Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2024

Duyên Khởi. Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.(tt) Bản Thể Vô Sanh- hiện Tượng Sanh tử.

Pháp Bảo Đàn- Phẩm Cơ Duyên có mẫu chuyện:
Thiền Sư Huyền Giác (665-712)
(Đời thứ 1 sau Lục Tổ)
Vĩnh Gia, Ôn Châu
Lục Tổ Huệ Năng → Vĩnh Gia Huyền Giác
Sư họ Đới, quê ở Vĩnh Gia Ôn Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Sư xem khắp ba tạng Kinh, trí đức viên mãn, trụ trì chùa Hưng Long. Sư tinh thâm về pháp môn Chỉ Quán của Đại sư Trí Khải ở núi Thiên Thai, trong bốn oai nghi lúc nào cũng khế hợp thiền quán. Thấy cạnh chùa dưới sườn núi có cảnh đẹp, Sư bèn xuống cất một Thiền am, lưng tựa ngọn núi xanh, hông kề dòng suối trong. Sư sống một đời thanh đạm, không hề nghĩ đến việc thế tục.
Sư nhân xem kinh Duy Ma phát minh được tâm địa. Gặp đệ tử của Lục Tổ là thiền sư Huyền Sách, hai bên nói chuyện với nhau đều thích hợp lời chư Tổ.
Huyền Sách hỏi: Nhân giả đắc pháp nơi thầy nào?
Sư đáp: Tôi nghe trong các kinh luận Phương Đẳng mỗi vị đều có thầy trò trao truyền. Sau xem kinh Duy-ma ngộ được Tâm tông, mà chưa có người chứng minh.
Huyền Sách bảo: Từ đức Phật Oai Âm Vương về trước, không có thầy chứng minh thì được. Từ đức Phật Oai Âm Vương về sau, không thầy tự ngộ đều là ngoại đạo thiên nhiên.
Sư nói: Xin nhân giả vì tôi chứng minh.
Huyền Sách bảo: Lời nói tôi nhẹ lắm. Ở Tào Khê có Lục Tổ đại sư bốn phương học giả tụ họp về thọ pháp, nếu nhân giả muốn đi thì tôi cùng đi với.
Sư bèn theo Huyền Sách đi đến Tào Khê.
Đến nơi, Sư tay cầm tích trượng vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng. Tổ hỏi: Phàm Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, Đại đức là người phương nào đến, mà sanh đại ngã mạn như vậy?
Sư thưa: Sanh tử là việc lớn, vô thường quá nhanh.
Tổ bảo: Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sanh, liễu chẳng mau ư?
Sư thưa: Thể tức vô sanh, liễu vốn không mau.
Tổ khen: Đúng thế! Đúng thế!
Lúc đó đại chúng nghe nói đều ngạc nhiên. Sư bèn đầy đủ oai nghi lễ tạ Tổ. Chốc lát sau Sư xin cáo từ.
Tổ bảo: Trở về quá nhanh!
Sư thưa: Vốn tự không động thì đâu có nhanh.
Tổ bảo: Cái gì biết không động?
Sư thưa: Ngài tự phân biệt.
Tổ bảo: Ngươi được ý vô sanh rất sâu.
Sư thưa: Vô sanh có ý sao?
Tổ bảo: Không ý, cái gì biết phân biệt?
Sư thưa: Phân biệt cũng không phải ý.
Tổ khen: Lành thay! Lành thay!
Sư ở lại đây một đêm để hỏi thêm đạo lý. Sáng hôm sau, Sư cùng Huyền Sách đồng xuống núi trở về Ôn Giang. Thời nhân gọi Sư là Nhất Túc Giác (một đêm giác ngộ).
Từ đây về sau, học chúng bốn phương tìm đến tham vấn Sư thật đông. Sư được tặng hiệu là Chơn Giác Đại Sư.
Đời Đường niên hiệu Tiên Thiên thứ hai (713) ngày mười bảy tháng mười, tại viện riêng ở chùa Hưng Long, Sư ngồi vui vẻ thị tịch, thọ bốn mươi chín tuổi. Vua sắc ban là Vô Tướng Đại Sư, tháp hiệu Tịnh Quang.
Tập Chứng Đạo Ca và Thiền Tông Ngộ Tu Viên Chỉ do Sư trước tác, sau này môn đồ là Ngụy Tinh làm Thích sử Khánh Châu, góp lại làm thành mười thiên gọi là Vĩnh Gia Tập. □
[TSTH1 – HT]
(hết trích)
Lời bàn:
Sư Huyền Giác nêu vấn đề: Sanh tử là việc lớn, vô thường quá nhanh.
Sư thưa: Thể tức vô sanh, liễu vốn không mau.
Tổ khen: Đúng thế! Đúng thế!
Ý nói việc Sanh Tử là Vô Thường- Thời gian chóng qua cái chết liền đến.
Tổ bảo: Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sanh, liễu chẳng mau ư?
Ý Tổ khai thị: Bản Thể Chân Như Tâm là VÔ SANH, thấu hiểu Thật Tướng thì Thời gian chẳng có, thì làm gì có nhanh chậm.
Huyền Giác thưa: “Thể tức là vô sanh, liễu vốn không có mau.”
Tổ bảo: “Như thế, như thế !”
Đây là Chân Lý : Bản Thể Vô Sanh- hiện Tượng Sanh tử.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3

Duyên Khởi. Bài 10.- 12 ND- SANH TỬ.

Trong 12 Nhân Duyên làm nhân quả sanh khởi cho nhau: Có Vô Minh, thì Hành có, có Hành thì Thức có, Có Thức thì Danh Sắc có, Có Danh Sắc thì Lục nhập có, có Lục nhập thì, Ái có, có Ái thì Thủ, có, có thủ thì Hữu có. Hữu có thì Sanh tử ưu bi khổ não có. Đó là vòng duyên khởi của kiếp con người.
Sau đây chúng ta khảo sát và Bản chất SANH TỬ (chi cuối của 12 Nhân Duyên).
Nhị thượng nhân viết bài thơ tuyệt bút:
Sinh như trước sam,
Tử như thoát khố.
Tự cổ cập kim,
Cánh vô dị lộ.
nghĩa:
Sống như mặc áo,
Chết như cởi quần.
Xưa nay vô cùng,
Không đường nào khác.
( Vô Nhị Thượng Nhân.- Trần Thánh Tông)
Kính thưa các bạn: Sống ư ? Chết ư ? Áo ư ? Quần ư ? Tuyệt !
Vậy theo các Bạn:
Sanh là gì ?
Tử là gì ?
hay:
Một câu hỏi lớn không lời đáp,
Cho đến bây giờ mặt vẫn chao ?
(trích thơ Xuân Diệu)
Thường nhân cho rằng:
Con người :
- khi mới gá vào bụng mẹ- gọi là thai.
- Khi lọt lòng mẹ gọi là sanh.
- Khi lớn gọi là trưởng thành.
- Khi tuổi cao đi đứng không nổi gọi là già.
- Khi tắt hơi thở gọi là chết .
(???)
Có bài thơ nhận thức sanh tử:
"Sống thì có gì vui
Chết thì có gì buồn
Thương thay cho con người
Sao lo buồn lắm vậy
Thương thay cho con người sao lo buồn lắm vậy."
Lời thì có gì hay
Chỉ là hơi túi thịt
Son phấn thì có gì đẹp
Chỉ che nét tàn phai
Thương thay cho con người
Sao bận lòng lắm vậy
Thương thay cho con người sao bận lòng lắm vậy.
Đường đời chia vạn nẻo
Đoạn thường và được mất
Vô thường diệc vô đoạn
Phi đắc phi sở đắc
(Bản lai vốn không tịch)
Không ta về đâu nhỉ?
Vạn nẻo là hư không!
Hòa Thượng Thích Từ Thông (Pháp Sư) giảng ở Chứng Đạo Ca:
Ham sinh sợ tử là việc thường tình. Bởi vì người đời quan niệm rằng "đời người có một lần". Một lần sinh ra. Một lần thi đỗ. Một lần kết hôn và đáng sợ nhất, một lần chết. Cuối cùng chết là hết!
Dưới nhãn quan của người chứng đạo: vạn pháp không có cái gì mất hẳn. Vạn pháp là hiện tượng vô thường nhưng chúng duyên sinh từ bản thể chân thường. Vì vậy, việc sinh tử không thể luận kiếp số, không có sự chấm dứt dòng sinh tử. Dòng sinh tử tử sinh cứ trôi mãi không có bến bờ dừng trụ. Nó "hằng" mà "chuyển". "Chuyển" trong cái "hằng".
"… Tử rồi sinh, sinh tử lững lờ trôi"
Không phải chỉ có con người mới tử sinh vô cùng vô tận về kiếp số. Qua cái thấy của người chứng đạo, Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni của ta cũng vậy, chư Phật trong mười phương ba đời cũng cùng thọ dụng một chân lý.
"… Việc sinh tử, kể sao cho cùng số…"
---o0o---
Việc sinh tử, kể sao cho cùng số… Vì nó vốn không thật có. Tổ dạy: "Còn mộng mơ, thấy có sáu nẻo luân hồi. Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết" (trích bài giảng chứng đạo ca- TC3).
Vâng ! Vấn đề Sanh - tử, :
Muôn pháp không thường còn,
Người sanh ắt có diệt.
Sanh tử như thủy triều,
Diệt tận, chơn phúc hiện.
Thác bền, sống không bền,
Người đời ai cũng chết.
Chết mục tiêu cuộc đời,
Đúng y lời Phật dạy!
Kiếp sống trong ngắn ngủi.
Chết thật là chắc chắn,
Sớm muộn xác thân này,
Trả về cho tứ đại.
Nhìn xem thể phách hoại,
Xác như gỗ mục hư.
Tánh thanh tịnh chơn như,
Niết-bàn vô sanh diệt.
(kinh Khất sĩ)
Vâng ! Ai cũng phải có sanh và ai cũng phải có tử, mà nguyên nhân của sanh tử là do ta có "Cái ngã". Do có ngã chấp nên có 2 thứ chấp là:
- Chấp sau khi chết là hết, tức là đoạn kiến.
- Chấp sau khi chết có cái hồn để tái sanh, đó là thường kiến.
Mà Thường kiến hay đoạn kiến đức Phật đều bát bỏ. Nên bài kinh nói:
Tánh thanh tịnh chơn như,
Niết-bàn vô sanh diệt
Nghĩa là Sanh- tử là huyễn mộng, Niết Bàn vô sanh diệt mới là Chơn Lý.
Như vậy: Việc Sanh Tử chỉ là Vọng Tưởng do Vô Minh mà thấy có.

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2024

Duyên Khởi. Bài 9.- 12 ND.3. Thức.

Khi đã có sự vận Hành, thì có sự nhận thức.- Đó à THỨC. Thức là biểu hiện của Tâm. Gồm có 8 Thức:
1 Nhãn thức
2 Nhĩ thức
3 Tỷ thức (cũng có nơi đọc là tị thức)
4 Thiệt thức
5 Thân thức
6 Ý thức
7 Mạt-na thức
8 A-lại-da thức.
Trong đó nổi trội nhất là Ý THỨC. Ý thức là sự phân biệt, suy nghĩ, phán đoán v.v...
Chúng sanh chấp Ý Thức này là Tự Ngã, làm linh hồn, mà không biết nó là pháp Duyên hợp, là vọng khởi, nên tạo nên tội và phước như huyễn.
Kinh dạy:
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo.
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình.
(Kinh Pháp cú )
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
5

Duyên Khởi. Bài 9.- 12 ND.2.Hành (tt).

Cũng với các Hành dụng như trên. HÀNH có thể chia làm 2 loại:
1/. Trí Huệ Hành.
2/. Vô Minh Hành.
* Trí Huệ Hành có nói ở 18 Bất Cộng Pháp của Phật và Bồ Tát. Đó là:
13.Nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả thân nghiệp đều hành động theo trí tuệ.
14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả khẩu nghiệp đều hành động theo trí tuệ.
15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành: Tất cả ý nghiệp đều hành động theo trí tuệ.
(Phật tạo tác ba nghiệp thân, khẩu, ý bằng trí tuệ, trước hết ngài quán sát sự được – mất, sau đó tùy theo trí tuệ mà hạnh động, cho nên cả ba nghiệp đều không có lỗi lầm mà chỉ có lợi ích cho chúng sinh).
* Vô Minh Hành: Là chúng Sanh, các tạo tác và hành động do Vô minh sai khiến. Đó là:
Thân: Sát sanh, trộm cướp, dâm dục.
Khẩu: Nói dối, nói thiêu dệt, nói lời hung ác, nói đâm thọc.
Ý: Tham, sân, si.
(Chúng sanh tạo tác ba nghiệp.- thân, khẩu, ý do Vô minh tác động, cho nên cả ba nghiệp đều có lỗi lầm cho mình và cho người).
Tóm lại: Hành là 1 trong 5 Uẩn (sắc, thọ, tưởng, HÀNH, thức. 5 uẩn này duyên hợp thành con người) Hành là tạo tác, là Nghiệp.- Do Vô Minh hoặc Trí Huệ sai sử mà có kết quả sai khác.
Có thể là hình minh họa về con voi
Tất cả cảm xúc:
3