Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2024

Con người do ai sanh ? Có Ngã không ? Bài 1.- Câu chuyện về Niềm Tin.

Hôm nọ, có người Bạn theo tín ngưỡng tôn thờ Thượng Đế mời VQ uống trà và đàm đạo tản mạn.
Biết VQ là người theo Đạo Phật, người bạn nêu vấn đề:
Vấn:
- Anh có công nhận là: Thần, thánh, tiên, Phật đều phải tu mới thành ?
Đáp:
- Đúng vậy.
Vấn:
- Vậy dù là Tiên hay Phật cũng là từ con người mà tu tiến lên thành Phật ?
Đáp:
- Đúng vậy.
Vấn:
- Nhưng con người là do Trời sanh ra, nên Tiên hay Phật cũng là con của Trời ? Và Trời là lớn nhất ? Vậy sao bạn không theo ông Trùm cuối, bự nhất, mà lại theo con cháu của con người là loại nhỏ nhoi nhất ?
Thưa các Bạn.- Đến đây thì căng rồi ạ ! Vì sao ? Vì mỗi người có niềm tin khác nhau, và sự thấy khác nhau.
VQ mới trả lời với Bạn ấy:
- Bạn nói Phật Thích Ca là con của người là đúng. Theo sử sách ghi lại, thì ngài là con của vua Tinh Phạn và hoàng hậu Ma ya người xứ Ấn Độ. Còn bạn nói đức Phật là con của Trời thì e là Bạn chủ quan thiên kiến rồi. Vì Bạn mới nói Phật là con của người, mà giờ lại nói con của Trời, thì Bạn đã lưỡng ước không biết cái nào là đúng rồi đó !
Thưa Bạn.- Hay là theo Bạn: Con người là do Trời Sanh, mà Đức Phật là con của người, nên Phật cũng là con của Trời ? Nói vậy thì quá khiên cưởng và không có logic, không có tính thuyết phục được. Vì Phật là con của người thì là điều hiển nhiên. Mà con của Trời e là Bạn tự tưởng tượng rồi gượng ép cho người khác.
Vấn đề này. Nếu Bạn có nhả hứng, chúng ta cùng tìm hiểu qua các nền Tư tưởng, Triết học, Tôn giáo từ cổ chí kim, để quan kháng Nhân Sinh Quan,. Vũ Trụ Quan , mà tìm ra sự thật khách quan, để không bị lệch lạc.
Bạn thấy sao ? Nếu đồng ý, thì mời Bạn cùng với VQ chúng ta sẽ trao đổi thảo luận về vấn đề này nhé.
Có thể là hình vẽ ngẫu hứng về văn bản
Tất cả cảm xúc:
1

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2024

Thế nào là TÂM (theo Đạo Phật) ? Bài 14- Tổng kết về Quán Tâm & Vô Tâm.

Vì sợ chúng sanh nghe nói "Vô Tâm" thì lại chấp vào vô tâm mà rơi vào đoạn kiến hư vô, nên ở Kinh Bát Nhã dạy về Vô Tâm Tướng .
* Vô Tâm tức là Vô Thượng Bồ Đề Tâm (Phật Tâm), là Vô Đẳng Đẳng Tâm (không gì sánh ngang bằng).- Vì Không (vô Tâm) thì không thể phá hoại, không sanh diệt v.v...
* Vô tâm.- Chẳng có tướng, cũng chẳng phải chẳng có tướng.
Nên Luận Đại Trí Độ dạy:
.......Hỏi: Ngài Xá Lợi Phất cũng đã biết rõ tâm tướng thường thanh tịnh rồi. Sao nay ngài còn hỏi nữa ?
.......Đáp: Bồ tát khi mới phát Bồ đề tâm, nghe nói tâm tướng là rốt ráo không, rồi lại nghe nói tâm tướng thường thanh tịnh, thì vẫn còn ức tưởng phân biệt, vẫn còn thủ chấp cái tướng vô tâm đó.
....... Bởi vậy ngài Xá Lợi Phất mới nêu lên các câu hỏi để ngài Tu Bồ Đề giải đáp, nhằm giải nghi cho các vị Bồ tát này.
.......Hỏi: Vô tâm là có tướng tâm hay là không có tướng tâm ? Nếu là có thì vì sao lại nói là vô tâm ? Nếu là không thì vì sao lại tán thán vô đẳng đẳng tâm ?
.......Đáp: Vô tâm là rốt ráo thanh tịnh, Chẳng có tướng, cũng chẳng phải chẳng có tướng. Vì CÓ và KHÔNG đều là bất khả đắc cả.
....... Như cuộc đối đáp giữa ngài Xá Lợi Phất và Tu Bồ Đề sau đây:
- Hỏi : Thế nào là Vô tâm tướng ?
- Đáp: Hết thảy các pháp đều rốt ráo không, chẳng có phân biệt. Như vậy gọi là Vô tâm tướng.
- Hỏi : Nếu tâm tướng chẳng thể hoại, chẳng thể phân biệt, thì hết thảy các pháp cũng đều là như vậy hay sao ?
.......- Đáp: Hết thảy các pháp cũng đều là như vậy cả. Vô thượng Bồ đề tâm cũng ví như hư không, cũng chẳng thể hoại, chẳng thể phân biệt. Cho nên nếu có Bồ tát tham trước Vô thượng Bồ đề tâm, mà dấy niệm "đắc", thì Bồ tát ấy chưa được lậu tận, chưa được thanh tịnh vậy.
(hết trích)
Vô Tâm chẳng phải CÓ, cũng chẳng phải KHÔNG CÓ.- Vì nó lìa ngôn ngữ, suy lường, phân biệt. Chỉ thầm nhận khi tu trì mà khế hợp. Như câu chuyện Sư Huyền Giác gặp Tổ Huệ Năng, ở kinh Pháp Bảo Đàn sau:
Sư bèn theo Huyền Sách đi đến Tào Khê.
Ðến nơi, Sư tay cầm tích trượng vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng. Tổ hỏi:
- Phàm Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, Ðại đức là người phương nào đến, mà sanh đại ngã mạn như vậy?
Sư thưa:- Sanh tử là việc lớn, vô thường quá nhanh.
Tổ bảo:- Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sanh, liễu chẳng mau ư?
Sư thưa:- Thể tức vô sanh, liễu vốn không mau.
Tổ khen:- Ðúng thế! đúng thế!
Lúc đó đại chúng nghe nói đều ngạc nhiên. Sư bèn đầy đủ oai nghi lễ tạ Tổ. Chốc lát sau Sư xin cáo từ.
Tổ bảo:- Trở về quá nhanh!
Sư thưa:- Vốn tự không động thì đâu có nhanh.
Tổ bảo:- Cái gì biết không động?
Sư thưa:- Ngài tự phân biệt.
Tổ bảo:- Ngươi được ý vô sanh rất sâu.
Sư thưa:- Vô sanh có ý sao?
Tổ bảo:- Không Ý, thì AI, PHÂN BIỆT ?
Sư thưa:- PHÂN BIỆT cũng không phải là Ý.
Tổ khen:- Lành thay! lành thay! (hết trích)
Lời bàn: Chỗ PHÂN BIỆT cũng không phải là Ý (cũng chẳng có AI- Tức Ngã chấp). là đã giải trừ Ý Thức , trừ được Ngã Tướng- đã Vô Tâm. Nhưng vẫn có Phân biệt.- Sự phân biệt này là TRÍ HUỆ (Vô Tâm) mà không phải THỨC TÌNH (vọng Tâm). Với Ý này khi Sư Vô Ngôn Thông đến tham vấn Tổ Bá Trượng- Hoài Hải.
Một hôm trong giờ tham vấn, có vị tăng hỏi Bá Trượng:
- Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa ?
Bá Trượng đáp:- Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu. "TÂM ĐỊA NHƯỢC KHÔNG (Vô Tâm)- HUỆ NHẬT TỰ CHIẾU"
Nghe câu này, Sư hoát nhiên đại ngộ.
Kính các Bạn.
VQ xin mượn bài thơ Tập Tầm Tâm của TS. Thanh Đàm để kết thúc bài viết này:
Ngang lưng đeo trống đối tri âm,
Duỗi thẳng hai tay, đánh trống tâm.
Tập tập tìm tâm, tâm tất tập,
Tìm tâm, tâm tập, tập tìm tâm.
Âm thanh hợp vận, âm trùng họa,
Tịch chiếu tâm tông, tức tập tâm.
Trăng sáng, gió thanh thường tự tại,
Tìm tâm chẳng được, nghỉ tìm tâm.
Thôi nhé, tâm ta chẳng thể tầm,
Tìm tâm dẫu được, chẳng chân tâm.
Mang đèn xin lửa thêm điên đảo,
Thà đứng bên song hát khúc ngâm.
(TS. Thanh Đàm)
Cảm ơn Các Bạn đã xem và Bình luận. Kính chúc hoan hỷ, an lạc.
Có thể là hình ảnh về chạng vạng và Fushimi Inari Taisha
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 2 người khác

Thế nào là TÂM (theo Đạo Phật) ? Bài 13- Kể cả Thiện niệm cũng đưa vào Vô Tâm.

Bạn VT thảo luận:
Vô Tâm tức Tâm Vô Lậu.
Trạng thái Vô Tâm là trạng thái thể nhập vào Chánh Định.
Tâm Vô Lậu mới phát huy Chánh Kiến, Chánh Tư Duy về Pháp Tướng vạn pháp.(hết trích)
Vâng. Vô Tâm tức là Tâm Vô Lậu. Như các bài kinh luận sau:
Kinh Pháp Bảo Đàn , Lục Tổ Huệ Năng có đoạn:
” Huệ Năng từ giã Ngũ Tổ rồi cất bước đi về phương Nam, trong khoảng hai tháng đến ngọn núi Đại Dữu.
Ngũ Tổ trở về, mấy ngày không thượng đường, chúng nghi mới đến hỏi: “Hòa thượng có ít bệnh, ít não chăng ?” Ngài đáp: “Bệnh thì không, mà y pháp đã về Nam rồi.”
Chúng hỏi: “Ai là người được truyền ?” Tổ bảo: “Người có khả năng thì được.” Chúng liền biết. Khi đó vài trăm người đuổi theo, muốn cướp y bát, một vị tăng họ Trần, tên Huệ Minh, trước là tướng quân bậc Tứ phẩm, tánh hạnh thô tháo, hết lòng theo tìm, chạy trước mọi người, đuổi kịp Huệ Năng. Huệ Năng để y bát trên bàn thạch nói: “Y này là biểu tín, có thể dùng sức mà tranh sao !” Huệ Năng liền ẩn trong lùm cỏ, Huệ Minh đến cầm y lên mà không nhúc nhích, mới kêu rằng: “Cư sĩ, cư sĩ ! Tôi vì pháp mà đến chớ không phải vì y.” Huệ Năng bèn bước ra ngồi trên bàn thạch. Huệ Minh liền làm lễ thưa:
“Mong cư sĩ vì tôi nói pháp.” Huệ Năng bảo: “Ông đã vì pháp mà đến thì nên dứt sạch các duyên, chớ sanh một niệm, tôi vì ông nói.” Huệ Minh im lặng giây lâu. Huệ Năng bảo: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là bản lai diện mục của
Thượng tọa Minh ?” Huệ Minh ngay câu nói đó liền đại ngộ.
(hết trích)
Vâng ! Ác không nghĩ mà Thiện cũng Không nghĩ. Mới vào được Vô Tâm.
Ngữ lục. Truyền Tâm Pháp yếu-TS. Hoàng Bá có đoạn:
Phàm phu nắm lấy ngoại cảnh, đạo nhân nắm lấy tâm. Tâm, cảnh đều quên, chính là pháp chân thực. Quên cảnh thì còn dễ, quên tâm thực khó. Người ta không dám quên tâm, sợ rơi vào hư không không chỗ nắm níu, chứ không biết rằng không vốn vô không, chỉ một pháp giới chân thật mà thôi vậy. Cái tính linh giác này từ vô thủy đến nay cùng lâu dài với hư không, chưa từng sinh chưa từng diệt, chưa từng có chưa từng không, chưa từng dơ chưa từng sạch, chưa từng động chưa từng tĩnh, chưa từng trẻ chưa từng già, không nơi chốn, không trong ngoài, không số lượng, không hình mạo, không sắc tướng, không âm thanh, không thể tìm, không thể cầu, không thể dùng trí tuệ mà biết, không thể dùng ngôn ngữ mà lấy, không thể dùng cảnh vật mà hiểu, không thể dùng công dụng mà tới.
Chư Phật, Bồ tát cùng hết thảy mọi sinh linh mê tối đều cùng một tính Đại Niết Bàn này. Tính đó tức là tâm, tâm đó tức là Phật, Phật đó tức là pháp. Một niệm xa rời cái chân thật đó tức là vọng tưởng.
Không thể lấy tâm mà mong cầu tâm, không thể lấy Phật mà mong cầu Phật, không thể lấy pháp mà mong cầu pháp. Cho nên, người học Đạo ngay đó thể nhập cái vô tâm, âm thầm thể nhập mà thôi, chứ động niệm tức là sai vậy.
(hết trích)
Kinh Kim Cang Phật dạy: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai". Nghĩa là: “Bất cứ những gì hễ có hình tướng đều là giả dối. Nếu thấy các tướng không phải hình tướng, như thế mới tạm gọi là thấy được Như Lai.”- Thấy Như Lai chúng ta nên hiểu là thấy được Chân Tâm, Thấy được Vô Tâm (vì Vô Tâm tức Phật).
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3