Thứ Năm, 14 tháng 3, 2019

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.1)

Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.1)
Ở bài viết có linkhttps://www.facebook.com/groups/1584059648562689/permalink/2032785350356781/, thành viên Kim Khanh Rosenfeld có đặt câu hỏi:
- Tại sao một Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh cuối đời lại thế? Đúng ra Thiền thì bộ não phải lành mạnh chứ?
Cảm ơn Kim Khanh Rosenfeld đã có câu hỏi phá nghi rất hay!
Để trọn vẹn nội dung bài viết Ngạo Thuyết sẽ kể Kim Khanh cùng các bạn một câu chuyện khá dài về nhân duyên của Ngạo Thuyết đối với các vị Tăng Bảo danh tiếng đương thời.
Như đã từng nói nhiều lần, cách đây gần 10 năm Ngạo Thuyết mới biết đến kinh sách nhà Phật. Thuở ấy Ngạo Thuyết khờ nhiều nên vào chùa làng định bụng sẽ xuất gia. Chùa làng – sư quê, sư xuất gia nửa đường do yêu cầu cấp bách phải giữ chùa nhà nên tri kiến Phật học của sư thầy hạn chế rất nhiều. Cũng may Ngạo Thuyết có quen một vị cư sĩ tại gia có khá nhiều kinh sách, đặc biệt là kinh sách Bắc Tông; Kinh điển Nam Tông vị cư sĩ này sau khi tham cứu qua có phần xem nhẹ, thế là Ngạo Thuyết mượn được 1, 2 quyển kinh thuộc bộ Trường A Hàm – Nam Tông, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Địa Tạng – Bắc Tông,…
Ngạo Thuyết xem kinh mà không có người chỉ dạy cũng có cái hay, cái dở của nó. Khi đó, Ngạo Thuyết rất sợ phạm thượng nên xem kinh cẩn thận không dám bỏ chữ, kinh sách nhà Phật luôn để trên cao, kính cẩn uy nghi. Tuy nhiên, mỗi khi xem kinh sách Nam Tông Ngạo Thuyết rất ngán sự lập lại 3 lần cho mỗi câu hỏi, câu đáp (Có thể xem đây là thủ pháp Tam Đoạn Trùng Tuyên của kinh điển Nam Tông). Ở chùa giai đoạn dòm ngó “chân cẳng”, Ngạo Thuyết ít nhiều có sự hạn chế về thời gian nên Ngạo Thuyết dần phát chán lối Tam Đoạn Trùng Tuyên và chuyển qua lối xem thoáng. Kinh điển Nam – Bắc Tông gì ít nhiều đều có những yếu tố siêu hình, Phật Thích Ca được khắc họa ra với rất nhiều quyền phép, thông thiên, triệt địa, biết cả 3 thời. Thật vi diệu!
Sau đấy, Ngạo Thuyết rời chùa với chút hoài nghi về quyền phép của những vị Phật, song Ngạo Thuyết cũng không để tâm đến điều đó là mấy. Rồi một dịp tình cờ Ngạo Thuyết được nghe một chương trong quyển Đường Xưa Mây Trắng Bay do thầy Thích Nhất Hạnh phóng tác, lối viết gần gũi, rất thơ về cuộc đời Đức Phật. Ngạo Thuyết đã nghe tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng rất nhiều lần và chia sẻ cho nhiều người cùng nghe.
Qua ngòi bút của Thiền sư Nhất Hạnh, Đức Phật trở nên rất hiền hòa, rất gần gũi, những siêu hình, huyễn hóa về một vị Phật Quyền Năng vô hình chung đã chết trong lòng Ngạo Thuyết.
Lúc bấy giờ, Ngạo Thuyết rất thần tượng thầy Thích Nhất Hạnh và có dịp tìm hiểu phân định rõ ràng hơn về Nam Tông – Bắc Tông, Thiền – Tịnh – Mật,… biết rằng mình thích sự tĩnh lặng của thiền định nên Ngạo Thuyết lưu tâm đến Thiền Tông nhiều hơn.
Cũng như phần đa người học Phật chân chính, Ngạo Thuyết hướng đến kinh sách, hành trạng của những Thiền sư danh tiếng đương thế, khi ấy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ là hai danh sư mà Ngạo Thuyết mong mỏi được gặp và tham vấn về những gút mắc việc hành thiền, về những gút mắc tâm linh.
Ngạo Thuyết được biết sau biến cố Làng Mai – Lâm Đồng, Thiền sư Nhất Hạnh bị cấm đoán việc về nước; Thiền sư Thanh Từ thì Ngạo Thuyết còn lưỡng lự nên chưa ghé viếng thăm.
Qua tham khảo một ít kinh sách, giáo lý, lời tự sự của hai vị danh sư đương thế Ngạo Thuyết đã từng có lúc tin rằng hai vị Tăng Bảo danh tiếng này đã chứng ngộ, đã đắc pháp. Tuy nhiên, trải qua mấy phen sương buốt lạnh cùng thiền định tri kiến Phật học của Ngạo Thuyết đã thoát thai và chợt nhận ra các bản dịch giải kinh sách của hai vị danh sư không có sự thanh thoát, có một sự ứ trệ, bế tắc ở sở hành, sở đắc của hai vị danh sư. Thầy Nhất Hạnh bị trói chân ở tỉnh thức, ở thực tại hiện tiền; Thầy Thanh Từ bị chững lại ở cái hằng thấy, hằng biết chẳng có ngày ra.
Xem sách của hai vị đương thế danh sư còn có ít nhiều sự thoát đạt, song khi tham cứu các bản dịch kinh của hai ngài sẽ dễ dàng thấy ý từ chẳng thoát tục, rất cứng nhắc, tù túng. Có dịp Ngạo Thuyết xem bản dịch Kinh Dấu Chân Voi (Đạo Bụt Nguyên Thủy) do thầy Nhất Hạnh dịch giải Ngạo Thuyết có một sự đượm buồn – nuối tiếc, lại xem bản dịch Kinh Kim Cang, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh của thầy Thanh Từ để Ngạo Thuyết biết rằng có lẽ mình phải tự đốt đuốc mà đi thôi, bởi lẽ hai danh sư đương thế, đặc biệt là Thần tượng thầy Nhất Hạnh đã để lại trong ta một sự ngậm ngùi.

Lúc bấy giờ Ngạo Thuyết tập tành viết sách và đã cho ra đời quyển sách đầu tay – Hãy Là Đường Xưa Mây Trắng Bay… Đã có những chướng ngại về việc phát hành sách, Ngạo Thuyết phải mấy phen ra bắc, vào nam.
Nghe lời khuyên của một người bạn Ngạo Thuyết tập tành viết blog để truyền tải chút hiểu biết Phật học của mình, do nhân duyên đó Ngạo Thuyết mới lọ mọ vào các trang mạng tham khảo những thông tin cần thiết. Một dịp tình cờ được biết thầy Nhất Hạnh lập ra những Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan Cầu Siêu Chiến Sĩ Trận Vong và thầy xúng xính trong những bộ lễ phục sặc sỡ, xa hoa, Ngạo Thuyết biết rằng thần tượng một thời trong ta giờ đã chết. Cầu siêu, giải hạn, cúng sao… những việc làm đó Như Lai chưa bao giờ tán thán, xiểng dương; Áo lộng xênh xang, chuông khánh ru hồn,… đó là những việc làm của người chưa ngộ.

Có một dịp, một người em nhờ Ngạo Thuyết cùng đi Thiền Viện Trúc Lâm Phụng Hoàng ở Đà Lạt, thâm ý của người em là muốn xuất gia theo hệ phái Thiền Trúc Lâm. Khi đó, Ngạo Thuyết cũng thầm mong có dịp lễ bái sư ông Thanh Từ, tùy duyên hỏi đáp Phật pháp. Song lên đến nơi chỉ gặp các thầy Tri Khách, Trị Sự, Tăng Tu,… người em hỏi việc xuất gia tại chùa nhưng xem ra rất khó khăn. Muốn xuất gia ở lại Thiền viện phải có người quen biết giới thiệu, khi ấy, học nhân mới được công quả tập tu. Duyên gặp sư ông nghe chừng rất khó, trong khi chờ đợi Ngạo Thuyết đi lại viếng cảnh chùa, ghé sang nhà bảo tàng của Thiền viện, tình cờ bắt gặp tượng bán thân của sư ông Thanh Từ chợt nghe trang Kinh Kim Cang vỡ vụn – Phàm Sở Hữu Tướng Giai Thị Hư Vọng.
Tăng Bảo đã chứng ngộ hiển nhiên phải chi trì hộ pháp. Lời nói phải đi đôi với việc làm, đó là điều mà giới Tăng Bảo phải bảo nhậm.
Người tại gia có thể tùy tiện một chút; Người xuất gia với vị trí đặt để là thầy của Trời – Người nên không thể buông lung bởi lẽ ở trên trông xuống, người bên trông vào.

Người em trai ấy không có duyên với Thiền Phái Trúc Lâm, đã có lúc “để mắt” đến Pháp Truyền Tâm Ấn của bà Thanh Hải Vô Thượng Sư, nhưng sau đã theo về pháp hành của vị thầy Thích Thông Lạc, và từ đó cũng chìm đắm trong những cực đoan, kiến thủ.
Ngạo Thuyết lại được nghe rằng sư Thông Lạc cũng lưu lại khối tượng bán thân. Cái chết của vị sư này cũng có nhiều điều khuất tất, thật giả khó phân. Chỉ nghe nói lại rằng sư tịch rất nhẹ nhàng, sư Thông Lạc mất non nửa ngày thì chư Tăng Ni nơi Tu Viện Chơn Như mới được biết phong phanh. Và có thông tin nội bộ rằng sư Thông Lạc gần như bị quản thúc - nội bất xuất, ngoại bất nhập trong một khoảng thời gian ngắn mấy mươi ngày trước khi mất, dự là sư Thông Lạc đã không chế định ra việc này.
Sau khi sư Thông Lạc mất, tờ giấy tạm xem như bản di ngôn chế định người ngộ, kẻ thông trong số môn đồ, đệ tử của thầy Thông Lạc đã được tuyên đọc cùng với sự cắt đặt ngôi vị trụ trì Chùa Am, việc làm đã tạo ra ít nhiều sóng gió trong tông môn. Và rồi… người đi, kẻ ở. Chốn Tòng lâm xưa nay không từng vắng những ưu phiền.

Thầy Thông Lạc mất rồi, Thiền sư Nhất Hạnh, Thiền sư Thanh Từ lần lượt gặp sự cố về sức khỏe; Người bị đột quỵ, người bị xuất huyết não, bệnh trạng diễn ra không chỉ một lần.
Quả thật là trong lòng Ngạo Thuyết luôn tôn quý, kính trọng những vị Tăng Bảo xưa nay bởi lẽ họ là một trong ba viên ngọc quý giá Tam Bảo. Ngạo Thuyết kính trọng Tăng Bảo không vì danh tiếng hay việc họ chứng ngộ mà vì Tăng Bảo là những người đã hy sinh cuộc đời thế tục, dũng mãnh “cắt ái, ly gia”, dấn thân học đạo, hoằng pháp, Tăng Bảo là những người có công rất lớn trong việc giữ gìn Chánh Pháp Nhãn Tạng Như Lai – Pho Tam Tạng Kinh. Và Ngạo Thuyết đã từng nhờ đến những trang kinh góp nhặt mà khêu sáng được những tăm tối, vô minh của riêng mình.
Tuy nhiên, Ngạo Thuyết rất minh bạch trong việc tôn kính chư Tăng, lẽ đúng sai nơi giới Tăng Bảo, Ngạo Thuyết luôn rạch ròi minh định. Đây là việc không cô phụ người, không cô phụ chính ta; là báo đáp Phật ân của Người muôn năm cũ.
Do đó, khi nghe tin các vị Thiền sư tôn kính gặp vấn đề về não bộ dẫn đến những năm tháng cuối đời mất dần sự tự chủ nơi bản thân, lòng Ngạo Thuyết đã chùn xuống. Những nỗi xót xa, những niềm thương cảm miên man… Giá như… Đáng tiếc! Lẽ ra…
Việc đột quỵ, xuất huyết não của các vị Thiền sư đã mang lại một tổn thất không dễ bù đắp đối với pháp môn Thiền Tông. Danh sư Thiền Tông cuối đời lại không thể tự chủ đến đi, Cận Tử Nghiệp nặng nề khắc khoải… Biết sư thầy 100 tuổi sẽ về đâu?
Những bài giảng, những công sức nỗ lực hoằng pháp của các danh sư bị mai một ít nhiều bởi hiện tướng bệnh ở cuối đời mỗi người. Và với pháp môn Thiền Tông thì yêu cầu đến đi tự tại còn khắt khe hơn nữa.
Việc hiện tướng bệnh ở Thiền sư đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến sự tôn nghiêm, tông phong của bản môn.
Do hiện tướng bệnh nơi tâm nên việc chứng ngộ hay chưa chứng ngộ ở Thiền sư lẽ ra sẽ phải được xét lại, đây là việc đáng làm và nên làm để chứng nghiệm lại hành trạng, pháp ngữ của Danh sư có khế hợp lời Phật, Ý Tổ hay không? Nếu pháp ngữ Thiền sư để lại khế hợp lời Phật, Ý Tổ thì xác lập Tổ vị cho Danh sư, và pháp ngữ của Người sẽ được gìn giữ, nghiêm cẩn lưu lại cho muôn đời sau. Bởi lẽ pháp ngữ của Thiền sư chứng ngộ chẳng khác với lời Phật thuyết. Nếu thật sự là Tông phong Thiền Tông thì rất nên làm như thế. Và đây chính là sự khác biệt cứu cánh giữa Thiền Tông so với Mật Tông, Tịnh Độ Tông. Người học Phật chân chính hướng đến vô tâm phải chạm đến khéo hay phân biệt chẳng sinh lòng yêu ghét.

Lẽ ra … các vị danh sư (nói chung), danh sư Thiền Tông (nói riêng) ngày nay khi tuổi hạc đã cao phải ý thức được việc giao lại việc dẫn dắt Tăng sinh, quản trị Tự viện cho môn đồ có tâm, có tầm, đủ sức phục chúng gánh vác. Việc tiếp đến danh sư cần làm là bế quan, ẩn tu ngõ hầu làm chủ việc xả bỏ báo thân. Giả như … công phu tu tập vẫn chưa thành khối nhưng cũng không đến nỗi hiện tướng bệnh gây hoang mang đồ chúng và người học Phật rất đổi kính tin mình. Và việc bế quan, tạ khách cùng với việc không hiện tướng bệnh ngặt nghèo sẽ không làm ảnh hưởng tôn nghiêm, đạo pháp của Tông môn.

Việc bế Quan – Tạ Khách, trước đây danh gia Phật môn lẫn Đạo gia rất ưa dùng để bảo toàn sự oai nghiêm của Tông phong bản môn, đặc biệt thường gặp ở lối Tu Tiên. Chỉ có những Thiền sư thực thụ hành trì đắc pháp Nhị Thừa mới hiên ngang hoằng pháp, cho đến lúc hết duyên thì an nhiên thị tịch.

Thời Phật Thích Ca tại thế, việc Bế Quan – Tạ Khách, ẩn nhẫn hành trì xả bỏ báo thân không được khuyên dùng. Và chính Phật Thích Ca cũng không dùng việc xả bỏ báo thân theo pháp nhị thừa mà an nhiên sống đến cuối đời thị hiện tất cả nỗi khổ của sinh già bệnh chết. Phật an nhiên sống với đại định cùng với trí tuệ sáng tỏ muôn duyên.
Tại sao thời Phật Thích Ca tại thế không dùng đến pháp Bế Quan – Tạ Khách mà ngày nay danh sư Tăng Bảo nên dùng?
Bởi lẽ tri kiến Phật học mỗi thời, mỗi khác. Khi Phật Thích Ca tại thế tâm phân biệt Tông phong hệ phái, đạo giáo chưa nhiều, chưa sâu sắc; Giáo lý Phật pháp sơ khai lại mộc mạc, giản đơn, gần gũi, không chú trọng, xét nét đến yếu tố siêu hình; Trình độ mặt bằng chung của người học đạo thời ấy không cao, do đó tính phân biệt thủ xả cũng không quá khắt khe, quyết liệt; Việc tự chủ sinh tử vì thế cũng không bị đặt để ở thước đo chứng ngộ của hành nhân. Và trên tất cả Phật Thích Ca đã là Giác Giả đắc pháp vô sanh với đại định bất khả tư nghì thì đâu cần đến pháp xả báo thân của hàng nhị thừa.
Ngược lại, tri kiến Phật học ngày nay đã chế định, người chứng ngộ phải tự chủ việc đến đi – sinh tử, người đắc pháp rồi tội diệt, nghiệp tiêu, phước huệ viên mãn. Tất nhiên là những chế định ở người học Phật sẽ không thật đúng vì đã là chế định thì lập tức rơi vào biên kiến Đoạn – Thường, việc đánh mất lý trung đạo liền cách biệt với sự đúng mực của chánh pháp.
Tuy nhiên, do hành nhân – Thiền sư chưa chứng ngộ nên khó biện biệt lẽ ngụy chân cho môn đồ, người học Phật tín tâm được rõ. Do vậy, với những danh sư Tăng Bảo uy chấn Tông môn, việc sinh tử tồn vong của cá nhân sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đạo nghiệp hoằng pháp độ sinh của hệ phái Tông môn. Trước việc “sống còn” của đạo pháp truyền thừa ở hệ phái bổn môn, danh sư Tăng Bảo chân chánh hộ pháp phải ý thức được việc nên làm, cần làm.
- Một là khi tuổi hạc đã cao danh sư phải “Bế Quan – Tạ Khách”, ẩn nhẫn hành hạnh tri túc, thiểu dục, hành trì viên mãn việc xả bỏ báo thân, sống trọn vẹn cho chánh pháp.
- Hai là trong quá trình truyền đạo, hoằng pháp phải sắp xếp được thời gian hành trì hợp lý ngõ hầu thành tựu cho được Pháp Diệt Tận Định của hàng nhị thừa. Và sẽ tuyệt vời hơn nếu Thiền sư hành trì chứng ngộ pháp vô sanh, nghiễm nhiên thành Giác Giả hộ pháp chốn tòng lâm, việc sinh tử tùy duyên tụ tán.
(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2019

VỀ TÁNH KHÔNG CỦA ĐẠO PHẬT.......

Ý KIẾN 12 : VỀ TÁNH KHÔNG CỦA ĐẠO PHẬT...........
" Cái " mà Đạo Phật nói CÓ THỰC thì con người " kéo xuống nói không " Cái mà Đạo Phật nói KHÔNG thì con người "đưa lên nói có "....có cái gì cao siêu đó gọi là KHÔNG.
Ở đây lại một lần nữa, theo thiển kiến khi nghĩ về TÁNH KHÔNG CỦA ĐẠO PHẬT tôi muốn minh định lại với các Bạn, chúng ta nên NHỚ RẰNG " hiện tượng giới NÓ LUÔN LUÔN LÀ CHÍNH NÓ...... KHI TƯƠNG TÁC VỚI CON NGƯỜI - nó luôn luôn là chính nó như nó đang trình hiện trước mặt con người " điều này có nghĩa là nó vẫn là một THỰC TẠI HIỆN HỮU chứ không phải " cái không ", cái rỗng không " nó không có gì, nó không là một thực hữu trong vạn hữu, để nói rõ hơn Bạn hãy tưởng tượng NẾU không có Bạn, không có tôi trong cái vũ trụ bao la này thì vạn hữu vẫn là VẠN HỮU CÓ THỰC chứ không phải không có và hiện đang hành hoạt không CẦN sự hiện diện của chúng ta đâu... Nhưng nó rất lạ lùng, kỳ kỳ với chúng ta khi chúng ta tiếp thu TƯ TƯỞNG Phật giáo, tư tưởng " giải thoát rốt ráo đau khổ " để nhìn vạn hữu, nghĩa là chúng ta ĐANG SỬ DỤNG MỘT KIỂU NHÌN KHÁC - QUAN NIỆM KHÁC - với kiểu nhìn quen thuộc, kiểu suy nghĩ quen thuộc của chúng ta bình nhật.
KHÔNG, không tánh của vạn hữu hay vạn hữu có Tánh không. ( Với các Vị giác ngộ nói KHÔNG là Họ nói đến " cái CẢM THỌ của Họ chứ không nói đến cái suy nghĩ, đặt tên như chúng ta - cái tính, còn với chúng ta là ĐANG NÓI ĐẾN LÝ của Đạo Phật, đang giải trình sự việc, nên chúng ta thường lẫn lộn từ không này - xin các Bạn lưu ý để chúng ta HIỂU rồi mới TIN được, và như thế chúng ta mới cúi đầu bái phục TRỌN TIN, chứ không thể làm con trâu xỏ vàm được dẩn dắt, chứ không thể đi trên vết mòn của bất cứ người nào - Đạo Phật không bao giờ yêu cầu như thế với chúng sanh đâu ).
Khi con người tương quan với vạn vật, với hiện tượng giới, con người " đã nhận thức " và nhận thức này nhất định đã tuân theo ngay hay là trên lệnh của các DẤU ẤN PHÂN BIỆT tốt hay xấu, hơn hay thiệt, thương hay ghét, thiện hay ác........mà Bạn hay tôi, chúng ta đã được tôi luyện truyền thừa từ lúc chúng ta ngơ ngác nhìn về hướng có " tiếng động gọi TÊN MÌNH " bởi Cha mẹ, bởi xã hội, bởi hệ thống chính trị, bởi các Ban bệ đạo đức, tôn giáo mà chính con người hình thành và "" CÁI TA hay CÁI TÔI HÌNH THÀNH "". Tôi khôn lớn, tôi thông minh, tôi giởi dang.......và tôi nhìn Vạn hữu THEO CÁCH ĐÓ........ Cách của Nhị nguyên đối đải. Nhưng các CẢM THỌ của một người, nhất định không phải là vấn đề TỪ PHÍA ĐỐI TƯỢNG tương tác mang đến - vấn đề của chính chúng ta. Cảnh vẫn là cảnh, hiện tượng giới vẫn là hiện tượng giới mà Cụ Nguyễn Du lại bảo : " người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ". Trái ấu nào mà tròn ?Trái bòn bon nào mà méo ??. Trái ấu không bao giờ tròn, trái bòn bon không bao giờ méo, tại sao lại nói : " thương nhau trái ấu cũng tròn, ghét nhau trái bòn bon cũng méo " ?. Đạo Phật hay Đức Phật vi tế nhận ra CÁI NHÌN CỦA NHÂN TRÍ hay cái trí VÔ MINH, quan niệm của con người khi tương quan với vạn hữu là sai lầm, U MÊ, VÔ MINH.
Con người chúng ta TỰ CÓ VẤN ĐỀ - vấn đề là do con người chúng ta làm sai lệch sự thật đó là oan nghiệt, rắc rối - NGHIỆP , vấn đề đó chính là nghiệp - nghiệp CHIÊU CẢM theo cách đó, dù chúng ta cho là vui hay buồn, là hạnh phúc hay bất hạnh, sung sướng hay nghiệt ngã, là toại hay bất toại.......Đạo giải thoát rốt ráo khổ - Đạo Phật bảo rằng NGHIỆP ĐÃ HIỆN HỮU trong Bạn, trong chúng ta rồi đó !!.

Nói Về Thiền Bệnh Và Hơn Thế Nữa…

Nói Về Thiền Bệnh Và Hơn Thế Nữa…
Ngày nay, có quá nhiều lối hành thiền khác nhau và mỗi mỗi đều tự cho rằng là độc bộ, là chân truyền danh môn. Nhưng sau rốt của việc hành thiền hành nhân lại hiện tướng thành những thằng ngố hoang tưởng, nói chuyện theo lối đi mây, về gió.
Vì sao lại như vậy?
Lại có nhiều ý kiến cho rằng muốn hành thiền nhất thiết phải có minh sư kề cận, khi hành thiền phải thắp hương khấn nguyện trước bàn thờ Tam bảo, nhờ Phật lực gia trì để tránh việc hành nhân bị phi nhân nhiễu loạn.
Sự thật thì sao?

Quả thật là thời gian gần đây số lượng người tìm về đạo ngày càng nhiều. Tuy nhiên, mặc dù người học đạo gia tăng về lượng nhưng lại khuyết tổn về chất nghiêm trọng.
Mặc dù mặt bằng chung về kiến thức về khoa học – xã hội ở những người tìm về đạo đã có sự vượt trội hẳn so với thế hệ những người tìm đạo thuở trước. Song có một sự thật nghiệt ngã là do lối sống thực dụng ngày nay đã xâm chiếm mọi ngõ ngách xã hội nên việc tu thân, hàm dưỡng nội tâm ở loài người bị bỏ ngỏ. Thế giới nội tâm ở mỗi người tất yếu sẽ thiếu hẳn sự sâu sắc, vững vàng, do đó nội lực tâm hồn của người học đạo trở nên cạn cợt, nông nổi.
Bởi do thiếu chiều sâu nội lực, đạo đức, giới hạnh – việc hàm dưỡng tu thân đã kéo theo nền tảng tri thức đạo học ở người học đạo cũng tổn khuyết. Chính vì thế rất nhiều người học Phật ngày nay cơ hồ không phân biệt được việc học đạo, học Phật khác nhau như thế nào.
Bởi do không biện biệt được rạch ròi chân ngụy nên người học Phật dua vạy theo xu hướng 3 bó vô 1 giạ, cụ thể là đạo nào cũng tốt đời, đẹp đạo. Nào hay câu nói ấy vốn của ngoại đạo, câu nói đó một phần nhằm mục đích “dĩ hòa vi quý”, một phần quan trọng hơn là nhằm “nâng bi” cho đạo giáo mình ngang tầm với đạo Phật.
Tiếp tay cho việc len lõi hạ thấp giá trị chánh pháp trong sáng có ở đạo Phật lại là những người học Phật nửa mùa, những vị học Phật này thông qua giáo lý Phật môn biết đến pháp môn không hai bất khả tư nghị đã cả nghĩ các pháp thảy đều bình đẳng, đấy là tâm vô phân biệt của Phật môn. Nào hay tâm vô phân biệt của đạo Phật đúng đắn lại là khéo hay phân biệt chẳng sinh lòng yêu ghét, tích chứa.
Do cạn nghĩ hiểu như thế là đúng, là trung đạo người học Phật nửa mùa đó cho rằng đã “nắm bắt” thông suốt Phật đạo tức đã chứng, đã ngộ. Tòn ten nơi pháp môn không hai nơi lưới nhị nguyên người học Phật này nghĩ đến việc cất một tiếng nói để xác lập sở đắc, sở chứng của bản thân, thế là do không truy nguyên tận tường cội gốc và lại biết được Chúa Jesu, Thánh A lah, Phật Thích Ca được nhân loại đồng thừa nhận như là thánh nhân, người học Phật đó liền lập ngôn Phật, Chúa Jesu, Thượng Đế,… chẳng khác.
Việc đánh đồng Phật, Chúa Jesu, Thượng Đế,… vô hình chung “cào bằng” giáo lý đạo Phật và Kinh Thánh của Nhất Thần Giáo. Việc làm này thể hiện sự ngu ngốc và thiển cận của những người học Phật nửa vời.
Điều cơ bản nhất khi tìm đến đạo Phật người học Phật phải minh bạch được rằng đạo Phật là đạo trí tuệ, là đạo của sự hiểu biết đúng mực về vạn pháp, về vũ trụ vạn hữu lẫn thế giới vô hình. Và người học Phật sẽ tự giác, tự chứng sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn thông qua kinh sách Phật học cũng như việc trợ duyên ở các vị thiện tri thức.
Trong khi đó giáo lý của Nhất Thần Giáo lại buộc người quy thuận, phục tùng một Đấng Quyền Năng Huyễn Hóa, Siêu Hình; Đấng Quyền Năng được đồn thổi với những khả năng không thật có như việc kiến tạo vũ trụ, con người cùng sum la vạn tượng. Những năng lực siêu thực của các Đấng Quyền Năng dưới ánh sáng của khoa học ngày nay bộc lộ ra những giả dối, lọc lừa và mê muội. Song các vị giáo chủ của hệ thống Nhất Thần Giáo phần đa vẫn cố nhồi sọ tín đồ bằng đức tin, bằng sự trói buộc đóng kín sự hiểu biết khách quan, đúng mực. Những tôn giáo cố giấu dốt bằng việc lừa mị có thể gọi là hệ thống tôn giáo lấy sự ngu ngốc, si dại làm nền tảng. Tôn giáo lấy sự u mê, kém trí làm nền tảng thì không thể đánh đồng với tôn giáo lấy trí tuệ làm đuốc sáng soi đường.
Vậy nên phải chăng chính những người học Phật nửa mùa do muốn thể hiện mà chặn đứng sự giác ngộ giải thoát nơi bản thân, kéo theo việc làm hỗn mang khối tri kiến Phật học khiến những người học Phật tìm đạo thêm rối trí, mê mờ.
Tiếp tay cho những lập ngôn vụng về của những người học Phật nửa mùa nông nổi là đại đa số học giả, nhà nghiên cứu Phật cùng với rất nhiều, rất nhiều những người học Phật trên sách vở bon chen lạm bàn chuyện đạo.
Những người thực biết, thực chứng thường kiệm lời. Ngược lại, những kẻ học Phật theo lối gom góp tri kiến lập tri vốn không thực biết, thực chứng lại luôn ra sức nói về những điều mình không rõ biết. Và lời của những người học Phật nông nổi, cạn cợt tuệ tri luôn thể hiện như đúng rồi. Và những tin đồn luôn lan truyền nhanh chóng như bệnh dịch.
Ngày nay, người học Phật rất dễ dàng tiếp cận những nguồn thông tin đại loại như ông nọ niệm Phật vãng sanh Tây Phương, ngày ông ánh vãng sanh có ánh sáng vi diệu, có âm thanh nhã nhạc cõi trời, hoa trời cúng dường,…bà kia niệm Phật thành tựu niệm Phật nhất tâm bất loạn hoặc công phu thành khối niệm Phật vô biệt niệm. Ở một trường phái Phật học khác thì vị Tăng bảo đó chắc chắn là Bồ tát sống, là Phật tái lai bởi do khi hỏa thiêu thu được rất nhiều xá lợi như xá lợi tóc, xá lợi xương, xá lợi móng tay, xá lợi tủy não… Tu Thiền Tứ Niệm Xứ miên mật chắc chắn sẽ thành tựu 1 trong 4 quả vị Thánh – A la hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn…
Với những người này khi tham vấn đạo lý Phật học với họ, bạn sẽ thấy họ thao thao bất tuyệt cứ như thể biết tất, biết tuốt về đạo giác ngộ giải thoát. Nếu bạn “chịu khó” lắm nghe họ sẽ đưa bạn “lên mây, lên đọt”.
Song nếu bạn chất vấn rằng ông bạn nói đúng rồi, ông bạn nói rất hay, thế ông bạn đã niệm Phật thành tựu công phu nhất tâm bất loạn hay vô niệm biệt niệm, hoặc bà chị đã thành tựu quả vị nào trong 4 quả vị Thánh?
Tin rằng bạn sẽ thấy một sự bẽn lẽn, ngại ngùng ở những người học Phật huênh hoang nhưng còn có chút lòng tự trọng; Số người học Phật mồm mép khác, giảo hoạt hơn khi ấy biết rằng gặp phải đối tượng cứng, đối thủ giả nai giờ đến lượt “nắn gân” thì sẽ né tránh những câu chất vấn trực tiếp như vậy bằng những câu từ đại loại như có tu, có chứng, như người uống nước nóng lạnh tự biết và phản đòn bằng ông hãy hành đi, ông hãy tu đi khắc biết. Đấy là những câu chữ thể hiện sự không thành thật ở người học Phật huênh hoang, rỗng tuếch ưa dùng.
Học Phật mà không có trực tâm, chánh tâm, thâm tâm thì như là loài chồn hoang nơi Phật địa, người học Phật (nói riêng), người học đạo (nói chung) rất nên dùng trí tuệ, sự hiểu biết để nhận diện những giống loài cáo chồn nơi đạo học ngõ hầu không nhận lầm thầy bạn.

Có rất người học đạo dù rằng sự hiểu biết khoa học - xã hội ở tầm mức khá cao đến rất cao nhưng lại thiếu căn bản kiến thức đạo khi tìm đến đạo hoặc đạo Phật lại rất dễ cả tin, cuồng tín, mê đạo đến cực đoan.
Tại sao lại như vậy?
Bởi lẽ họ đã mòn mỏi ở nẻo đời, rất mong tìm được bến đỗ bình yên. Như người sắp đuối nước giữa dòng họ quơ quàng và túm rất chặt bất cứ thứ gì mà họ vớ được như đám lục bình, khúc cây mục,… Những người học Phật hạng này gần như đã đánh mất khả năng tự chủ, họ chỉ sống bằng niềm tin còn sót lại và bằng đầu lan truyền cái gọi là tin đồn – những hiểu biết sai lạc, không đúng chánh pháp mà họ không thể rõ biết. Bởi do chán ngán, thất vọng sự hiểu biết nẻo đời cùng với sự cả tin vào điều huyễn hoặc, hoang đường ở thế giới tâm linh nên họ gần như từ bỏ sự hiểu biết, trí tuệ mà họ đang có, họ trở nên mê muội, mụ mẫm cả ở hai nẻo đạo đời nhưng luôn nuôi dưỡng cái tôi cỡ lớn – Ta là nhà khoa học, ta là giới trí thức, là kĩ sư, bác sĩ, giáo viên… học Phật.
Sự mụ mẫm, mê muội của người tìm về đạo đôi khi khiến người nghe phải rợn người. Đơn cử như việc Ngạo Thuyết đã từng nghe rằng rất nhiều tín đồ của bà Thanh Hải Vô Thượng Sư cuồng tín Pháp Truyền Tâm Ấn, sùng tín bà ấy đến mức tranh nhau uống nước tắm gọi của bà ấy, câu chuyện này Ngạo Thuyết được nghe kể câu chuyện này từ một người trí thức đã từng gõ đầu bao thế hệ sinh viên, trong tủ sách đồ sộ của vị tri thức này có hầu hết giáo trình của những vị đạo sư danh tiếng Đông – Tây như Osho, J.Krishnamurti, D.T.Suzuki,… và đã từng “để mắt” đến bà Thanh Hải Vô Thượng Sư.

Do thông tin về đạo, về Phật học ngày nay dưới sự lan tỏa của công nghệ thông tin đã trở nên rất hỗn độn, loạn tạp nên người học Phật chân chính bị rối trí cũng là lẽ thường. Và chỉ cần lầm tin thì việc học Phật ngày càng xa ý đạo.

Việc hành thiền cũng thế. Có rất nhiều hệ thống tôn giáo lẫn phi tôn giáo, từ giới Tăng Bảo cho đến cư sĩ học Phật tại gia lẫn ngoại đạo xem việc chỉ dạy hành thiền như là chiếc cần câu cơm, cầu câu danh – lợi.
Giá trị thật sự của việc hành thiền bị thổi phồng vượt mức. Các phương pháp hành thiền được bày ra muôn hình, muôn vẽ với bí môn, mật truyền, độc bộ,… ngõ hầu chiêu mộ tín đồ.
Chiêu bài hành thiền Nhất Định Phải Có Thầy theo sát chỉ bày được lập ra để “bắt dính” tín đồ. Chiêu bài này không chỉ do mỗi Thiền Tông riêng dùng, Mật Tông là bậc thầy của chiêu bày Nhất Định Phải Có Thầy.
Ngay cả Tịnh Độ Tông với tâm yếu “Không cần gì cả, chỉ cần niệm Lục Tự Di Đà” cũng khéo léo trói Phật tử đến chùa với khóa tu một ngày, thọ bát quan trai, nhập thất, khóa tu hè, cúng sao giải hạn, cầu siêu, cầu an, sám hối, trí chú đại bi… và cả việc niệm Phật kèm theo lối thiền hành độc bộ như Nam Mô A Di Đà Phật, A Mi Đà Phật, Diệu A Di Đà Phật, A Di Đà Phật… Nếu Tịnh Độ Tông chỉ cần niệm Phật hiệu là đủ thì đâu cần bàn vẻ lắm món “tráng miệng” kèm theo bản sắc tông môn. Song bánh vẽ chẳng thể no lòng nên người học Phật cứ mãi trầm luân nơi mê ngộ.
Ai là người góp phần mê hoặc người học Phật chân chánh?
Vẫn là những người học Phật theo lối mồm mép, sống nhờ việc đồn thổi sư này là Phật sống, Tăng kia là Bồ tát sống,… Và do thiếu khuyết tri kiến Phật học cũng như việc học Phật theo trào lưu, theo số đông người học Phật sơ cơ dễ dàng bị mê hoặc và rồi lạc lối tri kiến Phật.
Người hành thiền ngày nay dễ bị rối trí trong các lời đồn thổi như quán âm thanh, quán ánh sáng, là năng lượng, mở luân xa, mở thiên nhãn, thiền chữa bệnh… Tất cả những phương pháp thiền vọng cầu như thế thảy đều là pháp hành của ngoại đạo.
Với đạo giác ngộ giải thoát những pháp hành như thế sẽ là điều chướng ngại, người học Phật chân chánh chớ nên dính mắc.
Lại nói về thiền bệnh. Thiền bệnh đa phần bởi do vọng cầu thủ xả.
Nếu người học Phật chánh tâm, chánh kiến, trực tâm hành thiền các bệnh thiền na ít khi gây khó.
Người học Phật phải nhận thức được rằng việc hành thiền chỉ góp phần xác lập lại định tâm, việc lắng lòng đó giúp tâm minh, trí sáng góp phần tăng trưởng huệ lực. Việc hành thiền ở đạo Phật cốt ở việc gột rửa thân tâm, hàm dưỡng nội tại nhằm thản nhiên trước cuộc thịnh suy, sinh tử, được mất. Việc hành thiền ở Phật môn là công cụ nhận diện khổ, thoát khổ. Do đó thiền của Phật đạo là vô thủ chứng, vô tâm, vô cầu.
Thế nên, pháp hành thiền của đạo Phật sẽ không phải là việc chứng ngộ giải thoát hoàn toàn như nhiều người học Phật lầm tưởng. Có thơ đề rằng:
Mấy ai thành Phật ở tu hành?
Chỉ trói cùm thêm trí óc mình.
Thấu lẽ huyền vi trong ngọc sáng
Là vầng dương hiện giữa trời xanh.
Việc hành thiền chỉ là trợ duyên cho sự ngộ nhập Phật tri kiến, liễu tri vạn pháp.
Và có một điều rất chát đắng là người muốn nếm trải đạo vị chứng ngộ giải thoát hoàn toàn sẽ phải từng trải cuộc đời thật với những khổ não, muộn phiền sâu sắc nhất và hành giả phải từng là người rất nhạy cảm với khổ đau nơi mình, ở người.
Thế nên danh gia từng nói:
Nếu chẳng một phen sương buốt lạnh
Hoa mai đâu dễ thoảng mùi hương.

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2019

VẤN ĐỀ 4 ; TU THEO PHẬT GIÁO.............ĐỊNH CHƯA PHẢI LÀ TU GIẢI THOÁT - THOÁT KHỔ

VẤN ĐỀ 4 ; TU THEO PHẬT GIÁO.............ĐỊNH CHƯA PHẢI LÀ TU GIẢI THOÁT - THOÁT KHỔ....x
Phương cách thứ hai của Phật giáo - TU ĐỊNH ( samatha ) -.hay Thiền là phương pháp giúp con người sống thật sự và trọn vẹn, sống trực tiếp với giây phút đang xảy ra với tâm thức và thân xác. Trực tiếp nên tu định giúp con người loại trừ được những cản trở nhằm vào tâm thức như xao lãng, âu lo, đờ đẫn, bồn chồn, sợ hải, giận dữ, hận thù, tránh được những xúc cảm phát sinh đột ngột......để dần dần tái lập sự an bình và tỉnh lặng - phải dùng từ an bình, tỉnh lặng chứ thật sư là tâm thức không còn bấn loạn bởi những xúc cảm. Tu định, hay Thiền không phải là sự trốn chạy, đào thoát những sinh hoạt thường nhật, một lối ngồi đặc biệt nào đó, ở Thiền viện hay ở một nơi xa xâm tách biệt hẵn với xã hội để trầm tư hay đấm mình vào một thứ lý tưởng nào đó huyền bí, vi mật.
Tu Định hay Thiền chân chính của Phật giáo hoàn toàn không có nghĩa là thoát ly như thế. Sự hiểu sai lệch như thế do bởi sự thiều hiểu biết về Tu định, Thiền và cũng làm cho Tu định, Thiền trở thành một nghi thức hay một lể tục thông thường chú trọng đến kỹ thuật Thiền - như yoga - luyện tập rồi thường đạt được một vài năng lực tâm linh.....hay thần bí - thật ra không có gì thần bí cả mà là một khả năng mà ai cũng có thể một trạng thái thân, tâm hoàn toàn TỈNH LẶNG - không còn sự " bát nháo, lăng xăng '' của cái tâm trí bình thường, không còn sự cân phân hơn thiệt, tốt cấu.....mà ai cũng có thể có được,.....nhưng khi nói đến TU THIỀN,.." hình như " chúng ta đều bắt đầu bằng sự lập đi, LẬP LẠI những qui tắc cần thiết........ như thế mà người ta gọi là " mở con mắt thứ ba "; Thiền đạt đến Cấp Đệ Nhất...Đệ Nhị...gì...gì. đó mà nhiều người nghĩ rằng người bình thường khác không thể có được...NHƯNG NGÀY xưa Vị Thái Tử dòng Họ Thích đã đạt được khi Ngài thọ giáo với Alảrãma Kãlãma và Uddaka Rãmaputta và Ngài đã trả lời khước từ ở lại thọ phong truyền thừa cả với hai Vị :' Hởi này Đạo hữu, tôi rất lấy làm hoan hỷ được gặp những người đồng tu đáng kính như Đạo hữu. Giáo lý mà tôi đã được trao truyền và chứng ngộ bằng GIỚI, ĐỊNH và ẩn náu trong sự thành đạt ấy như các Đạo hữu tuyên bố đã thành đạt."
Người Đạo sĩ Gotama cảm thấy rằng khả năng đó cũng chưa phải là mục tiêu cứu cánh. Ngài đã hoàn toàn chế ngự, làm chủ được tâm mình nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn còn ở mãi xa.....vì tất cả mọi khả năng đó còn cần đến sự dẫn dắt ...nên tất cả chưa thoát ra khỏi vòng Vô minh. Từ đó Ngài không tìm sự giúp đỡ dù là ý tưởng từ bên ngoài, giải pháp bên ngoài nữa.
Sau đó ...Ngài mới phát hiện ra Chân lý và sự vắng lặng chỉ tìm được ở ngay bên trong con người chúng ta.
( Đức Phật và Phật pháp trg 33, 34 và 35 ).
Tu định, Thiền " gom tụ " năng lực tâm thức trong một ý nghĩa tròn vẹn nhất, nhằm mục đích tẩy sạch tư tưởng bất tịnh, vọng động, theo lục căn hay lục trần. Sự an bình, tỉnh lặng đó sẽ gia tăng sức mạnh cảm nhận trực diện giúp con người suy luận, quán thấy thực tính của vạn vật chung quanh một cách tinh tế hơn, nhanh nhại hơn.
Một là phát triển sự tập trung tâm ý ( samatha hay samàdhi ), sự chú tâm vào một đề mục, còn gọi thoại đầu (cittekaggatà ) dần dần tâm thức an bình, tỉnh tịch - thường được diễn tả bởi từ như " đến cõi không, vô biên " hay những cõi vi diệu hơn như " phi tường, phi phi tướng " mà thật ra nó không gì vi diệu huyền bí cả bởi tâm thức KHÔNG CÒN DÍNH MẮC TƯỚNG gọi là phi tướng, phi phi tướng, nhưng cảm thọ vẫn cảm thọ dù rằng về hình tướng chúng ta gọi là thọ khổ, thọ lạc chứ không phải là không giác, không tri giác. Thiền nhân cũng cảm đó, thọ đó nhưng không vướng như chúng ta nên không " an trụ " vào danh xưng, tên gọi diễn tả do đó mới nói thọ mà không thọ, lạc mà không lạc, hĩ mà không hĩ, xã mà không xã.
Đây CŨNG LÀ GIAI ĐOẠN mà nhiều người " DỪNG LẠI " kể cả Tăng tu, mà Họ không thể ngờ rằng Họ CHƯA GIẢI THOÁT KHỔ.....trong đời sống hiện tiền này.....
Đối với Chân lý giải thoát rốt ráo khổ đau của Đạo Phật phương pháp Tu định, Thiền này xét cho cùng cũng không thể nói là không đan xen tu Giới và chưa đem lại sự giải thoát hoàn toàn, không đem lại sự kiến giải về thực tại tối hậu mà chỉ đạt đến sự sống hạnh phúc trong cuộc sống trong đời này ( ditthadhamma-sukhavihàra ) hay " sự sống an tịnh " ( santavihàra ), nó cũng chỉ là " bước đệm" từng bước trước khi KIẾN TÁNH VIÊN MÃN và làm cho con người phát triển " sự sáng suốt - TUỆ TÍNH ..
Đức Phật tùy thuận cơ duyên nêu ra một pháp Tu định, Thiền khác gọi là ( vipassanà ) " trục giác ", trực diện kiến tánh, vậy tu thiền hay định vẫn là " lập lại, làm lại những gì người ta chỉ bảo "mặc dù bình tỉnh, định tâm, định tánh dể sáng suốt, dể phát sinh tuệ nhưng giải thoát " CÁI KHỔ VẪN CHƯA " nói chung ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT SINH TUỆ GIÁC - đủ điều kiện để uống nước chứ chưa uống nước THẾ LÀ VẪN CHƯA BIẾT MÁT NHƯ THẾ NÀO.
( cón tiếp bài 5 Tu Tuệ ).

VẤN ĐỀ ; TU THEO ĐẠO PHẬT.

VẤN ĐỀ ; TU THEO ĐẠO PHẬT.
Bài 7. Tự do hoàn toàn và sáng suốt.
Qua loạt 6 bài vừa qua, chúng ta biết rằng Đức Phật - tức Thái Tử Tất Đạt Đa bắt đầu BIẾT " cái khổ " do đâu mà có, chứ không là áp đặt do thần thánh nào đưa đến cho con người, việc giải thoát khổ đối với CHÍNH Ngài cũng như đối với con người và chỉ với con người ngay trong cuộc sống mà con người đang có khổ này chứ không ở một thế giới nào khác, bắt đầu bằng tiền đề cuộc sống của con người là hệ thuộc, toại, bất toại, phiền não, lo âu và tham lam, ích kỹ, ghièm xiển, tranh dành, hận thù......
Chính những thứ này phát sinh từ tâm vị kỷ do nhận định sai lầm về bản thân, về một cái tôi tồn tại bất biến. Tiểu ngã của cá nhân.
Đức Phật không chấp nhận điều có một Đấng sáng tạo ngự trị trên toàn cõi vũ trụ và trừng phạt hay ban thưởng tùy theo công trạng của mỗi con người khi còn sống trên thế gian này hay " MỘT LỜI HỨA " đến một nơi nào khác. Thế nên đối với Đức Phật - một mức độ phổ thông hơn con người không phụ thuộc vào thẩm quyền - thẩm quyền của bất cứ ai, giáo pháp của bất cứ người nào
Đức Phật không chấp nhận ý niệm của Tăng chúng, Phật tử hay kể cá tưởng của Bà La Môn giáo trong Kinh cổ Vệ Đà về sự trường tồn, bất biến, liên tục của linh hồn hay còn gọi là Tiểu ngã ( Atman ).
Đức Phật nói khi con người được giải thoát khỏi lòng thèm muốn, ràng buộc và ích kỷ thì mọi khổ ách, xung đột cũng sẽ biến mất trong cảm thọ của con người.hay thường nghe giảng là tiêu trừ. Giải thoát khỏi mọi ràng buộc ngay cả sự khác biệt tốt, xấu - lẽ đương nhiên là ở trong đời sống thường nhật được hiểu cách khác không có sự phân tách như thế.

VẤN ĐỀ ; TU THEO ĐẠO PHẬT.

VẤN ĐỀ ; TU THEO ĐẠO PHẬT.
Bài 8. Tự do hoàn toàn và sáng suốt...
Kế đến, là sự nhận chân SỰ THẬT, giác ngộ chân lý nghĩa là thấy, biết mọi sự như chúng ĐANG LÀ - ( yatha bhutam.- sự giác ngộ Chân lý ) nhưng Đức Phật lập đi lập lại nếu con người không thấy, biết sự thật quy ước hay ước lệ thì con người không thể nhận biết sự thật tuyệt đối chân thật hay cũng có thể nới rộng ra con người không sống trong thế giới ta bà đau khổ này thì cũng không cần đến vấn đề giải thoát khổ và như thế cũng không cảm nhận từ Niết bàn dùng để diễn tả một tình huống cảm thọ khác bình thường như toại nguyện.
Con người phải TỰ THÂN NHẬN THỨC, TỰ THÂN TÌM HIỂU có lẽ đây mới là BƯỚC ĐẦU TỐI CẦN THIẾT của Giáo pháp truyền bá rộng rải, chắc thực trong 84 vạn pháp môn theo tinh thần Phật. ( 84 vạn là con số tượng trưng của thời xưa LÀ RẤT NHIỀU )..
Đức Phật nói với người tu học khổ hạnh Kalama rằng : " đừng nên chấp nhận bất cứ điều gì chỉ vì điều đó được truyền bá bởi tôn giáo, tính ngưỡng, hoặc kinh sách, bởi Thầy giảng hay các Vị Đạo sư, kể cả Ta dù các người xem ta là Thầy, mà chỉ nên chấp nhận trong trường hợp tự thân nhận biết điều đó là đúng đắn, điều đó không làm buốn phiền, khổ sở chính mình và người khác ".
Trở lại vấn đề gọi là khổ của con người dù gọi chung là KHỔ nhưng con người có hàng ngàn, hàng vạn, vạn cái khổ mà không cái khổ nào giống cái khổ nào nên CÁCH GIẢI cái khổ này không thể giống CÁCH GIẢI cái khổ khác........ ...Đức Phật dạy :" Mọi thế pháp đều hư dối cho dù pháp đó Như lai vừa mới ban truyền mà bất cứ người nào lập lại " do đó không phải các Pháp mà con người biết, con người truyền đạt cho nhau là SAI nghĩa là không nhất thiết áp dụng đúng cho mọi người, mọi trường hợp tu tập để giác ngộ; cũng như thuốc và bịnh - thang thuốc có thể là thần dược cho bịnh nhân này mà lại là độc dược với bịnh nhân khác là thê. Pháp, Tông, Chi hay Thầy này, Sư kia....có thể Đúng nhưng là trường hợp của Họ chứ không nhất thiêt cho mọi người..., cho mọi " cái khổ " và cũng từ đó với người không định tâm, vị kỷ sẽ sanh ra phân biệt.......Thầy tôi hay...Chi tôi giỏi....Tông tôi tài ba, tuyệt mật, tuyệt vời, bí truyền......mà không nghĩ rằng PHẢI TỰ MÌNH UỐNG NƯỚC MỚI BIẾT NƯỚC thế nào.....PHẢI TỰ MÌNH LÀ ỐC ĐẢO MỚI KHÔNG LỆ THUỘC.....cà luôn luôn PHẢI NHỚ rằng Tham, Sân, Si của chính mình dẩn dắt mình vào đường KHỔ nên tránh xa......

Ý KIẾN : VỀ ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ, CƯ SĨ.

Ý KIẾN : VỀ ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ, CƯ SĨ.
.
Với lời dạy của Đức Phật hay của người đàng hoàng thì chưa bao giờ Ngài nói người Phật tử hay cư sĩ là người " sanh ra với hai bàn tay trắng, khi chết cũng lại trắng tay ". Về biểu tướng Họ vẫn sinh hoạt bình thường, nếu không muốn nói là rất tích cực bởi việc mất, suy sụp ( theo cách nhìn của thế nhân ) không tác động tiêu cực đối với Họ nghĩa là Họ vẫn vững chảy bước đi trên đường đời. 
Như vậy nếu người Phật tử hay cư sĩ tại gia, có thể có gia đình, con cái thì Họ cũng vẫn hoàn thành trách nhiệm xã hội được, nghĩa là vẫn đóng góp cho xã hội được và chúng ta TƯỞNG rằng CÁI CÓ của Họ là Họ hưởng thụ như chúng ta - Không quan trọng đới với Họ mặc dù Họ cũng thọ Lạc, thọ Khổ nhưng KHÔNG vướng mắc gì cả - đó là điểm khác biệt giữa thế nhân và người Phật tử hay cư sĩ.
Ai có thể chắc chắn nói rằng Thái Tử Tất Đạt Đa sau khi giác ngộ thì KHÔNG CÒN XÚC CẢM ?. Ai tin chắc rằng Thái Tử Tất Đạt Đa sau khi giác ngộ rồi KHÔNG THẤY, BIẾT thế nào là Lạc, thế nào là Khổ ?. Nếu cho là Ngài như thế có phải sai lầm chăng ?. Ngài vẫn XÚC CẢM, Ngài vẫn thấy, biết thế nào là Lạc, thế nào là Ái, thế nào là Dục, thế nào là Khổ nhưng đó là CÁI LẠC, CÁI KHỔ của thế nhân, còn Ngài - người giác ngộ KHỔ rồi, người KIẾN TÁNH ròi thì cũng CÓ xúc cảm nhưng xúc cảm không " vướng mắc " như chúng ta.
Bạn có nghe " nghịch nhỉ " bởi các câu " lạc như không lạc ", " hành như không hành " rồi chứ ?. Nếu Ngài không còn thấy, biết hay phú mặc không thấy, biết nữa thì làm sao tương thích với chúng sinh để giáo hóa ?. chẳng những thế mà Ngài còn thấy, biết một cách chính xác, vi tế, thận trọng hơn chúng ta. 
Nếu Ngài không còn thấy, biết thì làm sao đối ứng tương thích để hóa độ Ông Devadatta ( Đề-Bà-Đạt-Đa ) một Vị Tỳ khưu thỉnh cầu Đức Phật cho Ông quyền Chưởng quản Giáo Hội Tăng Già nhơn vào lúc niên thọ Đức Phật đã cao không được chấp thuận nên đem lòng tức giận, oán hờn, rồi âm mưu cùng Thái Tử Ãjatasattu toan sát hại Đức Phật - người giết Cha để soán ngôi, kẻ giết Đức Phật để chưởng quản Tăng già !!. Bao nhiêu lần ám sát, bao nhiêu lần chia rẻ Tăng già, nếu Thái Tử Tất Đạt Đa không thấy, biết thì làm sao hóa giải, làm sao hóa độ được Devadatta trở thành Phật Độc giác tên Atthissara .
Nếu Ngài không còn thấy, biết thì làm sao đối ứng tương thich để hóa độ Anãthapindikha. ( Cấp Cô Đọc ) từ một người muốn tu trong sự giàu sang của mình ( ông đã kiến tạo ngôi Tịnh xá trứ danh Jetavana - Kỳ viên ) trở thành người kiến Tánh, giác ngộ và sống đơn giản và đắc quả Tu Đa Hoàn ( Sotãpatti ) ( Kindred Sayings phần 1, trang 273 ).
Tóm lại, người tu Phật không phải lúng túng bởi " sanh ra với hai bàn tay trắng và chết đi lại hoàn trắng tay " - không phải thế, hoàn toàn không phải thế con người vẫn có, vẫn đủ điều kiện sống, vẫn cần có điều kiện phát triển và phát triển NHƯNG KHÔNG VƯỚNG MẮC VÀO . Thế thì chúng ta không nên lúng túng như thế để rồi trở thành sai lầm, tiêu cực, thụ động hay cả tin " buông xuôi " lầm lẩn trong đời sống thực tế, bởi Đạo Phật CHỈ GIẢI THOÁT KHỔ ngay trong đời sống này - đời sống có khổ dẫy đầy này. Con người vẫn sống, vẫn phát triển theo xã hội và xã hội tiến bộ.hài hòa - có thể không dể gì nhưng từ chúng ta là mầm -( tiệm tu, tiểu nguyện ), là biểu tượng rồi sẽ phát huy, nhân rộng Đại nguyện ) hay ít ra TA cũng đã giải thoát đau khổ cho chính ta trong cuộc sống hiện tại CÓ KHỔ này.. Có phải chăng có " Niết bàn tại thế " ?.
.