Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

SÁCH HÃY LÀ ĐƯỜNG XƯA MAY TRẮNG BAY

PHẦN II


 Xuyên suốt phần I, tôi đã trình bày quyển sách với vai trò của một người hiểu đạo, giữ đạo. Do vậy tôi đã tạo nên một khối hỗn độn, mập mờ về đời và đạo. Tôi đã chịu sự ảnh hưởng về tư tưởng trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử; Và hai câu chí tình mà Lão Tử vì Khổng Tử đã nói. Tôi sẽ trình bày sơ lược về câu chuyện lâu xa này.
Khi Khổng Tử đến gặp và mời Lão Tử cùng ra sức giúp dân, giúp nước, giúp triều đình - Nhằm đem lại nền thái bình, thịnh trị cho xã hội. Lão Tử đã thoái thác với nguyên do là ông đã nhận ra sự mục nát, bạo ngược của vua chúa lúc bấy giờ. Khổng Tử đã trích lời các bậc minh quân như vua Nghiêu, vua Thuấn,... để khuyên giải, chiêu dụng.
Lão Tử nhận ra Khổng Tử quá hăm hở, cậy tài, cố thể hiện bản thân qua việc chăn dân, trị quốc, bình thiên hạ ở trong thời loạn lạc - Dân tình khốn khó, các nước phân tranh, cướp hại lẫn nhau, giới cầm quyền các nước thì suy đồi, bạo ngược - Nhận biết sự ham muốn thể hiện của Khổng Tử là rất nguy hại. Lão Tử đã có lời:
Những người ông nói đó, thời thịt xương tan nát cả rồi, chỉ còn lời của họ thôi. Hàm ý nói rằng những điều mà các cổ nhân dạy đã không hoàn toàn đúng, không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Xã hội hiện đang rối ren, loạn lạc, chiến tranh triền miên,… là do sự vô đạo, trái đức của các ông vua hôn quân; Thế nên, ông không dại dột làm kẻ tôi trung. Vả lại người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp thời thì đội nón lá mà đi chân đất.
Lão Tử nói tiếp:
Tôi lại nghe người buôn giỏi thì giấu kĩ vật quí, ra vẻ như không có gì cả: Người quân tử đức cao thì dung mạo như ngu độn. Thế nên, ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục; Cái vẻ hăm hở cùng cái chí quá hăng của ông đi. Những cái đó không có ích lợi gì cho ông đâu.
Tuy nhiên, Lão Tử vẫn rõ biết Khổng Tử có thiện chí “Vì dân, vì nước mà đến” nên khi tiễn biệt đã lại thêm một lần nữa khuyên giải với ý mong muốn Khổng Tử quay về giữ đạo, không nên làm tôi, làm quan lại ở triều đình phong kiến vô đạo, trái đức, coi mạng người dân như cỏ rác,… Những người làm tôi trung sẽ không biết sống chết khi nào, không thể làm chủ mạng sống của chính mình. Lão Tử nói:
Tôi nghe nói người giàu sang tiễn nhau bằng tiền bạc, người nhân nghĩa tiễn nhau bằng lời nói. Tôi không phải là người giàu sang, mạn phép tự coi mình là người nhân nghĩa mà tiễn ông bằng lời này “Kẻ thông minh và sâu sắc thì khó sống vì ham phê bình người; Kẻ giỏi biện luận, biết nhiều thì nguy hại tới thân vì hay nêu cái xấu của người. Kẻ làm con và kẻ làm tôi đều không có cách gì giữ mình cả”.
Sau lần gặp Lão Tử, Khổng Tử đã phải thừa nhận với các học trò rằng:
Loài chim, ta biết nó bay được; Loài cá ta biết nó lội được; Loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn. Nhưng đến loài rồng cưỡi gió mây mà lên trời thì ta không sao biết được. Hôm nay, ta gặp Lão Tử, ông ta là con rồng chăng?
Ngoài việc bị ảnh hưởng tư tưởng giữ đạo của Lão Tử, tôi còn khép mình vào trong những khuôn phép giới điều của các tôn giáo - Việc giữ niềm tin, đức tin cho các tín đồ và nguyên tắc ứng xử trong cuộc sống. Thế nên tôi đã không vượt ra khỏi thân phận của người giữ đạo.
Mặc dù tôi cũng nhận ra có những sự gượng ép khi mà việc trình bày lại không thể hiện được hết sự thật về bước đường tìm đạo, hành đạo của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Tôi lại nhận biết - Nếu những sự thật này không được tỏ bày thì có những việc sẽ mãi là nghi vấn, nhân loại sẽ mơ hồ không nhận ra chân giá trị của Tam tạng kinh.
Vấn đề này sẽ hạn chế số người tìm đạo, học đạo, hành đạo. Việc này lại liên quan đến sự an nguy, tồn tại của loài người.
Tôi vẫn hiểu rằng “Khi những sự thật này được phơi bày cũng sẽ góp phần chứng thực thế giới tâm linh thực sự tồn tại”. Đây cũng là chìa khóa để đảm bảo sự tồn vong của trái đất và nhân loại.
Cho đến khi nhận biết được thông điệp là “Đè bẹp sự phát triển và từng bước loại bỏ Phật giáo”, tôi sực tỉnh “Tôi không phải là người giữ đạo. Vô Ưu đi trong phi đạo”. Thế nên, điều tôi cần làm là trái đạo, là phá cho tan hoại những gì không thật nhằm góp phần làm sáng rõ sự thật.
Một lời gửi đến những người học Phật. Hãy nên đến với đạo Phật bằng sự hiểu biết giác ngộ. Nếu chỉ dừng lại ở niềm tin, đức tin và sự sám hối thì những người học Phật có khác gì những tín đồ của các tôn giáo khác.
Điểm cao tột của giáo lý, kinh điển Phật là sự hiểu biết, giác ngộ về cuộc sống. Điều này sẽ mang lại cho người học Phật sự hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại và sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Lời tri ân của Vô Ưu đến Lão Tử:
Lão Tử! Tôi đã học ở ông những điều rất hay và bổ ích. Tôi nhận biết hai câu nói của ông rất chí tình. Nhưng ông đã dừng lại ở vai trò người giữ đạo và truyền đạo. Vô Ưu không là người giữ đạo. Thế nên, tôi nhận ra “Nếu đã là người thì ai mà không phải chết. Chỉ có người chết là không chết mà thôi”.







Khi quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…” dần hoàn tất. Tôi đã trao truyền cho nhiều người những mong nhận được sự tham khảo góp ý. Quyển sách đã có được sự đồng cảm của mọi người.
Bên cạnh đó, cũng không ít lời đàm luận về tác giả quyển sách. Có nhận định tác giả quyển sách là người sâu sắc có tấm lòng từ bi, có hiểu biết, trân trọng sự yêu thương giữa người với người. Có người nhận ra sự giả tạo, dối lừa - Tôi là một ngụy quân tử, là một tên gian hùng đáng ghét. Có người thương cảm xót xa. Tôi sống thiếu thực tế.
Đáng tiếc cho gã điên này. Hắn bị hoang tưởng, bệnh hoạn. Thật tội nghiệp! Có người lại trách tôi quá ngông cuồng, tự phụ thông minh, thể hiện cái tôi quá lớn, dám xem thường nhân loại. Là kẻ đáng căm giận, lên án. Là kẻ quên ơn, phụ nghĩa. Quên công ơn nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình, xã hội.
Một số người khác lại muốn tìm hiểu xem tôi có thực sự chứng đạo hay không?
Ở cuối phần I quyển sách, tôi đã nói rất rõ ràng. Đừng cố tìm hiểu tôi. Đừng lạm bàn nội dung quyển sách. Nếu nội dung quyển sách đúng thì làm theo, tìm lại nguồn vui chân thật, an lạc, hạnh phúc. Tìm hiểu, phân tích, lạm bàn về nội dung quyển sách hoàn toàn không có lợi.
Nếu là một câu nói đúng và cho dù xuất phát từ miệng của một đứa trẻ thì nó vẫn có giá trị như lời nói của một người lớn hiểu biết, từng trải. Người lớn cũng rất nên làm theo.
Ví như con bạn một đứa bé 6 tuổi nói “Mẹ ơi! Mẹ đưa con đi công viên đi. Mẹ đã hứa với con khi sáng”.
Bạn sẽ làm gì?
Bạn đã cố tìm hiểu. Tôi ngại gì mà không bộc lộ hết bản ngã. Bạn sẽ không phải suy diễn, ước đoán nữa. Tôi sẽ đưa những cung bậc yêu thương, hận ghét lên đến cùng cực.
Có thật tôi có sức sống nội tâm sâu sắc, có tấm lòng yêu thương thánh thiện, biết yêu thương người nghèo khổ neo đơn?
Tôi đã từng nói quyển sách có được là do những năm tháng trải nghiệm ngụp lặn trong khổ đau cùng với ý thức xa lìa sự khổ và tôi đã mở rộng cái tôi hòa vào tứ đại và không đại. Vì vậy những rung cảm, tình yêu thương tôi gửi đến nhân loại chỉ là tình yêu thương của đất đá, cỏ cây vô tri.
Đã có người đọc xong quyển sách, tìm gặp tôi rồi thất vọng. Tôi bình thường đến mức tầm thường.
Có người nói tôi là kẻ vong ân, phụ nghĩa “Vội quên cơm cha, áo mẹ, công thầy”.
Không sai! Khi có người nói “Sự tồn tại của quyển sách sẽ ảnh hưởng đến công việc làm ăn của người thân. Thậm chí họ phải mất cả mạng khi tôi gieo hận thù trong lòng những kẻ cực đoan, quá khích”.
Tôi bình thản nói “Tôi không tìm thấy được lý do để người thân tôi không chết”.
Bạn nhận ra tôi giả tạo, là một tên gian hùng.
Không sai! Tôi là một gian hùng đúng nghĩa. Trong khi, mọi người trên thế giới đang sống trong thời bình, tôi lại thấy ở thời loạn. Tôi lập ra quỹ từ thiện, ngôi nhà yêu thương nhằm trục lợi cá nhân. Tạo danh tiếng qua quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”.
Nếu chẳng may việc trục lợi không thành thì tôi cũng có chút ít danh tiếng. Với khả năng biến màu của con tắc kè hoa, sự gian xảo quỷ quyệt của loài chồn cáo, tôi sẽ tìm đến dối lừa những cô gái sang giàu, cả tin. Xem ra phần đời còn lại, tôi không cần lo lắng.
Tôi là kẻ bất tài vô dụng, không có bản lĩnh đương đầu với cuộc sống ngụy tạo ra triết lý sống khỏa lấp sự yếu kém.
Nhớ lại có người trách tôi:
- Ông sống làm gì? Tiền không kiếm? Việc lập gia đình không lo? Công việc thì không chịu ổn định? Trước bỏ thuốc lá, giờ bỏ rượu bia? Nay sống chỗ này, mai chỗ kia, sống bám người này, người  khác? Sống tự ti, không có lợi ích gì? Đi chết đi.
Tôi thản nhiên:
- Chết cũng không được.
Người đó lại nói:
- Vậy sống làm gì?
Tôi trả lời:
- Không làm gì mà không gì không làm.
Ừ! Biết làm sao khác khi tôi là người chỉ tay năm ngón, nói mà không làm.
Tôi là gã điên, bị bệnh hoang tưởng. Bạn chưa nhận ra sự hoang tưởng đến mức hoang đường của tôi. Nay tôi sẽ tiết lộ với bạn về sự thật hoang đường đó.
Khi dừng lặng mọi ý niệm, tôi lại có câu hỏi mới “Liệu có ai đến nhận lấy trái tim, đôi mắt,…?”.
Tôi nhận ra rằng “Có không ít người cần nhưng sẽ khó thể đến lấy”. Họ vướng phải những rào cản, những nguyên tắc trong cuộc sống - Vấn đề lương tâm, vấn đề nhân đạo và dư luận.
Không chỉ riêng vấn đề tôi hiến tặng một phần cơ thể cho xã hội, việc tồn tại hợp pháp của quỹ từ thiện và ngôi nhà “Nối lại những yêu thương” cũng cần phải thông qua những thủ tục pháp lý trước khi được sự ủng hộ, chấp thuận của xã hội.
Tất cả những việc tôi đang làm chỉ nhằm mục đích duy nhất. Điều tôi muốn chuyển tải đến mọi người là khẳng định lại sự tồn tại của thế giới tâm linh. Con người không phải chết là hết. Tùy theo duyên nghiệp nhân quả thiện ác mà trôi lăn trong 3 cõi.
Chỉ khi nhận rõ sự thật này, con người mới có ý thức thay đổi hành vi sống. Dứt trừ tham lam, sân hận, si mê, kiêu mạn, hoài nghi. Đến lúc đó, trái đất mới lại phủ đầy màu xanh cỏ cây. Băng sẽ ngừng tan chảy. Biển cả sẽ dừng cơn thịnh nộ. Động đất, núi lửa, sóng thần, dịch bệnh,… giảm thiểu. Cùng với sự hiểu biết thương yêu, chiến tranh hận thù sẽ được xua tan khi công luận thế giới đồng lòng lên tiếng.
Làm sao chứng minh những điều tôi viết là sự thật?
Việc biến mình thành kẻ thù của toàn nhân loại và chấp nhận cái chết cũng chỉ là cách minh chứng cho những điều tôi viết là sự thật. Tôi vẫn an nhiên chờ đợi bạn đến lấy trái tim, đôi mắt,... Tôi sẽ bình thản bước qua sinh tử nhằm giúp bạn có chút ít niềm tin nhưng bạn đã không thể đến lấy. Vấn đề bỗng trở nên bế tắc.
Nhân loại đã sống trong lầm lạc hàng ngàn năm. Trái đất đang đối mặt với sự cuồng nộ của tự nhiên nhưng vẫn u mê sống trong chiến tranh và thù hận. Nhân loại cũng nhận biết sẽ phải đối phó với sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhưng lại né tránh trách nhiệm, mê lầm không nhận ra kẻ thù thật sự của con người là lòng tham dục.
Cùng với tâm ý tự phụ hiểu biết thông minh của nhân loại sẽ chinh phục được tự nhiên. Nào hay chỉ là cậu bé yếu ớt trước sức mạnh của siêu nhiên.
Thêm vào đó, sự sai lầm khi dùng tri thức khoa học chối bỏ duy tâm. Chỉ cần dừng lặng, suy nghĩ bạn dễ dàng nhận biết “Không có thế giới tâm linh, thế giới vật chất đã không còn tồn tại đến ngày nay. Lòng tham của con người là không có đáy. Không có thế giới tâm linh, có việc làm xấu ác nào con người không dám làm. Tính nhân đạo, sự công bằng, bình đẳng, tình yêu thương trở nên nhỏ bé, yếu đuối trước tham dục của nhân loại”.
Tôi lại nhận thấy “Chủ nghĩa duy vật chỉ chối bỏ chủ nghĩa duy tâm trong khoảng thời gian ngắn, khoa học và tham dục đã đẩy con người đến rất gần vực thẳm tuyệt diệt”.
Đã không còn nhiều thời gian để cứu lấy trái đất. Tôi phải nhanh chóng đánh thức, làm thức tỉnh tri thức, nhận thức nhân loại trước khi sự sống quay về nơi bắt đầu.
Tôi cũng biết dù có gào to lên những hiểu biết của mình. Nhân loại sẽ nhìn tôi với ánh mắt thương hại và câu nói vô thưởng vô phạt “Tội nghiệp cho một gã điên!”.
Tham dục, sự vội vã và vô cảm của số ít người sẽ biến những điều tôi nói thành khoảng không vô nghĩa.
Sau cùng, tôi đã đưa ra quyết định “Tôi sẽ chứng minh cho sự thật này bằng việc bước qua sinh tử. Tôi sẽ thực hiện một giấc ngủ sâu không trở lại. Hiển nhiên là giấc ngủ này không có sự trợ giúp của khoa học - Những viên thuốc ngủ, con dao, sợi dây,…”.
Đơn giản đó chỉ là giấc ngủ sâu và mãi mãi.
Tôi vẫn biết rằng “Đây chỉ là lối rẽ trên con đường chánh đạo giải thoát”. Trong quá trình hành trì, đã có lúc tôi dường như nắm bắt được chiếc chìa khóa này nhưng rõ biết là lối rẽ đã không nhặt lấy. Giờ tôi phải đi tìm lại.
Khi thực hiện việc bước qua sinh tử, tôi chỉ mong nhân loại thức tỉnh quay về chánh đạo - Con đường của sự hiểu biết và thương yêu.
Nếu nhân loại vẫn mê lầm thì xem như tôi tự giải thoát, về thắp sáng Địa ngục theo lời phát nguyện.
Tôi không thể sống tự tại, an lạc giả câm, điếc, đui mù nhìn loài người tự hủy hoại.
Tôi nhận biết khi tôi ra đi sẽ không mang theo ý niệm kiêu hãnh, tự hào hay tủi hổ.
Nhưng người ở lại sẽ phân biệt cái chết của tôi là hy sinh hay bỏ mạng, là vinh quang hay tủi nhục, là dại hay khôn?
Sẽ có người nhỏ lệ tiếc thương. Tôi trân trọng nhưng không thừa nhận. Với tôi những giọt nước mắt đó giống như “Mèo khóc chuột”; Vì những giọt nước mắt không làm tôi sống lại.
Ngược lại, những giọt nước mắt sẽ làm những người quí mến tôi thêm tiều tụy, khổ đau. Tôi muốn họ giữ lại và để những giọt nước mắt vỡ òa hạnh phúc khi chiến tranh, thù hận bị đẩy lùi. Khi tình yêu thương chân thật sống mãi với thời gian.
Tôi đã đến trong tình yêu thương của loài người, tôi sẽ ra đi không chất chứa niềm thù hận. Nếu… hãy để những người thù ghét, mê lầm đến lấy mạng tôi được bình yên, tự do thoát đi. Họ đã giúp tôi bình thản bước qua sinh tử. Giúp bạn tin vào sự thật bị lãng quên, bạn tìm lại được tình yêu thương chân thật.
Khi biết tôi có ý định “Tự chết”, có vài người hỏi “Tôi có quay lại không?”.
Tôi biết tôi là ai, đang làm gì?
Đức Đạt Lai Lạt Ma sau nhiều lần tái sinh đã nhận ra - Dù có tái sinh 1.000 kiếp cũng không thể đưa những chúng sinh mê lầm, cố chấp về cõi tịch diệt. Việc làm đã xong. Đức Đạt Lai Lạt Ma không quay trở lại.
Tôi cũng hiểu rằng dù Phật Thích Ca có quay lại nhập thế. Với những con người tự phụ hiểu biết, thông minh, Đức Phật cũng gặp không ít khó khăn trong việc hành đạo, thuyết pháp độ sinh.
Trí hiểu biết cạn cợt của tôi có là gì, quay lại không nhiều ý nghĩa.
Nhiều người xem sách lại trách tôi “Nói lời gian trá”. Miệng nói đã phá ngã nhưng mỗi câu từ trong sách thể hiện cái tôi, cái bản ngã không hề nhỏ. Tôi mở miệng là chê bai, mắng người.
Thật đáng khinh!
Quả thật, lòng người khó dò. Tôi phá kiến chấp, định kiến này thì người đời lại chấp trước việc khác. Cứ nghĩ những câu từ ở chương IX sẽ khiến người đời dẹp bỏ tâm phân biệt. Thấy những điều tôi trình bày tương hợp thì áp dụng, không hợp lý thì quên bỏ đi. Nhưng người đời lại không khỏi vướng mắc.
Tôi thừa nhận những gì viết trong sách liên quan đến tôi thì thể hiện cái tôi. Phần này khó thể lược bỏ vì bối cảnh thân thế tôi là nguyên nhân có quyển sách.
Lược bỏ thì mọi người lại đi tìm hiểu tôi là ai?
Còn nhận định về cuộc sống, xã hội, kinh tế, chính trị, khoa học, tôn giáo,… trong quyển sách cũng thể hiện cái ngã. Nhưng đó là đại ngã, trong cái ngã đó có cả bạn. Như tôi đã nói đã phá tan cái ngã hòa vào đại ngã - Tứ đại và không đại. Nhân loại và vạn vật đều hiện diện cả trong đại ngã đó.
Những nhận định trong quyển sách mà bạn thấy đúng đắn thì đó chính là nhận định của chính bạn. Nào phải của riêng tôi.
Vậy sao bạn cứ chấp chặt cái tôi của Vô Ưu quá lớn?
Việc chấp trước này khiến bạn thêm mê lầm, không có lợi khi thấy việc đúng mà lại không theo, chấp nhận sống trong mê lầm. Bạn lại chấp trước “Tôi viết những chuyện bạn đã biết thì có đáng không?”.
Không sai! Tôi nói những chuyện bạn đã biết. Nhưng mỗi người lại nhìn ở một góc nhìn, một khía cạnh khác nhau.
Hơn nữa, mọi người quá bận rộn cho cuộc sống, không ai chú ý. Cũng không ai nói rõ ra dẫn đến nhân loại đắm chìm trong lầm lạc. Tôi chỉ giúp nhân loại hệ thống lại. Tôi cũng khẳng định lại một vấn đề mà nhân loại hoài nghi, không rõ biết “Con người chết đi là bắt đầu cho một sự sống mới. Con người không là một cái máy vô tri. Ngoài phần vật chất con người còn phần ý thức, tâm ý. Khi chết phần vật chất tàn hoại. Phần ý thức, tâm ý sẽ mất hay đi về đâu?”.
Vô Ưu là ai?
Bạn cứ chấp chặt cái tôi Vô Ưu quá lớn.
Liệu bạn có rõ biết Vô Ưu là ai?
Hơn nữa, bạn biết rõ tôi thì đã sao? Tôi không phải là Vô Ưu. Bởi lẽ, 33 năm trước có một đứa bé ra đời được đặt tên là Anh Tuấn. Rồi 33 năm sau, người thanh niên tên Tuấn đó viết quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…” với bút danh Vô Ưu. Nhưng Anh Tuấn, Vô Ưu thật không phải là tôi. Đó chỉ là những danh xưng để phân biệt tôi với cái bàn, cái ghế, con chó, con mèo,…
Và 33 năm tiếp theo hoặc chỉ 3 năm nữa,… Khi tôi không còn, xác thân tôi được mang đi hỏa táng thì cái gì gọi là tôi, là Anh Tuấn, là Vô Ưu.
Ngay cả thời khắc hiện tại, tay chân, mắt mũi, tim óc,… xác thân của tôi là Vô Ưu?
Hiển nhiên là không phải vì nếu tách rời thần thức thì thân xác tôi chỉ là một khối thịt lạnh lẽo.
Vậy tâm tôi là Vô Ưu?
Nếu tách rời xác thân, tâm tôi chẳng thể viết sách được.
Vậy Vô Ưu là ai?
Vô Ưu chỉ là một trạng thái tĩnh lặng, an lạc, tự tại mà tôi có được khi có những hiểu biết, những tỏ ngộ về cuộc sống. Nhờ sự hiểu biết đó tôi dần thoát ra khỏi những u mê của một con người thiếu hiểu biết. Thoát ra tham đắm, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn. Lấy bút danh Vô Ưu là tôi những mong mọi người sớm đạt được trạng thái vô ưu, thoát khỏi những phiền muộn, lo toan và đau khổ. Nếu bạn đạt được tâm thái vô ưu thì bạn chính là Vô Ưu.
Nhưng cái tên Vô Ưu vốn chỉ là giả danh, mượn ngôn từ để gọi, vì thực sự trạng thái vô ưu vốn dĩ có trước ngôn ngữ, loài người. Thật vậy thời gian, không gian và vạn vật khi không áp đặt trong tâm ý, trong nhận thức của loài người thì chúng vẫn tĩnh lặng, an lạc, tự tại đấy thôi.
Bạn đừng vội khởi nghĩ “Vậy khi con người đạt được sự vô ưu thì có khác gì gỗ, đá,… vật vô tri?”.
Thời gian, không gian và vạn vật luôn vận động, luôn tiến hóa và phát triển. Con người cũng được phát sinh, hình thành và sự hiểu biết ngày một cao hơn cũng có được từ trong sự dường như tĩnh lặng của không gian, thời gian và vạn vật.
Tôi đã giữ lòng mình tĩnh lặng cho đến khi đạt đóa vô ưu thì sự hiểu biết của tôi không ngừng khai mở. Những sự hiểu biết lợi lạc này không dễ học hỏi bên ngoài mà có được và tâm thái an vui, hỷ lạc là trạng thái mong muốn của bất kỳ ai.
Nói thêm về sự dường như tĩnh lặng của vạn vật và sự thiếu hiểu biết về quy luật tự nhiên của tri thức khoa học. Sự dường như tĩnh lặng của vạn vật luôn có sự vận động. Sự vận động này tuân thủ theo những quy luật tự nhiên, theo đạo nên sự phát triển rất bền vững và ổn định.
Loài người ra đời, ban đầu sống tùy thuận theo đạo, theo tự nhiên. Học hỏi tự nhiên, loài người phát triển, tiến bộ. Cho đến khi cái tôi trong con người lớn dần. Sự phân biệt của con người ngày một rạch ròi, rõ ràng hơn. Sự hiểu biết của con người được nhân loại thừa nhận bằng một tên gọi hoa mĩ - Khoa học. Khi đó, cái tôi của con người đã vội quên khoa học chỉ là một cậu học trò nhỏ của thế giới tự nhiên. Tự phụ tri thức khoa học, con người sinh tâm cao ngạo. Cùng với lòng tham không đáy, con người những mong cải tạo tự nhiên khiến thiên nhiên quy phục, phục vụ loài người. Nhưng do hiểu biết của con người còn non kém, không lường trước được hậu quả đã phá hủy sự cân bằng của tự nhiên, sự ổn định nội tại của trái đất - Làm việc trái đạo, phản tự nhiên. Tự khắc rơi vào quy luật phản phục của đạo, vạn vật sẽ quay về nơi bắt đầu.
Tuy loài người và vạn vật sẽ diệt vong nhưng vật chất thì vẫn trường cửu. Và …sự sống lại bắt đầu từ những cấu tạo nhỏ bé đặc trưng cho sự sống.
Bạn lại nhận định những vấn đề tôi trình bày là tư tưởng, lý thuyết, triết lý nhưng đã không nhận ra nền tảng của triết lý, lý thuyết là thực tế. Vì không sống với cái thực tế nên lầm lạc nhận định là lý thuyết, triết lý. Bạn đã biến thực tế thành nguồn tri thức, triết lý sâu xa. Bản thân lại sống trong hời hợt, mê lầm.
Bạn cho rằng việc trình bày nội dung quyển sách lầm lộn, đời đạo đan xen. Lại chẳng nhận biết đạo dung chứa đời. Tách rời đời và đạo chính là sai lầm của nhân loại. Tôi đang cố hợp nhất lại để nhân loại thoát khỏi mê lầm. Đạo là tự nhiên, có sự vật hiện tượng nào không tồn tại trong đạo.
Khái niệm đời của nhân loại hiện nay phần lớn mắc sai lầm “Đời chỉ là cuộc sống của nhân loại”.
Thực tế đời mang nghĩa rất rộng - Đời là sự sống, sự tồn tại của vạn vật có vũ trụ. Vì sai lầm trong nhận định, nhân loại đã tách rời đời và đạo. Sai lầm này khiến con người làm việc trái đạo, không hợp lẽ tự nhiên. Cái giá phải trả là đang biến đổi trái đất trở thành một hành tinh chết.
Một số khác lại quan tâm đến việc tôi có chứng đạo hay không?
Nếu chứng đạo tôi phải thị hiện được thần thông; Hoặc là khi tôi chết mang đi hỏa thiêu phải thu được về xá lợi.
Về thần thông, tôi sẽ thị hiện bằng việc rút tiền của ở khắp mọi nơi quay về và sau đó lại trả về cho thiên hạ. Là một người hiểu biết bạn sẽ nhận ra “Tôi hoàn toàn có khả năng làm được”.
Tuy nhiên, pháp Phật cao tột không phải ở vật chất, của cải mà là ở bố thí pháp - Là sự xóa tan đau khổ trong lòng con người, giúp con người sống an lạc, tự tại, là sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Về xá lợi, bạn đã rơi vào rừng kiến chấp. Người học Phật không phải là người đi vo xương cốt thành xá lợi mà là đi tìm sự an lạc, giải thoát trong tự tâm.
Bạn chờ đợi tôi chết?
Mạng người trong hơi thở. Tôi - bạn, ai sẽ chết trước ai?
Nếu bạn cứ ôm lòng chấp trước, xem ra bạn đã uổng phí một đời. Bạn nên nhận thức rõ con đường bạn đi “Bạn đi tìm sự an lạc, giác ngộ, giải thoát hay đi dò tìm người chứng đạo?”.
Nhân việc bạn có ý định dò tìm xá lợi từ xác thân tôi, tôi cũng có lời nhắn gửi:
Nếu bạn muốn tìm kiếm xá lợi thì hãy tự tìm lấy. Tôi sẽ chỉ cho bạn cách có xá lợi. Bạn hãy siêng năng thiền tọa ở tư thế kiết già. Lâu ngày dài tháng hành trì, bạn sẽ tạo được những viên xá lợi. Khi chết bạn hãy nhờ mọi người dùng than củi để hỏa thiêu. Không chỉ có thế. Mai này, có ai hỏi tôi những con đường trong 6 nẻo - Trời, Người, Atula, Súc sinh, Ngạ quỷ và Địa ngục. Tôi sẽ chỉ đường cho họ đi. Nếu bạn hỏi về Thiên đàng, tôi hướng dẫn bạn lên Thiên đàng; Bạn hỏi về Địa ngục, tôi sẽ chỉ bày cách bạn xuống Địa ngục,...
Quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…” khi dừng lại ở chương IX đã được trao truyền cho những người học Phật. Tôi cũng không có ý định viết thêm. Việc trao truyền trong nội bộ người học Phật lại khiến 9 chương của quyển sách như là việc tôi ném đá dò đường. Những người học Phật lại chính là những người vướng vào kiến chấp, luận giải nhiều nhất. Nhờ trí tuệ Phật gia hộ tôi có được ít tỏ ngộ, không thể trơ mắt nhìn bạn đồng môn chập choạng trong mê lầm. Tôi sẽ bổ sung phần II chỉ mong tháo gỡ những mê lầm, chấp trước của người học Phật. Nếu bạn vẫn lẩn quẩn trong rừng kiến chấp thì tôi cũng không phải hổ thẹn vì đã phụ ân Tam bảo.
Khi biết tôi có ý định viết quyển sách nói về đạo pháp, phần lớn bạn đạo chấp trước, chất vấn.
Bạn đạo nói:
- Tam tạng kinh điển của Phật, một đời người đọc còn không hết. Tôi thời gian tu học ngắn ngủi, tỏ ngộ được bao nhiêu mà bày trò viết sách?
Tôi đã trình bày:
- Kinh Phật thâm sâu cùng tận. Cội nguồn xuất phát từ Ấn Độ, dùng ngôn ngữ Pàli, Phạn ngữ, Hán ngữ,… Về sau truyền trao sang Trung Quốc và các quốc gia khác, trải qua thời gian lâu xa và nhiều lần sao chép, in ấn, không tránh khỏi sai xót. Việc chuyển thể từ kinh điển tiểu thừa sang kinh điển đại thừa nhằm giúp người tu học nhập thế lập hạnh bồ tát. Tránh tình trạng “Ly thực cầu huyền” của phần lớn người tu học thời đó. Việc diễn giải kinh theo lối kinh điển đại thừa đòi hỏi người tu học phải có sự hiểu biết nhất định - Đạt ý vong ngôn. Nghĩa là người xem kinh chỉ cần hiểu nghĩa, không chú trọng câu từ của kinh sách. Đáng tiếc! Vì thiếu hiểu biết, không thực chứng người hậu học đã mang kinh điển diễn giải làm người đời sau lầm lạc. Ngộ nhận Phật có nhiều thần thông biến hóa. Nào hay pháp Phật cao tột chính là sự hiểu biết thông suốt về đạo, về đức, về luân hồi sinh tử,... Sự hiểu biết đó giúp Phật hóa giải những khổ đau của chúng sinh trong 6 đường. Đem lại sự an lạc, giải thoát cho chúng sinh trong 3 cõi. Đặc biệt, chúng sinh có điều kiện cần và đủ để tu tập đạt được sự giác ngộ, giải thoát chính là con người. Sở dĩ pháp Phật cao tột là vì đức trọng quỷ thần kinh. Tôi có được chút ít tỏ ngộ chỉ mong làm cho giáo lý, kinh điển Phật gần gũi với mọi người hơn. Xóa đi những hiểu biết sai lầm của người tu học.
Bạn đạo nói:
- “Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan. Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Nghĩa là cứ y theo kinh Phật mà giải nghĩa thì sẽ oan cho chư Phật ba đời - Quá khứ, hiện tại, vị lai vì việc diễn giải sẽ không đúng theo tâm Phật, gây ngộ nhận cho người đời. Còn rời kinh Phật mà thuyết trình thì là lời ma nói, chứa đựng sự gian trá, ngụy biện. Nếu vẫn không từ bỏ ý định viết sách thì tôi sẽ vướng vào sở tri chướng, bị ma chướng nhập tâm. Điều này đồng nghĩa với việc tôi bị những cái thấy, nghe, hay biết về kinh Phật trói buộc vì chưa thực chứng. Không tự giải thoát được cho bản thân thì làm sao có thể giúp đời.
Tôi lại trình bày:
- Từ ngày đạt được đóa vô ưu, tôi đạt được tâm trạng thư thái, hỷ lạc. Thấu rõ từng bước Phật đi, cảm nhận rõ từng lời Phật thuyết. Kinh Phật tuy thâm sâu, huyền diệu nhưng cũng rất mộc mạc, gần gũi. Đã từ lâu, người đời ngộ nhận diễn giải ý kinh theo hướng thâm sâu, uyên áo. Bỏ mất sự gần gũi, mộc mạc. Từ đó, người đời sau mê lầm, ngày càng xa rời đạo. Hiện nay, kinh Phật được trì tụng theo khuynh hướng “Lấy ngọn, bỏ gốc”.
Những người bạn đạo nghe tôi nói vậy đã tỏ ý thất vọng.
Quyển sách rồi cũng dần hoàn thiện. Tôi đã mang sách trao cho những người bạn đạo những mong có được sự góp ý, phản hồi. Một số người không xem sách đã vội phê bình “Tôi bị vướng vào sở tri chướng, ma chướng nhập tâm”. Một số người khác thoái thác không xem sách bằng việc nhận định rằng Kinh Phật họ đã xem đủ, bây giờ họ chỉ hành trì “Tìm Phật nơi tự tâm”.
Tôi nhớ lại đã có không ít người bạn đạo từng nói “Người học Phật chân chính là người biết học hỏi những cái hay, cái tốt của những người xung quanh. Thậm chí là học ở cả những đứa trẻ”. Có lẽ tôi vụng về hơn, tôi học cả cái sai của người khác bằng việc tránh làm những việc sai như họ.
Tôi đang chỉ trích những người bạn đạo đã không xem quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”?
Không có lợi ích gì! Bởi lẽ, nếu tôi thực sự chỉ trích họ thì sẽ khiến mọi người ghét bỏ tôi thêm mà thôi. Làm việc không mang lại chút lợi ích nào, tôi sẽ không làm.
Tôi chỉ muốn trình bày một vấn đề “Tôi tiếc cho họ, tiếc cả cho tôi”.
Họ - tôi, ai vướng vào cái biết sở tri chướng, kiến chấp sâu dày?
Nếu như họ không từng biết đến tôi; Hoặc quyển sách do một bậc cao tăng, chân sư viết thì họ đã có những phản ứng khác. Giá như những người bạn đạo đó bỏ chút ít thời gian xem qua rồi nhận định có lẽ cũng không muộn.
Khi đó, họ sẽ nhận ra “Tôi không y kinh giải nghĩa - Không vướng vào cái biết của sở tri; Cũng không ly kinh mà thuyết”  và có lẽ… “Tôi là một con ma tốt bụng”.
Hơn nữa, điều tối quan trọng của người học Phật là phải có trí tuệ bát nhã - Trí tuệ Phật.
Người học Phật mà lại sợ trí tuệ Phật, không dám dùng trí tuệ bát nhã để quán chiếu mọi việc thì thật đáng tiếc. Giá như, họ dùng trí tuệ bát nhã quán chiếu quyển sách. Giả như là nội dung quyển sách không đúng, họ sẽ tìm được câu trả lời về con đường tu học đúng hơn.
Nhân đó, họ có thể đánh thức sự mê lầm của tôi vì dẫu sao tôi cũng đã từng là một người bạn đường chậm bước. Có lẽ tôi sẽ không tin lời họ ngay nhưng rồi sẽ có lúc tôi ngộ ra. Khi ấy, tôi như người đi trong đêm dài tăm tối nhìn thấy một ngọn đuốc sáng thì có niềm hạnh phúc nào hơn. Đó là nguyên do tôi tiếc cho tôi.
Có lẽ, tôi là người nông cạn. Khi nghe đến từ “mật”, tôi thường cảm nhận đến vị đắng. Đến khi mọi người nói mật ong rừng, tôi lại nhận ra vị ngọt lành. Nhưng dù là mật gì thì phần lớn mật đều có lợi cho sức khỏe.
Mắt thấy người học Phật ngày nay vướng vào kiến chấp, tà kiến, luận giải mê mờ. Lòng tôi không khỏi xót xa.
Điều đáng tiếc là đã hơn 2000 năm, trong Tăng bảo không xuất hiện lấy một bậc long tượng đủ sức gồm thâu các tông giáo về thành một thể thống nhất - Nhất thể.
Đạo Phật vốn bất tranh hà cớ gì chia tông, rẽ giáo. Tăng bảo, Phật tử mãi lo giữ đạo, giữ pháp nào hay khiến pháp Phật suy vi.
Tôi tự biết bất tài, tự chọn đi trong phi đạo làm điều trái đạo - Đập cho tan hoang kiến chấp “Giữ đạo” của các tông giáo; Đạo Phật lại tự viên dung.

Mọi người cứ mê lầm trong rừng kiến chấp. Tôi không muốn hợm hĩnh khoe mình nhưng không thể không giúp bạn nhìn nhận tôi rõ hơn.
Những mong về sau, bạn đừng vì quí mến, thương ghét, căm thù, hờn giận mà vẽ cho tôi thêm đôi cánh. Gắn thêm đôi chân. Hoặc xé tan tôi ra thành trăm vạn mảnh rồi ngẩn ngơ không biết tôi là con gì mà quái dạng, dị hình.
Tôi là ai?
Đây là câu hỏi mà bạn thường hay đặt ra khi tìm hiểu về quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”
Cho dù tôi là ai?
Có chứng đạo hay không, điên loạn hay bình thường, sống hay chết,… thì có can hệ gì đến bạn?
Bạn uổng phí tâm trí cho việc tìm hiểu tôi có giúp cho bạn vơi bớt những khổ đau, những lo nghĩ trong cuộc sống không?
Có giúp bạn được lắm bạc, nhiều tiền, có cuộc sống hạnh phúc không?
Nhân loại vẫn thừa nhận “Dò sông, dò biển dễ dò; mấy ai lấy thước mà đo lòng người”. Thế nên lòng người sâu hiểm cùng tận bao nhiêu thì lòng tôi cũng thâm sâu không kém.
Đừng cố tìm hiểu, suy diễn về tôi là ai! Là giống loài gì mà có những cách nghĩ lập dị, điên rồ?
Về xác thịt, chắc chắn rằng thân xác tôi có cấu tạo không khác cơ thể của bạn, cũng có chút đất, chút nước, chút lửa, chút gió.
Còn tâm ý? Bạn có thực sự hiểu được tâm ý của chính bạn?
Bạn có nhận biết được nguồn gốc sự tồn tại của bạn trong cõi đời này?
Sao bạn cứ tìm hiểu về mọi việc ở bên ngoài mà ngay trong chính bạn, bạn lại không rõ biết?
Chỉ khi bạn thực sự hiểu rõ bạn, bạn sẽ nhận ra tâm ý của tôi và bạn vốn không khác. Bạn phạm phải sai lầm chung của khoa học và nhân loại khi tìm hiểu, nhìn nhận, đánh giá vấn đề.
Nhân loại và khoa học cứ mãi kiếm tìm những sự việc xa xôi, ngoài cuộc sống. Họ đi tìm ngọn nguồn, điểm cuối của thời gian và sự cùng tận của không gian nhưng tự thân lại không hiểu được “Tại sao con người lại sinh ra, lớn lên, già bệnh rồi chết?”.
Tuy nhiên, tôi sẽ phác họa rõ hơn về tôi nhằm giúp bạn nhìn nhận những vấn đề trình bày trong quyển sách được khách quan, sáng rõ thêm.
Lời đầu tôi muốn nói:
Tôi nhận thức được rằng “Tôi thực sự nợ ba mẹ một đôi mắt sáng, một trái tim biết yêu thương, một tinh thần học hỏi, hiểu biết,...”.
Tuy nhiên, cũng có lúc dường như tôi đã nuối tiếc cho tôi. Có lẽ do sự khó khăn về kinh tế, việc sợ con cái ăn chơi, đua đòi theo chúng bạn. Ba mẹ tôi đã có phần khắc khe trong việc giáo dục, quản lý. Cùng với những trang sách của nhà trường, tôi đã tự giam mình trong cái lồng thật đẹp, tươi sáng.
Đến khi ngột ngạt, tù túng tôi bước ra khỏi cái lồng. Mắt chưa đủ sáng. Tri thức học được chưa đủ sâu rộng nhưng tôi cũng lờ mờ nhận ra những gam màu tươi sáng trở nên nhạt nhòa, xám xịt. Cộng với những khó khăn, khổ đau trong gia đình, tôi nhận ra mặt trái của cuộc sống. Mất niềm tin vào sự tồn tại của màu hồng, tôi đi tìm và bắt lấy những gam màu u tối.
Bạn lại ngộ nhận “Hẳn là cuộc sống gia đình tôi rất khó khăn và đau khổ”. Không hẳn thế, người đời thường nói “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”. Gia đình tôi không là nhà giàu nhưng cũng không thể gọi là ăn mày.
Tôi sẽ chứng minh cho sự không nhiều khó khăn của tôi bằng một câu chuyện có thật.
Câu chuyện về những đứa trẻ ăn xin. Tôi rõ biết rằng “Khó khăn của tôi không thể so bì được với sự khốn khó của những đứa trẻ bị bỏ rơi. Chúng đã không may khi bị những kẻ chăn dắt mang về đánh đập cho thương tật đầy mình - Què chân, gãy tay, mù mắt,… Rồi những đứa trẻ đó phải lê lết khắp phố, cùng phường xin ăn mang về nuôi kẻ ác tâm. Duy có điều những đứa trẻ đó không mang lòng oán hận người đã hại chúng. Trong đầu óc non nớt của chúng có sự khiếp sợ nhưng chúng cũng tin rằng: “Người đàn ông, người đàn bà ấy là người duy nhất quan tâm đến chúng. Lo cho chúng cái ăn, cái mặc, nơi ở. Họ vẫn tốt hơn những người đã quên bỏ chúng - Ba mẹ, cả những người kẻ thờ ơ và người tốt bụng cho chúng tiền, thức ăn nhưng đã không thể nuôi chúng dài lâu. Nhu cầu được sống và sự hiểu biết thơ dại khiến chúng không thật sự nhận ra chúng đang sống trong khổ đau”.
Quay lại vấn đề về tôi.
Khi tôi chưa là tôi, tôi là người có trái tim yếu đuối. Có tinh thần bạc nhược, nhạy cảm với khổ đau. Tôi rất sợ và luôn tìm cách tránh né khổ đau. Nhưng khác với nhiều người, cách né tránh khổ đau của tôi là nhận diện nguyên nhân khổ đau và hạn chế nguyên nhân gây khổ đau.
Trong quá trình nhận diện, tôi nhận ra khổ đau, phiền muộn thường là mặt trái của sự tươi sáng, hạnh phúc. Tôi cũng trực nhận được sự tươi sáng, niềm vui là những nốt thăng nhẹ tênh, ngắn ngũi. Còn sự tối tăm, nỗi buồn là nốt trầm nặng trĩu. Chính vì thế cảm giác vui vẻ, hạnh phúc chỉ thoáng qua còn nỗi buồn, đau khổ cứ đè nặng trong tâm trí của mỗi con người.
Không chỉ có thế, ngoài cảm giác vui buồn, khổ đau và hạnh phúc còn có một khoảng lặng trong nội tâm con người.
Tôi cứ ngụp lặn trong những vui buồn và cảm giác không vui, không buồn. Mặc dù tôi cố gắng thoát ra những nguyên nhân gây ra sự đau khổ nhưng có những việc tôi không hoàn toàn tự chủ, phải làm theo ý người khác. Lòng không khỏi phiền muộn.
Ví như đời tôi là một ván cờ thì có những nước cờ tôi buộc phải đi để vui lòng người khác. Kết quả nước cờ đó làm tôi gặp nhiều khốn đốn. Ván cờ trở nên rối rắm, khó giải.
Tôi có thật sự làm chủ không?
Nếu làm chủ tại sao phải đi những nước cờ không mong muốn.
Phải chăng tôi không phải là ông chủ tốt?
Phải chăng tôi không thể tự chủ để quyết định vận mệnh đời mình?
Tôi là chủ hay khách trong cuộc đời của chính tôi?
Những ai cho rằng tôi thiếu quyết đoán, yếu hèn nên biết người đó là kẻ chuyên quyền, độc đoán và ích kỷ. Họ chưa từng thực sự sống trong lòng người muôn nẻo quanh co.
Thế đấy! Với tinh thần bạc nhược, tôi bước vào đời. Cố gắng bám đuổi theo dòng đời hối hả. Trái tim yếu đuối khiến tôi bị bỏ lại phía sau. Tôi chậm bước, mệt mỏi rồi dừng lại. Chán nản, nghĩ ngợi mông lung, dần khỏe lại. Dòng đời vẫn hối hả, tôi như chiếc lá khô vàng rơi trên một dòng sông. Lại hụt hơi, rơi rớt,… lại bị cuốn vào dòng đời trong sự hụt hẫng, âu lo, chán chường.
Sau rất nhiều lần chậm bước, dừng lại. Tôi nhận ra một sự thật “Một sự thật mà nhân loại dường như mê lầm không nhận ra. Đó là ta chỉ thực sự sống ngay khi dường như ta dừng lại. Ngay khi ta uống một ly nước mát nhận ra ly nước mát. Ăn một bữa ăn ngon nhận biết thức ăn ngon và một giấc ngủ ngon, bình yên, không mộng mị”.
Khi nhận ra chân tướng sự thật, tôi xin gửi bạn lời nhắn nhủ “Hãy tự thức tỉnh, tự đánh thức mê lầm của chính mình, bạn tôi ơi!”.
Đúng sai?
Tôi không biết bạn là ai nhưng tôi biết chắc rằng bạn đang tất bật trong dòng đời hối hả. Tôi vẫn thấy bạn dừng lại uống ly cà phê, thưởng thức một cái bánh sinh nhật,… nhưng lòng lại chất đầy những lo âu, toan tính.
Phải chăng bạn đã đánh mất vị ngon lành, mát dịu của một ly nước, bữa ăn gia đình và giấc ngủ ngon,…?
 Tôi sẽ hỏi:
- Bạn là người năng nỗ, hăng say trong công việc hay đang mê mải chạy theo tiền tài, danh lợi? Đừng ngụy tạo, tự che mắt mình bằng những câu nói đại loại như “Tôi yêu công việc; Tôi sống vì mọi người. Tôi làm việc không vì tiền tài, danh lợi,...”.
Bạn phấn đấu làm một nhà khoa học tài ba; Một người hùng dân tộc. Một thầy giáo mẫu mực. Một bác sĩ đại tài. Một chính trị gia lỗi lạc. Một nhà kinh tế giàu có,… Bạn sẽ làm tất cả mọi thứ để đạt mục tiêu mà bạn theo đuổi.
Tôi chỉ hỏi thêm một câu hy vọng bạn thành thật trả lời:
- Nếu những cố gắng, nỗ lực không mang lại lợi ích gì cho bạn thì bạn có làm không? Hãy thật sống! Đừng lừa mình, dối người!
Vì khi đó, bạn sẽ phải vội vã bước qua cuộc đời mình. Sự hối hả khiến bạn đánh mất chính bạn. Tất cả chỉ là tham dục. Bạn tham lam thể hiện mình. Nhưng lại không rõ biết ngay khi bạn muốn thể hiện mình thì chính là lúc bạn đã đánh mất bạn.
Tôi nhận biết “Có những tham dục khiến bạn trở nên ích kỷ, đê hèn. Có những tham dục khiến bạn nghĩ là sự cao thượng nhưng đó chỉ là ngụy biện - Sự mê lầm.
Bạn đừng biến bạn thành nô lệ của đồng tiền, danh lợi. Cũng đừng làm nô lệ cho chính bạn. Bạn là ông chủ thực sự của cuộc đời.
Hãy chậm trải đếm bước và nếm trải vị ngon ngọt, an lành,... nơi cuộc sống - Sự hạnh phúc, bình yên. Là một ông chủ, bạn sẽ hạnh phúc, tự tại. Là một nô lệ, bạn sẽ bị trói buộc, khổ đau, buồn tủi,...”.
Riêng tôi, sau khi tốt nghiệp đại học, tôi vẫn giữ trái tim yếu hèn nhưng tôi không rời bỏ cuộc đời vì tôi ngu ngơ tin rằng gia đình cần tôi tiếp sức. Tôi đã ngộ nhận khả năng và tầm ảnh hưởng thật sự của mình với gia đình.
Mãi về sau, tôi mới nhận ra sự thật “Có thể không?”.
Trên đường đi, một gã say rượu tông phải; Một cành cây gãy; Một sợi dây điện đứt;… và tôi chết. Gia đình cũng tiếc thương nhưng rồi cũng ổn định lại. Vậy ra việc có hay không có sự hiện diện của tôi thật không có nhiều khác biệt.
Tôi cũng mơ hồ nhận ra sự yêu thương bảo bọc, sự kỳ vọng của người thân đã trói buộc, giới hạn những suy nghĩ, những ước vọng có trong con người tôi.
Tôi lại nhận ra “Lẽ thường trong sự yêu thương, bảo bọc có điều kỳ vọng. Trong sự bảo bọc có những lớp rào”. Tôi nhìn lại cuộc sống. Những đứa trẻ được sinh ra trong sự yêu thương, kỳ vọng,... thường bị cướp đi tuổi thơ vô tư, hồn nhiên. Với những đứa trẻ, chúng  chỉ thích lớn lên với những trò chơi bắn bi, trốn tìm, thả diều,… vui chơi cùng chúng bạn. Nhưng người lớn không nghĩ thế. Con họ là một đứa trẻ thông minh và tài giỏi nhất. Là thiên tài. Bao nhiêu kỳ vọng họ đặt lên đôi vai non trẻ, những bước đi chập chững. Họ tách con họ ra khỏi những đứa trẻ thơ hồn nhiên, vô tư mà họ gọi là những đứa bé hư hỏng, lêu lỏng, những trò chơi vô bổ…
Học đi con! Con sẽ là người tài ba lỗi lạc.
Họ có thương yêu con thật sự không?
Sự kỳ vọng khiến bậc làm cha mẹ trở nên ích kỷ, giết chết tâm hồn con trẻ “Con là niềm kiêu hãnh, tự hào của ba mẹ”. Nền tảng của một tâm hồn lành mạnh, yêu thương. Sự hồn nhiên, thơ trẻ bị giết chết bởi lòng tham dục. Đó không chỉ là lầm lạc duy nhất của người lớn. Họ vẽ cho con họ một con đường - Một lối đi. Những đứa trẻ phải bước những bước đi không tự chủ. Đến khi đủ lớn, đứa trẻ muốn vỗ cánh bay cao, bay xa thì sự bảo bọc một lần nữa giết chết niềm tin của chúng.
Trong mắt người cha, người mẹ những đứa con dù có là thiên tài được nhân loại trọng vọng thì cũng không thể hiểu biết hơn họ. Họ sắp xếp việc làm, cuộc sống, gia đình cho con cái.
Nếu có sự phản kháng thì họ trói buộc con bằng những câu nói đại loại “Con không yêu thương ba mẹ. Ba mẹ chết cho con vừa lòng,...”.
Sống trong sự bảo bọc từ thơ bé liệu có mấy ai bước qua khỏi giới hạn của tình yêu thương toan tính mà thật sống?
Sự lầm lạc này sẽ giết chết cả thế hệ tương lai. Sai lầm luôn ở người lớn, trẻ thơ hoàn toàn vô tội.
Hiểu như thế! Tôi rất sợ được người khác yêu thương. Tôi cảm nhận được gánh nặng ẩn chứa trong tình yêu thương. Thật buồn cười! Tôi đã xa lánh khổ đau, ganh ghét. Giờ tôi lại xa lánh cả sự yêu thương.
Tôi thật sự là ai?
Nhưng tôi cũng không thoát khỏi được sự thương ghét của mọi người. Trong công việc, tôi không cố thể hiện mình. Tôi chỉ im lặng và làm việc. Vậy mà cũng được giám đốc, lãnh đạo quý mến, coi trọng,... Kết quả của việc được cấp trên quý mến là việc bị ganh ghét, đố kỵ,...
Tôi không thích sống trong môi trường như thế, chịu đựng áp lực không đáng có. Tôi nghỉ việc và rong ruổi. Đây là khoảng lặng, khoảng dừng, là bước ngoặc quan trọng trong đời.
Tôi đến nhà những người bạn, người quen biết. Ở lại đó, tôi chiêm nghiệm, định hướng lại bước đường sau này. Tôi thấy những người bạn, người quen bị trói vào công việc, trong các mối quan hệ làm ăn. Họ chỉ biết họ là công nhân, nông dân, thợ hồ, kỹ sư,  giáo viên, bác sĩ,… Họ tất bật trong cuộc sống và đã vội quên rằng “Họ là một con người sống tự do”.
Lúc bấy giờ, tôi được thảnh thơi ở nhà, tôi vui đùa cùng lũ trẻ. Thời gian sau, tôi lại đi làm. Những đứa trẻ mất đi một người bạn. Những người cha, người mẹ chúng cũng lấy làm tiếc. Sự có mặt của tôi trong gia đình chỉ là thêm chén cơm, đôi đũa. Họ yên tâm khi có tôi ở nhà. Con họ và nhà cửa có người trông nom. Họ có một người bạn cùng uống chén trà, chơi một ván cờ,...
Thì ra khi đặt thân mình ra khỏi lợi danh, tiền bạc, con người gần với nhau hơn. Tôi cũng nhận ra “Tôi đang trói mình là một kỹ sư”.
Có những lúc gặp khó khăn về tiền bạc, tôi muốn bán sức lao động của mình trong vòng 10, 20 năm hoặc bán một phần cơ thể nhằm giải quyết dứt điểm mọi việc.
Khi sắp xếp ổn định mọi thứ, tôi sẽ đặt thân mình ra khỏi việc được mất lợi danh, tiền bạc.
Nhưng tôi đã không làm được điều đó. Tôi nhìn thấy trong ánh mắt những người giàu có, những người chủ mà tôi biết một sự hoài nghi.
Thật lạ! Mua sức lao động, sự hiểu biết của một kỹ sư bằng giá tiền mua sức lao động của một người làm thuê giá rẻ trong suốt 10, 20 năm mà họ vẫn nghi ngại, sợ thiệt thòi. Hẳn là sẽ không quá lời khi họ nói “Tôi mướn cả kỹ sư về quét nhà, rửa chén, coi sóc vườn tược và cho làm “chó giữ nhà”, làm tên đầy tớ,...”. Thế mà, họ vẫn không dám thuê.
Bạn đừng cho rằng “Tôi quá lời khi trình bày vấn đề này”. Bởi lẽ, trong cuộc sống hiện tại có rất nhiều mảnh đời có cuộc sống đói rách, thấp hèn,… mà tự họ cũng nhận thấy cuộc sống của họ không bằng đời sống con vật cưng của những người hàng xóm .
Bên cạnh đó, cũng không ít những con người giàu sang, quyền quý nhìn những người nghèo khó với sự kỳ thị, nghi ngại bởi lẽ họ cho rằng đó là hạng người hạ tiện, hèn mạt,...
Số khác sẵn sàng viết di chúc thừa kế toàn bộ gia tài cho những con vật cưng như chó, mèo,… và còn bao nhiêu việc kệch cỡm, hợm hĩnh khác. Nếu bạn từng được nghe những việc tôi vừa trình bày thì bạn sẽ nhận biết tôi không quá lời khi trình bày vấn đề trước đó.
Tôi đã từng nhận ra người đời nay sợ người tài, người đức. Giờ tôi lại nhận ra người đáng sợ nhất lại là tôi.
Người đời sợ tôi vì không biết tôi là loại người gì?
Không rõ tôi là người khôn, kẻ dại hay gã điên khùng.
Vì không rõ biết tôi suy nghĩ, toan tính gì, có làm gì càn quấy không?
Tôi trở nên thật đáng sợ.
...
Sau khi vào chùa, rời chùa tôi mang theo hiểu biết chưa thật rõ về sự giác ngộ. Dù vậy, tôi cũng đã tỏ ngộ rõ hơn “Việc càng xa lánh những gì liên quan đến quyền lợi cá nhân, càng tránh né yêu ghét, được mất thì mọi người lại quý mến hơn”.
Mặc dù họ vẫn chê trách, xem thường,... tôi không có chí hướng, hoài bão nhưng sự có mặt của tôi không làm mất quyền lợi của họ.
Vậy ra càng trốn chạy yêu thương, yêu thương càng tìm đến và ganh ghét cũng bám theo. Rồi, tôi cũng hiểu ra “Dù mọi người có yêu thương hay hận ghét thì tôi vẫn là tôi. Tôi vẫn là người quyết định vận mệnh của mình. Không ai có thể khiến tôi trở nên cao quý hay bần tiện, hèn hạ, xấu xa. Việc yêu ghét là việc của họ, vĩnh viễn tôi không thể ngăn cản được”. Thế là tôi bước qua ranh giới yêu ghét, được mất.
Những điều tôi nói ai mà không biết, có gì lạ đâu?
Bạn nói đúng. Nhiều người biết nhưng lại lại chóng quên.
Có mấy ai sống được với cái biết đó?
Vì không sống được với cái biết đó nên con người mới phải đắm chìm trong khổ đau, được mất tiền bạc, lợi danh. Đánh mất hạnh phúc chân thường.
Tôi dần hiểu rõ tôi là ai. Tôi lại có một ý nghĩ “Ta chối bỏ yêu thương. Yêu thương tự tìm đến. Ta chối bỏ bạc tiền thì sao?”.
Tôi đã từng cắm cúi kiếm tiền, tích góp cho nhiều biết khi nào, thế nào là đủ?
Khi không đạt được thì tôi lại trói mình trong những buồn lo. Vậy thôi, tôi không mê đắm kiếm tiền nữa.
Đến khi đạt được đóa vô ưu, tôi nhìn rõ vạn pháp. Đã có lúc tôi nói với những người bạn “Tôi sẽ không kiếm tiền nữa. Tôi kiếm tiền chỉ được vài đồng tiền nhỏ lẻ, đôi khi vì chúng mà vướng vào phiền muộn, mệt nhoài. Tiền sẽ phải tự đi kiếm tôi. Tiền của thiên hạ sẽ là của tôi. Nhà của thiên hạ sẽ là nhà của tôi”. Đó là câu nói chứa đựng một sự ngạo mạn đến ngông cuồng.
Sau đó, tôi lại có mối lo khác “Vướng vào tiền bạc, danh lợi không khéo lại đánh mất đi sự tự tại, thanh thản”. Thật chẳng đáng!
...
Khi bạn thực sự có những giây phút dừng lặng, thực sự có trái tim biết yêu thương. Bạn sẽ tự biết rằng những điều tôi nói là có thể thực hiện được. Bạn sẽ không tiếc 5000 đồng gửi đến quỹ “Từ bi sinh hỷ lạc” và ngôi nhà “Nối lại những yêu thương”.
Quyển sách tôi viết không chỉ phát hành ở Việt Nam. Nếu được trao truyền rộng khắp và khi tôi không có kế hoạch thật cụ thể thì số tiền quay về sẽ khiến tôi bối rối, choáng ngợp. Lúc đó, tôi sẽ bị cuốn vào công việc “Tiền thiên hạ trả về cho thiên hạ” và đối mặt với sự ganh ghét, đố kỵ và hoài nghi.
Sự ganh ghét, hoài nghi với tôi không đáng ngại. Nhưng chỉ e khi tôi bị cuốn vào tiền bạc, danh tiếng và công việc bận rộn lại mất hết sự an lạc.
Cũng như các phần trước, tôi cũng  không trao chuốc ý từ vì tôi rõ biết bông hoa đẹp chỉ có thể là món đồ trang trí, vật ngắm nhìn. Sự hoa mĩ sẽ khiến tôi thành người xa lạ.
Cũng như bạn, tôi vẫn hiểu “Nếu muốn có được danh lợi, bạc tiền,… Tôi chỉ cần thay đổi chút ít về nội dung, ngôn từ quyển sách. Lo gì tiền của không quay về” nhưng đó không phải là điều tôi muốn truyền tải đến mọi người. Tôi thì chẳng cần đến tiền bạc, lợi danh. Tôi chỉ muốn giữ lòng mình bình an, thanh thản.
Khi bạn thật hiểu, bạn sẽ nhận ra giá trị quyển sách là vô giá, không gì có thể đánh đổi được.
Nhưng nội dung quyển sách không phải là sự hiểu biết của riêng tôi. Những điều tôi trình bày trong quyển sách là sự thật có trong tự tâm của nhân loại.
Thế nên tôi chẳng thể kiếm lợi từ quyển sách. Tôi chỉ làm được việc duy nhất là nhận ra chân giá trị sự sống của con người và mang sự thật đó trả lại cho loài người.
Nếu chỉ vì cá nhân, ngay khi đạt được đóa vô ưu, tôi chẳng việc gì phải quay về tiền kiếp, kể cho bạn nghe những việc làm xấu xa, gian ác của chính tôi.
Và tôi cũng không việc gì phải tạo dựng kẻ thù trong nhân loại.
Những điều tôi trình bày là đúng hay sai?
Bạn chỉ có thể tìm thấy câu trả lời khi biết dừng lặng, sống thật với chính mình. Thực tế, việc có hay không có quyển sách, thêm hay bớt câu từ trong sách không làm cho sự hiểu biết của tôi tăng thêm hay mất đi.
Vì tôi muốn chuyển tải nội dung quyển sách đến nhân loại với nhiều tầng lớp, nhiều thành phần, nhiều trình độ nhận thức khác nhau nên việc trình bày có phần rườm rà, trùng lấp. Bạn cứ thư thả xem, phần nào hợp thì giữ lại. Phần nào không hợp thì cho qua,…
Trước khi đặt bút, tôi biết sẽ sớm mang giải Noben hòa bình về Việt Nam. Có thể tôi sẽ phải đi nhiều nơi trên thế giới, cả những vùng bất ổn nhất,... Có thể tôi sẽ bị mất mạng bất cứ lúc nào.
Khi quyển sách định hình, tôi hiểu lòng người khó dò. Ngại phải vướng vào vòng lẩn quẩn lợi danh, tôi đã có ý định sẽ đứng ra ngoài cuộc sống. Tôi sẽ chứng minh sự thật bằng cách chủ động đi tìm cái chết.
Thậm chí, tôi sẽ tự tại bước qua sinh tử bằng công phu hành trì. Ngay lúc còn sống, tôi sẽ học theo hạnh anh nhi - Là hạnh của đứa trẻ thơ vô tư, vô lự, hồn nhiên sống. Tôi sẽ tháo bỏ vòng luân hồi sinh lão bệnh tử bằng việc quay về tìm lại gương mặt thật của mình trước khi  được sinh ra. Tôi sẽ thoát khỏi luân hồi. Một lòng giữ đạo.
Thế nên, tôi dừng sách lại ở chương IX. Quyển sách ra đời kéo mọi người vào rừng kiến chấp, mê lầm không lối ra. Giúp người thành ra hại người.
Tôi lại phải đặt bút phá tan mê lầm bằng việc viết lại sự hiểu biết của nhân loại.
Muốn làm tốt việc này tôi phải quán chiếu lại mọi việc. Lại bước vào tam giới - 3 cõi 6 đường.
Trong khoảng thời gian này, tôi tình cờ được biết đến một thông điệp “Sẽ đè bẹp sự phát triển của Phật giáo bằng việc đồng hóa về mặt hình thức. Từng bước dẹp bỏ đạo Phật”.
Tôi đã đạt được sự vô ưu là nhờ trí tuệ của Phật chiếu soi. Lẽ nào trơ mắt nhìn Tam bảo bị hủy hoại.
Tôi sẽ phải hộ trì Tam bảo bằng cách nào?
Chánh định giúp tôi bừng tỉnh. Thật là…!  Tôi là ai mà có thể hộ trì Phật Pháp Tăng. Bảo vệ Phật nói ra chỉ làm trò cười cho thiên hạ.
Đạo rộng lớn cùng khắp. Giữ đạo không phải là mê lầm sao?
Ai là người có đủ khả năng giữ đạo?
Đạt đóa vô ưu mà tôi vẫn còn mê lầm. Lý giải cho sự mê lầm này là do việc tôi một lòng giữ đạo. Tôi đã từng nói giác ngộ thì có sâu cạn khác nhau. Nhưng giải thoát hoàn toàn thì chỉ có một.
Ngày đạt đóa vô ưu, tôi đã mở được cánh cửa giải thoát cho riêng mình. Việc phá ngã để hòa vào đại ngã đã giúp tôi an lạc, tự tại. Với chút tỏ ngộ đó, tôi đã đạt được sự giải thoát. Nhưng tôi không muốn giữ vị giải thoát cho riêng mình, tôi đã mang sự hiểu biết chuyển tải đến cho mọi người.
Để chuyển tải sự hiểu biết đến mọi người, tôi đã phải thể nhập 3 cõi, 6 đường. Tuy nhiên, tôi cũng đã giới hạn bản thân vào việc giữ đạo.
Đến nay, tôi nhận rõ chân tướng sự việc - Giữ đạo là mất đạo, giết chết đạo.
Tôi đang đi trong phi đạo. Việc tôi làm là trái đạo. Phá cho tan hoang đại ngã, tôi trở về vô ngã, hòa vào đạo. Tôi tỏ ngộ giữ đạo là vướng chấp giữ thể.
Dù rằng viết xong quyển sách, có thể xem như việc làm của tôi đã xong. Quyển sách tuy là thể nhưng khi bạn cảm nhận và tùy thuận hành trì thì dụng lưu xuất.
Tôi vốn là dụng lại giữ thể, lập anh nhi hạnh, làm mà không làm. Tách rời thể dụng thời lầm lạc. Thể dụng vốn không hai.
Tôi những mong lập quỹ từ thiện, ngôi nhà yêu thương lại vướng kiến chấp người đời đố kỵ, ganh ghét; bị lôi cuốn vào vòng danh lợi, bạc tiền không giữ được tâm thái an lạc, tự tại. Chết đã không sợ. Lại sợ lòng tham dục đủ thấy tham dục đáng sợ đến nhường nào. Cơm không cần no, áo không cần ấm tôi lại không dám đối mặt với tham dục.
Tôi không vào Địa ngục thì ai dấn thân vào Địa ngục?
Quyển sách đã ra đời. Đó là tạo duyên. Việc về sau tùy duyên tự tại. Nhưng trước hết, tôi sẽ phá tan đạo Phật ra thành bụi nhỏ, rồi vứt cả vào hư không.
Có một sự thật là nếu muốn phá cho tan hoại Phật giáo bằng việc đồng hóa hình thức thì biết đến bao giờ?
Chi bằng hãy tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển đến cùng cực, tự khắc Phật giáo sẽ tàn lụi.
Như tôi đã trình bày ở các phần trước “Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại sự cân bằng. Khi mất cân bằng nội tại - Phát triển cực thịnh nhưng thiếu sự bền vững, ổn định thì sẽ tự tan hoại”. Phật giáo cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đạo Phật vốn bất tranh.
Nhưng hiện nay đạo Phật có rất nhiều tông giáo và không ngừng phát sinh thêm tông giáo mới dựa trên nền tảng giáo lý, kinh điển Phật giáo. Tông giáo nào cũng lấy tông chỉ “Giữ đạo” gây ra sự phân chia giáo đồ. Tạo ra sự ngộ nhận cho người tu học. Người tu học đem giáo lý, kinh điển ra phiếm đàm, luận giải lầm lạc. Lấy ngọn, bỏ gốc. Tự đạo Phật đã suy vi vì không mang lại sự bình an thật sự trong lòng Phật tử. Phật tử truyền đạo làm việc trái đạo.
Cùng với sự hiểu biết của con người, Phật giáo sẽ tự tàn lụi. Bạn chỉ việc rút lui, lùi một bước sẽ thấy ngay kết quả. Đây là diệu kế “Bất chiến tự nhiên thành” - Không đánh mà vẫn thắng.
Thực tế là muốn Phật giáo mất gốc còn khó hơn việc “Hái sao trên trời”.
Tại sao?
 Tôi có chút ít mê lầm, ôm mộng hộ trì Tam bảo. Ngộ nhận Phật, Pháp, Tăng - Tam bảo nằm ngoài tự thể. Vội quên Phật, Pháp, Tăng là tự tánh thường tại của mọi chúng sinh, chẳng thể dứt mất. Giáo lý, kinh điển chỉ là phương tiện, là chìa khóa để khai mở sự giác ngộ, giải thoát.
Dù cho giáo lý, kinh điển có hư hoại, tiêu hủy. Loài người, trái đất không còn thì Tam bảo vẫn trường cửu. Vì sự sống của chúng sinh trong 3 cõi, 6 đường luôn tồn tại. Khi đau khổ, phiền muộn đến cùng cực và cùng với sự hiểu biết, tự tánh bồ đề sẽ hiển lộ. Bậc giác ngộ lại ra đời.
Chương III

Có chút sai khác về khái niệm nhân loại giữa tôi và bạn. Bạn chưa từng đưa ra khái niệm về nhân loại. Nhưng tôi biết khái niệm về nhân loại của bạn trên lý thuyết là toàn bộ con người đang tồn tại trên trái đất này.
Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm về nhân loại của bạn thực sự chỉ gói gọn trong những nhận định chung chung không mang tính thực tế,…
Ví như khi người đời nhận định con người thế kỷ XXI là con người văn minh, tiến bộ. Là con người biết sống trong sự hiểu biết và thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Đây chỉ là nhận định mang tính chất chung chung, không thực tiễn vì con người vẫn còn đang bắn giết, tước đoạt sinh mạng lẫn nhau,...
Nếu nhận định trên là của nhân loại thì chiến tranh đã chấm dứt từ lâu, con người đã và đang sống trong nền hòa bình thịnh trị, xã hội tiến bộ và văn minh thực sự.
Hoặc là khái niệm về  nhân loại của bạn chỉ là một nhóm người, một tổ chức có tiếng nói trên trường quốc tế,… họ lên tiếng. Đó là tiếng nói của toàn nhân loại.
Tôi có cách nhìn sai khác - Nhóm người, tổ chức đó,... chỉ là đại diện cho một tổ chức, một nhóm người, một quốc gia nào đó chứ không là nhân loại. Không ít lần họ đưa ra rất nhiều nhận định phiến diện, một phía có lợi cho họ và đôi khi những nhận định đó hoàn toàn không có nhiều ý nghĩa đối với nhân loại. Thế nên, những nhận định sai lạc đó không thể cho là tiếng nói của nhân loại.
Ví như họ đưa ra nhận định cái chết của Binladen được nhân loại hoan nghênh, vui mừng,… Điều này chứa đựng sự gian trá. Thực sự cái chết của Binladen không được nhân loại hoan nghênh đến mức mà nhóm người đại diện kia thêu dệt. Phần lớn nhân loại không cần biết Binladen là ai cả. Việc Binladen chết hay sống, họ không quan tâm vì đơn giản là không can hệ gì đến cuộc sống của họ. Thế nên, họ đã không lên tiếng. Vô hình chung, nhận định riêng phiến diện của một nhóm người lại trở thành nhận định chung của nhân loại.
Một số nhà tư tưởng, nhà chiến lược đã lợi dụng sự thờ ơ, vô tâm của số đông loài người để củng cố vị thế của một quốc gia, dân tộc nhằm mục đích, tham vọng riêng.
Đã đến lúc nhân loại có cái nhìn thấu đáo nhằm ngăn chặn những hành vi tư lợi, đáng lên án của những nhóm người, những tổ chức, những thành phần,... sai phạm. Giúp xã hội loài người trở nên yên bình và ổn định hơn.
Nhằm giúp vấn đề rõ ràng thêm, tôi xin trình bày tiếp về những vấn đề liên quan đến cái chết của Binladen.
Trong khi một số đông nhân loại không quan tâm đến sự sống chết của Binladen. Một số người khác khi biết Binladen đã bị chết thảm, cùng với sự hiểu biết, họ sớm có nhận định “Sẽ có nhiều quốc gia trên thế giới sẽ rối ren do tiềm ẩn nguy cơ khủng bố. Sự trả thù, bạo loạn sẽ diễn ra nhiều nơi. Tất cả đã muộn cho việc lên tiếng ngăn chặn và họ đã im lặng”.
Thực tế, mọi việc đã  xảy ra như là sự suy đoán của họ. Tất cả chỉ mới là sự bắt đầu. Một thủ lĩnh mới của phe khủng bố đã lộ diện và nhanh chóng đón nhận lệnh khai tử từ phe đối lập. Hiển nhiên là phe khủng bố sẽ có sự phản kháng.
Chiến tranh và thù hận lại được số ít người gieo rắc và nguy cơ leo thang chiến tranh sẽ nổ ra bất cứ lúc nào?
Tôi rõ biết “Dù là ai nằm lại ở chiến trường thì sẽ lại có nhiều… nhiều người khác đứng lên”. Đây là câu chuyện không có hồi kết vì đơn giản “Máu sẽ phải trả bằng máu”.
Con đường hòa bình cho nhân loại không bao giờ được xây dựng bằng chiến tranh và lòng thù hận?
Chỉ khi con người đến với nhau bằng trái tim chân thật, tình yêu thương chân thật thì chiến tranh và hận thù mới được đẩy lùi.
Đến khi đó, nhân loại mới có được sự cảm thông, chia sẻ khó khăn cùng nhau. Sự hiểu biết của nhân loại sẽ tăng trưởng nhằm giúp loài người nhận diện được kẻ thù của nhân loại trong thế kỷ này là sự cuồng nộ, khắc nghiệt của thiên nhiên - Sự biến đổi khí hậu toàn cầu.
Nhưng đến nay nhân loại vẫn còn mê mờ sống trong chiến tranh và thù hận. Nhân loại đã từ lâu chỉ là một khối ô hợp không có sự đoàn kết, không có tổ chức và không có tiếng nói chung.
Phần lớn loài người, trong đó có tôi, có bạn đang sống trong những tham dục, tự tư, tự lợi cá nhân. Một số khác lại mặc cảm “Thấp cổ, bé họng”, có nói cũng chẳng ai nghe. Số khác hiểu rằng khi họ lên tiếng, chẳng những không được gì, lại còn bị mất quyền lợi, bị trả thù.
Chuyện rõ thật, bất kỳ ai trong nhân loại cũng đều thừa nhận.
Nhân loại cần sống trong sự hiểu biết, thương yêu và hòa bình nhưng chiến tranh, bạo loạn, bất ổn chính trị, xã hội,… lại đang cùng khắp.
Nếu nhân loại không sớm nhận ra những sai lầm trong nhận thức và cùng chung tay khắc phục những lầm lạc thì khó có sự đảm bảo cho sự tồn tại của loài người trên trái đất này.
Thật không còn nhiều thời gian cho nhân loại bảo vệ và sống với sự thật đó.
Đã đến lúc nhân loại đồng lòng lên tiếng nhằm bảo vệ sự tồn tại, sự sống của chính loài người.
2.   Khoa học cắm cúi bước đi; Nhân loại hối hả bước đi;… và không ai quan tâm nhận biết loài người sẽ về đâu?
Hiện nay, các cường quốc quân sự đang không ngừng cải tiến sức mạnh hủy diệt của vũ khí hạt nhân, xây dựng các lá chắn phòng thủ quốc phòng,... Ngay cả những nước nhỏ cũng bị cuốn theo phong trào nâng cấp khả năng quân sự thông qua một tiêu đề trên báo chí - “Châu Á ùn ùn mua sắm vũ khí”.
Thật hết sức lầm lạc!
Bao nhiêu tiền bạc, tài sản của nhân loại đang đầu tư cho mục tiêu giết người?
Phải chăng các nước nhỏ mua sắm vũ khí để tăng cường khả năng phòng vệ?
Giả thiết nếu chiến tranh  xảy ra, các nước nhỏ phải đối đầu với các siêu cường quốc vũ khí, liệu có bao nhiêu phần trăm khả năng thắng lợi của nước nhỏ khi những quả bom hạt nhân được treo lơ lững trên bầu trời của các nước nhỏ?
Bạn không cần phải miễn cưỡng chống chế “Thế giới còn có nhân quyền, có hiến chương Liên hiệp quốc. Nhân loại sẽ bảo vệ bạn khi bạn không vi phạm các công ước quốc tế. Pháp luật sẽ bảo vệ những người lương thiện,...”.
Khi chân lý nằm trong tay kẻ mạnh, ai đủ mạnh để bảo vệ những nước nhỏ, những người cô thế. Lybia, Syria, Apganixtant, Irac, Kosovo, Palestin,… và nhiều quốc gia khác đã, đang và sẽ bị tắm máu. Những quốc gia nhỏ bị tàn phá, thiệt hại nặng nề.
Phải chăng những người dân của các quốc gia đó là thường dân vô tội?
Nhân loại sẽ bảo vệ họ khi quốc gia họ tang thương, hoang tàn,… Liên hiệp quốc, các tổ chức nhân đạo sẽ mang lương thực, thuốc men, quần áo,… đến cứu trợ khi những người dân đó sống trong khốn cùng, bệnh tật.
Điều này minh chứng cho một sự thật. Sau một cuộc chiến tranh tất sẽ có khủng hoảng nhân đạo - nạn đói nghèo, vấn đề dịch bệnh, sự tàn tật.
Tại sao loài người cứ phải u mê đi khắc phục hậu quả của chiến tranh trong khi nhân loại hoàn toàn có khả năng hạn chế nguyên nhân gây ra chiến tranh?
Sự hiểu biết của con người hoàn toàn có thể làm tốt điều đó.
Ví như có một quốc gia nào đó có những bất ổn về kinh tế, chính trị có nguy cơ dẫn đến loạn lạc, khủng hoảng nhân đạo. Nguyên nhân là do sự cai trị hà khắc của giai cấp lãnh đạo. Giai cấp thống trị đưa ra những đường lối chính sách vi phạm chuẩn mực công ước quốc tế. Nhân loại chỉ việc can thiệp bằng các biện pháp cấm vận, cô lập quốc gia đó. Một mặt kêu gọi người dân thường của quốc gia đó quay lưng lại với giai cấp thống trị, giai cấp lãnh đạo thông qua việc không ủng hộ, không đóng thuế, không sản xuất và kêu gọi những người thân của họ giải giáp vũ khí, giải tán quân đội. Nhân loại sẽ cam kết ủng hộ, bảo vệ quốc gia và người dân, đảm bảo chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc, cho quốc gia đó. Nếu thực sự các đảng phái chính trị, giới lãnh đạo của quốc gia đó có những sai phạm gây khốn cùng cho người dân, vi phạm nhân quyền thì thiết nghĩ chỉ cần dùng cách thức trên là có thể giải quyết được vấn đề trong hòa bình.
Nhưng tại sao các cường quốc, Liên hiệp quốc đã không làm thế?
Phải chăng có một mối lợi nào khi đánh chiếm các quốc gia khác?
Có lẽ… khoáng sản, dầu mỏ,… và sự thuần phục của quốc gia bị xâm chiếm sẽ giúp vị thế của các cường quốc được củng cố.
Không những thế, vũ khí được các cường quốc sản xuất ra sẽ bán cho ai và dùng vào việc gì?
Đã không ít quốc gia giàu mạnh nhờ bán vũ khí phục vụ chiến tranh.
Nhân loại phải chăng đã có nhiều hiểu biết?
Nếu nhân loại thực sự có hiểu biết thì có lẽ những kho vũ khí, vũ khí hạt nhân đã đến lúc bị khai tử.
Khi con người chưa có sự hiểu biết thì mới cần có vũ khí để bảo vệ biên giới, lãnh thổ ngăn ngừa quân cuồng bạo cướp bóc, xâm chiếm.
Nhưng khi nhân loại đã có hiểu biết, thực sự đồng lòng thì sức mạnh của khối đoàn kết đó - Tầm ảnh hưởng và tiếng nói của nhân loại sẽ không có gì có thể chống lại.
Vậy thì vai trò của vũ khí phải chăng cũng không còn thực sự cần thiết?
Nhật Bản sau thế chiến thứ hai chỉ còn lại đống hoang tàn. Công ước quốc tế đã cấm người Nhật xây dựng quân đội, sản xuất vũ khí, việc an ninh quốc phòng được các cường quốc bảo hộ. Đặc biệt là nước Mỹ. Có lẽ nhờ vậy giới lãnh đạo Nhật Bản ở thời kỳ sau thế chiến thứ hai đã dùng tiền của người dân đúng mục đích chỉ chuyên tâm phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật,…
Kết quả chỉ trong thời gian ngắn Nhật trở thành một siêu cường quốc về khoa học và kinh tế.
Ngoài ra, trên thực tế vũ khí đã vượt qua giới hạn bảo vệ lãnh thổ, biên giới quốc gia. Phần lớn vũ khí đã và đang phục vụ cho việc gây hấn, tạo chiến tranh, cướp bóc và giết người.
Vũ khí đã tạo ra sự hận thù giữa các quốc gia, các dân tộc, người với người. Đã không ít lần vũ khí đã quay lại hủy hoại chính các quốc gia tạo ra chúng.
Hiện nay có rất nhiều vũ khí tối tân, hiện đại được bày bán ở thị trường chợ đen. Có thể mai này lực lượng khủng bố cực đoan, cuồng tín mua được cả bom hạt nhân.
Khi đó, nhân loại sẽ đi về đâu?
Mặt khác, khi hận thù được nung nấu thì con người cũng không cần đến vũ khí để lấy mạng người.
Sự kiện 11/9, những chiếc máy bay dân sự là điển hình cho việc đó. Có lẽ vũ khí hạt nhân hay cả hệ thống lá chắn tên lửa cũng không có ích gì trong sự kiện tang thương, đáng buồn trên nhưng đó lại là một kết quả tất yếu.
Hận thù sẽ trả lời bằng hận thù. Điều này sẽ luôn đúng, trước đây, bây giờ và sau này vẫn vậy.
Hận thù chỉ được hóa giải bằng tình thương yêu chân thật. Khi con người đến với nhau bằng trái tim thực sự biết yêu thương.
Bạn có biết “Những đầu đạn hạt nhân ở các nước lớn là bao nhiêu tiền của, mồ hôi và nước mắt của loài người?”
Sự hiện diện của quả bom hạt nhân là minh chứng cho sự phát triển lầm lạc của khoa học và lòng tham dục của con người.
Điều duy nhất của vũ khí hạt nhân làm được là giết người, là hủy diệt sự sống”.
Liệu những nhà khoa học tạo ra bom hạt nhân có niềm tự hào, có sự kiêu hãnh,... khi biết quả bom hạt nhân đã phát nổ hủy diệt phần lớn nhân loại và mang cái chết đến cả với những người thân của họ.
Những người lãnh đạo của các cường quốc hạt nhân đã gian trá ngụy biện sự cao thượng giả tạo. Tôi dùng vũ khí hủy diệt nhằm bảo vệ dân tộc tôi.
Bạn đã bảo vệ người dân bạn như thế nào trong ngày 11/9, trong sự kiện đánh bom tàu điện ngầm và nhiều sự kiện khác,…
Cụm từ quốc gia, dân tộc phải chăng là con cờ, là lá chắn che đậy tham vọng bá chủ hoàn cầu?
Phải chăng bạn đã dùng danh nghĩa quốc gia, dân tộc, sự hòa bình,... nhằm che giấu kín kẽ sự hiếu chiến độc tài của riêng bạn trước người dân cùng nhân loại?
Nhưng đó là tham vọng, là dã tâm của bạn. Không phải của những người dân, của quốc gia. Dân tộc bạn không cần điều đó. Họ chỉ cần có cuộc sống bình yên.
Bạn ngụy biện “Chúng ta cần vũ khí tối tân để bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia”. Bạn giỏi hùng biện và dân tộc bạn đã bị dối lừa.
Nhưng với sự giàu mạnh, cường thịnh của quốc gia bạn và bạn không có ý đồ xâm phạm, bức bách quốc gia khác thì liệu có quốc gia nào có thể đến tấn công quốc gia bạn?
Hơn nữa, có sự khác biệt nào giữa người Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc.
Nếu có khác biệt người Châu Phi, Châu Á, Châu Úc là người thì người Châu Âu, Châu Mỹ thuộc giống loài gì?
Nếu đã cùng là người thì sao lại phải xâm chiếm, giết hại lẫn nhau một cách triền miên?
Phải chăng lòng tham dục đã được ngụy tạo che đậy bằng vỏ bọc công lý, nhân quyền, hòa bình,... và tiến bộ?
...
Nhiều lần bạn đem quân đội, vũ khí tấn công một số nước mà người dân trong nước không rõ biết quốc gia đó ở đâu?
Không thực sự biết tại sao quốc gia đó trở thành kẻ thù của đất nước mình?
Những người con của đất nước bạn sẽ phải chết cho những cuộc viễn chinh đẫm máu. Nhưng họ và cả người thân họ thật không muốn họ phải chết như thế. Đó là một sự thật.
Tôi đã quán chiếu những xác chết ngổn ngang trên chiến trường. Lực lượng binh lính liên quân, những chiến binh, quân phiến loạn và cả xác chết của những người dân thường,... Tôi không tìm thấy được sự tự hào, kiêu hãnh,... trong những xác thân nhầy nhụa máu. Ở nơi đó, có chăng là sự kinh hoàng, hoảng loạn và đau đớn trên khuôn mặt, khoé mắt họ,… và tôi nghe những giọt nước mắt rơi, cả tiếng khóc cho nỗi đau mất người thân,...
Tôi muốn truyền tải đến nhân loại vấn đề gì?
Sự tồn tại của kho vũ khí, của bom hạt nhân là sự hiện diện của chiến tranh, hận thù, đau thương và mất mát.
Có nên chăng nhân loại - Tất cả loài người trên thế giới và cả người dân ở các quốc gia đang sở hữu vũ khí hạt nhân - cần chung cùng tiếng nói xóa bỏ sự tồn tại của kho vũ khí hủy diệt?
Việc xóa sổ những kho vũ khí đóng vai trò giết hại đồng loại, “diệt người, hại mình”,... liệu có phải là vấn đề nên làm chăng?
Sự tồn tại của kho vũ khí hạt nhân trên thế giới cứ như là việc nhân loại chứa bom nổ chậm trong nhà. Thật vậy, chẳng một ai có thể biết kho vũ khí hủy diệt đó sẽ nổ ra lúc nào, ở đâu và khi đó trái đất sẽ không còn nữa.
Có thể mai này, một cường quốc hạt nhân khi leo thang chiến tranh với một quốc gia nào đó nhưng đã không thành công. Niềm kiêu hãnh của nước lớn bị tổn thương. Việc ném một vài quả bom hạt nhân nhằm mục đích trừng phạt và cũng để khảo nghiệm lại sức công phá hũy diệt của sức mạnh quân sự là điều không khó  xảy ra.
Điển hình như là sự kiện Nhật Bản đã từng phải hứng chịu hai quả bom hạt nhân khi chiến tranh thế giới gần như đã tàn cuộc, chấm dứt.
Không chỉ thế, ai có thể đảm bảo rằng kho vũ khí hạt nhân sẽ không là đích ngắm của lực lượng khủng bố. Khi mà những thông tin cơ mật của quốc gia vẫn thường bị rò rỉ.
Nếu kho vũ khí hủy diệt đó bị lực lượng khủng bố chiếm giữ hoặc kích nổ thì hậu quả sẽ ra sao?
Hơn nữa, ai dám đảm bảo rằng sự rủi ro, bất cẩn của một vài người không làm cho kho vũ khí hạt nhân nổ tung như việc nhiều kho vũ khí ở Nga và ở nhiều nước khác đã từng phát nổ.
Nếu kho vũ hạt nhân của Nga, Mỹ,… phát nổ thì ai là người có thể tiên đoán được hậu quả khủng khiếp đó. Lúc đó, nhân loại còn có ai để viết lại sự kiện lịch sử “Thảm họa hạt nhân hủy diệt cả loài người”?
Mọi việc không chỉ dừng lại ở những vấn đề tôi đã trình bày. Hiện nay, băng ở Bắc cực - Nam cực đang tan chảy với tốc độ nhanh. Tôi tự hỏi “Việc tiến hành các cuộc thử nghiệm sức công phá của vũ khí hủy diệt ở hai cực có đóng vai trò gì trong việc khiến băng tan chảy hay không?”.
Đây cũng là một câu hỏi lớn của nhân loại và sẽ không có câu trả lời. Vì đơn giản không ai đủ khả năng và dám nhận trách nhiệm để trả lời câu hỏi gai góc đó.
Tuy nhiên, tôi cũng không đặt ra câu hỏi để truy cứu trách nhiệm của một cá nhân hay tổ chức, một quốc gia nào. Tôi chỉ muốn nhân loại nhìn nhận lại vấn đề một cách rõ ràng và đặt ra một câu hỏi khác “Nhân loại sẽ ứng phó ra sao với tình trạng biến đổi khí hậu nhằm cứu lấy sự tồn tại của trái đất - Sự sống và loài người?”...
Vấn đề chưa dừng lại,… Đêm qua, sau khi bị ảnh hưởng của một cơn siêu bão, nước lũ dâng lên quá nhanh cùng với sự bất cẩn của một số người trong việc điều tiết dòng nước bên trong đập Tam Hiệp. Việc này đã khiến đập Tam Hiệp bị vỡ dẫn đến việc hàng trăm triệu người chết và mất tích; gây ra cảnh khốn cùng, khó khăn cho hàng triệu triệu người. Thiệt hại về mặt vật chất là không thể tính đếm, không thể hạn lượng. Việc giải quyết, khắc phục hậu quả của chính phủ Trung Quốc đang gặp phải rất nhiều khó khăn do việc thiếu thốn về vật chất, thuốc men, các nhân viên tình nguyện nhân đạo,...
Nhân danh các tổ chức cứu trợ nhân đạo quốc tế, tôi góp lời khẩn thiết kêu gọi mọi người, mọi thành phần, mọi quốc gia,... trên thế giới cần có những hỗ trợ tích cực, kịp thời về tiền của, thức ăn, thuốc men, sức người,... nhằm giúp quốc gia có số dân đông nhất thế giới khắc phục hậu quả của thảm họa vỡ đập.
Bạn rõ biết đập Tam Hiệp chưa vỡ.
Sao tôi lại có thể tùy tiện nói lời cay độc gây rối dư luận và làm nhiễu loạn lòng người?
Tôi không phải là người đầu tiên đưa ra lời nói không đúng sự thật. Hiện nay, mọi người hẳn là không ít lần, không khó khăn gì trong việc tiếp cận những lời tiên đoán ngu ngơ với đại ý - Ngày Tận Thế đang cận kề của một số người, một số tổ chức tôn giáo,… nhằm mục đích trục lợi, mưu cầu cá nhân.
Những lời tiên đoán của những kẻ lừa gạt trên là không có cơ sở, không đúng nên không có chút giá trị nào đối với sự hiểu biết của nhân loại. Tuy nhiên, những lời tiên đoán lầm lạc, tệ hại đó cũng đã gây ra những tác động tiêu cực đến xã hội. Tôi sẽ trình bày vấn đề này ở những phần sau.
Quay lại vấn đề vỡ đập Tam Hiệp.
Lời nói của tôi thì khác vì đó là nhận định dựa trên cơ sở khoa học và những lập luận có hệ thống, có độ tin cậy. Thế nên, lời nói của tôi có những giá trị nhất định đối với sự hiểu biết của nhân loại.
Tôi sẽ chứng minh lời nói của tôi bằng lập luận có tính logic, có sức thuyết phục.
Đập Tam Hiệp chưa vỡ, đó là sự thật. Nhưng điều đó không thể là sự bảo chứng đảm bảo đập Tam Hiệp sẽ không vỡ. Không riêng gì tôi, mọi người gần như ai cũng biết là độ an toàn ở các công trình xây dựng thuộc cấp quốc gia. Đặc biệt là ở những công trình mang tầm cỡ, mang ý nghĩa quốc tế. Bởi lẽ, các công trình trọng yếu đó chứa đựng niềm tự hào, kiêu hãnh của quốc gia đã xây dựng chúng.
Tuy nhiên, phần lớn nhân loại chỉ được bảo chứng bằng lời nói còn chất lượng thực tế của các công trình thì chủ yếu lệ thuộc vào tính chủ quan, khách quan của những người làm ra chúng.
Còn sự tồn tại bền vững của các công trình xây dựng trên lại phụ thuộc vào những người quản lý công trình.
Tôi chấp nhận giả thuyết công trình xây dựng đập Tam Hiệp là hoàn hảo. Nhưng điều này vẫn không đảm bảo được sự bền vững cho công trình. Bạn có biết “Nhật Bản đang phải gặp rất nhiều khó khăn trong việc khắc phục sự cố thảm họa hạt nhân từ các nhà máy điện hạt nhân?”.
Hẳn là công nghệ, kỹ thuật xây dựng của người Nhật là vấn đề không cần bàn cãi. Hiển nhiên chất lượng của các công trình nhà máy điện hạt nhân phải đòi hỏi kỹ thuật và độ an toàn không kém việc xây dựng cái đập lớn chắn nước trên sông - đập Tam Hiệp.
Nhưng sau khi đón nhận thảm họa sóng thần, động đất,... các nhà máy điện hạt nhân đã không còn an toàn vì đã bị phá hủy gây thiệt hại nghiêm trọng không chỉ cho người Nhật và không chỉ ở thời điểm hiện tại.
Sẽ phải mất bao lâu thì những bức xạ phóng xạ mới không còn gây nguy hại cho loài người và những sinh vật nằm trong khu vực bị ảnh hưởng?
Tôi đặt ra thêm một giả thuyết “Nếu ở Nhật Bản, liền sau thảm họa sóng thần lại phát sinh liên tiếp nhiều trận động đất lớn, nhiều đợt sóng thần lớn thì mọi việc sẽ ra sao?”.
Điều này có thể  xảy ra không?
Khi đó liệu ai có đủ khả năng đứng ra nhận lãnh trách nhiệm, lời xin lỗi sẽ gửi đến cho ai vì những người nằm trong phạm vi ảnh hưởng đã không còn và khi phạm vi ảnh hưởng phóng xạ đã vượt ra khỏi phạm vi nước Nhật.
Trên thực tế, thiên nhiên đã hủy hoại bao nhiêu công trình xây dựng mang tầm cỡ quốc tế. Những cơn siêu bão, lũ lụt,… đã nhấn chìm niềm tự hào của người Mỹ, Châu Âu ra sao và ở những quốc gia phát triển kém hơn như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Philippin, Đôngtimo, Inđônêxia,… đã phải tan tác như thế nào khi nhận lấy cơn cuồng nộ của thiên nhiên.
Nhưng đó chỉ mới là sự cảnh báo của tự nhiên, tất cả chỉ mới là sự khởi đầu.
Tôi chỉ vừa mới trình bày về yếu tố khách quan - Yếu tố tự nhiên. Tiếp theo tôi sẽ trình bày thêm về yếu tố chủ quan - Yếu tố con người. Nạn bùn đỏ ở Hungary. Thảm họa nổ kho vũ khí ở Nga… Đây không phải là lần đầu tiên một kho vũ khí quân sự phát nổ, đã có rất nhiều lần và ở nhiều quốc gia khác nhau.
Và còn gì nữa… đã có không ít những thảm họa khủng khiếp xảy đến cho loài người mà nguyên nhân chính là do sự bất cẩn, sơ ý,... của một số ít người.
Thế nên có thể không?
Ở một thời điểm nào đó, ngay cạnh đập chắn Tam Hiệp một cơn siêu bão quét qua. Động đất với cường độ lớn và ngay thời điểm đó người trực ban trông coi việc điều tiết lưu lượng nước vì một lý do nào đó không còn đủ tỉnh táo, sáng suốt để xử lý tốt mọi việc.
Đến khi đó liệu đập Tam Hiệp có còn an toàn?
Người Trung Quốc có câu nói “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”...
Nhân loại và khoa học đã quá tự phụ vào tri thức cùng khả năng thực sự của con người. Con người sẽ cải tạo tự nhiên khiến cho thiên nhiên quy phục, phục vụ con người. Lại chẳng biết sự hiểu biết của khoa học và nhân loại còn non kém, cùng với lòng tham của con người đang phá hủy tự nhiên.
Việc làm kém hiểu biết, không đúng mực của con người đã, đang, sẽ trực tiếp và gián tiếp gây hại lại cho sự tồn tại của con người cùng sự sống trên trái đất.
Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đang đe dọa sự tồn tại, sự sống của loài người trên trái đất.
Nguyên nhân gây ra sự biến đổi khí hậu?
Nhân loại đã né tránh trách nhiệm hay lầm lạc không nhận ra nguyên nhân chính gây ra sự biến đổi khí hậu chính là do lòng tham không đáy của con người?
Con người thừa nhận biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh phát sinh là do thiên tai, dịch họa.
Lại không thừa nhận động đất, sóng thần, núi lửa, trái đất nóng lên,… và dịch bệnh hoành hành chính là do tham dục của con người. Đó là do lòng tham con người dưới sự hỗ trợ tích cực của tri thức khoa học còn non kém đã rút hết phần lớn vật chất có trong lòng đất. Những khoáng vật được hình thành hàng triệu triệu năm.
Con người còn rút phần lớn lượng nước trầm tích trong lòng đất lên sử dụng hoang phí. Từ đó tạo ra những túi khí khổng lồ và với trọng lượng khối vật chất ở trên bề mặt, mặt đất sẽ dần lún sâu xuống. Kết cấu địa tầng sẽ bị nén lại, làm hạn chế sự thẩm thấu lượng nước trên bề mặt trái đất. Lượng nước này bao gồm lượng nước mưa hàng năm, lượng nước tiêu dùng sinh hoạt, sản xuất và cả lượng nước có trong ao hồ, kinh rạch, biển, đại dương. Kết hợp với lượng nước do băng tan chảy đang nhấn chìm diện tích đất bề mặt, gây ra ngập úng nhiều nơi.
Thế nên mới  xảy ra hiện tượng có phần nghịch lý. Trong khi nhiệt độ trái đất lại không ngừng tăng lên thì lại có nhiều vùng đất rộng lớn bị ngập lụt và chìm dần xuống các đại dương. Hậu quả của những việc làm thiếu ý thức, kém hiểu biết là con người đã tạo ra những khoảng trống khổng lồ trong lòng đất, làm thay đổi kết cấu địa tầng. Đây là nguyên nhân gây ra hiện tượng sụt lún - Hố tử thần, động đất, núi lửa, sóng thần,...
Không dừng lại đó, con người đã mang số khoáng vật khai thác được đốt cháy trong thời gian ngắn khiến trái đất nóng lên, gián tiếp gây ra cháy rừng, làm băng tan chảy, gây ra ô nhiễm môi trường, hiệu ứng nhà kính,…
Nhằm giúp vấn đề rõ ràng hơn, tôi sẽ trình bày một ví dụ.
Ví như trái đất là một ngôi nhà kín thì hành động của con người hiện nay là chất một đống củi thật to trong ngôi nhà kín đó rồi đốt lửa lên và bảo nhau rằng ngoài trời đang nóng bức.
Có thể nói hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra hiện nay, phần lớn là do những sai lầm cơ bản và rất ngớ ngẩn của con người đã tạo ra. Đó là kết quả của góc nhìn hạn hẹp, thiếu tư duy và vô trách nhiệm của toàn nhân loại.
Khoa học liệu có gánh được trách nhiệm về những lỗi lầm do sự thiếu hiểu biết đã gây ra?
Hiện tượng hiệu ứng nhà kính nhân tạo và khoa học đã nói gì?
Đã nhiều tỉ năm, trái đất vẫn đón nhận những luồng bức xạ từ mặt trời và cả hàng tỉ hành tinh khác. Tuy nhiên, trái đất vẫn đảm bảo được môi trường thời tiết, khí hậu duy trì ổn định cho sự sống tồn tại và phát triển. Bởi lẽ, khi đón nhận những luồng bức xạ từ mọi nơi đổ về thì trái đất vẫn đảm bảo sự cân bằng năng lượng bằng cách phát tán một lượng các bức xạ tương ứng vào không gian. Hiện nay, do việc phát triển công nghiệp quá mức, sự thiếu hiểu biết của con người đã gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính nhân tạo.
Hiện tượng hiệu ứng nhà kính nhân tạo là gì?
Để đơn giản vấn đề tôi trình bày hiện tượng hiệu ứng nhà kính nhân tạo là hiện tượng được tạo ra là do một lượng lớn khí CO2, CH4,... được sản sinh khi ngành công nghiệp phát triển. Về lý thuyết, lượng khí này đã tạo ra một khối khí bao bọc xung quanh trái đất ngăn chặn, hạn chế những bức xạ từ trái đất tán xạ ra ngoài không gian. Trong khi những luồng bức xạ từ mặt trời vẫn xuyên qua khối khí đó khiến trái đất càng nóng bức hơn.
Tôi đang hoài nghi tri thức của khoa học. Tôi đặt giả thuyết khối khí tạo ra hiệu ứng nhà kính dày 1 km, những bức xạ từ trái đất vào không gian bị chặn lại ở lớp khối khí gây hiệu ứng nhà kính, nung nóng khối khí này và bức xạ trở lại trái đất. Đồng thời tạo ra thêm một khí nóng liền kề. Tôi lại đặt thêm giả thuyết thứ hai khối khí liền kề này dày 1 km. Điều này đồng nghĩa với việc muốn xâm nhập vào trái đất luồng bức xạ từ mặt trời phải vượt tầng khí nóng dày 2 km. Tôi tạm loại bỏ vấn đề bước sóng, sẽ có hiện tượng gì  xảy ra trong quá trình xuyên qua tầng khí nóng của luồng bức xạ mặt trời.
Sự nóng bức của bức xạ mặt trời sẽ tăng lên hay giảm đi, có xuyên qua hay bị chặn đứng ở khối khí gây hiệu ứng nhà kính?
Có không hiện tượng “Chặn dòng”  xảy  ra như đối với sự chuyển động của chất lỏng?
Nhằm đơn giản vấn đề tôi sẽ đưa ra một ví dụ.
Ví như những luồng bức xạ từ mặt trời là một dòng nước mạnh chảy về trái đất. Đồng thời, ở trái đất cũng có dòng nước khá mạnh chảy theo hướng ngược lại và ngay tại điểm giao nhau của hai dòng nước lại có một dòng nước thứ ba mạnh không kém chắn ngang.
Dòng nước có nguồn gốc từ mặt trời có dễ dàng thâm nhập sâu vào trái đất hay không?
Hơn nữa, có không hiện tượng giao thoa ánh sáng ngay tại khối khí gây hiệu ứng nhà kính?
Nếu có hiện tượng giao thoa ánh sáng thì phần lớn bức xạ ánh sáng sẽ bị chặn lại ở vị trí này và làm gia tăng nhiệt ở tại vị trí giao nhau
 Nếu lập luận trên là đúng thì trái đất đang bị “Đun cách thủy”. Nghĩa là mặt trời là bếp lửa, trái đất là vật bị đun cách thủy. Còn khối khí gây hiệu ứng nhà kính là cái nồi chứa vật bị đun cách thủy.
Trên thực tế, lửa không chạm đến vật cần đun cách thủy mà vật cách thủy vẫn bị nấu chín do khối khí nóng trong nồi được tạo ra.
Trong trường hợp này, trái đất là vật bị đun cách thủy, lửa mặt trời chỉ có tác dụng tác động phụ trợ. Bởi lẽ tự thân trái đất đã tạo ra khối nhiệt lượng khổng lồ sinh ra do quá trình sản xuất kinh tế, chiến tranh, tập trận, thử nghiệm vũ khí giết người,…
Nếu lập luận của tôi có tính chính xác thì phải chăng các nhà khoa học đang nghiên cứu sự nóng lên của trái đất đứng trên góc nhìn của nhà nghiên cứu bức xạ, loại bỏ những nguyên tắc vật lý thông thường về dòng chảy, về ánh sáng,...?
Vậy nên dùng khoa học đổ lỗi trái đất nóng lên, băng tan chảy là do mặt trời hoạt động mạnh có còn hợp lý không?
Phải chăng hiện tượng trái đất nóng lên, băng ở hai cực tan chảy là do việc hành xử thiếu hiểu biết của loài người?
Là việc hoạt động sản xuất công nghiệp quá mức, chiến tranh, thử nghiệm vũ khí hủy diệt, nạn phá rừng,…?
Hay là tất cả những nguyên nhân đó đã làm mất cân bằng nội tại của hành tinh xanh?
Về bệnh dịch:
Cúm A, cúm H5N1, cúm H2N2… xuất hiện. Sẽ không một ai có thể biết chính xác số gia súc, gia cầm bị sát hại. Nhưng với sự ích kỷ của con người, đó không phải là tội ác. Đó là việc làm rất đúng đắn, cần thiết và kịp thời. Có thể xem đây là “Chân lý nằm trong tay kẻ mạnh”.
Mai này, khi có một quốc gia, một dân tộc, một thành phố lớn bị dịch bệnh tấn công. Khả năng dịch bệnh lây lan nhanh, rộng, gây chết người hàng loạt. Vì không hiểu rõ, chưa có biện pháp điều trị hiệu quả căn bệnh lạ. Cần giữ lấy sự sống, sự an toàn cho nhân loại. Quốc gia, dân tộc, thành phố đó sẽ bị xóa sổ.
Nếu bạn không may hiện diện ở nơi đó, trước khi chết bạn đừng hỏi “Vì sao?”. Vì việc làm đó rất cần thiết, kịp thời và đúng đắn.
Điều này có thể xảy ra không?
Rất nhiều loại bệnh dịch quái lạ đã xuất hiện trên diện rộng HIV, SAR, cúm,… tiếp theo đây sẽ là dịch bệnh gì?
Phải chăng phần lớn dịch bệnh lạ, khó điều trị đều phát sinh do lòng tham, sự thiếu hiểu biết của con người và sự non kém của khoa học?
Khi con người điều chế ra được kháng sinh thì con người đã lạm dụng quá mức, thiếu hiệu quả khiến tạo ra hàng loạt chủng loại vi khuẩn kháng thuốc.
Hiện nay, khi điều chế được vi sinh, con người lại tiếp tục lạm dụng. Hiển nhiên khi lượng vi sinh có lợi phát triển quá mức sẽ tạo ra những dòng vi sinh biến thể. Những chủng vi sinh mới lạ này sẽ có hoạt lực và hoạt chất khó lường.
Tôi sẽ nhìn nhận vấn đề này với lăng kính của những đứa trẻ.
Câu chuyện này sẽ gợi nhớ cho những đứa trẻ về câu chuyện “ Kiến giết voi”. Trong câu chuyện này, con voi to lớn là vậy nhưng chúng lại sợ sự đoàn kết, tinh ranh của những chú kiến nhỏ bé.
Loài người hiện nay với sự hỗ trợ đắc lực của khoa học nhưng vẫn gần như là bất lực trước những bệnh dịch do virus gây ra.
Việc lạm dụng kháng sinh, vi sinh, hocmon tăng trưởng,… phải chăng là biểu hiện loài người đang “Đùa với lửa”?
Nhân loại sẽ phải đối diện với hậu quả của sự non kém do tri thức khoa học mang lại.
Khoa học đã cố thể hiện bằng khẩu hiệu “Phát triển công nghệ khoa học phục vụ con người”. Khoa học cắm cúi tiến bước, vội vã nên đã không nhận ra phía trước là vực sâu không lối thoát.
Nhân loại hối hả chạy theo, rồi sẽ về đâu?
Khoa học cùng tham dục của loài người khiến trái đất mất cân bằng và kém an toàn. Là kẻ phá hoại trái đất. Bạn nhận thấy tôi khắt khe trong việc buộc tội ngành khoa học.
Dường như tôi muốn phủ nhận, xóa bỏ sự tồn tại của khoa học?
Tôi không nói sự phát triển khoa học là không hữu ích. Tôi thừa nhận sự tồn tại và phát triển của khoa học là rất cần thiết nhưng khoa học hãy nên bước những bước thật vững chắc, bền vững và có hiểu biết. Đừng biến thành công cụ phá hoại sự sống của lòng tham dục.
Tôi sẽ lại kể một câu chuyện.
Ví như hành tinh chúng ta là một cái bánh khổng lồ gồm 1.000 tấn rau quả các loại cung cấp khẩu phần ăn cho 2.000 con bò,  3.000 con heo, 6.000 con gà vịt,… Đây lại là khẩu phần ăn đảm bảo liên tục cho 1.000 người tồn tại mãi mãi nếu loài người đảm bảo được sự cân bằng. Nhưng với lòng tham và sự thiếu hiểu biết, con người đã phá vỡ sự cân bằng đó. Từ 100 người ban đầu con người đã gia tăng dân số quá mức lên đến 100.000 người. Nhằm đảm bảo sự sống con người buộc phải tạo ra 100.000 tấn rau quả, 200.000 con bò, 300.000 con heo, 600.000 con gà vịt,… Thế nên thời gian tồn tại cái bánh sẽ phải giảm thiểu. Nguyên do mặc dù tự thân trái đất luôn có sự tái tạo lại lượng vật chất phục vụ cho sự sống. Nhưng vì trong khoảng thời gian ngắn, lượng vật chất tái tạo sẽ không đủ đáp ứng cho sự tồn tại và phát triển 100.000 tấn rau quả, 200.000 con bò, 300.000 con heo, 600.000 con gà vịt,… Sự mất cân bằng này sẽ phá hủy sự tồn tại của trái đất.
Chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh và …  Phải chăng phần lớn đều phát sinh từ lòng tham không đáy của con người?
Tất cả những điều đó đang đe dọa phá hủy sự sống, sự tồn tại của trái đất.
Nhân loại sẽ nhìn nhận và giải quyết các vấn đề trên ra sao?
Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên - Bài thơ “Vết chân trần trên cát” tôi đã viết ở chương III - Phần I. Trong bài thơ, tôi đã ví mình là một gã khờ, ngồi ôm giữ một vết chân trần được lưu dấu trên bãi cát. Tôi đã quá ngu khờ và ngây ngô làm điều không tưởng.
Bây giờ, khi trình bày chương III - Phần II, tôi lại thấy sự tồn tại của loài người trên trái đất này cũng mong manh như sự hiện diện của vết chân trần trên cát vậy.
Tôi là một gã khờ và chỉ lại có mỗi một mình khó lòng giữ được vết chân trên cát.
Còn nhân loại, một lực lượng đoàn kết gồm toàn thể những con người văn minh, tiến bộ và nhiều hiểu biết.
Phải chăng là nhân loại sẽ có giải pháp chu toàn, hoàn hảo nhằm giữ lại sự tồn tại của hành tinh xanh?
Nói đến quốc gia, dân tộc, bạn thường sẽ liên tưởng toàn bộ những con người sống trong quốc gia, trong dân tộc đó.
Để tiện cho việc trình bày nội dung quyển sách, tôi sẽ tạm chia số người trên ra làm hai thành phần gồm thành phần lãnh đạo - Giới chính trị và thành phần dân thường - Người dân có trong mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, sự phân định này chỉ mang tính tương đối. Bởi lẽ, cả hai thành phần này đều không thể hiện được rõ vai trò đại diện cho cho quốc gia, dân tộc đó.
Có vẻ bạn đang rơi vào mơ hồ vì cách nghĩ có phần khác lạ của tôi. Tôi sẽ tiếp tục câu chuyện.
Về thành phần dân thường:
Người dân thường gần như không có tiếng nói trên trường quốc tế, không thể trói buộc họ là đại diện cho quốc gia, cho dân tộc.
Nguyên do họ không thể hiện được chính kiến, lập trường của quốc gia mà họ đại diện và nếu họ có lên tiếng thì gần như không có giá trị gì. Là lực lượng thiếu đoàn kết, không có tiếng nói chung. Vì thế nhân loại không thể ràng buộc trách nhiệm cho những người dân thường về những lầm lạc mà giới lãnh đạo đất nước họ gây ra.
Về thành phần lãnh đạo:
Khi nói đến Ponpot bạn sẽ nghĩ về Khơme đỏ, về tội ác diệt chủng chống lại loài người. Khi nói đến Tần Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên,… bạn sẽ nghĩ ngay đến dân tộc Trung Hoa, đến những vị hoàng đế độc tài, lạnh lùng và tàn bạo. Khi nhắc đến Hit-le, Musolini, người ta sẽ nhớ về người Đức, người Ý, về chủ nghĩa phát xít. Khi nhắc đến Lê nin, Hồ Chí Minh, Napoleon,… bạn sẽ lại nhớ…
Có rất nhiều người mà khi ta đề cập đến thì lịch sử loài người thừa nhận họ như là biểu tượng, là đại diện cho một quốc gia, một dân tộc nào đó. Điều này đôi khi khiến cho nhân loại có những sự ngộ nhận, lầm lạc.
Ví như khi nói đến Hit-le, bạn nghĩ đến người Đức, nghĩ về những tội ác chiến tranh của Đức quốc xã, về vô số đau thương, mất mát cho loài người.
Đã từng có khoảng thời gian dài, khi nhắc đến chủ nghĩa phát xít, chế độ diệt chủng Ponpot, nhân loại nghĩ ngay đến sự tàn ác, cuồng bạo của người Đức, người Ý, người Nhật, người Campuchia. Điều này chứa đựng sự sai lầm. Bởi lẽ người Đức, người Ý, người Nhật, người Campuchia không tàn bạo, khát máu như vậy.
Sự tàn ác đó chỉ diễn ra tại thời điểm thế chiến thứ hai, thời Khơme đỏ và do giai cấp thống trị, lãnh đạo của các quốc gia đó gây ra. Còn người dân các quốc gia đó cũng là nạn nhân của sự tàn bạo, khát máu.
Tuy nhiên, mỗi cá nhân trên cũng không tự viết nên những trang lịch sử về thời kỳ đen tối của loài người. Cũng lại như vậy, có rất nhiều những nhà tư tưởng, nhà chính trị đã xây dựng nên thời hoàng kim cho từng thể chế chính trị khác nhau như Lê nin biểu trưng cho Xã Hội Chủ Nghĩa, Washingtơn cho thể chế dân chủ, Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Nhật Hoàng, Lý Thái Tổ, vua Quang Trung... điển hình cho chế độ phong kiến,…
Mỗi cá nhân trên cũng không thể tự xây dựng nên một xã hội cường thịnh, tự do, dân chủ. Đó là cả một hệ thống tư tưởng của giai cấp chính trị cùng với sự hiểu biết của người dân và nhân loại tại thời điểm đó.
Vậy nên nhân loại không thể trói buộc thế hệ hiện tại chịu trách nhiệm việc đúng sai của thế hệ người đi trước.
Những người làm nên những biến cố lịch sử trên đã thành tro bụi.
Có chăng nhân loại chỉ giúp thế hệ hiện tại nhìn nhận sai lầm và không vấp phải sai lầm tương tự?
Vậy giai cấp lãnh đạo ở thời điểm hiện tại sẽ đại diện cho quốc gia, dân tộc?
Dường như là đúng nhưng thực tế lại không đúng.
Người dân nước Mỹ và các nước trong khối liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) có đồng thuận, ủng hộ cho giới chính trị, quân sự mang quân tấn công Lybia, Taliban, Apganixtant, Irac,…?
Có lẽ phần lớn người dân thường cũng như nhân loại không hiếu chiến, độc tài, họ là những người yêu chuộng hòa bình, họ sẽ không ủng hộ cho việc giết người, lấy tiền của, vật chất họ đã tạo ra để phục vụ chiến tranh.
Hẳn là Liên Hiệp Quốc cũng sẽ không ủng hộ những cuộc chiến tranh phi nghĩa - Việc lạm sát dân thường.
Nếu lập luận của tôi đúng thì việc giết người chỉ do giới chính trị ở các nước - Một thành phần với số lượng người không đáng kể trên thế giới đã tạo ra tất cả những mất mát, tang thương cho nhân loại.
Xuyên suốt quá trình phát triển của loài người, xương máu người chết do chiến tranh và nước mắt người thân của họ sẽ có trọng lượng gấp bao nhiêu lần so với trọng lượng trái đất?
Những người độc tài, hiếu chiến và khát máu có chịu trách nhiệm về những mất mát đau thương cho nhân loại?
...
Khi chân lý không nằm ở sự hiểu biết của nhân loại mà chân lý lại nằm trong tay kẻ mạnh thì việc này khó  xảy ra.
Những kẻ gây ra tội ác liệu có ít nhiều hối tiếc?
Sẽ có, nếu họ còn chút ít lương tri. Khi mà sự sung mãn, hiếu chiến của thời trẻ đi qua nhường chỗ lại cho bệnh tật, sự già nua. Khi máu, nước mắt, tiếng kêu gào nạn nhân của những cuộc thảm sát  vang lên trong đầu họ,…
Quốc gia nào sẽ giẫm lên vết xe đổ của giới chính trị của các siêu cường vũ khí?
Giới chính trị Trung Quốc đang tiến rất nhanh trên con đường sai lầm mà các cường quốc đã và đang đi. Tranh chấp biển Đông, vi phạm các công ước quốc tế về luật biển, dùng vị thế kinh tế chèn ép Mỹ và Cộng đồng quốc tế không can thiệp vào biển Đông,…
Mục đích cuối cùng của giới chính trị Trung Quốc phải chăng là ôm mộng bá chủ hoàn cầu?
Giành giật lấy lãnh hải, thềm lục địa rộng lớn với nhiều mỏ dầu và khoáng sản.
Giới chính trị Trung Quốc có phải vì người dân của đất nước hơn 1,3 tỷ người làm việc này?
Tất cả là sự gian trá, ngụy biện và mị dân. Nạn hạn hán, lũ lụt, tăng dân số vượt khả năng kiểm soát, sự phân tầng giàu nghèo giữa các tầng lớp, thành phần xã hội nới rộng vượt mức,… khiến người dân cùng quẩn, lòng người rối loạn,... đã gây ra sức ép không nhỏ đến nền kinh tế đất nước Trung Hoa.
Giới chính trị Trung Quốc đã xua người dân vào cuộc tranh đoạt, cướp bóc, chèn ép, xâm lấn các nước lân cận nhằm mục đích giúp cho người dân Trung Quốc giàu lên?
Giới chính trị, kinh tế Trung Quốc sẽ giàu lên nhưng người dân Trung Hoa lại rơi vào tận cùng của nghèo đói. Đây là quy luật bất biến, không thay đổi của nhân loại. Điều này vẫn đang thể hiện rõ ngay trong đất nước Trung Quốc.
Hiện nay, có rất nhiều tỷ phú giàu có tột cùng trên thế giới là người Trung Quốc. Điều này đồng nghĩa với việc có rất nhiều người Trung Quốc sống trong khốn khó, cùng cực đói nghèo.
Lý do?
Thật đơn giản, dễ hiểu.
Ví như một người cha có 10 người con. Một hôm, ông mang về một cái bánh chia cho các con. Ông cho cậu con trai trưởng 4 phần, cậu út 4 phần và 8 cô con gái giữa đành cam chịu thiệt chia nhau 2 phần bánh.
Thực tế, lượng vật chất sản xuất ở mỗi quốc gia, ở trên thế giới hàng năm là có giới hạn. Khi lượng vật chất này quy đổi thành của cải, tiền bạc và trở thành tài sản tư hữu trong tay một số ít người thì hiển nhiên số đông còn lại phải chấp nhận trắng tay, sống trong bần cùng, nghèo đói.
Giới chính trị vẫn thường hứa, hứa rất nhiều nhưng ít khi làm được những điều đã hứa. Nhằm có thể lôi kéo bạn - Những người dân thường vào kế hoạch thôn tính, chèn ép các quốc gia lân cận, họ sẽ có những cam kết về quyền lợi, kinh tế, kêu gọi kích động niềm tự hào ảo tưởng để bạn phục vụ cho mưu đồ của họ.
Kết quả những mất mát, thua thiệt, bạn - những người dân nghèo khó sẽ nhận lấy. Còn quyền lợi kinh tế dành cho bạn sẽ khó thành hiện thực.
Dân tộc bạn có câu nói rất hay.
Thiên chi đạo tổn hữu dư nhi bỉ bất túc. Nhân chi đạo tắc bất nhiên, tổn bất túc như phụng hữu dư. Thục năng hữu dư dĩ phụng thiên hạ? Duy hữu đạo giả.
Với ít hiểu biết, tôi tạm giải nghĩa.
Quy luật của tự nhiên, của đạo là bớt chỗ dư, bù vào chỗ thiếu. Lòng người thì khác bớt chỗ thiếu  bù vào chỗ dư. Ai là người có dư mà cấp dưỡng cho những người thiếu thốn trong thiên hạ? Chỉ có người đắc đạo, hiểu đạo mới làm được.
Điều này trước đây đã đúng. Bây giờ lại càng đúng.
Khi mà chủ nghĩa thực dụng phương Tây đã cắm sâu gốc rễ vào tư tưởng của người Á Đông, của nhân loại thì cái gì sẽ đảm bảo quyền lợi cho người nghèo khó?
Ngoài ra, nếu khách quan bạn sẽ dễ dàng nhận thấy sự bùng nổ dân số đang là gánh nặng của nền kinh tế trong nước, giới chính trị Trung Quốc đã thực sự không có giải pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề dân số lại chuyển hướng gia tăng sức ép với các nước nhỏ lân cận Philipin, Indonexia, Việt Nam,…
Thậm chí, giới lãnh đạo Trung Quốc gây hấn cả với các cường quốc như Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ,…
Nếu các quốc gia trên nhún nhường chịu thiệt thì giới chính trị đạt được những đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, lãnh hải, lãnh thổ.
Nếu các quốc gia lân cận phản kháng thì giới chính trị sẽ sắp đặt, dấy động một cuộc chiến tranh. Với sự lớn mạnh về quân số, dân số, giới chính trị tin rằng Trung Quốc sẽ có được ưu thế trên chiến trường.
Hiển nhiên là khi leo thang chiến tranh, thương vong là đều khó tránh khỏi. Thế nên tôi hoài nghi về ý nghĩa thực sự của việc ngang ngược, gây hấn trên biển Đông, gây hấn cả những cường quốc quân sự của giới chính trị, quân sự Trung Quốc.
Có không ý đồ điều chỉnh dân số Trung Quốc trên phạm vi rộng với số lượng lớn và “Danh chánh ngôn thuận” của giới lãnh đạo Trung Quốc?
Đây không phải lần đầu tiên giới lãnh đạo Trung Quốc thực hiện kế hoạch bất nhân, trái đức này, Tần Thủy Hoàng đã từng thực hiện việc điều chỉnh dân số ở quy mô lớn, có toan tính thông qua việc xây dựng Vạn Lý Trường Thành cùng hệ thống lăng mộ hoàng gia.
Ngoài việc phục vụ lòng tham, tham vọng hưởng thụ của Hoàng đế tàn bạo Tần Thủy Hoàng thì việc bóc lột sức người, tiền tài, vật chất,... còn có giá trị, mục đích nhằm vào việc làm giảm áp lực dân số, giảm sự gia tăng đoàn kết phản kháng, chống đối triều đình của người dân Trung Hoa lúc bấy giờ.
Qua quyển sách, tôi gửi đến những người dân thường Trung Quốc lời nhắn “ Bạn nên cẩn trọng khi làm một quân cờ thí trong kế hoạch “Nhất tiễn hạ song điêu”. Bạn có thừa nhận vai trò đại diện cho dân tộc, cho đất nước Trung Hoa của giới lãnh đạo trên trường quốc tế khi mà họ vì mưu tính cá nhân làm việc vô đạo, trái đức, bất nhân, bất nghĩa”.
Một số người trong quốc gia bạn đã lấy sự đau khổ, đánh đổi mạng sống, cướp bóc giết hại người khác. Họ đã sống bất chính khiến nhân loại căm phẫn, xem dân tộc quốc gia bạn như là một dân tộc tàn ác, quân cướp biển, giết người.
Bạn có tự hào không mỗi khi nhân loại đề cập đến đất nước Somali, họ nghĩ ngay đến quốc gia cướp biển?
Bạn có thừa nhận những điều mà một nhóm người trong quốc gia bạn gây ra thật tàn ác, tệ hại. Rồi sẽ có ngày họ lầm lạc, táo tợn bắt nhầm một con tàu - Trên con tàu đó có một nguyên thủ quốc gia, một mệnh phụ phu nhân của một cường quốc quân sự nào đó.
Lúc đó, tôi chỉ e rằng trong vòng 24 giờ, quốc gia bạn bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Bạn đừng hy vọng rằng thế giới sẽ lên tiếng bảo vệ bạn. Vấn đề nhân quyền, nhân đạo sẽ giúp bạn an toàn.
Khi chân lý nằm trong tay kẻ mạnh và khoảng thời gian 24 giờ không đủ dài để nhân loại nhận ra bạn còn tồn tại hay không?
Nếu may mắn hơn thì công luận thế giới lên tiếng yêu cầu đất nước bạn dừng ngay những hành động tàn ác và yêu cầu Liên Hiệp Quốc can thiệp. Có lẽ sẽ không cần nhiều quốc gia đến bảo vệ và cô lập đất nước bạn.
Thật ra quốc gia bạn chỉ là một con cờ trong ván cờ của các quốc gia khác. Sự tồn tại nạn cướp biển của đất nước bạn giúp củng cố vị thế của một số quốc gia - Đem lại sự giàu mạnh qua việc buôn bán vũ khí, giúp họ xây dựng lực lượng bảo vệ tuần duyên trên biển. Các quốc gia đó thu được lợi nhuận không nhỏ từ việc hộ tống những con tàu thương mại,…
Dường như bạn có lúc đã nhận ra “Bạn đã bị lợi dụng”. Bạn đã muốn tách ra khỏi ván cờ nhưng những khó khăn về phát triển kinh tế, xã hội và sự cạn nghĩ, bạn nghĩ “Bạn có thể lợi dụng việc bị lợi dụng để tồn tại, phát triển một quốc gia. Tiền bạc, vũ khí cướp được sẽ tăng cường khả năng chiến đấu, giúp bạn đủ sức đương đầu với những quốc gia tạo ra nạn cướp biển ở quốc gia Somali”.
Lòng tham của con người là vô hạn. Vì thế trong mắt nhân loại bạn ngày càng trở nên cuồng bạo, manh động và nguy hiểm.
Nếu cứ như thế thì không bao lâu nữa công luận thế giới lên tiếng, bạn sẽ mau chóng bị cô lập. Cho dù bạn đã cướp được rất nhiều vũ khí hiện đại, tối tân. Nhưng chúng có ích gì khi bạn mang số vũ khí đó đối đầu với những cường quốc về vũ khí - quân sự.
Bạn chỉ là một quân cờ. Bạn sẽ bị vứt ra khỏi ván cờ khi không còn giá trị  lợi dụng - Khi trò chơi kết thúc.
Giới lãnh đạo và những người thường dân Somali, bạn có nhận ra cách tốt nhất để bạn tồn tại là thoát ra khỏi ván cờ định mệnh. Bạn hãy đồng lòng lên tiếng ngăn chặn sự lầm lạc của một nhóm người. Thế giới sẽ hỗ trợ, hoan nghênh khi dân tộc bạn ý thức nhận ra điều đó.
Nếu bạn vẫn mê lầm không nhận ra thì tôi chỉ còn có thể gửi đến quốc gia, dân tộc bạn lời chia buồn sâu sắc.
Đã có nhiều quốc gia phát triển trên thế giới đang đau đầu về việc những người già bị xua đuổi, hắt hủi, sống tạm bợ ngoài xã hội - Sự khủng hoảng nhân đạo đối với người già.
Thế hệ trẻ hiện nay, không ít người gần như vô lương tâm khi nhận lấy những đồng lương hưu trí, tiền bảo trợ xã hội dành cho người già để chi tiêu còn người già - Cha mẹ, ông bà họ.
Lẽ ra phải được họ phụng dưỡng thì phải lăn lê đầu đường, xó chợ, sống chui rúc dưới gầm cầu.
Tại sao lại như vậy?
Câu trả lời nhận được là người già cả, lớn tuổi trở nên trái tính, trái nết, cáu gắt, khó chịu. Họ tự ý bỏ nhà đi, không ai quản được. Câu trả lời này là không sai nhưng hoàn toàn không thật đầy đủ.
Câu trả lời có phần đầy đủ hơn “Đó là sai lầm về ý thức, nhận thức của cả một thế hệ”.
Ở một góc nhìn tổng thể, tôi sẽ có câu trả lời có phần khác biệt.
Trong trường hợp này, tôi sẽ tạm dùng cụm từ chúng ta để trình bày. Đại diện cho cụm từ chúng ta mà tôi đề cập là cả một thế hệ gồm toàn bộ những người trưởng thành, là lực lượng lao động chính của xã hội hiện nay.
Câu chuyện bắt đầu.
Chúng ta chỉ là những đứa trẻ của thế hệ đi trước - Người già. Là người già trong mắt của thế hệ tương lai - Người trẻ - Những người con của chúng ta trong thời khắc hiện tại.
Điều đó có nghĩa là những lỗi lầm chúng ta đang mắc phải hiện nay là lỗi lầm của những người đi trước - Cha mẹ, ông bà - Họ cũng lại là nạn nhân phải nhận lấy hậu quả từ lỗi lầm của chính mình.
Chúng ta cần phải khôn ngoan hơn để tránh mắc phải những sai lầm xưa cũ.
Với tôi, những đứa trẻ luôn vô tội. Lỗi lầm của chúng gây ra phần lớn do sự giáo dục, sự thiếu hiểu biết của người lớn đã dạy chúng. Chúng chỉ làm đúng theo những gì mà chúng học được từ người lớn. Và khi chúng ta chưa thực sự hiểu biết đầy đủ về cuộc sống, chúng ta chỉ là những cậu bé đáng thương.
Nhưng nếu chúng ta không mở lòng ra học hỏi nhằm đạt được sự hiểu biết thì mai này chúng ta sẽ lại là những người già đáng bỏ đi, tội nghiệp.
Câu chuyện có vẻ vòng vo, dài dòng nhưng bây giờ mới thật sự bắt đầu câu chuyện.
Nhiều quốc gia Phương Tây, Mỹ,… đã tạo ra chủ nghĩa vật chất thực dụng, không ít người đã tự hào về chủ nghĩa thực dụng. Một sự lầm lạc đáng thương!
Khi vật chất quyết định ý thức, vấn đề tình thương yêu sẽ bị xem nhẹ. Mối quan hệ giữa người với người chỉ còn là trách nhiệm.
Xã hội phải có trách nhiệm đối với người già bằng tiền hưu trí, tiền bảo trợ,… xem như là trả ơn người đi trước. Nhưng khi tình yêu thương không còn thì vấn đề trở nên nghiêm trọng.
Thêm vào đó, áp lực cuộc sống ngày thêm khó khăn, thế hệ ngày nay bộn bề với những lo toan cơm áo gạo tiền, vợ chồng, con cái,… đứng trước những khó khăn về kinh tế,…
Khi họ về đến nhà lại nghe thế hệ người già càu nhàu, kể lại những công trạng hào hùng, tính tình thì cáu gắt, khó chịu. Trong tâm trạng buồn bực, bế tắc những người con sẽ dễ dàng trách “Đã không làm ra tiền của mà lại thích càu nhàu, rầy la con cháu. Ở được thì ở không ở được thì đi cho rảnh nợ”.
Thế là người già bị đẩy ra ngoài đường.
Đây phải chăng là câu chuyện viễn tưởng mà tôi đang cố tạo dựng?
Có lẽ không còn lâu nữa nhân loại sẽ chứng kiến rất nhiều quốc gia rơi vào con đường tăm tối này.
Nhật Bản:
Sau thế chiến thứ hai chỉ còn lại một đống đổ nát, hoang tàn. Niềm tự hào dân tộc bị tổn thương, giới lãnh đạo đã đặt ra mục tiêu “Biến Nhật Bản thành một cường quốc hùng mạnh về kinh tế, khoa học,… bằng mọi giá”.
Người Nhật vốn lắm nhân tài, cùng với tinh thần cầu tiến, ham học. Thế hệ trước thắt lưng buộc bụng đào tạo thế hệ trẻ tài giỏi.
Chỉ cần khoảng thời gian rất ngắn kinh tế, khoa học của Nhật phát triển vượt bậc “Nhật Bản trở thành con rồng hùng mạnh bậc nhất”.
Sự phát triển quá nhanh về kinh tế đã tạo ra một lỗ hổng tinh thần không hề nhỏ cho thế hệ trẻ người Nhật.
Chủ nghĩa thực dụng phương Tây đã thâm nhập sâu vào hệ tư tưởng người Nhật. Mối quan hệ giữa người với người chỉ là sợi dây ràng buộc mong manh - Trách nhiệm. Tình cảm thương yêu bị vùi lấp bằng tài sản, của cải, toan tính,…
Đã có rất nhiều người Nhật tài năng hụt hẫng tìm đến cái chết. Sự thực dụng ở thế hệ trẻ, sự khó khăn trong cuộc sống,... đã ép những người Nhật già nua, không lợi ích ra gầm cầu, nhà tạm.
Sự giàu có, cường thịnh của một nền kinh tế lớn mạnh không che đậy được sự thật. Họ không bảo bọc, nuôi dưỡng được những người già nua - Những người đã biến nước Nhật thành con rồng hùng mạnh.
Những người Nhật lớn tuổi đang nghĩ gì?
Họ nghĩ về một quá khứ hào hùng, những hy sinh lớn lao mà họ đã bỏ ra để tạo dựng một nước Nhật giàu mạnh. Không chỉ có thế, họ đang nuối tiếc, xót thương cho chính thân phận họ. Họ cũng không thể nghĩ ra được “Tại sao họ có số phận như thế?”.
Thế hệ trẻ người Nhật đang làm gì?
Họ đang bị cuốn vào vòng quay của chủ nghĩa thực dụng, của việc phát triển kinh tế lớn mạnh thêm.
Họ đang nghĩ gì?
Họ nghĩ cách để có thật nhiều tiền tài, cách thâu tóm danh vọng. Họ quên mất một quy luật - Vật tráng tắc lão, thị vị bất đạo. Bất đạo tảo dĩ - Vật gì cũng vậy, cường tráng rồi thì sẽ già. Vĩnh viễn không có việc cường tráng mãi, cường tráng mãi là trái đạo, trái quy luật. Trái đạo tất sẽ bị diệt vong, suy kiệt.
...
Bạn có nhận thấy các nền văn minh cổ, các quốc gia cường thịnh như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Liên Xô, Mỹ, Châu Âu,… phải chăng đã tàn lụi, biến mất hoặc chựng lại một cách khó hiểu?
Tại sao lại  xảy ra những hiện tượng trên?
Có phải lòng tham dục mù quáng của loài người đã hủy hoại sự tồn tại và phát triển của các nền văn minh?
Tại sao các nền kinh tế lớn mạnh lại chựng lại một cách khó hiểu?
Để đơn giản vấn đề, tôi sẽ xem nền kinh tế như là một cánh đồng trồng lúa mì.
Với trình độ sản xuất thấp, con người chỉ có thể sản xuất được 5 tấn/ha. Khoa học phát triển và trình độ sản xuất nâng cao, con người có thể đạt được sản lượng 15 tấn/ha.
Đó cũng là giới hạn về năng suất của cánh đồng trên. Không thể có việc, con người có thể nâng cao năng suất cánh đồng lúa mì lên mãi được vì rất nhiều nguyên do.
Về chủ quan thì do yếu tố con người. Về khách quan thì quá trình canh tác sẽ phát sinh vấn đề thiên tai, dịch bệnh,… Và ... Yếu tố con người lại là yếu tố tiên quyết và khó lường hơn cả.
Lý giải?
Khi con người chưa nhiều hiểu biết, cuộc sống nhiều khó khăn, họ lao vào việc sản xuất để tích lũy thật nhiều tiền của nhằm đảm bảo cho cuộc sống ổn định. Nhờ sự tiến bộ kỹ thuật khoa học, họ nhanh chóng làm giàu, cuộc sống đã ổn định thì họ sẽ không lao vào sản xuất như trước. Họ hiểu rằng họ còn phải hưởng thụ, nếm trải cuộc sống. Thế nên, năng suất của cánh đồng lúa mạch sẽ chựng lại hoặc giảm thấp xuống dưới 15 tấn/ha là lẽ dĩ nhiên mà ở góc nhìn tổng thể con người sẽ dễ dàng chấp nhận. Vì trên thực tế, những con người trên cánh đồng đó chỉ cần năng suất 8 tấn/năm là họ đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Họ sẽ có cuộc sống tốt hơn cuộc sống mà họ phải tất bậc tạo ra 15 tấn/ha.
Hiện nay, nhân loại đang vấp phải những sai lầm tương tự. Nhân loại luôn đặt các chỉ tiêu tăng trưởng về kinh tế, giáo dục, chính trị, công nghệ và các ngành nghề khác nhau luôn tăng lên qua từng năm nhưng lại không nhận ra được định mức, giới hạn phát triển của từng ngành.
Và ngược lại, xã hội lại đặt mục tiêu giảm dân số.
Khi bạn nhìn ở góc nhìn tổng thể, bạn sẽ dễ dàng nhận thấy nhân loại đang điều tiết mọi vấn đề ở góc nhìn hạn hẹp, chủ quan và không dựa vào hiện trạng thực tế.
Việc suy thoái nhân đạo - Người già bị bỏ rơi sẽ không ngừng tăng lên trong tương lai và lan rộng trên phạm vi thế giới. Đây là cái giá phải trả cho những sai lầm của thế hệ người đi trước. Thế hệ hiện tại không mắc nhiều lỗi lầm trong vấn đề này. Thế hệ đi trước đã dạy họ sống ích kỷ, sống trong niềm tự hào dân tộc ảo tưởng và họ sống đúng theo những gì họ đã học.
Cụ thể, người Nhật đã tạo ra một thế hệ trẻ tài giỏi về khoa học, kinh tế, giáo dục, cách làm giàu mạnh đất nước và sống kiêu hãnh về điều đó. Nhưng họ đã quên hoặc không còn thời gian để dạy thế hệ trẻ sống trong yêu thương.
Đây là sai lầm của cả một thế hệ. Sự mải mê theo đuổi vật chất đã khiến người Nhật và nhiều quốc gia khác chưa nhận ra sai lầm này.
Sự cảnh tỉnh của tôi có thể gây sự hận thù trong lòng người Nhật vì đã chạm vào lòng tự tôn dân tộc, tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả những gì được trình bày trong quyển sách.
Viết về vấn đề này tôi không chỉ cảnh tỉnh người Nhật, tôi muốn cảnh tỉnh cả nhân loại. Đặc biệt là các nước đã, đang và sẽ phát triển tham vọng hóa rồng, mãnh sư. Đừng đắm chìm trong sự hào nhoáng phát triển kinh tế, khoa học, giáo dục, quốc phòng,… Đánh mất sự quân bình giữa vật chất và tinh thần của thế hệ tương lai, bạn sẽ là nạn nhân của chính bạn. Khi đó, những con rồng, những con mãnh sư sẽ hiện rõ hình hài của những con rắn bệnh.
Sự suy thoái nhân đạo này đã, đang và sẽ diễn ra ở nhiều quốc gia khác nhau như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Châu Âu, Thái Lan, HongKong,…
Khi bạn không còn trẻ, bạn sẽ sống ở đâu?
Tôi không hy vọng bạn sẽ phải làm sống lại quá khứ, cố níu giữ, ngụy tạo rồi hối tiếc nhận ra đó chỉ là kí ức.
Tôi đang gửi thông điệp về sự suy thoái nhân đạo đến nhân loại - Cảnh tỉnh nhân loại sớm nhìn nhận rõ sai lầm về lối sống thực dụng, ích kỷ và có hướng khắc phục tốt nhất.
Đồng thời là việc hạn chế sự suy thoái nhân đạo lan rộng trên phạm vi thế giới.
Có lẽ nhân loại sẽ mất rất nhiều thời gian để khắc phục sai lầm này vì đây là sai lầm của cả một thế hệ. Nhất là khi chủ nghĩa thực dụng đang thống trị tư tưởng của thế hệ hiện tại và tương lai.
Đã qua rồi thời kỳ một đứa trẻ ra đời mang theo niềm tự hào quốc gia, dân tộc?
Sự phát triển hội nhập giữa các quốc gia trên thế giới ngày một sâu rộng. Đã có rất nhiều đứa trẻ ra đời mang nhiều quốc tịch khác nhau.
Ví như một đứa bé được sinh ra ở Nhật, có cha là người Nga, mẹ là người Trung Quốc. Giả định đứa bé đó mang cả 3 quốc tịch. Đứa bé lớn lên.
Rồi một lúc nào đó, khi xung đột vũ trang xảy ra giữa Nga - Nhật - Trung Quốc, người thanh niên đó sẽ mang niềm tự hào dân tộc nào?
Khi rơi vào guồng máy chiến tranh, chàng thanh niên đó phục vụ và chết cùng với tinh thần của quốc gia nào?
Riêng tôi, tôi mang trong người quốc tịch Việt Nam. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi mai này tôi mang quốc tịch Nga, Pháp, Anh, Mỹ, Palestin, Somali, Kosovo, Nhật, Trung Quốc,…
Rồi một ngày tôi chết do sự tranh đoạt sắc tộc, tôn giáo, chính trị ở một nơi nào đó.
Trước khi chết, tôi sẽ mang niềm tự hào, kiêu hãnh của quốc gia nào?
Nếu có còn niềm kiêu hãnh trong tôi thì tôi sẽ chết cùng với niềm tự hào là một con người đã từng thật sống.
Tử vì đạo - Cụm từ này tôi nghe có vẻ như chứa đựng một điều gì đó thật thiêng liêng và cao quý.
Nhưng cũng chính cụm từ này đã gây ra sự ngộ nhận cho nhân loại về thế giới các quốc gia theo đạo Hồi. Nhân loại nhìn thấy các tín đồ Hồi giáo một sự manh động và hiếu sát.
Câu hỏi tôi đặt ra cho các tín đồ Hồi giáo chân chính “Tại sao nhân loại nhìn các bạn với cái nhìn nghi ngại, bất an? Tại sao lại có sự ngộ nhận các tín đồ Hồi giáo là người manh động, sẵn sàng ôm bom giết người?”.
Tôi đã tìm hiểu giáo lý kinh điển Hồi giáo. Tôi chỉ thấy ở kinh điển mà giáo chủ của bạn truyền lại việc răn dạy các tín đồ làm điều thiện, việc thiện. Hạn chế cả việc giết hại sinh mạng loài vật. Tôi không tìm thấy lời răn dạy nào khuyến khích bạn lạm sát con người.
Vậy tại sao nhân loại lại ngộ nhận về bạn?
Tôi quyết định đi tìm chân tướng sự việc. Cuối cùng tôi nhận ra sự thật, tôi mạo muội trình bày để bạn cùng nhân loại nhìn nhận rõ vấn đề.
Bạn đã bị lợi dụng. Giới lãnh đạo tinh thần của bạn hiện nay đã tráo trở, đổi trắng thay đen nhằm biến bạn thành một công cụ giết người hữu hiệu. Họ đã làm ngược lại những lời răn không lạm sát con người của Thánh Ala. Họ biến đức tin của bạn thành con đường đưa bạn xuống Địa ngục.
Thậm chí họ khiến bạn trở thành kẻ thù của nhân loại. Có rất nhiều vụ đánh bom liều chết mà một số tổ chức Hồi Giáo lên tiếng nhận trách nhiệm với niềm tự hào, kiêu hãnh. Họ tự hào giết được rất nhiều người mà họ chỉ cần một tín đồ cuồng tín, liều chết.
Phải chăng giết người là tội ác?
Họ đã tự hào vì đã thực thi tội ác giết người nhằm củng cố vị thế lãnh đạo. Một số người chết. Trong đó có cả những người bạn Hồi giáo tín thành - Người đã đánh bom.
Sự manh động, cuồng sát, gian ác trắng trợn của họ khiến nhân loại nhận định không đúng về bạn - Những người theo đạo Hồi thích gây hấn chiến tranh và sống trong thù hận.
Tìm hiểu thêm về những tín đồ tử vì đạo, tôi nhận ra phần lớn họ có cuộc sống khó khăn, có đức tin mãnh liệt với Thánh Ala. Họ đã bị các thủ lãnh tinh thần dối gạt về hành vi thánh chiến để về cộng trú với Thánh Ala và những cam kết đảm bảo cuộc sống tốt cho gia đình, người thân của họ.
Đức tin khiến những tín đồ thuần thành chết nhưng họ có về cộng trú với Thánh Ala?
Khi giết người là tội ác, Thánh Ala liệu có đón họ về với đôi bàn tay đẫm máu và cùng với rất nhiều xác thịt của loài người?
Giới lãnh đạo lại tiếp tục kích động bạo lực chiến tranh, đẩy các tín đồ vào hận thù. Và khi xung đột, giao tranh xảy ra giới lãnh đạo lẩn trốn vào hầm trú ẩn an toàn. Thậm chí, họ sẽ chấp nhận sống lưu vong, nương nhờ các tổ chức khủng bố, các quốc gia lân cận khác. Họ bỏ mặc sự sống chết của những người dân thường vô tội, những tín đồ Hồi giáo. Họ không dám đối mặt nhận lấy hậu quả, chịu trách nhiệm những việc họ đã gây ra.
Tại sao họ không tự thân ra mặt thánh chiến, không ôm bom liều chết - Tử vì đạo, về cộng trú với Thánh Ala?
Bởi vì họ hiểu rằng “Giữ được non xanh, sợ gì không có củi đốt”. Đây là sự tráo trở thường thấy ở giới lãnh đạo. Họ phải giữ lấy mạng sống vì mạng sống của họ rất trân quý. Sau này, khi giao tranh tạm lắng họ lại sẽ ra mặt kích động hận thù, củng cố lại vị thế thủ lĩnh tinh thần và lại tiếp tục xua những tín đồ cuồng tín ôm bom liều chết.
Bạn và nhân loại đã nhìn nhận ra sự gian trá, tráo trở “Bộ mặt thật của giới lãnh đạo Hồi giáo cực đoan, hiếu sát”.
Những vấn đề tôi trình bày chứa đựng sự thật về hiện trạng của giới lãnh đạo tinh thần của các phần tử, các nhóm Hồi giáo vũ trang, cực đoan, hiếu chiến.
Nếu bạn - Những tín đồ Hồi giáo tín thành, tin vào sự tồn tại, quyền năng của Đấng giáo chủ - Thánh Ala thì khi quyển sách này truyền đến tay bạn có nghĩa là Thánh Ala đã đồng thuận với việc làm của tôi. Bởi lẽ, nếu việc làm của tôi sai trái với chí nguyện của Thánh Ala thì tôi đã phải xuống Địa ngục trước khi quyển sách này được trao truyền.
Mai này, tôi có thể bị chết bởi một tín đồ Hồi giáo thuần thành thì cũng không có gì là đáng bất ngờ. Sự hận thù, lầm lạc của một số người trong giới lãnh đạo tinh thần Hồi giáo, họ sẽ kích động tín đồ cuồng tín đến lấy mạng tôi.
Tôi sẽ chết và bỏ qua lỗi lầm của họ. Bạn cũng không phải vì tôi mà gây bạo loạn, trả thù.
Tôi đã từng nói “Tôi đến trong tình yêu thương của loài người, tôi ra đi không chất chứa niềm thù hận. Nếu… hãy để những người thù ghét, mê lầm đến lấy mạng tôi được bình yên, tự do thoát đi”.
Bạn đang có những bước tiến nhảy vọt về kinh tế, khoa học, quân sự,… và dân số. Sự giàu có lớn mạnh của quốc gia bạn là điều không cần phải bàn cãi.
Tuy nhiên, tôi là người có chút khác biệt. Tôi vẫn đi tìm mặt trái của mọi sự vật hiện tượng.
Thật vậy, tôi đã từng đi tìm hiểu mặt trái của sự xa hoa, lộng lẫy, hào nhoáng ở Holywood, ở các sòng bạc tại MaCau, Lasvegas,…
Tôi đã tìm thấy sự tối tăm, gian trá, khốn cùng. Máu, nước mắt, khổ đau, oán thù, sự thú tính, tàn bạo,... của các con bạc, các minh tinh màn bạc,...
Tôi cũng nhận ra sự băng hoại, suy đồi giá trị làm người ở những nơi mà nhân loại lầm tưởng là văn minh, tiến bộ,…
Và tôi cũng tìm hiểu sự phát triển vượt bậc của quốc gia Trung Quốc ở góc nhìn khác biệt đó.
Vậy mặt trái của sự thăng tiến vượt bậc, sự giàu có của đất nước bạn là gì?
Phải chăng sự nghèo khổ, cơ cực của người lao động Trung Quốc - những người phải sống ở tận cùng của đáy xã hội?
Nhân loại đang thán phục những bước tiến của đất nước Trung Hoa. Nhưng tôi lại cảm nhận sự khốn khổ, bần cùng của những người dân nghèo.
Hơn 1,3 tỷ người, liệu có bao nhiêu người giàu có và bao nhiêu người khốn cùng?
Bạn hãy nên nhìn lại.
Bạn sẽ điều chỉnh sự mất cân bằng này ra sao?
Nội tại quốc gia bạn đã, đang mất cân bằng, bất ổn, hỗn loạn.
Có thể không việc xuất hiện sự đổ vỡ, chia rẽ đất nước Trung Hoa vì sự tồn tại những vết rạn nứt xã hội có nguồn gốc từ lâu xa, những vết nứt không được hàn gắn và ngày càng nới rộng vì những mâu thuẫn về thành phần, tầng lớp, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... và lòng tham của con người?
Đã có những khu vực vùng miền, lãnh thổ đòi ly khai, tự trị - khu tự trị Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng, Ninh Hạ, Đài Loan, MaCau, HongKong,… và tiếp theo sẽ có thêm sự đổ vỡ, chia rẽ không?
Bạn rõ biết hơn tôi - Sự cường thịnh cùng cực sẽ dẫn đến việc tan rã, chia rẽ. Sự thật này đã không ít lần diễn ra ngay trên đất nước Trung Hoa trải qua xuyên suốt hàng ngàn năm lịch sử phát triển của dân tộc Trung Hoa.
MaCau, HongKong, Đài Loan,… bạn đã gồm thâu về. Nếu MaCau, HongKong, Đài Loan,… không là một vùng đất trù phú, giàu có mà lại là một khu đất cằn cỗi, hoang tàn, không có khoáng sản, dầu mỏ,...
Bạn có cố giành giật về với tư cách một người anh cả bảo bọc những người em không?
Những vùng đất mà bạn đã thu về có thực sự thừa nhận vai trò anh cả của bạn hay chỉ gượng ép thuần phục trước sức ép từ nước lớn.
Tham vọng bạn không dừng lại đó. Bạn sẽ tiếp tục giành giật những vùng đất mới. Kinh tế, khoa học, quân sự,… của quốc gia bạn phát triển mạnh. Bạn ảo tưởng đủ mạnh thực hiện giấc mộng bá chủ.
Bạn sẽ luôn là người chiến thắng trong các cuộc tranh chấp?
Dụng ý thực sự của việc gây hấn ngang ngược, tráo trở của giới lãnh đạo Trung Quốc. Với ý đồ “Lấy thịt đè người”, phải chăng bạn đang muốn điều chỉnh lại dân số quốc gia trên diện rộng nhằm giảm gánh nặng nền kinh tế quốc gia?
Bạn sẽ thành công thực hiện kế hoạch “Nhất tiễn hạ song điêu”?
Tôi khẳng định bạn sẽ không thể thành công tham vọng ảo tưởng đó. Bởi lẽ, bạn đang làm một việc vô đạo, trái đức, bất nhân, bất nghĩa. Nhân loại và cả những người Trung Hoa yêu chuộng hòa bình sẽ không tạo điều kiện cho bạn thực hiện những mưu đồ đen tối, tàn độc.
Tại sao tôi nói giới lãnh đạo Trung Quốc đang làm việc làm vô đạo, trái đức, bất nhân, bất nghĩa?
Giới lãnh đạo Trung Quốc đang tiến hành việc gây hấn ngang ngược, trái với quy tắc ứng xử trên biển Đông, vi phạm công ước quốc tế,… Đây là việc làm vô đạo.
Gây hận thù, tranh chấp qua việc bắt người, bắt tàu, từng bước leo thang chiến tranh, đẩy nhân loại vào việc giết chóc, tang thương,… Đây là việc làm trái đức.
Xua người dân Trung Quốc vào chiến tranh nhằm giảm áp lực dân số. Đây chính là việc làm bất nhân.
Gây hấn các quốc gia lân cận, vốn đã có truyền thống giao hảo lâu đời, nhằm giành giật những đặc quyền, đặc lợi,... Đây chính là việc làm bất nghĩa.
Bất kỳ ai làm việc vô đạo, trái đức, bất nhân, bất nghĩa tất sẽ bị tiêu diệt,cô lập,...
Tôi gửi thông điệp đến giới lãnh đạo của những quốc gia ôm mộng bá chủ, không chỉ riêng giới lãnh đạo Trung Quốc.
Nhân loại chỉ muốn sống trong hòa bình. Nhân loại đã có nhiều hiểu biết, sẽ lên tiếng bảo vệ cho sự hòa bình. Đã qua rồi thời khắc quyền lực nằm trong tay những kẻ có tài nhưng kém đức. Là một nhà lãnh đạo tài đức, họ sẽ không đẩy dân tộc họ vào trong chiến tranh và thù hận.
Hơn nữa, những quốc gia mà giới lãnh đạo Trung Quốc đang tranh chấp, có quốc gia nào không có sự hiện diện của người Trung Hoa sinh sống.
Phải chăng giới lãnh đạo Trung Quốc thực sự muốn gây ra mất mát, đau thương cho chính người dân thường Trung Hoa?
Tôi gửi đến những người dân Trung Quốc lời nhắn gửi “Bạn hãy nên thực sự tỉnh táo, sáng suốt, nhìn nhận rõ vấn đề. Cho dù có thêm nhiều vùng đất mới được cướp về thì bạn cũng không hưởng được phần lợi ích. Chén cơm bạn có được thực sự chính bằng sức lao động của bạn - Bạn nhận biết rõ điều đó. Thế nên, bạn đừng đánh đổi chén cơm bằng máu, nước mắt của bạn và những người thân. Người khác sẽ được hưởng lợi từ những mất mát, khổ đau của bạn. Gia đình bạn sẽ được tặng thưởng, huân chương và bạn thì đã không còn nữa”.
Nhân loại đã, đang và sẽ hành động như thế nào nhằm ngăn chặn những tham vọng, cuồng vọng của giới lãnh đạo các nước có mưu đồ khôi phục lại chủ nghĩa đế quốc - Dùng sức mạnh quân sự để xâm chiếm các quốc gia khác. Gây chiến tranh, thù hận, mất mát và đau thương cho loài người. Thậm chí là việc khiến trái đất bị hủy diệt.
Gửi giới lãnh đạo Trung Quốc.
Bạn nên nhìn nhận rõ vấn đề bất ổn nội tại ở quốc gia bạn nhằm tìm ra giải pháp khắc phục hiệu quả nhất. Sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn, các khu tự trị, sự bất ổn về kinh tế, thiên tai, dịch bệnh, sự bấn loạn về nội tâm trong người dân,… Bạn không thể tìm kiếm sự ổn định cho quốc gia bạn bằng cách gây hấn với nhân loại. Rắc rối nội tại ở mỗi quốc gia chỉ có thể giải quyết triệt để ngay trong lòng quốc gia, dân tộc đó.
Không thể có việc bạn tìm kiếm được giải pháp hiệu quả ở bên ngoài đất nước. Bạn đang cố hướng cho người dân nghèo thoát khỏi sự chú tâm về nỗi lo cơm áo, gạo tiền - Sự nghèo đói, sự phản kháng, bạo loạn bằng một chú tâm khác - Sự tranh chấp với các quốc gia lân cận nhằm khơi gợi niềm tự hào dân tộc, đoàn kết những người dân thường lại để chuẩn bị leo thang chiến tranh khu vực cùng với những lời hứa hẹn của giới chính trị.
Nhưng nhân loại và người dân thường Trung Quốc sẽ không rơi vào kế hoạch sâu hiểm của bạn.
Bạn nên nhận thức rõ về điều đó và kế hoạch thâm hiểm của bạn nếu được thực hiện cũng không thể giải quyết được bài toán khó mà đất nước bạn cần phải giải quyết - Ý thức, nhận thức về bản chất sống của con người, của sự sống.
Vấn đề bạn cần giải quyết là sửa sai sai lầm của cả một ý thức hệ, của toàn bộ thành phần, tầng lớp con người trong xã hội. Đây không chỉ là vấn đề đau đầu của riêng bạn mà là vấn đề lớn của toàn nhân loại.
Giới lãnh đạo Trung Quốc đang muốn phát triển đất nước ngày thêm giàu mạnh qua việc mở rộng lãnh hải, lãnh thổ,… xâm phạm, chiếm đoạt những vùng đất mới?
Những việc mà giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ phải đối mặt với công luận thế giới và sớm bị thất bại. Giấc mộng bá chủ của giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ khó thành hiện thực.
Thật ra, giấc mộng bá chủ của giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ không quá khó thực hiện.
Điều quan trọng là giới lãnh đạo Trung Quốc có thực sự yêu quý dân tộc hay không?
Nếu giới lãnh đạo Trung Quốc có nghĩ nhiều cho lợi ích của dân tộc, quốc gia thì họ đã có giải pháp tốt hơn để thâu tóm thế giới mà không phải đưa người dân rơi vào cảnh tang thương, mất mát, chiến tranh và thù hận.
Đâu là giải pháp khả thi trên?
Theo thiển ý của tôi, giới lãnh đạo Trung Quốc chỉ cần bán đất nước Trung Hoa cho cường quốc Mỹ với một mức giá hợp lý. Mỹ có lẽ cũng sẽ mua ngay nếu đạt được những thương lượng, thỏa thuận có lợi.
Với số dân hơn 1,3 tỷ người, sẽ không bao lâu người Trung Quốc nắm lấy phần lớn ghế trong Hạ viện, Thượng viện Mỹ. Theo cơ chế tự do dân chủ, có lẽ sớm có nguyên thủ quốc gia Mỹ là người Trung Hoa.
Tôi biết - Niềm tự tôn dân tộc sẽ khiến người Trung Quốc sinh lòng hận ghét Vô Ưu nhưng bạn hãy nhìn nhận lại vấn đề “Bạn sẽ thấy tôi đang cố giúp bạn - Giúp dân tộc bạn không rơi vào guồng máy chiến tranh mà vẫn thành công thực hiện giấc mộng bá vương - Nhất thống thiên hạ”.
Bạn đừng cố tỏ ra bạn đang bị xúc phạm. Đây không phải là việc giới chính trị Trung Quốc chưa từng làm. Điển hình là việc bán đất HongKong, MaCau,… cho các cường quốc và việc cắt đất phong vương nhằm đảm bảo quyền lực chính trị có nơi lịch sử các vương triều Trung Quốc.
Tôi đang “xát muối” vào vết thương tưởng chừng lành lặn và mọi người đã lãng quên?
Không hẳn vậy. Tôi đã nhìn nhận rõ vấn đề “Việc bán đất đó, đã từng có lúc giới chính trị Trung Quốc cảm thấy bị tổn thương”. Nhưng trên thực tế, giới chính trị Trung Quốc đã thu về được hai đặc khu kinh tế giàu mạnh.
Nếu những vùng đất trên chưa từng được bán đi thì bạn hãy khách quan nhìn nhận có không hai đặc khu kinh tế chiến lược?
Nếu bạn thừa nhận việc bán HongKong, MaCau cho các cường quốc là hợp lý, mang lại sự phát triển cho HongKong, MaCau thì bạn đừng cố tạo ra vẻ niềm tự tôn dân tộc bị xúc phạm. Bởi lẽ, những điều tôi trình bày giúp bạn nhìn nhận rõ vấn đề hơn. Đồng thời giúp đất nước Trung Hoa không rơi vào chiến tranh và thù hận.
Nhân đây, tôi cũng gửi cho bạn một vấn đề nan giải khác mà bạn phải đối mặt trong tương lai gần. Bạn có nhìn thấy sự khác biệt về sự phát triển kinh tế, xã hội giữa Trung Quốc - Ấn Độ.
Trung Quốc - Ấn Độ cùng là những quốc gia đông dân, có nền kinh tế phát triển.
Về tình hình kinh tế, chính trị dường như Trung Quốc đang có sự ổn định hơn. Ấn Độ đang phải đối mặt với những bất ổn về tranh đoạt sắc tộc, tôn giáo.
Với góc nhìn sai biệt, tôi sẽ có nhận định - Trong tương lai gần, tình hình kinh tế, chính trị, tôn giáo ở Ấn Độ sẽ được cải thiện, sẽ ổn định hơn so với nước bạn Trung Quốc.
Lý giải cho sự thay đổi lớn lao này là do yếu tố con người.
Người Ấn Độ có truyền thống tín ngưỡng tôn giáo lâu đời, sâu sắc. Việc làm của họ ít nhiều gì cũng tồn tại vấn đề tâm linh chi phối. Dẫu rằng hiện nay, ở quốc gia đông thứ hai thế giới này đang có những bất ổn tôn giáo. Nguyên do là sự lầm lạc, tranh giành giữa các thủ lĩnh tinh thần của các phe nhóm, đảng phái tôn giáo, chính trị khác nhau. Nhưng khi sự hiểu biết của nhân loại được nâng cao thì những lầm lạc trên sẽ được xóa bỏ, sự tín tâm của người dân về thế giới tâm linh giúp đất nước Ấn Độ sớm ổn định về kinh tế, chính trị, tôn giáo.
Người Trung Quốc đang ở trong bối cảnh khác hẳn. Chủ nghĩa thực dụng đang chiếm ưu thế. Người dân đang cuốn theo sự phát triển công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế. Người Trung Quốc lại là người nhanh nhạy, cơ trí.
Nhưng những điều tưởng chừng là ưu thế cho sự phát triển đất nước Trung Hoa lại ẩn chứa nguy cơ khiến tình hình quốc gia thêm bất ổn, dễ đổ vỡ.
Sự phát triển vũ bão của nền kinh tế đã tạo ra một khoảng trống về tinh thần, tâm linh trong lòng người Trung Quốc.
Thêm vào đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng và phát triển mạnh trong thời kỳ đầu chủ nghĩa xã hội đã góp phần xóa bỏ các tôn giáo truyền thống Lão giáo - Khổng Giáo - Phật giáo.
Việc làm này khiến cho việc tín ngưỡng tôn giáo trong người dân chỉ dừng lại ở việc cầu nguyện, lễ lạy và cúng bái. Sự hiểu biết về thế giới tâm linh bị mai một. Người dân ít chịu sự ảnh hưởng và tác động chi phối của thế giới tâm linh. Điều này dẫn đến việc người dân Trung Quốc dễ dàng làm việc trái với lẽ tự nhiên, trái đạo và bất ổn sẽ xảy ra.
Nếu nhìn nhận vấn đề một cách khách quan thì bạn sẽ nhận thấy những vấn đề tôi trình bày là rất căn bản, có tính hệ thống và logic.
Vấn đề đặt ra là bạn sẽ phải giải quyết vấn đề trên như thế nào?
Chuyển sang vấn đề khác:
Xuyên suốt quá trình phát triển lịch sử của đất nước Trung Hoa, người khiến tôi phải tôn trọng và cảm phục thì chỉ có thể là Lão Tử, tác giả của quyển sách - Đạo Đức Kinh.
Bởi vì Lão Tử đã sớm nhận ra sai lầm của quốc gia Trung Quốc trong thời điểm hiện tại và đã gửi lời cảnh báo đến dân tộc Trung Hoa.
Đáng tiếc! Những cảnh báo của Lão Tử - Bậc thánh nhân - do dân tộc Trung Hoa thừa nhận đã bị người đời sau xem nhẹ và diễn giải sai lạc. Đạo Đức Kinh bị mai một và đánh mất giá trị thực tiễn nhằm ứng dụng vào cuộc sống con người.
Do sự lầm lạc không nhận biết được chân giá trị quyển sách nên giới lãnh đạo Trung Quốc đã vấp phải những sai lầm - Làm những việc vô đạo, trái đức.
Nay, tôi sẽ thay Lão Tử khơi gợi lại những cảnh báo của bậc Thánh nhân nhằm giúp dân tộc Trung Hoa và nhân loại nhận ra cái nhìn thấu đáo, cùng tột của bậc thánh nhân.
Thoạt đầu, Lão Tử phác họa toàn cảnh nguyên nhân khiến cho dân nghèo khó, khốn cùng, chống đối lại nhà cầm quyền bất kể mạng sống.
Dân chi cơ, dĩ kì thượng thực thuế chi đa, thị dĩ cơ. Dân chi nan trị, dĩ kì thượng chi hữu vi, thị dĩ nan trị. Dân chi khinh tử, dĩ kì thượng cầu sinh chi hậu, thị dĩ khinh tử. Phù duy vô dĩ sinh vi giả, thị hiền ư quý sinh.
Dân bị nghèo đói, khốn cùng là do nhà cầm quyền thu thuế cao quá nên dân đói khổ. Dân trở nên khó trị vì nhà cầm quyền dùng chính sách cai trị hà khắc, áp bức người dân vào đường cùng nên dân khó trị. Bởi lẽ rơi vào cảnh khốn cùng, túng quẩn nên dân không còn sợ chết. Nguyên nhân dẫn đến dân túng quẩn, nghèo đói là do quan lại, vua chúa ăn chơi sa đọa, tự phụng dưỡng không lo cho dân. Sự nghèo đói, bần cùng khiến người dân không sợ chết, chống đối lại nhà cầm quyền, gây loạn lạc trong xã hội. Nếu mà nhà cầm quyền đương thời không thu thuế cao, không cai trị hà khắc, bóc lột người dân. Nhà cầm quyền không chi tiêu hoang phí, biết lo cho dân thì người dân tự khắc quy thuận, thuần lương. Bởi vì họ tự biết quý trọng mạng sống, sẽ không chống đối triều đình cho dù có những phần tử xấu kích động, gây rối. Xã hội sẽ tự thái bình, ổn định. Thế nên, điều quan trọng nhà cầm quyền phải làm là hướng cho quan lại triều đình và chính vua chúa cũng sống đời sống ít ham muốn, biết đủ, sống đạm bạc thì nước nhà sẽ cường thịnh.
Sau đó, Lão Tử lí giải cách trị quốc mà ông cho rằng hợp lý hơn.
Dĩ chính trị quốc, dĩ kì dụng binh; Duy dĩ vô sự thủ thiên hạ. Ngô hà dĩ tri kì nhiên tải. Dĩ thử: Thiên hạ đa kỵ húy nhi dân di bần. Triều đa lợi khí, quốc gia tư hôn. Nhân đa kỹ xảo, kì vật tư khởi. Pháp luật tư chương, đạo tặc đa hữu. Kì chính muộn muộn, kì dân thuần thuần. Kì chính sát sát, kì dân khuyết khuyết.
Họa hề phúc chi sở ỷ, phúc hề họa chi sở phục. Thục tri kỳ cực? Kì vô chính. Chính phục vi kỳ, thiện phục vi yêu. Nhân chi mê, kì nhật cố cửu.
Người đời thường dùng chính sách cai trị để trị nước, dùng sự biến hóa, linh động để điều binh. Những việc làm này không thât đúng đối với việc trị thiên hạ, chỉ có vô sự mới được thiên hạ. Do đâu mà ta biết được lẽ này? Do bởi: Thiên hạ càng nhiều lệnh cấm thì nước nhà càng nghèo. Triều đình càng đặt ra nhiều hình luật thì đất nước càng thêm loạn. Lòng người càng mưu trí, cơ xảo thì việc nảy sinh tư hữu, chiếm hữu làm của riêng càng nhiều. Luật pháp càng đặt ra nhiều chế tài, hình phạt thì nạn trộm cướp, phạm pháp càng thêm nhiều. Nên biết trị quốc bằng luật pháp khoan dung, độ lượng thì dân sẽ thuần hậu. Trị quốc bằng pháp luật hà khắc thì người dân gặp nhiều khó khăn, bất mãn nhà cầm quyền.
Họa dựa vào phúc, phúc là chỗ nấp của họa, phúc họa nương nhau mà tồn tại. Ai có thể phân định được ranh giới rõ ràng? Họa phúc không có gì là nhất định, cố định. Những việc làm dường như đúng đôi khi lại là sai lầm lớn, chính sẽ có thể trở thành tà, thiện có thể trở thành ác.
Lão Tử khẳng định - Loài người đã lầm lạc, không hiểu được lẽ thật này đã từ lâu lắm rồi.
Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên. Cổ chi thiện vi đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi. Dân chi nan trị, dĩ kỳ trí đa. Cố dĩ trí trị quốc, quốc chi tặc; bất dĩ trí trị quốc, quốc chi phúc. Tri thủ lưỡng giả, diệc kê thức. Thường tri kê thức, thị vị huyền đức. Huyền đức thậm hĩ viên hĩ, dữ vật phản hĩ. Nhiên hậu nãi chí đại thuận.
Đây là lời khuyên của bậc thánh nhân gửi đến những người làm chính trị.
Trị nước lớn giống như là việc nấu cá nhỏ. Nấu cá nhỏ mà lật lên, lật xuống nhiều thì cá sẽ nát. Trị nước mà dùng chính lệnh phiền hà, pháp lệnh nhiều thay đổi, can thiệp quá nhiều vào việc dân thì dân sẽ trá ngụy, chống đối lại. Thế nên, người xưa khéo dùng đạo trị nước, không khiến cho dân cơ mưu, nhiều trí xảo mà làm cho người dân trở nên đôn hậu, thuần phác. Dân sở dĩ khó trị là vì nhiều thủ đoạn, trí mưu. Cho nên dùng trí mưu, thủ đoạn trị nước sẽ gây họa cho đất nước; không dùng trí mưu mà trị nước là phúc cho dân. Biết rõ hai điều này là biết cách thức trị nước. Biết rõ và dùng phương pháp đó trị quốc là người có đức. Người dùng đức mà trị nước thì giúp dân quay về sự thuần lương, chất phác. Dân thuần lương sẽ sống tùy thuận theo đạo, theo tự nhiên. Tự khắc đất nước sẽ thái bình thịnh trị.
Người có đức thì dùng đạo mà tu thân, trị nước bằng cách:
Bất thượng hiền, sử dân bất tranh. Bất quí nan đắc chi hóa, sử dân bất vi đạo, bất hiện khả dục, sử dân bất loạn.
Thị dĩ thánh nhân chi trị, hư kì tâm, thực kì phúc, nhược kì chí, cường kì cốt.
Thường sử dân vô tri vô dục, sử phù trí giả bất cảm vi dã. Vi vô vi, tắc vô bất trị.
Thánh nhân mà Lão Tử dùng trong đoạn này với nghĩa là người lãnh đạo có đức. Còn chữ hiền là diễn đạt nghĩa hiền tài, chứ không mang nghĩa hiền đức. Bởi lẽ theo quan điểm của Lão Tử - Người có đức không ra tranh cạnh với đời, tùy thuận theo đạo - Việc người cần họ làm thì họ ra sức làm. Việc có lợi mà người đời không cần họ làm thì họ không tranh cạnh làm. Vì thế, những người ra cạnh tranh làm thường kém đức. Người kém đức mà có quyền binh thì xã tắc sẽ đại loạn. Thế nên, đoạn trên sẽ được giải nghĩa như sau:
Không trọng người hiền tài nhằm không tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Nguyên do người có tài, kém đức sẽ đoạt ngôi vị cao. Không trọng của quý để dân không sinh lòng tham trộm cướp. Không phô bày những vật khơi gợi lòng ham muốn của người khác, để lòng người không loạn.
Cho nên chính sách trị nước của người có đức cao là làm cho người dân có tâm trở nên hư tĩnh, có đủ cơm no, áo ấm. Lòng thì ít ham muốn tranh giành; Sức khỏe tốt, xương cốt khỏe mạnh.
Khiến cho lòng người dường như không biết, không ham muốn mà bọn trí mưu, cơ hội không dám làm việc càn quấy. Người lãnh đạo có đức làm mà như không làm. Bởi lẽ những việc cần làm thì người dân đã tự làm lấy. Nguyên tắc của việc trị nước là trị mà không trị. Nhà cầm quyền quản lý ở cấp độ cao, chỉ điều tiết mọi việc không can thiệp sâu vào sự phát triển của các thành phần xã hội. Để các thành phần xã hội tùy thuận, tự do phát triển nhưng không vượt mức thái quá.
Ngoài ra, Lão Tử còn khuyên nhà cầm quyền phải nên hiểu đạo lý giữ hòa khí với các quốc gia lân cận, không gây thù hận, chiến tranh để nước nhà yên bình, dân có cuộc sống ấm no. Nhà cầm quyền hành xử tùy thuận theo đạo tự khắc các nước khác sẽ quy thuận.
Đại quốc giả hạ lưu, thiên hạ chi giao, thiên hạ chi tẫn. Tẫn thường dĩ tình thắng mẫu, dĩ tình vi hạ. Cố đại quốc dĩ hạ tiểu quốc tắc thủ tiểu quốc. Tiểu quốc dĩ hạ đại quốc tắc thủ đại quốc.
Cố hoặc hạ dĩ thủ, hoặc hạ nhi thủ. Đại quốc bất quá dục kiêm súc nhân, tiểu quốc bất quá dục nhập sự nhân. Phù lưỡng giả các đắc sở dục, đại giả nghi hạ.
Nước lớn thì như là vùng nước thấp, vùng nước thấp thường là chỗ quy tụ nước của tất cả các sông ngòi, kênh lạch, vì thế vùng nước thấp giống như là mẹ của các sông ngòi. Vì nước lớn như là vùng nước thấp nên sẽ là nơi quy tụ của các nước nhỏ, giống như là mẹ của các nước nhỏ. Nếu nhà cầm quyền hiểu rõ lẽ đạo này thì khi đó sẽ có cách ứng xử với các nước nhỏ như tấm lòng của người mẹ đối với con cái, phải có sự yêu quý, tôn trọng các nước nhỏ. Nước lớn mà tôn trọng nước nhỏ thì nước nhỏ tự thuần phục, không chống đối. Ngược lại, nước nhỏ mà tôn trọng nước lớn thì nước lớn sẽ che chở, giúp đỡ.
Khi nước lớn và nước nhỏ cùng khiêm hạ, tôn trọng lẫn nhau thì thiên hạ sẽ thái bình, không  xảy ra chiến tranh loạn lạc. Lý giải vấn đề này, Lão Tử cho rằng nước lớn sở dĩ muốn gồm thâu nước nhỏ cũng chỉ vì muốn bảo hộ, xây dựng. Nước nhỏ sở dĩ chống đối lại cũng chỉ vì muốn tự chủ, không lệ thuộc vào nước lớn. Nếu cả nước lớn và nước nhỏ đều hiểu được tận cùng đạo lý, cùng khiêm hạ thì cùng đạt được mục đích, sở cầu của mỗi nước. Nhưng điều cốt yếu trước nhất - Đó là nước lớn phải khiêm hạ.
Lão Tử cũng lường trước việc chiến tranh loạn lạc xảy ra khi nhà cầm quyền các nước sống không tùy thuận theo đạo, ông đã có đôi lời.
Dĩ đạo tá nhân chủ giả, bất dĩ binh cường thiên hạ. Kì sự hiếu hoàn.
Đại quân chi hậu, tất hữu hung niên. Thiện giả quả nhi dĩ, bất cảm dĩ thủ cường. Quả nhi vật căng, quả nhi vật phạt, quả nhi vật kiêu, quả nhi bất đắc dĩ, quả nhi vật cường
Người hiểu đạo phò vua, giúp nước thì không cậy binh lực mạnh mà tranh với thiên hạ. Bởi vì hiếu chiến, gây hấn sẽ gây ra chiến tranh, hại quốc gia lâm vào nạn binh đao, loạn lạc, mất nước, gây khổ cho dân.
Lẽ thường, quân đội đóng ở đâu, gai góc mọc ở nơi đó. Sau trận chiến tranh thì sẽ có năm đói khổ, mất mùa, dân tình oán thán, ly loạn. Người hiểu đạo dùng binh thành công, đạt mục đích rồi thì dừng lại không ỷ mạnh mà hơn thiên hạ. Phàm việc gì cũng không nên thái quá vì làm thái quá sẽ bị phản tác dụng. Vì thế đạt được mục đích thì dừng lại không tự kiêu, tự mãn. Thể hiện rõ lập trường vì bất đắc dĩ mới phải dùng binh, đạt được mục đích rồi thì không khoe khoang, cao ngạo, không tranh hơn thua.
Dụng binh hữu ngôn: Ngô bất cảm vi chủ nhi vi khách, bất cảm tiến thốn nhi thoái kích. Thị vị hàng vô hàng nhương vô tí, chấp vô binh, nhưng vô địch.
Nhà cầm quyền hiểu đạo không muốn dân rơi vào cảnh loạn lạc nên không chủ động gây chiến tranh. Nếu bị nước khác tấn công, gây hấn thì mới phải dùng binh đối địch. Vì là bất đắc dĩ phải dùng binh đối địch nên thuật dùng binh có câu: Ta không muốn làm người chủ chiến (khiêu chiến) mà chỉ là người khách (ứng chiến). Vì giữ hòa khí nên thà lùi một thước chứ không muốn tiến một tấc. Chỉ đem binh ra dàn trận ứng phó, thể hiện lập trường giữ nước để các nước có ý định xâm chiếm biết khó mà rút lui. Khi các nước biết khó rút binh, nhà cầm quyền hiểu đạo cũng không xuất binh truy kích gây oán thù, đạt được mục đích rồi thì dừng lại vì hiểu rõ đạo lý - Vật cùng tất phản. Nếu dồn đối phương vào đường cùng thì chiến tranh sẽ xảy ra mà đó là điều mà nhà cầm quyền giữ đạo không mong muốn. Tiếp đó Lão Tử lại giải bày:
Binh giả bất tường chi khí, phi quân tử chi khí, bất đắc dĩ nhi dụng chi, điềm đạm vi thượng. Thắng nhi bất mĩ, nhi mĩ chi giả, thị lạc sát nhân. Phù lạc sát nhân, tắc bất đắc chí ư thiên hạ hĩ.
Binh khí là vật bất tường, hại người, không phải là đồ vật thường dùng của người quân tử. Vạn bất đắc dĩ thì mới phải dùng đến; Mặc dù vậy, người hiểu đạo khi dùng binh khí thì phải giữ hòa khí, tránh gây thương vong. Thắng cũng không cho rằng hay, giỏi. Nếu cho là tài giỏi thì sẽ đồng nghĩa với thích giết người. Kẻ nào mà thích giết người thì sẽ gây căm phẫn trong thiên hạ, không xứng đáng là nhà cầm quyền trị nước.
Trên thực tế xã hội thời Lão Tử, nhà cầm quyền ở các nước đang tranh đoạt, xâu xé lẫn nhau nên Lão Tử đã mượn lời người xưa để cảnh tỉnh nhà cầm quyền đương thời.
Nhân chi sở giáo, ngã diệc giáo chi: Lương cường giả bất đắc kì tử. Ngô tương dĩ vi giáo phụ.
Người xưa đã từng dạy, nay ta mượn lời mà nói lại: Cường bạo thì sẽ bị họa sát thân, chết bất đắc kì tử. Ta nghĩ đây là câu nói rất đúng đắn và xác đáng giống như là lời răn dạy của người cha.
Lão Tử còn nhận ra nhà cầm quyền làm việc trái đạo, mang quân xâm chiếm lẫn nhau. Nhằm lôi kéo người dân phục vụ tham vọng xưng hùng, xưng bá cho nên nhà cầm quyền các nước dùng lời lẽ mị dân, kêu gọi người dân phục vụ nước nhà vì quốc gia mà chết thì sẽ được trọng thưởng của cải, ban chức tước, bổng lộc khiến người dân rơi vào cảnh máu đổ, đầu rơi, tang thương. Lão Tử đã xót xa cảnh tỉnh người dân, khuyên mọi người giữ đạo
Danh dữ thân thục thân? Thân dữ hóa thục đa? Đắc dữ vong thục bệnh? Thị cố thậm ái tất đại phí, đa tàng tất hậu vong.
Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu.
Danh tiếng với sinh mạng, cái nào quý? Sinh mạng với của cải, cái nào quan trọng? Được danh tiếng mà mất mạng, cái nào hại? Cho nên ham danh quá thì hao tổn nhiều, chất chứa của cải nhiều thì lo nghĩ, mất mát nhiều.
Thế nên, ít muốn biết đủ thì không nhục, không nguy hại cho thân. Làm được như vậy thì xem như có thể sống lâu.
Mặt khác, tôi lại tự hỏi “Giới chính trị Trung Quốc học được bài học gì xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử dân tộc Trung Hoa”.
Sự hợp tan, thống nhất rồi chia rẽ, phải chăng thể hiện rõ quy luật của đạo?
Nếu đã không học được gì từ những bài học lịch sử, sách cổ - Nguồn tri thức vô giá của người xưa, vẫn phạm phải những sai lầm xưa cũ. Vậy thôi hãy đốt bỏ lịch sử dân tộc, sách cổ.
Giữ lại làm gì những phế vật vô giá trị?
Tự hào gì với mớ giấy lộn vô nghĩa?
Về trị nước, giới chính trị Trung Quốc hiện đang phạm sai lầm khi khiến dân ngày càng trở nên cơ mưu, trí xảo.
Bởi lẽ việc dung dưỡng nền kinh tế nhằm bảo toàn vị trí chính trị của giới lãnh đạo khiến cho người làm kinh tế trở nên quyền biến, trá thuật làm hàng giả, hàng nhái tràn lan. Mặc tình bóc lột sức lao động người dân.
Sự gian trá của ngành kinh tế còn bước thêm một bước khiến người dân sống trong cảnh dối lừa.
Hãy nhìn lại chương trình quảng cáo giới thiệu của các sản phẩm hàng hóa có nơi ngành kinh tế bị thương mại hóa có bao nhiêu phần là thật, bao nhiêu phần là dối lừa?
Vì sống mãi trong sự dối lừa, con người đã chấp nhận sự gian dối đó là sự thật.
Sự kiện sữa chứa độc chất có bao nhiêu đứa trẻ vô tội bị đầu độc từ những người cha, người mẹ bởi lẽ các bà mẹ ngộ nhận, lầm lạc thừa nhận các loại sữa quảng cáo trên thị trường tốt hơn sữa mẹ?
Và còn bao nhiêu sản phẩm tiêu dùng độc hại khác mà con người tin dùng,… sẽ hại người?
Khi ngành kinh tế tiến hành thương mại hóa các ngành nghề khác như ngành khoa học, giáo dục, văn hóa, chính trị, quân sự, y tế,… thì mọi thứ đều có thể quy ra tiền, hoặc là rất nhiều tiền.
Nếu có rất nhiều tiền thì anh có thể mua được một chiếc ghế chính trị, mua được địa vị xã hội.
Người dân cuống cuồng chạy theo đồng tiền, bỏ mặc việc giáo dục con cái cho ngành giáo dục cùng với số tiền họ bon chen, tích góp.
Đứa con nhận đống tiền lớn ảo tưởng sự sang giàu, sống thực dụng, ích kỷ, đua đòi. Ngành văn hóa bị thương mại hóa làm việc lầm lạc, trái đạo đức.
Tôi muốn nói điều gì?
Hãy nhìn lại lời những bài hát đang thịnh hành trên thị trường, những ca từ mê đắm về tình yêu. Dường như cuộc sống nhân loại chỉ còn có tình yêu trai gái cuồng si, sự dối lừa, tình phụ,…
Hãy nhìn lại những bộ phim với nội dung dung tục, con người đến với con người bằng trái tim toan tính, tranh đoạt tình yêu, gia tài. Đánh mất lương tri, mưu mô, xảo trá. Những con người biến chất, đầy dã tâm, tham vọng,…
Con người ngày nay sẽ học được gì từ những gì mà ngành văn hóa bị thương mại hóa mang lại?
Những đứa trẻ lớn lên trong sự ảo tưởng về giàu sang lại tiếp tục sống trong sự ảo tưởng về tình yêu và hạnh phúc. Nhưng thực tế cuộc sống hoàn toàn không phải vậy, chúng sẽ phải hụt hẫng, sự đổ vỡ, ly tán trong gia đình.
Sự thực dụng và nhiều mưu chước học được từ phim ảnh, con người sẽ khôn khéo hơn trong việc lừa người dối mình, tranh đoạt, dã tâm,… và còn gì nữa…?
Sự thương mại hóa các ngành nghề khác, vấn đề sẽ ra sao?
Thôi! Bạn hãy tự tìm lấy. Đây là vấn nạn lớn không chỉ ở Trung Quốc mà là cả nhân loại.
Những sai lầm chết người của thế hệ đi trước và cả thế hệ hiện tại, nhân loại rồi sẽ phải khắc phục từ đâu?
Nhân việc trình bày về Đạo Đức Kinh - Nguồn tri thức vô hạn mà con người dường như lãng quên mà giới chính trị Trung Quốc đã đi sai lệch. Tôi sẽ lạm bàn thêm về Đạo Đức Kinh và Lão Tử, hiển bày ra những sai lầm mà tri thức nhân loại đang vấp phải khi nhìn nhận, tìm hiểu đánh giá một vấn đề.
Tri thức nhân loại đã và đang vướng vào một căn bệnh di truyền, nguy hại mà chưa có phương thuốc chữa trị hữu hiệu. Đó là căn bệnh “ Lấy ngọn bỏ gốc”.
Có lẽ do sự hiểu biết hạn hẹp và tính chủ quan khi nghiên cứu, tìm hiểu mà tri thức nhân loại thường nghiên cứu, đánh giá vấn đề một cách phiến diện, thiếu tính thực tế. Căn bệnh này dễ nhận thấy ở tất cả các ngành nghề trong xã hội từ chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, tôn giáo, con người, gia đình,…
Mặc dù, ngay khi những nhà nghiên cứu đặt ra vấn đề tìm hiểu về một vấn đề nào đó mà họ quan tâm. Họ vẫn đặt vấn đề tìm hiểu gốc lên hàng đầu nhưng họ không đứng ở góc nhìn tổng thể nên dẫn đến lầm lạc.
Điển hình là vấn đề Lão Tử - Đạo Đức Kinh. Những nhà nghiên cứu đã đặt ra vấn đề đầu tiên là tìm hiểu về con người Lão Tử. Hàng loạt câu hỏi đặt ra “Lão Tử tên thật là gì, ở đâu, làm gì, sinh ngày nào, mất năm nào, sống ở thời phong kiến nào,…?”.
Điều này thực sự mang lại lợi ích gì ngoài những cuộc tranh luận, bút chiến không hồi kết. Vì bị cuốn vào tranh luận nên những nhà nghiên cứu rơi vào sự chủ quan khi đánh giá, tìm hiểu Đạo Đức Kinh. Đánh mất tính khách quan khi nhìn nhận tư tưởng của Lão Tử dẫn đến sai lạc không ít. Thật là “Lấy ngọn bỏ gốc”.
Trên thực tế, điều mà nhân loại cần nhìn nhận, học hỏi là ở tư tưởng của Lão Tử. Đây mới thật sự là gốc. Còn việc sống chết, họ tên của Lão Tử chỉ là phần ngọn.
Tuy nhiên, để chấm dứt trận bút chiến không hồi kết về cuộc đời Lão Tử tôi sẽ đi vào “Vết xe đổ” của các nhà nghiên cứu nhằm hiển bày sự thật.
Lão Tử là ai?
Người có thể trả lời câu hỏi này sẽ không ai khác ngoài Doãn Hĩ và có lẽ Lão Tử - Doãn Hĩ không thể là hai người.
Lão Tử sinh ở thời nào?
Câu trả lời đúng nhất chỉ có thể là thời phong kiến với bối cảnh lịch sử các nước đang phân tranh, chém giết lẫn nhau, xã hội loạn lạc.
Các nhà nghiên cứu sẽ tự bảo vệ sự hiểu biết của họ bằng phản biện “Tôi đã chủ quan khi khẳng định vấn đề”.
Tôi sẽ không tranh biện bởi lẽ việc đúng sai trong nhìn nhận vấn đề này chẳng gây hại và cũng không lợi ích gì cho tôi và sự hiểu biết của nhân loại.
Nhưng cũng để giúp vấn đề được nhân loại tường tận hơn, tôi sẽ lý giải.
Trong Đạo Đức Kinh - Lão Tử có đoạn viết.
Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu. Thánh nhân bất nhân dĩ bách tính vi sô cẩu.
Lão Tử đưa ra lời khẳng định. Trời đất không có tình người, xem mọi vật là bình đẳng, không phân biệt, mọi thứ đều là như chó rơm không thương, không ghét. Thánh nhân ở đây được Lão Tử được dùng với hàm nghĩa người ở trên tức là nhà cầm quyền - Vua chúa, quan lại đương thời. Thế nên câu sau sẽ được diễn nghĩa “Vua chúa, quan lại đương thời không có tình người, xem dân đen như chó rơm, như cỏ rác, mặc sức vơ vét, bóc lột, hà hiếp”.
Không dừng lại đó, Lão Tử viết tiếp:
Triều thậm trừ, điền thậm vu, sương thậm hư; Phục văn thái, Đái lợi kiếm, yếm ẩm thực, tài hóa hữu dư, thị vị đạo khoa, phi đạo dã tai.
Triều đình thật là ô uế, suy đồi, đồng ruộng thì hoang phế, kho lương thì cạn kiệt. Trong khi đó vua chúa, quan lại thì ăn chơi sa đọa thể hiện qua lối sống của nhà cầm quyền mặc áo gấm thêu, đai thì mang kiếm báu, ăn uống vô độ, chán mứa, để phục vụ xa hoa, thối nát của triều đình và gia tộc, nhà cầm quyền ra sức vơ vét, bóc lột người dân, tích góp vàng bạc, của cải về làm của riêng. Nhà cầm quyền ra vẻ đạo mạo, tinh tươm để che dấu những việc làm xấu xa, đen tối. Cuối cùng Lão Tử đưa ra một kết luận “Vua chúa, quan lại thời ông là trùm trộm cướp”.
Hơn ai hết, Lão Tử là người hiểu đạo, giữ đạo. Ông tự nhận biết với hai câu nói trên dù ông có 100 cái mạng cũng khó lòng sống sót. Thế nên ông sẽ không để lộ thân phận, tên tuổi thật sự của mình.
Nếu nhân loại cứ nhìn nhận, đánh giá,... Đạo Đức Kinh - Lão Tử ở góc nhìn chủ quan, phiến diện, không sát với thực tế. Nhìn hiện tượng mà không nhìn rõ bản chất,... thì đến bao giờ nhân loại mới nhận biết và sống được với nguồn tri thức sâu rộng của Lão Tử?
Tôi tự hỏi “Tri thức nhân loại đang tiến lên hay tụt lùi so với sự hiểu biết của người xưa”.
Và bạn - Khi nhận ra chân giá trị quyển sách Đạo Đức Kinh thì nhân loại sẽ phải thừa nhận Lão Tử là rồng trong thiên hạ.
Lão Tử đã là thần long thì nhân loại chỉ có thể thấy đầu mà không thấy đuôi cũng là lẽ thường.
Nếu lịch sử ghi nhận quyển Đạo Đức Kinh mà nhân loại đang lưu giữ có nguồn gốc xuất phát từ Doãn Hĩ là chính xác thì Lão Tử chính là Doãn Hĩ. Bởi lẽ việc trao truyền quyển sách có an nguy đến mạng sống của chính người trao truyền thì người trao truyền chỉ có thể là người viết ra quyển sách đó. Lão Tử là người hiểu đạo và cũng là người giữ đạo, ông biết rằng để lộ thân phận sẽ mất mạng nhưng ông cũng biết việc cần thiết phải rộng truyền quyển sách để người đời hiểu lẽ đạo, tùy thuận sống theo đạo thì xã hội sẽ bớt loạn lạc, các nước sẽ không phân tranh, tương tàn lẫn nhau. Người dân hiểu đạo sẽ không rơi vào quỷ kế của nhà cầm quyền đương thời. Vì thế ông mới mạo hiểm tính mạng trao truyền quyển sách.
Sẽ có không ít nhà nghiên cứu cho rằng tôi chủ quan khẳng định vấn đề này với lí do Doãn Hĩ chỉ là một viên quan nhỏ giữ cửa ải thì khó thể có sự hiểu biết cao sâu, uyên bác mà viết được quyển sách Đạo Đức Kinh.
Câu nói “Tri nhân tri diện bất tri tâm” luôn đúng nhưng không có nhiều người lĩnh hội và sống được với câu nói đó. Lão Tử - Doãn Hĩ là một người đắc đạo mà người đắc đạo lại được Lão Tử diễn tả như sau:
Cổ chi thiên vị đạo giả, vi diệu huyền thông, thâm bất khả thức, cố cưỡng vị chi dung.
Dự hề nhược đông thiệp xuyên, do hề nhược uý tứ lân, nghiễm hề kì nhược phác, khoáng hề kì nhược cốc, hồn hề kì nhược trọc.
Lão Tử  đã khiêm hạ không dám nhận mình là người đắc đạo. Thế nên ông chỉ mượn lời người xưa mà nói:
Người đắc đạo xưa thời tinh tế mầu nhiệm, thông đạt sâu xa đến mức người thiên hạ không thể đoán được, hiểu được (Bởi vì tư dục của lòng người quá lớn).
Vì người đời không thể biết được, hiểu được người đắc đạo nên Lão Tử miễn cưỡng tả họ như sau:
Họ rụt rè như người mùa đông lội qua suối, họ nghi ngại như sợ láng giềng ở bốn bên. Như là một người khách, họ đoan chính, nghiêm chỉnh. Họ tùy thuận như băng tan thì nước chảy. Họ dày dặn, mộc mạc như gỗ chưa đẽo. Họ lờ mờ, ẩn hiện như trong hang tối. Họ hỗn độn như nước đục.
Qua những câu từ mà Lão Tử đã trình bày trong Đạo Đức Kinh, tôi rất hy vọng nhân loại nên nhìn nhận các sự vật, hiện tượng nên nhìn ở  góc nhìn bản chất đừng mê lầm nhìn nhận ở góc nhìn hiện tượng mà có đánh giá các sự vật, hiện tượng không được khách quan.
Về học thuyết, tư tưởng trong Đạo Đức Kinh, tôi chỉ có thể nói một lời “Vì thiếu khách quan, các học giả đã diễn đạt bị sai lạc”.
Thực ra, tôi là người hậu học, mạt tiến không dám hơn người. Có chút cơ duyên, tôi được người bạn tặng quyển sách Đạo Đức Kinh, trong lòng tôi rất mong học hỏi được nhiều điều bổ ích.
Với trí hiểu biết nông cạn, tôi nhận ra Đạo Đức Kinh chẳng có điều gì đáng để học. Bởi lẽ trong Đạo Đức Kinh có câu “Tuyệt học vô ưu; Học bất học”. Các học giả đã diễn dịch hai câu trên với hàm ý - Dứt học thì không lo; Lấy sự không học mà học.
Có lẽ không riêng gì cá nhân tôi, quyển sách Đạo Đức Kinh với cách diễn giải như vậy thì gần như là vô nghĩa. Vì bởi Lão Tử khuyên ta không nên học hỏi thì có gì mà tìm hiểu.
Sau đó, tôi đã chủ quan tách câu “Tuyệt học vô ưu”, “Học bất học” ra khỏi Đạo Đức Kinh và diễn giải theo hàm nghĩa khác. Tôi cho rằng Tuyệt học vô ưu không thể diễn đạt theo nghĩa dứt học không lo mà chỉ có thể hiểu là điều cao nhất, cùng tột của sự học là người học đạt đến sự không lo âu, muộn phiền. Còn học bất học là ta học nhưng không chấp chặt vào những gì ta đã học, đã biết. Chỉ khi đó ta mới mở lòng ra học thêm được những cái hay, cái mới.
Ví như tôi là một người yêu thích đánh đàn, tôi tìm gặp một người thầy giỏi để học đàn đến khi tôi trở thành một người đánh đàn tài giỏi. Nếu tôi dừng lại không tìm hiểu, học hỏi, sáng tạo thêm thì tôi chỉ là một người đánh đàn tài giỏi, là học trò của người đánh đàn kia.
Nhưng nếu tôi lại tìm học thêm ở những người tài giỏi khác thì mọi chuyện sẽ khác đi…
Khi đó, tôi cứ ngỡ các nhà nghiên cứu đã thiếu khách quan khi nhìn nhận tư tưởng của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh. Các học giả đã trói buộc cách diễn giải xuyên suốt Đạo Đức Kinh vào câu dứt học thì không lo - Tuyệt học vô ưu khiến cho Đạo Đức Kinh trở nên xa rời cuộc sống. Đánh mất đi giá trị thực tiễn của tri thức người xưa. Tôi đã có ý định dấn thân vào cuộc bút chiến nhưng chánh định đã cảnh tỉnh “Nhân loại sẽ không được ích lợi gì trong cuộc tranh luận không hồi kết”.
Thế nên tôi đã dừng lặng lại. Rồi nay nhân dịp viết quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”, tôi đã dùng Đạo Đức Kinh để cảnh tỉnh những sai lầm của giới lãnh đạo Trung Quốc và sự hiểu biết của nhân loại.
Nhân dịp tôi tỏ bày chút hiểu biết về Lão Tử và Đạo Đức Kinh những mong các nhà nghiên cứu có cách nhìn tổng thể, khách quan hơn khi nhìn nhận và đánh giá vấn đề.
Lược dịch lại Đạo Đức Kinh, tôi thừa nhận hai câu “Tuyệt học vô ưu” và “Học bất học” khi đặt trong ngữ cảnh của Đạo Đức Kinh thì các dịch giả đã giải nghĩa “Dứt học không lo”, “Lấy sự không học mà học” là thật sự chuẩn xác.
Việc tách hai câu trên ra khỏi Đạo Đức Kinh và diễn giải khác đi là sai lầm của tôi khi tìm hiểu Đạo Đức Kinh.
Tuy nhiên, cũng nhờ sự sai lầm đó mà tôi đã lĩnh hội Đạo Đức Kinh ở khía cạnh khác.
Nhưng dường như dịch giả mà tôi biết đã bị ảnh hưởng tư tưởng của chủ nghĩa duy vật nên chủ quan nhận định Đạo Đức Kinh của Lão Tử là học thuyết vô thần.
Nhà nghiên cứu trên đã đúng khi đưa ra nhận định Lão Tử là người không tin vào việc “Thượng đế đã tạo ra loài người và vạn vật qua những ngôn từ trong Đạo Đức Kinh”.
Đạo xung, nhi dụng chi hoặc bất doanh, uyên hề tự vạn vật chi tôn. Tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân, hòa kì quang, đồng kì trần, trạm hề tự hoặc tồn. Ngô bất tri thuỳ chi tử, tượng đế chi tiên.
Bản thể của đạo là hư không như công dụng của đạo lại vô cùng. Có lẽ đạo tạo ra vạn vật, vạn vật vận hành trong quy luật của đạo. Đạo không để lộ sự tinh nhuệ, nhưng lại giải trừ những rối loạn, tranh cạnh, hòa đồng với mọi vật, đạo rất sâu kín nhưng lại tồn tại mãi.
Lão Tử thừa nhận ông không thể hiểu nó là con ai nhưng có lẽ đạo có trước cả trời đất.
Nhưng họ lại chủ quan nhận định Lão Tử theo chủ thuyết vô thần. Nếu tinh ý ta sẽ nhận thấy Lão Tử thừa nhận việc tồn tại của quỷ thần. Ông nhận biết nếu loài người sống tùy thuận theo đạo thì quỷ thần không hại được.
Tích chi đắc nhất giả: Thiên đắc nhất dĩ thanh, địa đắc nhất dĩ ninh, thần đắc nhất dĩ linh, cốc đắc nhất dĩ doanh, vạn vật đắc nhất dĩ sinh, hầu vương đắc nhất dĩ vi thiên hạ trinh. Kì trí chi.
Thiên vô dĩ thanh tương khủng diệt, địa vô dĩ ninh tương khủng phế, thần vô dĩ linh tương khủng yết, cốc vô dĩ doanh tương khủng kiệt, vạn vật vô dĩ sinh tương khủng diệt, hầu vương vô dĩ quí cao tương khủng quyết.
Đây là những vật được đạo mà thành hình: Trời được đạo nên trong xanh, đất được đạo nên yên, thần được đạo nên linh, khe ngòi được đạo nên tràn đầy. Vạn vật được đạo nên sinh trưởng. Người được đạo mà có thiên hạ - làm vua chúa. Những việc đó do tùy thuận theo đạo mà được vậy.
Nhưng Lão Tử lại tiếp lời: Nếu trời mà không thuận theo đạo thì sẽ tan, đất không thuận theo đạo thì đất sẽ lở, thần mà không thuận theo đạo thì sẽ mất linh, khe ngòi không thuận theo đạo thì sẽ cạn mất, vạn vật mà không thuận theo đạo thì sẽ bị diệt vong, vua chúa mà không thuận theo đạo thì sẽ mất ngôi.
Dĩ đạo lị thiên hạ, kì quỉ bất thần, phi kì quỉ bất thần, kì thần bất thương nhân; Phi kì thần bất thương nhân, thánh nhân diệc bất thương nhân. Phù lưỡng bất tương thương, cố đức giao qui yên.
Dùng đạo mà sống trong trời đất thì cho dù quỷ thần cũng không thể làm hại được. Chẳng những quỷ thần không hại được mà vua chúa, quan lại triều đình cũng không làm hại được. Cả hai lực lượng vô hình - Quỷ thần và hữu hình - Người đều không làm hại được. Thế nên người sống thuận theo đạo thì rất yên ổn, không ai có thể gây hại được.
Thế nên cho rằng Lão Tử theo chủ thuyết vô thần là có phần gượng ép. Lão Tử thừa nhận có quỷ thần nhưng quỷ thần cũng nằm trong đạo, phải tùy thuận theo đạo. Ông thừa nhận xã hội đang đánh mất đạo nên loạn lạc khắp nơi. Vì vậy ông quay về ở ẩn, làm người giữ đạo và khuyên mọi người cùng giữ đạo.
Thượng nhân vi chi nhi vô dĩ vi; Thượng nghĩa vi chi nhi hữu dĩ vi. Thượng lễ vi chi nhi mạc chi ứng, tắc nhương tí nhi nhưng chi.
Cố thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ. Tiền thức giả đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy. Thị dĩ đại trượng phu xử kì hậu, bất cư kì bạc, xử kì thực, bất cư kì hoa, cố khứ bỉ thủ thử.
Lão tử trình bày: Người có lòng nhân thì làm việc tốt mà không nghĩ mình đã làm việc tốt. Người có lòng nghĩa thì làm việc tốt, để tâm đến những việc tốt mình đã làm. Người giữ lễ thì làm việc theo lễ nghĩa và buộc người khác xử sự theo lễ nghĩa. Đôi khi thái quá khiến mất hết tình.
Đạo mất rồi mới có đức, đức mất rồi mới có nhân, nhân mất rồi sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiện cho sự suy vi trung tín, là đầu mối của những rối loạn trong xã hội. Vì lẽ lễ nghĩa là biểu hiện của sự giả tạo, gượng ép. Không phải là gốc của đạo. Cho nên người hiểu đạo không trọng lễ nghi rườm rà, không bày vẻ, chỉ xử sự theo lẽ đạo.
 Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tư tưởng khiêm nhu, bất tranh của Lão Tử rất có hại dẫn đến sự diệt thân mình và diệt vong. Sẽ khiến loài người chậm phát triển, ngăn chặn sự tiến bộ của loài người.
Do không nhìn ở góc nhìn khách quan, tổng thể các nhà nghiên cứu đã không lĩnh hội được hàm ý ở trong Đạo Đức Kinh. Hoa mai, hoa đào đến mùa xuân lại ra hoa; cây ra hoa, kết trái, trái chín. Những sự vật hiện tượng trên có cần phải cạnh tranh quyết liệt để phát triển không hay đó chỉ là quy luật của tự nhiên. Con người đã sai lầm khi tạo ra những cạnh tranh khốc liệt, không đáng có, không lành mạnh để rồi gây hại cho chính con người.
Ông cũng khẳng định lại lời nói trước đó - Loài người đã lầm lạc, không hiểu được lẽ thật này đã từ lâu lắm rồi. Vì thế nên con người mới có những phản ứng trái ngược nhau khi tìm hiểu đạo.
Thượng sĩ văn đạo, cần nhi hành chi. Trung sĩ văn đạo, nhược tồn nhược vong. Hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi. Bất tiếu, bất túc dĩ vị đạo.
Người hiểu biết, sáng suốt nghe đạo thì gắng sức làm theo. Người bình thường nghe đạo thì nửa tin, nửa ngờ. Người không hiểu biết nghe đạo thì cười rộ, mỉa mai và dè bĩu. Lão Tử thừa nhận: Nếu không cười nhạo thì đạo đã không còn là đạo.
Nhưng nhìn xã hội loạn lạc, lòng người điên đảo do không hiểu đạo, làm điều trái đạo, Lão Tử đã xót xa vì không thể giúp người dân có cuộc sống yên bình nên đã cảm thán.
Ngô uyên thậm dị tri, thậm dị hành. Thiên hạ mạc năng tri, mạc năng hành. Ngôn hữu tôn, sự hữu quân. Phù duy vô tri, thị dĩ bất tri ngã.
 Lời của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm. Nhưng thiên hạ không ai hiểu được, làm được. Lời nói của ta có cơ sở, việc của ta nói có căn cứ nhưng người đời không làm theo, không chịu hiểu, không chịu tin nên không biết đến ta.
Xã hội rối ren, chiến tranh leo thang, thiên tai, dịch bệnh lan tràn,...
Phải chăng đời là bể khổ?
Cướp của hại người, tranh giành, lấn đất, lấn biển, xâm phạm cướp nước khác, tạo oán thù, gây chiến tranh,... Rồi thì tất cả đều phải chết. Đó là một sự thật mà ta vội quên khi tham dục che mờ sự hiểu biết.
Chủ nghĩa duy vật, khoa học tự hào tin rằng “Thế giới tâm linh không tồn tại”.
Lại lầm lạc! Sự sống của con người là hạnh phúc.
Vậy đã bao ngàn năm rồi con người phải sống trong khổ đau, hận thù, giết chóc và chiến tranh?
Giá trị thực sự của sự sống chỉ là sinh ra và chết đi. Chân lý nằm trong tay kẻ mạnh.
Vậy thiện ác, xấu tốt cần chi phải phân định cho rạch ròi?
Tại sao phải sống lương thiện chịu đời nghèo khổ?
Hãy cứ tàn ác, cay độc để giành giật, cướp lấy sự sang giàu, sung túc.
Ai rồi cũng phải chết?
Chết là hết.
Có gì mà đáng sợ?
Lòng tham dục là đầu mối của khổ đau. Cái tôi thường tại cũng là sự mê lầm.
Có bao nhiêu sự vật hiện tượng mà khoa học không thể giải thích và chối bỏ sự tồn tại những điều dường như phi lý đó?
Kết quả được gì ngoài sự đè nén, kiềm chế sự hiểu biết của nhân loại?
Nuôi lớn lòng tham dục loài người để rồi đau khổ, lầm lạc đi vào ngõ cụt - Diệt vong loài người.
Khoa học đang đi tìm sự sống ngoài vũ trụ, phát những tín hiệu gửi thông điệp về sự sống của loài người ở trái đất. Thật là việc làm hoang đường!
Khi chưa nắm bắt được sự hiện diện của sinh vật tồn tại trong vũ trụ và những hành tinh khác thì làm sao con người có nhận biết được các sinh vật ngoài trái đất giao tiếp với nhau bằng loại ngôn ngữ hay tín hiệu gì?
Vậy tín hiệu mà con người phát đi có giá trị gì?
Thật quá khập khiễng! Việc làm này giống như ta đứng trước con gà mà phát âm thanh tiếng con vịt, con heo, con bò,… và có lẽ con gà nghe những âm thanh đó sẽ ngỡ là tiếng mưa rơi.
Thật ra khoa học đang tìm kiếm một vài “Con chuột bạch” mang về phòng thí nghiệm. Đó mới là mục đích của các nhà khoa học.
Ngoài ra, cùng với lòng tham con người đang tìm vùng đất mới hoặc kiếm tìm những khoáng vật, kim loại quý mang về trái đất và còn gì nữa,…
Họ sẽ cướp những thứ mà con người cần và mang về. Nhưng khoa học chưa lường được hậu quả của những việc họ dự định làm và trước mắt họ đã mang rác ném vào vũ trụ. Có lẽ con người sẽ sớm trả giá cho việc làm thiếu ý thức này.
Phải chăng hình thành (sinh ra), lớn lên, suy kiệt (già yếu), tan ra (mất đi) là biểu hiện của sự sống?
Vậy thì có nơi nào, vật nào không có sự sống?
Sự sống bắt đầu từ sự hình thành và biến diệt của những hành tinh. Con người đã chủ quan áp đặt tâm ý của mình vào vạn vật. Vì thế tri thức con người lầm lạc chất chồng.
Ở mức độ tương đối và góc nhìn khách quan, bạn sẽ nhận ra phần lớn những hành tinh đã từng có tồn tại sự sống như là ở trái đất nhưng hiển nhiên sự phát triển sẽ là không như nhau. Tùy điều kiện tự nhiên và tâm ý nhận thức của những loài có sự sống ở mỗi hành tinh mà việc phát triển sẽ khác nhau. Trải qua hàng tỷ tỷ năm trải qua rất nhiều biến cố sự sống ở mỗi hành tinh sẽ mất dần do những biến đổi về điều kiện tự nhiên cũng như việc chịu ảnh hưởng từ những hành tinh khác.
Nhưng nhìn chung việc biến mất sự sống ở mỗi hành tinh phần lớn là do những nguyên nhân nội tại - Sự mất cân bằng có thể do khách quan hoặc chủ quan ở mỗi hành tinh.
Ví như trái đất đang có những mất cân bằng nội tại - Việc sụt lún, động đất, sóng thần, bão lũ,… phần lớn là do con người tạo ra. Đây là yếu tố chủ quan do con người. Ngay cả những cơn bão từ, bão vũ trụ đang gia tăng sức ảnh hưởng đến trái đất cũng do con người gián tiếp tác động. Việc phát triển công nghiệp quá mức, đất rừng thu hẹp, chiến tranh, tập trận, thử nghiệm vũ khí hủy diệt,… đã sản sinh ra lượng nhiệt khổng lồ bao bọc, nung nóng trái đất. Việc này đã tạo ra một hấp lực cực mạnh hút các trận bão từ, bão vũ trụ về trái đất.
Có lẽ nhân loại sẽ nhận định tôi chủ quan trình bày vấn đề này.
Tôi sẽ chứng minh luận điểm trên.
Xét ở phạm vi nhỏ hơn, tôi sẽ trình bày ở một thành phố lớn, đông dân, phát triển mạnh về công nghiệp.
Thành phố này nằm giữa những vùng ven canh tác nông nghiệp. Bạn sẽ không khó nhận ra mưa chỉ tập trung ở thành phố sầm uất trong khi những vùng ven cần nước trồng trọt canh tác thì lại khô hạn và thiếu nước.
Bạn đừng cố phản biện do ở những vùng khác nhau nên điều kiện khí hậu, thời tiết sẽ khác nhau. Bởi vì trước đó khi vùng đất bây giờ là thành phố sầm uất cũng là chỉ là một khu phố nhỏ thì lượng mưa vẫn phân bố đều khắp khu vực qua từng năm.
Có lẽ các nhà kinh tế, các nhà quản lý hoạch định chiến lược và những nhà khoa học đã quên mối tương quan nhiệt và đã bỏ qua sự thật này.
Quay lại vấn đề sự sống tồn tại ở các hành tinh. Chính vì sự bất ổn nội tại của hành tinh hoặc do va chạm thiên thạch mà sự sống ở các hành tinh bị diệt mất.
Sẽ trải qua thời gian lâu xa, hàng tỷ năm khi điều kiện tự nhiên thích hợp thì sự sống sẽ lại hình thành.
Minh chứng cho việc này bạn hãy dùng một thau cho vào đó một lượng nước đã tiệt trùng hoàn toàn. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự sống hình thành và phát triển bạn hãy cho vào trong thau một ít dưỡng chất và mang thau nước ra đặt ngoài trời thì không bao lâu trong thau nước sẽ xuất hiện những mầm tảo và sau đó vô số động vật nhỏ sinh sôi trong thau nước. Bởi lẽ trong thau nước có đủ điều kiện thích hợp cho sự sống phát triển có chút nước, chút gió, chút đất, chút ánh sáng.
Để chứng thực việc trình bày của tôi là chuẩn xác thì các nhà khoa học phải lên một hành tinh nào đó chọn một vùng đất thích hợp và tạo điều kiện cần thiết cho sự sống hình thành và phát triển thì sẽ sớm có khám phá sinh vật ngoài vũ trụ.
Chủ nghĩa duy vật bảo vệ khoa học như thế nào?
Khi tôi có những ý kiến về sự hạn chế của tri thức khoa học đã có rất nhiều người phủ định việc làm sai trái của tôi. Họ lập luận nhờ sự phát triển của khoa học mà y học tiến bộ cứu sống, điều trị được rất nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Hàng triệu triệu đứa trẻ sơ sinh được cứu sống nhờ những phát minh khoa học tiên tiến,...
Tôi đã từng nói tôi thừa nhận sự phát triển của khoa học là rất hữu ích không chỉ riêng ngành y mà là rất nhiều nghề khác đã phát triển, phục vụ tốt cho loài người nhưng nhân loại lại không nhìn nhận mặt trái của sự việc.
Vũ khí, bom hạt nhân, tên lửa, tàu chiến, máy bay tiêm kích,… những căn bệnh quái lạ, vi khuẩn kháng thuốc, virus biến thể,… tất cả có phải là sản phẩm của khoa học?
Chắc hẳn số người được khoa học cứu sống chỉ là hạt cát trên sa mạc so với số người bị khoa học sát hại. Đó là sản phẩm của sự phát triển khoa học lầm lạc kết hợp với tham dục của lòng người.
Thế nên, tôi mới nói “Khoa học hãy bước đi vững chắc, bền bỉ và có hiểu biết”.
Sự phát triển không định hướng sẽ đưa loài người đi về đâu?
Có lẽ mai này loài người sẽ không tồn tại trên trái đất. Vì lý do sự có mặt của họ là không cần thiết.
Khoa học đang phát triển ngành công nghiệp, nông nghiệp đang được hiện đại hóa, cơ khí hóa, nhiều loại robot năng động, hiểu biết đang thay con người xử lý hiệu quả mọi công việc từ nặng đến nhẹ.
Thậm chí ngay cả việc sinh con, chọn giới tính robot sẽ cũng tự làm lấy. Ngành công nghệ thông tin phát triển khiến con người trở nên nhàn rỗi.
Ngày mai, con người sẽ làm gì?
Chỉ mỗi việc rong chơi nhưng nếu không làm việc thì con người sẽ lấy gì để chi trả cho việc vui chơi và giải trí. Hiển nhiên là không ai tự mang đồ ăn, thức uống cho con người nếu con người không bỏ sức lao động hay một món đồ trao đổi với giá trị tương đương. Nhưng xã hội không cần sức lao động của con người - Con người quá yếu đuối. Xã hội cũng không cần trí tuệ của con người vì trí tuệ con người không bằng một cái máy, khả năng xử lý thông tin thì chậm và chủ quan.
Khi đó con người chỉ là một phế vật sinh ra rồi tự diệt.
Khoa học phát triển con người không cần phải sinh con. Mọi việc đã có máy móc làm nhưng tham dục con người không hề nhỏ. Họ sẽ tạo ra những hình người và khi cơ thể con người già yếu, họ sẽ bỏ xác thân đó và mang bộ não cấy ghép sang những thân người kia và họ tiếp tục sự sống.
Vậy tình yêu thương của con người còn không?
Tình mẫu tử thiêng liêng sẽ chỉ còn là những câu chuyện cổ tích. Những điều tôi trình bày là con đường phát triển không định hướng của khoa học mà lại chịu sự chi phối của lòng tham con người.
Bạn hãy tự chiêm nghiệm. Trân trọng!
Nhiều người sẽ nhận định “Thật là một câu chuyện hoang đường!”.
Nhưng đó lại là sự thật đã từng xảy ra ở đất nước Zimbadwe.
Lại sẽ có nhiều người nghĩ rằng “Có lẽ cái bánh mì trên được làm từ những nguyên liệu quý, đặc biệt? Nhân của bánh mì hẳn là có trộn lẫn vàng, kim cương?”.
Nhưng trên thực tế, đó chỉ là những cái bánh mì dùng để ăn hàng ngày. Vậy ra người dân Zimbadwe thật giàu có, đời sống, mức sống họ thật cao.
Lại lầm lẫn! Người dân Zimbadwe là những người nghèo khó, trình độ dân trí thấp. Cái bánh mì trị giá 100 tỷ đô la bởi vì Zimbadwe phải trải qua thời kì lạm phát tồi tệ nhất trong lịch sử phát triển loài người. Đây là câu chuyện rất thật mà người dân Zimbadwe phải nếm trải.
Rồi đây quốc gia nào lại phải rơi vào thời kì lạm phát tồi tệ tương tự?
Bạn thử nghĩ xem “Một sớm mai thức dậy, bạn phải vác một vali đầy tiền để đi chợ mua sắm. Có lẽ bạn sẽ điên mất vì phải mua những vật dụng hàng ngày với số tiền lên đến tỷ tỷ đô la?”.
Lạm phát?
Là hiện tượng đồng tiền bị mất giá?
Nếu đã là đồng tiền mất giá thì ngành kinh tế sẽ phải chịu trách nhiệm không hề nhỏ về vấn đề mất giá đồng tiền?
Và nhà quản lý chịu trách nhiệm gì trong việc điều tiết phát triển nền kinh tế?
Sẽ không có ai nhận lãnh trách nhiệm và dù cho có người nhận lãnh trách nhiệm thì đã muộn. Hậu quả người dân sẽ phải gánh vác những sai lầm của việc phát triển nền kinh tế không bền vững.
Khi ngành kinh tế phát triển đòi hỏi một lượng hàng hóa khổng lồ. Nhằm đáp ứng nhu cầu đó các khu công nghiệp ra đời.
Ngành công nghiệp đã thu hút lực lượng lao động bằng chính sách tiền lương. Giả sử ban đầu tiền lương phải trả cho người công nhân là 50.000đ/ngày.
Do tính ổn định, thường xuyên về công việc, ngành công nghiệp đã thu hút phần lớn lực lượng lao động dẫn đến thiếu hụt lao động trong sản xuất nông nghiệp.
Ngành nông nghiệp đã tăng lương người lao động lên 80.000đ/ngày để đảm bảo việc sản xuất.
Việc cạnh tranh này khiến ngành công nghiệp mất lực lượng sản xuất và lao vào cuộc cạnh tranh người lao động bằng việc tăng lương thưởng lên 120.000đ/ngày.
Cuộc đua cạnh tranh về người sẽ không có hồi kết vì cả ngành công nghiệp và nông nghiệp đều cần lực lượng sản xuất để sản xuất hàng hóa và mức lương cho người lao động không ngừng tăng lên.
Người lao động thì lại rất cần lương cao. Cuộc cạnh tranh không lành mạnh về lực lượng lao động không chỉ diễn ra giữa ngành nông nghiệp, công nghiệp mà lan cả sang các ngành nghề khác như kinh tế, giáo dục, văn hóa, ngân hàng, chính trị,…
Sự cạnh tranh không lành mạnh này sẽ mang lại hậu quả gì?
Chi phí phát sinh do chi trả lương thưởng lao động sẽ cộng dồn vào chi phí sản xuất hàng hóa.
Kết quả làm cho hàng hóa đến tay người tiêu dùng với mức giá cao hơn rất nhiều so với giá trị thực của chúng. Mà người tiêu dùng lại chính là phần lớn người lao động.
Nếu bạn nhìn với góc nhìn tổng thể thì bạn sẽ nhận ra bạn sản xuất ra một mặt hàng chỉ với giá 100.000đ nhưng sau khi mặt hàng đó đi một vòng lớn quay về đến tay bạn thì bạn sẽ phải mua với mức giá 1.000.000đ. Mặc dù giá trị hàng hóa và giá trị sức lao động tạo ra sản phẩm đó không hề tăng lên.
Không dừng lại ở đó, còn có rất nhiều vấn đề khác khiến giá hàng hóa thêm tăng cao như chi phí quảng cáo, tiếp thị, bảo hộ, độc quyền, chính sách thuế,… khiến giá cả hàng hóa cao gấp hàng trăm lần giá trị thực của chúng.
Cụ thể, qua nhiều thông tin khác nhau, tôi được biết chi phí quảng cáo, tiếp thị các sản phẩm sữa lên đến 60 - 70%.
Vậy chi phí sản xuất, chi phí nguyên liệu, lương công nhân, chi phí khác sẽ chiếm thêm bao nhiêu phần trăm và giá trị thực còn lại trong chất lượng sữa sẽ đáng giá là bao nhiêu?
Vấn đề tôi trình bày ở trên cũng chỉ là một vấn đề trong số những vấn đề gây ra sự lạm phát.
Theo tôi đó cũng là vấn đề căn bản, gốc rễ và cốt lõi gây ra hiện tượng lạm phát nhưng có lẽ các nhà quản lý trên thế giới đang đứng ở một góc nhìn khác hẳn nên việc điều chỉnh lạm phát họ chỉ ở giá vàng, đô la, tỉ giá ngoại tệ, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản,…
Ngay cả những người tiêu dùng - Người lao động cũng đang mải mê kiếm thật nhiều tiền và hiển nhiên việc lạm phát sẽ khiến họ phải chi tiêu rất nhiều tiền.
h.   Khủng hoảng nợ công Châu Âu biến thể của sự tan rã Liên Bang Xô Viết. Chủ nghĩa thực dụng kiểu mẫu Phương Tây.
Liên bang Xô Viết tan rã, nhân loại đã nhận định không thực sự đúng về nguyên nhân của sự tan rã.
Sự tan rã đó không xuất phát từ bên ngoài mà nguyên nhân chính xuất phát từ nội tại của Liên Bang Xô Viết. Sự phát triển cực thịnh, mất cân đối, không bền vững và tư dục của lòng người là nguyên nhân của sự đổ vỡ.
Liên Xô đã định hướng xây dựng đất nước theo đường lối chủ nghĩa cộng sản. Tài sản, của cải được quốc hữu hóa. Người lao động làm việc trong các hợp tác xã, các xí nghiệp, công ty quốc doanh. Phát triển nền kinh tế quốc dân.
Ngay trong những thời điểm khó khăn nhất người dân và giới lãnh đạo Liên Xô có cùng chung tiếng nói, rất đoàn kết để vượt qua khó khăn.
Sau khi vượt qua giai đoạn khó khăn, kinh tế phát triển giàu mạnh, chính trị ổn định, người dân có đời sống no đủ thì lòng tư dục của con người trong các thành phần kinh tế, chính trị, người lao động tăng lên dẫn đến những chia rẽ, toan tính.
Điều này xảy ra cũng là lẽ thường tình - Con người thường thì nghèo khó, hoạn nạn có nhau nhưng đến khi sang giàu thì dễ thay đổi, trở mặt. Thế nên mới có câu “Giàu đổi bạn, sang đổi vợ”.
Ngay khi giới lãnh đạo Liên Xô muốn chuyển thời kì quá độ chủ nghĩa xã hội lên chủ nghĩa cộng sản thì nội tại các thành phần kinh tế, chính trị, người lao động có những phân tranh sau:
- Thành phần lao động làm trong các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã của Nhà nước nhận ra dù mình làm việc tích cực hay tiêu cực thì lượng vật chất mình nhận được cũng không tăng thêm vậy nên không cần cống hiến sức lao động, thong thả mà làm.
- Các thành phần kinh tế cũng như giới chính trị nhận thấy mình không nhận đúng với đồng lương tương ứng công sức mình bỏ ra. Lợi dụng sự vô tư của người lao động họ gom góp lượng tài sản, của cải vào túi riêng dẫn đến thâm hụt ngân sách Nhà nước, làm ngành kinh tế chựng lại rồi tụt dốc vì thiếu hụt nguồn vốn tái đầu tư.
Nhà nước phải gánh vác cả một lượng lớn thành phần lao động biếng lười. Một lực lượng nhà quản lý không tâm huyết, chỉ biết lo cho bản thân thì việc tan rã một Liên Bang Xô Viết hùng mạnh, cường thịnh chỉ là vấn đề thời gian - Sớm hay muộn?
Trong vấn đề phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội,… Nhân loại thường quên một vấn đề mấu chốt đảm bảo cho sự tồn tại, ổn định của mọi việc lại chính là yếu tố con người.
Vậy nên chăng nhân loại cần nhìn nhận mọi vấn đề ở góc nhìn tương đối và đặt vấn đề con người lại làm trung tâm của việc phát triển mọi vấn đề kinh tế, chính trị, giáo dục, tôn giáo, văn hóa,…?
Tại sao tôi đặt vấn đề khủng hoảng nợ công Châu Âu là biến thể của sự tan rã Liên Bang Xô Viết?
 Thật vậy điểm khác biệt chỉ là các nước Châu Âu theo thể chế chủ nghĩa tư bản.
Châu Âu sau thời gian phát triển đạt đến mức cực thịnh thì chựng lại rồi ổn định. Nhưng sự ổn định này nhanh chóng bị phá vỡ do tư dục của con người.
Lòng tham của con người thiếu hiểu biết, biết đến bao giờ là đủ?
Giới chính trị, lãnh đạo vì lợi ích thành phần chính trị đã đưa ra những chính sách có lợi cho giới chính trị về lương thưởng.
Nhằm đảm bảo ngân sách quốc gia giới chính trị tạo điều kiện phát triển kinh tế nhưng người lao động đã không mặn mà với việc lao vào sản xuất. Họ cảm thấy việc lao động cần phải có chuẩn mực, cần có mức lương hợp lý để chi tiêu và thư giản.
Thành phần kinh tế chán ngán với lực lượng lao động mà theo họ đánh giá là làm ít mà muốn hưởng nhiều. Giới kinh tế cũng không muốn phải đóng thuế nhà nước - Giới chính trị với những số tiền khổng lồ mà theo giới kinh tế tư bản nhận định là bọn “ăn không, ngồi rồi”.
Thế là giới kinh tế thành lập ra các công ty đa quốc gia, để mang vốn sang những nước nghèo đầu tư nhằm đảm bảo lợi nhuận kinh tế, hạn chế việc nộp ngân sách nhà nước.
Kết quả người dân thất nghiệp, ngân sách nhà nước suy giảm. Giới chính trị phải vay vốn nước ngoài nhằm tái đầu tư kinh tế, công nghiệp,…
Nhưng việc phải chi lương công nhân viên chức, các thành phần trong bộ máy chính quyền, các khoản trợ cấp hưu trí, thất nghiệp,… lãi suất tiền vay đã khiến ngành kinh tế các nước Châu Âu càng thêm rệu rã.
Chủ nghĩa thực dụng Phương Tây thể hiện rõ ở các nước đang lâm vào tình trạng nợ công và cả ở cộng đồng các quốc gia cứu trợ.
Cụ thể là các thành phần kinh tế, chính trị, xã hội, người dân vẫn đòi hỏi nhà nước phải đảm bảo quyền lợi cho họ. Nếu thỏa mãn được quyền lợi của họ thì đảng phái lãnh đạo đó tồn tại. Nếu không người dân sẽ bầu lại người lãnh đạo mới. Bởi lẽ người dân không thể chấp nhận việc chi tiêu quá mức của giới chính trị. Việc phân chia quyền lợi kinh tế không hợp lý giữa các thành phần xã hội khác nhau.
Giới kinh tế thì không quan tâm đến việc thâm hụt ngân sách nhà nước vì họ đã là những tập đoàn đa quốc gia. Giới kinh tế hoàn toàn có khả năng giúp đất nước họ vượt qua khủng hoảng nhưng vấn đề đặt ra là “Họ sẽ được gì?”.
Các quan chức chính phủ thì lại không thể chấp nhận chính sách “Thắt lưng buộc bụng” bởi vì “Ăn quen, nhịn không quen”.
Thêm vào đó các gói viện trợ, giải cứu nền kinh tế các nước rơi vào khủng hoảng của cộng đồng các quốc gia cứu trợ cũng đòi hỏi “Họ sẽ được gì?”.
Đó là những nguyên nhân góp phần tạo ra hiện tượng khủng hoảng nợ công ở Châu Âu.
Tiếp theo quốc gia nào sẽ đi vào “Vết xe đổ” của các nước trong khối EU?
Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu, phải chăng đây là biến thể của sự tan rã Liên Bang Xô Viết và chủ nghĩa thực dụng đã và đang bóp chết các nền kinh tế phát triển đạt mức bảo hòa và tụt dốc?
Hiện nay, có rất nhiều người tự nhận họ là người sống thực dụng. Bạn sẽ nhận ra trong họ thể hiện một niềm tự hào, kiêu hãnh.
Thật đáng tiếc! Họ đã lầm lạc không nhận ra được chủ nghĩa thực dụng chứa đựng sự ích kỷ, xấu xa. Thừa nhận bản thân sống thực dụng là đồng nghĩa với việc chấp nhận làm nạn nhân của sự ích kỷ, cô độc.
Và chủ nghĩa thực dụng phương Tây và phương Đông có khác biệt gì?
Chủ nghĩa thực dụng phương Tây ra đời trong bối cảnh nền kinh tế phát triển mạnh, ổn định mang lại giá trị thặng dư đảm bảo an sinh xã hội. Người dân ở các nước nhận được các khoản bảo trợ xã hội về y tế, hưu trí, nuôi con, trợ cấp thất nghiệp,… Từ đó, sự ích kỷ trong con người cũng tăng lên. Sinh con ra đã có nhà nước nuôi. Già bệnh chết đã có xã hội lo lắng. Chẳng cần làm vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp,...
Nhận số tiền trợ cấp thất nghiệp, người dân các nước phương Tây cũng không đủ chi tiêu cho cuộc sống ở trong nước nhưng khi họ sang các nước có mức sống kém hơn tìm cơ hội làm ăn, du lịch thì mọi việc lại khác. Họ cảm thấy sinh con thật vướng bận, hạn chế việc rong ruổi du lịch.
Phải chăng đây là sự ích kỷ được sinh ra từ chủ nghĩa thực dụng?
Đây cũng chính là nguyên nhân làm già đi dân số ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Việc thiếu hụt lao động và sự già đi nhanh về dân số khiến các nước phải nhập cư người lao động, nhập tịch công dân nước ngoài để duy trì nền kinh tế phát triển. Nhưng đây quả thật không phải là giải pháp thật sự tối ưu và hiệu quả.
Bởi lẽ, việc bảo trợ y tế, hưu trí, người già không ngừng tăng lên, trợ cấp thất nghiệp cho một lượng lớn những công dân không chịu làm. Bộ máy chính quyền lại cồng kềnh, kém hiệu quả. Giới kinh tế thì chỉ quan tâm vấn đề tư hữu, chiếm hữu, tích lũy cho cá nhân;…
Nếu các nước phương Tây vẫn giữ nguyên lối sống thực dụng thì việc đổ vỡ các nền kinh tế, bất ổn chính trị, xã hội rối ren là điều khó tránh khỏi.
Chủ nghĩa thực dụng phương Đông ra đời trong bối cảnh khác hẳn. Nền kinh tế các nước chưa thực sự phát triển mạnh, ổn định.
Giới kinh tế, chính trị chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng phương Tây nhanh chóng đổi mới chủ nghĩa thực dụng cho phù hợp với tình hình ở mỗi nước. Thế là giá trị thặng dư mà ngành kinh tế, sản xuất tạo ra được nhanh chóng chui vào tay một số ít người.
Kết quả chỉ sau một khoảng thời gian rất ngắn xã hội đã nhanh chóng tạo ra sự phân tầng giàu nghèo rất lớn và rõ rệt. Thêm vào đó, tài sản, tiền vàng, đất đai,… bị tư hữu hóa rơi vào tay các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, các ông trùm bất động sản, chứng khoán, các công ty tài chính, bảo hiểm,…
Nền công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế sản xuất bị mất nguồn tái đầu tư.
Nhằm đảm bảo nền kinh tế, các nhà quản lý buộc phải vay vốn nước ngoài dẫn đến các khoản vay nước ngoài không ngừng tăng lên và con cháu người lao động sẽ trả các khoản vay này.
Và lượng hàng hóa, vật chất tạo ra lại tiếp tục chui tọt vào tay của những nhà tài phiệt,...
Đâu là giải pháp hữu hiệu để phá vỡ sự bế tắc của các nhà quản lý trước sức mạnh của chủ nghĩa thực dụng?
Nếu nhìn nhận khách quan thì dường như biến thể chủ nghĩa thực dụng phương Tây ở phương Đông có phần tàn độc, lạnh lùng và man trá hơn so với nguyên gốc.
Mỗi người, mỗi ngành, mỗi bộ phận, thành phần kinh tế, chính trị, mỗi quốc gia đều bị chủ nghĩa thực dụng len vào. Ai cũng tự cố thủ cho mình để rồi chết chìm cùng với con tàu định mệnh - Chủ nghĩa thực dụng.
Nói thêm về chủ nghĩa thực dụng ở cấp độ gia đình.
Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi người cha, người mẹ sống thực dụng khuyên con mình nên sống ích kỷ.
Cụ thể là họ ngăn cấm những người con họ cho những đứa trẻ khác viên kẹo, món quà,...
Còn nếu cho ai đó một món quà thì con sẽ phải nhận lại được gì,...?
Sự ích kỷ còn thể hiện rõ nét ở những bà mẹ vì muốn giữ nét đẹp của mình đã cho những người con dùng sữa bình, sữa hộp.
Họ không sinh con như mẹ họ đã sinh ra họ, họ chọn ngày giờ đẹp sinh con và họ dùng biện pháp sinh mổ mĩ thuật để không mang trên mình những vết rạn nứt da khi sinh con.
Những đứa trẻ được nuôi lớn trong sự toan tính, ích kỷ, thực dụng của người lớn.
Khi trưởng thành chúng sẽ đối mặt ra sao với những người cha, người mẹ già nua, bệnh hoạn và vô tích sự?
Trong các cuộc chiến tranh xảy ra gần đây, đã không ít lần các cường quốc quân sự tấn công nhầm mục tiêu dẫn đến thương vong cho dân thường.
Dưới sức ép của công luận quốc tế, đã có nhiều giới chức lên tiếng nhận trách nhiệm nhưng lại đổ lỗi cho nhiều nguyên do khác nhau như thời tiết khắc nghiệt, do hệ thống định vị nhầm lẫn, do sai xót về kỹ thuật,…
Những lời nhận lỗi này có giá trị gì khi mà những mục tiêu đánh bom vẫn cứ nhầm lẫn và người dân vô tội vẫn phải chịu chết oan uổng.
Phải chăng những lời xin lỗi này chứa đựng sự muộn màng, lạnh lùng và vô cảm của giới quân sự, chính trị các nước lớn?
Phải chăng họ thừa hiểu chân lý đang nằm trong tay kẻ mạnh và người dân, quân đội chỉ là những con cờ thí trên một ván cờ đua tranh quyền lực - Mạnh được, yếu thua?
Có lẽ, họ không đặt bản thân vào trong hoàn cảnh của những người dân thường bị chết oan uổng. Họ chỉ cần dừng lặng đánh giá vấn đề. Nếu những người bị chết, bị thương vong do bắn nhầm mục tiêu là cha mẹ, anh em, người thân của họ thì hẳn là họ sẽ có một thái độ, một cách cư xử khác.
Những cuộc hòa giải kéo dài, không dừng lại. Tang thương, mất mát, đau khổ người dân các nước trong cuộc tranh chấp không ngừng nếm trải.
Giới chính trị ở các nước xung đột đang làm gì, nghĩ gì?
Dường như họ không có thiện chí dừng lại, họ muốn leo thang chiến tranh, xua người dân vào chỗ chết?
Vai trò các nước hòa giải gần như không có ý nghĩa. Cụ thể những xung đột, tranh chấp cứ leo thang.
Những lời cam kết, hứa hẹn trên bàn đàm phán chỉ là những phế vật không giá trị.
Sao lại có những cuộc tranh chấp không hồi kết?
Tôi đi tìm nguyên nhân và nhận ra các nước tham gia hòa giải đã làm những việc không mang nhiều ý nghĩa. Họ vướng vào một lỗi lầm thường thấy “Lấy ngọn bỏ gốc”.
Để đơn giản tôi sẽ giới hạn những tranh chấp ở cấp quốc gia sang cấp độ thấp hơn.
Cụ thể như là việc tranh chấp về đất đai giữa hai gia đình.
Có hai gia đình tranh chấp với nhau về một bờ ranh đi chung. Việc tranh chấp ban đầu xuất phát từ những người lớn ở mỗi gia đình. Họ đã lôi kéo con cháu vào cuộc dẫn đến va chạm, gãy tay, gãy chân.
Có một số người hàng xóm thấy việc sai quấy lên tiếng can thiệp, hòa giải nhưng người lớn ở mỗi gia đình đều cho rằng mình là người đúng nên việc tranh chấp không dừng lại. Người hòa giải bèn đi tìm những người hàng xóm xung quanh ra khuyên giải hai nhà và nhờ họ chỉ rõ ranh giới bờ ranh nhưng cũng không ai rõ biết. Việc xung đột tiếp diễn thêm nhiều người u đầu mẻ trán.
Những người hàng xóm trong khu vực tranh chấp rất khó chịu mỗi khi xung đột xảy ra vì bị mất an ninh, trật tự. Còn những người con cháu trong hai nhà cũng mệt mỏi, chán chường vì việc làm sai quấy của người lớn.
Việc tranh chấp này sẽ dứt khi những người lớn ở hai gia đình chết đi?
Không hẳn vậy, những người kế thừa sẽ tiếp tục tranh chấp vì niềm tự ái, tự tôn bị tổn thương.
Chỉ khi nào có một người hiểu biết ra mặt hòa giải thì tranh chấp giữa hai gia đình sẽ chấm dứt. Người hiểu biết đó sau khi cân phân nặng nhẹ vấn đề sẽ tìm gặp con cháu và cả người lớn nói rõ một điều việc tranh chấp giữa hai nhà chỉ là xuất phát từ những tự ái, tự tôn cá nhân.
Việc xung đột đã làm những người thân, con cháu cả hai nhà gãy tay, gãy chân, u đầu mẻ trán, mất mạng.
Nếu cả hai nhà tiếp tục tranh chấp thì sẽ có nhiều người chết và thù hận giữa hai nhà là khó khỏa lấp.
Hơn nữa, việc tranh chấp giữa hai nhà sẽ gây phiền lòng những người bên cạnh.
Nếu người hòa giải đứng ở lập trường khách quan và trình bày chuẩn mực sự lợi hại của việc tranh chấp thì sẽ có những người con cháu hiểu biết ở hai nhà nhận ra sự phi lý của việc tranh chấp. Góp phần khuyên giải những người khác, cả những người tạo ra tranh chấp nhằm đi đến việc hòa giải để sống thuận hòa.
Tôi đang tự hỏi các nước tham gia quá trình hòa giải xung đột tranh chấp ở các nước Trung Đông, Trung Quốc và các nước, Hàn Quốc - Triều Tiên, Lybia, Syria,… họ đang dùng phương cách gì để hòa giải những xung đột?
Phải chăng lực lượng hòa giải đang chỉ coi trọng các nhà lãnh đạo, giới chính trị các nước mà xem nhẹ vai trò người dân các nước đang bị tranh chấp?
Nếu thật đúng như vậy thì rõ ràng các cường quốc hòa giải đã “Lấy ngọn bỏ gốc” quên mất vai trò của người dân và sức mạnh đoàn kết nhân loại.
Hay là các nước tham gia việc hòa giải có mục đích nào khác?
Tranh chấp biển Đông giữa các nước Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Philipin, Inđonêxia, Đài Loan,…
Có thể thấy đây là cuộc tranh chấp khá phức tạp, Trung Quốc đang gia tăng sức ép, gây hấn một cách rất ngang ngược, bất chấp những quy ước về luật biển đã được quốc tế công nhận.
Nếu nói giới chính trị Trung Quốc không hiểu rõ về quy ước lãnh hải thì không có lẽ đó.
Vậy ra giới chính trị Trung Quốc rõ biết luật biển mà vẫn phạm cho thấy giới chính trị Trung Quốc không coi cộng đồng quốc tế và cả người dân Trung Quốc ra gì?
Có lẽ giới chính trị Trung Quốc tin rằng với vai trò là một quốc gia có nền kinh tế lớn mạnh, dân số đông nhất thế giới, có sức ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ cũng như nhiều nước trên thế giới thì cộng đồng quốc tế sẽ không dám can thiệp vào việc tranh chấp trên biển Đông. Và... người dân Trung Quốc hiện không rõ biết giới chính trị đang thực hiện “Kinh thiên đại âm mưu” - Điều chỉnh dân số Trung Quốc trên phạm vi, quy mô lớn.
Thật ra cộng đồng quốc tế vẫn nhận biết tranh chấp biển Đông đang leo thang, sự ngang ngược của giới chính trị Trung Quốc nhưng sự thực dụng đang quyết định ý thức các nước trong cộng đồng quốc tế.
Can thiệp vào biển Đông sẽ được lợi gì?
Thế nên các nước còn đang do dự dõi xem tình hình biển Đông diễn tiến ra sao nhằm đưa ra những giải pháp tùy thuận “Gió chiều nào, xoay theo chiều đó”.
Điều này cho thấy sự vô trách nhiệm và thủ đoạn của giới chính trị của các nước trong cộng đồng quốc tế. Họ đã xem sinh mạng người dân, của nhân loại không bằng chiếc ghế mà họ đang nắm giữ.
Tôi mong mỏi quyển sách này nhanh chóng được lan truyền nhanh rộng trên thế giới để nhân loại nhìn thấy dã tâm của giới chính trị các nước trong tham vọng bá chủ quyền lực.
Qua đó cũng mong giới chính trị các nước tự xét lại vai trò, vị trí, việc làm của họ có hợp đạo, thuận đức nhằm có những điều chỉnh phù hợp.
Nhân loại sẽ không thể giao vận mạng nhân loại cho những người lãnh đạo vô đạo, kém đức, bất nghĩa, bất nhân vì khi đó thế giới sẽ không ngừng dứt chiến tranh, thù hận, loạn lạc khắp nơi và nếu Thế chiến thứ III nổ ra, bom hạt nhân lại nổ thì trái đất sẽ chỉ còn là bụi vũ trụ.
Hiện tại có rất nhiều nước đang “ôm giữ” giấc mộng bá chủ hoàn cầu nhưng có lẽ họ không nhận ra được hết hậu quả của giấc mộng đó.
Tôi đưa ra giả thuyết việc thực hiện giấc mộng bá chủ diễn ra gặp điều kiện thuận lợi nhất.
Giả như họ thành công trong việc thôn tính các quốc gia còn lại thì trong quá trình cai trị, họ sẽ phải đối mặt với những cuộc đấu tranh phản kháng và hiển nhiên là người dân quốc gia đó không tránh khỏi đau thương, mất mát.
Giả thiết dân số thế giới quá đông, giới chính trị độc tài, tàn bạo ra sức tiêu diệt hết tất cả các dân tộc khác chỉ còn lại người dân của chính quốc. Sự đơn điệu của các yếu tố di truyền sẽ dẫn đến diệt vong cộng đồng người đó.
Giả thuyết điều này không  xảy ra, xã hội tiếp tục phát triển, dân số tăng cao đến một lúc nào đó. Tư dục của giới lãnh đạo lại đẩy những người anh em xông vào bắn giết lẫn nhau. Sự chia rẽ trong nội bộ thành phần lãnh đạo sẽ tạo ra vô số nước lớn nhỏ khác nhau và nhân loại tiếp tục tắm máu.
Còn khi đó bạn sẽ nhận ra và buộc phải thừa nhận sự tồn tại của luân hồi vì người dân trong xã hội sẽ mang những hình hài quái thai, dị dạng và bạn đã nợ họ.
Hơn nữa, cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi bạn cũng sẽ giống như họ,… hoặc bạn đang mang trên mình vẩy cá, lông thú hoặc đang phải lẩn trốn, đền trả những tội ác bạn đã gây ra cho loài người ở trong kiếp ngạ quỷ và Địa ngục.
Tham vọng bá quyền của các cường quốc, việc tranh chấp biển Đông và nhiều vấn đề bất ổn khác trên thế giới sẽ được giải quyết trong hòa bình, trong sự hiểu biết của nhân loại.
Điều này đồng nghĩa với việc cần thiết phải rộng truyền quyển sách này, khi đó nhân loại sẽ thật sự là một khối đoàn kết thống nhất, có cách nhìn sáng rõ về cuộc sống, xã hội và cả thế giới tâm linh.
Việc quyển sách được lan truyền sâu rộng trong người dân Trung Quốc và thế giới là đồng nghĩa với việc nhân loại sẽ chuẩn bị lực lượng hùng mạnh gồm có người dân Trung Quốc, cộng đồng các quốc gia và nhân loại yêu chuộng hòa bình. Đây là lực lượng quốc tế thể hiện lập trường gìn giữ sự hòa bình, an ninh ở biển Đông và trên thế giới.
Những mong giới chính trị Trung Quốc biết khó tự rút lui, dừng lại kế sách “Lưỡng bại câu thương” gây hại cho các quốc gia có lãnh thổ, lãnh hải ven khu vực biển Đông và người dân Trung Quốc. Trong khi đó giới chính trị Trung Quốc lại đóng vai trò “Ngư ông đắc lợi”.
Đồng thời đây cũng là lực lượng quan trọng trong việc gìn giữ hòa bình, an ninh thế giới, là lực lượng chặn đứng những tham vọng, dã tâm của các quốc gia hiếu chiến, ôm mộng bá chủ hoàn cầu.
Về nguyên nhân gây ra tranh chấp giữa các nước thì khác nhau nhưng bản chất thì gần như là giống nhau - Sự tư dục của giới chính trị ở các nước. Niềm tự tôn, tự ái ảo tưởng của một số ít người mà họ cho rằng bị xâm phạm.
Hậu quả là những người dân phải sống trong mất mát, đau thương và thù hận.
Có lẽ những người dân thường không muốn sự tranh chấp, xung đột leo thang chiến tranh, họ chỉ muốn sống cuộc sống bình yên. Thế nên những người dân thường hãy nên cùng nhân loại yêu chuộng hòa bình đồng lòng lên tiếng chấm dứt ngay những cuộc chiến tranh phi nghĩa.
Vấn đề xung đột hai miền Triều Tiên:
Phải chăng người dân Hàn Quốc - Triều Tiên đều căm ghét và muốn bắn giết lẫn nhau?
Tôi được biết có rất nhiều những người con Triều Tiên có ba mẹ là người Hàn Quốc và ngược lại.
Vậy tại sao họ lại giết hại nhau?
Phải chăng người Hàn Quốc - Triều Tiên là chủng người khát máu và tàn bạo?
Thật ra là người dân đã bị cuốn vào cuộc tranh đoạt quyền lực của giới lãnh đạo, giới chính trị - Việc tự ái, hơn thua của một nhóm người và có thể họ đã chịu sự chi phối giật dây của một nhóm người khác.
Kết quả họ nhận được là cha chết, anh chết, vợ mất chồng,… hận thù chồng chất.
Nếu người dân Hàn Quốc - Triều Tiên nhận ra sự phi nghĩa của cuộc chiến thì có lẽ tranh chấp giữa hai miền Triều Tiên đã sớm được giải quyết.
Lẽ ra người dân hai miền nên đoàn kết, đồng lòng lên tiếng yêu cầu giới lãnh đạo nên dừng lại việc gây hấn, chia rẽ, leo thang chiến tranh.
Nếu giới lãnh đạo không dừng lại thì những người dân không cần phải thực hiện bạo động đấu tranh. Bạn chỉ dừng lại không ủng hộ giới cầm quyền, dừng sản xuất, kêu gọi những người thân buông bỏ vũ khí, giải tán quân đội,… vì dẫu sao những người bên kia chiến tuyến cũng là những người anh em có cùng tổ tiên, nguồn gốc.
Hãy để những kẻ hiếu chiến, thích bắn giết nhau tự giết chết nhau. Nếu họ thực sự yêu quý dân tộc họ thì họ phải vì người dân mà chết chứ không đẩy người dân vào chỗ chết.
Tôi hy vọng nhân loại nhìn nhận rõ vấn đề “Cách hay nhất để thoát ra khỏi chiến tranh, thù hận là hãy đứng ra ngoài chiến tranh và thù hận”.
Ở góc nhìn của một đứa trẻ, việc tranh chấp, xung đột giữa các nước khiến tôi nhớ đến một câu chuyện mà phần lớn nhân loại đều rõ biết nhưng tôi mạo muội khơi gợi lại:
Có hai chú gấu con tìm được một miếng pho mát rất thơm ngon. Chúng chia nhau nhưng vụng về nên chia không đều. Chúng tranh cãi và giành giật. Một con sói gian xảo đã đến giúp hai chú gấu chia miếng pho mát đó.
Kết thúc câu chuyện thì bạn đã biết. Bạn đừng vội chuyển sự thù hận sang căm giận tôi. Tôi vẫn khách quan nhìn nhận vấn đề và chấp nhận trả giá cho những sự thật mà tôi đã trình bày.
Nếu bạn nhìn nhận vấn đề tôi trình bày là hợp lý thì hãy nên dừng lại. Đừng vì sự tự ái, kiêu hãnh mà gây ra những xung đột mới. Mọi chuyện chỉ là sự lầm lạc. Hãy nên đứng ngoài chiến tranh và thù hận! Dân tộc bạn và nhân loại chỉ muốn sống trong hòa bình, trong hiểu biết và thương yêu.
Những cuộc tranh chấp, xung đột ở các quốc gia khác cũng chỉ là những hình thái khác của lòng tham một số ít người - Giới lãnh đạo, chính trị đã làm nên những cuộc chiến tranh, tắm máu người dân.
Nhân loại đã hiểu biết nên chăng việc ngăn chặn lại những cuộc chiến tranh bắn giết?
Loài người thành hình sau một thời gian dài phát triển lệ thuộc vào tự nhiên đã học hỏi lẫn nhau và có nhiều hiểu biết. Xã hội loài người phát triển, dân số ngày một đông đúc.
Tuy nhiên, sự tiến bộ của loài người trong thời kì này chỉ là hình thái xã hội nguyên thủy với các bộ lạc, bộ tộc.
Sự phân biệt giai cấp, thành phần xã hội ngày càng trở nên rõ ràng và con người phát sinh lòng tham, dẫn đến tranh đoạt giết hại lẫn nhau.
Con người đã làm nhiều việc xấu ác khiến nội tâm bấn loạn. Một số người có hiểu biết đã từ bỏ cuộc sống bon chen, tranh đoạt vào sống ẩn dật trong hang động, hốc đá.
Sau thời gian sống ẩn dật, sự dừng lặng giúp họ nhận ra dường như có sự tồn tại thế giới người đã khuất. Từ đó họ đặt vấn đề truy tìm nguồn gốc sinh ra con người và những vấn đề chi phối đời sống con người.
Tùy theo sự hiểu biết mà mỗi người có những nhận định khác nhau.
Xã hội bên ngoài vẫn chém giết nhau, khiến con người sống trong thù hận. Thêm nhiều người từ bỏ xã hội loài người quay về đời sống ẩn dật. Họ tìm gặp những người đi trước chỉ bày cách thức tồn tại trong rừng sâu, núi vắng,... Họ còn được chỉ bày thêm về thế giới người đã khuất.
Đến khi xã hội bên ngoài thưa người vì việc chém giết, tranh đoạt. Những người còn sống sót mới tìm gặp những người sống ẩn dật về xây dựng lại xã hội loài người.
Loài người lúc bấy giờ mới nhìn nhận sự tồn tại của loài người chịu sự chi phối của thế giới vô hình. Những người quay về với xã hội loài người chủ yếu là những người chưa thật sự hiểu rõ về thế giới người đã khuất. Họ thừa nhận đó là thế giới tâm linh gồm có các Đấng quyền năng và cả linh hồn của những người chết. Thế nên con người muốn sống an ổn thì phải tôn trọng thế giới tâm linh - Các vị thần thánh.
Mãi về sau, tư dục của những người thầy cúng, thầy tế lễ khiến con người sống xa rời thực tế, mãi lo cúng bái nguyện cầu, làm cho cuộc sống loài người ngày một xấu thêm.
Một thành phần người có tư tưởng tiến bộ, họ tin rằng cái ăn, cái mặc của con người chính do tự thân lao động mà có. Họ dựa vào niềm tin đó mà có cuộc sống sung túc.
Bấy giờ, những người có đời sống nghèo khó do mải lo cầu nguyện thần linh ban cho cuộc sống ấm no, sung túc mới không tin vào thầy cúng, thầy tế lễ,… Họ quay sang nhờ những người không tin vào thần thánh chỉ bày cách có cơm no, áo ấm.
Những người có sự hiểu biết đã chỉ họ cách thức lao động đồng thời trách họ sao quá ngây thơ tin vào những kẻ ăn bám xã hội mà lâm vào cuộc sống nghèo khó. Những người dân được chỉ cách thức lao động. Họ siêng năng, cần mẫn làm việc chẳng mấy chốc ổn định cuộc sống. Thế nên họ tin rằng chẳng có Đấng quyền năng nào giúp họ có cuộc sống tốt ngoài bản thân họ.
Những người thiếu hiểu biết về thế giới vô hình vì lẽ họ không nhìn thấy được phần còn lại của thế giới vật chất đã vội vàng khẳng định thế giới tâm linh là không thật có.
Chủ nghĩa duy vật cũng dùng chính cách thức này để triệt tiêu, xóa bỏ chủ nghĩa duy tâm.
Về sau xã hội phát triển ở hình thái xã hội phong kiến là hình thái xã hội tiến bộ hơn hình thái xã hội chiếm hữu nô lệ. Lòng tham của các thành phần trong xã hội từ vua chúa, quan lại, địa chủ,… đã đưa con người vào cuộc tranh giành, chém giết khác với mức độ tàn khốc hơn. Lại có nhiều người lẩn trốn vào rừng sâu sinh sống.
Trên thực tế, niềm tin thế giới tâm linh chưa bao giờ diệt mất hẳn trong con người. Trong tận cùng mất mát, đau thương loài người đã khôi phục lại niềm tin về các Đấng quyền năng. Một số tôn giáo hình thành trong hoàn cảnh đó nhằm khuyên răn con người nên sống lương thiện, không làm điều xấu ác góp phần làm xã hội ổn định lại.
Một số tôn giáo khác hình thành do những người lãnh đạo yêu nước nhưng cô thế, lực lượng không đủ mạnh để đối đầu với quân đội chính quyền cai trị bạo ngược. Họ đã dùng thế giới tâm linh khiến nhiều người tin họ là người của các Đấng quyền năng. Việc làm của họ được Đấng quyền năng gia hộ. Kết quả một số người đã thành công trong việc dùng thế giới tâm linh giành lấy quyền thống trị.
Xã hội lại được xây dựng, phát triển. Tư dục của con người lại xua con người vào cuộc tranh giành. Kẻ được, người mất đau khổ triền miên.
Một số người nhu nhược, yếu đuối bị các tôn giáo không chân chính lường gạt, khuyến dụ nên cầu nguyện, cúng bái các thần linh nhằm thoát khỏi những khổ đau trong cuộc sống. Những cuộc tranh đoạt ngoài xã hội không ngừng dứt. Số người quay về cuộc sống cầu nguyện không ngừng tăng lên.
Lượng vật chất đảm bảo cho xã hội lại bị thiếu hụt do số lượng người lao động thì ít. Số lượng người sống bám xã hội thời nhiều.
Một số nhà tư tưởng cấp tiến nhìn thấy nguy cơ tan rã xã hội loài người đã lên tiếng kêu gọi mọi người quay về lao động sản xuất. Đừng tin lời các giáo chủ tôn giáo, các nhà truyền đạo bởi vì theo nhìn nhận của họ - Đó chỉ là những kẻ ăn bám xã hội.
Vì bởi thế giới tâm linh là thế giới vô hình chúng sẽ tác động con người chủ yếu ở phần tinh thần. Thế nên việc chối bỏ đã khiến cho lòng người rối loạn gián tiếp làm bất ổn xã hội.
Và con người cứ phạm phải những sai lầm xưa cũ. Khi chủ nghĩa duy vật gần như chiếm lĩnh ý thức con người thì lại chính là lúc con người có những hụt hẫng, những rối loạn nội tâm và họ tin rằng thế giới tâm linh thực sự có tồn tại.
Chủ nghĩa duy vật, khoa học gần như không thể chối bỏ thế giới tâm linh và lòng họ cũng đang nhiều động loạn.
Nhiều tôn giáo cơ hội, gian trá ra đời, nhân loại rồi sẽ đi về đâu?
Ở góc nhìn hạn hẹp, không khách quan và thiếu hiểu biết, nhân loại sẽ dùng chủ nghĩa duy vật xóa bỏ chủ nghĩa duy tâm. Sau đó lại dùng chủ nghĩa duy tâm xóa bỏ chủ nghĩa duy vật. Quá trình này cứ diễn ra trùng lấp trong suốt quá trình phát triển của loài người.
Kết quả gần như không được gì ngoài việc khiến con người tiến đến sự diệt vong. Có lẽ nhân loại nên thừa nhận việc tồn tại thế giới tâm linh song hành với thế giới vật chất với một tinh thần khách quan, có hiểu biết.
Từ đó, có những tìm hiểu, nhìn nhận, đánh giá về bản chất của thế giới tâm linh một cách có hiểu biết, có khoa học nhằm giúp nhân loại có cái nhìn sáng rõ về thế giới vô hình, tránh cho con người không bị các tôn giáo cơ hội, phản động lợi dụng và tránh rơi vào mê tín, dị đoan.
Phương tiện truyền thông, ngành công nghệ thông tin phát triển đã tiếp tay cho những nhà truyền giáo không chân chính rêu rao cảnh báo về ngày tận thế nhằm lôi cuốn những tín đồ nhẹ dạ, cả tin về ngày tàn của nhân loại. Mục đích của việc làm này là mang về lợi dưỡng cho những người rêu rao ngày tận thế kia. Bởi lẽ, họ sẽ tự xưng họ có cách giúp loài người thoát khỏi ngày tận thế bằng việc “Hối lộ thần thánh”. Việc làm của họ không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân họ mà còn gây ra sự rối loạn xã hội; Khiến con người trở nên biếng nhác, từ bỏ lao động, ích kỷ và xấu xa,...
Nhằm giúp nhân loại có cách nhìn thật đúng về bản chất vấn đề, tránh bị các phần tử xấu của xã hội lôi kéo, chiêu dụ tôi sẽ khai tử những tôn giáo lập ra ngày tận thế và cả những người truyền đạo khẳng định sự tồn tại của ngày tận thế.
Tôi sẽ khẳng định “Người truyền đạo nói về ngày tận thế là người thiếu hiểu biết cả về thế giới tâm linh lẫn thế giới vật chất”.
Về tâm linh:
Bất kì người truyền đạo của bất kì tôn giáo nào đều phải thừa nhận rằng thế giới tâm linh luôn tồn tại. Bởi lẽ các tôn giáo thuộc về Thần giáo đều tin rằng các Đấng quyền năng, Thiên đàng, Địa ngục, cõi Ma quỷ luôn tồn tại. Khi Ngày tận thế  diễn ra thì loài người, muôn vật diệt mất và các cõi giới trên đều không còn thì mới thật đúng là tận thế. Vậy thì các Đấng quyền năng cùng chung số phận thì có gì đáng lo sợ.
Nếu Đấng quyền năng còn tồn tại thì ai sẽ thừa nhận sự tồn tại đó, ai sẽ cúng bái nguyện cầu.
Nếu Đấng quyền năng còn tồn tại thì sao có thể nói là Ngày tận thế?
Thật là một sự dối lừa, gian trá!
Riêng Phật giáo thừa nhận con người là một dạng chúng sinh trôi lăn trong 3 cõi 6 đường nhưng cụ thể hơn thì tồn tại ở hai dạng:
- Dạng hữu hình - Có cõi người và súc sinh.
- Dạng vô hình - Có cõi trời, Atula, ngạ quỷ và Địa ngục.
Chỉ khi con người tu tập đạt được quả vị giải thoát thể nhập Niết bàn thì mới thoát khỏi luân hồi sinh tử. Vậy người hiểu đạo Phật phải tự nhận biết vĩnh viễn không có ngày tận thế. Thế nên bất kì vị tăng bảo nào nói đến ngày tận thế, hãy nên mau chóng sám hối việc đã làm trước đại chúng để phục hồi giới thể.
Một lời khuyên gửi đến các nhà truyền đạo của các tôn giáo lầm đường “Thế giới tâm linh thật sự tồn tại, những việc làm phát sinh từ lòng tham dục đều ẩn chứa sự xấu xa, hèn hạ. Các Đấng quyền năng sẽ không thể chung cùng với những kẻ xấu xa, bạn sẽ về đâu khi hơi thở dứt?”.
Hãy nên dừng lại những lầm lạc! Quay đầu là bờ.
Về cuộc sống vật chất - Khoa học:
Những lời tiên đoán trên thật không có cơ sở khoa học để đảm bảo tính đúng đắn và chính xác.
Bởi lẽ không có bất kì ai có thể tiên đoán được trái đất sẽ nổ khi nào?
Cũng như việc thế chiến thứ ba có xảy ra hay không?
Khi nào?...
Điều này hoàn toàn lệ thuộc vào lòng tham của con người.
Ai có thể biết được đến lúc nào các siêu cường quốc hạt nhân mất kiềm chế?
Kho vũ khí hạt nhân bị các phần tử khủng bố chiếm dụng và kích nổ trong khoảng thời gian nào?
Hay là khi nào kho vũ khí hủy diệt tự phát nổ?
Còn bao nhiêu vấn đề khác ảnh hưởng đến sự tồn vong của trái đất,…?
Và gì nữa các nhà khoa học đang tính toán quỹ đạo các thiên thạch đang bay về hướng trái đất nhằm có giải pháp ứng phó kịp thời?
Giả định họ tính toán chuẩn xác quỹ đạo bay các thiên thạch thì việc thiên thạch rơi nhầm vào trái đất cũng là lẽ thường vì các nhà khoa học không lường được sau những va chạm với rác vũ trụ - Lượng vật chất mà con người bỏ lại ngoài không gian, các thiên thạch sẽ đổi hướng và bay theo quỹ đạo nào?
Nếu không may trái đất sẽ không còn thì nhiều tỷ năm sau sẽ lại có một hành tinh mới hình thành ngay trên nơi mà trái đất đã tồn tại và sự sống lại bắt đầu tiến hóa và phát triển,...
Nếu điều đó xảy ra thì những tiên đoán về tuổi thọ của trái đất, sự nóng lên và lịm tắt của mặt trời sẽ không có ý nghĩa và không còn giá trị.
Bạn nhận thấy tôi đang gây rối loạn mọi thứ, làm lòng người hoảng loạn.
Hoảng loạn thì có lợi ích gì?
Hãy nên nhìn nhận rõ mọi vấn đề và ứng phó mọi việc ra sao mới là điều quan trọng.
Nếu dứt trừ được lòng tham dục, hạn chế chiến tranh, tiêu hủy kho vũ khí hạt nhân, trồng rừng, hạn chế tiêu dùng, sản xuất,… để giúp môi trường tự nhiên cân bằng lại thì trái đất được bảo toàn và ngày tận thế chỉ còn nằm trong tâm trí của những người thiếu hiểu biết.
Điều quan trọng nhất nhân loại phải cần làm là tìm hiểu về những quy luật tự nhiên trong Đạo Đức Kinh, sự hiểu biết trong kinh Phật và cả tri thức khoa học.
Sở dĩ tôi xếp vị trí tri thức khoa học ở vị trí thứ ba là vì thực sự góc nhìn và đánh giá vấn đề của tri thức khoa học ở thời điểm hiện tại chứa đựng rất nhiều sai lầm, sự chủ quan, phiến diện và không thực tế.
Tôi khẳng định lời nhận định của tôi hoàn toàn khách quan bởi vì tôi hoàn toàn không được lợi ích gì từ sau nhận định này.
Trên thực tế mỗi việc tôi trình bày trong quyển sách đều tạo ra những tư thù nguy hại, tôi sẽ có thể chết bất cứ lúc nào.
Lẽ thường những người cận kề với cái chết luôn nói những lời chân thật. Bạn đừng nhìn nhận vấn đề tôi đang cầu xin niềm thương cảm, sự tha thứ.
Nếu sợ phải chết thì tôi đã không mạo hiểm tính mạng cho việc viết sách.
Tôi chỉ muốn bạn nhìn nhận những điều tôi viết là sự thật và rộng truyền cho nhân loại nhằm đảm bảo sự tồn vong của trái đất vì lẽ “Giữ được non xanh, lo gì không có củi đốt”.
Tôi vẫn luôn thừa nhận sự tồn tại các Đấng quyền năng của các tôn giáo khác. Tôi tôn trọng họ, họ cũng tôn trọng tôi; Tôi hiểu họ và họ cũng hiểu tôi. Thế nên những việc tôi làm mà họ không ngăn cản - Điều đó có nghĩa là những Đấng quyền năng đó thừa nhận việc làm tôi đúng.
Bây giờ tôi sẽ phải loại bỏ vai trò tạo ra loài người và vạn vật của các Đấng quyền năng, họ thật sự đã không làm việc đó. Tôi sẽ dùng thực nghiệm để chứng minh cho lời khẳng định đúng đắn trên.
Bạn hãy lấy hai cái thau và cho vào đó một lượng nước thật sạch với mức nước như nhau. Bạn mang một cái để ngoài trời và một cái đặt ở trong nhà.
Sau một thời gian khoảng 7 - 15 ngày (tùy điều kiện thời tiết), bạn sẽ thấy sự khác biệt. Cái thau nước đặt ngoài trời nước dường như thay đổi màu sắc. Còn màu nước trong cái thau nước đặt trong nhà vẫn giữ nguyên màu sắc. Nếu quan sát thêm bạn sẽ thấy nước trong cái thau đặt ngoài trời có vô số những chủng loài bé nhỏ hiện diện trong đó.
- Vậy phải chăng các Đấng quyền năng đã tạo ra sự sống trong cái thau nước đặt ở ngoài trời?
- Nếu câu trả lời là đúng thì tại sao các Đấng quyền năng lại không tạo ra sự sống ở thau nước đặt trong nhà?
Nếu bạn cho rằng vì đặt thau nước ở trong nhà nên các Đấng quyền năng không thể thực hiện quyền phép.
- Vậy ra quyền phép của các Đấng quyền năng là có giới hạn?
Nhưng cũng không thật đúng vì khi tôi đem một số trái cây đi ủ rượu trong nhà tối thì tôi mới có được rượu trái cây.
Bạn tiếp tục miễn cưỡng chống chế:
- Sau khi hoàn thành việc tạo ra loài người và vạn vật, các Đấng quyền năng đã nghỉ ngơi không chi phối cuộc sống của loài người và muôn vật nữa.
Vậy bạn còn phải cầu nguyện, cúng bái, lễ lạy mà làm gì?
Bạn tiếp tục chống chế:
- Các Đấng quyền năng sẽ chọn ra một ngày để xét tội của loài người. Họ chi phối loài người ở một cấp độ cao hơn.
Tôi sẽ nói lời cuối để chấm dứt cuộc tranh luận này:
- Những người ngay cả những việc nhỏ nhặt đã không làm được thì đừng tin rằng họ có thể làm được việc lớn. Lẽ thường, một người không thể tự rửa mặt, không tự chăm lo cho bản thân thì không thể có chuyện người đó làm tốt việc lãnh đạo, hướng dẫn mọi người trong xã hội.
Tuy nhiên, tôi vẫn thừa nhận các Đấng quyền năng mà bạn tôn thờ vẫn tồn tại và chi phối đời sống con người ở một cấp độ khác. Tôi thực sự rõ biết họ đang chi phối con người ở cấp độ nào. Tôi đã từng nói tôi tự tại đi qua lại trong các cõi vô hình.
Giới khoa học sẽ lại tự hào tin rằng - Thuyết tự nhiên sinh của họ đã đúng.
Nhằm tránh gây sự hiểu lầm cho tri thức nhân loại tôi sẽ xóa bỏ niềm tin sai lầm này, tôi sẽ bác bỏ thuyết “Tự nhiên sinh”.
Ở cả hai ví dụ trên, không có sự sống nào do tự nhiên sinh cả. Bởi lẽ khi đặt cái thau nước trong nhà sự sống đã không sinh ra. Nếu ta đổ nước trong thau đi và đặt lại ngoài trời, tách rời trái cây ra khỏi nơi ủ thì sự sống cũng đã không sinh ra.
Vì thế thuyết tự nhiên sinh của giới khoa học cũng đã không đứng vững.
Cuối cùng, tôi khẳng định lại thuyết “Duyên sinh” của Phật là ổn hơn cả - Vạn vật do đủ duyên thời sinh ra. Khi các duyên không còn thì vạn vật sẽ biến diệt, thay đổi.
Tôi sẽ thực hiện một thực nghiệm dưới sự hỗ trợ của các nhà khoa học.
Tôi sẽ chọn một cây họ đậu cho thí nghiệm này.
Tôi sẽ đặt hạt giống này vào trong một lồng kính được thiết kế đặc biệt đảm bảo duy trì sự sống cho một cây đậu sinh trưởng và phát triển.
Ở mức độ tương đối bạn sẽ nhận thấy gần như không có sự trao đổi vật chất qua lại giữa môi trường trong lồng kính và môi trường bên ngoài. Hạt đậu sẽ phát triển thành cây, ra hoa, kết trái.
Để đảm bảo quá trình này, cây đậu đã hút hết dưỡng chất có trong môi trường. Theo quy luật tự nhiên cây đậu sẽ già chết, xác chết cây bị phân hủy tạo lại dưỡng chất cho môi trường, là điều kiện để các hạt đậu nẩy mầm và phát triển.
Tuy nhiên, điều kiện môi trường chỉ thích hợp cho một cây đậu sinh trưởng tốt nên cũng chỉ có một cây đậu sống khỏe, đủ sức chèn ép khiến các cây đậu khác chết. Cây đậu đó sẽ ra hoa, kết trái, già rồi chết.
Quá trình này cứ thế diễn ra, thực tế những cây đậu về sau có nguồn gốc từ cây đậu ban đầu và chúng đã dùng nguồn dinh dưỡng từ chính xác cây ban đầu và cả những cây đậu anh em.
Nói theo một cách khác cây đậu tồn tại sau cùng đã ăn thịt mẹ và các anh em của nó để tồn tại.
Nếu ta đem cây đậu còn lại ra phân tích các yếu tố di truyền thì sẽ không khác với cây đậu ban đầu và cây đậu đó đã gián tiếp dùng xác cây đậu ban đầu mà tồn tại. Về thành phần vật chất giữa hai cây đậu là không khác.
Cuối cùng ta không thể kết luận cây đậu sau cùng là cây đậu ban đầu nhưng cũng không thể chối bỏ nguồn gốc cây đậu sau cùng là do cây đậu ban đầu mà có và xác thân cây đậu sau cùng chính là xác thân của cây đậu ban đầu chuyển hóa thành.
Đây chính là sự luân hồi ở dạng hữu hình, đơn giản mà nhân loại chỉ cần có ít chú tâm, tìm hiểu, nhận biết và thừa nhận.
Mặc dù sự luân hồi hữu hình, đơn giản không khó nhận biết nhưng trên thực tế nhân loại vẫn u mê chưa nhận ra được sự luân hồi hữu hình thì sao có thể nhận biết được sự luân hồi vô hình, ở cấp độ phức tạp.
Vì không nhận thấy và tin theo, cùng với sự thiếu hiểu biết của số ít người, nhân loại đã vội chối bỏ sự luân hồi khiến tri thức nhân loại bị giới hạn, không tìm được lời giải cho sự hình thành sự sống, nguồn gốc sinh ra loài người.
Tôi sẽ mở rộng vấn đề sự luân hồi hữu hình ở phạm vi rộng hơn.
Ở mức độ nào đó trái đất cũng là một hệ kín, những sinh vật và con người còn tồn tại cho đến ngày nay phải chăng đã từng ăn xác thịt của những giống loài trước đó kể cả đồng loại ở hình thức trực tiếp hay gián tiếp?
Nhằm làm vấn đề đơn giản, dễ hiểu hơn tôi sẽ giới hạn ở việc tìm hiểu ở loài người.
Qua hàng triệu triệu năm con người phát triển, có bao thế hệ người đã chết, xác thân họ nằm trong đất, phân rã luân chuyển vào thân cây, trái cây và các loài sinh vật khác.
Loài người dùng những loài vật, trái cây,… có phải chúng ta đã gián tiếp ăn tổ tiên, ông bà,… không?
Những người giàu có, những nước tư bản xâm chiếm, giết người, cướp đoạt tài sản của người khác để phục vụ việc ăn uống, tiêu sài phải chăng họ đã ăn thịt đồng loại?
Bởi lẽ của cải họ lấy được có từ công sức của người khác. Việc giết người cướp đoạt tài sản, của cải, vật chất hiển nhiên vật chất cướp được chính là xác thịt người bị giết.
Và những đứa trẻ ra đời được nuôi lớn bằng sữa mẹ mà sữa mẹ thì lại chuyển hóa từ cơ thể mẹ chúng.
Vậy ra việc tôi trình bày con người ăn thịt đồng loại thì không có gì là sai trái.
Điều này thật đúng khi bạn hiểu rõ về sự luân hồi.
Sẽ có nhiều người xem đến đây lòng đầy kinh sợ và rối loạn không biết mai này phải sống như thế nào?
Tâm từ bi, tình yêu thương và nỗi sợ khiến họ sợ phải ăn thịt đồng loại, ăn thịt người chết. Nhưng bạn vẫn phải sống, phải làm việc vì đơn giản là bạn còn sống. Và bạn phải sống có hiểu biết, dứt trừ tham đắm, si mê, lầm lạc,…
Chỉ khi bạn hiểu rõ nguồn gốc bạn sinh ra thì bạn sẽ thoát khỏi luân hồi, không còn trôi lăn trong sinh tử.
Nhưng nếu sự luân hồi chỉ tồn tại ở dạng hữu hình thì những người xấu ác, những quốc gia cuồng bạo, hiếu chiến,… sẽ sống nhởn nhơ, ung dung ăn thịt đồng loại, giết người,…
Có lý nào những sự việc trái đạo như thế tồn tại mãi?
Thế nên loài người còn chịu sự chi phối của sự luân hồi vô hình. Mọi việc tạo tác của con người đều được ghi vào trong tâm thức của chính họ. Khi chết đi, phần tâm thức người đó sẽ đi theo những duyên nghiệp tạo tác mà thọ lãnh những điều tốt xấu.
Sẽ có nhiều người hy vọng tôi hé lộ rõ hơn về thế giới vô hình. Quả thật, điều này không dễ và cho dù tôi có diễn đạt cũng không có nhiều người tin.
Ngay cả những việc hiện diện trước mắt mà ta vẫn còn không thừa nhận thì nói gì đến những việc không dễ nhận biết.
Ví như cách đây khoảng 30, 40 năm nếu một ai đó cầm chiếc điện thoại di động và nói rằng “Họ có thể nói chuyện với người thân đang ở cách họ nửa vòng trái đất”.
Có lẽ tất cả mọi người tại thời điểm đó đều khẳng định người đó bị điên loạn.
Thế nên thật khó để diễn đạt cõi vô hình. Tuy nhiên, bạn sẽ phải chấp nhận sự thật “Đã là thế giới vô hình thì hiển nhiên là không hình tượng, không thể dùng mắt thường mà nhìn thấy được”.
Nhưng nếu bạn chịu khó quán chiếu, soi xét mọi việc bạn sẽ nhận thấy chúng có tồn tại, sự luân hồi có tồn tại.
Nếu bạn khách quan nhìn nhận thì bạn sẽ nhận ra những đứa trẻ ngày nay dường như thông minh, lanh lợi nhưng sức khỏe lại yếu hơn những đứa trẻ ở những thế hệ trước.
Các nhà khoa học chưa từng nghiêm túc đánh giá, nhận diện vấn đề này nên càng không thể lý giải được sự tồn tại sai biệt hiển nhiên bộc lộ nơi những đứa trẻ sơ sinh.
Đặt giả thiết bạn thừa nhận vấn đề luân hồi là thật có bạn sẽ thấy vấn đề ngay lập tức được giải quyết.
Con người ngày càng tiến bộ việc bảo bọc những đứa trẻ sơ sinh được kỹ hơn, khiến cho khả năng chịu đựng của con người trước môi trường tự nhiên bị kém đi.
Khoa học, giáo dục, thể thao,... phát triển giúp con người tích lũy nhiều hiểu biết và sự năng động. Quá trình này vẫn được lưu giữ lại tâm trí của con người qua rất nhiều lần chết đi rồi luân hồi trở lại.
Nếu một người nào đó sống hiện kiếp tích lũy nhiều thiện đức, không làm điều xấu ác thì khi chết đi sẽ được luân hồi lại kiếp người.
Chính do những việc còn lưu lại trong tiềm thức khiến những đứa trẻ ngày nay thông minh, lanh lợi nhưng khả năng đề kháng lại giảm đi. Và có những đứa trẻ sinh ra đã có những năng khiếu bẩm sinh do tiềm thức được khai mở.
Sự luân hồi cũng lý giải được vấn đề tại sao con nhện sinh ra là đã biết giăng tơ, bắt mồi; Những con sâu biết làm kén để hóa nhộng; Những con cá hồi, cá chình,… biết tìm về nguồn để sinh sản,…?
Đồng thời, sự luân hồi khiến con người trong quá trình tiến hóa đã đánh mất bản năng sinh tồn trong tự nhiên.
Cụ thể, nếu ta bắt con mèo, chó, heo, khỉ,… ném xuống nước, chúng sẽ tự biết cách bơi vào bờ. Còn con người lại khác khi không được rèn luyện từ trước thì sẽ chìm mất.
Việc không tìm ra vượn người, người tối cổ trong thời đại ngày nay cũng minh chứng sự tồn tại của sự luân hồi vô hình.
Con người tối cổ dáng đi khom, trán và tứ chi thô kệch nhưng ý thức, sự nhận biết đã phát triển hơn những chủng loài khác.
Theo quy luật phát triển tự nhiên, trong bầy đàn người tối cổ sẽ xuất hiện những đồng loại có dáng đứng thẳng hơn, dáng dấp cơ thể thon gọn tiện cho việc hái lượm.
Việc này cũng được ghi nhận, lưu giữ trong tiềm thức qua nhiều kiếp luân chuyển. Những đồng loại khác đã bắt chước làm theo và cố ghi giữ những thay đổi cần thiết đó vào trong tâm thức. Sau đó, chúng chết đi và tiếp tục sinh ra làm người tối cổ có dáng đứng cao thẳng.
Quá trình tiến hóa loài người tiếp tục diễn ra qua rất nhiều thế hệ thì có hình dáng giống như người hiện đại. Cho đến khi tất cả người tối cổ chuyển hóa thành người hiện đại vì lẽ với hình dáng của người hiện đại thích hợp hơn trong cuộc sống săn bắt và hái lượm.
Mãi lâu xa về sau, khoa học phát triển, con người quay về tìm lại nguồn gốc nhưng mọi dấu tích đã không còn họ chỉ tìm thấy xác người tối cổ hóa thạch.
Họ không hiểu tại sao người tối cổ biến mất khỏi trái đất;?
Và nguồn gốc sinh ra loài người hiện đại chỉ còn là những nghi vấn, giả thuyết,…
Do chối bỏ sự luân hồi nhân loại đã không tìm ra nguồn gốc của sự sống loài người.
Chỉ khi nhân loại nhận biết sự tồn tại của luân hồi thì sẽ nhận ra các nhà khoa học không thể nào tìm được vượn người, người tối cổ ở thời điểm hiện tại. Bởi vì sự tồn tại giai đoạn vượn người, người tối cổ giống như là việc con nòng nọc phát triển, đứt đuôi rồi thành ếch. Nhân loại không thể nhìn thấy con ếch rồi lại hỏi “Con nòng nọc đâu rồi?”.
...
Tôi đã gặp người đã khuất trong bối cảnh nào?
Tôi sẽ nói thêm về vấn đề này để bạn có thêm thông tin về thế giới tâm linh. Việc làm này của tôi sẽ không được nhiều người đồng thuận và tôi cũng không có ý định gieo vào lòng bạn sự mê tín, dị đoan. Và tôi sẽ trình bày vấn đề này với sự thành thật.
Tôi đã từng tiếp cận với người đã khuất hai lần. Lần đầu, tôi gặp mặt những người khuất mặt vào thời khắc 5 - 6 giờ sáng, tôi có hơi bất ngờ, mơ hồ và không nhớ rõ chi tiết lần gặp này. Thậm chí, tôi còn nghĩ đó là việc không thật, ảo giác.
Đến lần gặp thứ hai, vào khoảng 11 - 12 giờ đêm, tôi vẫn chưa ngủ được do thời tiết nóng bức, khó chịu. Nhưng tôi có cảm giác bất thường. Tôi cảm nhận sự lành lạnh, rờn rợn xung quanh nơi tôi nằm. Tôi dự định co chân, co tay lại rồi duỗi thẳng ra cho người thoải mái, dễ ngủ hơn. Ngay khi tôi muốn duỗi thẳng ra thì toàn thân bị khóa cứng, không sao duỗi ra được. Tôi có hơi hoảng loạn vội kêu thầy giúp và nhận ra miệng cũng bị bịt kín.
Tuy nhiên, tôi cũng lờ mờ nhận ra xung quanh lố nhố bóng người. Tôi bình tĩnh hơn, tôi lại gọi thầy, niệm Phật, đọc chú. Tôi nhận ra mình đã lên tiếng được nhưng không phải bằng miệng mà dùng ý niệm để trao đổi. Tôi vẫn không thoát ra được, tôi đành lên tiếng “Mọi người phá tôi làm gì?”. Tôi nhận được câu trả lời “Vì tôi mới về chùa nên họ chọc phá cho vui”.
Lúc bấy giờ tôi nhận ra có hai người đang giữ tôi và cả ba cùng đang ngồi trên giường nhưng trên thực tế trước đó thì tôi đang nằm trên giường vừa co tay chân thì bị khóa chặt. Sau một lúc trao đổi thì họ buông tôi ra và đi mất.
Lúc đó, tôi nhận biết mình hoàn toàn chưa ngủ và cả hai lần tôi gặp mặt thế giới còn lại đều ở trong chùa. Cả hai lần gặp mặt người đã khuất tôi đều chưa đạt được chánh định và định tâm chưa vững.
Thế nên nếu bạn muốn chạm mặt với cõi vô hình thì có lẽ bạn nên tìm đến những nơi có phần hoang vắng như chùa chiền, nhà thờ, khu nhà mồ, đình miếu, lăng mộ,…
Nhưng tôi cũng cảnh báo trước nếu bạn không có chánh định, định tâm yếu thì sau khi chạm mặt với cõi vô hình, việc bạn điên loạn, mất trí là điều rất có thể  xảy ra.
Vì lẽ đó bạn không cần mạo hiểm để tìm hiểu thế giới tâm linh. Bạn vẫn có thể nhận biết thế giới tâm linh khi biết lắng nghe và quán chiếu những sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh.
Và có một sự thật “Nếu thế giới tâm linh không tồn tại thì chủ nghĩa duy vật và khoa học đã xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa duy tâm”.
Thêm nữa, trong cuộc sống có lẽ đã không ít lần bạn nhìn thấy những người điên dại lang thang trên đường. Bạn hãy quan sát sự khác biệt giữa họ.
Bạn sẽ nhận thấy có một số người điên loạn cứ tự trói mình như những người tù. Số khác lại thích ăn mặc quần áo của quân đội và có những kỹ năng quân sự. Số  khác lại tìm mặc những bộ đồ tang lễ, đầu họ chít khăn tang,…
Trên thực tế họ là những người đã bị loạn trí từ nhỏ.
Điều gì đã khiến họ có những hành động như vậy?
Có lẽ bạn phải chấp nhận sự thật - Họ đã mang tiềm thức trong đầu và biểu hiện chúng ra bên ngoài. Những người điên loạn này dường như sức khỏe, khả năng chịu đựng sự khắc nghiệt rất tốt. Bởi lẽ họ chính là cõi giới Atula - Cõi giới có định tâm, định lực hùng mạnh nhất trong 6 nẻo luân hồi.
Chỉ khi bạn rõ biết và tin nhận về sự luân hồi thì việc làm của bạn sẽ tùy thuận không còn cố chấp, chấp trước, tham đắm,… như trước nữa.
Nếu bạn không muốn mê mờ trong 6 nẻo thì bạn sẽ học hỏi, hành trì tìm về chánh pháp. Bạn sẽ phải hành trì cho đến khi đạt được chánh định là sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
d.   Vô Ưu tranh cử vai trò Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc.
Chiến tranh, xung đột vũ trang, tranh giành quyền lực giữa các đảng phái, các quốc gia, môi trường ô nhiễm, dân số bùng phát, dịch bệnh thiên tai diễn ra khắp nơi,…
Nhân loại đang cần một tổ chức, một người lãnh đạo có khả năng an định xã hội loài người nhằm dứt trừ chiến tranh, thù hận và có những giải pháp hữu hiệu chống sự biến đổi khí hậu, sự đói nghèo và nạn bùng phát dân số.
Nhân loại đã không còn nhiều niềm tin và lời hứa của giới chính trị ở các nước lớn. Vai trò của Liên Hiệp Quốc quá nhạt nhòa trong một xã hội loài người đầy bất ổn, rối ren. Tất cả những gì Liên Hiệp Quốc làm được là kêu gọi kiềm chế và gần như không làm được gì ngoài những chuyến viện trợ nhân đạo muộn màng cho những quốc gia nghèo đói, tan tác vì chiến tranh.
Trước tình cảnh xã hội loài người bất ổn, tôi sẽ ra mặt tranh cử vai trò tổng thư ký Liên Hiệp Quốc với lời khẳng định sẽ chấm dứt chiến tranh, thù hận trên thế giới. Hạn chế sự bùng nổ dân số. Giảm thiểu nạn đói nghèo. Cùng nhân loại đề ra những giải pháp hữu hiệu chống biến đổi khí hậu toàn cầu,…
Việc đầu tiên khi tôi đắc cử vai trò tổng thư ký Liên Hiệp Quốc là cải tổ, cơ cấu lại tổ chức Liên Hiệp Quốc nhằm giúp tổ chức này hoạt động thực sự có hiệu quả. Đảm bảo Liên Hiệp Quốc là tiếng nói của nhân loại, là sức mạnh đoàn kết của nhân loại.
Chỉ khi đó Liên Hiệp Quốc mới có thể ngăn chặn những cuộc tắm máu, tàn sát loài người. Khi nhân loại đồng lòng thì nạn đói sẽ được đẩy lùi, dân số sẽ bình ổn lại và loài người sẽ cùng chung tay đối phó với nạn biến đổi khí hậu.
Nếu việc cải tổ, cơ cấu lại tổ chức Liên Hiệp Quốc không được chấp thuận bởi lòng tham dục của con người thì tôi với tư cách tổng thư ký Liên Hiệp Quốc sẽ tuyên bố giải tán tổ chức Liên Hiệp Quốc. Bởi lẽ sự tồn tại của tổ chức này không có nhiều ý nghĩa, không mang lại lợi ích cho nhân loại.
Với ý định ứng cử vai trò Liên Hiệp Quốc, bạn sẽ nhận thấy tôi đang sống trong sự ảo tưởng, ngông cuồng nhưng tôi vẫn cứ ảo tưởng xây dựng một xã hội loài người hòa bình, tiến bộ và hạnh phúc hơn là sống thực trong một xã hội đầy chiến tranh, thù hận và bất ổn.
Bạn nên nhận biết “Dù bạn đang ở cương vị, thành phần, tầng lớp nào trong xã hội loài người thì tôi vẫn thực sự đang giúp bạn”.
Hy vọng những cảnh tỉnh của tôi sẽ giúp bạn định hướng lại và tìm ra giải pháp tốt nhất cho sự tiến bộ, phát triển và tồn tại của nhân loại. Vì sự tồn tại của nhân loại tôi sẽ làm con cờ bị vứt đi trong ván cờ viết lại sự hiểu biết của loài người.

 ( còn nữa )


























Không có nhận xét nào: