Thứ Tư, 27 tháng 3, 2024

Thế nào là TÂM (theo Đạo Phật) ? Bài 9- Bản Thể & Hiện Tượng Tâm (Kiến giải của VQ về TÂM).

Kính các Bạn. Như trên chúng ta thấy: TÂM có 2 phần.- Chân & Vọng. Nhưng thật ra:
Tâm như thế cũng không được! Tâm không như thế cũng không được.
Nghĩa là :
+ Nói là "Vọng Tâm" cũng không đúng !
+ Nói là "Chơn Tâm" cũng không đúng !
Vì là "Toàn Vọng tức Chân".
Cũng với Ý này. Thiền Sư Viên Minh có bài thơ.- Bờ Mê - Bến Giác:
Thế gian ơi, đời vẫn là cuộc lữ
Bước đi - về như huyễn cũng như chân
Thấy Niết-bàn trong sinh tử phù vân
Ai ngờ được bờ mê là Bến Giác!
(TS. Viên Minh)
Cũng với ý này. Đức Phật dạy ở kinh Thủ lăng nghiêm: "Ngôn vọng hiển chư Chân. Vọng Chân đồng nhị Vọng". Ý là dù nói Vọng Tâm hay Chân Tâm. Nhưng rốt cục Vọng Chân đều là Vọng ! Vì tất cả đều là hiện tướng của Chân Như, là Bất Nhị.- Chẳng qua :
* Chân Tân là CÁI HÌNH.
* Vọng Tâm là CÁI BÓNG.
Thế nào là hình và bóng ?
Thí dụ 1:
Ví như Bản thể là con vật, do các duyên ánh sáng, giá thể, v.v... mà hiện ra cái bóng.- Cái bóng là Hiện Tướng (hoặc hiện tượng).
Thí dụ 2: Ví như có 1 khối vàng 24k.(ví cho bản thể). Người thợ kim hoàng chế tác ra con sư tử, lúc ấy đầu sư tử, mắt, chân, tai, răng, móng sư tử v.v...là Hiên Tướng do duyên chế tác mà thành con sư tử vàng.- Hiện tướng đầu sư tử, mắt, chân, tai, răng, móng sư tử v.v...sai khác, nhưng bản chất (bản thể) vẫn là vàng 24k.
Thí dụ 3: Ví như Biển là Bản Thể. Do các duyên Gió, thời tiết v.v... mà hiện tướng sóng, mòi, bong bóng, bọt v.v... trên mặt biển. hiện tướng sóng, mòi, bong bóng, bọt v.v...có sai khác theo duyên (tuỳ duyên). Nhưng bản chất luôn là nước biển không sai khác (bất biến)
TÂM cũng vậy: CHÂN NHƯ, TÁNH KHÔNG là BẢN THỂ TÂM. Mà TRÍ, THỨC, Ý, TÁNH GIÁC v.v... là HIỆN TƯỢNG TÂM.
* Cổ Đức thương phân chia ra Thể- Tướng- Dụng.
+ Chân Như, Tánh Không là THỂ.
+ TRÍ, THỨC, Ý, TÁNH GIÁC v.v...là TƯỚNG.
+ Thấy, nghe, hay, biết (kiến, văn, giác, tri) là DỤNG.
* Bản Thể, thì BẤT BIẾN. (Bát bất: Bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, bất khứ, bất lai)
* Hiện Tượng thì tuỳ duyên .- Là pháp duyên sanh nên phải bị chi phối của định luật Thành, trụ, hoại, không.
* BẢN THỂ & HIỆN TƯỢNG không tách rời nhau. Nghĩa là: Bản Thể nào cũng có Hiện Tượng (mới gọi là Bản Thể). Hiện tượng nào cũng có Bản Thể (nếu không có bản thể thì không thể có hiện tượng).
* loại bỏ cái này thì không thể có cái kia.- Ví như bỏ sóng mà tìm nước thì không biết nước gì- Ngược lại bỏ nước mà tìm sóng thì ảo vọng rồi vậy.
Có thể là hình ảnh về văn bản
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 5 người khác

Thế nào là TÂM (theo Đạo Phật) ?- Bài 8- Chơn Tâm- Vọng Tâm.

Chân tâm, vọng tâm
Chân tâm là khái niệm chính yếu của kinh Lăng Nghiêm, nó còn được gọi là Như Lai tạng (tathagatagarbha). Chân tâm có nghĩa là tâm chân thật (tâm thứ thiệt), không phải là vọng tâm (tâm thứ giả).
Chúng sinh sống với vọng tâm nên trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Muốn hiểu chân tâm là gì thì trước đó phải hiểu thế nào là vọng tâm.
Khi được hỏi tâm là gì, đa số đều trả lời tâm là cái hay suy nghĩ, phân biệt, tính toán, v.v... (giống như ngài A-Nan trong kinh Lăng Nghiêm). Những cái đó đúng là tâm nhưng là vọng tâm.
Vọng tâm là cái tâm hay suy nghĩ, phân biệt, tính toán, lo âu, ưa ghét, ích kỷ, giận hờn, tham, sân, si, v.v... Nói cách khác vọng tâm chính là thức (tâm vương và tâm sở). Hằng ngày tất cả mọi người đều sống với cái tâm đó, tưởng mình là cái tâm đó. Nhưng nhờ Phật chỉ dạy, cái tâm thức đó là vọng tâm, không phải là tánh chân thật của tâm. ...
“Tâm, Phật, chúng sinh” cả ba đều là tâm. Khi tâm vọng động, vô minh thì tâm trở thành chúng sinh. Khi tâm giác ngộ, dứt sạch phiền não thì tâm trở thành Phật.(hết trích)
++++++++++++++++++++++
Lời Bàn:
Thật ra.- Chân Tâm rất là " Vi diệu", không thể nghĩ bàn. Cũng trong kinh Thủ Lăng Nghiêm. Đức Phật dạy: " Ngôn vọng hiển chư Chân. Vọng- Chân đồng nhị vọng" Nghĩa là nói "Vọng" để tỏ rỏ Tâm "Chân". Nhưng nói ra được thì dù "Vọng Tâm" hay "Chân Tâm" cả hai đều là Vọng ! Vì sao ? Vì cái gì còn nói được thì chưa phải là CHÂN TÂM.
+ Tâm mà còn Sanh diệt, đến đi, tịnh uế v.v... thì là Vọng Tâm
+ Chân Tâm lìa nói năng suy nghĩ phân biệt, lìa sanh diệt, đến đi mới là Chân Tâm.- Chân Tâm chính là CHÂN NHƯ TÂM.- Mà Chân Như thì:
Tổ Mã Minh nói :
"Tâm Chân như tức Bản thể Nhất pháp giới đại tổng tướng gọi là Tâm tính bất sinh bất diệt. Tất cả pháp đều y Vọng niệm nên có sự sai khác, nếu rời Vọng niệm tức khắc không còn tướng sai biệt. Thế nên tất cả pháp từ xưa nay đều rời tướng ngôn thuyết, rời tướng văn tự, rời tướng tâm duyên, tuyệt đối bình đẳng không bao giờ biến dị, cũng không thể phá hoại, duy Nhất tâm vì thế gọi là Chân như. Tất cả những ngôn thuyết đều giả danh không thật, tùy theo Vọng niệm nên thật sự là Bất khả đắc. Dù gọi Chân như nhưng Chân như không có tướng. Đây là chỗ cùng cực của ngôn thuyết, dùng ngôn ngữ phủ định ngôn ngữ. Tuy nhiên Bản thể Chân như tuyệt đối không thể phủ định, bởi vì tất cả các pháp đều là Chân, cũng không thể thành lập bởi vì tất cả các pháp đều là Như. Vì thế nên gọi Chân như. Nên biết tất cả chư pháp không thể nói, không thể suy nghĩ, vì tất cả pháp đều là Chân như." (Đại Thừa khởi Tín Luận).
Chân Như Tâm là Như Lai Pháp Thân, là Chân Tâm.
Như vậy, theo quan niệm trong các kinh Luận Đại Thừa.- Chân Như Tâm là một thực tại siêu việt mọi tướng trạng, là cái Chân như của vạn pháp, vận hành một cách phổ quát trong mọi sự vật. Kinh Kim Cương cho rằng: “Phàm những gì có hình tướng thảy đều hư vọng, chỉ khi nào siêu việt khỏi mọi tướng trạng mới thấy được Như Lai”(TÂM) (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tắc kiến Như Lai)(Cool. Theo đó, Như Lai chính là thực tại tối hậu của vạn hữu. Đối với thực tại tối hậu này, ta không thể nhận thức nó như một đối tượng. Chỉ khi nào nắm bắt được cái đồng nhất trong muôn ngàn sai biệt của hiện tượng giới thì khi đó, ta mới thể nhập được cái thực tại tối hậu ấy, tức mới nhận thức được Như Lai.
Luận Xiển dương chánh giáo có bài kệ nói về Chân Như Tâm như sau:
"Tâm sinh chủng chủng pháp,
Tùy duyên thủy thượng âu,
Tánh chân như bất biến,
Như thủy bổn thanh trừng,
Bất biến tùy duyên chân thử tánh,
Tùy duyên bất biến thị tha tâm,
Minh tâm, minh liễu âu bào thượng,
Kiến tánh thâm tri thúy diện trừng."
Dịch :
Tâm sinh ra muôn pháp,
Tùy duyên sóng nước xao,
Tánh chân như bất biến,
Như nước vốn lặng trong,
Bất biến tùy duyên là tánh ấy,
Tùy duyên bất biến chính tâm này,
Minh tâm nhận rõ lao xao sóng,
Kiến tánh nhìn sâu mặt nước bằng.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
Bạn, Nguyễn Ngọc Hùng và 1 người khác

Thế nào là TÂM (theo Đạo Phật) ?- Bài 7- Tâm Theo Thiền Tông.

Theo Thiền tông
Giáo lý Nguyên Thủy chuyên nói về ngũ uẩn và danh sắc. Vi Diệu Pháp nói đến 89 tâm. Duy Thức học nói 8 thức. Thiền tông ngược lại, chủ trương “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Ngộ được tâm, thấy được tánh là mục tiêu chính của Thiền tông. Nhưng nếu hỏi tâm là gì thì Thiền tông không nói thẳng mà dùng rất nhiều danh từ để ám chỉ nó như: bổn lai diện mục, ông chủ, tánh giác, bổn tánh, chân tâm, chân ngã, chân không, pháp thân, chân như, v.v... Ở đây chúng ta sẽ bàn về vài danh từ có liên quan đến kinh điển để bạn đọc có thể kiểm chứng và nghiên cứu.
Tâm và tánh
Trước khi đi xa hơn, tôi cần phân tách sự khác biệt giữa tâm và tánh. Tâm (citta) tiếng Anh là mind, tánh (svabhava) là nature hay characteristic có nghĩa là tánh chất, bản tánh, đặc tính. Tâm và tánh là hai thứ khác nhau. Khi nói đến tánh thì phải nói cho đủ là tánh của cái gì (the nature of something). Thí dụ như tánh của tôi hay sân, tánh của anh hay tham, tánh của đất là cứng, tánh của nước là ướt, tánh của gió là di động, tánh của lửa là nóng, tánh của hư không là trống rỗng không ngăn ngại, tánh của thức là biết phân biệt, tánh của muối là mặn, tánh của đường là ngọt, tánh của dấm là chua, tánh của ớt là cay, v.v...
Khi nói đến tâm tánh, tức là tánh của tâm, tâm là chính, tánh là phụ. Tâm có thể ví như ông A, còn tánh ví như tánh tình của ông A. Khi nói ông A thế này, thế nọ, vui tánh hay hung dữ đó là nói về ông A nhưng cùng lúc cũng nói về tánh của ông A. Bởi thế tâm tánh luôn đi đôi, nói đến tâm tức bao hàm luôn tánh của nó, nói đến tánh thì đó là tánh của tâm, cho nên đôi lúc người ta dùng lẫn lộn cả hai danh từ này, giống như tâm và tánh là một. Nhưng tâm có nhiều tánh: tánh tham, tánh sân, tánh si, tánh ưa, tánh ghét, tánh ghen, tánh kiêu mạn, tánh nghi, tánh xấu hổ, tánh lười, tánh nịnh, tánh ích kỷ, tánh nhút nhát, tánh mắc cở, tánh sợ ma, v.v... Vậy khi nói chỉ thẳng tâm để thấy tánh là thấy tánh nào? Thấy tánh tham có thành Phật được không? Thấy tánh sân có thành Phật được không? Ai cũng thấy những tánh đó nơi mình và người khác, vậy có ai thành Phật không? Nếu không thì phải thấy tánh nào?
Thiền tông chủ trương nói về tâm, nhưng thật ra chú trọng về tánh của tâm. Tánh này không phải là những tánh tốt, xấu bình thường của con người mà là một loại tánh đặc biệt, danh từ chuyên môn là tánh giác, bổn tánh. Thấy được và trở về sống với tánh giác chính là ý nghĩa kiến tánh của Thiền tông.
Tánh giác
Tánh giác là một danh từ trong kinh Lăng Nghiêm, khi ngài Phú Lâu Na hỏi “tất cả các thứ căn, trần, ấm, xứ, giới, v.v... đều là tính thanh tịnh bản nhiên Như lai tạng, thì sao bỗng nhiên lại sinh ra các tướng hữu vi như núi, sông, đất liền, v.v...?” Đức Phật trả lời: “tánh giác là diệu minh, bản giác là minh diệu”. Tánh giác có nghĩa đơn giản là tánh biết, nhưng tánh biết này không phải là cái biết thường tình thế gian như biết phải biết trái, biết yêu biết giận, biết buôn bán làm ăn, v.v... Tánh biết ở đây là tánh giác, là diệu minh. Diệu là năng duyên khởi ra sự vật, minh là nhận biết các sự vật. Tính chất nhận thức của Tánh biết này là hiện lượng (pramana), biết một cách trực tiếp, vô tư, không có vọng tưởng phân biệt, ưa ghét, thủ xả.
Tánh giác là tánh căn bản, thường hằng của tâm, còn được gọi là Phật tánh. Tánh giác này tỏa ra sáu giác quan thành nhiều tánh khác như tánh thấy, tánh nghe, tánh biết, tánh ngửi, tánh nếm. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật khai thị tánh thấy cho ngài A-Nan, rồi sau nhờ Bồ tát Văn Thù lựa một phương pháp cho ngài A-Nan tu tập, đó là quán tánh nghe (nhĩ căn viên thông) của Quán thế Âm Bồ tát, để trở về chân tâm. (trích bài viết của HT. Thích Trí Siêu).
VQ còn thấy:
Ngoài cái Tánh giác nói trên.
* Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm Đức Phật còn dạy Tánh Bản Nhiên Thanh Tịnh. của Tâm.
+ Thanh Tịnh ý là Bản Tánh Tâm vốn không tham, không sân, không si, không phiền não nhiễm ô v.v...
+ Bản Nhiên ý là vốn nó tự nhiên như thế, không do nhân duyên mà có biến đổi.
Bài kinh khất sĩ nói về tánh này như sau:
"Tánh Thanh Tịnh Chân Như,
Niết Bàn vô sanh diệt."
* Kinh Niết Bàn thì nói về Phật Tánh. Do có Phật Tánh làm chánh nhân - mà chúng sanh mới có thể tu thành Phật.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'GIA ĐÔĐÔNG Nhận ché câuf OTLINE 0984.0 30 989 DODONGLE GIA TS Tranh Chữ Tâm Phật Mạ Vàng 24k Khung Gá Gụ 59,5cm 50cm Hotline: 0984030989 0984097970'
Tất cả cảm xúc:
Nguyễn Ngọc Hùng và 2 người khác