳng rơi vào Đoạn Kiến. Vì sao ? Vì nếu Chấp Đoạn thì chẳng có tội, chẳng có phước, chẳng có đời sau nên cũng chẳng cần tu hành, chẳng cần giữ giới; ví như da trâu, sau khi đã bị mưa gió hủy hoại, chẳng còn gì nữa cả.
....... Hỏi: Thiền Định, Trí huệ của hàng Ngoại Đạo như thế nào ?
.......Đáp: Ngoại đạo dùng tâm chấp ngã mà vào Thiền Định nên khởi sanh nhiều ái mạn. Do đắm trước Thiền vị nên chẳng có Thật Trí Huệ, Thật Thiền Định.
....... Hỏi: Ngoại đạo cũng quán Không. Như vậy tạo sao họ chẳng có được Thật Trí Huệ ?
.......Đáp: Ngoại đạo tuy có quán Không, mà tâm họ còn chấp tướng Không, nên chẳng có được "Ngã Không" và "Pháp Không". Bởi nhân duyên vậy, nên họ chẳng có được Thật Trí Huệ.
(trích ĐT ĐL)
Ở đây xin nêu một số khác biệt về Chân Như- Chân Ngã của Đạo Phật với Thần Ngã của Ngoại Đạo.
I) Phật Tánh chẳng phải là Đại Ngã:
Phật Tánh chẳng phải là Đại Ngã. Phật Tánh là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Chân lý này được nói đến trong Kinh Đại Bát Niết Bàn. Theo Độc thần giáo, Đại Ngã là Thượng đế, là toàn năng. Phật Pháp chủ trương rằng không có nhân vật nào hoặc cái gì là toàn năng.
II) Đại Ngã sinh Tiểu Ngã, Phật Tánh chẳng sinh: Phật Tánh chẳng sinh ra Phật Tánh. Phật Tánh chẳng sinh ra Đại Ngã. Phật Tánh chẳng sinh ra Tiểu Ngã. Phật Tánh là liễu nhân chẳng phải sanh nhân. (liễu nhân : ví như đèn soi sáng các vật, sanh nhân : ví như hạt giống sanh ra cây cỏ).- Chân lý này được nói đến trong Kinh Đại Bát Niết Bàn.
III) Phật Tánh Vô sinh Vô diệt:
Phật Tánh chẳng sinh , chẳng diệt Chân lý này được nói đến trong Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận : Tất cả chúng sinh Đều có Phật Tánh Xưa nay chẳng sinh Xưa nay chẳng diệt . . .Chân lý này cũng được nói đến trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, vì Phật Tánh là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh == > Phật Tánh chẳng sinh , chẳng diệt.
IV) Phật Tánh chẳng phải là Tiểu Ngã, chẳng phải là Linh hồn:
Phật Tánh chẳng phải là Tiểu Ngã, vì Phật Tánh chẳng sinh , chẳng diệt Phật Tánh chẳng phải là Linh hồn : Một trong những khác biệt chính yếu giữa Phật Pháp và các đạo chủ trương có Đại ngã là : Họ chủ trương Linh hồn bất biến còn Phật Pháp thì ngược lại. Mấu chốt vấn đề là ở chỗ : Theo PG: Linh hồn không bất biến, chớ chẳng phải là không có Linh hồn. Phật Tánh là Chân Tâm- Linh hồn không bất biến là Vọng Tâm. (còn Theo Độc thần giáo, Tiểu Ngã là Linh hồn thường cửu). (Linh hồn , Thượng đế, Thiên đàng đều không phải là thuật ngữ riêng của Độc thần giáo.)
V) Linh hồn , tức vọng tâm , đi luân hồi:Theo PG - Linh hồn không bất biến .Chính vì Linh hồn không bất biến nên Linh hồn có thể đi luân hồi.
mà Linh hồn là vọng tâm, bị luân hồi sanh tử.
VI) Vô Ngã =’ chẳng phải là Ta’= ‘chẳng phải là Ngã’:
Vô Ngã chẳng có nghĩa là "Không có Ngã" , mà là"chẳng phải là Ta" . Từ Vô Ngã đến Chân Ngã _con đường hợp lý và hiển nhiên !
Trong Kinh Vô Ngã Tướng (của Nhị Thừa), Phật đã lập đi lập lại lời giải thích Vô Ngã :{{ - Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôị }}.-Rõ ràng rằng Vô Ngã là "chẳng phải là Ta". Vọng Tâm là Vô Ngã vì Vọng Tâm chẳng phải là ta. Cái "chẳng phải là ta" này Phật gọi là Vô Ngã. Vọng Tâm là Vô Ngã. Cái mà chúng sinh tưởng là ta, thật chẳng phải là ta. Cái mà chúng sinh gọi là Bản Ngã, Phật gọi là Vô Ngã. Thực trạng của (Vọng) Tâm là Vô Ngã _là ‘chẳng phải là ta’
VII) Phật Tánh chẳng hề bị ô nhiễm:
Phật Tánh chẳng hề bị ô nhiễm; bởì vì Phật Tánh là Thường , Lạc, Ngã , Tịnh ; là bất biến . Phật Tánh không hề bị ô nhiễm. Đây là định lý sống còn của Thiền Tông
VIII) Phật Tánh là Đại Bình Đẳng, Phật Pháp là Đại Bình Đẳng:
Phật dạy về Bình Đẳng, như sau: Tất cả chúng sinh Đều có Phật Tánh. Xưa nay chẳng sinh. Xưa nay chẳng diệt . . .
Phật Tánh chẳng hề sinh và chẳng bao giờ diệt . ( Vì Phật Tánh chẳng hề sinh cho nên sẽ chẳng bao giờ bị diệt ). Phật Tánh của tất cả chúng sinh đều chẳng sinh , chẳng diệt. Đó là Đại Bình Đẳng !
Phật Tánh của tất cả chúng sinh đều bình đẳng với chư Phật, không khác : đều là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. (Kinh Đại Bát Niết Bàn ). Phật Tánh là Chân Ngã, Chân Ngã này có đặc tính Thường, Lạc, Tịnh.
Phật Tánh của tất cả chúng sinh đều bình đẳng với chư Phật. Chân Ngã chẳng phải là Đại Ngã cũng chẳng phải là Tiểu Ngã.(Đại Ngã Bất Bình Đẳng với Tiểu Ngã).- Phật Tánh là Đại Bình Đẳng. Do đó : Phật Pháp là Đại Bình Đẳng. Đối chiếu với các tôn giáo thuộc Độc Thần Giáo :
Trong Độc Thần Giáo , tin Ông Thần Duy Nhất (sang Việt Nam, Ông Thần Duy Nhất được gọi là Thượng Đế) thì được lên Thiên Đàng, không tin thì xuống hoả ngục mãi mãi . Linh hồn là vĩnh cửu : John Smith sẽ mãi mãi là John Smith, sẽ vĩnh viễn là đàn ông, sẽ vĩnh viễn là da trắng, sẽ vĩnh viễn là người dân Anh, sẽ mãi mãi là chúng sinh ; chỉ có Ông Thần Duy Nhất là độc tôn, là Ông Thần, là Duy Nhất.
Ông Thần Duy Nhất sinh ra tất cả chúng sinh ; chỉ có Ông Thần Duy Nhất là chẳng ai sinh ra hết. tất cả chúng sinh đều phụ thuộc vào một người . ( Còn một vấn đề nữa là : linh hồn do Ông Thần Duy Nhất sinh ra, như vậy, linh hồn có thể bị Ông Thần Duy Nhất diệt ! )
Độc Thần Giáo thật là Bất Bình Đẳng.
Xin nhắc lại :
Phật Tánh của tất cả chúng sinh đều chẳng sinh , chẳng diệt. Đại Bình Đẳng !
Phật Tánh của tất cả chúng sinh đều bình đẳng với chư Phật. và chúng sinh có thể thành Phật.
Thế nên,
Phật Tánh là Đại Bình Đẳng.
Phật Pháp là Đại Bình Đẳng.
IX) Phật Tánh : những danh từ đồng nghĩa:
Phật Tánh còn được gọi là :
_Chân Như
_Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
_Đại Niết Bàn (là Niết Bàn của Phật, khác với Niết Bàn của A La Hán)
_Bản Thể của Tâm
_Bản Lai Diện Mục
_Tánh Thiên Chân ( thuật ngữ cổ xưa, hiện không còn dùng)
_Tánh Thực
_Chân Tánh
_Tự Tánh
_Tánh (viết hoa)
_Chân Tâm
_Tự Tâm
_Diệu Tâm
_Tâm Vương
_Kiến Tinh ( thuật ngữ dùng trong Kinh Lăng Nghiêm)
_Chân Ngã
_Chân Không Diệu Hữu (Chân Không + Diệu Hữu)
_Như Lai Tạng
. . .
B ) Đồng nghĩa, lại chẳng đồng nghĩa:
Trong những thuật ngữ kể trên :
1) Chân Như được dùng theo hai nghĩa :
_Chân Như là Phật Tánh
_Chân Như là tập hợp của tất cả Phật Tánh. Theo nghĩa này, thì Chân Như không phải là Phật Tánh ; vì tập hợp của tất cả Phật Tánh không phải là một Phật Tánh .
2) Bản Lai Diện Mục, thuật ngữ Thiền Tông, đồng nghĩa với Phật Tánh, nhưng cách dùng đặc biệt. Bản Lai Diện Mục thường được dùng trong câu hỏi :
_Cái gì là Bản Lai Diện Mục của ta/ông ?
Câu trả lời không phải là Phật Tánh. Chỉ trả lời được khi người bị hỏi đã Kiến Tánh ! và trong trường hởp này câu trả lời cũng không phải là Phật Tánh và có thể là bất cứ cái gì mà người Kiến Tánh thấy cần/nên nói !
3) Như Lai Tạng được dùng như Chân Như _tức là được dùng theo hai nghĩa :
_ Như Lai Tạng là Phật Tánh
_ Như Lai Tạng là tập hợp của tất cả Phật Tánh. ( Như trên : Theo nghĩa này, thì Như Lai Tạng không phải là Phật Tánh ; vì tập hợp của tất cả Phật Tánh không phải là một Phật Tánh.)
4) Tự Tánh
Tự Tánh = Phật Tánh, chữ Tự Tánh ở đây phải hiểu là Tự Tánh của ta, người, chúng sinh, giống hữu tình, của tinh thần.
Còn Tự Tánh của vật chất là Không ! ( Tánh Không )
5) Tâm Vương
Tâm Vương = vua của tâm = Phật Tánh
Đây là chữ dùng của Đại Thừa, người Nhị Thừa dĩ nhiên không công nhận chữ Tâm Vương này.
Những thuật ngữ kể trên dĩ nhiên không được người Nhị Thừa công nhận
X) Phật Tánh là Thường Lạc Ngã Tịnh, khi hiển lộ là giải thoát:
Phật Tánh là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. - Chân lý này được nói đến trong Kinh Đại Bát Niết Bàn
Lời Bình :
Vì Ngã, nên Phật Tánh là thật có.
Vì Thường, Ngã, nên Phật Tánh là vĩnh hằng.
Vì Lạc, Ngã, nên Phật Tánh là thung dung , tự tại
Vì Thường, Tịnh, nên Phật Tánh là giải thoát !
Phật Tánh là giải thoát _nếu hiển lộ.
Nếu chưa hiển lộ, thì Phật Tánh ẩn tàng trong vọng tâm, vậy thôi.
X) Phật Tánh là Thường Lạc Ngã Tịnh, khi hiển lộ là giải thoát:
Kính các Bạn. Xin tóm lượt ý chỉ này của PG , mà Chân Như Chơn Ngã có khác với Đại Ngã- Thần Ngã của Ngoại Đạo.
Định nghĩa tổng quát về Chân Như (Chơn Ngã):
* Chân Như là thực tại “bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm”, nghĩa là thực tại nguyên sơ và tối hậu từ đó tất cả mọi thế giới hiện tượng sinh ra.
* Chân Như là cái dung chứa mọi mâu thuẫn, đối nghịch: có và không, động và tĩnh, một và nhiều, như thật và như huyễn, tướng và vô tướng… đồng thời vẫn thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi chúng.
* Chân Như là cội nguồn của vạn pháp, vạn vật.
Chân Như (zh. 真如, sa., pi. tathatā, bhūtatathatā) là một khái niệm quan trọng của Đại thừa Phật giáo, chỉ thể tính tuyệt đối cuối cùng của vạn sự. Chân như chỉ thể tính ổn định, thường hằng, nằm ngoài mọi lý luận nhận thức. Chân như nhằm chỉ cái ngược lại của thế giới hiện tượng thuộc thân thuộc tâm. Tri kiến được Chân như tức là Giác ngộ, vượt khỏi thế giới nhị nguyên, chứng được cái nhất thể của khách thể và chủ thể. Chân như đồng nghĩa với Như Lai tạng, Phật tính, Pháp thân.
* Chân Như Rốt ráo bình đẳng. Không có sai khác. Nghĩa là Phật và Chúng Sanh rốt ráo Bình Đẳng Chơn Ngã.
Tổ Mã Minh ở Đại Thừa khởi tín luận, nói về Chân Như, như sau:
“Cái Chân Như của tâm tức là cái thể của pháp môn “Nhất pháp giới đại tổng tướng”. Đó là cái bất sanh bất diệt của tâm tánh, Tất cả các pháp chỉ nương nơi vọng niệm mà có sai khác. Nếu lìa vọng niệm thời không có tướng của bất cứ cảnh giới nào. Cho nên tất cả các pháp, ngay trong bản chất, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên. Rốt ráo bình đẳng. Không có đổi khác. Không thể phá hoại. Chỉ là cái nhất tâm, cho nên gọi là Chân Như.”
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'HP luathoangphi.vn'
Tất cả cảm xúc:
2

* Con người do ai sanh ? Có Ngã không ? Bài 8 - Chơn Ngã (Cái Ngã Thứ Thiệt)

Theo Định Nghĩa của NGÃ:
+ Ngã (sanskrit: âtman, pali: attâ), là chỉ một cái ta: trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong mọi sự vật. (hết trích)
Như trên chúng ta đã quan sát:
+ Đại Ngã (tức Thượng Đế) đã bị bác bỏ.- Vì là Huyễn Ngã.
+ Tiểu Ngã (tức linh hồn) đã bị bác bỏ.- Vì là Huyễn Ngã.
Kinh Niết Bàn. Phật dạy: Ngoại Đạo nói Ngã, ví như mối ăn cây, không có thật nghĩa của Ngã. Nghĩa là như mối ăn trên bề mặt của cây, tạo ra một lằng ngang, hai lằn ngang v.v... Một lằng ngang thì gióng như chữ Nhất, hai lằng ngang thì giống như chữ Nhị. Nhưng con mối nó không biết chữ, nên những lằn gạch đó chỉ là ngẫu nhiên, chứ không có thật nghĩa ...!!!
Vậy theo quan niệm Đại Thừa PG, cái gì có thể đủ để gọi là CHƠN NGÃ ?
Đáp:
Đạo Phật Đại Thừa lấy cái thể "Chơn Như" (Tánh Không) làm CHƠN NGÃ. Nó khác với Ngã của ngoại đạo, và Huyễn ngã của Thế gian.- Nên gọi là Chơn Ngã.
Vấn: Nhưng Chân Như là gì ?
Đáp: Các Pháp do duyên hòa hợp mà có nên chúng không có Tự Tánh. KHÔNG TỰ TÁNH TỨC LÀ TÁNH KHÔNG. Ẩn tàng trong Tánh Không là Chơn Như
Tánh chất Không Tánh, là Tánh chung của Vạn Pháp. Đằng sau Tánh Không là CHÂN NHƯ, là nền tảng để vạn pháp nương gá vào đó mà có. Nghĩa là Chân Như là Bản Thể của Tánh Không, các pháp là Hiện Tượng của Tánh Không.
Con người sau khi thân hoại mạng chung.- Cái vĩnh viễn tồn tại là Tánh Không. (Không có cái gì Sanh ra Không- Không có cái gì huỷ diệt được Không)
Chân Như (Tánh Không).- Là Tánh Thanh Tịnh Bản Nhiên của mọi sự , mọi vật.
+ Tánh Thanh Tịnh Bản Nhiên khi tác động vào Vô Tình chúng sanh thì gọi là Pháp Tánh.
+ Tánh Thanh Tịnh Bản Nhiên khi tác động vào Hữu Tình chúng sanh thì gọi là Phật Tánh.
Pháp tánh và Phật tánh chỉ là tên gọi khác của bản thể CHÂN NHƯ. Nhận thức trên mặt ĐỒNG, ta thấy Phật tánh và pháp tánh là một. Nhận thức qua mặt DỊ, ta thấy Phật tánh và Pháp tánh không phải một.
"Phật tánh tại hữu tình
"Pháp tánh tại vô tri
"Phật tánh bản lai vô nhị tánh
"Nhất hóa năng thiêu bách vạn sài"
(Luận Hiển Dương Thánh Giáo )
Pháp tánh tự nó thanh tịnh. Pháp tánh tự nó không xan tham, không có thủ xả, không có cái của ta của mi. Cái tự tánh thanh tịnh sẵn có của hữu tình chúng sanh gọi là Phật tánh.
Cái tự tánh thanh tịnh sẵn có của vô tình chúng sanh gọi là Pháp tánh. Phật tánh và pháp tánh không hai, ví như cùng một thứ lửa tùy đốt vào củi mà tên lửa và độ nóng có khác.
Sự thật, pháp tánh là tự tánh "như thị bản nhiên" của hiện tượng vạn pháp. Phật Tánh là tự tánh "như thị bản nhiên" của Tâm Thể Vô Nhiễm "Chơn Tâm Thường Trú" của con người. Cho nên nói: "Phật Tánh tức là phần Chân Tịnh của Tâm, nó hằng còn, không vô minh vọng tưởng" .
Bởi vậy: "Chơn Tâm Thường Trú", Phật Tánh, Chân Như, tức là Tánh Không, tên gọi tuy khác mà cùng chỉ cho Chân Tâm thường trú, tức là Phật đó. Như bài kệ kinh hoa Nghiêm dạy:
Quan-sát nơi các pháp
Đều không có tự-tánh
Tướng nó, vốn sanh-diệt
Chỉ là danh thuyết giả.
Tất cả pháp vô-sanh
Tất cả pháp vô-diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.
Pháp-tánh vốn không tịch
Vô-thủ, cũng vô-kiến
Tánh không, tức là Phật
Chẳng thể nghĩ lường được...
(Phẩm Tu Di Đảnh kệ tán- K Hoa Nghiêm)
+ Tóm lại: Bản Thể (Chân Như) của vạn vật hiện tượng "Thật tánh là Không". Bởi vì là Không, nên chẳng có sanh, chẳng có diệt, chẳng có đến, chẳng có đi, chẳng có tăng, chẳng có giảm, chẳng có nhơ, chẳng có sạch-
Tánh không này (tức Chân Như) là Thường trụ, là trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong mọi sự vật. là đủ điều kiện của NGÃ, nên là Chơn Ngã.
Có thể là hình minh họa về đền thờ
Tất cả cảm xúc:
Nguyễn Ngọc Hùng và 2 người khác

* Con người do ai sanh ? Có Ngã không ? Bài 7 Tứ Đảo (4 điều điên đão về NGÃ).

Kính các Bạn. Học Đạo Phật, cũng ví như người học ở Thế gian.- Nghĩa là cũng có thứ lớp sơ, trung, cao học khác nhau. có khi nghĩa lý dường như trái nghịch nhau. Nhưng đó là vì đi vào nghĩa lý thâm sâu.
Thí dụ như:
+ Khi còn học ở tiểu học thế gian.- Nhà trường dạy rằng: Thế giới chúng ta ở, có ngày , có đêm. Ngày thì có mặt trời mọc, đêm thì mặt trời lặn. Mặt trời mọc và lặn gọi là 1 ngày v.v...
+ Nhưng khi lên trung học.- Nhà trường lại dạy rằng: Mặt trời là một định tinh, không có mọc lặn gì cả ! Chỉ vì trái đất xoay chung quanh mặt trời nên có "hiện tượng" ngày và đếm (chỉ là do chúng ta thấy).- Sự sâu cạn của Học Phật cũng giống như thế.- Sẽ do sự thấy, sự quán sát sâu cạn mà sẽ thấy khác nhau... Điển hình đó là bài kinh TỨ ĐẢO Phật dạy ở kinh Đại Niết Bàn (liên quan đến vấn đề Ngã - Vô Ngã) , như sau:
* Nói các pháp Vô ngã là để dẫn đến Tánh Không. Biết các pháp Tánh không, thì kết luận được là các pháp Vô ngã. Người đời dầu nói có ngã nhưng không có Phật tánh, đây thời gọi là nơi vô-ngã mà tưởng là ngã gọi đó là điên đảo.(thứ 1)
Phật pháp nói có ngã tức là Phật tánh. Người đời lại nói Phật pháp không ngã, đây gọi là nơi ngã tưởng là vô ngã. (thứ 2)
Nếu nói Phật pháp quyết định vô ngã nên đức Như-Lai dạy hàng đệ tử tu tập pháp vô ngã. Lời trên đây là điên đảo. Đây là điều điên đảo thứ ba.( thứ 3)
* Phật Pháp cũng nói Ngã. Nhưng là Phật Tánh.- Phật Tánh tức là phần Chân Tịnh của Tâm, nó hằng còn, không vô minh vọng tưởng (Chân Tịnh ), mà thế gian lại không biết cho là không có.- Đây là điên đão thứ 3.
* Người đời chấp có "Linh hồn thường trụ".- Là cái vọng tưởng không có mà cho đó là Ngã.- Đây là điên đão. (thứ 4)
* Vô Ngã là phương tiện Như Lai nói, Ngã mới là cứu cánh.
Kinh văn: Này Ca Diếp ! Ví như cô gái có đứa con bệnh tìm đến y sĩ. Thầy thuốc bảo: sau khi con uống thuốc, cô không nên cho nó bú sữa mẹ, vài hôm sau bệnh cháu sẽ lành. Nhằm trị bệnh cho con, cô gái lấy chất đắng màu đen thoa lên vú bảo đứa bé: vú mẹ có chất độc và nhớp con không nên bú...Đứa bé thấy nhớp và có mùi đắng không dám gần, dù khát, đói và thèm sữa mẹ.
Vài hôm sau, thuốc đứa bé uống đã tiêu hóa, bệnh đã lành. Người mẹ lấy nước rửa vú sạch, gọi con đến bú. Bấy giờ đứa bé rất đói khát, nhưng nhớ mùi đắng, chẳng dám đến bú. Người mẹ bảo: mấy ngày qua vì con uống thuốc phải kiêng sữa, mẹ lấy chất đắng thoa vào vú, bôi đen để con sợ mà không đòi. Nay thuốc con đã tiêu hóa, không cần phải kiêng sữa nữa. Con bú rất tốt chẳng có hại gì. Đứa bé nghe mẹ bảo vui mừng đến bú.
Này Ca Diếp ! Như Lai cũng như vậy. Nhằm hóa độ chúng sanh, Như Lai dạy tu quán niệm pháp vô ngã. Nhờ quán niệm pháp vô ngã mà dứt được ý niệm chấp ngã nên thọ dụng được Niết bàn.
Nhằm trừ bỏ những vọng kiến trên đời, Như Lai chỉ dạy pháp xuất thế gian. Chỉ rõ quan niệm chấp ngã của người đời là hư vọng, không chân. Tu quán niệm pháp vô ngã để thân tâm được nhẹ nhàng thanh thoát. Lời dạy đó của Như Lai, giống như cô gái kia nhằm chữa bệnh cho con, lấy chất đắng màu đen bôi lên vú...Như Lai vì muốn dạy tư duy quán niệm tánh "KHÔNG" của vạn pháp nên nói các pháp VÔ NGÃ. Cô gái khi rửa sạch vú rồi, gọi con đến bú. Hôm nay Như Lai chỉ dạy Như Lai Tàng (có ngã) các Tỳ kheo chớ có sanh lòng kinh nghi sợ sệt mà nên phân biệt nhận rõ Như Lai Tàng là sự thật. Đó chính là tánh Chân ngã, Chân tịnh, Chân thường, Chân lạc của vạn pháp.(hết trích)
Vô Ngã là phương tiện Như Lai nói, Ngã mới là cứu cánh.
Đạo Phật Đại Thừa lấy cái thể Chơn Như làm NGÃ. Nó khác với Ngã của ngoại đạo, và Huyễn ngã của Thế gian.- Nên gọi là Chơn Ngã.
+ NGÃ là vạn vật hiện tượng "Thật tánh Không".- Tánh không là Chơn Ngã.
Lại nữa, Phật có hai cách thuyết:
- Nếu rốt ráo thì nói hết thảy pháp đều KHÔNG.
- Nếu phương tiện thì nói vô ngã.
....... Cả hai cách thuyết đều dẫn vào Bát nhã Ba- la- mật. Trong kinh có nói "Đi đến Niết bàn chỉ có một hướng, chẳng sai khác".
....... Lại nữa, đối với người tín căn chưa thuần thục thì trước phải nói về cầu hữu sở đắc, rồi sau mới dạy họ xả được. Vì hạng người này Phật dạy tu thiện pháp để xả ác pháp. Còn đối với người tín căn đã được thuần thục ở nơi các pháp chẳng còn cầu hữu sở đắc nữa, mà chỉ cầu xa lìa sanh tử, thì Phật vì họ nói về pháp KHÔNG.
....... Cả hai cách thuyết pháp đều là chân pháp cả. vì sao ? Vì hết thảy các pháp chỉ là giả danh, chẳng có lớn nhỏ, chẳng có ngắn dài, chẳng có gần xa, chẳng có tốt xấu... Bởi vậy nên dù thuyết CÓ (hữu), dù thuyết KHÔNG (vô), cũng đều như nhau cả. Có thời Phật thuyết theo nghĩa thế tục, có thời Phật thuyết theo Đệ Nhất Nghĩa, nên nói thuyết có ngã (hữu ngã) hay thuyết vô ngã cũng đều là thật pháp cả.
Có NGÃ. NGÃ là PHẬT TÁNH. PHẬT TÁNH là NGÃ. NGÃ TÁNH tức là NHƯ LAI TÁNH thường trụ không biến hoại. Thường, Lạc, Ngã, Tịnh cũng là tánh chân thực không biến hoại như vậy.
* Nói các pháp Vô ngã là để dẫn đến Tánh Không. Biết các pháp Tánh không, thì kết luận được là các pháp Vô ngã.
Sau đây chúng ta sẽ quan sát CHÂN NGÃ mà Đức Phật dạy. Khác với Đại Ngã, tiểu Ngã của Thế gian như thế nào...
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'sao hôm nay mùi lạ thế??? 6'
Tất cả cảm xúc:
2

* Con người do ai sanh ? Có Ngã không ? Bài 5- Vị trí Bình Đẳng của Trời - Người

Đức Phật không phủ nhận có Trời . Nhưng chỉ minh định đúng vị trí mà Trời nên có. Đó là.- Xác định TRỜI LÀ THUỘC HỮU TÌNH. MỘT LOÀI TRONG 6 LOÀI: Trời, người, A tu la, Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh
Con người là loài hữu tình.- Nghĩa là có các tình cảm, suy nghĩ, nhận thức, có thấy, nghe, hay, biết....- Các cái đó là TÂM. nói chung là CÓ TÁNH GIÁC. TÁNH GIÁC tức là PHẬT TÁNH. Trời cũng là hữu tình. nên các vị Trời cũng có Phật tánh.- Nghĩa là cũng có cái Tâm.(chứ không phải như gỗ đá vô tri).
* Tất cả mọi loài hiện hữu trên vũ trụ và thế gian gọi là CHÚNG.
* Tất cả mọi loài hiện hữu trên vũ trụ và thế gian đều có Sanh, trụ, dị, diệt hoặc Sanh, lão, bệnh, tử gọi là SANH.
* Chúng sanh có 2 loại, là:
1. Vô Tình Chúng Sanh.- Như núi, sông, vật chất v.v...
2. Hữu Tình Chúng Sanh.- Như Trời, người, sinh vật v.v...
* Vô Tình Chúng Sanh có Tánh Không, còn gọi là Pháp Tánh.
* Hữu Tình Chúng Sanh có Tâm, còn gọi là Phật Tánh. Phật Tánh tức là phần Chân Tịnh của Tâm, nó hằng còn, không vô minh vọng tưởng .
Theo giáo lý Đạo Phật, thì: Trời, người, A tu la, Địa ngục, ngạ quỷ, súc sạnh - điều phải luân hồi sanh tử, đều có Phật Tánh và đều có thể thành Phật.
Đức Phật dạy: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” nghĩa là tất cả chúng sanh (kể cả Trời) đều có tánh Phật.- Đều Bình Đẳng không có cao hạ.- Đều luân hồi xoay chuyển theo Nghiệp.
Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
1