Thứ Tư, 27 tháng 3, 2024

Thế nào là TÂM (theo Đạo Phật) ? Bài 12- Giải trừ Ý Thức là Vô Tâm.

Kính các Bạn. Ở Giáo lý Nguyên Thuỷ PG và Giáo Lý Duy Thức PG. Thì Tâm chính là Thức.
Thiền quán là tự hỏi mình.
Thiền quán là trạng thái Vô Tâm.
Con người ở trạng thái Vô Tâm mới ngưng suy nghĩ phân biệt. Nghĩa là thoát khỏi sự cuốn hút của Thức.
Suy nghĩ phân biệt là để Duyên Sanh Diệt dẫn dắt mình sanh tử.
Trạng thái Vô Tâm là trạng thái tịch tĩnh của vạn pháp. Là giải trừ 6 Thức. Cụ thể là Ý Thức.
Vâng ! Vô Tâm là trạng thái "giải trừ Ý thức", là KHÔNG VỌNG TƯỞNG PHÂN BIỆT. là Không Vọng Tâm.
+ Những Tâm niệm nào là "Vọng Tâm" ?
- Đó là: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, là Thân kiến, biên kiến, tà kiến, giái kiến thủ. Là phẩn, hận, phú não, tật ,san, vô tàm, vô uý, là trạo cử, hôn trầm, tán loạn, thất niệm, bất chánh tri. Là Hỷ ,nộ, ai, ố, dục, lạc, cụ v.v...Nghĩa là các Tâm niệm Thập triền, thật sử, thất tình, lục dục mà trong kinh Phật đã dạy.
Kính các Bạn. Vọng Tâm vốn không thật có, chỉ do lầm chấp mà có. Khi đã nhập vào Thiền quán- Ở trạng thái Thiền quán là tự hỏi mình. Thì Thiền quán là trạng thái Vô Tâm. .- Lúc đó TÌM TÂM KHÔNG CÓ.- Đây là chỗ:
+ Tâm hành xứ diệt:
.......Chỗ tâm hành dứt bặt, nghĩa là cảnh giới vắng lặng, không còn suy tư phân biệt. Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần đầu (Đại 44, 252 thượng) nói: Lìa tâm duyên, vì chẳng phải ý và lời có thể phân biệt; chỗ tâm hành diệt, vì chẳng phải cảnh của Tư tuệ. Đây chính là chân như pháp tính, không thể dùng lời nói để giảng giải, cũng chẳng phải chỗ Tư tuệ phân biệt mà biết được. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1, hạ; Đại nhật kinh sớ Q.19; Tông kính lục Q.92].
(Từ điển Phật Quang)
Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 5 người khác

Thế nào là TÂM (theo Đạo Phật) ? Bài 11- Vô Tâm.

Tắc thứ 41 trong Vô Môn Quan có ghi lại cuộc đàm thoại đầu tiên giữa Bồ Đề Ðạt Ma và Huệ Khả.
Bồ Đề Ðạt Ma ngồi nhìn vách tường. Sư dầm tuyết, rút dao tự chặt cánh tay, nói:
- Con không an được tâm, xin thầy an tâm cho con.
Ðạt Ma bảo:
- Ðưa tâm cho ta, ta sẽ an cho.
Sư đáp:
- Con không thấy tâm đâu cả
Ðạt Ma đáp:
- Ta đã an tâm cho con. (hết trích)
Ồ ! Thiền Tông thấy là - Vô Tâm ư ?
Tuyệt Quán Luận của Tổ Đạt Ma có đoạn:
Bấy giờ Nhập Lý tiên sinh tịch lặng chẳng nói. Duyên Môn đứng dạy thưa:
- Cái gì gọi là tâm? Thế nào là an tâm?
- Người chẳng cần cho rằng phải có cái tâm, cũng chẳng cố cho được an. Như thế chính là an đó.
- Nếu như chẳng có Tâm, làm sao có thể học Đạo?
- Đạo chẳng phải do tâm niệm, thì há cần tâm ư.
3.
- Nếu chẳng lấy tâm để nghĩ bàn, thì lấy gì để suy nghĩ?
- Có Niệm ắt có Tâm, có Tâm ắt trái Đạo. Vô niệm tức vô tâm. Vô tâm tức là Chân Đạo.
- Tất cả chúng sinh thực đều có tâm chăng?
- Nếu chúng sinh thực có Tâm, ắt sinh điên đảo. Chỉ vì ở nơi vô tâm mà lấy làm có Tâm, nên sinh ra vọng tưởng.
- Vô tâm có những gì?
- Vô tâm tức là vô vật. Vô vật tức là thiên chân. Thiên chân tức là Đại Đạo.
(hết trích)
Vâng ! Quán Tâm Pháp của Thiền Tông, đến chỗ rốt ráo thì lại là VÔ TÂM.
Thế nào là thật nghĩa của Vô Tâm ?
* Vấn đề VÔ TÂM trong Đạo Phật.
Đối với người thế gian. Thông thường khi họ nói: Anh đó "vô tâm", vô trách nhiệm. hoặc thằng đó "sống vô tâm". Thì đó là mang ý nghĩa chỉ một người thiếu suy nghĩ, cấu thả, không trách nhiệm với hành vi của mình ! Chữ VÔ TÂM mà Đạo Phật nói ở đây, hoàn toàn khác biệt với chữ"vô Tâm" của người thế gian (nói ở trên).
Vậy:
+ VÔ TÂM trong Đạo Phật là gì ?
+ Rốt cuộc Có Tâm hay Vô Tâm ?
- Ở kinh Hoa Nghiêm. Phật dạy "Nhất thiết duy tâm tạo " Vậy là Có Tâm (tạo) chăng ?
- Ở kinh Kim Cang Bát Nhã Phật dạy " tâm quá khứ tìm không có, tâm hiện tại tìm không có và tâm vị lai tìm cũng không có." Vậy là không có Tâm chăng ?
Thật ra. Muốn hiểu được vấn đề này. Chúng ta cần thiền quán về CHÂN TÂM và VỌNG TÂM.
+ Vọng Tâm.- Phật nói là Tìm không thấy !
+ Chân Tâm.- Tổ nói là Minh Tâm- kiến Tánh.
Kính mời các Bạn tham gia thiền quán và Thảo luận vấn đề này...để đến kết thúc bài viết về TÂM.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 3 người khác

Thế nào là TÂM (theo Đạo Phật) ? Bài 10- Tâm Chân Như.

Tâm Chân Như chính là Chân Tâm- Bổn Tánh, là thực tại, cội nguồn của Phật- Chúng sanh- Tâm
Định nghĩa tổng quát:
* Chân Như là thực tại “bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm”, nghĩa là thực tại nguyên sơ và tối hậu từ đó tất cả mọi thế giới hiện tượng sinh ra.
* Chân Như là cái dung chứa mọi mâu thuẫn, đối nghịch: có và không, động và tĩnh, một và nhiều, như thật và như huyễn, tướng và vô tướng… đồng thời vẫn thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi chúng.
* Chân Như là cội nguồn của vạn pháp, vạn vật.
Chân Như (zh. 真如, sa., pi. tathatā, bhūtatathatā) là một khái niệm quan trọng của Đại thừa Phật giáo, chỉ thể tính tuyệt đối cuối cùng của vạn sự. Chân như chỉ thể tính ổn định, thường hằng, nằm ngoài mọi lý luận nhận thức. Chân như nhằm chỉ cái ngược lại của thế giới hiện tượng thuộc thân thuộc tâm. Tri kiến được Chân như tức là Giác ngộ, vượt khỏi thế giới nhị nguyên, chứng được cái nhất thể của khách thể và chủ thể. Chân như đồng nghĩa với Như Lai tạng, Phật tính, Pháp thân.
Tổ Mã Minh ở Đại Thừa khởi tín luận, nói về Chân Như, như sau:
“Cái Chân Như của tâm tức là cái thể của pháp môn “Nhất pháp giới đại tổng tướng”. Đó là cái bất sanh bất diệt của tâm tánh, Tất cả các pháp chỉ nương nơi vọng niệm mà có sai khác. Nếu lìa vọng niệm thời không có tướng của bất cứ cảnh giới nào. Cho nên tất cả các pháp, ngay trong bản chất, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên. Rốt ráo bình đẳng. Không có đổi khác. Không thể phá hoại. Chỉ là cái nhất tâm, cho nên gọi là Chân Như.”
Những từ khác về “Chân Như”—Other terms for “Bhutatathata”
Chân Thực Như Thường: The eternal reality.
Bất Biến Bất Cải: Unchanging or immutable.
Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm: Self-existent pure Mind.
Phật Tánh: Buddha-nature.
Pháp Thân: Dharmakaya.
Như Lai Tạng: Tathagata-garbha, or Buddha-treasury.
Thực Tướng: Reality.
Pháp Giới: Dharma-realm.
Pháp Tính: Dharma nature.
Viên Thành Thực Tánh: The complete and perfect real nature.
* Những từ ngử khác liên hệ đến Chân Như như:
Chân Như Bổn Tánh: Bổn tánh chơn thật như thường . Đó là bản tánh tự nhiên của chúng sanh, nó chơn thật, không hư vọng. Tánh ấy trống không mà linh thiêng, vắng lặng mà mầu nhiệm, dù trãi qua bao nhiêu kiếp vẫn tồn tại như thế; còn gọi là bổn lai diện mục.
Thiền Tông gọi là Chánh Pháp Nhãn Tạng. Tịnh Độ Tông gọi là Bổn Tánh Di Đà. Khổng Tử gọi là Thiên-Lý. Lão Tử gọi là Cốc-Thần (Cốc là Hang trống; Thần là Hồn Thiêng).
Chơn Như Hải: Biển Chơn Như. Chơn Như, Pháp Tánh hay Phật Tánh có vô lượng công đức bởi vậy nên gọi là Chơn Như hải.
Chơn Như Nội Huân: Chân Như huân tập bên trong, lần lần phát khởi lòng Bồ Đề, chán cõi trần tục, cầu thành Phật Đạo. Đó là do sức Nội Huân từ bên trong tâm mà thành. Cũng có thể hiểu là từ Pháp Thân, Phật Tánh mà phát khởi tính giác, trừ vọng hoặc đến giác ngộ giải thoát; đó gọi là Chân Như Nội Huân.
Chơn Như Tam Muội: đó là Đại Định Chân Như, tu theo phương pháp quán tưởng lý vô tướng của các pháp trừ được những mối vọng hoặc.
Tuy rằng Tâm Chân Như, theo chư Tổ gợi ý khó dùng ngôn ngữ, suy lường mà biết được. Nhưng Đức Phật vẫn có nhiều phương tiện để hiển bày. Như câu chuyện Phật khai thị cho Tôn giả Câu Hy La, sau:
Tích Tôn Giả Câu Hy La- Thể Nhập Chân Như.
Trong kinh Xá Lợi Phất Bản Mạc có chép vè vị Tôn Giả này như sau:
Ông là cậu của ngài Xá lợi Phất, tên là Câu Hy La. Vào một hôm, Câu Hy La luận nghị vói chi là bà Xá Lợi, nhưng chẳng sao có thể bì kịp. Óng bèn nghĩ rằng: Đây chẳng phải do ức của chị ta, ắt phải có một đại trí giả, gá vào bào thai của chị ta, gói lõi qua trung gian cúa me. Vị này chưa sanh mà đã như vậy rồi, ắt về sau sẽ là một bậc có trí huệ đại siêu ”.
Suy nghĩ như vậy rồi, ông sanh tâm kiêu mạn, tật đố, nên liền hạ quyết tâm xuất gia làm Phạm Chí, để được họ thuật nhiều các kinh the nghia. Ông tìm đến xứ Nam Trúc,
tham cúu kinh the. Có nguõi hỏi ông “Muon học nhữg kinh gì?” Ông không chút ngần ngạiđáp rằng: “Ta muốn học đủ cã 18 bộ kinh”. Lai có nguói nói với ông rằng suốt một đời nguói học cho thông suốt một bộ kinh còn khó, huống nữa là học đủ 18 bộ kinh”.
Mặc dù nghe như vậy, ông vẫn không sờn lòng, và phát thệ rằng: “Ta đã bị nguói làm nhục nên ta quyết chẳng cắt móng tay, ta quyết tâm hoc thông suốt hết cã 18 bộ kinh”. Nguói ngoài thấy ông để móng tay dài nên gọi ông là Phạm Chí Trường Trảo.
Trường Trảo dồn hết nghị lực học thông suốt hết cả 18 bộ kinh, rồi dùng trí huệ phá các nghĩa của các luận sư đương thời.
Một hôm, Trường Trão trở về quê cũ, hỏi thăm tin túc về bà chi. Có nguồi nghe ông hói “Chi ta sanh rồi, nay ở đâu?” Liền trả lời: “Con trai cúa chị ông khi minh vừa 8 tuổi đã thông suốt hêt các kinh the; đến năm 16 tuôi đã luận nghị vô ngai thắng hết các luận sư danh tiếng. Hiện nay có minh đạo nhân tên là Cù Đàm, thuộc dòng họ Thích, thu nhận con của chị ông làm đệ tử”.
Trường Trảo nghe xong liền sanh tâm kiêu mạn chẳng tin sự viêc có thể xáy ra như vậy, bên nói với nguõi kia rằng: “Con cúa chi ta thông minh xuất chúng, như vậy đạo nhân Cù Đàm đã dùng tà thuật gì mà dụ dỗ cháu của ta cạo đầu. làm đệ......... tử?”
Nói xong ông liền đi đến chỗ Phât để hỏi cho ra lẽ. Lúc bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất vừa mới thọ giới được nữa tháng, đang đứng hầu bên Phật.
Trường Trão nghe Phật hỏi thăm, liền ngồi xuống một bên, dấy niệm rằng: “Trí huệ của ta ví như biển cả mênh mông, có công năng phá được hết thảy các luận nghị. Ta hãy hỏi thử xem đąo nhân Cù Đàm dã dùng luận ngh¡ gì mà thu phục được con của chi ta làm đệ tử?”
Suy nghĩ như vây rồi, ông bèn nói vói Phật rằng: “Này ông Cù Đàm! Hết thày pháp ta đều chẳng thọ. Ý ông nghi sao?”.- Nghĩa là: Mắt thấy sắc không thọ. Tai nghe tiếng không thọ. Mũi ngửi mùi không thọ. Lưỡi nếm vị không thọ. Thân xúc chạm không thọ. Não với Ý thức không thọ.-
Phật đáp: „Hết thảy pháp ngươi đều chẳng thọ. Như vậy, ngươi có thọ kến chấp ấy không?”(nghĩa là chấp Tâm niệm không thọ.)
Lúc bấy giò Trường Trão như con ngựa tốt, vừa thấy bóng roi liền chąy về đúng đuòng. Ông liền xã bỏ tâm kiêu mąn, cúi đầu suy nghĩ “Đã nói chẳng thọ hết thảy pháp, thì làm sao ta thọ kiến chấp ấy được?”
Nghĩ như vậy rồi, ông liền nói vói Phật răng: “Này ông Cù Đàm! Hết thảy pháp ta đều chẳng thọ, kể luôn cả kiến chấp ấy ta cũng chẳng thọ nữa”.
Phật dąy: “Ngươi nói hết thảy các pháp nguoi đều chẳng thọ, đến kiến chấp chẳng thọ đó ngươi cũng chẳng thọ luôn. Như vậy, thì Tâm Bình Đẳng đâu có gì khác "hư không" đâu.- mà ngươi sanh kiêu mąn?” (Ý là khế hợp Chân Như).
Trường Trão biết mình tự mâu thuẫn với chính mình, sanh tâm cung kính Phật, và tự nghĩ rằng: “Ta rớt vào chỗ mâu thuẫn rồi, Phật chẳng vąch trần chỗ mâu thuẫn nơi ý nghĩ của ta; Phật cũng chẳng nói gì trái vói ý nghĩ của ta cả. Thế mới biết tâm Phật thật nhu nhuyễn, thanh tịnh. Hết thảy ngôn ngữ luận nghị đều diệt mới là đąi thâm pháp, là pháp thanh tịnh bậc nhất, chẳng lỗi lầm”. Trường Trẵo rõ biết Phật thuyết pháp chi nhầm đoąn tà kiến cho riêng mình, nên đang ngồi tại chỗ mà ông đã xa lìa được trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. (hết trích).
Đây là ý chỉ của câu kinh Kim Cang mà Đức Phật dạy. Sanh Tâm và Hàng phục Tâm (để trở về Chân Như Tâm).
Thị cố Tu-bồ-đề, chư Bồ-tát Ma-ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm"
Nghĩa là:
Phật bảo Tu-bồ-đề:
- Thế nên Tu-bồ-đề, các Bồ-tát lớn nên như thế mà sanh tâm thanh tịnh, không nên trụ nơi sắc sanh tâm, không nên trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia.
Tâm Chân Như là Thế: Bình Đẳng như hư không, không trụ tất cả chỗ.
Như bài kệ:
Giải thoát, đại giải thoát,
Chỉ là Tâm tự tại.
Ngoài không nhiễm sắc, thinh,
Trong không sanh vọng niệm.
Tâm cảnh đều quên hết,
Niệm niệm vào Vô sanh.
Chỗ nào tâm vướng mắc.
Tự tại vô sở đắc,
Ấy vô vị chân nhân,
Giải thoát không nghĩ bàn.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 1 người khác