Thứ Hai, 17 tháng 3, 2014

T H I Ề N S Ư N I D A E H A E N G - Phần 1

                     T H I Ề N S Ư N I D A E H A E N G

               HẠNH HUỆ dịch










          Không có sông nào
         để vượt qua
          (No River to Cross)
             NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA VĂN NGHỆ
Li gii thiu
Cuc sng luôn luôn là dòng sông trôi
chy, chúng ta sng là chy, là hot đng
không ngng. Vì luôn đng hành, luôn
tươi mi nên không đng li, không
mt bên b đ ngóng tìm b bên kia.
Ni sư Đi Hng (Daehaeng) đã th
nhp tính sng trn vn. Nhng bài
pháp mnh m ca Sư giúp chúng ta
cm nhn năng lc vô tn ca chính
mình và ca c thế gii. Xin trân trng
gii thiu bn dch này, như mt món
quà cho năm 2012.
TN. Như Đc
Viên Chiếu đu mùa An Cư
Tóm lược tiểu sử







Thiền sư ni Đại Hằng
Zen Master Daehaeng

Sư bà Đại Hằng sinh năm 1927, trong một
gia đình quyền quý. Gia thế vốn giàu có,
nhưng khi Sư bà ra đời thì hoàn cảnh họ khá
bấp bênh. Hoàng gia Nhật quyết tâm thôn tính
Đại Hàn nên đem quân đội chiếm đóng từ năm
1904, với chính sách ngày càng tàn bạo và
nặng nề. Cha của Sư bà nguyên là tướng quân
triều đình của vị vua Đại Hàn cuối cùng nên
vẫn tiếp tục chống đối quân Nhật xâm lược.
Hậu quả là quân Nhật tịch thu toàn bộ nhà cửa,
tài sản, đất đai của gia đình khi Sư bà lên sáu
tuổi. Họ chạy thoát mật thám Nhật chỉ trong
giây phút, duy có bộ quần áo mặc trên người,
vượt sông Han, xây một túp lều trú ẩn trên núi
phía nam Hán thành. Trong một thời gian dài,
thức ăn của họ chỉ là những gì xin được hay đi
mót lúa ngoài đồng khi đã gặt xong.



8 Không có sông nào để vượt qua

Sự bóp nghẹt liên tục của Nhật, việc triều
đình Đại Hàn sụp đổ, hoàn cảnh bi đát của gia
đình đã làm tâm trí cha Sư bà ngập tràn niềm
thất vọng và phẫn nộ. Dù vẫn tử tế, hay giúp
đỡ người khác nhưng ông lại dồn tất cả sự
giận dữ, oán hận lên Sư bà, đứa con gái đầu
của mình. Hoang mang, không sao hiểu nổi
những gì xảy đến cho mình, Sư bà trốn lánh
khỏi túp lều càng nhiều càng tốt. Dù bóng
đêm và những âm thanh quái lạ làm Sư bà vô
cùng sợ hãi, nhưng Sư bà bắt đầu ngủ ngoài
rừng, lấy lá phủ cho ấm.
Khi Sư bà lên tám tuổi thì những ngày lạnh
lẽo, đói khát đã kéo dài hai năm. Cho dù cuộc
đời quá khổ cực, nhưng trong nội tâm Sư bà
lại khởi sự cảm thấy khác hẳn. Nỗi sợ hãi
phải sống ngoài núi rừng vào ban đêm đã phai
nhạt, dần dần bóng đêm trở nên thoải mái, ấm
áp, đẹp đẽ. Trong rừng không có sự khác biệt
giữa giàu nghèo, quý tiện, mọi sinh vật sống
hỗ tương, hài hòa với nhau. Đem so sánh, thì
thế giới bên ngoài tràn ngập sự bất bình đẳng
và khổ đau.
Nhìn đâu, Sư bà cũng thấy con người sinh
ra chỉ để chịu khổ. Suốt ngày họ sống tách
biệt với mọi người để đeo đuổi những điều


 





Không có sông nào để vượt qua  9

đến phút chót mới thấy thật là vô ích, y như
họ sống qua một đời đến khi bệnh hoạn rồi
chết. Cuộc sống chỉ như vậy sao? Hiện hữu
đó có ý nghĩa gì? Qua trực giác, Sư bà cảm
nhận còn có những điều khác, những gì cốt
yếu mà mắt Sư bà không thấy được. Cái đó là
gì? Có những ngày liền, Sư bà tựa lưng vào
phiến đá hay gốc cây, suy tư tìm tòi, thiết tha
mong muốn hiểu được những gì đã tạo nên Sư
bà. Càng lớn, cái mong muốn đó càng mãnh
liệt khiến đôi khi Sư bà nghĩ thà chết còn hơn
là không tìm được câu trả lời cho những thắc
mắc này. Ngập chìm trong nỗi nghi vấn, núi
rừng quả là nguồn an bình, nuôi dưỡng Sư bà.
Bất ngờ một ngày Sư bà tìm được những gì
mải hoài tìm kiếm: nó đã có sẵn trong Sư bà,
và vẫn luôn ở với Sư bà. Điều đó thật ấm áp,
tuyệt diệu biết bao nên Sư bà gọi là Appa, có
nghĩa là Cha. Đây không phải là ông cha mà
Sư bà không dám để thấy mặt, một ông cha
không hề yêu thương Sư bà; nhưng chính bản
tâm đã tạo ra Sư bà, chân tính là người sáng
tạo đích thực. Sư bà òa khóc, không ngớt gọi
‘Cha ơi, Cha ơi’, lòng tràn ngập niềm vui khi
biết cha mẹ đích thực, chân tánh luôn có sẵn,
không hề rời Sư bà.


 





10 Không có sông nào để vượt qua

Nhiều năm về sau, Sư bà thường cười về
việc này và bảo là: Nếu ta không quá trẻ và dốt
nát, thì hẳn ta đã gọi là Phật tánh, chân tánh.
Nhưng vào lúc đó, ta chỉ biết là một cái gì tràn
đầy sự yêu thương, ấm áp nên ta gọi là ‘Cha’.
Ta cho ‘Người cha’ mà ta cảm nhận được trong
nội tâm chính là cha ta”. Sư bà xem ‘Cha’ là
nguồn an ủi và trút hết tình thương vào đó. Mỗi
khi Sư bà gọi thầm ‘Cha ơi’, Sư bà cảm thấy
như sỏi đá, cây cối, thú vật cùng tất cả mọi thứ
trở thành những người bạn thân thiết, quá sức
thân thiết đến như cùng một hơi thở.
Không hiểu sao Sư bà lại biết là ‘Cha’ có
thể trả lời mọi thắc mắc của Sư bà nên phó
thác tuyệt đối vào đó. Sư bà sống một cách rất
tự nhiên và không hề thử tin tưởng vào một
cái gì bên ngoài Sư bà. Thật là tuyệt vời khi
từ một người không có gì Sư bà lại nếm được
mùi vị bất khả tư nghị của chánh pháp.
Sư bà cảm thấy ‘Cha’, cái bản tính vốn có
đó, quý báu hơn bất kỳ thứ gì trong cả thế giới
nên cứ lặp đi lặp lại: “Con muốn thấy Cha”.
Đáp lại lời van nài, một giọng nói sâu thẳm
trong chính Sư bà lên tiếng: “Nhìn thử trong
gương, ta ở đó”. Bất kể bao nhiêu lần Sư bà
nhìn gương, bất kể trong bao lâu, Sư bà chỉ


 





Không có sông nào để vượt qua 11

thấy chính khuôn mặt mình. Không còn gì
khác. Sư bà cảm thấy ê chề. Chưa bao giờ Sư
bà được nghe một bài pháp, học một trang
kinh, và không sao hiểu được điều mà Sư bà
đang chứng nghiệm. Về sau Sư bà nhớ lại: “Dù
cho lúc đó đã mười tám tuổi, ta vẫn không sao
hiểu được ý nghĩa thật sự của điều đó”.
Sau khi Đại Hàn được độc lập năm 1945,
Sư bà theo tiếng gọi nội tâm và đi về hướng
núi Odae. Trong dãy núi đó có một Thiền sư
vĩ đại tên là Hanam mà Sư bà đã gặp.
Sư bà được gặp Thiền sư Hanam nhiều năm
về trước, khi còn là một bé gái, ở với người
cậu trong vùng, nên thường lên chùa để viếng
Thiền sư. Sư bà nhớ lại: “Ta không hề biết đến
những danh xưng về Thiền sư như là: Đại sư,
Đại thiền sư, Đại trí tuệ”. Thiền sư là người
đứng đầu của giòng thiền Jogye, nhưng Sư
vẫn vui đùa với ta, dúi cho ta bánh gạo rang
khi không có ai. Sư mang lại lòng từ ái, bi
mẫn cho những ai nghèo nàn, khốn khổ bởi họ
đã bần cùng, chịu nhiều đau khổ. Với những
ai mắt ngời sáng khát khao muốn biết chân lý,
Sư đem đến trí tuệ và sự sách tấn. Bất kỳ là
hạng người nào, bạn cũng có thể gặp gỡ Sư.
Ngôn ngữ của người rất bình dị nhưng luôn


 





12 Không có sông nào để vượt qua

hàm chứa thật sâu sắc. Trong sự chứng đắc
sâu xa, Sư luôn ấm áp, an bình, như ‘Cha’.
Sau khi đến núi Odae, Sư bà xin làm công
quả, xin được vào Thiền đường dành cho Tỳ-
kheo ni. Sau nhiều ngày ngồi thiền miên mật,
Sư cảm thấy tay chân rã rời. Chợt một tư tưởng
nổi lên, “Sao ta lại hủy hoại xe như vậy thay
vì kéo trâu?” Về sau, Sư bà giải thích, “Thử
nghĩ một chiếc xe, có trâu kéo. Nếu muốn đi
tới, có nên đánh vào xe không? Không nên,
mà chỉ lấy dây mũi, nhẹ nhàng dẫn trâu đi tới
trước”.
Vì vậy Sư bà bỏ Thiền đường và trở lại
rừng sâu. Sư bà tu tập rất miên mật, không
bận tâm đến chuyện giữ giới hay không giữ
giới, cạo tóc hay để tóc dài, mà chỉ là hướng
vào bên trong.
Mùa xuân năm 1950, Sư được thọ giới Sa-
di. Thiền sư Hanam lại cắt tóc cho Sư bà. Ngài
hỏi, “Ngay đây, ai là người thọ giới?”
Sư bà trả lời, “Chẳng có lúc nào Ngài trao
Giới, mà chẳng có lúc nào con được thọ giới.
Hạc chỉ bay về phía núi xanh”.
Thiền sư Hanam dạy, “Con phải chết mới
thấy được chính con”.


 





Không có sông nào để vượt qua 13

Sư bà trả lời, “Cái ngã nào phải chết, ngã
nào phải giết?”
Thiền Sư hỏi tới, “Tâm con ở đâu?”
Sư bà trả lời, “Chắc Ngài khát nước rồi.
Xin hãy dùng chút nước”.
Cuối cùng Thiền sư hỏi, “Nếu ta là cục nam
châm, con là cây đinh, điều gì sẽ xảy ra?”
Sư bà trả lời, “Đinh cũng sẽ thành cục nam
châm”.
Thiền sư rất vui lòng, Ngài dạy, “Xuất cách!
Thôi hãy đi theo đường của con”.
Không lâu sau đó, nội chiến xảy ra và đất
nuớc lâm vào cảnh hỗn loạn. Chỉ vài tháng
sau, Thiền sư Hanam an nhiên thị tịch, trụ
thế 75 năm, xuất gia làm đệ tử Phật hơn năm
mươi tuổi hạ.
Sau khi rời Thiền sư Hanam, Sư bà đến
Busan ở khoảng một năm. Sư bà dựng quán
ăn cho phu bến tàu và người nghèo; còn làm
thợ may, lấy binh phục may đồ dân sự. Trước
đây khi sống khổ sở, chịu đựng một mình nên
Sư bà cũng chẳng bận tâm. Nhưng bây giờ,
thật không thể chịu nổi khi nhìn sự đau khổ
kinh khủng của mọi người chung quanh. Dù
có thể cho ăn, cho mặc nhiều người; nhưng Sư


 





14 Không có sông nào để vượt qua

bà bắt đầu cảm thấy giúp người khác về mặt
vật chất chỉ đến một giới hạn.
Sư bà hiểu ra rằng mình cần phải tu tập miên
mật hơn nên rời Busan và cuộc sống đã tạo
dựng ở đó. Chưa bằng lòng với những gì đã
hiểu, Sư bà luôn tự vấn, “Mục đích cuộc đời là
gì? Tại sao con người phải chịu khổ? Tại sao
ta lại có mặt ở đây?” Sư bà tu tập ngày đêm
không ngưng nghỉ, không ăn uống, nhưng câu
đáp duy nhất chỉ là, “Phải chết mới thấy được
chính mình”. Sư bà đã giải đáp câu hỏi này ở
nhiều mức độ sâu sắc khác nhau, nhưng Sư bà
hiểu mình cần phải đi sâu hơn.
Tất cả năng lực của Sư bà chỉ tập trung
vào nghi tình này, khi bước chân đưa Sư bà
đi khắp đất nước. Mong muốn được biết câu
trả lời thật là mãnh liệt, nhưng chẳng có câu
trả lời nào từ nội tâm. Sự khao khát biết được
câu trả lời tối thượng cho thoại đầu, “Hãy chết
mới thấy được chính con”, quá sức mãnh liệt
khiến Sư bà cảm thấy cuộc đời không còn có
ý nghĩa nếu không biết được câu trả lời. Kết
quả là nhiều lần Sư bà đã tự vẫn nhưng không
thành. Sư bà bước đi vô định. Điều bận tâm
duy nhất là phải chết ở chỗ nào không phiền ai
chôn xác. Bước chân Sư bà dừng lại trên vách
đá nhìn xuống sông Han. Nhưng ngay giây


 





Không có sông nào để vượt qua 15

phút nhìn xuống dòng sông, Sư bà quên hẳn
chuyện muốn chết. Hẳn Sư bà phải đứng đó
cả nửa ngày trời, nhìn dòng nước. Đột nhiên
ra khỏi định, nước mắt Sư bà tuôn trào không
sao kềm giữ được. Sư bà hiểu ra rằng, “Nước
mắt của ta phải thành cả đại dương, một đại
dương ta sẽ uống cạn”.
Sư bà khóc trong niềm hân hoan vì thấu
hiểu được làm thế nào để tiến tu. Nước mắt
đó không chỉ là sự đồng cảm đơn thuần, mà
chính là được nhập làm một, tan hòa với mọi
nỗi khốn khó, đau khổ của chúng sanh. Hơn
thế nữa, từ đây Sư bà biết khi đã hòa nhập
được, Sư bà sẽ thể hiện tính nhất nguyên, từ
trong bản thể (foundation) nhập làm một với
những ai đang đau khổ. Theo cách này Sư bà
có thể giúp không những từng cá nhân mà còn
cả hành tinh nữa.
Sư bà sống trong rừng thêm mười năm
nữa. Chẳng bao giờ Sư bà so sánh mình với
người khác, và cũng chưa từng mãn nguyện
với những gì mình đã nhận ra. Sư bà chỉ tiếp
tục tiến tu trong khi vẫn thành tâm áp dụng
cùng thử nghiệm những gì Sư bà đã khám
phá, không chấp thủ vào bất cứ kinh nghiệm
hay hiểu biết nào.


 





16 Không có sông nào để vượt qua

Tu tâm không ngưng nghỉ cùng thử nghiệm
những hiểu biết và chứng đạt, Sư bà không
hề bận tâm về thân. Khi cảm thấy cần ăn một
chút, Sư bà ăn bất cứ cây cỏ gì quanh đó. Đôi
khi tìm được nấm dại hay trái rừng; có lần
được một nông dân cúng ít đậu khô. Sư bà
trải qua nhiều mùa đông ở dưới gốc thông hay
trong cái hố đào ở bờ cát gần sông. Có nhiều
mùa đông, y phục Sư bà chỉ là một bộ quần
áo mùa hè. Da Sư bà bị nứt nẻ và chảy máu
thật tệ hại, xương lòi da, Sư bà cột tóc túm lại
với dây cây hoàng tinh. Nhưng người nào gặp
Sư bà, tâm đều bị chấn động bởi đôi mắt sáng
của người.
Nhìn lại nhiều năm tu tập của Sư bà, mọi
người thường nghĩ Sư bà đã chịu nhiều khổ
sở, nhưng riêng Sư bà lại không nghĩ sự tu
tập khổ đến như vậy. Sư bà không chủ ý tự
dấn thân vào những thử thách gay go của khổ
hạnh, nhưng chỉ là vì tất cả mọi chú tâm của
Sư bà đều dồn vào bản tâm.
Đối với Sư bà chẳng hề có việc buông xả
hay không buông xả. Sư bà chỉ tận dụng tất cả
sự tỉnh giác tập trung đến bản thể đã tạo nên
Sư bà. Sư bà không hề chú ý đến những việc
bên ngoài mà chỉ quán sát những gì chạm đến


 





Không có sông nào để vượt qua 17

cái tâm bên trong. Cũng y như ngồi yên lặng
trên bải cỏ, nhìn ngắm với tâm bình an. Trong
khoảng thời gian một năm, nội việc cố gắng
suy nghĩ cũng làm khuấy rộn Sư bà, nên dù
tư tưởng có khởi lên, Sư bà cũng không đeo
đuổi nữa. Khi tu tập như vậy, đôi lúc câu giải
đáp bất ngờ hiện ra, hay có khi mãi về sau mới
xuất hiện.
Trong lúc tu tập, có nhiều câu hỏi khởi lên
từ bên trong, chẳng hạn, “Tại sao một chân
của ta lại lớn hơn chân kia?”. Nhưng khi nhìn
xuống thì hai chân đều đồng cỡ! Khi những
tư tưởng khởi lên như thế, Sư bà tập trung suy
nghĩ thật sâu sắc, không cần biết trời sắp tối
hay trời lạnh đến chừng nào. Sư bà không chủ
ý tu tập như vậy, nhưng nó chỉ đến một cách tự
nhiên. Sư bà còn không cảm nhận được thân
thể của mình. Dù mắt nhắm nhưng tâm trí bên
trong thì thanh tịnh, sáng rỡ. Có lần Sư bà ngồi
nhiều ngày không động đậy khiến sau đó thân
thể tê cứng, không thể nào nhấc tay chân.
Sư bà hồi tưởng lại, “Dù ta té xỉu gần chết
hàng chục lần nhưng không chết. Ta không
chết đói, không bị lạnh gần chết, cũng chẳng
bị thú dữ làm tổn thương. Mỗi khi gần chết, lại
có tư tưởng khởi lên giục ta phải đi đến đâu để


 





18 Không có sông nào để vượt qua

tìm thứ đang cần. Có lần, đang đi trong đêm,
tự nhiên ta không nhấc được chân, y như bị
đông cứng. Khi nhìn quanh, mới biết là ta chỉ
cách một bước đến bờ vực thẳm. Quý vị có
biết cái gì làm chân ta tê cứng như vậy không?
Chuyện này xảy đến cho ta quá nhiều lần, ta
biết không phải là việc ngẫu nhiên.”
Trong một buổi giảng pháp, Sư bà kể về
những kinh nghiệm của mình: “Chính bản
tâm của ta đã làm mọi chuyện. Bản tâm đã
đưa ta đến những hoàn cảnh nguy hiểm, và
cũng chính bản tâm đã giữ ta không bị chết.
Ta chưa từng bị thương hay bị hại khi sống
trong núi rừng, dù ta chỉ là một người đàn
bà bé nhỏ, yếu ớt. Ta vượt qua được mọi thứ
trong hơn mười năm, cho dù ta chưa bao giờ
mang theo thực phẩm hay chuẩn bị áo quần
cho mùa đông. Tất cả đều nhờ sức mạnh của
chân tâm.”
Có lần Sư bà nói, “Những gì ta thể nghiệm
vào thời kỳ cuối của mười năm đó không thể
diễn tả được. Cho dù có kể, không ai có thể tin
ta. Một lần, con rồng khổng lồ hóa hiện hằng
ngàn hình dạng khác nhau, thật là tuyệt đẹp.
Ngọc mani rơi ra từ miệng rồng, kết thành xâu
chuỗi. Bất chợt ta có cảm tưởng rồng chẳng
phải là rồng. Đó chỉ là hóa hiện của một niệm


 





Không có sông nào để vượt qua 19

từ bản thể mà thôi. Sau đó, rồng bay lên trời,
chỉ để lại một cột lửa khổng lồ. Hình chữ
“Vạn” bay trên đầu cột lửa. Toàn cột lửa từ
từ chuyển động rồi hình như mọi thứ quanh ta
cũng nối kết và chuyển động cùng với cột lửa.
Chứng nghiệm được những điều đã trải
qua, Sư bà xác nhận được năng lực vô hình
của vũ trụ và tự thanh lọc thân tâm để có thể
sử dụng năng lực đó. Sư bà cảm nhận hình
như mình có thể nắm trong tay quyền sinh sát
toàn vũ trụ. Sư bà khởi sự tìm hiểu hành tinh,
Thái dương hệ, dãy Ngân hà và vượt cả dãy
Ngân hà chúng ta. Sư bà cũng đặc biệt chú ý
đến bệnh hoạn vì thấy nó gây quá nhiều đau
khổ. Sư bà cũng thử dùng năng lực của tâm để
chữa bệnh dân trong vùng, rồi còn xem bệnh
đã tác hại như thế nào. Sư bà thử nghiệm,
không chỉ với bệnh hoạn mà còn trong những
vần đề về gia đình và xã hội.
Về sau, khi vẫn còn trong rừng, Sư bà thấy
một nguồn ánh sáng lớn, chói lòa. Lúc đó Sư
bà đang ngồi thiền và bất chợt được vây phủ
bởi một nguồn ánh sáng vô cùng chói chang.
Ánh sáng trải rộng khắp nơi, hằng cây số và
Sư bà cảm nhận một niềm an lạc, sung mãn bất
khả tư nghị. Khắp nơi phủ đầy ánh sáng, ánh
sáng như trùm phủ cả những chỗ nhỏ bé nhất


 





20 Không có sông nào để vượt qua

trong không gian. Sau lần chứng nghiệm này,
ánh sáng luôn bao phủ Sư bà, Sư bà cảm như
mọi thứ, mọi vật đều giúp đỡ Sư bà.
Sư bà nói, “Tôi không bao giờ tu tập để
thành Phật hay để giác ngộ. Tôi chỉ muốn biết
tôi là ai, tôi là gì, tại sao tôi lại được sinh ra.
Sau khi hiểu ra thân thể không phải là tôi, ý
thức không phải là tôi, sự quyết chí không
phải là tôi, tôi chỉ muốn biết thực sự tôi là gì,
khi gạt bỏ hết mọi thứ kia.”
Có người hỏi Sư bà đã chứng đắc được gì
khi tu tập trên núi. Sư bà trả lời, “Mọi người
cứ nghĩ có nhiều giai đoạn chứng đắc cụ thể
khi tâm đã sáng tỏ. Tuy nhiên trên thực tế, ‘Vô
chứng’ mới là nguyên tắc chính cần chứng đạt.
Nếu bạn nói đã chứng đạt, đã đến nơi, đã nhận
ra được điều gì đó, là bạn đã không chứng đạt,
không đến nơi, không thức tỉnh. Không đến,
không chứng đắc, không sáng tỏ được điều gì
chính là con đường để đến, để chứng đắc, để
sáng tỏ.”
Một người khác lại hỏi, nếu cần chứng đạo,
có phải lên núi tu tập như Sư bà không? Sư
bà trả lời, “Dĩ nhiên là không. Điều cốt tủy
là phải đem tâm tu tập, chứ không phải thân.


 





Không có sông nào để vượt qua 21

Tôi chỉ tu tập với những khó khăn phải đương
đầu, và những gì xảy ra là do hoàn cảnh riêng
tôi. Hồi đó tôi nghèo, không còn chỗ nào để
đi nên phải tu tập như vậy. Bất kể hoàn cảnh
của quý vị như thế nào, hãy đem hết tâm mà
tu tập.”
Khoảng cuối những năm 1950, Sư bà sống
trong một túp lều nhỏ, dưới chùa Sangwon
ở núi Chiak chừng vài trăm mét. Sư bà sống
thêm mười năm ở đó và trong vùng quanh
thành phố Wonju, giúp đỡ những ai Sư bà gặp,
và học hỏi được thêm nhiều kinh nghiệm đa
dạng. Nghe đồn có Sư bà sống ở đó, nhiều
người đến gặp Sư bà xin được giúp đỡ về
những khó khăn gặp phải. Khi họ kể về những
khổ nạn, Sư bà xem như vấn đề đó là của
chính mình. Sư bà lắng nghe và chỉ nói, “Tôi
hiểu. Mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp”. Người ta từ
tạ, biết là những điều khó khăn của mình rồi
sẽ được giải quyết.
Họ đến gặp Sư bà để xin giúp đỡ với những
vấn đề đang trực diện, nhưng trước sau gì thì
các chuyện khác lại xảy đến. Cho dù lo được
cho từng trường hợp cá biệt, nhưng Sư bà có
thể thấy là cũng không thể giúp họ đến tận
căn bản. Bởi thế, Sư bà tùy nghi dạy cho họ


 





22 Không có sông nào để vượt qua

biết nương tựa vào tánh Phật của chính mình,
vào bản tánh sẵn có, cùng dạy họ biết chính
Phật tánh đã hướng dẫn, giải quyết các vấn đề
cho họ. Có như vậy họ mới thoát ra được ràng
buộc của luân hồi, nghiệp báo, sống đời tự do.
Năm 1972, Sư bà dời về thành phố Anyang,
phía nam của Hán thành và lập Trung tâm
thiền Hanmaum (Nhất tâm) đầu tiên. Sư bà
khởi sự dạy mọi người về bản tâm thực sự
của họ và làm thế nào để nương tựa bản tâm.
Nhiều người bị lôi cuốn bởi cách giảng dạy
của Sư bà vì Sư bà chỉ cho họ biết làm thế
nào để tu tập trong cuộc sống thường nhật,
bất kể họ bận rộn đến như thế nào, bất kể làm
việc gì, gia cảnh ra sao. Theo thời gian, Phật
tử ở những vùng xa hơn cũng xin Sư bà mở
thêm những trung tâm thiền Hanmaum trong
địa phương họ.
Cứ như thế, đến năm 2007, đã có mười
lăm chi nhánh ở Đại Hàn và mười chi nhánh
ở ngoại quốc. Sư bà còn là giáo thọ cho hơn
180 sư cô, nhiều người trong số đó làm việc
tại trung tâm và giúp đỡ khách đến trung tâm.
(Thuần Tỉnh dịch)


 














NỘI DUNG


PHẦN I: NHỮNG NGUYÊN TẮC                  25
Chương mt: Những vấn đề chủ yếu         27
Chương hai: Chân lý bất diệt             34
Chương ba: Tâm và khoa học            58
PHẦN HAI: TRAU DỒI TÂM                   65
Chương bn: Yếu tính của tâm            67
Chương năm: Niềm tin là chìa khóa          77
Chương sáu: Quán
Phó thác và quan sát            80
Chương by: Chứng ngộ               107
PHẦN BA: ÁP DỤNG LÝ NHẤT TÂM              119
Chương tám: Cốt tủy của Phật giáo nằm trong
ứng dụng và kinh nghiệm        121
Chương chín: Thực hành trong đời sống
thường nhật                124
Chương mười: Tôn giáo và đời sống
thường nhật                138


 



 











































PHẦN I
NHỮNG NGUYÊN TẮC


 



 
























Chương mt
Những vấn đề chủ yếu


Ta là ai?
Trên mọi thứ, bạn phải thực sự biết chính
mình. “Ta là ai?” và “Ta là gì?” là những câu hỏi
quan trọng nhất. Có lẽ bạn nghĩ, “Tôi là tôi. Tôi
là gì khác chứ?” Nhưng không đơn giản thế.
Làm sao bạn hiện hữu? Nếu bạn nói rằng cha
mẹ bạn sanh ra bạn, điều này ngụ ý rằng bạn chỉ
là sự kết hợp sinh học của tinh cha và trứng mẹ.
Bạn chỉ là thế thôi sao? Không! Có một thứ là
bản thể, gốc rễ của bạn, đó là chân tánh của bạn.
Bạn phủ nhận gốc rễ này chỉ vì bạn không thể
thấy nó sao? Kinh nghiệm về gốc rễ này đối với
chính bạn là việc phải làm khi bạn làm người.


 





28 Không có sông nào để vượt qua

Toàn thể vũ trụ hình thành sau khi bạn sinh
ra. Thế giới hiện hữu, gia đình bạn hiện hữu,
và mỗi một vật mà bạn bắt gặp cũng đang hiện
hữu. Nếu bạn không hiện hữu thì chân lý và thế
giới này có nghĩa gì với bạn? Cái gì thấy nghe,
ngồi, đứng, nói năng, phản ứng với hoàn cảnh
vào bất cứ lúc nào, nơi nào? Bạn phải biết rõ
ràng chân tánh, nguồn gốc thực sự của bạn.
Thân xác là một loại vỏ, nhưng có cái gì khác
khiến nó chuyển động. Thế mà, nhiều người
cảm thấy rằng thân xác thực sự là “tôi”. Thật ra,
cái ngã này giống như một bao bố. Khi thân trở
nên kiệt quệ và sẵn sàng bị ném bỏ, những vật
bạn chất chứa suốt đời như “cái của tôi” còn
dùng được gì?
Hãy nhớ rằng xác thịt của bạn không bền
lâu mà thoáng qua như quần áo thay đổi. Quan
sát tư tưởng cũng vậy. Trong khi quan sát, phải
biết rõ cái được gọi là “tôi” chỉ có mặt tạm thời,
bất thực. Biết rằng cái “tôi” này không thể thoát
khỏi đau khổ, và sẽ bị tan hoại trong đau khổ.
Nhưng mọi vật là thế sao? Không! Có chân ngã,
chịu trách nhiệm thay y phục cũ và mặc y phục
mới.


 





Phần một: Những nguyên tắc 29
Phật là gì?
Chữ “Phật” thường để chỉ một người giác
ngộ, nhưng Phật không tùy thuộc vào người
giác ngộ. Chân lý không tùy thuộc những lời
dạy của bậc giác ngộ. Dù những lời dạy đó là
cách tốt nhất để tìm chân tâm; chân lý là chân
lý bất kể có người giác ngộ hay không. Ngay cả
chữ “Phật” cũng chỉ là danh từ, bạn phải tìm ra
mình thực sự là gì. Đó là lý do Phật Thích-ca
Mâu-ni nói, “Thắp lên ngọn đèn chánh pháp
bằng ánh sáng ngọn đèn bạn sẵn có”.
Phật bao gồm từng vật một mà không có dấu
vết nào của “ta” hay “ta đã làm...” Nếu đức Phật,
Bồ Tát và những vị chứng ngộ ngự ở trên một
cõi giới cao, các ngài không bao giờ có thể săn
sóc khắp pháp giới. Trí óc và mắt thịt của phàm
ngu không bao giờ có thể hiểu thấu được Phật
thật. Phật thật không hình tướng, vì thế không
gì có00 thể so sánh. Không thể nương tựa vào
những pháp sư, Tổ sư, đại sư, bậc giác ngộ, Bồ
tát hay chư Phật nào, vì trong chữ “Phật” không
có Phật. Nhưng ai đã giác ngộ thì có thể thấy
Phật khắp nơi.
Phật ở trong tâm bạn. Tất cả chúng sanh, Tổ
sư, người giác ngộ và đức Phật trùm khắp vũ trụ


 





30 Không có sông nào để vượt qua

và quá khứ, hiện tại, vị lai – tất cả đều ở trong
tâm bạn. Bạn cố gắng vất vả tìm gì bên ngoài?
Vì bạn có mặt nên Phật hiện hữu. Hình
bóng của Phật là hình bóng của bạn, và tâm
Phật là tâm bạn.

Phật tánh là gì?
Phật tánh là đời sống căn bản và vĩnh cửu của
bạn, và là bản thể bao trùm toàn thể vũ trụ. Tuy
nhiên, hầu hết người ta không nhận ra bản thể
này đã có sẵn trong họ. Nếu bạn ngộ được Phật
tánh trong bạn, ngay lúc đó bạn thành Phật.
Phật tánh có trước trời đất, bất diệt và bất tử,
cả khi vũ trụ sụp đổ và không gian tự biến mất.
Phật tánh bao gồm mọi hiện tượng hữu hình
hay vô hình trong vũ trụ, và Phật tánh ở ngay
trong mỗi con người. Như thế, trong mỗi chúng
ta, có khả năng bẩm sinh săn sóc mọi vật, hữu
hình lẫn vô hình.
Có Phật tánh trong mọi sinh vật, và mọi sinh
vật là Phật sẵn có. Thường người ta nghĩ rằng,
sau khi trèo non vượt suối và trải qua nhiều khó
khăn, họ có thể tìm Phật tánh ở một nơi xa lạ
nào đó. Nhưng không đúng vậy, kho tàng chân
thật ở trong bạn.


 





Phần một: Những nguyên tắc 31

Có thể thành Phật ngay dù bạn không biết gì
cả. Ai ai cũng có thể thành Phật. Nếu kho tàng
chân thật được chôn dấu nơi nào xa xôi khó
đến, làm sao chúng ta có thể nói rằng mọi người
cùng có Phật tánh như Phật? Chân lý mà Phật
dạy ứng dụng cho mọi người mọi vật.

Phật pháp là gì?
Phật pháp là chân lý và nguyên tắc nhờ đó
mọi thứ vận hành. Điều này gồm những cõi hữu
hình, vô hình, và tất cả chúng sanh đều ở trong
đó. Đó là sự thật mà tất cả chư Phật đã giác ngộ
và dạy từ ngàn xưa.
Phật pháp chỉ chúng ta mục đích cuộc đời và
dạy chúng ta Đạo. Nếu không biết mình là ai,
thì chúng ta không biết dựa vào đâu, hay ngay
cả tại sao mình sống. Phật pháp chỉ chúng ta
biết mình là ai và cuộc đời là gì.
Phật pháp không bao giờ tàn lụi như sự có
mặt của con người, vì nó hoạt động xuyên qua
cuộc sống hằng ngày của mọi sinh vật từng phần
một. Phật pháp không bị mau diệt như ba cõi, vì
hoạt động của ba cõi chính là Phật pháp. Nhìn
theo cách khác, Phật là đời sống vĩnh hằng mà
có mọi hình thức tồn tại, và Pháp là những tư
tưởng và hành động của những đời sống này.


 





32 Không có sông nào để vượt qua

Thật không dễ gặp được cốt tủy của Phật
pháp, ngay cả hằng triệu kiếp, không phải vì
Phật pháp khó hiểu, mà vì tâm người làm nó
khó. Dù có nhiều bài giảng cao siêu và khó trên
thế giới, nhưng Phật pháp vĩ đại không phải vì
nó cao siêu và khó, mà vì nó đơn giản và dễ chỉ
chân lý cho mọi người.

Phật giáo là gì?
Phật giáo hoạt động khắp nơi và bao trùm
mọi vật không giới hạn. Hãy ví dụ chữ Phật
giáo bằng tiếng Hàn, Bulgyo. Âm Bul đầu, chỉ
cho nguồn căn bản của mỗi cuộc sống, gồm
cả ngọn cỏ, và âm thứ hai gyo, chỉ cho sự học
hỏi lẫn nhau, chúng ta tương giao qua tiếng nói,
tâm và hành động. Vì thế chữ “Phật giáo” nghĩa
là tương giao với nhau qua bản thể, qua bản thể
của cuộc sống, và qua đó lắng nghe nhau, học
hỏi lẫn nhau. “Phật giáo” là một mô tả về cách
vận hành của toàn thể vũ trụ và cũng là một
giải thích về chính chân lý. Tôn giáo, về cơ bản
không quan trọng, cốt tủy của những bài pháp
là bản thể của muôn vật hiện hữu bên trong,
không ở bên ngoài.
Mục đích học Phật là khám phá ta là ai. Khám
phá “ta là ai” nghĩa là trở về bản thể. Tu tập Phật


 





Phần một: Những nguyên tắc 33

giáo là tin vào chân ngã của mình, không phải
là “tôi” nhãn hiệu, mà chúng ta lầm là bản tánh
của mình. Khi chúng ta quên cái “tôi” này, thì
chân ngã luôn luôn có mặt của chúng ta, sẽ
chiếu sáng.


 





















Chương hai
Chân lý bất diệt


Hanmaum
Han nghĩa là một, vô hạn, kết hợp và ma-
um là tâm. Hanmaum là bản tâm không thể
nghĩ bàn, không thể thấy, vượt trên thời gian
và không gian, vô thủy vô chung. Nghĩa là tất
cả tâm, chúng sanh, thế giới, và vũ trụ được
liên kết và đang cùng vận hành như một. Nói
cách khác, Hanmaum – nhất tâm – bao gồm
toàn thể vũ trụ và tất cả sinh vật trong nó.
Mỗi mỗi sinh vật và sự vật trong vũ trụ có
sẵn Phật tánh vô thủy, hiện tiền và sẽ còn mãi
mãi vô chung.
Phật tánh là duy nhất, vì thế là nhất tâm.


 





Phần một: Những nguyên tắc 35

Nó rộng lớn không thể nghĩ bàn, vì thế là
nhất tâm.
Nó không phải là một cá thể, nhưng liên kết
toàn thể, trong nó tất cả đang cùng vận hành,
vì thế là nhất tâm.
Muôn vật đến từ nó, vì thế là nhất tâm.
Tâm của tất cả sinh vật trong thế giới là một.
Cơ bản, không có “anh” hay “tôi” tách rời riêng
ra. Đời sống vốn đã là một, đời sống vốn đã là
Phật. Tâm của tất cả sinh vật đang hoạt động
với nhau như một, vì thế được gọi là nhất tâm.
Dù mỗi sinh vật có thân xác riêng, chúng vốn
đã không phải là hai.
Toàn thể vũ trụ được nối kết trực tiếp đến
bản tâm mọi người và mọi sinh vật. Mọi vật
hoạt động và vận hành trong thế giới đã sẵn
sàng nối kết với sự thành hình của chúng ta.
Mọi vật trong toàn thể vũ trụ, gồm cả cõi hữu
hình và vô hình, được nối kết và cộng thông
như một. Không vật nào hiện hữu tách rời
khỏi vật khác, tâm của tất cả Phật là tâm sẵn
có của bạn, và pháp của tất cả Phật là pháp của
bản tâm và cuộc sống hằng ngày của bạn. Nhất
tâm nối kết mọi vật như một, đúng như cùng
dòng điện thắp sáng đèn này và đèn khác.


 





36 Không có sông nào để vượt qua
Chủ nhân Không
Chủ nhân Không là bản tâm mà mỗi chúng
ta có sẵn, và tâm được kết nối trực tiếp đến mỗi
sự vật. Qua sự kết nối này, Chủ nhân Không
hoạt động cùng với mọi vật như một.
Chủ nhân Không là bản thể thực của tôi.
Thân và ý của tôi giống như cành và lá mọc ra
rồi biến mất. Chủ nhân Không là rễ tạo thành
cành và lá mới, khi những cái cũ gẫy và rơi rụng.
Nếu tôi là trái, Chủ nhân Không là cuống giữ
vững trái. Nếu tôi là cuống, Chủ nhân Không
là cành để trái đong đưa. Nếu tôi là cành, Chủ
nhân Không là thân mà cành từ đó mọc. Nếu
tôi là thân, Chủ nhân Không là rễ, rễ là bản thể
của cây – tất cả thân, cành, lá, và trái đến từ nó.
Cũng thế, tất cả tư tưởng, mọi hành động và
tất cả công đức của tôi khởi lên từChủ nhân
Không.
Tại sao lại gọi là Juingong -Chủ nhân Không?
Đó là người tạo tác, vì thế gọi là chủ nhân, và
hoàn toàn trống rỗng, luôn thay đổi, không
hình dáng cố định, đó là không. Như thế, Chủ
nhân Không có nghĩa bản thể, yếu tính cơ bản
của bạn, đang luôn thay đổi và biểu hiện. Yếu
tính của bạn dựa trên Chủ nhân Không. Bạn
là gì trước khi cha mẹ sanh ra? Một con người


 





Phần một: Những nguyên tắc 37

không chỉ là sự kết hợp giữa tinh dịch và trứng,
phải cóChủ nhân Không kết hợp vào nữa.
Cuộc sống của bạn vàChủ nhân Không giống
như một cây sống được nhờ rễ. Tuy nhiên,
đừng nghĩ Chủ nhân Không như vật gì cố định
và tĩnh tại như rễ cây. Chủ nhân Không là bản
thể của bạn và là người tạo tác mọi vật, vì thế
còn được gọi là Phật. Như thế nếu bạn nhận ra
Chủ nhân Không, bạn cũng sẽ biết Phật thực
sự là gì.
Bạn có thể gọi Chủ nhân Không là “cha” hay
“mẹ”. Cũng thế, bạn có thể gọi là “chủ nhân của
tâm”, “tâm bình thường”, “tịnh thủy”, “nước ban
sự sống”, hay “cột trụ của tâm”. Bạn có thể gọi
Chủ nhân Không là “Đấng tạo tác mà không sở
hữu”, hay bạn có thể gọi là “Phật A-di-đà” hay
“Phật Bổn Tôn”. Bạn có thể gọi là Thượng đế
hay “tình yêu của tôi” vì nó là bản thể. Không
bao giờ có thể định hình Chủ nhân Không vì
nó có thể trở thành mọi thứ. Chủ nhân Không
là cha mẹ mà cũng là con cái, người cao cả
nhất cũng như người thấp hèn nhất. Chủ nhân
Không là chân ngã dẫn dắt bạn, dù gọi là gì đi
nữa. Chủ nhân Không là “yếu tính chân thật
của tôi” và “tâm của tâm tôi”.
Chủ nhân Không bất sanh bất diệt. Chủ
nhân Không là chân ngã vô hạn và vĩnh cửu,


 





38 Không có sông nào để vượt qua

không thể trông thấy bằng nhục nhãn và không
thể nhận biết bằng tư tưởng. Nó không bao giờ
yếu ớt và tiêu diệt vì nó là thanh tịnh tuyệt đối
và có năng lực vĩ đại của trí tuệ sáng chói. Nó là
chân ngã có khả năng vô hạn. Phàm ngu hiện
hữu trong những hình dáng khác nhau, với tên
khác nhau, ở trình độ khác nhau, và sanh ra
rồi chết đi. Tuy nhiên, Chủ nhân Không cũng
gọi là Phật hay “Phật sẵn có” chỉ là nó, ngay cả
khi một trở thành mười ngàn và mười ngàn trở
thành một. Qua Chủ nhân Không, phàm ngu
và Phật gặp nhau, và không phải là hai.
Chủ nhân Không không hiện hữu nơi nào
khác. Người muốn tìm sẽ tìm ra trong chính
mình. Khi chúng ta nấu ăn, chúng ta sửa soạn
vật liệu, kết hợp chúng, và làm thành bữa ăn
ngon lành. Cũng thế, trong cuộc sống khi bạn
muốn và cần, chân tánh của Chủ nhân Không
sẽ biểu lộ trong đời sống thường nhật của bạn.
Chủ nhân Không là một lò nung khổng lồ,
luôn luôn hoạt động với năng lực tinh thần sâu
xa và chân thật của tất cả chư Phật, gồm tất
cả cõi hữu hình và vô hình. Lò nung này nằm
trong bạn. Giống như sắt tan chảy trong lò, lò
này biến những giọt nước mắt thành lòng trắc
ẩn, và tất cả khổ đau được tái sanh thành lòng
biết ơn. Bất cứ tai họa hay nghiệp đau đớn nào


 





Phần một: Những nguyên tắc 39

cũng chỉ như bông tuyết trước nó. Chủ nhân
Không là bí nhiệm sâu xa của tâm mà mọi
người được phú cho, là năng lực lạ thường của
Phật tánh mà mọi sinh vật đều có. Đây là đức
hạnh nhiệm mầu của Chủ nhân Không.
Bạn không nên nghĩ Chủ nhân Không như
cái ngã tách biệt, cá nhân thuộc về một mình
bạn. Chủ nhân Không nghĩa là toàn thể. Chủ
nhân Không bao gồm và giữ vững mọi vật
trong vũ trụ, và săn sóc mọi vật trong tất cả cõi
hữu hình và vô hình. Đây là Chủ nhân Không.
Làm sao có thể phân chia Chủ nhân Không
của tôi và của bạn?
Chân thực tại của tôi
Một con người là kết quả của ba thứ: bản
thể vĩnh cửu kết hợp với thân xác và ý thức. Ba
thứ này hoạt động hài hòa với nhau.
Tình trạng trước khi tư tưởng xuất hiện,
hành động khởi lên tư tưởng, và thân cùng làm
việc như một. Đây gọi là “hoạt động như một
tâm”.
Yếu tính của Chủ nhân Không là trong hoạt
động của bản thể vĩnh cửu kết hợp với ý và
thân. Ba thứ này chia sẻ mọi vật với nhau, hỗ
trợ nhau và sống như một. Chủ nhân Không


 





40 Không có sông nào để vượt qua

này có khả năng đưa ra và đem vào mọi vật.
Cái ngã hữu hình là dụng cụ vật chất của cái
ngã vô hình. Chủ nhân Không không hình
tướng và không thể nhận biết nhưng nó là yếu
tính làm chúng ta chuyển động.
Tại điểm bản thể vĩnh cửu, những nhận thức
khởi lên tư tưởng và thân, tất cả giao nhau. Ba
thứ này làm việc chung và biểu hiện ra thế giới.
Khi ba thứ này hài hòa với nhau, chúng biểu
hiện như một người dẫn đường khôn ngoan,
như một vị thầy.

Thân xác và tứ đại
Thân chúng ta chỉ là một tổ hợp tạm thời
do đất-nước-gió-lửa kết hợp tạo thành. Chúng
duyên hợp theo nghiệp lực và sau đó chúng
tan rã theo nghiệp lực. Như thế qua thời gian,
bạn đã từng sống và chết. Bất cứ gì lệ thuộc
sống và chết chỉ là huyễn hóa, không thể gọi
là chân thực tại, bất biến, chưa bao giờ sanh và
chưa bao giờ diệt. Thân chúng ta thường được
gọi là huyễn hóa vì nó cũng là một kết hợp tạm
thời.
Như những đám mây tụ rồi tan và lại tụ
thành những đám mây khác nhau, thân người
sẽ có ngày tan rã trở về với tứ đại. Và theo hoàn


 





Phần một: Những nguyên tắc 41

cảnh, tứ đại lại sẽ nhóm họp và mang hình
tướng khác. Tuy nhiên đừng cảm thấy mọi sự
đều vô ích vì ý tưởng “thân bạn sẽ tan thành tứ
đại”. Thay vì thế, bạn nên hiểu nguyên lý tan
hợp của mọi vật. Hành giả Phật pháp không
thấy sự hiện hữu của mình là vô ích vì họ nhận
biết rằng sự rất vô thường của thế giới giúp họ
ngộ được chân lý.
Nếu chúng sinh chỉ là sự kết hợp tạm bợ
thì đâu là chân ngã, Chủ nhân Không? Nó có
hiện hữu ngoài sự kết hợp tạm bợ này không?
Không! Nó không tách biệt. Chủ nhân Không
không tách riêng khỏi cái ngã giả dối. Vậy chân
ngã ở đâu? Trong tay? Chân? Tim? Óc? Không
ở chỗ nào cả! Bạn không thể tìm ra chân ngã
khi quan sát thân, nhưng dù sao, nó hiện hữu
trong bạn. Chủ nhân Không, chân ngã là chỗ
dựa của ngã hư dối. Chân ngã của bạn hình
thành thân xác và tương tác với Phật giới.
Trong tất cả điều này, hoạt động của bản tánh,
Chủ nhân Không của bạn là sự hiển thị của
chính chân lý. Rất mầu nhiệm và sâu xa!
Phải có thân để biết Phật pháp. Bạn cần
biết rằng ném bỏ thân thì không cách nào biết
Phật pháp. Nghĩ rằng thân vô giá trị và phải vứt
bỏ, vì nó chỉ là một kết hợp tạm bợ, là một ý


 





42 Không có sông nào để vượt qua

tưởng cực kỳ sai lầm. Không thân, bạn không
thể phát triển, không thể mở mang trí tuệ, và
không thể thành Phật. Vì có người con, bạn
có thể biết cũng có cha mẹ; vì có người giúp
việc, bạn nhận ra ông chủ cũng phải có. Nhờ
hiểu biết hiện tượng hữu hình, bạn có thể hiểu
được lý tánh vô hình, bản thể phi vật chất đã
làm khởi lên và sinh sôi tất cả hiện tượng hữu
hình, và nó luôn hoạt động chung với mọi vật
như một.
Vì có cây, bạn có thể biết rễ; vì có trái, bạn
có thể biết hạt. Cũng thế, ngay dù thân chỉ là
theo nghiệp chướng, kết hợp tạm bợ của tứ
đại, qua nó bạn có thể biết bản thể, Chủ nhân
Không - Nhất Tâm, bản thể của tất cả sự sống
và mọi hiện tượng.

Chân tánh của tôi
Chúng ta từ đâu đến? Chúng ta đến từ
Chủ nhân Không, chân ngã của chúng ta, vì
thế chúng ta phải tìm chân ngã của mình. Khi
chúng ta tiến triển qua nhiều đời, chân ngã
luôn có mặt với ta. Tuy nhiên chúng ta không
biết điều này trừ khi cố gắng tìm nó. Nhận ra
rằng mọi vật đến từ chân ngã. Thân xác như lá
hay cành đến từ rễ chân ngã. Làm sao bạn có


 





Phần một: Những nguyên tắc 43

thể quên rễ mà gọi cành lá là “tôi”? Hãy biết rễ!
Sinh là sự kết hợp của xương cha và thịt mẹ
với đời sống và tâm của bạn đã qua hằng triệu
kiếp. Khi “tôi”, cái ngã hư huyễn bất giác bị
quên hoàn toàn, có gì đó vĩnh cửu. Đó là Chủ
nhân Không, cái ngã vĩnh cửu không hề sanh
tử. Đó là cái ngã quý giá và hạnh phúc vô song,
không bao giờ sanh diệt, không hề tăng giảm,
và không bao giờ dơ hay sạch. Nhưng người
thường không thể gặp cái ngã vĩnh cửu này vì
họ không thể thoát khỏi ngục tù ý thức. Ngã
vĩnh cửu không thể mô tả bằng lời, và không
thể được phát hiện qua bàn luận. Cố gắng hiểu
nó bằng ý thức giống như cố biết thế giới trong
khi mắc kẹt bên trong một cái thùng.
Từ xa xưa, người ta đã khởi lên những tư
tưởng lộn lạo, hão huyền. Những điều này trở
thành bóng tối làm mờ nhất tâm vốn sáng chói
và thanh tịnh, như mặt trời rạng rỡ và bầu trời
trong trẻo bị mây che. Mặt trời và bầu trời bị
che bởi bóng tối lâu đến nỗi người ta quên nó
luôn hiện hữu. Những gì phàm ngu phải làm
là trở lại chân tánh, là vị Phật sẵn có của họ,
là mặt trời và bầu trời. Ngay tư tưởng và thân
hiện tại của bạn chỉ là một đốm mây xám đã
nổi lên từ chân ngã. Không có thực thể về cái


 





44 Không có sông nào để vượt qua

“tôi” mà mọi người nghĩ như chính họ. Tuy
nhiên, nói “tôi” không có thực, không phải vì
không có thực tại như thế mà vì cái được gọi là
“tôi” luôn thay đổi từng khoảnh khắc.

Bất nhị
Khi những đợt sóng nổi lên trên biển, tạo
thành nhiều giọt nước. Tuy nhiên khi sóng
lặng, tất cả chúng trở thành chính nước biển.
Trong trường hợp này, những giọt nước có
thể so với chúng sanh và biển so với bản thể.
Một giọt nước nhỏ được tạo ra giống như một
sinh vật được sanh ra. Một giọt nước nhỏ chìm
xuống giống như một sinh vật từ bỏ thân và
trở về bản thể. Cũng thế, nơi bản thể không có
phân chia anh và tôi. Không có phân chia tổ
tiên của bạn và tổ tiên của tôi. Cuộc sống bản
thể thì mênh mông rộng lớn, nhưng là một.
Nó hiện hữu như nước biển lặng, và theo hoàn
cảnh, biểu hiện thành lớn hay nhỏ. Như những
giọt nước hình thành và biến mất tùy theo gió,
thân chúng ta cũng nổi lên và biến mất.
Vì mọi vật được nối kết và hoạt động như
một. Sự thành lập của vũ trụ là sự thành lập
của tâm. Vì không có gì riêng biệt, chúng ta có


 





Phần một: Những nguyên tắc 45

thể chứng tỏ bất nhị, vì thế không có gì không
phải chính tôi.
Nhìn theo thế giới hiện tượng, mọi vật hiện
hữu một cách riêng rẽ, nhưng nhìn từ bản
thể, mọi vật là một. Về lý mọi vật là một, về sự
chúng riêng biệt. Như thế núi là núi và nước là
nước.
Cả thân này không phải là “cái của tôi”. Nó
là một cộng đồng. Xuyên qua trái đất, có nhiều
loại thú vật. Cũng thế, bên trong thân tôi có
nhiều loại sinh vật khác nhau. Vì thế, dù là
thân tôi, nó không phải cái của tôi, nó là một
cộng đồng. Người không giác ngộ thường nghĩ
thân xác là của họ, nhưng ngay trong mỗi bộ
phận – tim, gan, bao tử,... – có hằng trăm triệu
sinh mệnh, và chúng tự động vận hành với
nhau. Thân này giống như một vũ trụ nhỏ, và
giống như một vũ trụ, tất cả thành phần của
thân hoạt động chung như một. Và tất cả khoa
học và triết học chứa trong thân này.

Nhân và quả
Vũ trụ và thế giới nhân loại liên kết và hoạt
động với nhau như một. Trong thân chúng ta,
vô số tế bào kết nối như một mạng lưới khổng
lồ. Cũng lối này, trái đất và toàn vũ trụ được


 





46 Không có sông nào để vượt qua

kết nối mật thiết và có hệ thống như một tấm
lưới cân đối, hoạt động với nhau như một. Do
đó nếu chúng ta biết điều gì, pháp giới và Phật
cũng biết nó – toàn vũ trụ biết nó.
Vì bạn biết những gì bạn làm, tất cả chúng
sanh trong thân bạn biết những gì bạn làm, vì
vậy nhất tâm, vũ trụ và pháp giới cũng biết. Vì
mọi vật và đời sống được nối kết, không gì bạn
làm là bí mật.
Một lời nói dối là bạn đang tự lừa gạt mình.
Người lừa gạt và người bị lừa là bạn. Bạn không
bao giờ có thể lừa gạt Chủ nhân Không. Chủ
nhân Không là bầu trời, vũ trụ, và pháp giới –
không có gì có thể che giấu nó.
Tâm có thể được ví như một siêu máy tính.
Bất cứ tư tưởng nào khởi lên, được ghi lại
hoàn hảo. Có lẽ bạn tin rằng một tư tưởng kết
thúc vì bạn không quan tâm nó nữa, nhưng tư
tưởng đó không biến mất. Đúng hơn, nó được
ghi lại hoàn hảo trong tâm bạn. Tư tưởng được
chứa trong tiềm thức và gây ra một tư tưởng
tương tợ lần tiếp theo. Hơn nữa, tư tưởng lần
thứ hai mạnh hơn lần thứ nhất. Ví dụ, nếu tư
tưởng thứ nhất xấu, thì tư tưởng thứ hai xấu
hơn một chút. Theo lối này, tư tưởng lặp lại


 





Phần một: Những nguyên tắc 47

nhiều lần, nổi lên càng lúc càng mạnh. Tâm
sẽ bị nghiêng về những tư tưởng thường khởi
lên. Vì thế, nếu bạn không kiểm soát tư tưởng
mình tốt, chúng sẽ lớn mạnh và cuối cùng trở
thành hành động.
Nếu một khi tâm dấy động và khởi tưởng,
tư tưởng đó sẽ được ghi lại hoàn hảo; chức
năng của tâm vô hạn nếu để ý thức của chúng
ta bừng tỉnh.
Nghiệp tốt cũng là nghiệp. Một khi việc gì
được ghi lại, sự ghi lại đó có khuynh hướng
đẩy người ta đi và điều khiển họ. Nghiệp xấu
khiến sanh những quả xấu, và nghiệp tốt sẽ
sanh những quả tốt. Nghiệp dẫn chúng sanh
qua vòng sanh tử, vì thế không có sự khác
nhau giữa nghiệp tốt và nghiệp xấu. Trong một
trường hợp, một người nô lệ đau khổ vì gặp
một người chủ xấu. Trong trường hợp khác,
người nô lệ sống tương đối thoải mái vì gặp
người chủ tốt. Tuy nhiên, cả hai giống nhau, cả
hai là người nô lệ.
Nếu bạn thâu băng, lần thâu trước sẽ bị xóa
và sự kiện mới sẽ được thâu. Vì thế thâu nghiệp
tốt thì tốt hơn thâu nghiệp xấu. Tuy nhiên thay
vì chỉ thâu nghiệp tốt, tốt hơn cả là xóa hết mọi


 





48 Không có sông nào để vượt qua

thứ đã thâu. Cách để làm điều này là phó thác
mọi việc trước mặt bạn, cả tốt và xấu, cho bản
tánh của bạn. Đó giống như lau sạch một tấm
gương. Cho dù gương phủ bụi rất lâu, một khi
bạn lau nó, lập tức nó trở nên sạch trong.
Luật nhân quả giống như một hạt giống
không bao giờ hư: khi đã trồng, nó sẽ luôn
luôn mọc. Nếu bạn trồng một hạt giống tốt,
kết quả tốt sẽ theo đến. Nếu bạn trồng một hạt
giống xấu, kết quả xấu sẽ xảy ra. Nhân và quả
giống như hạt giống luôn luôn mọc. Hơn nữa,
một khi trồng chúng sẽ mọc, có hạt và rồi lại
mọc, mọc nữa.
Có nhiều người sống không quan tâm đến
người khác. Chừng nào họ vui vẻ và có thể đạt
được những gì họ muốn thì họ hài lòng. Nhưng
họ không thể được bình an thật sự vì chỉ làm
lợi ích cho mỗi chính mình. Sự thích thú tạm
thời không thể tháo gỡ vấn đề căn bản. Bạn
phải biết rằng đời sống chúng ta không chấm
dứt với cuộc sống hiện tại. Xa hơn, bạn phải
biết rằng mọi việc, ngay cả những việc bạn
đã làm một cách bí mật, sẽ trở lại với bạn như
nghiệp.
Nghiệp là mớ rối rắm của vô số nhân quả.


 





Phần một: Những nguyên tắc 49

Một số người cố dùng trí thông minh để giải
nghiệp, nhưng điều này giống như cố làm tan
một hồ nước đóng băng vào mùa Đông bằng
cách tưới một thùng nước nóng vào băng. Nó
có vẻ tan một chút, nhưng chẳng bao lâu nước
bạn tưới đông lại, và bạn chỉ có thêm một ít
băng. Vì thế đừng nắm bắt những vật thế gian,
thả tất cả chúng vào bản tâm, và để chúng tự
động tan ra. Khi mùa Xuân đến, hồ băng sẽ
tan tự nhiên và hoàn toàn. Trở về bản tâm của
bạn giống như mùa Xuân ấm áp đến sau mùa
Đông lạnh lẽo.
Không có định mệnh hay số phận. Mọi vật
tùy tâm bạn. Vì bạn không thoát khỏi những
dính mắc, những dính mắc này trở thành
nghiệp và tác động ngay cả gien của bạn. Vì
mọi vật do tâm tạo, chìa khóa hạnh phúc hay
đau khổ là do bạn dùng tâm thế nào.

Nguồn gốc tiến hóa - Luân hồi và tái sanh
Sanh tử là luân hồi, và già đi cũng là luân
hồi. Những mùa đến và đi cũng là luân hồi.
Một giọt nước luân lưu, nuôi nấng và gìn giữ
những sinh vật vô tận cũng là luân hồi. Sự
hình thành và biến mất của những vì sao cũng
là luân hồi. Mọi vật và mọi sinh mệnh đến và


 





50 Không có sông nào để vượt qua

đi vô tận như thế. Chúng không chỉ biến mất
sau khi đã sống. Nếu không có vòng luân hồi,
làm sao một người có thể học về chân lý?
Để được sanh làm người, có lẽ phải tích
chứa công đức cả ngàn năm. Rất khó thành
người. Tuy nhiên, nếu bạn không từ bỏ tập khí
có sẵn trước khi trở thành người, và nếu bạn
chỉ nghĩ cho chính mình, sự đau khổ của bạn
sẽ bất tận. Nếu bạn sống như thế, bạn có thể
phải sống như thế nhiều, nhiều đời, như con
chuột đồng bị mắc trên một bánh xe, không
thể rút ra. Hay bạn có thể bị tái sanh thành thú
vật. Một khi tái sanh thành thú vật, bạn sẽ đau
khổ nhiều, phải ăn thịt loài khác hay bị ăn. Sẽ
có rất ít cơ hội để phản quán tình trạng của
bạn, và nếu bạn tăng trưởng tập khí thú vật, thì
sẽ khó thoát khỏi tình trạng đó hơn, ngay cả
qua hàng tỉ kiếp, hàng tỉ niên kỷ.
Có người nghĩ vòng sanh tử là khổ đau không
thể thoát, nhưng nếu ai tỉnh thức thì sẽ hiểu
rằng luân hồi chỉ là quá trình biểu thị. Đối với
những người không biết mọi vật và mọi sinh vật
biểu hiện và hoạt động với nhau trong khi luôn
thay đổi và không bao giờ đứng yên dù chỉ một
giây, thì sẽ bị tái sanh và đau khổ. Tuy nhiên, khi
họ thức tỉnh, nó chỉ là sự biểu thị.


 





Phần một: Những nguyên tắc 51

Không luân hồi thì không có tiến hóa. Luân
hồi là năng lực mà bạn có thể trở thành Phật.
Như thế luân hồi không phải đau khổ do
nghiệp gây ra, luân hồi là quá trình tiến hóa
và tạo khả năng tu tập. Ngay tại khoảnh khắc
này, chúng ta chết và sanh vô tận. Vì bạn đã
chết trong quá khứ, hôm nay bạn có thể sống.
Sống và chết luôn đi cùng với nhau như thế và
xảy ra với nhau. Do đó, bên trong cái chết có
sự sống, và bên trong sự sống có cái chết. Luân
hồi, sự thay đổi liên tục và bất tận này của mọi
vật, là năng lực định hình và tịnh hóa bạn, làm
bạn thành Phật. Không thể trở thành Phật nếu
không có luân hồi.
Chết là khi bản tâm bất biến, Chủ nhân
Không thay y phục. Khi chúng ta cởi y phục
ra, chúng ta thay y phục mới. Cũng thế, Chủ
nhân Không thay thân bỏ ra bằng một thân
mới. Thế thì, chết chỉ là sẵn sàng mặc vào một
bộ đồ mới.
Ngay cả khi thân bạn chết đi, ý thức vẫn còn.
Người ta thường không hiểu rằng thân mình
không còn nữa, và họ không nhận ra người
sống không thể thấy và nghe họ. Vì thế, đôi
khi, trong rối loạn và mong muốn, họ gây đau
khổ cho người khác. Nếu bạn tu tập chân thật


 





52 Không có sông nào để vượt qua

khi đang có thân, thì bạn có thể từ bỏ không
có gì vướng mắc. Còn nếu bạn không tu tập,
thì dù bạn đã chết, bạn sẽ bị vướng vào những
tương quan cũ của mình, và không thể tự do
rời bỏ. Thay vào đó, bạn có thể mắc vào tình
trạng chỉ lang thang lẩn quẩn như một con ma
trong thời gian rất dài. Nếu không bao giờ tu
tập, khi người ta chết, ý thức của họ không thể
thấy và nghe. Giữa bóng tối, ý thức không thể
lĩnh hội đúng đắn sự vật, vì thế những người
ấy thường đi vào tử cung của heo hay chim ác
là. Tuy nhiên những ai có tâm đã tu tập, sẽ tỏa
ra một ánh sáng lớn chiếu rực rỡ chung quanh
họ. Ngay cả gia đình họ cũng hướng về đời
sống tươi sáng, dù cá nhân họ có thể không
biết gì về tu tập.

Tiến hóa và sáng tạo
Nhìn theo con người, chúng ta có thể nghĩ
một số sinh vật dường như nhỏ nhoi và vô
nghĩa. Nhưng mọi hiện hữu đang trong quá
trình tiến hóa. Vì vậy, chúng là hình dáng quá
khứ của chúng ta, những bạn cũ của ta, và chỉ
cho ta chỗ mà từ đó ta tiến hóa. Khi chúng ta
nhìn bốn loại sanh, chúng ta thấy rằng chúng
đã tiến hóa từ những vi khuẩn, và rằng chúng


 





Phần một: Những nguyên tắc 53

tạo thành một tiến trình từ thấp nhất đến cao
nhất. Tuy nhiên, mỗi một sinh vật đều có bốn
loại sinh vật này trong thân, và cũng tiến hóa
trong mỗi thân. Vậy, làm sao chúng ta có thể
nói sinh vật nào là quan trọng nhất hay cái nào
nên làm tiêu chuẩn để so sánh. Nhìn vào thế
giới, không có điểm bắt đầu và chấm dứt – đó
chính là trung đạo.
Nhìn theo quá trình tiến hóa, những sinh
vật bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh và môi trường,
và chúng có thể thích ứng với một mức độ nào
đó. Tuy nhiên, những sự vật cơ bản hơn tùy
thuộc vào ý thức. Có rất nhiều điều thực sự
mầu nhiệm. Nếu chúng ta không bằng lòng
về hình dáng hiện tại của mình, và muốn đổi
thành mạnh mẽ, thì hình dáng con người sẽ
bắt đầu thay đổi. Hình dáng của mọi hiện hữu
được hình thành bởi tâm. Năng lực nào có
thể làm điều này? Đó là chân tâm, Chủ nhân
Không.
Dù những sinh vật hiện hữu ở nhiều tầng
bậc khác nhau, tất cả đều có tâm. Tâm là chủ
của thân, giống như người lái xe. Thân chỉ làm
theo lời tâm. Và tâm mong ngày hôm nay sẽ
tốt hơn hôm qua, ngày mai tốt hơn hôm nay,
và làm việc để hoàn thành điều này. Những


 





54 Không có sông nào để vượt qua

sinh vật tiếp tục tiến hóa qua đức hạnh khởi
lên từ nỗ lực đó.
Hoàn tất cuộc tiến hóa là đạt được giải
thoát lớn lao và thành Phật với công đức vô
tận. Tất cả mọi sinh vật đang trong quá trình
tiến hóa này, tất cả họ là anh chị của chúng ta,
đang bước về cùng đích đến. Thế thì, mọi cõi
đều là trường học lớn, đầy những chúng sinh
đang hành đạo.
Tiến hóa và sáng tạo là tất cả những biểu
hiện của nhất tâm. Tiến hóa là nâng cao trình
độ của tâm. Một khi trình độ của tâm thay đổi,
thân cũng thay đổi theo. Tiến hóa là quá trình
của tâm trở thành sáng sủa hơn, trong khi sáng
tạo là biểu hiện bên ngoài của ý định. Như thế,
trong khi quá trình này tiến hóa, nó cũng sáng
tạo; và trong khi sáng tạo, nó tiến hóa.
Sáng tạo là biểu hiện của ý định. Tuy nhiên,
ngay khi tạo ra một vật, nó luôn luôn thay đổi.
Nó không còn như trước, với những ý tưởng
cố định và những hành xử bất biến. Như thế,
sáng tạo là biểu hiện. Tâm là bản thể của cả hai
tiến hóa và sáng tạo; chúng cũng không phải
hai. Sự thoái hóa cũng do tâm. Tất cả những
điều này là những biểu hiện của tâm.


 







Yếu tính của chân lý: Biểu hiện của Không
Chân lý là một luồng trôi chảy không bao
giờ ngừng dù một thoáng chốc. Nó trôi chảy,
ngấm vào mọi vật, và sống động. Không có gì
trên thế giới mà không chuyển động; chỉ có
trôi chảy. Vô thủy vô chung, không sanh không
tử, chỉ có trôi chảy, đúng như nó là. Sự trôi chảy
này luôn luôn tươi mới và sống động. Ngăn vật
gì không trôi là giết nó. Chúng ta sống trong
chân lý. Như cá sống trong nước, chân lý tràn
đầy đời sống thường nhật của ta. Cố gắng tìm
chân lý ở xa xôi giống như cá kiếm tìm gì ngoài
nước. Chân lý vượt quá thời gian và không
gian, và không bao giờ đứng yên dù một giây.
Nó hoạt động không ngừng, như người thở ra
thở vào liên tục. Có thể gọi là “nhiễu quanh
ngôi chùa không ngừng”.
Chân thực tại không phải vốn đã bị che dấu.
Nó chỉ hình như thế đối với những con mắt
vô minh. Chân thực tại vốn trong suốt như
vật dưới ánh mặt trời, nhưng chúng sanh vô
minh không thấy nó. Thật ra, bạn có thể nói
rằng yếu tính của Phật pháp là thấy chân thực
tại của mọi vật một cách đúng đắn. Khi Phật
dạy Bát chánh đạo, trước hết ngài nói “chánh
kiến”. Nếu bạn thấy đúng, thì bạn đạt được trí


 





56 Không có sông nào để vượt qua

tuệ. Nếu bạn có trí tuệ, thì bạn được giải thoát.
Như thế nếu chúng sanh còn mờ tối có thể
thấy đúng, thì tất cả muộn phiền và đau khổ,
phi lý và xung đột mà họ phải đối mặt sẽ biến
mất. Đây là vì họ nhận ra rằng những vật đó
vốn rỗng không, không căn để, trong khi bản
tánh của họ là sáng chói và sâu xa vĩnh viễn.
Thay đổi từng khoảnh khắc là chết từng
khoảnh khắc. Nói cách khác, nó cũng có nghĩa
là tái sanh từng khoảnh khắc. Người ngu bám
vào những khoảnh khắc qua mau và sống đời
vô nghĩa, trong khi người trí tuệ hiểu rằng mọi
vật thay đổi từng chốc lát. Hãy áp dụng nguyên
tắc này vào cuộc sống hằng ngày, và sống tự do.
Không có gì trong vũ trụ còn mãi như cũ,
dù trong tích tắc. Chỉ có thay đổi và biểu hiện,
vì thế không có gì có thể mang theo mình. Vậy
thì khi không có những tư tưởng cố định về
“tôi”, đau khổ sẽ không tồn tại. Dù bạn không
thể mang theo gì cả, bạn nghĩ rằng mình mang
vài gánh nặng, và vì thế bạn tự ràng buộc với
ý tưởng cố định này. Nếu bạn biết rằng mọi
việc thay đổi trong khoảnh khắc, rằng mọi
vật là trống rỗng, thì không có gì để bạn bám
víu. Hình hài trống rỗng, tư tưởng trống rỗng,


 





Phần một: Những nguyên tắc 57

ngôn từ trống rỗng, tên tuổi và địa vị trống
rỗng – mọi vật là trống rỗng.
Cái tôi nào là bạn? Khi bạn đứng, ngồi,
động, tịnh, cái tôi nào thực sự là bạn? Cái tôi
gặp gỡ bạn bè và cái tôi gặp anh em là hai cái
khác nhau. Vậy cái nào thực sự là tôi? Cái “tôi”
trẻ hay cái “tôi” già? Tôi thực sự là ai? Theo lối
này, không có cái tôi bất biến; không thể dán
nhãn hiệu lên bất cứ gì khác trong vũ trụ và nói
“đây là...”. Như thế, nói rằng mọi vật trống rỗng
không phải vì không có gì, nhưng vì nó thay
đổi liên tục và chuyển biến.
Không không có nghĩa là không có gì.
Không khởi lên vật chất, và không khác vật
chất. Không biểu hiện liên tục như vật chất.
Trong khi sống, nó chết; trong khi chết, nó
sống – nó trôi chảy và thay đổi và không đứng
yên chút nào. Không là không chết – nó là sống
động. Trở nên Không nghĩa là trở nên đầy.
Vì những biểu hiện và hoạt động của không
là vô bờ bến, những thiền sư thường chỉ nói
“không!” Đôi khi không đủ, vì thế các ngài lại
lặp lại “không!”


 
















Chương ba
Tâm và khoa học


Khoa học hiện đại đã rất tiến bộ, nhưng bây
giờ nó bắt đầu tiến đến những giới hạn mà
chính khoa học không thể vượt qua. Trừ phi
chúng ta mở mang trình độ tâm linh, những
giới hạn này không thể vượt qua. Không có sự
mở mang tâm linh, dần dần nhân loại càng lúc
càng trở nên khó sống còn. Đây là vì sự phát
triển vật chất và phát triển tinh thần phải xảy
ra đồng thời với nhau. Chỉ nghiêng nặng về
phát triển vật chất không thôi thì nhân loại sẽ
bị đẩy vào đường chết. Vật chất có lãnh đạo
con người không? Không, bản tâm điều khiển
và hướng dẫn tất cả vật chất và năng lượng.
Nếu người ta không biết bản thể này, những gì
khoa học có thể làm bị hạn chế. Thế thì chúng
ta phải có một phương pháp mới cho khoa học
bằng cách trở về bản tâm và học để bắt đầu từ


 





Phần một: Những nguyên tắc 59

đó. Tâm sẵn có của chúng ta là bản thể của mọi
lãnh vực khoa học. Vì vậy, dẫu cho những nhà
khoa học cứ tiếp tục tìm kiếm đủ loại, chỉ bằng
sự hiểu biết bản tâm chúng ta mới có thể tiếp
tục phát triển.
Tốc độ ánh sáng được cho là nhanh nhất
trong vũ trụ, nhưng không nhanh hơn tâm.
Khả năng của tâm lớn đến mức nếu bạn tỉnh
thức không có gì bạn không thể biết, và không
có nơi nào bạn không đến được. Ngay cả
những phát minh kỳ diệu của khoa học hiện
đại cũng không thể tiếp cận năng lực và trí tuệ
của Phật, một bậc giác ngộ. Khoa học hiện đại
có thể dễ dàng vượt qua những giới hạn đang
phải đối mặt, nếu bạn có thể dùng thần lực của
tâm. Những người đã tỉnh thức không những
có thể đi đến những cõi hiện hữu trong những
chiều kích cao hơn, mà còn có thể vượt qua tất
cả mọi chiều kích gồm không gian và thời gian.
Đức Phật biết rằng phô trương khả năng
này chỉ làm rối loạn chứ không thực sự giúp
cho con người, vì thế ngài dè dặt với việc này.
Nếu bạn thành thật tin năng lực của tâm và
tỉnh thức, thì trong khi tiếp tục thực hành, bạn
có thể thấy rõ ràng tất cả mọi vật mà người
thường không thể thấy. Khả năng của bản tâm


 





60 Không có sông nào để vượt qua

là điều sâu xa và huyền nhiệm nhất trong toàn
vũ trụ.
Cho dù y khoa có tiến bộ rất nhiều, trên thực
tế nó không thể giải quyết hơn 30% những vấn
đề con người phải đối mặt. Sao vậy? Khoa học
hiện đại chỉ giải quyết một nửa thuộc phần
hiện tượng hiện hữu, như thế tốt lắm nó cũng
chỉ giải quyết được 50% vấn đề trước mặt.
Khoa học muốn hiểu được toàn vẹn, nó phải
hiểu nửa phần vô hình của sự hiện hữu. Chỉ
bằng cách thấu hiểu bản tâm, và thực hành.
Không thể thực hiện sự tìm kiếm trọn vẹn trừ
phi tiềm thức và ý thức kết hợp với nhau và vận
hành như một qua bản tâm.
Không những đức Phật, ngài Dangun và
những người chứng ngộ khác cũng đã dạy
nhân loại con đường tâm linh nhờ đó họ có
thể vượt qua những giới hạn của sự phát triển
vật chất. Khi cận kề giữa sống chết, chúng ta
phải đổi hướng qua đường tinh thần, thì nền
văn minh vật chất thịnh hành của chúng ta bấy
giờ mới tiến bộ được.
Một số nhà khoa học đang cố gắng gởi
những tín hiệu vào không gian để truyền thông
với vũ trụ bên ngoài. Nhưng việc thử nghiệm


 





Phần một: Những nguyên tắc 61

truyền thông với người ngoài vũ trụ qua sóng
vô tuyến, chứng tỏ những nhà khoa học này
không biết về bản thể. Để truyền thông với
chúng sanh như thế, chúng ta phải vượt lãnh
vực vật chất mà chúng ta đã biết 50%, và bước
vào lãnh vực tinh thần, lãnh vực vô hình. Con
đường bị phong tỏa nếu bạn không biết bản
thể của bạn; qua tâm, bạn phải trang bị điện
thoại không giây bên trong bạn, rồi thì đường
sẽ mở ra và bạn có thể truyền thông. Nếu bạn
có thể truyền đạt theo lối này, không có gì ở bất
cứ đâu mà bạn không thể thấy, nghe và hiểu.
Hơn thế nữa, không có gì có thể khóa hay gây
trở ngại cho bạn. Bạn sẽ trở nên thấu hiểu về
sự hiện hữu của một kiểu sống khác hẳn hoàn
toàn. Đây là những gì được gọi là tay và chân
phổ cập của Phật.
Từ những yếu tố căn bản, mọi loài nảy sanh.
Mỗi sinh vật có bản năng thay đổi, và chúng đã
làm thế, biểu hiện với mọi dáng hình từ kiếp
này đến kiếp khác. Dù có sanh làm thú vật,
chúng không mãi mãi vẫn thế, và cho dù sanh
làm người, đó cũng không phải hình dạng
thường còn. Tất cả đều do tâm điều khiển.
Nếu một con vụ (con quay) mất thăng
bằng, nó sẽ chao đảo và không thể xoay một


 





62 Không có sông nào để vượt qua

cách ổn định. Cũng thế, ngay thiên hà của
chúng ta cũng không thể duy trì một quỹ đạo
ổn định nếu không được mujeonja nâng đỡ.
Mujeonja này là một cầu nối để nó có thể lui
tới giữa cõi hiện tượng và cõi vô hình. Xa hơn,
mujeonja cho phép sự vận hành trật tự của
những nguyên tắc và luật lệ thống trị thế giới
hiện tượng.
Người ta nói rằng không có sự sống trên sao
Hỏa, nhưng làm sao bạn có thể nói rằng không
có sự sống chỉ vì bạn không thấy nó? Sao Hỏa
đông đúc sinh vật. Trong cõi trung bình này –
Trái đất – những sinh vật hữu hình và vô hình
được lựa chọn và phân loại, và sẽ sanh lên cõi
cao hơn hay đi xuống những cõi thấp hơn.
Cũng thế, mọi hành tinh khác cũng có nhiệm
vụ đặc biệt riêng của nó. Nếu bạn học để trở về
và tin tưởng vào bản tâm của bạn, như có ông
chủ săn sóc ngôi nhà, thế thì tinh thần của bạn
không bao giờ bị tước đoạt, và khả năng của
bạn có thể không bao giờ bị lấy mất.
Những giun dế trong lòng đất nghĩ rằng đất
bụi rất rộng, nhưng chúng không nhận ra bầu
trời lớn ra sao. Cũng thế, nhân loại tạo ra và
bám vào những thói quen kiểu Trái đất, vì đời
sống kiểu Trái đất là tất cả những gì họ có thể


 





Phần một: Những nguyên tắc 63

tưởng tượng. Họ không biết cách nhìn trái đất
từ tầm nhìn vũ trụ. Hãy làm tâm, trung tâm
của tinh thần bạn, thực hành và học hỏi để
vượt khỏi những định kiến.
Vũ trụ tràn đầy những sinh vật vô hình.
Không chỉ Mặt đất, mà những hành tinh khác
cũng đông dầy chúng. Trong thân, máu tuần
hoàn qua động mạch và tĩnh mạch, và những
tổ chức bên trong tất cả thực hiện chức năng
riêng của chúng. Cũng thế, những thiên hà và
trái đất cũng liên tục chuyển động và có vai trò
riêng để diễn trong sân khấu vũ trụ. Mọi vật
trong vũ trụ có thể hoạt động hài hòa với nhau
vì có tâm bản thể, cơ bản cho phép chúng tin
cậy và làm ổn định lẫn nhau.