Thứ Tư, 27 tháng 3, 2024

Tổng Luận về PHÁP DUYÊN KHỞI.

Người đời, vì không hiểu sự vật trong vũ trụ này từ đâu mà có, cho nên sanh ra nhiều quan niệm sai lầm. Có người nghĩ rằng vũ trụ do tự nhiên sanh. Có người lại nghĩ vũ trụ do một vị thần toàn trí, toàn năng tạo ra v.v...
Theo đạo Phật thì vũ trụ là vô thỉ, nghĩa là không có điểm khởi đầu, và mọi sự mọi vật trong vũ trụ không thể đứng riêng một mình mà có được; trái lại, phải nương nhờ nhau mà thành. Nói một cách khác, từ vật lớn cho đến vật nhỏ, từ vật hữu hình cho đến vô hình, đều không ngoài nhân duyên mà có. Vì thế, trong kinh Phật thường nói: "Chư pháp tùng duyên sinh".
Theo Ðại thừa thì bài kệ về nhân-duyên như vầy:
“Nhân duyên sở sanh pháp, ngã thuyết tức thị không,
Diệc danh vi giả danh, diệc danh trung đạo nghĩa”
Dịch nghĩa:
Các pháp do nhân duyên sanh, nên ta nói là không,
Chỉ là giả danh, cũng gọi nghĩa trung đạo.
Các Giáo lý của Đạo Phật dựa trên nền tảng Nhân Duyên mà khai thị.
+ Ví như kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Phật nói: “Ta vì một ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN mà hiện ra nơi đời.- Đó là vì Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật Tri kiến cho chúng sanh”.
+ Các kinh điển khác cũng vậy. Phật vì lòng từ bi muốn cho chúng sanh thoát khỏi ưu bi khổ não mà thuyết kinh.
Nên Cổ đức nói: pháp không tự khởi, nhờ cảnh mới sanh, đạo chẳng hư hành, gặp duyên liền ứng.
Nhưng xét kỷ ra: Các Pháp do Nhân Duyên sanh nên là KHÔNG. Vậy thì các NHÂN DUYÊN SANH PHÁP cũng là Duyên hợp nên cũng là KHÔNG. Dẫn đến Thực tế lý Địa lại là KHÔNG NHÂN, KHÔNG DUYÊN, KHÔNG SANH, KHÔNG DIỆT.- NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG.
Vì lẽ này nên quán thấy rằng.
+ Pháp Duyên Khởi là tiền đề của Kinh Đại Bát Nhã (Không Tông) và Kinh Kim Cang Bát Nhã. Cũng là các bộ kinh nói về KHÔNG TÁNH.
+ Pháp Duyên Khởi cũng là tiền đề của Kinh Hoa Nghiêm vì nói về Chư Pháp trùng trùng Duyên Khởi.
+ Pháp Duyên Khởi là tiền đề của Trung Quán Luận mà Tổ Long Thọ triển khai về Nhân Duyên, về Không, về giả, về Trung Đạo.
Có nghĩa là:
*Muốn hiểu các kinh hệ Đại thừa, như Pháp hoa, Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Kim cang, Trung Luận v.v… thì trước phải hiểu PHÁP DUYÊN KHỞI.
* Muốn chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, muốn được quả A la Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát chí đến quả Phật v.v…thì trước phải hiểu PHÁP DUYÊN KHỞI.
Nay VQ chỉ là đứa học trò dở tệ của Tôn Sư là HT. Thích Thiện Trí và HT. Thích từ Thông. mong góp nhặc lời giảng dạy của Nhị vị Ân Sư mà chia sẻ với các vị các đồng duyên, đồng cảm để làm giây phút pháp hỷ - an lạc trong bước đường tu nhân học Phật.
Kính chúc Quý Bạn Đạo thân tâm an lạc, Thâm nhập Duyên Khởi, đồng ngộ Vô Sanh, đồng thành Phật Đạo.
Nam mô Thường Trụ Tam Bảo CM
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
Bạn, Nguyễn Ngọc Hùng và 1 người khác

Duyên Khởi. Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.(tt) Liễu Sanh- Thoát Tử.(các bài kinh nói về Liễu Sanh thoát tử)

Lời giải: Ở kinh Pháp Bảo Đàn
Tổ quở ngài Chí Đạo, nếu hiểu như vậy là chấp có hai mặt rõ ràng, một là Sắc thân là vô thường, hai là Pháp thân là thường, tức là chấp hai bên, chấp cái thường ngoài cái vô thường nên nói cái tịch diệt ngoài cái sanh diệt, như vậy là chấp lầm lẫn.
Phật thấy tất cả chúng sanh, ngay nơi thân sanh diệt có cái vô sanh, nhưng chúng ta không nhận được điều đó nên mãi chịu luân hồi.
Phật bảo thân năm uẩn là hư giả để chúng ta nhận ra cái chân thật ngay trong năm uẩn, chớ không phải rời năm uẩn mà riêng có Pháp thân. Ngay trong năm uẩn này nhận ra được Pháp thân bất sanh bất diệt, mà Pháp thân là cái lặng lẽ thường vui, chớ không phải diệt hết Sắc thân này rồi mới gọi là vui. Ngay nơi Sắc thân này mà nhận được cái tịch diệt lặng lẽ thường hằng của mình, đó gọi là “tịch diệt là vui” tức là vui ngay khi nhận được cái tịch diệt, chớ không phải đợi hoại thân này rồi mới riêng có cái vui Niết-bàn. Nếu chúng ta cứ mải chạy theo sanh tử rồi chấp sanh tử là thật, đó là chúng ta quên đi cái chân thật của mình, vì vậy Phật mới bảo thân sanh tử này là tướng năm uẩn hư giả, đừng lầm nó, phải bỏ cái giả để hướng về cái thật. Nhưng thật ra cái giả với cái thật không phải là hai, nó không rời nhau, không chạy theo cái giả thì cái thật hiện tiền; cho nên nói rằng sanh diệt khi diệt rồi tức là tâm niệm sanh diệt của mình được lặng rồi, thì tịch diệt hiện tiền. Chính ngay khi nó hiện tiền cũng không khởi niệm tịch diệt hiện tiền, tức là không có cái lượng tịch diệt hiện tiền thì ngay đó tịch diệt là vui. Nói một cách khác là sống với cái hiện lượng nghĩa là sống ngay trong hiện tại mà không có niệm nghĩ đến hiện tại, hay nói theo ngài Vĩnh Gia ngay nơi chỗ đó (đương xứ) mà không có niệm ngay đó, đó mới gọi là chân thật. Sống được như vậy mới gọi là thường lạc. Nếu còn một niệm chen vào đều không phải là thường lạc.
Tổ lại bảo rằng nếu chấp riêng có cái sanh ở ngoài cái vô sanh, hay có cái sanh diệt ở ngoài cái tịch diệt, là chấp hai bên, gọi là chấp thường chấp đoạn, đó là ngoại đạo chớ không phải Phật pháp. Chúng ta ngày nay học đạo vẫn còn lầm lẫn, cứ nghĩ ngoài Sắc thân này còn có thân Phật, cho nên khi ngồi tu mà mong thấy thân Phật mình phóng quang v.v... đó là quan niệm sai lầm.
Hãy nghe ta nói kệ:
Vô thượng Đại Niết-bàn,
Viên minh thường tịch chiếu,
Phàm ngu vị chi tử,
Ngoại đạo chấp vi đoạn.
Đại Niết-bàn vô thượng tròn sáng, thường lặng lẽ mà chiếu soi, phàm ngu gọi đó là chết, còn ngoại đạo chấp là đoạn, tức ngang đó là hết, chớ không ngờ chính ngay nơi mình có Đại Niết-bàn tròn sáng và thường chiếu soi, ai ai cũng đều sẵn có không riêng người nào.
(trích Đàn kinh)
+ Diệt đi mọi ý niệm lầm chấp về Sanh tử, lúc ấy Tịch Diệt - Niết Bàn - Vô Sanh .- hiện tiền ngay trước mắt.
+ Luân hồi không thật. Sanh tử không thật.- Tất cả chúng chỉ là những mộng tưởng điên đão.
Tâm Kinh Bát Nhã dạy: "Viễn ly mộng tưởng điên đão, cứu cánh Niết Bàn".- Giải rằng:
Phàm cái gì có sanh ra thì có họai diệt ,Đây là Chân Lý về mặt tục Đế. Nhưng với quán Trí bát Nhã Ba la Mật,Trên mặt Chân Đế .- Chư bồ tát thấy rỏ,tất cả Pháp đều như huyễn,nghĩa là không thật có, chỉ như bóng dáng huyễn hư, như trăng dưới nước, như ảnh trong gương, như tiếng vang, như cảnh trong mộng v.v...
Những gì là không thật, là Như huyễn thì bản chất là Vô sanh (không thật có sanh).-Chúng nó sanh khởi như bóng trong gương. Bóng trong gương thì cái gì là sanh ? Trăng dưới nước thì cái gì là sanh ?
cảnh trong mộng thì cái gì là sanh ?
#/.TẤT CẢ CÁI GỌI LÀ SANH CHỈ DO CHÚNG SANH MỘNG TƯỞNG ĐIÊN ĐÃO MÀ THẤY CÓ SANH CÓ DIỆT,BẢN CHẤT VẠN PHÁP VỐN VÔ SANH.
#/. Vì chúng vô sanh, nên cũng bất diệt.
* Sự sanh diệt ví như cái hình, cái bóng và chiếc gương.
+ Hình là Chơn Như, là Tâm, là Phật Tánh v.v... bất sanh, bất diệt.
+ "Nghiệp" của chúng sanh, và "Nguyện" của Bồ tát như tấm gương.
+ Sanh tử như chiếc bóng trong gương lòng đó.
* Chúng sanh do nghiệp cảm, mà thấy có sanh tử. Nhưng đây là Sanh tử bì lao tùng tham dục khởi.
Tổ Quy Sơn dạy:
* Chư Phật, chư Bồ Tát do "Nguyện" hóa sanh. Đây là "vãng lai Tam giới chi tân, xuất một vị tha tác tắc”. ( Làm người khách qua lại trong ba cõi, ra vào làm phép tắc cho người..- Qui Sơn Cảnh Sách).
Như vậy: Thoát ly Sanh tử, là ra khỏi ý niệm mê lầm vọng chấp của "Cái tôi huyễn Ngã". Và sống với cái sống thật của Chơn Như Tâm.- Rồi tùy duyên ứng hiện: "Kiến pháp tràng ư xứ xứ, phá nghi võng ư trùng trùng. Hàng phục chúng ma, thiệu long Tam Bảo".
Đại Trí Độ Luận dạy:
+ Hỏi: Nếu nói “5 ấm là Vô Thường, là Khổ, là Không, là Vô Ngã, thì ai sanh, ai chết?
Đáp: Về vẫn đề này trong kinh Bát Nhã Ba-la-mật có nói rõ: “5 ấm chắng phải Thường, cũng chăng phải Vô Thường,
chắng phải Không cũng chăng phải chăng Không, chẳng phải Ngã cũng chẳng phải Vô Ngã”.
Ngoại đạo mong cầu thật Ngã, nhưng Ngã vốn bất khả đắc, chỉ do hòa hợp mà có. Ví như người huyễn mà có sống, có chết, có làm đủ công việc vậy.
Hết thảy các pháp chỉ có danh, mà chẳng có thật thể.
Theo pháp thế gian, thì thật có sanh, có chết, mà ở nơi Thật Tướng pháp, thì chẳng có sanh, chắng có chết.- Còn ở trong vòng vô minh u ám, thì còn phải chìm đắm trong “Sanh tử, luân hồi”. Khi đã có được Đại Trí huệ, thì liền phá được “tướng sanh”, nên thoát được dòng “Sanh tử, luân hồi”. Như bài kệ thuyết:
Tướng các pháp vốn Không
Lại cũng chẳng Đoạn Diệt
Do hạnh nghiệp chẳng mắt,
Pháp sanh mà chẳng Thường
Tướng pháp như bẹ chuối,
Tùy Tâm mà sanh khởi.
Nếu rõ pháp vốn Không,
Tâm sanh pháp cũng Không
Nhưng dấy niệm chấp Không,
Là xa lìa Chánh pháp.
Biết Pháp chẳng Sanh Diệt,
Cũng biết xả niệm cháp.
Có niệm, đọa lưới ma,
Không niệm liên Giải thoát,
Tâm động là “Phi Đạo ”,
Chẳng động là “Pháp Ấn”.
+ Kinh Viên Giác nói về - Sanh diệt & Ý Thức:
Sanh diệt cũng tương tục, trong sanh có diệt, trong diệt có sanh. Thế nhưng phàm phu chẳng nhận thấy.
Người đã nhận ra Viên giác Tánh, thì biết rằng. Thật tướng sanh mạng của con người, không phải là trăm năm, cũng không phải trong hơi thở, mà là niệm niệm tương tục, nó sanh diệt diệt sanh không có lúc dừng nghỉ như "Bộc lưu". Nhưng "Bọc lưu" đó cũng chỉ là "ý niệm sanh diệt, là vọng niệm, là như mộng huyễn bào ảnh".Tánh của Viên giác là chưa từng sanh, chưa từng diệt, chưa từng đến, chưa từng đi. Như như bất động.
Đưa mọi ý niệm vào Viên Giác Diệu Tâm.- Đó là
"Sanh diệt diệt dĩ.
Tịch diệt Vi lạc." (hết trích)
Tóm lại: Liễu Sanh thoát Tử hay Liễu thoát Sanh tử, chỉ là thoát khỏi mọi lầm chấp do Ý Thức vọng động, không còn bị ý thức đánh lừa, là trở về Tánh Giác, về Trí Huệ, về Tri kiến Phật.
Lúc ấy Sanh Tử chỉ là Du hý Thần Thông qua lại 6 đường 3 cõi.- Làm người khách qua lại trong Tam giới, ra vào làm phép tắc cho người..SANH TỬ TỰ TẠI, SANH MÀ VÔ SANH VẬY.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 2 người khác

Duyên Khởi. Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ. Liễu Sanh- Thoát Tử. (tt)

pháp Bảo Đàn Kinh. có pháp thoại (về bài kinh trên):
Tăng Chí Đạo, người quê ở Nam Hải, Quảng Châu đến thưa hỏi, thưa rằng:
Học nhân từ xuất gia, xem kinh Niết-bàn hơn mười năm chưa rõ được đại ý, cúi mong Hòa thượng thương xót chỉ dạy.
Tổ bảo: Chỗ nào ông chưa rõ?
Thưa rằng:
Chư hạnh vô thường, là pháp sanh diệt, sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui, nơi đây con nghi ngờ.
Tổ hỏi: Ông nghi như thế nào?
Thưa rằng:
Tất cả chúng sanh đều có hai thân gọi là Sắc thân và Pháp thân. Sắc thân vô thường có sanh có diệt, Pháp thân có thường không tri không giác. Kinh nói: “sanh diệt diệt rồi tịch diệt là vui”, chẳng biết thân nào tịch diệt, thân nào thọ vui?
Đây là ngài Chí Đạo hỏi Tổ ý nghĩa bài kệ trong kinh Niết-bàn:
Chư hạnh vô thường,
Thị sanh diệt pháp,
Sanh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc.
Tịch diệt là vắng lặng, là mất hết. Ngài Chí Đạo hỏi: Nếu Sắc thân chết rồi thì làm sao vui? Còn nếu Pháp thân tịch diệt thì Pháp thân là vô tri, lấy cái gì mà vui? Vì sao nói: tịch diệt là vui?
Nếu là Sắc thân, khi Sắc thân tịch diệt, bốn đại phân tán, toàn là khổ, khổ không thể nói vui; nếu Pháp thân tịch diệt tức đồng cỏ cây gạch đá, ai sẽ thọ vui? Lại Pháp tánh là thể của sanh diệt, năm uẩn là dụng của sanh diệt, một thể năm dụng, sanh diệt là thường, sanh thì từ thể khởi dụng, diệt thì từ dụng nhiếp về thể, nếu cho lại sanh tức là loài hữu tình không đoạn không diệt.
Nếu từ thể khởi dụng, từ dụng trở về thể, như vậy mãi thì sanh lại sanh tức là gặp cái lỗi vô cùng.
Nếu chẳng cho lại sanh tức là hằng trở về tịch diệt thì đồng với vật vô tình, như thế ắt tất cả pháp bị sự ngăn cấm của Niết-bàn, còn chẳng được sanh, có gì là vui?
Khi dấy lên là sanh, khi lặng xuống là diệt; khi lặng xuống không sanh trở lại nữa tức là Niết-bàn, đó là bị cấm chỉ không cho sanh, còn gì mà vui, sao kinh lại nói tịch diệt là vui?
Tổ quở:
Ông là Thích tử sao lại tập theo ngoại đạo về đoạn kiến và thường kiến mà luận nghị về pháp Tối thượng thừa. Cứ theo lời ông nói, tức là ngoài Sắc thân riêng có Pháp thân, lìa sanh diệt để cầu tịch diệt, lại suy luận Niết-bàn thường lạc nói có thân thọ dụng, đây là chấp lẫn về sanh tử, đắm mê cái vui thế gian; nay ông nên biết, Phật vì tất cả người mê nhận thân năm uẩn hòa hợp làm thể tướng của mình, phân biệt tất cả pháp cho là tướng ngoại trần, ưa sanh, ghét chết, niệm niệm đổi dời, không biết là mộng huyễn hư giả, luống chịu luân hồi, lấy thường lạc Niết-bàn đổi thành tướng khổ, trọn ngày tìm cầu. Phật vì thương những người này, mới chỉ dạy Niết-bàn chân lạc, trong sát-na không có tướng sanh, trong sát-na không có tướng diệt, lại không có sanh diệt có thể diệt, ấy là tịch diệt hiện tiền. Chính ngay khi hiện tiền cũng không có cái lượng hiện tiền, mới gọi là thường lạc. Vui này không có người thọ, cũng không có người chẳng thọ, há có tên một thể năm dụng, huống là lại nói Niết-bàn ngăn cấm các pháp khiến hằng chẳng sanh. Đây là ông chê Phật hủy pháp. (hết trích)
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 7 người khác