Thứ Năm, 3 tháng 9, 2020

Hỏi Đáp Về Pháp Môn Tổ Sư Thiền Với Hòa Thượng Thích Duy Lực (P.5)

Hỏi Đáp Về Pháp Môn Tổ Sư Thiền Với Hòa Thượng Thích Duy Lực (P.5) - (Nguồn Tổ Sư Thiền - Internet)
526. HỎI: Trong Kinh Kim Cang nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, Kinh Pháp Hoa lại nói: “Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ”, vậy có khác nhau không?
ĐÁP: Kinh Kim Cang và Kinh Pháp Hoa đều là Đại thừa liễu nghĩa, ý vốn chẳng khác. Kinh Kim Cang nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, vì có sở hữu tức là hư vọng, hễ có sở hữu một tí cũng là chướng ngại, sở hữu nhiều chừng nào thì chướng ngại nhiều chừng nấy, nên nói là hư vọng. Chỉ có vô sở hữu mới không bị hạn chế. Đến chừng hoàn toàn vô sở hữu rồi thì có tên gọi là thật tướng, thật tướng vô tướng, đó chẳng phải hư vọng. Đại thừa ấn chứng người đã ngộ gọi là “Ấn thật tướng”
Hai câu: “Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ” của Kinh Pháp Hoa là nghĩa vô sở trụ, cũng là vô sở hữu. Pháp nào trụ theo ngôi pháp đó, ví như cái dĩa này là trụ theo ngôi pháp dĩa, dĩa này làm bằng mủ, đem đốt thành tro thì trở thành pháp vị tro, tro đó bị gió thổi tan thành không thì trụ ngôi pháp vị không. Pháp vị sanh trụ nơi sanh, pháp diệt trụ nơi diệt, chữ TRỤ ở đây không thể dịch là “Còn”, thường trụ không thể dịch là thường còn, chẳng trụ cũng không có nghĩa là chẳng còn, nếu dịch thành “Còn” là không đúng nghĩa, vì ngôi pháp biến đổi hoài. Vô sở trụ chẳng phải không còn, chỉ là không trụ thôi, tất cả cũng y như cũ.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Vốn là Như Lai tạng”, là tùy theo pháp vị, chẳng thêm vào ý mình cho là đúng hay sai, cho là hợp lý hay chẳng hợp lý… thì không trụ theo pháp vị.
Nay Phật dạy chúng ta trụ theo pháp vị tức vô sở trụ, vô sở trụ tức vô sở hữu, thế gian tướng phải trụ như vậy. Nghĩa thế gian tướng là sanh diệt, nhưng nếu trụ như vậy thì pháp sanh trụ nơi sanh, pháp diệt trụ nơi diệt, nên thế gian tướng thường trụ; thường trụ như thế là chẳng trụ chỗ nào cả.
527. HỎI: Con tham câu: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì?” nhưng tự nhiên lúc đang tham, trong tư tưởng của con phát ra những câu nói: “Phật tánh vốn không sanh diệt, chơn tâm vô sanh bất hoại, vạn vật bất khả trường tồn, thân ý bất luận như nan, đắc quả chơn vị Bồ-đề, không không có có Như Lai thị. Vậy những câu nói trên do thức nào của con phát sinh ra?
ĐÁP: Do vọng tưởng của cô. Tại cô cứ suy nghĩ hoài, tham thiền là muốn chấm dứt sự suy nghĩ. Nay tôi nói cho biết: Tất cả vật chất đều tồn tại vĩnh viễn, chưa bao giờ mất, ví như ly nước tôi đang uống đây, có thể cả tỷ người đã uống qua, nó không có mất, mà tất cả năng lượng đều tồn tại vĩnh viễn không có mất, Kinh Lăng Nghiêm nói: Tất cả tánh thấy, tánh nghe của mình chẳng chết cũng chẳng mất, tánh ngửi, tánh nếm cũng vậy. Dù thân này hư hoại, nhưng những tánh thấy, tánh nghe vẫn tồn tại, ấy là năng lượng của tâm.
528. HỎI: Kính bạch Hòa thượng, chúng con cũng rõ chơn tâm của chúng con vốn là thường trú, thể tánh cũng sẵn là tịch minh, hơn nữa nó là bất sanh bất diệt…
ĐÁP: Ấy là lời nói, là hiểu biết theo lời nói. Ví như người mù hỏi người mắt sáng “Mặt trời như thế nào?”. Người mắt sáng nói: “Mặt trời là tròn với nóng”; ấy là lời nói, nhưng nếu cho tròn với nóng là mặt trời thì sai. Nay dùng lời nói để truy cứu thực tế thì càng truy cứu càng xa.
Cho nên, Đức Phật khuyên chúng ta tu, khi được tự chứng phần rồi tự rõ, nếu không tu mà chỉ dùng bộ não để truy cứu, cũng như các nhà khoa học, nhà triết học muốn nghiên cứu sự bắt đầu của vũ trụ, sự bắt đầu của sinh mạng, dù nghiên cứu thêm một tỷ năm cũng không được, vì vốn chẳng có sự bắt đầu.
Đức Phật nói: “Vô thỉ vô sanh”, nên người chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh pháp nhẫn. Pháp đã vô sanh thì làm gì có nghĩa lý để tranh cãi, để hỏi? Cái hỏi đó đã có sanh khởi, đã có sự bắt đầu rồi!
529. HỎI: Nếu nói vốn là vô sở hữu thì chúng con phải dụng công như thế nào?
ĐÁP: “Vô sở hữu”cũng là lời nói, phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật
530. HỎI: Con có những điều nghi vấn, kính xin Sư phụ giảng rõ: Trước đây Sư phụ có nói mượn hữu hình giảng về vô hình, mượn tất cả nhân duyên “Có” mà nói “không”, mượn nhân duyên “Không” mà nói “Có”.
Trong tứ thời đi, đứng, nằm, ngồi lúc nào cũng nhập vào Thiền định thì mắt nhìn vào chỗ hư không, lỗ tai nghe vào chỗ hư không, mũi cũng ngửi chỗ hư không, thiệt nếm chỗ hư không, thân và tâm ý cũng ở trong hư không, thế thì con đã nhập được pháp giới tánh của chư Phật chưa?
ĐÁP: Chưa.
Hỏi: Vậy làm sao để nhập được pháp giới tánh của chư Phật?
Đáp: Phải hỏi câu thoại và nhìn vào chỗ không biết. Tại ông biết nhiều quá, mục đích tham thiền là chấm dứt sự hiểu biết, nay ông chẳng chịu chấm dứt, lại phân tích đủ thứ, cho là tri kiến cao siêu. Tất cả tri kiến đều phải quét sạch mới là đúng với Tổ sư thiền.

Hỏi Đáp Về Pháp Môn Tổ Sư Thiền Với Hòa Thượng Thích Duy Lực (P.4)

Hỏi Đáp Về Pháp Môn Tổ Sư Thiền Với Hòa Thượng Thích Duy Lực (P.4) - ( Nguồn Tổ Sư Thiền - Internet)
513. HỎI: Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, có hai đoạn hình như mâu thuẫn nhau: Đoạn trên ngài Lục Tổ dạy Huệ Minh khi đối cảnh chẳng khởi thiện chẳng khởi ác, đoạn sau lại dạy cho Ngọa Luân đối cảnh tâm cứ khởi, vậy hai đoạn này có phải mâu thuẫn không?
ĐÁP: Lời của Lục Tổ nói với Huệ Minh chẳng phải lời dạy, ấy là câu thoại đầu, thoại đầu là chưa nổi niệm lên, chẳng khởi niệm thiện cũng chẳng khởi niệm ác mới được gọi là thoại đầu. Nếu đã khởi lên một niệm, dù là niệm thiện cũng gọi là thoại vĩ chứ chẳng phải thoại đầu. Đến thoại đầu là chẳng có niệm nào, chỗ đó gọi là đầu sào trăm thước, hễ tiến thêm một bước là kiến tánh. Lục Tổ muốn Huệ Minh ngay đó kiến tánh, chứ chẳng phải dạy.
Đối với bài kệ để phá chấp thật của Thiền sư Ngọa Luân, như trên đã nói, chỉ là phá chấp thật thôi, cũng chẳng phải là dạy. Bởi vì vô sở hữu thì đâu có gì để dạy! Chư Phật chư Tổ cũng chẳng có gì để dạy, chẳng có gì cho người; trong Truyền Đăng Lục nói: “Nếu nói tôi có gì cho ngươi, ấy là lừa gạt ngươi”.
Cho nên, nếu dùng tư tưởng chấp thật để tìm hiểu kinh điển Đại thừa là sai lầm, vì tất cả Kinh Đại thừa đều chỉ là phá chấp thật mà thôi.
514. HỎI: Trong Kinh Phật thường nói đến hai chữ “Chánh niệm”, tức tâm mình ở trong trạng thái chánh niệm. Theo con hiểu, chánh niệm là vô niệm. Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Vô niệm là nơi niệm mà lìa niệm”, tức trong tâm chẳng khởi niệm nào thì tâm được chánh định, phải không?
ĐÁP: Phải. Bài Vô Tướng Tụng trong Kinh Pháp Bảo Đàn: “Vô niệm niệm tức chánh, hữu niệm niệm thành tà”, chẳng có niệm nào cả là chánh niệm, bất cứ nổi lên niệm gì, dù là niệm thiện, cũng thành tà. Chữ Tà này chẳng phải tà ác, chỉ là không đúng với chánh thôi.
515. HỎI: Lúc tâm mình chẳng khởi lên một niệm nào, thì tâm ở vào trạng thái đó gọi là chánh định, phải không?
ĐÁP: Lúc đó sẽ gần đến bản lai. Câu tiếp theo trong Vô Tướng Tụng là “Tà chánh đều chẳng chấp” mới là đến chỗ bản lai. Nếu còn chấp vào cái chánh, chỉ là đến thoại đầu, chỗ đầu sào trăm thước, nên phải từ đầu sào trăm thước tiến thêm một bước, tức chẳng trụ nơi chánh nữa.
516. HỎI: Nếu tham đến chỗ chỉ còn một niệm, tức nhìn vào câu thoại muốn biết mà biết không nỗi đó, thì gọi là nhất tâm bất loạn, phải không?
ĐÁP: Nói nhất tâm bất loạn là của pháp môn Tịnh độ, còn Thiền tông thì định với loạn là tương đối, ví như vô ký, dù lúc đó tâm chẳng có loạn, mà Thiền tông cho đó cũng là bệnh.
Vì Thiền tông muốn giữ sự thắc mắc, muốn biết mà không biết, vẫn còn là không biết. Nhất tâm bất loạn của Tịnh độ có cái nguyện cầu vãng sanh, còn Thiền tông thì chẳng có nguyện, vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ, nên giống mà chẳng phải.
Tổ sư thiền là pháp thiền trực tiếp, mục đích là đi đến chỗ ngộ, chứ không muốn đi đến chỗ nhất tâm bất loạn, thanh thanh tịnh tịnh. Chẳng có sự mong cầu gì, hễ công phu đến mức tự động sẽ ngộ.
517. HỎI: Về phần lý, đến chỗ nhất tâm bất loạn có phải là định chưa?
ĐÁP: Tất cả thiền đều muốn đạt đến thiền định giải thoát, còn Tổ sư thiền thì như ngài Lục Tổ nói với Pháp sư Ấn Tông trong Kinh Pháp Bảo Đàn: “Thiền định giải thoát chẳng phải Phật pháp, Phật pháp là pháp bất nhị”. Những gì của Giáo môn coi trọng như thiền định giải thoát … thì Thiền tông lại không màng đến, nên Lục Tổ nói thẳng là chẳng phải Phật pháp.
Vì Thiền tông là muốn đến chỗ thực tế, thực tế bất nhị, chẳng tương đối. Thiền định là đối với tán loạn, dẹp bỏ tán loạn rồi mới nói là định; giải thoát là đối với trói buộc, mở trói rồi mới được giải thoát. Tự tánh bất nhị, vốn chẳng phải loạn thì làm sao có định; vốn chẳng trói buộc thì làm sao nói là giải thoát!
Cho nên, có một vị Tăng đến hỏi Tổ sư xin giải thoát, Tổ nói:
- Ai trói buộc ngươi?
- Chẳng ai trói.
- Thế thì đâu cần xin giải thoát!
Thiền tông khác với các tông phái khác là đối với tất cả những danh từ đều không màng đến, những gì Giáo môn cho là quý, Thiền môn chỉ cho đó là dây xích bằng vàng, cũng là dây xích trói buộc thôi.
518. HỎI: Về phần hành, khi nghi tình làm mất câu thoại, tiến vào vô thỉ vô minh hoặc đến thoại đầu, vậy thì thoại đầu với nơi chánh niệm hay chánh định đó có khác nhau không?
ĐÁP: Bây giờ nói chánh niệm, thoại đầu, vô thỉ vô minh, căn bản vô minh v.v… mặc dù đủ thứ tên gọi nhưng không khác, tức chỗ đó là nguồn gốc của ý thức, từ chỗ đó tiến lên một bước, lìa ý thức là kiến tánh, phải lìa ý thức rồi mới không có tương đối, còn ý thức là còn phân biệt là tương đối.
519. HỎI: Về phần lý là vô niệm, tức nơi niệm mà lìa niệm, về phần thực hành thì pháp môn tham thoại đầu đã đưa người ta thực sự tâm chẳng còn dính một niệm nào, vậy theo con tìm hiểu pháp tham thoại đầu này qua phần lý và phần thực hành rất tương ưng. Chúng con được pháp này là một điều đại nhân duyên, nay con đã được Hòa thượng từ bi khai thị rõ ràng, chỉ dẫn con đường sáng tỏ để đến bờ bên kia, xin thành kính cảm tạ ơn Sư phụ.
ĐÁP: Đó là bổn phận của tôi. Bổn phận người Tu sĩ là đi đúng theo nghĩa chữ Phật: Tự giác và giác tha, muốn tự giác giác tha phải dùng công phu, phải tu, nếu chỉ học hỏi là không đủ.
520. HỎI: Sư phụ vì lợi ích tất cả mọi người đứng ra hoằng pháp, khổ tâm khổ trí, theo tư cách của một người tu phải chơn tham, chơn thực tu hành mới mong đạt đến kết quả giải thoát. Thế mà có những người bắt chước lời Phật lời Tổ, bắt chước cách làm của Tổ, làm trò cười cho thiên hạ, Kinh Phật nói là “Kẻ đáng thương xót”. Đối với những người đã lâm vào tà kiến như thế, có cách nào giúp cho họ ra khỏi sự tà kiến đó?
ĐÁP: Những người không có sự chơn tu, chỉ bắt chước lời nói cử chỉ của chư Phật chư Tổ, Thiền tông gọi là “Con chó” chứ chẳng phải con sư tử, tự tạo tội địa ngục mà chẳng hay. Những người này chẳng cách nào trị nỗi, kể cả Phật Thích Ca. Phải đợi họ xuống địa ngục, chịu đủ khổ rồi ra mới sửa đổi được, còn bây giờ thì vô phương trị.
521. HỎI Những người xuất gia học Phật pháp đều biết rằng đã xuất gia lìa khỏi gia đình, đối với tình cảm cha mẹ họ hàng đều không quan tâm đến, gọi là thân sơ bình đẳng. Nhưng bản thân con chắc do ảnh hưởng tư tưởng thế gian nhiều, cho nên tình cảm cha mẹ vẫn ăn sâu vào tâm khảm, nhất là khi về nhà thăm gia đình, thấy cha mẹ tuổi già vẫn còn phải lao động làm con cảm thấy buồn. Vậy đó là do tâm trí con quá yếu hèn, phải không?
ĐÁP: Đó là tập khí phiền não từ lâu đời, người nào cũng vậy. Bây giờ tu là muốn sửa lại tập khí, phải có công phu mới sửa đổi được. Kỳ thật, cha mẹ vẫn có nhân quả của cha mẹ, con cái tự có nhân quả của con cái. Đối với cha mẹ kiếp này, nếu mình không xuất gia thì ở nhà lo cho cha mẹ, còn đã xuất gia, thọ sự cúng dường của mười phương, phải xem cha mẹ cũng như những Phật tử khác vậy.
Tôi thường nói Tu sĩ phải tự giác giác tha, cha mẹ cũng nằm trong đối tượng giác tha đó, đâu phải ở ngoài? Như Phật Thích Ca thành đạo rồi cũng về độ hết cha mẹ vợ con và dòng tộc, nhưng không xem họ là đặc biệt hơn, cũng như đối với cha mẹ người khác vậy.
522. HỎI: Con theo Sư phụ đã được đôi ba năm, xét về phần tu hành không thấy khả quan lắm, nhưng vẫn cố gắng học hỏi tu tập giới luật, nếu có thời gian rãnh cũng nghiên cứu kinh điển, trao dồi thêm giới phẩm của mình.
Thấy gần đây những Tu sĩ phần nhiều chú trọng học thức, không chịu nghiên cứu thêm giới luật, tế hạnh, để làm mô phạm cho tất cả chúng sanh, làm bậc thầy của trời, người, nên con thấy đây là vấn đề nan giải và đau lòng nhất. Kính mong Sư phụ ban cho vài lời cảnh sách.
ĐÁP: Nói đến Giới luật rất vi tế, Luật sư Hoằng Nhất ở Trung Quốc thời gần đây nói: Mặc dù ngài đã thọ giới Tỳ-kheo qua Tam đàn đại giới, nhưng đối với sự vi tế của giới luật Tỳ-kheo cũng chưa đủ, mà chỉ giữ đầy đủ ngũ giới của cư sĩ thôi. Thế mới biết sự vi tế như thế nào. (Sư phụ giảng về giới luật, xem câu 91, 92)
Người phạm giới là vì muốn thỏa mãn dục vọng của mình, nếu có công phu thì tự nhiên không nhớ đến dục vọng và giữ giới được. Còn bây giờ học và ghi nhớ giới luật, nhưng gặp cảnh liền bị cảnh lôi kéo và phạm giới. Cho nên, nhiều người thông suốt giới luật vẫn phạm giới, do không có tu nên chẳng có sức lực dẹp tan dục vọng. Ví dụ đối với số tiền ít thì không bị động tâm, hễ gặp số tiền lớn thì động tâm. Các cái khác cũng vậy, tài, sắc, danh, thực, thùy (ngủ)… ngủ thì không phải, đó thuộc vấn đề sinh lý, nhưng người tu hành ngủ vừa vừa thôi, chứ không cho ngủ nhiều.
Nói tóm lại, bất cứ tu pháp môn nào, phải có sự tu, phải có công phu mới mong sửa lại dần, nếu không tu mà chỉ nghiên cứu, mặc dù tất cả giới luật học thuộc lòng, rốt cuộc đối cảnh cũng bị phạm. Phải đối cảnh chẳng động tâm mới chắc là giữ được giới.
523. HỎI: Trong Kinh dẫn dụ: Chúng sanh vô lượng vô biên mà ứng thân của Phật tùy theo căn cơ trình độ của mỗi loài cũng ứng hóa vô lượng vô biên. Thế nhưng trong thực tế, Phật nói tám mươi bốn ngàn pháp môn chỉ ứng dụng cho loài người, còn đối với súc sinh lớn như con voi, nhỏ như côn trùng thì Đức Phật hóa độ bằng cách nào?
ĐÁP: Trong lục đạo luân hồi gồm Trời, Người, A-tu-la, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục, cõi Trời phước báo lớn hơn, chỉ thọ vui mà chẳng có khổ, vì không có khổ để kích thích sự ham tu, nên chỉ hưởng vui, không biết tu. Chỉ có cõi Người có khổ có vui mới biết tu. Cõi A-tu-la phước báo bằng cõi Trời, nhưng vì có tánh sân, hay nổi giận, lại cố ý nghịch với Phật pháp nên cũng không có tu. Súc sinh thì phải trả ác nghiệp, không thể tu; Ngạ quỷ và Địa ngục cũng vậy, do phải chịu khổ báo, khó tu, cho nên chỉ có con người mới tu được.
Do đó trong Phật pháp có câu: “Thân người khó được”, chỉ có thân người mới nghe được Phật pháp tu giải thoát, cũng chỉ có cõi người mới được thành Phật, ngoài ra năm cõi kia thì chẳng có. Còn Súc sinh phải chịu khổ báo mãn rồi mới có thể đầu thai thành con người và gặp được Phật pháp mới tu hành thành Phật.
524. HỎI: Người tiểu căn nghe pháp môn Tổ sư thiền ví như cây cỏ, cội gốc thì nhỏ, nếu bị mưa lớn sẽ ngã ngay, chẳng thể nào tăng trưởng được. Như chúng con thì thế nào?
ĐÁP: Nếu người tiểu căn nghe pháp Tổ sư thiền không được thì tu Tiểu thừa, bất quá chậm thôi. Tôi đã nói hạ căn có thể chuyển thành thượng căn, mạt pháp có thể chuyển thành chánh pháp, hễ người nào tự cho mình là tiểu căn mà muốn tu pháp Tổ sư thiền, dần dần đủ lòng tin rồi cũng tu được, tức chuyển hạ căn thành thượng căn.
525. HỎI: Như Sư phụ mấy ngày nay giảng, tất cả đều là diệu dụng của vô sở hữu. Tu pháp tham thoại đầu đến đầu sào trăm thước có biết tất cả những sự việc hay không?
ĐÁP: Tôi nói cái vô sở hữu đó là bổn lai vốn như vậy, chứ chẳng phải do tu mới thành. Ngài Long Thọ nói: “Hư không vô sở hữu mới dung nạp tất cả”, hiện tiền trước mắt đây, cũng như thầy đang hỏi tôi, tôi giải đáp được cũng nhờ cái hư không vô sở hữu này; thầy thấy được tôi, tôi thấy được thầy cũng là nhờ cái hư không vô sở hữu này; tất cả vạn vật đều là ở trong cái vô sở hữu này.
Nên bài Đại Trí Độ Luận mà tôi trích dịch ra, có người hỏi:
- Tại sao nói hư không vô sở hữu dung nạp tất cả vật, mà chẳng nói hư không quảng đại dung nạp tất cả vật?
Ngài Long Thọ đáp: Vì hiện tiền thấy hư không là vô sở hữu, nhưng tất cả vũ trụ vạn vật đều ở trong đó, đều phải nhờ cái vô sở hữu mới được hiển bày.

Hỏi Đáp Về Pháp Môn Tổ Sư Thiền Với Hòa Thượng Thích Duy Lực (P.3)

Hỏi Đáp Về Pháp Môn Tổ Sư Thiền Với Hòa Thượng Thích Duy Lực (P.3) - ( Nguồn Tổ Sư Thiền - Internet)
508. HỎI: Thể tánh của Phật là thể tánh không, thế thì tại sao bày ra đủ thứ pháp môn này pháp môn kia như Tổ sư thiền chẳng hạn, không khéo lại đem bụi bậm vào thể tánh đó?
ĐÁP: Tất cả pháp của Phật Thích Ca dạy đều là phương tiện, mục đích để đạt đến chỗ hiện ra bản lai diện mục của tâm mình, tất cả danh từ chỉ là danh từ chứ chẳng có thực tế.
Nói đến cái Không đó, bởi do tâm của mọi người chẳng hình tướng số lượng, “Không” là để hiện bày cái dụng, muốn dùng thì phải có cái Không đó. Ví như cái tách này, nếu chẳng có cái không, ấy là tách chết, dùng không được; cái bàn này, bình này, căn nhà này v.v… cũng vậy. Mà cái Không này là vô sở hữu, vô sở hữu mà dung nạp tất cả, tất cả đều ở trong vô sở hữu này, và tất cả đều phải nhờ cái vô sở hữu này mới hiển bày được sự dụng.
Nếu vô sở hữu thì chẳng nghĩa lý, chẳng lời nói chẳng danh từ nào để nói; bây giờ muốn nói, đặt ra những danh từ là phương tiện cho mọi người hiểu được cái dụng. Ví như bản thể của tâm khắp hư không chẳng khứ lai, nên đặt tên Như Lai, là đúng như bản lai; vì khắp thời gian thì chẳng sanh diệt, nên đặt tên Niết-bàn, vì trống rỗng chẳng có gì cả nên đặt tên Tánh Không v.v…
509. HỎI: Nếu như thế thì đâu cần bàn là giải thoát hay không giải thoát? Vì thể tánh vốn như thế!
ĐÁP: Phải. Cho nên có người đến với Tổ sư, Tổ sư hỏi: Muốn gì?
- Muốn cầu giải thoát.
Tổ hỏi: Ai trói buộc ngươi?
Vốn là không trói buộc thì đâu cần cầu giải thoát, phải không? (Dạ phải). Nhưng chính bây giờ ông bị trói buộc rồi, do tâm ông tự trói nên mới cầu giải thoát.
510. HỎI: Bạch Hòa Thượng, đúng. Nhưng nếu con bị trói buộc thì ngay bản thân con phải tự giải thoát chứ đâu nhờ ai giải thoát cho con được? Sở dĩ đặt ra những phương pháp đó chẳng qua chỉ là phương tiện thôi!
ĐÁP: Nếu không đặt ra thì ông làm sao biết để đi đến giải thoát? Cho nên Đức Phật mới đặt ra phương tiện. Mặc dù đặt ra, nhưng ngài lại sợ người ta chấp vào lời nói của Phật, nên nói: “Ta bốn mươi chín năm chưa từng thuyết một chữ”, “Ai nói ta có thuyết pháp là phỉ báng Phật”. Vậy ông có hiểu không?
- Dạ hiểu.
- Thế thì khỏi hỏi nữa.
511. HỎI: Mỗi người đều có một viên minh châu, vậy đâu là viên minh châu của Hòa thượng?
ĐÁP: Bây giờ nói chỉ là lời nói, ví như nói về cái tâm, cũng chỉ là danh từ để nói thôi. Mặc dù Phật đặt ra những danh từ, nhưng ngài nói là chẳng có nói. Tại sao? Vì cái thực tế nói không được.
Đức Phật đặt ra danh từ rồi bảo chúng ta phải thực hành, phải đi đến chỗ thực tế của danh từ đó. Muốn đến chỗ thực tế của danh từ đó phải tu.
512. HỎI: Qua những câu hỏi trên, khiến con nhận thức rằng những tri kiến được tiếp thu qua vạn pháp ở thế gian đều là những phương tiện, chẳng phải cứu cánh. Những văn tự ngôn từ diễn đạt tình trạng tâm linh mà người ta thường dùng, vô tình đã gây chướng ngại cho sự phát triển minh tâm kiến tánh. Vậy xin Sư phụ từ bi khai thị phương pháp độc đáo của Tổ sư thiền cho chúng con hầu thấu triệt công phu trên đường tu tập.
ĐÁP: Cái độc đáo nhất ấy là vô sở hữu, tức hư không trống rỗng vô sở hữu. Tất cả chúng sanh, vũ trụ vạn vật, núi sông đất đai, nhà cửa cây cối, đều phải ở trong vô sở hữu này; trong cuộc sống hàng ngày, mặc áo ăn cơm, nói năng tiếp khách… đều phải nhờ cái vô sở hữu này.
Tâm của con người luôn muốn có sở hữu: Tiền này là sở hữu của tôi, nhà này là sở hữu của tôi, bất cứ tài sản gì đều muốn thuộc về sở hữu của tôi, từ đó sanh ra đủ thứ phiền não, chướng ngại cái dụng vô sở hữu.
Sự dụng của vô sở hữu vốn khắp không gian, thời gian, chẳng có hạn chế, nay hễ sanh ra một mảy may cầu sở hữu liền bị hạn chế, chướng ngại cái dụng của tâm vô sở hữu. Nên pháp tham thiền là dùng cái không biết để tu, vì không biết thì chẳng thể có tâm muốn sở hữu, hễ mống tâm mong cầu là biết vậy.

Hỏi & Đáp Về CÁCH THỰC HÀNH THAM TỒ SƯ THIỀN (P. 2)

Hỏi & Đáp Về CÁCH THỰC HÀNH THAM TỒ SƯ THIỀN (P. 2) - (Nguồn tosuthien.com)
Hỏi: Xin sư khai thị về cách thực hành Tham Tổ Sư Thiền?
Đáp: Trước nhất phải biết ngồi thiền chẳng phải tham thiền, tham thiền chẳng cần ngồi. Nhiều người lầm tưởng ngồi thiền tức tham thiền, kỳ thật chẳng phải; bất cứ lúc nào cũng phải tham: Đi đứng nằm ngồi, đang làm công việc tay chân, sử dụng bộ não, đang ăn cơm, đi cầu, ngủ mê cũng phải tham. Chư Tổ ở Ấn Độ trên hình ảnh có đủ thứ cách ngồi, không nhất định phải ngồi Kiết già.
* Nhưng phải tham như thế nào? Chữ THAM là nghi, nghi tức không hiểu. Một việc gì đã thấu hiểu rồi thì hết nghi; tâm suy nghĩ giải thích câu thoại đầu, cho ra một câu đáp án ấy là hồ nghi, chẳng phải chánh nghi. Chánh nghi là chỉ cho tâm nghi, không cho tâm đi tìm hiểu, không cho tâm đi giải thích đáp án. Chánh nghi mới là tham thiền, hồ nghi chẳng phải tham thiền.
* Tham Thiền rất chú trọng đến nghi, chỉ cần có nghi tình, ngoài ra không cần biết đến tất cả. Các pháp tu khác hay trừ vọng tưởng hoặc buông bỏ vọng tưởng, tham Tổ Sư Thiền không cho trừ vọng tưởng, không được đè nén vọng tưởng, không được buông bỏ vọng tưởng, vọng tưởng nỗi lên bao nhiêu cũng mặc kệ, không biết tới. Vậy thì phải làm sao ? Chỉ cần đề câu thoại đầu khởi lên nghi tình thì chính nghi tình đó là cây chổi automatic để quét sạch tất cả, có vọng tưởng cũng quét, không có vọng tưởng cũng quét, khỏi cần tác ý.
* LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHỞI LÊN NGHI TÌNH ? Phải nhìn vào câu thoại đầu. Ngài Hư Vân nói "Thoại đầu là cây gậy", như người đi đường nhờ cây gậy để đi, tham thiền nhờ câu thoại đầu làm cây gậy để đi.
Tham thoại đầu cũng gọi là khán thoại đầu, thoại đầu thì rất nhiều, muôn muôn ngàn ngàn, ở đây chỉ đề ra năm câu thoại đầu, mỗi người tự chọn một câu khó hiểu nhất, cảm thấy không hiểu nỗi thì câu đó thích hợp cho mình tham. Năm câu thoại đầu gồm :
1/ Khi chưa có trời đất ta là cái gì ?
2/ Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bản lai của ta như thế nào ?
3/ Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì ?
4/ Vạn pháp qui một, một qui chỗ nào ?
5/ Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu ?
Năm câu thoại đầu chỉ được chọn một câu khó hiểu nhất, tham đến kiến tánh thành Phật mới thôi, không cho lựa hai câu, cũng không được đổi qua đổi lại, phải ôm chặt lấy một câu thoại đầu tham đến cùng. Hỏi thầm trong bụng "Khi chưa có trời đất ta là cái gì ?" Có hỏi thì có đáp, không hiểu thì đáp không ra, thắc mắc không hiểu tức đã phát khởi nghi tình, Hỏi lần thứ nhất, đáp không ra, hỏi tiếp lần thứ hai, vẫn đáp không ra, hỏi tiếp lần thứ ba. cứ hỏi tiếp hoài , ngày đêm chẳng ngừng, gọi là miên mật. Tham thiền cần có sự miên mật, miên là kéo dài, mật là không có kẽ hở, liên tiếp không có kẽ hở, không cho gián đoạn, miên mật mãi mới thành khối.
* Tham thiền chú trọng đến cái không hiểu, việc thế gian muốn hiểu thì khó, không hiểu thì dễ, nên bà già 80 - 90 tuổi vẫn tham được; trẻ con 3 - 4 tuổi cũng tham được, chỉ cần một cái không hiểu là được.
* Tham thiền nghi tình nặng, không hiểu nhiều, có thể ảnh hưởng đến nhức đầu, tức ngực, khó thở, ấy thì nhức chừng nào tốt chừng nấy, mặc dù lúc đó cảm thấy rất khó chịu nhưng phải ráng, vì đó là tình hình tốt, phải có tâm quyết tử mới có thể kiến tánh, cứ dũng mãnh tiến tới, chớ có sợ. Vì tình trạng đó chỉ kéo dài từ năm - bảy ngày sẽ hết. Nhưng nếu khi ngồi thiền có tình trạng nhức đầu tức ngực khó thở thì không được, phải mau đứng dậy đi kinh hành hoặc kiếm việc khác làm.
* THAM THIỀN KHÔNG PHÂN BIỆT TƯ CÁCH : Theo Phật pháp thì từ Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa cho đến Tối Thượng thừa, thuộc về chánh pháp luôn phải phá ngã chấp; nếu không phá ngã chấp thì chẳng thể ra khỏi sanh tử luân hồi.
* Căn bản của người tham thiền là PHÁ NGÃ CHẤP, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ SỢ, phải luôn luôn nhớ lấy. Hễ có sở đắc là còn chấp ngã, có sở cầu là còn chấp ngã, có sở sợ là còn chấp ngã, nên phải luôn nhớ chín chữ VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ SỢ để phá. Tâm Kinh nói "Vô trí diệc vô đắc", chẳng những Thiền tông, các pháp môn khác cũng vậy.
* Thông thường, người ta nói đến "Trì kinh", lầm tưởng tụng kinh tức trì kinh, ấy là sai lầm. Trì là phải hành trì, nếu chỉ có tụng niệm , ấy là tụng niệm chứ chẳng phải trì kinh. Nay chúng ta tham thiền tức trì kinh. Tham Thiền là cây chổi automatic để trì kinh, tham thiền là đúng theo ý chỉ của Bát Nhã Tâm Kinh.
* Người thường cho rằng tham thiền phải thượng căn thượng trí mới có thể tham được, sự thật từ lịch đại Tổ Sư cho đến đời Mãn Thanh, đã có bảy ngàn Tổ, vị Tổ nào cũng nói " Ai cũng có thể tham được", bất cứ già trẻ, nam nữ, thông minh, dốt nát, khờ ngốc v.v. Trong Truyền Đăng Lục, nhiều người khờ ngốc vẫn được kiến tánh, thì tại sao mọi người cứ cho tham thiền là khó ? Tại không chịu thực hành, không có tham thiền mà chỉ nghe những người ham tạo tội địa ngục, chẳng biết Tổ Sư Thiền là gì, cứ lấy ý mình đoán, hễ thấy người ta ngồi thiền tưởng là tham thiền, nói là dễ tẩu hỏa nhập ma, ấy là sai lầm.
* Những người không biết về thiền mà phê bình thiền, tạo tội địa ngục rất nặng. Theo ngài Lai Quả Thiền sư trong Ngữ Lục của ngài nói :" Nếu phỉ báng thiền mà tự chướng ngại không dám tham thiền, phải đọa địa ngục Vô-Gián ( Địa ngục A-Tỳ ) một đại kiếp; hễ phỉ báng thiền làm chướng ngại người khác không dám tham thiền thì phải đọa địa ngục Vô gián bốn đại kiếp, chứ chẳng phải nói chơi vậy". Nhiều người không biết, lấy ý mình nói đại, thật đáng thương xót.
* Tại sao chỉ chướng ngại mình chứ chẳng phải chướng ngại người khác mà phải đọa địa ngục một đại kiếp? Theo Lai Quả Thiền sư nói, tất cả Phật quá khứ, Phật vị lai đều do tham thiền mà thành Phật; hễ một người kiến tánh thành Phật sẽ độ vô lượng vô biên chúng sanh. Nay do mình phỉ báng thiền, chẳng được thành Phật, khiến vô lượng vô biên chúng sanh không được giải thoát, ấy là lổi tại mình, nên có tội nặng như thế. Cho nên, phỉ báng thiền tạo tội rất nặng; theo tội thế gian chỉ một đền một, ví như đã cắt cổ một trăm con gà, ăn thịt một trăm con gà ấy, bất quá làm con gà một trăm đời để người khác cắt cổ, ăn thịt rồi là hết.Còn phỉ báng Phật pháp thì tội gấp muôn triệu ngàn lần, trong địa ngục A Tỳ hết đại kiếp này đến đại kiếp khác, thậm chí thế giới này hoại rồi phải dời đến thế giới khác để chịu tội. Thế nên, hễ mình không biết thì chớ nên phỉ báng, nói là có hại.

Hỏi Đáp Về Pháp Môn Tổ Sư Thiền Với Hòa Thượng Thích Duy Lực (P. 1)

Hỏi Đáp Về Pháp Môn Tổ Sư Thiền Với Hòa Thượng Thích Duy Lực (P. 1) - ( Nguồn Tổ Sư Thiền - Internet)

502. HỎI: Khi quán Đức Phật trăm phước trang nghiêm, cái quán đó có phải vọng tưởng không?

ĐÁP: Thầy nói cái quán đó nằm trong tông phái nào?
Hỏi: Dạ, cũng như thay vì quán hơi thở mà nay quán trăm phước trang nghiêm của Đức Phật?
Đáp: Quán hơi thở gọi là Sổ tức quán, là một trong năm thứ thiền quán của thừa Thanh-văn, gọi là Ngũ đình tâm quán, bao gồm: Từ bi quán, Nhân duyên quán, Lục thức quán, Bất tịnh quán và Sổ tức quán, ấy là thiền quán riêng biệt của thừa Thanh-văn dùng để đình chỉ cái tâm.
Lại nữa, cách đếm hơi thở gọi là Lục diệu môn, cũng là của Tiểu thừa, nếu theo đó tu có thể đạt đến diệu cảnh của Niết-bàn Tiểu thừa. Trong cuốn Danh từ Thiền học chú giải của tôi cũng có giải thích những danh từ đó.
Còn bây giờ thầy hỏi là thiền quán nào? Nếu nói về Tổ sư thiền thì đó là vọng tưởng, nếu nói là Tịnh độ thì không phải, vì trong mười sáu thứ thiền quán có quán tượng Phật của A Di Đà, chứ không quán trăm phước trang nghiêm của Đức Phật.
Nếu tham thoại đầu mà quán Phật là vọng tưởng, chớ nói là quán, ở trong Thiền đường của Tòng lâm Thiền tông, niệm một tiếng Phật phải phạt rửa thiền đường ba ngày! Còn Tịnh độ thì phải niệm Phật. Bởi vậy, hễ theo pháp thiền quán nào phải theo đúng tông chỉ tông phái đó, chứ chẳng phải đều giống nhau, do đó Đức Phật mới dạy tám mươi bốn ngàn pháp môn.
503. HỎI: Có một cô Phật tử năm nay sáu mươi lăm tuổi, chồng cô ta mắc bệnh tâm thần hơn bốn mươi năm nay, chạy đủ thầy thuốc chẳng hết bệnh, cũng chẳng chết. Cô ấy muốn lập đàn sám hối thay chồng, vậy có lợi ích gì cho người chồng không?
ĐÁP: Nhân quả là ai làm nấy chịu, chứ chẳng thể người này làm thế cho người khác được.
Hỏi: Chồng của cô ấy trước kia cũng làm ra một số tiền, nay cô muốn đem số tiền bố thí cúng dường hoặc làm một việc gì đó cho chồng được nhẹ bớt bệnh?
Đáp: Nhưng người chồng phải biết sự phát tâm đó, vì có biết mới có tâm tạo, hễ tâm tạo một niệm thiện, có thiện nhân mới được thiện quả.
Hỏi: Vậy ông đó phải phát tâm mới được?
Đáp: Phải.
504. HỎI: Con là học Tăng mới, trong quá trình công phu con gặp phải những hiện tượng bức xúc như cảm thấy thân không còn nữa, hoặc như đứng trước ngã tư đường, bốn phía đều bị vây chặt, phía trước lại là hố thẩm chẳng thể bước tới; hoặc như đứng trước một bức tường chẳng thể xuyên qua… vậy đó có phải thiền bệnh chăng?
ĐÁP: Tất cả thiền đều có thể trải qua những cảnh giới đó. Theo Kinh Lăng Nghiêm, những cảnh giới đó nếu không cho là thù thắng thì là cảnh giới tốt, nếu cho là thù thắng sẽ lọt vào tà ma.
Còn Tổ sư thiền đối với tất cả cảnh giới đều không biết, hễ có biết ấy là vọng, là nghịch với Tổ sư Thiền, là chướng ngại sự kiến tánh. Phải dùng nghi tình để quét sạch những cảnh giới đó, dẫu cho Phật Thích Ca đến rờ đầu thọ ký vẫn là không biết, cứ nhìn và hỏi, những cảnh giới đó tự nhiên tiêu diệt. Vì pháp môn này là dùng cái không biết để tu, đến chừng biết được rồi thì tất cả đều biết, gọi là Chánh Biến Tri.
505. HỎI: Khi đọc Kinh Pháp Bảo Đàn, con gặp hai bài kệ; “Ngọa Luân hữu kỹ lưỡng, năng đoạn bá tư tưởng, đối cảnh tâm bất khởi, Bồ-đề nhật nhật trưởng”. Còn ngài Lục Tổ lại nói: “Huệ Năng một kỹ lưỡng, bất đoạn bá tư tưởng, đối cảnh tâm số khởi, Bồ-đề tác ma trưởng”. Ý của hai bài này như thế nào?
ĐÁP: Bài kệ của Lục Tổ là để phá sự chấp thật của Ngọa Luân, vì Ngọa Luân có tư tưởng chấp thật, mà thực tế thì chẳng có cái nào thật. Tại sao? Vì tất cả đang biến hóa, hễ có biến đổi thì chẳng thật. Ví như mặt mũi của thầy, nhìn vào hình như lúc nào cũng giống nhau, nhưng sự thật có thay đổi, sát-na trước và sát-na sau đều khác nhau. Cũng như đốt lên cây đèn cầy, thấy ngọn lửa như y hệt, nhưng ngọn đèn sát-na trước và sát-na sau đã hoàn toàn khác, chúng sanh không biết, chỉ cho là giống nhau thôi.
506. HỎI: Đức Phật dạy tám mươi bốn ngàn pháp môn, tùy theo căn cơ của chúng sanh để hành trì, mục đích là tới thanh tịnh tâm; nhưng tại sao ngài Lục Tổ lại phủ nhận toàn bộ bài kệ của Ngọa Luân?
ĐÁP: Do thầy cũng có tư tưởng chấp thật nên có câu hỏi này, vì chấp thật mới cho là cái này đúng, cái kia sai. Nếu không chấp thật tức nghĩa vô trụ, chẳng trụ chỗ nào cả. Hễ vô trụ thì cái nào cũng như cái nấy, ăn cơm cứ ăn, nói năng tiếp khách cứ nói năng tiếp khách, vốn chẳng dính dáng gì. Chẳng cho là cơm này ngon cơm kia không ngon, áo này đẹp áo kia xấu … đủ thứ phân biệt đều do tự tâm mình tạo ra, nên nói nhất thiết duy tâm tạo.
507. HỎI: Câu “Dục trừ phiền não trùng tăng bệnh, xu hướng Chơn như tổng thị tà”, hai câu này đối đãi nhau, trong khi con muốn trừ phiền não thì phải làm sao?
ĐÁP: Tất cả lời nói của chư Phật chư Tổ đều chẳng thật, chính Đức Phật nói: “Phàm là lời nói đều chẳng có nghĩa thật”, Kinh Kim Cang nói: “Vô pháp khả thuyết mới gọi là thuyết pháp”; “Nếu ai nói ta có thuyết pháp là phỉ báng Phật”, vậy có phải mâu thuẫn không? Không, bởi vì lời nói đó chẳng phải, cái phải đó chẳng thể nói. Tất cả những gì mình hiểu được, nói được đều chẳng phải thực tế, cái thực tế đó phải ngộ mới được.

Pháp Hành Quyết Định Thành Phật Cho Người Học Phật Ngày Nay (P.2)

Pháp Hành Quyết Định Thành Phật Cho Người Học Phật Ngày Nay (P.2)
Tụng kinh, niệm Phật, Trì giới, Tọa thiền, làm lành, lánh dữ, tham công án, chiếu cố thoại đầu, thọ trì Tứ Niệm Xứ,... có phải là pháp hành chính thống của Phật môn không?
Có câu "Tất cả các pháp đều là Phật pháp" thì có điều chi không là pháp hành của Phật đạo kia chứ? Nhẫn đến việc quy y ngoại đạo, hành thiền luân xa, rèn luyện Pháp Luân Công hay niệm Chúa Jesu, Thánh Alah,... thảy đều là Phật pháp.
Vậy tất cả pháp hành mà người học Phật xưa nay thuận hành hay nghịch hành đã tồn đọng khiếm khuyết gì mà nên nỗi người học Phật xưa nay trải qua muôn vài ức hiếp vẫn chưa thành tựu được Phật quả, chứng ngộ việc giải thoát hoàn toàn?
Các pháp vốn tròn đầy, chẳng tổn khuyết. Người thấy pháp nhìn chiếc lá rơi vẫn có thể chứng ngộ trọn vẹn sự giác ngộ giải thoát. Vậy nên lập chế định có pháp hành cố định thành Phật là đã tự giam hãm Tuệ tri, tự đâm mù mắt huệ của chính mình.
Vậy vấn đề gì đã khiến người học Phật xưa nay không thể chứng ngộ trọn vẹn Phật quả dù rằng tinh tấn học hỏi, nỗ lực thọ trì những pháp hành Phật pháp?
...
Vấn đề chính là ở chỗ người thọ trì pháp hành nhận lầm phương tiện cho là cứu cánh, từ đó chấp thủ nơi "cứu cánh lầm nhận" dẫn đến việc chướng ngại sự đột phá nơi tuê tri, mãi mãi lệ thuộc nơi ngã kiến - Lạc đọa ở sở tri chướng.
Qua lời Thầy Tổ, thiện tri thức người học Phật biết các pháp môn chỉ là cái bè, nương vào bè người học Phật sẽ có cơ may qua được bờ bên kia. Song người học Phật xưa nay một khi biết chiếc bè là chiếc bè, liền ôm níu chiếc bè của mình trải qua một thời gian dài thọ trì, gìn giữ lại cho rằng đây là cứu cánh rồi rơi vào việc chấp pháp sâu nặng, ra sức xưng tán, bảo hộ phương tiện đang nương gá bằng việc khẳng định đây là pháp môn thù thằng, từng bước rơi vào việc lạm bàn tranh hơn thua, luận cao thấp - Việc ôm giữ pháp phương tiện trở thành việc đội chiếc bè trên đầu, kết quả là thêm phần gánh nặng đâu dễ qua sông.
...
Có rất nhiều người tham cứu kinh sách Phật học một thời gian liền vướng vào sở kiến tự đầy đủ, lại biết kinh Phật là ngón tay chỉ trăng, biết pháp môn là phương tiện nhưng thay vì nương vào phương tiện ngõ hầu qua sông thì lại ngồi đấy ôm giữ phương tiện mãi chẳng buông cho rằng đó là hạ thủ công phu, rồi tiến đến việc gặp ai cũng marketing về phương tiện pháp bảo thù thắng, rồi lập đạo tràng ôm giữ chiếc bè. Và người học sẽ mãi giữ chiếc bè, chẳng dám rời chiếc bè bởi lẽ người thọ trì e sợ việc rời phương tiện sẽ bị đuối nước, sẽ bị chìm đắm. Phương tiện bỗng chốc trở thành gánh nặng.
...
Người học Phật ngày nay hành pháp Phật muốn thành tựu Phật quả sao chẳng xét lại xem Thái tử Tất đạt đa đã thực hành pháp gì mà thành Phật?
- Thái tử Tất đạt đa có giữ giới, có tụng kinh, có niệm Phật, có trì chú, có tọa thiền, có làm lành, lánh dữ, có cầu nguyện, có thực hành các pháp tu của ngoại đạo,... hay không?
- Xin thưa rằng Thái tử Tất đạt đa trước khi thành Phật đã thọ trì tất cả những điều đó, việc thọ trì không chỉ dừng lại ở "đầu môi, chóp lưỡi" mà còn chạm mức tín tâm hạ thủ công phu một cách dũng mãnh, quyết liệt thông qua việc từ bỏ vương quyền, dòng tộc - gia đình - vợ con để thực hành tất cả các pháp phương tiện đã từng được người đời tin nhận, tầng lớp Bà la môn tán thán.
...
Thông qua hành trạng dấn thân tìm đạo của Phật mỗi người chúng ta sẽ thấy được sự khát khao giải tỏa những trăn trở, những bế tắc tâm linh trong tâm hồn của Thái tử Tất đạt đa. Điều này cho thấy động cơ và mục đích của việc tìm đạo, cầu đạo, hành đạo sẽ đóng một vai trò quyết định cho việc thành tựu đạo quả. Việc bức ngặt là thật sự cần thiết, người học Phật đến với đạo Phật chỉ bằng vào hình thức hoặc chỉ "cưỡi ngựa xem hoa" thì khó thể thành tựu được cứu cánh niết bàn vô sở đắc có chăng chỉ nếm trải được sự an tịnh nhất thời.
...
Xét lại các pháp hành mà Phật đã từng trải khi chưa chứng ngộ ta sẽ thấy Thái tử Tất đạt đa thực sự đã thực hành tất cả những pháp hành của ngoại đạo mà chứng ngộ.
Có thể sẽ có người cắc cớ chất vấn Ngạo Thuyết rằng Thái tử Tất đạt đa đã niệm Phật hiệu là gì mà giác ngộ thành Phật?
- Xin thưa rằng Thái tử Tất đạt đa đã niệm Phật là Đấng Braham, đã niệm Phật là Thần Lửa,... niệm Phật là những Đấng quyền năng mà dân chúng cũng như các tầng lớp Sát Đế Lợi, Bà La Môn ở quanh lưu vực sông Hằng lúc bấy giờ tin nhận. Phật đã từng quy thuận ngoại đạo để cầu đạo thì việc tín thành hành pháp hành ngoại đạo là lẽ đương nhiên.
...
Vậy phải chăng các pháp hành giữ giới, có tụng kinh, có niệm Phật, có trì chú, có tọa thiền, có làm lành, lánh dữ, có cầu nguyện, có thực hành các pháp tu của ngoại đạo,... vốn thật đều là pháp hành của ngoại đạo đồng thời cũng là pháp phương tiện, là chiếc bè đã một thời giúp Thái tử Tất đạt đa vượt dòng sinh tử luân hồi?
...
Xem đến đây hẳn là khá nhiều người học Phật sẽ khá bất ngờ với luận thuyết giữ giới, có tụng kinh, có niệm Phật, có trì chú, có tọa thiền, có làm lành, lánh dữ, có cầu nguyện, có thực hành các pháp tu của ngoại đạo,... song thực tế là vậy. Nếu tấm lòng người tham cứu trang Nikaya & Đốn Ngộ mà có sự cởi mở, khách quan thì nhận định này không hề trái đạo hay lệch lạc với chánh pháp mà Phật Thích Ca trao truyền.
Thực tế là không phải chỉ vì thêm chữ Phật vào sau các pháp hành của ngoại đạo mà pháp hành đó trở thành là sản phẩm của đạo Phật. Nếu nói về giới luật thì Ngạo Thuyết e rằng tín đồ Kì Na Giáo sẽ giữ giới nghiêm cẩn hơn người học Phât rất nhiều lần; Nếu nói về trì chú, tụng kinh, niệm hồng danh các Đấng quyền năng, ngồi thiền,... Ngạo Thuyết tin rằng ngoại đạo thực hành bài bản nghiêm túc hơn người học Phật rất nhiều... Và người học Phật sáng suốt phải thừa nhận một sự thật là phần lớn các pháp hành mà người học Phật ngày nay đang thọ trì là một sự kế thừa, một sự cải biên ít nhiều từ các pháp hành của ngoại đạo.
Và một điều quan trọng khác mà người học Phật ngày nay phải nhìn nhận lại, đó là không phải một khi người học Phật xướng tụng "Một quy y Phật, hai quy y Pháp, ba quy y Tăng" là đã bước vào đạo Phật. Hình thức "Tam quy y" chỉ là hình tướng người học Phật gõ lên cánh cửa Phật môn mà thôi.
...
Một điều đáng lưu ý khác khi nhìn nhận việc Thái tử Tất đạt đa thực hành các pháp hành của ngoại đạo mà thành tựu quả vị Phật chính là ở chi tiết Phật tham cứu tất cả giáo lý ngoại đạo và nghiêm túc, tín thành thực hành cùng chuyên cần. Chính điều đó đã giúp cho kiến thức của Thái tử Tất đạt đa về đạo học dàn trải, rộng khắp và khi nhận ra các pháp hành của ngoại đạo đã giam hãm sở tri vào những Đấng quyền năng không có toàn tri như con người lầm tưởng.
Nhận thức được điều đó Thái tử Tất đạt đa đã từ bỏ những pháp hành chủ về xưng tán của ngoại đạo mà thực hành việc nội quán, ngoại quán sâu xa.
Chính nền tảng của thiền định, kết quả của việc thực hành pháp tọa thiền của ngoại đạo đã phát huy những hiệu quả nhất định mỗi khi Thái tử Tất đạt đa thực hành thiền quán, những sở kiến mê lầm nương nơi giáo lý ngoại đạo từng bước rơi rụng. Những pháp phương tiện vay mượn từ ngoại đạo Thái tử Tất đạt đa từ bỏ dần và sau cùng ngay cả chiếc bè thiền định, thiền quán Thái tử Tất đạt đa cũng bỏ lại sau lưng. Thái tử Tất đạt đa chạm đến sự giải thoát hoàn toàn khi nhận ra sự vô ngã ngay nơi chính tự thân cũng như vạn pháp. Và nền tảng tri kiến ngoại đạo dồi dào giúp Thái tử Tất đạt đa trở nên là một Giác Giả giác ngộ hoàn toàn.
...
Ngạo Thuyết trình bày việc Thái tử Tất đạt đa thành Phật lao nhọc nhằm mở ra một nhận thức rành rõ là "Muốn Thành Phật Phải Trau Dồi Tri Kiến Phật. Và Tri Kiến Phật Sẽ Là Bao Gồm Tất Cả Tri Kiến Cùng Pháp Hành Của Ngoại Đạo". Tiếp đến là việc nội hóa thông qua việc thiền định, thiền quán.
...
Đấy là pháp hành quyết định thành Phật cho người học Phật ngày nay.
...
Còn bạn? Bạn đến với đạo Phật với niềm mong mỏi gì?
Nếu chỉ đơn thuần là thoát khổ, giải thoát hoàn toàn thì không cần phải lao nhọc như thế nhưng việc "tháo gỡ" những tri kiến mê lầm về đạo Phật, về pháp hành luôn là sự cần thiết nếu bạn muốn tiến bộ trên con đường đạo.
...
Việc thành tựu giác ngộ giải thoát ở người học Phật ngày nay sẽ khó khăn hơn người học Phật thuở xưa. Lý do dẫn đến việc khó khăn tiến tu ở người học Phật ngày nay là người học Phật ngày nay phải đột phá được bức màn vô minh do Sở Tri Chướng lập ra.
...
Mời các bạn xem bài viết Cách Thức Phá Vỡ Bức Màn Vô Minh Cho Người Học Phật Ngày Nay. Đây là một bài viết trong loạt bài viết Pháp Hành Quyết Định Thành Phật Cho Người Học Phật Ngày Nay.

Pháp Hành Quyết Định Thành Phật Cho Người Học Phật Ngày Nay (P.1)

Pháp Hành Quyết Định Thành Phật Cho Người Học Phật Ngày Nay (P.1)
Lệ thường những người tìm đến đạo Phật xưa nay sớm muộn gì rồi cũng sẽ tìm đến một pháp hành, trụ vào pháp hành đấy người học Phật những mong đạt đến sự chứng ngộ.
Với tâm mong cầu chứng ngộ có thể người học Phật đó sẽ bị nhiều người học Phật nửa vời chê cười. Song Ngạo Thuyết lại cho rằng người học Phật quyết chí hành trì pháp Phật ngõ hầu đạt đến sự chứng ngộ thực sự là người học Phật chân chính.
...
Và cũng đã trở thành thông lệ truyền thống người đến với đạo Phật ngày nay sẽ được sư thầy, Tăng Bảo và các vị thiện tri thức chỉ bày những pháp hành như giữ giới, tụng kinh, trì chú, niệm Phật, ngồi thiền, làm lành, lánh dữ,... Người người học Phật xưa nay theo lối truyền thống sẽ khởi đầu pháp hành thông qua việc học Phật là như thế.
Lâu dần về sau, tâm phân biệt tông chi, hệ phái ở người học Phật rõ ràng hơn pháp hành của người học Phật từng bước có những ngã rẽ nhất định.
Sở dĩ có những ngã rẽ ở pháp hành nơi người học Phật là do người học Phật khởi tâm chứng ngộ và việc tìm hiểu giáo lý cũng như việc nương tựa sư thầy Tăng Bảo mà có những sự ảnh hưởng về mặt pháp hành. Một số người học Phật khác rẽ sang pháp hành chuyên biệt có thể do tin nhận thiện tri thức chỉ bày, số khác có thể chạy theo trào lưu.
Và nếu bạn hay một ai đó đặt mình vào vị trí khách quan quan sát sẽ nhận ra người học Phật xưa nay cứ loay hoay, lẩn quẩn ở các pháp hành Thiền - Tịnh - Mật, Thiền Vipassana, Tứ Niệm Xứ,...
Người học Phật sau khi đến với Phật giáo Bắc Tông mà không đạt được sự tỏ ngộ sẽ quay sang pháp hành của Phật giáo Nam Tông. Và ngược lại người học Phật hệ phái Nam Tông sau một khoảng thời gian dài hành pháp Tứ Niệm Xứ, Thiền Minh Sát (Vipassana) không đạt kết quả như mong đợi sẽ tìm đến các pháp hành thuộc về Phật giáo Bắc Tông.
Không chỉ quẩn quanh ở các pháp hành thuộc về đạo Phật, có rất nhiều người học Phật sau quãng thời gian dài "theo đuổi" đạo Phật mà không toại ý đã ngã sa quy thuận ngoại đạo ngõ hầu tìm một chốn bình yên tâm linh.
Khởi từ việc nắm bắt tâm ý của những người học Phật mong cầu việc chứng đắc có lắm kẻ học Phật cả Tăng lẫn tục, thậm chí là ngoại đạo đã cải biên chút ít lẫn nhiều nhiều giáo lý đạo Phật, vài ngôn từ Phật học và dùng yếu tố huyền hoặc để mê hoặc tín đồ phục vụ cho những tự tư, tự lợi cá nhân.
Việc làm đó nếu không vì lợi thì cũng là vì danh. Một số người học Phật vốn là Tăng Bảo ít tiếng tăm lẫn danh tiếng vì một chữ Ngã mà rơi vào bại địa.
Một số vị Tăng bảo lấy danh nghĩa hoằng dương Phật pháp nhưng lại tạo dấu ấn riêng cho chính mình, lại chẳng biết mọi vết chạm khắc, xăm trổ đều tóe máu, là việc làm thân Phật chảy máu..
Đơn cử như Tịnh Độ Tông, người học Phật Việt Nam xưa nay chừng như quen thuộc với câu niệm Phật hiệu - A Di Đà Phật, hoặc Nam Mô A Di Đà Phật thì có vị Tăng Bảo cao niên dính mắc chút ngôn từ cải biến thành A Mi Đà Phật, Nam Mô A Mi Đà Phật. Thế là Tịnh Độ Tông phân nhánh, rẽ cành. Mắt thấy việc chia Tông, rẽ giáo dễ mang lại danh nghĩa giáo chủ thế là có thêm kẻ tục nhân tai điếc cải đổi câu niệm Phật hiệu thành Diệu A Di Đà Phật.
Thiền Tông những năm gần đây việc chia rẽ tông giáo cũng không hề kém cạnh, do pháp tọa thiền được người học Phật coi trọng nên các vị Thiền nhân Tăng lẫn tục ra mắt đại chúng học Phật với những dạng thiền hơi thở, thiền tỉnh thức, thiền rải tâm từ, thiền năng lượng, thiền ánh sáng, thiền quán âm, thiền luân xa, thiền cột tâm, thiền xả tâm, khán thoại đầu, tham thoại đầu, chiếu cố thoại đầu,...
Mật Tông nào đâu chịu kém với Chân ngôn - Mật chú, Thủ Ấn, Mạn đà là, các vật dụng pháp khí... Mỗi vị Tông chủ sẽ kiến tạo một vị thế cho mình dựa vào niềm tin tín đồ và những câu chuyện kể đầy mê hoặc được kể cho đồ chúng về các bậc thầy Mật giáo đã truyền thừa, những công năng bí thuật đặc dị mà vị Tông chủ đó đang thọ trì,...
...
Nhiều nên loạn, ngoại đạo thấy miếng mồi béo bở đến từ đạo Phật cũng nương gá, mượn danh tiếng, giáo lý đạo Phật cộng với chút ít sáng tạo về những điều huyền hoặc...
Tín đồ học Phật sơ cơ không rõ chân ngụy, ngộ nhận Phật tâm tông ngỡ Ngũ Thông ngoại đạo, bùa chú, ngải thuật,... là chỗ linh ứng, cao thâm của đạo Phật nên ra sức xưng tán, truyền tai nhau... Nay có vị này là Phật sống, Bồ tát sống,... Mai có vị kia đắc đạo có thần thông,... Nay pháp môn này tu nhanh chứng, nhanh đắc; Ngày kia pháp môn nọ mới chánh tông là pháp hành do đích thân Phật Thích Ca truyền thừa,...
Nhưng sau cùng, tất cả chỉ là những tin đồn và không thể kiểm chứng. Những người được tiếng là Phật sống, Bồ tát sống, người chứng ngộ đa số mộ đã xanh cỏ. Nhìn lại hành trạng, pháp thoại của những người được tán thán là chứng ngộ, là đạt đạo còn đầy dẫy những si mê, u tối về mặt chánh pháp.
Điều này không phải chỉ riêng mỗi mình Ngạo Thuyết nhận biết. Cách đây chừng non tháng có một người bạn vong niên điện thoại cho Ngạo Thuyết hỏi đáp qua về về những vấn đề Phật học. Người bạn vong niên này vốn là một nhà trí thức và đang thọ trì pháp hành mặc chiếu của Tông Tào Động (Một tông phái lớn trong 5 Tông phái danh tiếng của Thiền Tông Đông Độ). Người bạn vong niên đấy đặt vấn đề:
- Những năm gần đây tôi chợt có những hoài nghi về đạo Phật. Liệu có việc giác ngộ giải thoát hoàn toàn không?
Ngạo Thuyết liền hỏi:
- Chú hoài nghi về sự tồn tại của Giác Giả Thích Ca hay về con đường mang lại sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn?
Người bạn vong niên đáp:
- Tôi cũng không rõ nhưng tôi hoài nghi về những pháp hành đang được hướng dẫn cho người học Phật. Tại sao với những pháp hành được cho là do Phật, do Tổ chỉ bày mà hầu như ngày nay rất ít thấy có người chứng ngộ. Hơn hai ngàn năm đâu thấy có được mấy người tỏ ngộ còn việc giác ngộ thành Phật thì lại càng viễn vông, xa vời. Nếu có pháp hành đúng ắt hẳn đã phải có rất nhiều người chứng ngộ Giác Giả,... Vậy nên tôi nghi ngờ các pháp hành ở đạo Phật là không thật đúng, có gì đó khiếm khuyết chăng?
...
Bên cạnh đấy, trong suốt quãng thời gian gần 10 năm Ngạo Thuyết trình bày lại sự hiểu biết về đạo Phật của bản thân gửi đến mọi người, Ngạo Thuyết vẫn thường được khá nhiều người bạn ở nhiều tông phái Thiền - Tịnh - Mật, Nam Tông, Pháp Luân Công, Thiền Luân Xa, ngoại đạo hỏi Ngạo Thuyết về pháp hành, hỏi Ngạo Thuyết đã thọ trì pháp hành nào mà thành tựu được sự hiểu biết có vẻ thông tỏ nhưng lại chẳng giống ai như thế.
Vấn đề pháp hành luôn là điều trăn trở, khát khao của rất nhiều người học Phật. Sự khát khao tìm kiếm một pháp hành kiến tánh thành Phật là điều đáng trân trọng, là điều chính đáng, đáng gìn giữ ở người học Phật.
...