Thứ Hai, 1 tháng 2, 2021

Sự Thật Về Giới Tăng Bảo Xưa Nay - Công Đức, Phước Báu Là Sự Dối Trá Ngọt Ngào (P. 3)

 


Sự Thật Về Giới Tăng Bảo Xưa Nay - Công Đức, Phước Báu Là Sự Dối Trá Ngọt Ngào (P. 3)
Một đoạn hỏi đáp giữa ngài Na Tiên tỳ kheo và vua Mi Lan Đà - Kinh Mi Tiên Vấn Đáp:
- Cái gì là cao thượng, thật sự cao thượng của người xuất gia, thưa đại đức?
- Thưa, khi người xuất gia không còn bị sinh lão bệnh tử của ngũ uẩn ma vương ấy chi phối nữa, vị ấy thân chứng một trạng thái quân bình tuyệt hảo, hạnh phúc tuyệt hảo, vượt lên trên tất cả hạnh phúc của trần thế, siêu việt ý niệm, ngữ ngôn, cái ấy giả danh gọi là Niết bàn; nơi không còn sanh tử, khổ đau và phiền não nữa! Đấy là sự cao thượng trên tất cả mọi sự cao thượng, tâu đại vương!
Đức vua rất hoan hỷ hỏi tiếp:
- Tất cả sa môn đều có nguyện vọng như thế sao?
- Tâu đại vương! Cứu cánh sa môn hạnh thì như thế, nhưng trong hàng Tăng lữ hiện có bảy hạng người xuất gia vì lý do khác nhau:
1. Có người xuất gia vì muốn trốn luật vua, phép nước.
2. Có người xuất gia là để được thân cận giới quyền quý cao sang.
3. Có người xuất gia là mong được quyền hành trong một ngôi chùa hay lãnh đạo Tăng lữ, đồ chúng.
4. Có người xuất gia vì thất nghiệp, muốn kiếm miếng cơm manh áo.
5. Có người xuất gia vì cô thế, cô thân, trốn kẻ thù nghịch.
6. Có người xuất gia vì mang công mắc nợ.
7. Có người xuất gia vì sợ sanh tử luân hồi, muốn chấm dứt khổ đau, phiền não.
Thấy đại đức Na-tiên trả lời đâu ra đó rất rõ ràng, minh bạch, lại tự nhiên như hít thở khí trời, vua Mi Lan Đà phục lắm, ướm hỏi:
- Vậy chắc chắn đại đức vì mục đích cao thượng của hạng người thứ bảy mà xuất gia làm sa môn?
Đại đức Na-tiên mỉm cười gật đầu:
- Thưa, không phải thế! Bần tăng rời khỏi gia đình lúc bảy tuổi, còn rất nhỏ thì nào biết gì! Sau dần lớn lên, nhờ Thầy tổ, nhờ các vị trưởng lão dày công giáo hóa, trí óc mới khơi mở được chút ít. Hiện giờ thì có thể nói rằng, bần tăng tu là cốt ý để diệt khổ, đấy không còn là lời nói dối nữa!
...
Đoạn kinh văn bên trên đã nói rõ về sự cao thượng của việc xuất gia. Đây là điều mà Tứ chúng học Phật rất nên ghi nhận và giới Tăng Ni xuất gia càng phải thấu cảm để xứng tánh hạnh.
Đoạn kinh văn còn nói đến một sự thật ở giới học Phật xuất gia trẻ tuổi, phần nhiều họ sẽ không hiểu biết đầy đủ về duyên phận xuất gia của chính mình. Có không ít chú tiểu, sa di sống ở chùa từ thơ bé là do gia đình ruồng bỏ, nhà nghèo khó không thể nuôi con, số khác thì bị cha mẹ bỏ rơi vì có thai ngoài ý muốn,...
Những người xuất gia theo lối này là do hoàn cảnh đẩy đưa, chí hướng xuất trần là hoàn toàn không có. Họ như lục bình trôi gặp thời đạo Phật hưng thịnh thì theo nước bồng bềnh trên cao, gặp cảnh đạo Phật suy tàn thì rũ rượi bên những mái chùa xiêu đổ, phát chán thì họ sẽ hoàn tục kiếm cơm nơi chợ đời.
Điều này cho thấy vai trò rất quan trọng, tuyệt đối quan trọng của vị thầy Tăng Bảo hướng đạo cho học Tăng. Nếu vị Tăng Bảo hướng đạo là minh sư sáng mắt thì lối đạo giác ngộ giải thoát ở học Tăng sẽ rộng mở thênh thang; Nếu vị Tăng Bảo hướng đạo là vị Tăng cơm áo hám danh, tham lợi thì sẽ khiến những vị học Tăng kế thừa sự lệch lạc chánh đạo, ngộ nhận về Phật pháp. Việc xuất gia với cốt ý diệt khổ, vượt thoát luân hồi khi ấy sẽ trở nên mông lung, thành điều huyền thoại. Và đây quả thật là hiện tướng của đạo Phật ngày nay.
...
Ở đoạn kinh văn trên còn trình bày về 7 hạng xuất gia khác nhau ở thời kỳ Phật giáo giai đoạn tượng hình.
Ngày nay, trong hàng ngũ Tăng lữ xuất gia có đến ít nhất 8 hạng xuất gia khác nhau.
Cụ thể là ngoài 7 hạng xuất gia được nêu ở Kinh Mi Tiên Vấn Đáp còn có một hạng xuất gia đặc biệt, đây là thành phần xuất gia nòng cốt có ở các Tổ chức Phật giáo chính quy như Giáo hội Phật Giáo, Hội Phật Giáo, các chùa chiền, tự viện trọng điểm,... Hạng xuất gia này là hạt giống đỏ của các nhà lãnh đạo đất nước.
Điển hình như ở Việt Nam, những hạt giống đỏ Tăng Bảo sẽ là những Đảng viên thấm nhuần lý tưởng Cộng Sản. Họ sẽ nằm vùng trong hàng ngũ Tăng Bảo và sẽ được đặc cách đảm nhiệm những chức vụ cao, những vị trí then chốt có vai trò lèo lái, định hướng sự phát triển của Tăng đoàn, của đạo Phật theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra, ngày nay trong hàng ngũ Tăng đoàn sẽ có một lượng lớn Tăng Bảo là hạng xuất gia mượn đạo, tạo đời. Hạng Tăng Bảo này vì hám danh, tham lợi mà xuất gia. Hạng Tăng Bảo này xuất gia chỉ nhằm vào việc kiến tạo chùa to, Phật lớn, tiền của chất đầy, vinh thân, phì gia; Việc trau dồi trí tuệ giác ngộ giải thoát với họ là điều thứ yếu, không đáng quan tâm. Họ sống bằng niềm tin họ đang hộ trì Tam Bảo và lẽ dĩ nhiên công đức, phước báu sẽ tự đong đầy. Thậm chí có cả những vị Tăng Bảo không hề quan tâm công đức, phước báu; họ đang sống thật bằng vào lối sống thực dụng đang thời cực thịnh.
Bởi do đã từ lâu đại chúng học Phật cả Tăng lẫn tục hiểu sai giáo lý đạo Phật, lấy ngụy làm chân; Sự ngộ nhận của người học Phật đã tạo duyên cho việc tu phước bùng phát như nấm mọc sau mưa. Kết quả của việc gieo rắc si mê phước báu ở sự tu học của Tứ chúng học Phật đã làm vùi lấp trí tuệ của người học Phật, người học Phật ngày càng điên đảo, chìm đắm trong muôn điều mê tín, huyễn hoặc.
...
Và trước sự sa đọa hàng loạt ở giới Tăng Bảo ngày nay đã có rất nhiều người học Phật nhận ra được chân tướng của những vị Tăng Bảo vốn không phải là những người xuất gia học Phật thực thụ, những kẻ mượn đạo, tạo đời.
Từ đó, trong lòng của những người học Phật chân chính dấy lên nỗi bi thương khi cho rằng ngoại đạo đã xâm thực đạo Phật và rồi đạo Phật sẽ bị hủy diệt.
Mai này, đạo Phật còn đâu nữa những bậc chân tu, khi tất cả những vị Tăng Bảo đều là những kẻ ngoại đạo đột lốt sa môn. Đạo Phật rồi sẽ về đâu khi sự mục rỗng đến từ bên trong?
...
Các bạn đã đúng rồi đấy. Vì lẽ đó chúng ta hãy đánh thức và đặt giới Tăng Bảo vào đúng vị trí Thanh Văn học Phật với vai trò giữ gìn Kinh Phật, hộ trì Tam Bảo.
Và các bạn hãy nâng tầm góc nhìn ở vị trí max - Vị trí tối ưu, ở góc nhìn đó các bạn sẽ dễ dàng nhận ra rằng hầu hết những vị Tăng Bảo xưa nay đều là ngoại đạo.
Các bạn hãy chú ý cho rằng Ngạo Thuyết nói hầu hết các vị Tăng Bảo đều là ngoại đạo chứ không đơn thuần là các vị ấy trước khi xuất gia học Phật đã từng là ngoại đạo.
Thật vậy! Từ xưa đến nay hầu hết các vị Tăng Bảo đều là ngoại đạo dẫu cho họ có chánh tín xuất gia, nghiêm trì giới luật thì họ vẫn là ngoại đạo. Chỉ khi nào người xuất gia học Phật phát khởi chánh trí, thâm nhập liễu nghĩa kho tàng Như Lai Tạng thì khả dĩ họ mới trở nên là thầy của Trời - Người, là một vị đạo sư Phật môn đúng nghĩa.
Và nơi góc nhìn nâng ở vị trí tối ưu chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận giới Tăng Bảo xưa nay đích thực đều là ngoại đạo. Qua đó, chúng ta và cả giới Tăng Bảo ý thức được rằng không phải chỉ cần quy y Tam Bảo, cắt tóc xuất gia liền trở thành thầy của Trời - Người, trở thành đại diện đúng pháp của đạo Phật.
Do đó, với góc nhìn sáng rõ đại chúng học Phật sẽ không dễ bị hình tướng Tăng Bảo mê hoặc và cũng dễ dàng hơn trong việc chấp nhận hạt giống đỏ của ngoại đạo đang là lực lượng nòng cốt của Tăng đoàn. Cả thảy đều là ngoại đạo hà tất phải chứa giữ điều kỳ thị, khinh chê.
Chúng ta tôn kính giới Tăng Bảo xuất gia là vì họ là thành phần chính danh được Phật gửi gắm vai trò giữ gìn Pháp Bảo, họ là một trong số ba viên ngọc quý Tam Bảo.
Vì thế chỉ cần giới Tăng Bảo giữ giới nghiêm túc, thường tu phạm hạnh thì họ đã đạt yêu cầu của hàng Thanh Văn học Phật. Dẫu cho họ có là ngoại đạo xuất gia học Phật với tư tâm muốn thâu tóm, lãnh đạo Tăng đoàn hay việc quản lý đại chúng học Phật theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì họ vẫn là một vị Tăng Bảo chính danh.
- Sự tồn tại hạt giống đỏ của thành phần quản lý xã hội ở giới Tăng Bảo liệu có gây ra những họa hại gì? Liệu sự tồn tại của họ có gây ra sự hủy hoại giáo lý giác ngộ giải thoát không?
Một khi chúng ta nhận ra giới Tăng Bảo là thành phần Thanh Văn học Phật và đặt để họ vào đúng với vai trò là thành phần giữ gìn Kinh Phật, hộ trì Tam Bảo thì sẽ không có sự nguy hại lớn nào xảy ra cho đạo Phật cả.
Chỉ khi chúng ta phó mặc trí tuệ và cả con đường giác ngộ giải thoát của chúng ta cho giới Tăng Bảo, chúng ta không tự thắp đuốc trí tuệ mà đi thì mới thật là sự hung hiểm cho đạo Phật.
Và khi chúng ta nhận ra và chấp nhận giới Tăng Bảo là ngoại đạo, chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc cảm thông những người đã chọn lựa việc "Cắt ái, ly gia" để học hỏi Phật pháp, gìn giữ ngọn đuốc chánh pháp được lan truyền.
Tương tự như thế, khi đó chúng ta sẽ cảm thông cho những hạt giống đỏ vì lý tưởng cách mạng, vì lý tưởng xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã phải ẩn nhẫn, trà trộn vào hàng ngũ Tăng đoàn, ra sức học hỏi Phật pháp, gắng sức giữ giới để thu phục được sự tín nhiệm của đại chúng học Phật.
Mục đích cuối cùng của những hạt giống đỏ cộng sản trà trộn trong giới Tăng Bảo không chỉ dừng lại ở việc dẫn dắt đại chúng học Phật theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Những vị Tăng Bảo cộng sản còn phải nghe ngóng, nắm bắt thông tin hoạt động của những thành phần phản động, chống phá việc xây dựng đất nước lẩn trốn ở các tổ chức tôn giáo, chùa chiền cũng như nhà thờ. Đây là việc khó làm và đáng trân trọng.
Tại sao Ngạo Thuyết lại cho rằng sự tồn tại của hạt giống đỏ trong giới Tăng Bảo là việc khó làm và đáng trân trọng?
Chúng ta đều biết nước Việt Nam đã từng trải qua những năm tháng trường kỳ kháng chiến rất đỗi đau thương. Dân tộc Việt Nam đã rất gian khổ mới giành được nền hòa bình, độc lập.
Do đó, việc nhà quản lý đất nước Việt Nam e dè sự ẩn nhẫn chờ thời của các thế lực thù địch núp lùm trong các tổ chức tôn giáo là điều đương nhiên.
Vì lẽ đó để đảm bảo việc nắm giữ quyền lực ở vai trò quản lý đất nước các nhà lãnh đạo cộng sản đã tiến hành việc cài cắm cán bộ nằm vùng ở mọi vùng miền, mọi giai tầng xã hội và cả ở các hệ thống tôn giáo; Đây là điều có thể chấp nhận được và không hề sai.
Các đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam đã từng ở trong chăn nên thừa biết những tấm chăn tôn giáo thường luôn có rận.
Tóm lại, việc tồn tại hạt giống đỏ ngoại đạo trong hàng ngũ Tăng đoàn ngày nay là điều không thể tránh khỏi, song ngoại đạo nào cũng chỉ là ngoại đạo. Và khi họ giữ giới nghiêm cẩn, xứng tánh hạnh thì họ xứng đáng được cúng dường.
@ Bây giờ, Ngạo Thuyết sẽ trình bày vấn đề liên quan đến công đức và phước báu.
Thật vậy! Công Đức, Phước Báu Là Sự Dối Trá Ngọt Ngào.
Ngạo Thuyết vốn là hạng gà mờ học Phật, lại không thầy không bạn nên khi dấn thân học Phật sẽ lần dò góp nhặt thông tin và tri kiến Phật.
Khi buổi đầu tìm đến đạo Phật có hai chữ khiến Ngạo Thuyết chú ý, đó là chữ Tâm và chữ Đạo. Tiếp tục dò tìm thì Ngạo Thuyết biết được chữ Tâm được trình bày ở Kinh Thủ Lăng Nghiêm; Riêng chữ Đạo thì Ngạo Thuyết không tìm ra bộ Kinh Phật nào nói rành rõ, chuyên sâu.
Lần dò ở đạo Phật mãi tìm không ra chữ Đạo và Ngạo Thuyết đã tìm ra chữ Đạo ở quyển Đạo Đức Kinh của Lão Tử.
Với sự ngây ngô, không chấp chặt ngoại đạo hay đạo Phật, việc tham khảo Đạo Đức Kinh giúp Ngạo Thuyết vỡ ra được nhiều điều. Cơ hồ như chữ Đạo, chữ Đức, chữ Phước,... vốn được trình bày sáng rõ ở sách Đạo Đức Kinh.
Không chỉ vậy, Đạo Đức Kinh còn viết rõ rằng Phước thường sẽ liền kề với Họa. Và Ngạo Thuyết cũng nhận ra Phước là đầu mối của Tham Sân Si Mạn Nghi.
...
Với nhận thức ngu ngơ như thế Ngạo Thuyết khởi lên suy tư rằng không hẳn Kinh Phật sẽ chứa duy nhất những lời Phật thuyết; Rõ thật là ngay như chữ Đạo đã cho thấy giao lý đạo Phật đã vay mượn từ ngoại đạo và một người đã giác ngộ giải thoát hẳn sẽ không dùng Phước Báu, Công Đức để mê hoặc tín chúng.
...
Vụng nghĩ như thế nên Ngạo Thuyết lần dò xem Công Đức, Phước Báu thật sự mang lại lợi ích gì cho giới Tăng Bảo xuất gia và cư sĩ tại gia.
- Công Đức, Phước Báu liệu có mang đến cho Tứ chúng học Phật sự giác ngộ giải thoát không?
Dường như là không. Và Công Đức, Phước Báu cũng không mang lại trí tuệ cho người học Phật. Thậm chí Công Đức, Phước Báu còn khiến người học Phật đắm nhiễm trong việc hùn phước, xây chùa, độ Tăng, phóng sanh, cầu nguyện một cách mê mê và làm vùi lấp cả định huệ của người học Phật.
Ngẫm nghĩ đến đây, Ngạo Thuyết ngỡ ngàng - Ô hay! Sao kỳ lạ vậy? Dường như có cái gì đó sai sai...
Ngạo Thuyết lại tiếp tục truy nguyên nguồn cội. Thời Phật Thích Ca tại thế, người xuất gia ngày ăn một bữa, ba y một bát, ngã đâu là nhà, ngủ đâu là giường thì Phật Thích Ca thuyết Công Đức, Phước Báu làm gì?
Truyền thống của người dân ở các nước thuộc lưu vực sông Hằng từ trước thời Phật Thích Ca tại thế là cúng dường cho giới Tu sĩ bất kể tôn giáo, đạo phái nào; Trong mắt của những người dân tín ngưỡng tâm linh ở các nước quanh lưu vực sông Hằng thì giới Tăng sĩ, Bà La Môn,... là sứ giả, là hiện thân của những vị Thần linh.
Do đó, Phật Thích Ca và Tăng đoàn học Phật chân chính không cần việc rêu rao Công Đức, Phước Báu mới có cái ăn, cái mặc; Và họ cũng không cần đến những giảng đường cao rộng hay việc được ăn ngon, mặc đẹp,... Những dục lạc dễ sinh điều ràng buộc, việc rơi vào lợi dưỡng, danh tiếng và cả việc bị chôn chân ở một chỗ không đúng với cứu cánh sa môn hạnh.
Vậy ra Công Đức, Phước Báu khó thể là sản phẩm của người sáng mắt, người học Phật chân chính.
...
Vừa rồi, Ngạo Thuyết có được một thông tin từ một người bạn ở Châu Âu cho biết rằng có vị Tăng Bảo người Đức đã về lại ngôi chùa mà anh ta đã thọ giới để xin xả giới hoàn tục. Nguyên nhân của việc người Tăng Bảo này xả giới là vì dịch bệnh Covid - 19 lây lan và người Âu Mỹ không có truyền thống cúng dường nên đời sống người tu sĩ Phật giáo phương Tây khá chật vật.
Vậy nên truyền thống cúng dường là tùy thuộc vào vùng miền lãnh thổ chứ không do việc tuyên truyền PR cái gọi là Công Đức, Phước Báu.
...
Chúng ta lại được nghe việc cúng dường, bố thí, niệm Phật, tụng Kinh, trì chú, phóng sanh, cầu nguyện, độ Tăng, sám hối, cầu nguyện, bố thí pháp,... sẽ mang lại Công Đức, Phước Báu rất lớn lao. Những điều này gần như là chủ thuyết, là tâm pháp của người học Phật cả Tăng lẫn tục ngày nay.
Và chúng ta hãy nhìn sang các nước Âu Mỹ, đây là những nước có sự phát triển của Công Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo,... để thấy sự hiện đại, văn minh và giàu có.
Chúng ta hãy đánh giá xem "Phải chăng đã có cái gì đó sai sai vể Công Đức và Phước Báu?".
Chúng ta hãy nhìn sang các nước có đạo Phật là quốc giáo thuần khiết để nhận ra sự chậm tiến, đói nghèo, kém văn minh ở những nơi đấy - Campuchia, Myanma, Srilanka, Nepal,... Hóa ra Công Đức, Phước Báu ở đạo Phật có nghĩa gì đâu.
Chúng ta là những người học Phật và rất nhiều người trong chúng ta khinh chê ngoại đạo, tán thán Công Đức, Phước Báu của sự nghiệp học Phật.
Nhưng thực tế là sự yếm thế, cực đoan, vị kỷ ở đạo Phật đã đang sẽ hủy hoại đạo Phật và làm chậm tiến sự phát triển xã hội. Đây là điều mà người học Phật thuộc thế kỷ 21, 22 khách quan nhìn nhận; Nhìn nhận ở góc nhìn tổng thể, toàn diện. Việc gì rơi vào thái quá hoặc cực đoan đều sẽ gây ra sự phản tác dụng.
- Tại sao đất nước Việt Nam tựa như lấy đạo Phật làm quốc giáo lại có sự phát triển về Kinh Tế - Khoa Học - Kỹ Thuật - Giáo Dục có vẻ hiện đại, văn minh hơn so với các nước có đạo Phật là nền quốc giáo thuần khiết?
Chúng ta cần phải tôn trọng sự thật, sự thật là không phải do Công Đức, Phước Báu của đại chúng học Phật Việt Nam mà đất nước Việt Nam đạt được những thành tựu phát triển như thế.
Nếu người Việt Nam chỉ biết việc cúng dường, bố thí, niệm Phật, tụng Kinh, trì chú, phóng sanh, cầu nguyện, độ Tăng, sám hối, cầu nguyện, bố thí pháp,... thì chắc chắn rằng đất nước Việt Nam khó tránh khỏi việc đói nghèo, kém phát triển.
Thực tế là cuộc xâm lược của Thực dân Pháp đã khai sáng dân tộc Việt Nam. Thực dân Pháp, Đế quốc Mỹ đã góp phần bứng dân tộc Việt Nam ra khỏi nền văn minh lúa nước lạc hậu, chậm tiến.
Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ khiến người Việt Nam khôn ra và kích hoạt tinh thần tự lực, tự cường.
Rồi giai đoạn lịch sử bao cấp lại đẩy dân tộc Việt Nam vào tận cùng của sự đói nghèo, thiếu thốn.
Tuy nhiên, Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã ra sức kéo người Việt Nam ra khỏi những tín điều mê tín dị đoan, rời xa luôn cả những tín ngưỡng tâm linh ủy mị, lệ thuộc Thần linh.
Việc ra sức xóa bỏ sự ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm và thay bằng chủ nghĩa duy vật đã góp phần khiến người Việt Nam hăng say lao động, phát huy sáng kiến, sống theo ý chí có làm thì mới có ăn - Những nền tảng cho sự phát triển lối sống thực dụng.
Với những nền tảng thực dụng khi Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa đã mau chóng hội nhập với sự phát triển công nghệ của quốc tế. Nhờ vào tính thực dụng ở toàn dân mà đất nước Việt Nam đã phát triển thần tốc so với những nước có nền quốc giáo là đạo Phật. Chính ngoại đạo đã làm nên sự lột xác phát triển của đất nước Việt Nam.
Và ngoại đạo cũng đã đang đẩy dân tộc Việt Nam vào chủ nghĩa thực dụng, mở ra một lối sống khốn cùng cho người Việt ở tương lai gần.
...
Bần cùng sinh đạo tặc, Phú quý sinh lễ nghĩa. Đạo Phật ở Việt Nam trỗi dậy khi đời sống bon chen, giành giật đẩy người Việt tìm đến những bến đỗ, những ngôi nhà tâm linh.
Và việc hiểu sai chánh pháp đã khiến người học Phật cả Tăng lẫn tục PR cho Phước Báu, biến Phước Báu thành niềm tin Thần Thánh. Người học Phật và đất nước Việt Nam sẽ về đâu sau những sự dối trá ngọt ngào?
Nghiêng về đạo cũng hỏng; Lệch về đời cũng hư. Tìm đâu trung đạo?
...
Có người đã nhắc nhở Ngạo Thuyết là Công Đức, Phước Báu là ngón tay chỉ mặt trăng. Ngạo Thuyết không hiểu hay sao mà vọng chấp, trách cứ Công Đức, Phước Báu là sự dối trá ngọt ngào.
Ồ! Ngạo Thuyết thì chẳng chấp chi cả, Ngạo Thuyết chỉ tùy thời nói nín.
Và chúng ta phải chăng đã quá mê hoặc phương tiện Công Đức, Phước Báu rồi tự huyễn chính mình?
Chúng ta đã cúng dường, bố thí, niệm Phật, tụng Kinh, trì chú, phóng sanh, cầu nguyện, độ Tăng, sám hối, cầu nguyện, bố thí pháp... để vọng cầu phước báu. Chúng ta chỉ là thả con săn sắt bắt con cá rô, thả con tép bắt con tôm,...
Chúng ta ra sức tích lũy Công Đức, Phước Báu không vì tâm Từ Bi Hỷ Xả. Do đó, chúng ta hiện không phải là đang tích lũy những tánh hạnh tốt mà chúng ta đang nuôi lớn chủng tử toan tính, 5 lừa 10 lọc; Những hạt giống hư xấu này sẽ chèn ép tâm Từ Bi Hỷ Xả và trở thành nghiệp lực đeo đuổi, vùi lấp định huệ của những người học Phật lầm đường.
Và người học Phật cả Tăng lẫn tục đang PR, đang tiếp thị cho cái bánh vẽ Phước Đức, chúng ta đang xô đẩy đời nhau vào những nẻo thâm u. Quả thật là bánh vẽ chẳng thể no lòng.
...

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2021

Nước Trong Trăng Hiện

 Nước Trong Trăng Hiện

- Đạo Phật là gì?
- Đạo Phật là không gì cả.
- Ông nói đạo Phật không là gì cả cớ sao người người quay về quy y Tam bảo, nương tựa Phật – Pháp – Tăng?
- Đã bảo đạo Phật là không gì cả mà ông lại mê muội nói rằng nương tựa Phật – Pháp – Tăng là nghĩa lý gì?
- Không có cả Phật – Pháp – Tăng, phải chăng đây là lời đốn ngộ kẻ ngu hạ này nghe qua quả thật càng thêm mờ mịt, tôi xin ngài từ bi khai thị.
- Tam Tạng kinh chung cùng cũng chỉ là một phương pháp chỉ người lắng tâm. Nếu tâm ông phẳng lặng tức nước trong, nước trong thì trăng sẽ hiện. Nếu tâm ông phẳng lặng như gương soi tiếp vật thì đâu cần nương tựa đông tây, nam bắc mà chi nữa.
- Nước trong, trăng hiện – Đạo Phật chỉ thế thôi sao?
- Thế ông còn muốn gì nữa?
- Nước trong, trăng hiện. Thật quá giản đơn. Cả pho Tam Tạng kinh chỉ bày mỗi điều ấy, có lẽ đâu thế.
- Phật không thuyết Tam Tạng kinh.
- Phật không thuyết Tam Tạng kinh vậy ai đã thuyết bộ kinh vi diệu đó.
- Phật nói 49 năm ta không nói một lời nào. Tổ nói ta không có một pháp cho người. Ông sao lại chẳng tin lời Phật, lời Tổ?
- Nước trong, trăng hiện nên hiểu ra làm sao?
- Nước trong, trăng hiện cũng chỉ là mượn lời để nói sao ông không y cứ thuận hành mà lại dùng tri kiến muốn hiểu nó?
- Kẻ ngu hạ này trước pháp đốn thật không đủ duyên khai ngộ, chỉ mong hiểu lý tiệm tu mà thôi. Nay hữu duyên gặp thiện tri thức nên rất mong được chỉ bày.
- Nước trong, trăng hiện như gương soi tiếp vật chẳng nảy sinh tình ý. Chỉ riêng câu nước trong, trăng hiện này mà đến cả những bậc hành giả xưa nay vẫn còn mê lầm chẳng nhận được bản lai huống hồ gì những kẻ tu hành trên môi miệng.
- Khi xưa Thái tử Tất đạt đa lao nhọc, bôn ba tầm đạo ngàn lối vẫn không thể sáng mắt, sáng lòng đến khi mòn mỏi dừng lặng lại mà nếm trải sự vi diệu chân thật của nước trong, trăng hiện. Tam Tạng kinh nói ra cũng chỉ bày cho chúng nhân muôn phương nhận biết được điều đó. Nhưng chúng sinh chi loại vô minh dày đặc cứ lầm nhận ngón tay là mặt trăng nên Phật mới nói rằng 49 năm ta không nói một lời nào. Thế mà nay có kẻ lại cho rằng Thiền – Tịnh – Mật là chân truyền của Phật Thích Ca, lời này thật quá mê muội và ấu trĩ.
- Ta hỏi ông khi nước trong xanh phẳng lặng như gương soi thì ông có thể nhìn rõ được hình ảnh chim bay ngang trời, có thể phân biệt được đấy là chim én hay đại bàng thông qua tấm gương nước ấy không?
- Nếu nước phẳng lặng trong xanh như gương soi thì hiển nhiên cảnh vật được phản chiếu lên đúng thật như bản thể của nó rồi.
- Đúng vậy. Chỉ cần ông hành được như thế thì với Phật, với Tổ nào đâu khác gì?
- Để hành được nước trong, trăng hiện thì nên hành Thiền, Tịnh hay Mật?
- Sao ông cứ mê đắm pháp phương tiện nhận lầm đấy là cứu cánh? Ta hỏi ông gương soi tiếp vật khi ấy gương có hành thiền, niệm Phật hay trì chú không?
- Ngài dạy chí phải, Thiền – Tịnh – Mật chỉ là phương pháp để lắng tâm mà thôi. Thưa ngài vậy chẳng lẽ Thiền – Tịnh – Mật không có một thần lực, không có phép màu vi diệu nào?
- Nước lặng, gương soi là vi diệu bản thể. Nước lặng, gương soi cần thần lực, cần phép màu để làm gì? Ông thật vô minh quá thể hay là ham tiếc sinh tử đây?
- Sao ngài nói tôi ham tiếc sinh tử?
- Cổ đức dạy “Cách vật, trí tri; Tình sanh, trí cách”. Như gương soi, nước lặng chẳng động tình thì sự vật thế nào, nó hiện bày thế ấy không yêu, chẳng ghét, khách quan vô cùng, khách quan mà không hạn cuộc rằng khách quan, sự sự rỗng lặng như thế, đâu dấy khởi thị phi. Vậy mà các ông tự lập pháp phương tiện thành pháp môn cho rằng đắc ý Thiền – Tịnh – Mật rồi dấy khởi tạo tác thị phi, tình chấp như thế, trí rỗng rang liền bị ngăn ngại đâu thể nào nếm được ý vị gương soi, tiếp vật; nước trong, trăng hiện nữa.
- Vậy chỉ còn là như gương soi, như là nước lặng; đấy là cái hằng thấy, hằng biết mà Phật, Tổ nói đến.
- Phật, Tổ nào nói còn lại cái hằng thấy, hằng biết. Đúng là ham tiếc sinh tử. Ông có biết rằng cái thấy biết thường hằng là nhân khiến ông cũng như chúng sinh vô minh trôi lăn, chìm nổi trong 6 thú không? Gương soi, nước lặng có bao giờ khởi ý “Ta là gương soi, ta là nước lặng” không?
- Thưa ngài! Thật không có lý đó! Rốt cuộc là không còn gì cả. Điều này rõ thật đúng cơ mà thật khó nghĩ cho thông đặng.
- Ông không tin thì cứ nghi. Hỷ sự này chẳng dính dáng đến ta

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2021

Sự Thật Về Giới Tăng Bảo Xưa Nay - Công Đức, Phước Báu Là Sự Dối Trá Ngọt Ngào (P. 2)




Sự Thật Về Giới Tăng Bảo Xưa Nay - Công Đức, Phước Báu Là Sự Dối Trá Ngọt Ngào (P. 2)
Ngạo Thuyết xong việc ngày nay rồi chạnh thương đời đạo, thương những người bạn vong niên từng mạn đàm Phật pháp đang loay hoay với mớ tri kiến Phật học bồng bềnh rối rắm nên Ngạo Thuyết viết ra sách Hãy Là Đường Xưa Mây Trắng Bay nhắm trạch pháp, chỉ rõ những lối mê.
Kể từ đó Ngạo Thuyết dấn thân trên con đường báo đền ơn Phật, đi trong phi đạo hành Phật đạo. Tuy nhiên, bản tính Ngạo Thuyết thường lặng lẽ nên chẳng ham việc đứng trước người, lòng vẫn thường mong sẽ sớm tìm thấy Bậc Long Tượng xuất thế, hộ trì Tam Bảo - Phật, Pháp, Tăng. Chỉ cần nhận biết có vị Danh sư xuất thế thì Ngạo Thuyết sẽ phủi tay quy ẩn, vui thú điền viên.
Khoảng thời gian 10 năm nhanh chóng trôi qua, Ngạo Thuyết cũng bồng bềnh trong thanh sắc "nửa đời, nửa đạo". Dù rằng với "tai tinh, mắt sáng" và không ngừng lần tìm một vị minh sư ở cả hai nẻo đạo đời. Song bóng dáng của một người chứng ngộ giáo môn giác ngộ giải thoát vẫn mãi là bóng chim, tăm cá.
Thời may, đạo tràng Tương Tác Phật Học Online, Nikaya & Đốn Ngộ theo tháng năm cũng có được những sự tăng trưởng đáng khích lệ. Với góc nhìn của mình, Ngạo Thuyết nhận ra những người bạn cùng Ngạo Thuyết đi qua những tháng năm là những người học Phật lành mạnh, có đạo tâm và có lòng chí thành cầu đạo giác ngộ giải thoát.
Có được duyên lành như thế nên Ngạo Thuyết sẽ từng bước bóc tách những gốc khuất, những sai lạc nơi đạo Phật những mong thành tựu Di Lặc Thiên Bá Ức Hóa Thân, diệu pháp mà vị Giác Giả thứ hai đã cơ xảo phổ truyền.
10 năm thả lòng và kiên trì lần tìm những vị minh sư sáng mắt hộ trì chánh pháp ở giới Tăng Bảo xuất gia và cư sĩ học Phật tại gia đủ để Ngạo Thuyết nhận ra rằng đã rất lâu rồi không có một vị chân sư như thế xuất hiện, người học Phật có đạo tâm có vẻ không ít nhưng do lọt vào biên kiến đạo Phật, đánh mất trung đạo và do tuệ tri không đủ, lại thiếu minh sư sáng mắt chỉ đường nên dẫu trải qua những quãng thời gian rộng dài, những người học Phật có đạo tâm cũng dần đánh mất chánh niệm, đạo tâm trở nên thui chột và chìm dần vào nhân ngã, vào hệ phái, tông môn, vào đạo Phật; Chánh pháp mà họ vay mượn từ kinh Phật ngõ hầu thuyết pháp độ sinh dần trở thành tà giáo và làm thui chột cả tuệ giác của chính những người học Phật tín thành, đồng thời gây ra họa hại đến cả đại chúng học Phật.
Sơ khởi tìm đến đạo Phật, Ngạo Thuyết biết đến Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Thanh Từ, Thích Nhất Hạnh, Tịnh Không,...
Và Ngạo Thuyết đã từng trân quý tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng để rồi xót xa nhận ra rằng sư Thích Nhất Hạnh lạc lối chánh đạo, sự Tỉnh Thức mà sư Nhất Hạnh ra sức phổ truyền không giúp được sư minh tâm, kiến tánh lúc cuối đời.
Tương tự như thế cái thấy biết thường hằng của sư Thanh Từ cũng không giúp sư Thanh Từ giữ được sự sáng suốt ở những năm cuối đời.
Và đều đáng tiếc bên cạnh đó là những người học Phật hàng Tăng Thân đệ tử của những vị Danh Tăng đó cũng không hiểu đúng Phật pháp, không chịu thức tỉnh trước hiện tướng Bệnh Khổ, Già Khổ, Tử Khổ của các vị Danh Tăng. Họ thật sự là đã hiểu sai chánh pháp, ngộ nhận về đạo Phật khi kêu đại chúng học Phật ra sức cầu nguyện giật giành lại mạng sống cho những vị Danh sư những khi trái gió, trở trời. Việc làm ngô nghê như thế thật sự là không đúng với chánh pháp và vùi lấp tín đồ vào bể khổ mê tín dị đoan.
Người học Phật há lại chẳng biết hoa nở rồi tàn, trăng tròn rồi khuyết, thu qua, đông đến,... đó là duyên sinh diệt, há dễ cưỡng cầu. Cớ sao người học Phật lại tự huyễn nhau việc cầu nguyện có thể giúp các vị Tăng Bảo duy trì mạng huyễn, làm chậm được việc sống chết.
Người học Phật mà tác pháp như thế thì quả thật là đang ra sức hủy hoại chánh pháp, chà đạp lên quy luật nhân quả luân hồi mà Phật Thích Ca đã thuyết giảng - Sao lại chẳng điềm nhiên như hạt sương đêm?
...
Ngạo Thuyết đã từng nghe sư Thanh Từ nói với đại ý rằng cuộc đời này có gì đâu mà khổ, cuộc đời này vui đấy chứ và lúc bấy giờ sư Thanh Từ đã nói ra nguyện lực sẽ tái sinh trở nhằm dẫn dắt đại chúng vượt thoát luân hồi.
Tương tự như thế Hòa thượng Tịnh Không người dấn thân trên con đường niệm Phật A Di Đà nguyện vãng sanh Tây Phương cũng đã đánh tiếng về việc tái sinh lại để dìu dắt tín đồ tiến nhập cõi Tây Phương cực lạc trước rồi mới ngồi lên bảo tòa Liên Hoa ở chốn Tây Phương.
...
- Chúng ta thấy gì về những nguyện lực nghe chừng như rất đỗi Từ Bi Bác Ái này?
Và đấy không chỉ là hai vị Danh Tăng duy nhất sau những năm tháng dài đằng đẳng với nguyện lực tự cứu bản thân đã khởi ý làm bồ tát đưa người, ta xin đưa qua sông.
- Với nguyện lực có vẻ đại hùng, đại lực đại từ bi như thế liệu những vị Danh Tăng đấy có thể thực hiện được trọn vẹn nguyện lực của mình?
Nguyện lực tái sinh của những vị Danh Tăng là hoàn toàn không khó, thậm chí không phát nguyện vẫn sẽ tái sinh, nhất là khi các vị Danh Tăng đã hiểu sai về nền tảng chánh pháp cơ bản. Sự thật là việc giải thoát hoàn toàn mới khó nhằn chứ còn việc tái sinh xưa nay vốn dĩ là việc không cầu mà được.
Còn việc các ngài tái sinh với mộng tưởng độ thoát cho tín chúng thì chắc chắn rằng khó thể thành tựu. Người sáng mắt xưa từng nói "Bồ tát cách ấm còn mê" với ý là cho dù là Bồ tát thật nhập thai trưởng dưỡng 9 tháng 10 ngày còn không thể nhớ được hạnh nguyện của bản thân, mê mờ chánh trí; chỉ đến khi đủ duyên thì may ra mới phát khởi được chánh tri.
Bồ tát hàng thật còn không dễ thành tựu việc làm còn dỡ dang thì những người chưa thâm nhập được kinh Phật, chánh trí chưa sinh như hai vị Danh Tăng kia hiển nhiên khó thể thành toàn nguyện lực của chính mình.
Ngoài ra yếu tố duyên tái sinh quyết định rất nhiều đến việc tăng tiến trên đường đạo ở mỗi chúng sinh. Và chúng ta đều biết dòng chảy của cộng nghiệp như con nước lớn, nước ròng bất định và khôn lường. Cộng nghiệp sẽ chi phối và dễ dàng vùi lấp mọi nguyện lực của mọi chúng sinh trong bể khổ luân hồi; Đây là điều mà hai vị Danh Tăng trên cũng như các vị tu sĩ Mật Tông Tây Tạng xưa nay không hiểu hết.
Những người quan tâm đến đạo Phật, đến Mật Tông Tây Tạng dễ thường sẽ biết đến vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 hiện nay chính là hóa thân của nguyện lực tái sinh dẫn dắt dân tộc Tây Tạng của vị Đạt Lai Lạt Ma đời đầu. Điều đó có nghĩa là ngài Đạt Lai Lạt Ma đã tái sinh ít nhất 14 lần.
- Với nguyện lực đại từ, đại bi như thế ngài Đạt Lai Lạt Ma đã thành tựu được những gì sau 14 lần tái sinh?
Cứ tạm xem như việc tìm người tái sinh chuẩn xác, các vị Đạt Lai Lạt Ma tái sinh đều được tín chúng tìm đúng người. Và kết quả là ngài Đạt Lai Lạt Ma thật sự không đánh giá được cộng nghiệp nhân loại cũng như duyên thời cuộc, điều này đã phơi bày ra một thực trạng ngài Đạt Lai Lạt Ma phải sống lưu vong, trong khi đó dân tộc Tây Tạng vẫn chịu sự giày xéo của gót giày của Tập Cận Bình và Trung Cộng.
Tương tự như thế ngài Ban Thiền Lạt Ma sau 11 lần tái sinh để độ chúng đã bị chính quyền Trung Cộng bắt cóc vào năm 1995, khi mới 6 tuổi và bị quản giáo nghiêm ngặt đến mức giới truyền thông quốc tế không thật sự rõ ngài Ban Thiền Lạt Ma còn sống hay đã chết, người sống đó có thật là ngài không?
...
Thế đấy! Rõ thật là việc tái sinh hoằng pháp tiềm ẩn những rủi ro khôn lường mà đến cả chân bồ tát tức người sáng mắt cũng như Phật Thích Ca cũng không đa sự, việc xong rồi liền thôi.
Chớ vọng ngôn khinh xuất nói rằng tâm đại từ, đại lực, đại bi của Phật Thích Ca và những vị Giác Giả tiền bối hẹp kém hơn những vị Danh Tăng đương thời. Người thấu đạt tự biết công thành, thân thoái - Tre tàn thì măng sẽ mọc, chẳng ôm mộng dời non, lấp bể vậy.
- Vì sao những vị Danh Tăng sau khi dấn thân tìm đạo, học đạo, hành đạo một quãng thời gian dài đằng đẳng với nguyện lực thoát khỏi luân hồi lại khởi nguyện tái sinh độ chúng, tiếp tục dẫn dắt tín đồ?
Vì lẽ họ ngộ nhận tâm yếu chánh pháp giác ngộ giải thoát, ngộ nhận vai trò của họ đối với đại chúng học Phật, ngộ nhận cả về công đức, phước báu.
Do được đại chúng học Phật đãi ngộ trọng hậu nên những vị Danh Tăng đã có cái nhìn lệch lạc với chánh pháp. Đời là bể khổ là điều Phật Thích Ca đúc kết được khi nhìn xuyên suốt quy luật luân hồi. Song do sống giữa sự phồn hoa danh lợi ở vị trí là những vị Danh Tăng nên những vị Tăng Bảo này đã không nhận ra rằng đời đích thực là bể khổ; Niềm vui bên đời hẳn nhiên là có tồn tại nhưng nó không là gì với Sinh Khổ, Bệnh Khổ, Già Khổ, Chết Khổ, Cầu Bất Đắc Khổ, Ái Biệt Ly Khổ, Oán Tăng Hội Khổ, Ngũ Ấm Xí Thạnh Khổ.
Vì không hằng sống trong những khổ sầu khi được danh cao, lợi lớn những vị Danh Tăng đã không khêu sáng được chánh trí nên dần trở nên Ham Tiếc Sinh Tử. Do ngộ nhận công đức tích lũy trong quá trình hoằng truyền pháp Phật là thật có, do ngộ nhận phước báu tích lũy được ở hiện đời là hữu hình, là nhân đã gieo sẽ trổ quả ở đời sau và cả một sự hứng khởi, bốc đồng âm ỉ các vị Danh Tăng người trước, kẻ sau phát khởi nghuyện lực tái sinh ngõ hầu thu đoạt tín tâm của tín chúng học Phật và cả nghĩ rằng ở kiếp tái sinh đạo tràng cũ, quyến thuộc xưa sẽ lại quây quầng cùng nhau xưng tán, cung phụng danh lợi, vun bồi vị thế cho họ nhưng lại luôn là những tín đồ thuần thành với thân phận bề tôi. Do hiểu sai công đức, phước báu theo lối học Phật truyền thống, giới Tăng Bảo đã hư vọng PR những lời dối trá ngọt ngào đến với đại chúng học Phật; Vô hình chung trở thành điều tự huyễn đối với chính họ.
Rồi sẽ lại có người cho rằng Ngạo Thuyết ra sức bêu riếu, kích khởi thị phi bài xích chư Tăng Bảo. Như Ngạo Thuyết đã từng nói việc hủy hoại danh tiếng chư Tăng không mang lại cho Ngạo Thuyết thêm chút nào tiếng tăm, danh lợi.
Hãy nên nên nhận vấn đề ở góc nhìn khoáng đạt, thông thoáng hơn! Ở nơi tấm lòng bao dung, cởi mở các bạn sẽ nhận thấy rằng Ngạo Thuyết không dè bĩu, không chê bai Tăng Bảo; Ngạo Thuyết chỉ là chỉ ra những sai lầm có thật ở giới Tăng Bảo xưa nay.
Thông qua việc chỉ ra việc học và hành pháp chệch hướng chánh đạo ở giới Tăng Bảo, Ngạo Thuyết cất lên một tiếng nói đại diện cho cả hai nẻo đạo đời đặt giới Tăng Bảo vào lại đúng vị trí là thành phần Thanh Văn học Phật, đặt giới Tăng Bảo về đúng với vai trò gìn giữ và truyền trao ngọn đuốc chánh pháp giác ngộ giải thoát mà Phật Thích Ca đã phổ truyền.
Và nếu muốn đột phá vượt ra khỏi giới hạn là thành phần Thanh Văn học Phật thì giới Tăng Bảo cần phải trau dồi trí tuệ ngõ hầu tháo gỡ những tầng tầng, lớp lớp vô minh để trở nên là một vị Duyên Giác - Độc Giác nhẫn đến Toàn Giác.
Và những việc trạch pháp nhằm vào những vị Tăng Bảo danh tiếng lạc lối Phật môn khó mong chạm đến các vị Danh Tăng. Ngạo Thuyết chỉ hy vọng rằng những vị Tăng Bảo trẻ tuổi sẽ đủ duyên tham khảo những bài Ngạo Thuyết viết và đủ chánh trí vượt qua những chấp thủ hệ phái, tông môn, đại ngã mà từng bước trở nên là những vị Tăng Bảo chân chính, đúng mực.
Bên cạnh đó, Ngạo Thuyết cũng hy vọng đại chúng học Phật và người đời sẽ đủ duyên tham khảo những bài trạch pháp của Ngạo Thuyết ngõ hầu tỏ tường chân ngụy, từng bước xa rời những đứa mê tín dị đoan, chạm đến suối nguồn giải thoát, để rồi không còn là những tà thí chủ, tà cư sĩ đẩy giới Tăng Bảo xuất gia vào vực sâu là những Tà Tăng.
Con người Ngạo Thuyết xưa nay quả thật là có chỗ tà quái. Lệ thường Ngạo Thuyết không dễ học được nhiều điều từ những cái tốt, cái hay; Song Ngạo Thuyết lại học được nhiều hơn những điều hữu ích từ cái sai, cái chưa đúng của người cũng như của mình.
Ngạo Thuyết lại thường thấy lỗi của người chính là lỗi của mình vậy. Ngay như trước những lệch lạc, ngộ nhận chánh pháp ở giới Tăng Bảo; Mỗi lần trạch pháp Ngạo Thuyết thường rất đắn đo, sợ rằng động chúng, sợ rằng ảnh hưởng đến sự tôn kính của viên ngọc quý thứ ba của Tam Bảo, sợ rằng ngoại đạo thừa cơ hủy hoại đạo Phật.
Nhưng rõ thật là viên quý Tăng Bảo đang ngày càng mờ nhạt, rạn vỡ. Thế nên nếu không sớm thức tỉnh, không sớm sửa sai thì chính giới Tăng Bảo sẽ biến mình thành những túi da béo phì, xấu xa, hôi thối, là những kẻ ăn không, ngồi rồi lại ăn trên ngồi trước tạo ra ác nghiệp hủy hoại đạo Phật, hủy hoại Tam Bảo - Phật Pháp Tăng.
Ngạo Thuyết nhận ra những lỗi lầm của giới Tăng Bảo là lỗi của chính mình; Biết mà không nói đích thực là lỗi lớn vậy.
Chỉ mong giới Tăng Bảo, đặc biệt là những vị Danh Tăng đủ duyên tham khảo những bài viết ở chủ đề Cẩm Nang Vượt Thoát Luân Hồi thân tâm liền chấn động, chí thành sám hối thì tin rằng việc sáng mắt, sáng lòng ở họ sẽ không còn xa; Nếu không được vậy thì có thể nói với họ rằng là chung thân bất cứu.
...
P/S:
Ngạo Thuyết dự rằng sẽ gói ghém toàn bộ nội dung bài viết sự thật về giới Tăng Bảo, công đức và phước báu hư vọng vào phần 2. Nhưng xem ra Ngạo Thuyết bá đạo nhiều chữ quá thế nên phải sang đến phần ba mới hoàn thành được bài viết Sự Thật Về Giới Tăng Bảo Xưa Nay - Công Đức, Phước Báu Là Sự Dối Trá Ngọt Ngào.
Mời các bạn kiên nhẫn đón xem, Ngạo Thuyết hy vọng rằng ngay khi Ngạo Thuyết dừng viết thì các bạn nghiễm nhiên hội tụ trọn vẹn trí tuệ Phật và con đường dấn thân về sau sẽ là sự chọn lựa tự chủ của mọi người.
Nam Mô Di Lặc Thiên Bá Ức Hóa Thân Tôn Phật!

Sự Thật Về Giới Tăng Bảo Xưa Nay - Công Đức, Phước Báu Là Sự Dối Trá Ngọt Ngào (P. 1)



Sự Thật Về Giới Tăng Bảo Xưa Nay - Công Đức, Phước Báu Là Sự Dối Trá Ngọt Ngào (P. 1)
Có không ít người thấy Ngao Thuyết cứ thường vạch ra chân tướng và sự tà vạy ở giới Tăng Bảo thì có phần khó chịu, lấy làm không vừa ý. Người cảm mến, yêu quý Ngạo Thuyết thì sợ rằng việc nói ra cái sai của chư Tăng Bảo sẽ khiến Ngạo Thuyết sẽ tổn phước, sẽ đọa địa ngục.
Ở bài viết Ba Lần Đối Diện Với Tâm Ma đã phần nào phơi bày bóng dáng Ma Vương Ngạo Thuyết lầm lũi bước vào địa ngục, do đó Ngạo Thuyết có xuống địa ngục cũng là lẽ thường. Xuống địa ngục mà tổn phước đến mức không thể ở địa ngục thì Ngạo Thuyết chỉ có nước lên Thiên đàng thôi.
Thật ra phước báu, công đức là sự dối trá ngọt ngào đang hiện tồn nơi đạo Phật.
Vì sao Ngạo Thuyết vẫn cứ thường phơi bày ra sự kém cỏi của giới Tăng Bảo xưa nay?
Rõ thật là chư Tăng Bảo đương thời và ngày xưa không hề tranh cơm áo gạo tiền với Ngạo Thuyết, chư Tăng cũng chẳng thể tranh danh, đoạt lợi từ Ngạo Thuyết.
Vậy phải chăng giữa Ngạo Thuyết và họ có sự hiểu lầm chi hay có oán thù sâu nặng nào đó khiến Ngạo Thuyết không thể đặt xuống?
Thật ra thì Ngạo Thuyết đã chịu ơn giới Tăng Bảo, những người đã giữ lửa và lan truyền ngọn đuốc chánh pháp đến muôn nơi. Chính nhờ việc hộ trì, gìn giữ pho Tam Tạng Kinh của giới Tăng Bảo đã giúp Ngạo Thuyết có cơ duyên chạm đến giáo lý chánh pháp để rồi hoát nhiên đại ngộ.
Thế nên việc Ngạo Thuyết đang làm chính thật là việc trả ơn Tam Bảo, đặc biệt là với chư Tăng Bảo.
Có câu "Thọ ân giọt nước, báo ơn suối nguồn" và muốn trả ơn chư Tăng Bảo không gì tốt hơn bằng việc chỉ ra những sai lầm then chốt khiến họ không thể tiến tu dẫn đến việc chứng ngộ ở giới Tăng Bảo trở thành viễn vông, hư ảo.
Thêm nữa, Ngạo Thuyết cũng không muốn giới Tăng Bảo, những người đảm nhận vai trò, trách nhiệm hộ trì Phật - Pháp - Tăng lại trở thành tội nhân thiên cổ, là những người phá hoại đạo Phật, là thành phần trực tiếp hủy hoại đạo Phật trong tương lai gần vì những sự hiểu biết sai lạc về chánh pháp ở họ.
...
Thời gian gần đây trong giới học Phật có lan truyền một bài viết do người học Phật hệ phái Nam Tông ra sức, bài viết có nội dung đưa ra những luận thuyết để chứng thực rằng giáo lý Phật giáo phát triển Bắc Tông không do Phật Thích Ca thuyết mà đó là thủ đoạn phá hoại đạo Phật của ngoại đạo Bà La Môn.
Các bạn có thể tham khảo nội dung bài xích Phật giáo Bắc Tông ở những người học Phật Nam Tông bảo thủ cực đoan ở link - https://www.facebook.com/113031753784684/posts/213273020427223/.
Ở bài viết đấy có đoạn:
...
“Bấy giờ, trong phòng Duy Ma Cật có một Thiên nữ thấy các vị Trời người đang nghe thuyết pháp, liền hiện hình thiên nữ rải hoa trên thân các Bồ Tát và đại đệ tử. Hoa đến thân các Bồ Tát liền rơi xuống đất, đến các đại đệ tử thì dính trên thân chẳng rơi xuống. Tất cả đệ tử dùng thần lực phủi hoa cũng chẳng rơi xuống.
Lúc ấy, thiên nữ hỏi Xá Lợi Phất rằng:
-Tại sao phủi hoa?
Ðáp:
-Hoa nầy chẳng đúng pháp nên phủi.
Thiên nữ nói:
-Chớ bảo hoa này chẳng đúng pháp. Tại sao? Vì hoa này chẳng có phân biệt, tại nhơn giả tự sanh phân biệt tưởng mà thôi. Người ở nơi Phật pháp xuất gia, có tâm phân biệt là chẳng đúng pháp, nếu chẳng phân biệt tức là đúng pháp. Nay thử xem các vị Bồ Tát chẳng dính hoa là vì đã đoạn diệt phân biệt tưởng vậy. Ví như người đang có khiếp sợ thì phi nhơn mới được dịp mê hoặc. Cũng thế, các vị đệ tử vì đang sợ sanh tử thì sắc, thanh, hương, vị, xúc mới được dịp mê hoặc. Kẻ đã lìa được khiếp sợ thì tất cả ngũ dục đều chẳng thể mê hoặc. Kẻ kiết tập (tập khí trói buộc) chưa sạch, hoa mới dính vào thân. Kẻ kiết tập đã sạch thì hoa chẳng dính vậy.”
~ Duy-ma-cật Sở Thuyết Kinh
Một bậc A-la-hán, người đã đoạn tận các lậu hoặc, hơn nữa còn là bậc có trí tuệ giải thoát đệ nhất trong hàng Tỷ-kheo, còn có thể có tâm phân biệt, tâm chấp trước được chăng?
Đức Phật dạy rằng về mức độ diệt tận lậu hoặc, thì Mahakassapa, Sariputta, cũng như những đệ tử Thanh văn khác, là ngang hàng với chính Ngài. Vậy có lẽ chính Đức Phật cũng vẫn còn tâm phân biệt, tâm chấp trước chăng?
Nếu những hàng Bồ-tát bất thối chuyển ấy, chưa chứng ngộ được sự diệt tận vô minh, mà vẫn có thể chỉ ra được con đường để đưa một vị A-la-hán, người đã tu tập theo Chánh Pháp của Đức Phật, người mà Đức Phật đã xác chứng rằng vị ấy đã hoàn toàn giải thoát, đến được một mức giác ngộ cao hơn nữa, thì hai sự việc sau đây có thể xảy ra:
– Một vị chưa diệt tận vô minh dạy cho một vị đã diệt tận vô minh con đường đưa đến quả vị cao hơn. Cũng ví như một người mù, trong buổi sáng, muốn nắm tay dắt một người sáng mắt đi trên con đường, mà con đường này người sáng mắt đã đi đến tận cùng, đã tỏ tường các hẻm hóc lớn nhỏ, các viên đá, các chướng ngại vật trên đường như hiểu rõ lòng bàn tay mình, trong khi người mù này vẫn chưa bao giờ đi hết con đường ấy.
– Con đường mà Đức Phật đã tự thân tu tập, tự thân chứng ngộ, Pháp mà Đức Phật đã tự thân tu tập, tự thân chứng ngộ, được chính Ngài truyền dạy cho thế gian, được chính Ngài tuyên bố là con đường duy nhất đưa đến giác ngộ giải thoát, thì con đường ấy, Pháp ấy vẫn chưa đưa đến giải thoát tột cùng. Nghĩa là chẳng những các vị A-la-hán đệ tử, mà ngay chính Đức Phật cũng vẫn còn là một bậc hữu học. Nghĩa là Đức Phật đã nói không như thật.
Những việc nêu trên là phi lý, không tùy thuận Chánh Pháp, nội hàm tự sinh mâu thuẫn, do vậy đó là những điều không thể có được.
...
Qua đoạn trích dẫn trên chúng ta dễ dàng nhận ra những luận điệu của người học Phật Nam Tông này có vẻ rất đanh thép, gay gắt và dường như đúng trên nền tảng luận thuyết và sự hiểu biết của người đó.
Thậm chí là người học Phật Nam Tông này còn cả gan kéo cả Phật Thích Ca chèn vào những luận điểm của mình để tăng tính quyết liệt xen lẫn cả việc thị uy.
Tiếc thay những luận thuyết này lại không y tựa hoàn toàn nơi lời Phật Thích Ca thuyết mà dựa trên Tạng Kinh Nikaya và phần chú giải Kinh Phật nguyên thủy.
Việc dựa trên nền Kinh Nikaya vốn đã tạo ra sai sót rất lớn vì có đến 80 - 90% nội dung Kinh Nikaya không phải là lời Phật thuyết, ngay cả việc xác thực đệ tử chứng đắc Tứ Quả Vị Thánh phần nhiều cũng là việc làm của người đời sau.
Song trên thực tế người học Phật Nam Tông đưa ra luận thuyết bài xích giáo lý Phật giáo phát triển Bắc Tông trên chủ yếu dựa trên những bản chú giải Kinh Nikaya, việc làm cơ sở này nhằm tiến đến sự triệt hạ, xóa sổ hoàn toàn Phật giáo Bắc Tông, đây là việc làm sai chồng thêm sai. Việc chú giải Kinh Nikaya chủ yếu vốn do người tục, tai điếc ra sức, điều này đã tạo những chú giải hoàn toàn không đúng về quả vị A la hán, về Tam Minh - Lục Thông, Niết Bàn, Luân Hồi và đạo Phật,...
...
Ngạo Thuyết đã từng bước phá việc chấp pháp môn, chấp hệ phái, chấp Tăng Bảo và tiến đến là việc phá chấp Đại Thừa - Tiểu Thừa, nhẫn đến việc phá luôn việc chấp Phật Thích Ca, chấp đạo Phật.
Việc làm này của Ngạo Thuyết hẳn sẽ khiến nhiều người học Phật hoang mang, kinh sợ.
Tuy nhiên, nếu bạn là người học Phật chân chính thì bạn hãy lắng đọng lòng mình để đủ duyên nhận diện được rằng những điều Ngạo Thuyết trình bày đều dựa trên nền tảng lẽ thật. Và Phật Thích Ca là người tôn trọng cũng như bảo vệ sự thật; Điều Phật Thích Ca từng làm cũng chính là việc giúp con người tiếp cận, chạm đến sự thật.
...
Do chấp chặt Y Kinh nên những người học Phật thủ cựu, cực đoan đã không thể mở lòng ra chấp nhận những sự thật.
Họ như những đứa trẻ con không bao giờ lớn, sau khi được thầy cô dạy học thuộc lòng bản cửu chương thì cứ ê a đọc tụng mà không thể áp dụng bản cửu chương vào việc tính toán hoặc nâng cấp bản cửu chương ở những con số cao hơn.
Điều đáng tiếc hơn là do bản thân họ không thể lớn, không thể trưởng thành nên họ bày ra những tà kiến, ác kiến nhằm giam hãm, kìm kẹp những người đã tín nhiệm họ khiến những người đó không thể trưởng thành, không thể lột xác để chạm đến sự giác ngộ giải thoát.
...
Giới Tăng Bảo xưa nay chính là đại biểu chính danh của thành phần học Phật hàng Thanh Văn. Và từ xưa đến nay giới Tăng Bảo Thanh Văn học Phật rất hiếm hoi người chứng ngộ, Tiểu Ngộ đã khó, Đại Ngộ càng khó hơn, Toàn Giác thì quả thật là như bóng chim, tăm cá.
Ngạo Thuyết nói giới Tăng Bảo xưa nay hiếm hoi người chứng ngộ chứ không nói rằng không có người chứng ngộ bởi lẽ Ngạo Thuyết biết rằng có ít nhất là hai người chứng ngộ ở lịch sử tồn tại của đạo Phật:
- Đã có một người chứng ngộ Toàn Giác sau thời Phật Thích Ca, sự hiện diện của bộ kinh sách Phật học phát triển Bắc Tông là dấu vết để nhận biết của sự tồn tại một vị Giác Giả thứ hai có trí tuệ viên dung, trác tuyệt.
- Và người chứng ngộ thứ hai sau thời Phật Thích Ca đáng kể đến chính là Lục Tổ Huệ Năng, chủ nhân của bộ Kinh Pháp Bảo Đàn.
...
Vì sao giới Tăng Bảo xưa nay hiếm hoi người chứng ngộ?
Nguyên tắc quan trọng nhất mở ra cơ may chứng ngộ sự giác ngộ giải thoát chính là việc hành nhân dấn thân trên con đường trung đạo; Các bạn học Phật đúng mực hãy sáng mắt, sáng lòng để nhận diện ra một sự thật rằng chính lý trung đạo mới là cửa ngõ vào đạo giác ngộ giải thoát chứ không phải Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế hay thiền định, thiền quán hay một pháp môn, một hệ phái học Phật nào cả.
Do đó, một khi hành nhân chọn lựa xuất phát điểm sai tức là đã gieo nhân sai biệt, nhân sai biệt dễ thường sẽ dẫn đến việc trổ quả thành hư vọng.
Dựa vào lý trung đạo chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra giới Tăng Bảo xưa và nay đã đánh mất trung đạo ngày khi hạ quyết tâm chọn lựa việc dấn thân học và hành trên lối mòn đạo Phật. Việc chọn xuất phát điểm sai đã khiến giới Tăng Bảo xưa nay khó thành tựu đạo quả dẫu cho có chánh tín xuất gia cùng với việc kiên trì hạ thủ công phu.
Giới Tăng Bảo xoa nay vì thế đã trở nên là thành phần học Phật hạng Thanh văn khó thể xé toạc bức màn vô minh và kiên cố dựng lên những Tà kiến, những Ác kiến. Rõ thật là giới Thanh văn học Phật khó thể chứng ngộ việc chứng ngộ giải thoát khi đạo Phật thiếu vắng đi một Bậc Long Tượng hộ pháp, một vị minh sư sáng mắt dẫn đường.
Rất khách quan chúng ta dễ dàng nhận ra giới Tăng Bảo xuất gia xưa nay đánh mất trung đạo khi nhốt thân vào đạo Phật rồi lần lượt tự giam cầm chính mình vào hệ phái, vào pháp môn, vào việc tơ tưởng ngộ nhận làm thầy của Trời - Người một cách hư vọng. Đây thực sự là hiện trạng của giới Tăng Bảo ngày nay.
Con đường giác ngộ giải thoát lẽ ra sẽ mang lại cho hành nhân từng bước thoát khỏi những trói cột, buộc ràng thân tâm. Trong khi đó chúng ta đã và đang nhìn thấy một sự thật là giới Tăng Bảo xưa nay đang tự cột trói với rất nhiều xiềng xích, dây trói, tự gông cùm bằng cả một mạng lưới vô minh dày đặc.
- Tại sao lại như vậy và liệu có đúng là như thế không?
Rõ thật là với hiện tướng sa môn ở giới Tăng Bảo học Phật thì chúng ta dễ dàng nhận ra giới Tăng Bảo xưa nay đang bị cột trói với tầng tầng, lớp lớp vô minh.
- Thân tướng của giới Tăng Bảo đã xác định như vậy liệu tâm của giới Tăng Bảo có vượt thoát khỏi những màn lưới vô minh sâu nặng không?
Có vẻ cả thân tâm của giới Tăng Bảo xưa nay đều đánh mất trung đạo dẫn đến việc tự vùi lấp định huệ. Và điều này hoàn toàn đúng trong suốt quá trình hình thành, phát triển và tồn tại của đạo Phật. Vì lẽ đó vị Giác Giả thứ hai đã dùng phương tiện xác quyết rằng giới Tăng Bảo, ngay cả giới Tăng Bảo thượng thủ thời Phật Thích Ca tại thế cũng chỉ thành phần Thanh Văn học Phật, họ đã thui chột pháo khí đại thừa, tâm hạnh Bồ tát nên rất khó để chứng ngộ sự Toàn Giác.
...
Chậm lại một chút. Ngạo Thuyết sẽ đưa ra những dẫn chứng rất thật để chúng ta có thể xác thực, kiểm chứng lại sự đánh mất lý trung đạo ở giới Tăng Bảo và nguyên nhân dẫn đến việc ngày càng trượt dài trong bóng tối vô minh ở giới Tăng Bảo xưa nay.
Do chọn xuất phát điểm rơi vào biên kiến đạo Phật và không có minh sư sáng mắt dẫn đường nên giới Tăng Bảo xưa nay lần lượt rơi vào những lỗi lầm rất sơ đẳng và ấu trĩ ở 10 điều chớ vội tin được thể hiện trong bản Kinh Kalama. Cụ thể, giới Tăng Bảo học Phật ngày nay do chấp trước Y Kinh, chấp trước đạo Phật là chánh pháp, chấp trước vào lời Phật nên họ mắc đủ trọn vẹn cả 10 lỗi chớ vội tin:
1. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
2. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
3. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.
4. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong sách vở hay kinh điển.
5. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó lý luận siêu hình.
6. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.
7. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.
8. Chớ vội tin điều gì, khi điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
9. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
10. Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.
Thả lòng ra và khách quan nhìn nhận chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra đúng thật là giới Tăng Bảo ngày nay mắc trọn vẹn đủ cả 10 lỗi này khi xuất gia học Phật. Và do y tựa, cả tin vào quý thầy Tăng Bảo đã dẫn đến đại chúng học Phật cũng mắc đúng 10 lỗi này khi tìm đến đạo Phật, điều này đã khiến việc học Phật ở cả Tăng lẫn tục đều lạc lối, chánh pháp giác ngộ giải thoát thông qua việc học Phật ngày càng trở nên thâm tà, ngụy dị đến tối tăm.
...
Các bạn đã nhìn thấy giới Tăng Bảo xưa nay đích thực đã đánh mất trung đạo khi nhốt cả thân tâm vào đạo Phật. Và tiếp theo đây Ngạo Thuyết sẽ đưa ra những dẫn chứng xác thực rằng giới Tăng Bảo đang bị nhốt cả thân tâm vào hệ phái, vào pháp môn, vào phước báu, vào ngã mạn làm thầy của Trời - Người thông qua hiện tướng đinh ninh khai thị dù diễn thuyết không hoàn toàn đúng với tâm Phật; Điều này đã dẫn đến giới Tăng Bảo ngày càng không làm đúng vai trò, trách nhiệm hộ trì Tam Bảo - Việc bảo vệ chánh pháp trước sự chống phá của ngoại đạo ở giới Tăng Bảo hiện nay là rất tắc trách, rất bê trễ mà nguyên nhân chính để dẫn đến việc kém cỏi hộ pháp của giới Tăng Bảo chính là việc trói thân tâm vào đạo Phật mà không chạm đến việc tỏ ngộ.
...
Với một sự khách quan dựa trên nền tảng tổng thể, xuyên suốt chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra giới Tăng Bảo danh gia từ cao niên đến chư Tăng Tài trẻ tuổi, năng nổ - họ đều tự nhốt họ vào những giới hạn hệ phái, pháp môn, danh và lợi; Tất cả những điều đó đang gông cùm giới Tăng Bảo của chúng ta.
Do duy ngã nên giới Tăng Bảo tỏ ra an toàn trong những chiếc lồng tri kiến vô minh đó và do việc nhận thức không sáng nên họ bắt đầu công cuộc lừa người - đại chúng học Phật và người đời, nào hay đó cũng chính là nhân dẫn đến việc tự huyễn hoặc, tự gạt chính mình ở giới Tăng Bảo.
...
Chúng ta đều biết ngày nay sự phân biệt kì thị, chê bai pháp môn, hệ phái Phật học Nam - Bắc Tông đã đang và sẽ xảy ra trong suốt lịch sử phát triển và tồn tại của đạo Phật. Điều mê muội, ngu xuẩn này đang được giới học Phật cả Tăng lẫn tục ngày nay ra sức duy trì; Đây là lỗi lầm đáng xấu hổ ở người học Phật xưa nay.
- Và thành phần học Phật chính nào sẽ chịu trách nhiệm chính khiến thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng?
Hiển nhiên là với vai trò chính danh giữ gìn ngọn đuốc chánh pháp, là một trong ba viên ngọc quý Tam Bảo, giới Tăng Bảo sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì sự chia rẽ đạo Phật một cách mê muội và ngu xuẩn.
- Tại sao giới Tăng Bảo trực thuộc hệ phái Phật học phát triển Bắc Tông không thể tháo gỡ, triệt giải sự phân chia hệ phái Phật học một cách thiển cận và ấu trĩ như thế?
Vì giới Tăng Bảo Bắc Tông nhốt thân vào đạo Phật, vào hệ phái, vào pháp môn, vào danh lợi đang được thụ hưởng nên không thể thấu hiểu tâm Phật và đồng thời không đồng cảm được nỗi lòng của đại chúng học Phật. Trên tất cả là do việc tự nhốt mình vào những giới hạn Tông phái, việc đánh mất trung đạo nên giới Tăng Bảo Bắc Tông không thể chứng ngộ "Minh tâm, kiến tánh". Kết quả của việc không tỏ ngộ đã khiến giới Tăng Bảo Bắc Tông trở thành những vị Tăng Bảo cơm áo cô phụ sự cúng dường của đàn na tín thí, họ ngày càng chìm đắm trong muôn lối vô minh.
- Tại sao giới Tăng Bảo trực thuộc hệ phái Phật học phát triển Nam Tông không thể tháo gỡ, triệt giải sự phân chia hệ phái Phật học một cách thiển cận và ấu trĩ như thế?
Không chỉ vậy. Chính giới Tăng Bảo Nam Tông vì sự thủ cựu, cực đoan, quá khích đã gây ra sự chia rẽ đạo Phật; Sự cực đoan đánh mất trung đạo đã khiến giới Tăng Bảo Nam Tông không dễ dàng chấp nhận sự trưởng thành, sự lớn khôn ở người học Phật theo năm dài, tháng rộng.
- Lẽ nào người học Phật sẽ vẫn mãi là những đứa trẻ có lớn mà không có khôn, việc học thuộc bản cửu chương chỉ có công năng lâm râm đọc Thần chú?
Và vì rơi vào Ngã chấp, đạo Phật nguyên thủy chấp mà giới Tăng Bảo Nam Tông ngày nay tiếp tục duy trì việc chia rẽ đạo Phật, họ ra sức bài xích, công kích với chiêu bài thiệt hạ Phật giáo phát triển Bắc Tông một cách đầy thù địch và mê muội.
Không chỉ vậy. Ngay trong chính nội tại của hệ phái Nam Tông đang diễn ra việc công kích, bài xích lẫn nhau giữa các chi phái Nam Tông.
- Ai đã kích khởi sự chia rẽ nơi nội tại của hệ phái Phật học Nam Tông?
Hiển nhiên vẫn là giới Tăng Bảo thủ cựu, hẹp lòng cùng với sự tiếp tay của thành phần học Phật Nam Tông sa đọa ở sự cuồng tín, cực đoan.
Những người học Phật Nam Tông cả Tăng lẫn tục đang ra sức "Bới lông tìm vết" Phật giáo nguyên thủy chân truyền không có một chút lai tạp nào và điều này là hoàn toàn không thể.
Những người học Phật thủ cựu này thật đáng thương và cả đáng trách. Hơn 2550 đã trôi qua mà họ vọng tưởng sẽ tìm thấy một giáo trình Phật học chân phương nguyên thủy. Điều này đồng nghĩa rằng họ đang đi tìm chỉ những câu chữ mà chính Phật Thích Ca đã nói mà không qua bất kì sự trùng tuyên của bất kỳ ai; Họ đi tìm điều đó bằng tư duy chấp Ngã hẹp hòi, bằng lòng hoài nghi và đố kị. Người học Phật mà sa đọa vào Tà kiến, Ác kiến này quả thật rất đáng tiếc và nguyên nhân dẫn đến sự lầm lạc nông nổi này chính là do việc đánh mất lý trung đạo ở người học Phật.
Và rất đáng tiếc là chính những vị Tăng Bảo thượng thủ danh tiếng của Phật giáo Nam Tông đã kích khởi sự mê muội, vọng chấp này. Bên cạnh đó là sự tắc trách hộ trì Tam Bảo do việc trói thân vào hệ phái, vào pháp Thực Tại Hiện Tiền, Chánh Niệm Tỉnh Giác, vào danh tiếng ở những vị Tăng Bảo Nam Tông thượng thủ khác.
Giới Tăng Bảo Nam Tông thượng thủ danh tiếng hiện nay có những ai? Và họ đã làm những gì trước sự chia rẽ nơi nội tại của Phật giáo Nam Tông cũng như việc không gắng sức sửa chữa sai lầm từ việc gây chia rẽ đạo Phật thành hệ phái Nam Tông và Bắc Tông?
Họ âm thầm duy trì sự khuấy động làm chia rẽ đạo Phật nhưng giả vờ như không làm gì cả.
Lẽ ra việc họ nên làm là hàn gắn, xoa dịu những vết thương hơn là cào cấu cho tóe máu những vết thương và gây ra thêm những tổn thương khác.
Danh Tăng Phật học Nam Tông ngày nay có thể kể đến là Hòa thượng Viên Minh, Giới Đức, Bửu Chánh, Toại Khanh - Giác Nguyên,...
Và có một sự thật là việc thuyết giáo, hoằng pháp cũng như pháp học, pháp hành của những vị Danh Tăng Nam Tông này đều có dấu tích của sự Tàu hóa, họ kế thừa rất nhiều những nền tảng từ Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật giáo Đông Độ gồm thơ Đường, thư pháp, bon sai, tiểu cảnh, cả tư tưởng khí khái của một đại hiệp bước ra từ tiểu thuyết kiếm hiệp Trung Quốc và cả Thiền ngữ của Trung Hoa, Nhật Bản.
Mặc dù pháp ngữ của họ chứa đựng đầy chất liệu Tàu nhưng họ lại ra sức duy trì việc Bài Tàu, triệt hạ Phật giáo phát triển Bắc Tông vì cho rằng đây là Phật giáo hàng Tàu, Phật giáo Bà La Môn.
Và dù thể hiện tư tưởng bài Tàu nhưng giáo lý Phật học hệ phái Nam Tông lại chứa nhiều Hán tự hơn cả những bản dịch của Kinh Phật thuộc hệ phái phát triển Bắc Tông.
Chỉ cần tham khảo những bản dịch Kinh Nikaya và Tạng Vi Diệu Pháp chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy người học Phật Nam Tông cả Tăng lẫn tục chịu sự ảnh hưởng của Hán tự nhiều đến mức đáng kinh ngạc. Pháp học đã nhiễm chất liệu Tàu thì hiển nhiên pháp hành ở người học Phật hệ phái Nam Tông khó thể tránh khỏi sự ảnh hưởng của nền tảng Tàu hóa.
Qua phần dẫn chứng rất thật, rất xác đáng bên trên chúng ta sẽ nhìn nhận lại vấn đề này như thế nào? Tại sao cách hành xử của giới Tăng Bảo Nam Tông lại có sự trái khoáy, tiền hậu bắt nhất như thế? Thậm chí là tính quân tử, trượng phu - Sự khí khái ở giới Danh Tăng Nam Tông cơ hồ như bị đánh mất? Tại sao?
Tại vì họ đích thực là thành phần học Phật hạng Thanh văn. Chính việc đánh mất trung đạo, rơi vào biên kiến đạo Phật, từng bước dính mắc vào pháp môn, hệ phái, việc hộ trì Tông môn hoằng pháp, việc ngộ nhận nối pháp Phật chánh tông và sự chấp Ngã - Tính tự mãn đã khiến họ lệch lạc, sa ngã như thế. Họ sai mà không biết đã sai và do uy tín nơi Tăng đoàn họ sẽ kéo theo đông đảo đại chúng học Phật lạc lối chánh pháp.
Vị Giác Giả thứ hai ra đời sau Phật Thích Ca những 400, 500 năm nên đã nhìn thấy rõ hiện tướng này và sự thoái hóa của đạo Phật ở tương lai nên lập ra phương tiện khéo Đại Thừa - Tiểu Thừa; Trong đó Tiêu Thừa với thành phần chính là người học Phật hạng Thanh văn cả Tăng lẫn tục.
Còn đại biểu Đại Thừa với thành phần nòng cốt là những cư sĩ tại gia có tâm hạnh đại thừa, là lực lượng chính cúng dường y áo, vật thực, thuốc men,... đảm đang cho sự tồn tại và phát triển của Tăng đoàn , tạo điều kiện tốt nhất cho Tăng đoàn giữ gìn Pháp Bảo.
Do đó về lý Đại Thừa và Tiểu Thừa là một phân ranh giả lập giữa Tăng Bảo xuất gia và Bồ tát cư sĩ tại gia.
Đáng tiếc là do lòng hoài nghi, đố kỵ, tâm tánh hạ liệt của những người học Phật thủ cựu, cực đoan thuở xưa nên họ đã không nhìn ra, không ý thức được rằng phương tiện ngài Xá Lợi Phất bị hoa trời dính trên áo và ra sức phủi hoa mà hoa không rơi xuống chính là nhằm vào việc thể hiện tánh Tiểu Thừa của giới Tăng Bảo học Phật chứ không phải ám chỉ rằng giới Tăng Bảo Nam Tông là Tiểu Thừa, giới Tăng Bảo Bắc Tông là Đại Thừa. Vì hiểu sai dụng tâm của vị Giác Giả thứ hai mà nội bộ của Tăng Đoàn phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn không được giải tỏa dẫn đến việc chia rẽ đạo Phật ra thành nhiều hệ phái, nhiều Tông môn,...
Và tại sao ngài Xá lợi phất, người được cho rằng đã chứng ngộ A la hán, dứt trừ hết lậu hoặc, đoạn hết các kiết sử mà hoa vẫn dính trên áo?
Vì lúc bấy giờ vị Giác Giả thứ hai cũng đã nhận thấy những bản chú giải Kinh Pháp Cú, Kinh Nikaya đã bị lệch lạc, không đúng với tâm Phật - việc diễn giải về quả vị A la hán bị sai sót, sa đà vào Thần thông huyễn hóa, hoàn toàn không thật đúng.
Tuy nhiên, những bản chú giải này đã phổ truyền, đã ngấm vào máu, vào tri kiến của người học Phật cả Tăng lẫn tục lúc bấy giờ.
Biết rằng sự hiểu biết đó là sai với chánh pháp giác ngộ của Phật Thích Ca nhưng tri thức nền của đại chúng học Phật lúc bấy giờ không đủ sức trạch pháp.
Do đó vị Giác Giả thứ hai nhận định được rằng việc vạch rõ sự chân ngụy nơi Kinh Phật, các bộ Luận, Tạng Vi Diệu Pháp và các bản chú giải Kinh Luận khi tri thức người đương thời chưa vững vàng, chưa sáng tỏ sẽ dẫn đến việc động chúng, hậu quả đối với sự tồn tại giáo lý và con đường giác ngộ giải thoát thật khó lường.
Vì lẽ đó với trí tuệ bất khả tư nghị và tâm bi mẫn khôn cùng vị Giác Giả thứ hai đã phổ truyền bộ Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết làm giềng mối trạch pháp cho người đời sau.
Quả thật là quả vị A la hán, Tam Minh - Lục Thông hoàn toàn không đúng như những gì mà người học Phật và người đời xưa nay lầm tưởng.
...
Mời các bạn tiếp tục tham khảo phần 2 của bài này có tiêu đề tương tự để vỡ ra rằng phước báu đích thị là một quả lừa và hơn thế nữa...
...