Lý Giải Hiện Trạng Các Lão Thiền Sư Bị Đột Quỵ… (P.1)
Ở bài viết có linkhttps://www.facebook.com/groups/1584059648562689/permalink/2032785350356781/, thành viên Kim Khanh Rosenfeld có đặt câu hỏi:
- Tại sao một Thiền Sư như Thích Nhất Hạnh cuối đời lại thế? Đúng ra Thiền thì bộ não phải lành mạnh chứ?
Cảm ơn Kim Khanh Rosenfeld đã có câu hỏi phá nghi rất hay!
Để trọn vẹn nội dung bài viết Ngạo Thuyết sẽ kể Kim Khanh cùng các bạn một câu chuyện khá dài về nhân duyên của Ngạo Thuyết đối với các vị Tăng Bảo danh tiếng đương thời.
Như đã từng nói nhiều lần, cách đây gần 10 năm Ngạo Thuyết mới biết đến kinh sách nhà Phật. Thuở ấy Ngạo Thuyết khờ nhiều nên vào chùa làng định bụng sẽ xuất gia. Chùa làng – sư quê, sư xuất gia nửa đường do yêu cầu cấp bách phải giữ chùa nhà nên tri kiến Phật học của sư thầy hạn chế rất nhiều. Cũng may Ngạo Thuyết có quen một vị cư sĩ tại gia có khá nhiều kinh sách, đặc biệt là kinh sách Bắc Tông; Kinh điển Nam Tông vị cư sĩ này sau khi tham cứu qua có phần xem nhẹ, thế là Ngạo Thuyết mượn được 1, 2 quyển kinh thuộc bộ Trường A Hàm – Nam Tông, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Địa Tạng – Bắc Tông,…
Ngạo Thuyết xem kinh mà không có người chỉ dạy cũng có cái hay, cái dở của nó. Khi đó, Ngạo Thuyết rất sợ phạm thượng nên xem kinh cẩn thận không dám bỏ chữ, kinh sách nhà Phật luôn để trên cao, kính cẩn uy nghi. Tuy nhiên, mỗi khi xem kinh sách Nam Tông Ngạo Thuyết rất ngán sự lập lại 3 lần cho mỗi câu hỏi, câu đáp (Có thể xem đây là thủ pháp Tam Đoạn Trùng Tuyên của kinh điển Nam Tông). Ở chùa giai đoạn dòm ngó “chân cẳng”, Ngạo Thuyết ít nhiều có sự hạn chế về thời gian nên Ngạo Thuyết dần phát chán lối Tam Đoạn Trùng Tuyên và chuyển qua lối xem thoáng. Kinh điển Nam – Bắc Tông gì ít nhiều đều có những yếu tố siêu hình, Phật Thích Ca được khắc họa ra với rất nhiều quyền phép, thông thiên, triệt địa, biết cả 3 thời. Thật vi diệu!
Sau đấy, Ngạo Thuyết rời chùa với chút hoài nghi về quyền phép của những vị Phật, song Ngạo Thuyết cũng không để tâm đến điều đó là mấy. Rồi một dịp tình cờ Ngạo Thuyết được nghe một chương trong quyển Đường Xưa Mây Trắng Bay do thầy Thích Nhất Hạnh phóng tác, lối viết gần gũi, rất thơ về cuộc đời Đức Phật. Ngạo Thuyết đã nghe tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng rất nhiều lần và chia sẻ cho nhiều người cùng nghe.
Qua ngòi bút của Thiền sư Nhất Hạnh, Đức Phật trở nên rất hiền hòa, rất gần gũi, những siêu hình, huyễn hóa về một vị Phật Quyền Năng vô hình chung đã chết trong lòng Ngạo Thuyết.
Lúc bấy giờ, Ngạo Thuyết rất thần tượng thầy Thích Nhất Hạnh và có dịp tìm hiểu phân định rõ ràng hơn về Nam Tông – Bắc Tông, Thiền – Tịnh – Mật,… biết rằng mình thích sự tĩnh lặng của thiền định nên Ngạo Thuyết lưu tâm đến Thiền Tông nhiều hơn.
Cũng như phần đa người học Phật chân chính, Ngạo Thuyết hướng đến kinh sách, hành trạng của những Thiền sư danh tiếng đương thế, khi ấy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ là hai danh sư mà Ngạo Thuyết mong mỏi được gặp và tham vấn về những gút mắc việc hành thiền, về những gút mắc tâm linh.
Ngạo Thuyết được biết sau biến cố Làng Mai – Lâm Đồng, Thiền sư Nhất Hạnh bị cấm đoán việc về nước; Thiền sư Thanh Từ thì Ngạo Thuyết còn lưỡng lự nên chưa ghé viếng thăm.
Qua tham khảo một ít kinh sách, giáo lý, lời tự sự của hai vị danh sư đương thế Ngạo Thuyết đã từng có lúc tin rằng hai vị Tăng Bảo danh tiếng này đã chứng ngộ, đã đắc pháp. Tuy nhiên, trải qua mấy phen sương buốt lạnh cùng thiền định tri kiến Phật học của Ngạo Thuyết đã thoát thai và chợt nhận ra các bản dịch giải kinh sách của hai vị danh sư không có sự thanh thoát, có một sự ứ trệ, bế tắc ở sở hành, sở đắc của hai vị danh sư. Thầy Nhất Hạnh bị trói chân ở tỉnh thức, ở thực tại hiện tiền; Thầy Thanh Từ bị chững lại ở cái hằng thấy, hằng biết chẳng có ngày ra.
Xem sách của hai vị đương thế danh sư còn có ít nhiều sự thoát đạt, song khi tham cứu các bản dịch kinh của hai ngài sẽ dễ dàng thấy ý từ chẳng thoát tục, rất cứng nhắc, tù túng. Có dịp Ngạo Thuyết xem bản dịch Kinh Dấu Chân Voi (Đạo Bụt Nguyên Thủy) do thầy Nhất Hạnh dịch giải Ngạo Thuyết có một sự đượm buồn – nuối tiếc, lại xem bản dịch Kinh Kim Cang, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh của thầy Thanh Từ để Ngạo Thuyết biết rằng có lẽ mình phải tự đốt đuốc mà đi thôi, bởi lẽ hai danh sư đương thế, đặc biệt là Thần tượng thầy Nhất Hạnh đã để lại trong ta một sự ngậm ngùi.
…
Lúc bấy giờ Ngạo Thuyết tập tành viết sách và đã cho ra đời quyển sách đầu tay – Hãy Là Đường Xưa Mây Trắng Bay… Đã có những chướng ngại về việc phát hành sách, Ngạo Thuyết phải mấy phen ra bắc, vào nam.
…
Lúc bấy giờ Ngạo Thuyết tập tành viết sách và đã cho ra đời quyển sách đầu tay – Hãy Là Đường Xưa Mây Trắng Bay… Đã có những chướng ngại về việc phát hành sách, Ngạo Thuyết phải mấy phen ra bắc, vào nam.
Nghe lời khuyên của một người bạn Ngạo Thuyết tập tành viết blog để truyền tải chút hiểu biết Phật học của mình, do nhân duyên đó Ngạo Thuyết mới lọ mọ vào các trang mạng tham khảo những thông tin cần thiết. Một dịp tình cờ được biết thầy Nhất Hạnh lập ra những Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan Cầu Siêu Chiến Sĩ Trận Vong và thầy xúng xính trong những bộ lễ phục sặc sỡ, xa hoa, Ngạo Thuyết biết rằng thần tượng một thời trong ta giờ đã chết. Cầu siêu, giải hạn, cúng sao… những việc làm đó Như Lai chưa bao giờ tán thán, xiểng dương; Áo lộng xênh xang, chuông khánh ru hồn,… đó là những việc làm của người chưa ngộ.
…
Có một dịp, một người em nhờ Ngạo Thuyết cùng đi Thiền Viện Trúc Lâm Phụng Hoàng ở Đà Lạt, thâm ý của người em là muốn xuất gia theo hệ phái Thiền Trúc Lâm. Khi đó, Ngạo Thuyết cũng thầm mong có dịp lễ bái sư ông Thanh Từ, tùy duyên hỏi đáp Phật pháp. Song lên đến nơi chỉ gặp các thầy Tri Khách, Trị Sự, Tăng Tu,… người em hỏi việc xuất gia tại chùa nhưng xem ra rất khó khăn. Muốn xuất gia ở lại Thiền viện phải có người quen biết giới thiệu, khi ấy, học nhân mới được công quả tập tu. Duyên gặp sư ông nghe chừng rất khó, trong khi chờ đợi Ngạo Thuyết đi lại viếng cảnh chùa, ghé sang nhà bảo tàng của Thiền viện, tình cờ bắt gặp tượng bán thân của sư ông Thanh Từ chợt nghe trang Kinh Kim Cang vỡ vụn – Phàm Sở Hữu Tướng Giai Thị Hư Vọng.
…
Có một dịp, một người em nhờ Ngạo Thuyết cùng đi Thiền Viện Trúc Lâm Phụng Hoàng ở Đà Lạt, thâm ý của người em là muốn xuất gia theo hệ phái Thiền Trúc Lâm. Khi đó, Ngạo Thuyết cũng thầm mong có dịp lễ bái sư ông Thanh Từ, tùy duyên hỏi đáp Phật pháp. Song lên đến nơi chỉ gặp các thầy Tri Khách, Trị Sự, Tăng Tu,… người em hỏi việc xuất gia tại chùa nhưng xem ra rất khó khăn. Muốn xuất gia ở lại Thiền viện phải có người quen biết giới thiệu, khi ấy, học nhân mới được công quả tập tu. Duyên gặp sư ông nghe chừng rất khó, trong khi chờ đợi Ngạo Thuyết đi lại viếng cảnh chùa, ghé sang nhà bảo tàng của Thiền viện, tình cờ bắt gặp tượng bán thân của sư ông Thanh Từ chợt nghe trang Kinh Kim Cang vỡ vụn – Phàm Sở Hữu Tướng Giai Thị Hư Vọng.
Tăng Bảo đã chứng ngộ hiển nhiên phải chi trì hộ pháp. Lời nói phải đi đôi với việc làm, đó là điều mà giới Tăng Bảo phải bảo nhậm.
Người tại gia có thể tùy tiện một chút; Người xuất gia với vị trí đặt để là thầy của Trời – Người nên không thể buông lung bởi lẽ ở trên trông xuống, người bên trông vào.
…
Người em trai ấy không có duyên với Thiền Phái Trúc Lâm, đã có lúc “để mắt” đến Pháp Truyền Tâm Ấn của bà Thanh Hải Vô Thượng Sư, nhưng sau đã theo về pháp hành của vị thầy Thích Thông Lạc, và từ đó cũng chìm đắm trong những cực đoan, kiến thủ.
…
Người em trai ấy không có duyên với Thiền Phái Trúc Lâm, đã có lúc “để mắt” đến Pháp Truyền Tâm Ấn của bà Thanh Hải Vô Thượng Sư, nhưng sau đã theo về pháp hành của vị thầy Thích Thông Lạc, và từ đó cũng chìm đắm trong những cực đoan, kiến thủ.
Ngạo Thuyết lại được nghe rằng sư Thông Lạc cũng lưu lại khối tượng bán thân. Cái chết của vị sư này cũng có nhiều điều khuất tất, thật giả khó phân. Chỉ nghe nói lại rằng sư tịch rất nhẹ nhàng, sư Thông Lạc mất non nửa ngày thì chư Tăng Ni nơi Tu Viện Chơn Như mới được biết phong phanh. Và có thông tin nội bộ rằng sư Thông Lạc gần như bị quản thúc - nội bất xuất, ngoại bất nhập trong một khoảng thời gian ngắn mấy mươi ngày trước khi mất, dự là sư Thông Lạc đã không chế định ra việc này.
Sau khi sư Thông Lạc mất, tờ giấy tạm xem như bản di ngôn chế định người ngộ, kẻ thông trong số môn đồ, đệ tử của thầy Thông Lạc đã được tuyên đọc cùng với sự cắt đặt ngôi vị trụ trì Chùa Am, việc làm đã tạo ra ít nhiều sóng gió trong tông môn. Và rồi… người đi, kẻ ở. Chốn Tòng lâm xưa nay không từng vắng những ưu phiền.
…
Thầy Thông Lạc mất rồi, Thiền sư Nhất Hạnh, Thiền sư Thanh Từ lần lượt gặp sự cố về sức khỏe; Người bị đột quỵ, người bị xuất huyết não, bệnh trạng diễn ra không chỉ một lần.
Quả thật là trong lòng Ngạo Thuyết luôn tôn quý, kính trọng những vị Tăng Bảo xưa nay bởi lẽ họ là một trong ba viên ngọc quý giá Tam Bảo. Ngạo Thuyết kính trọng Tăng Bảo không vì danh tiếng hay việc họ chứng ngộ mà vì Tăng Bảo là những người đã hy sinh cuộc đời thế tục, dũng mãnh “cắt ái, ly gia”, dấn thân học đạo, hoằng pháp, Tăng Bảo là những người có công rất lớn trong việc giữ gìn Chánh Pháp Nhãn Tạng Như Lai – Pho Tam Tạng Kinh. Và Ngạo Thuyết đã từng nhờ đến những trang kinh góp nhặt mà khêu sáng được những tăm tối, vô minh của riêng mình.
…
Thầy Thông Lạc mất rồi, Thiền sư Nhất Hạnh, Thiền sư Thanh Từ lần lượt gặp sự cố về sức khỏe; Người bị đột quỵ, người bị xuất huyết não, bệnh trạng diễn ra không chỉ một lần.
Quả thật là trong lòng Ngạo Thuyết luôn tôn quý, kính trọng những vị Tăng Bảo xưa nay bởi lẽ họ là một trong ba viên ngọc quý giá Tam Bảo. Ngạo Thuyết kính trọng Tăng Bảo không vì danh tiếng hay việc họ chứng ngộ mà vì Tăng Bảo là những người đã hy sinh cuộc đời thế tục, dũng mãnh “cắt ái, ly gia”, dấn thân học đạo, hoằng pháp, Tăng Bảo là những người có công rất lớn trong việc giữ gìn Chánh Pháp Nhãn Tạng Như Lai – Pho Tam Tạng Kinh. Và Ngạo Thuyết đã từng nhờ đến những trang kinh góp nhặt mà khêu sáng được những tăm tối, vô minh của riêng mình.
Tuy nhiên, Ngạo Thuyết rất minh bạch trong việc tôn kính chư Tăng, lẽ đúng sai nơi giới Tăng Bảo, Ngạo Thuyết luôn rạch ròi minh định. Đây là việc không cô phụ người, không cô phụ chính ta; là báo đáp Phật ân của Người muôn năm cũ.
Do đó, khi nghe tin các vị Thiền sư tôn kính gặp vấn đề về não bộ dẫn đến những năm tháng cuối đời mất dần sự tự chủ nơi bản thân, lòng Ngạo Thuyết đã chùn xuống. Những nỗi xót xa, những niềm thương cảm miên man… Giá như… Đáng tiếc! Lẽ ra…
Việc đột quỵ, xuất huyết não của các vị Thiền sư đã mang lại một tổn thất không dễ bù đắp đối với pháp môn Thiền Tông. Danh sư Thiền Tông cuối đời lại không thể tự chủ đến đi, Cận Tử Nghiệp nặng nề khắc khoải… Biết sư thầy 100 tuổi sẽ về đâu?
Những bài giảng, những công sức nỗ lực hoằng pháp của các danh sư bị mai một ít nhiều bởi hiện tướng bệnh ở cuối đời mỗi người. Và với pháp môn Thiền Tông thì yêu cầu đến đi tự tại còn khắt khe hơn nữa.
Việc hiện tướng bệnh ở Thiền sư đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến sự tôn nghiêm, tông phong của bản môn.
Do hiện tướng bệnh nơi tâm nên việc chứng ngộ hay chưa chứng ngộ ở Thiền sư lẽ ra sẽ phải được xét lại, đây là việc đáng làm và nên làm để chứng nghiệm lại hành trạng, pháp ngữ của Danh sư có khế hợp lời Phật, Ý Tổ hay không? Nếu pháp ngữ Thiền sư để lại khế hợp lời Phật, Ý Tổ thì xác lập Tổ vị cho Danh sư, và pháp ngữ của Người sẽ được gìn giữ, nghiêm cẩn lưu lại cho muôn đời sau. Bởi lẽ pháp ngữ của Thiền sư chứng ngộ chẳng khác với lời Phật thuyết. Nếu thật sự là Tông phong Thiền Tông thì rất nên làm như thế. Và đây chính là sự khác biệt cứu cánh giữa Thiền Tông so với Mật Tông, Tịnh Độ Tông. Người học Phật chân chính hướng đến vô tâm phải chạm đến khéo hay phân biệt chẳng sinh lòng yêu ghét.
…
Lẽ ra … các vị danh sư (nói chung), danh sư Thiền Tông (nói riêng) ngày nay khi tuổi hạc đã cao phải ý thức được việc giao lại việc dẫn dắt Tăng sinh, quản trị Tự viện cho môn đồ có tâm, có tầm, đủ sức phục chúng gánh vác. Việc tiếp đến danh sư cần làm là bế quan, ẩn tu ngõ hầu làm chủ việc xả bỏ báo thân. Giả như … công phu tu tập vẫn chưa thành khối nhưng cũng không đến nỗi hiện tướng bệnh gây hoang mang đồ chúng và người học Phật rất đổi kính tin mình. Và việc bế quan, tạ khách cùng với việc không hiện tướng bệnh ngặt nghèo sẽ không làm ảnh hưởng tôn nghiêm, đạo pháp của Tông môn.
…
Việc bế Quan – Tạ Khách, trước đây danh gia Phật môn lẫn Đạo gia rất ưa dùng để bảo toàn sự oai nghiêm của Tông phong bản môn, đặc biệt thường gặp ở lối Tu Tiên. Chỉ có những Thiền sư thực thụ hành trì đắc pháp Nhị Thừa mới hiên ngang hoằng pháp, cho đến lúc hết duyên thì an nhiên thị tịch.
…
Thời Phật Thích Ca tại thế, việc Bế Quan – Tạ Khách, ẩn nhẫn hành trì xả bỏ báo thân không được khuyên dùng. Và chính Phật Thích Ca cũng không dùng việc xả bỏ báo thân theo pháp nhị thừa mà an nhiên sống đến cuối đời thị hiện tất cả nỗi khổ của sinh già bệnh chết. Phật an nhiên sống với đại định cùng với trí tuệ sáng tỏ muôn duyên.
…
Lẽ ra … các vị danh sư (nói chung), danh sư Thiền Tông (nói riêng) ngày nay khi tuổi hạc đã cao phải ý thức được việc giao lại việc dẫn dắt Tăng sinh, quản trị Tự viện cho môn đồ có tâm, có tầm, đủ sức phục chúng gánh vác. Việc tiếp đến danh sư cần làm là bế quan, ẩn tu ngõ hầu làm chủ việc xả bỏ báo thân. Giả như … công phu tu tập vẫn chưa thành khối nhưng cũng không đến nỗi hiện tướng bệnh gây hoang mang đồ chúng và người học Phật rất đổi kính tin mình. Và việc bế quan, tạ khách cùng với việc không hiện tướng bệnh ngặt nghèo sẽ không làm ảnh hưởng tôn nghiêm, đạo pháp của Tông môn.
…
Việc bế Quan – Tạ Khách, trước đây danh gia Phật môn lẫn Đạo gia rất ưa dùng để bảo toàn sự oai nghiêm của Tông phong bản môn, đặc biệt thường gặp ở lối Tu Tiên. Chỉ có những Thiền sư thực thụ hành trì đắc pháp Nhị Thừa mới hiên ngang hoằng pháp, cho đến lúc hết duyên thì an nhiên thị tịch.
…
Thời Phật Thích Ca tại thế, việc Bế Quan – Tạ Khách, ẩn nhẫn hành trì xả bỏ báo thân không được khuyên dùng. Và chính Phật Thích Ca cũng không dùng việc xả bỏ báo thân theo pháp nhị thừa mà an nhiên sống đến cuối đời thị hiện tất cả nỗi khổ của sinh già bệnh chết. Phật an nhiên sống với đại định cùng với trí tuệ sáng tỏ muôn duyên.
Tại sao thời Phật Thích Ca tại thế không dùng đến pháp Bế Quan – Tạ Khách mà ngày nay danh sư Tăng Bảo nên dùng?
Bởi lẽ tri kiến Phật học mỗi thời, mỗi khác. Khi Phật Thích Ca tại thế tâm phân biệt Tông phong hệ phái, đạo giáo chưa nhiều, chưa sâu sắc; Giáo lý Phật pháp sơ khai lại mộc mạc, giản đơn, gần gũi, không chú trọng, xét nét đến yếu tố siêu hình; Trình độ mặt bằng chung của người học đạo thời ấy không cao, do đó tính phân biệt thủ xả cũng không quá khắt khe, quyết liệt; Việc tự chủ sinh tử vì thế cũng không bị đặt để ở thước đo chứng ngộ của hành nhân. Và trên tất cả Phật Thích Ca đã là Giác Giả đắc pháp vô sanh với đại định bất khả tư nghì thì đâu cần đến pháp xả báo thân của hàng nhị thừa.
Ngược lại, tri kiến Phật học ngày nay đã chế định, người chứng ngộ phải tự chủ việc đến đi – sinh tử, người đắc pháp rồi tội diệt, nghiệp tiêu, phước huệ viên mãn. Tất nhiên là những chế định ở người học Phật sẽ không thật đúng vì đã là chế định thì lập tức rơi vào biên kiến Đoạn – Thường, việc đánh mất lý trung đạo liền cách biệt với sự đúng mực của chánh pháp.
Tuy nhiên, do hành nhân – Thiền sư chưa chứng ngộ nên khó biện biệt lẽ ngụy chân cho môn đồ, người học Phật tín tâm được rõ. Do vậy, với những danh sư Tăng Bảo uy chấn Tông môn, việc sinh tử tồn vong của cá nhân sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đạo nghiệp hoằng pháp độ sinh của hệ phái Tông môn. Trước việc “sống còn” của đạo pháp truyền thừa ở hệ phái bổn môn, danh sư Tăng Bảo chân chánh hộ pháp phải ý thức được việc nên làm, cần làm.
- Một là khi tuổi hạc đã cao danh sư phải “Bế Quan – Tạ Khách”, ẩn nhẫn hành hạnh tri túc, thiểu dục, hành trì viên mãn việc xả bỏ báo thân, sống trọn vẹn cho chánh pháp.
- Hai là trong quá trình truyền đạo, hoằng pháp phải sắp xếp được thời gian hành trì hợp lý ngõ hầu thành tựu cho được Pháp Diệt Tận Định của hàng nhị thừa. Và sẽ tuyệt vời hơn nếu Thiền sư hành trì chứng ngộ pháp vô sanh, nghiễm nhiên thành Giác Giả hộ pháp chốn tòng lâm, việc sinh tử tùy duyên tụ tán.
(Còn tiếp)
(Còn tiếp)






