Vô Ưu
Tùy Bút : Xé Nát Xưa Nay Tập 2
Chương I
Phép màu - Bạn hãy chọn lựa tương ai
cho nhân loại
Đồng hồ đang đếm ngược. Nhân loại đang chờ đợi thời khắc của ngày 21 tháng 12 năm 2012 trôi qua. Cách đây hơn 4000 năm, người Maya đã đưa ra một dự đoán vượt thời gian cảnh báo cho nhân loại biết rằng “Ngày 21 tháng 12 năm 2012 là thời điểm chấm dứt nền văn minh hiện tại”.
Đã có những loan báo về Ngày Tận Thế. Đã có những cuộc trốn chạy của những người đặt niềm tin vào hy vọng “Tận thế không thể chạm đến họ vì họ đã sớm chuẩn bị một nơi trú ẩn an toàn”. Những người lạc quan hơn thì tin rằng “Ngày 21 tháng 12 năm 2012 chỉ là thời điểm chấm dứt nền văn minh hiện tại mà không có một kiếp nạn thảm khốc nào xảy đến cho con người. Đây cũng là thời khắc mà con người đặt bước chân vào một nền văn minh mới - Nền văn minh có chứa đựng sự hiểu biết và thương yêu. Nhân loại sẽ không còn việc giết chóc, hận thù, đau khổ và chiến tranh”. Họ tin rằng “Địa cầu sẽ được tịnh hóa - Trái đất được tái cơ cấu trở nên tinh sạch, cân bằng và an toàn trở lại”.
Tại sao con người lại trông chờ vào sự ra đời của một nền văn minh mới khác biệt với nền văn minh hiện tại? Nền văn minh hiện tại phải chăng có những khiếm khuyết, tì vết đáng bỏ đi và không còn chấp nhận được?
Đã có một luồng tư tưởng, một ý thức mới đang dần thành hình. Ý thức hệ mới hình thành chứa đựng sự khắc khoải mong chờ “Nhân loại hãy nên có một định hướng tích cực hơn. Con người hãy nên hoàn thiện hơn về phần người nhằm cùng chung tay xây dựng một thế giới hòa bình, công bằng và tiến bộ”. Đây là một bước tiến dài của nhận thức, ý thức, tư duy trong tâm thức nhân loại. Vấn đề bức thiết này xuất phát từ sự bấn loạn nội tâm trong mỗi con người - Sự bế tắc trong tâm thức. Nhân loại đang cần một câu trả lời, một việc làm thiết thực để khai thông sự bế tắc đó. Con người dường như đang sống dựa vào niềm tin và chút hy vọng đang trôi dần đến điểm tới hạn - Tuyệt vọng.
Tại sao những người có hệ ý thức mới, tiến bộ cho rằng “Con người lại rơi vào sự bế tắc trong ý thức sống”?
Họ cho rằng “Hiện nay, nhân loại đang sống trong nền văn minh vật chất và chủ nghĩa thực dụng. Mối quan tâm của con người là hưởng thụ tiền bạc, của cải, người đẹp, quyền lực, địa vị danh vọng,... Những người không có hứng thú với danh lợi, bạc tiền,… trở thành những người hèn kém, tiêu cực và lạc lõng,… Kết quả là sự băng hoại các giá trị tinh thần trong nhân loại. Con người trở nên tầm thường, ích kỷ, nhỏ nhen. Xã hội loài người đang trôi dần vào địa ngục trần gian. Ở nơi đó có chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, nghèo đói, khủng bố, sự hỗn loạn xã hội và nội tâm con người,... Việc giết chóc, bức hại, máu, nước mắt, hận thù và khổ đau sẽ dẫn nhân loại đến con đường tự hoại diệt”.
Chủ nghĩa thực dụng đang hướng con người đến lối sống hưởng thụ vật chất lẫn xác thân, ai là người đủ khả năng làm “Tươi mới trái đất”?
Họ không tin giới chính trị có thể làm được điều này vì bởi giới chính trị trên toàn thế giới đang sửa sai, đang gột rửa những vết bẩn nhơ, những vụ bê bối chính trị, nhân cách đạo đức,… việc tham nhũng, hối lộ, quan liêu, hoang phí,… Họ cũng tin rằng “Những biện pháp áp đặt, cưỡng chế,… bằng chế tài, hình luật, sức mạnh quân sự,… là không đủ để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn”. Họ nhận biết: Giới chính trị đã không thực sự nhận ra xã hội con người đang hỗn loạn, rối ren là vì điều gì?. Vì vậy giữa nhân loại và giới chính trị đang có khoảng trống không dễ khỏa lấp.
Họ cũng không tin ngành giáo dục có thể “Làm mới trái đất”. Ngành giáo dục đang trói vào sự hiểu biết, tư duy hạn hẹp. Chưa bao giờ ngành giáo dục có định hướng chiến lược mang tính toàn cầu về giá trị cuộc sống, giá trị con người. Chủ nghĩa thực dụng đã nhấn chìm vai trò định hướng phát triển nhân cách đạo đức con người. “Tiên học lễ, hậu học văn” - Lời nhắc nhở để biết và chứng thực rằng “Ngành giáo dục đã quên bỏ việc giáo dục rèn luyện nhân cách đạo đức, giá trị làm người ở con người”. Việc đánh mất đi giá trị nhân cách con người là đầu mối của tất cả rối ren, hỗn loạn của xã hội trên phạm vi thế giới. Khi con người không còn sống với sự hiểu biết để thương yêu thì tội ác, thù hận sẽ gieo rắc khắp mọi nơi. Ngành giáo dục vì việc bảo toàn vị trí, vai trò ở xã hội mà lãng quên, đánh mất vai trò tiên quyết trong việc xây dựng nhận thức, ý thức, giá trị con người.
Họ cũng không tin ngành khoa học. Vì lẽ ngành khoa học đã chung tay với ngành kinh tế tạo ra lượng hàng hóa vật chất khổng lồ, gián tiếp xây dựng nên lối sống thực dụng hưởng thụ quá mức - Sản xuất ra thật nhiều, tiêu thụ cũng thật nhiều và rồi không còn gì cả. Ngành khoa học cũng đã góp phần đẩy con người vào những cuộc chiến tranh tàn khốc, đẫm máu, nuôi lớn hận thù, đau khổ ở con người. Ngành khoa học đi tìm hiểu sự sống với định hướng sai lạc sẽ vĩnh viễn không tìm được câu trả lời thật đúng. Với việc định hướng sai lạc, ngành khoa học sẽ không thể tìm ra ngọn nguồn, bản chất của sự sống cũng như nguyên do của sự tồn tại trái đất và vũ trụ. Tiền của, vật chất, giá trị thặng dư của nhân loại đang được ném vào những khoảng không gần như vô nghĩa. Có thiết thực không khi nhân loại ném một “khối tài sản” khổng lồ ra ngoài không gian để nhận biết bên ngoài hành tinh xanh có gì? Khi mà phần lớn con người đang sống trong nghèo đói, khốn cùng, bệnh tật do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh - Kết quả của sự phát triển khoa học thiếu định hướng, không bền vững mang lại.
…
Họ nhận biết “Họ đang có những bất an, bấn loạn tinh thần và tư tưởng của tự thân”. Họ mơ hồ nhận biết “Dường như đó cũng chính là sự rối loạn nội tâm trong lòng nhân loại”. Để khỏa lấp khoảng trống nội tâm họ tìm đến tôn giáo như tìm về một cứu cánh. Tôn giáo, một nơi nương náu tinh thần, là chỗ dựa cuối cùng mà con người có thể níu giữ và là nơi “gửi gắm” linh hồn khi nhắm mắt lìa đời. Theo những thống kê gần đây, hiện có khoảng 87% dân số thế giới có sự gắn bó với ít nhất một tôn giáo và chỉ có 13% dân số thế giới không theo một tôn giáo nào. Không chỉ vậy, số người gia nhập vào các loại hình tôn giáo không ngừng tăng lên qua từng năm với số lượng người tăng thêm thật sự nhanh. Điều này minh chứng cho vấn đề “Con người đã giảm tỷ lệ tín nhiệm vào thế giới vật chất. Con người đang trông chờ vào phép màu - Điều kỳ diệu đến từ thế giới tâm linh”. Tuy nhiên, con người cũng đã không còn tin vào những vị giáo chủ, những nhà lãnh đạo tinh thần tôn giáo,… vì lẽ nhân cách, đạo đức của những người đại diện cho Đấng quyền năng mà họ đang tôn thờ đang cần “xét lại”. Hơn nữa, những vị đại diện của Đấng quyền năng có thật sự rõ biết “Thông điệp” mà những Đấng quyền năng gửi đến những tín đồ thuần thành? Không có một câu trả lời rõ ràng, chân thật. Câu trả lời cho tất cả là “Hãy sống bằng niềm tin và hy vọng”.
Những người đại diện cho thế giới tâm linh có phẩm cách chân thật đang nghĩ gì và làm gì?
Họ đang kế thừa lại việc làm của người đi trước cũng chính bằng niềm tin và hy vọng. Họ cũng biết rằng “Họ đang cố xây dựng một thế giới dường như tốt đẹp hơn bằng vào việc nuôi dưỡng tinh thần, rèn giũa nhân cách, giữ lại giá trị con người trong xã hội”. Đã có không ít người tiếp xúc được với phần còn lại của thế giới mà không có một thông điệp rõ ràng, xác đáng nào đưa ra nhưng điều này cũng đủ giúp họ củng cố lại niềm tin “Thế giới tâm linh là thật có”. Thế nên chính họ cũng tin rằng “Rồi phép màu sẽ xảy ra”.
Tóm lại, những người có tư tưởng lạc quan đang chờ đợi phép màu bởi vì họ đã không còn tin vào những người đang trói cuộc sống vào danh lợi, bạc tiền và địa vị. Họ cũng không tin những người đang ràng buộc trong nỗi lo “Cơm áo gạo tiền” sẽ làm nên kỳ tích. Họ hy vọng vào một sự thay đổi lớn lao trong tư duy, nhận thức, ý thức về sự sống của toàn nhân loại hoặc là ở phần lớn dân số trên thế giới. Chỉ khi đó thì trái đất mới có thể tái cơ cấu lại cấu trúc, cân bằng, ổn định và an toàn hơn. Với họ, đó thật sự là một phép màu.
Những người theo đạo Phật thì trông chờ phép màu từ vị Phật vị lai - Phật Di Lặc hạ sinh giúp tịnh hóa địa cầu, xóa bỏ chiến tranh, thù hận, đau khổ. Giúp nhân loại thật sự ấm no, hạnh phúc, sống có hiểu biết và yêu thương chân thành.
Những người dựa vào kinh Thánh, cả kinh Tân Ước và Cựu Ước, cùng chờ đợi sự ra đời của Thánh Messiah với niềm tin thế giới sẽ đổi mới tốt đẹp, toàn thiện hơn.
…
Những năm gần đây, hoa ưu đàm đã nở ở nhiều nơi. Đây là loài hoa linh thiêng ít có, hiếm gặp. Tương truyền “Mỗi khi hoa ưu đàm nở là điềm lành, báo hiệu sẽ có Thánh vương xuất thế” và nhân loại đang trông chờ vào “Điều kỳ diệu sẽ xuất hiện trong năm 2012”.
…
Tôi đã nhận biết niềm tin và sự kỳ vọng trong tư duy, nhận thức ở mỗi con người. Tôi cũng từng chờ đợi “Phép màu xuất hiện”. Nhưng thời gian không còn nhiều tôi đứng trước một chọn lựa và đã quyết định chọn lựa con đường tôi bước đi. Bạn hãy nhớ rằng tôi là người chọn lựa chứ tôi không phải là người được lựa chọn. Đây không phải là định mệnh cố định của bản thân tôi. Tôi hoàn toàn có quyền chọn lựa “Con đường để bước đi”.
Sau cùng, tôi chọn lựa: Bạn chính là phép màu, là Phật Di Lặc hạ sinh, là Thánh Messiah xuất thế. Tất cả là một và một cũng là tất cả. Đó cũng chính là chọn lựa của bạn. Bạn cũng có toàn quyền cho việc chọn lựa. Không một ai có thể áp đặt hoặc chọn lựa thay cho bạn. Bạn hãy nên trân quý sự tự do, năng lực, khả năng, sức mạnh, sự hiểu biết,… của chính mình. Khi đó, bạn thật sự mạnh mẽ, quả cảm, làm chủ được cuộc sống và bạn sẽ tạo ra một phép màu thật kỳ diệu - Tịnh hóa địa cầu.
Bạn đã nghĩ đúng “Con người cần phải thay đổi nhận thức, ý thức, tư duy về giá trị của tự thân”. Bạn cũng đúng khi nhận định “Muốn đưa nhân loại bước vào nền văn minh thật sự cũng như tái cơ cấu lại trái đất đòi hỏi sự phản tỉnh, sự tỉnh thức của nhân loại hoặc chí ít cũng là phần lớn dân số trên hành tinh xanh”. Bạn cho rằng “Sự phản tỉnh của một số ít người không thể thay đổi được cục diện xã hội”. Bạn đã cả nghĩ: Sự thay đổi tư duy, ý thức ở mỗi người căn bản không thể làm “Trái đất tinh sạch, tươi mới”.
Bạn đã không còn niềm tin vào những thành phần, những tầng lớp xã hội sống ích kỷ cá nhân, vụ lợi. Xã hội đang hỗn loạn, bạn đã không tin vào những con người bàng quan, thờ ơ, lãnh đạm buông lời “Chuyện của thiên hạ”,… Vì thế bạn hoài nghi tất cả và níu giữ chút hy vọng mong manh “Phép màu sẽ xuất hiện”.
Nhưng bạn hãy lắng lòng, giữ cho tâm hồn thật sự bình thản, sáng rõ và hãy trả lời câu hỏi “Ai là thiên hạ?”. Bạn sẽ rõ biết “Bạn chính là thiên hạ, bạn cũng chính thật là phép màu”.
Thật sự bạn đã lãng quên “Bạn có phép màu”. Tôi tình cờ nhận ra “Phép màu có trong bạn”. Tôi đã tìm đến và giúp bạn nhớ ra “Bạn hoàn toàn đủ khả năng tạo ra những điều kỳ diệu cho cuộc sống”. Thật vậy, mai này có thể bạn bắt gặp tôi là một gã ăn xin đui mù bẩn dơ, hèn hạ. Tôi đói lã ngã quỵ bên đường. Bạn cũng là người khốn cùng trong cuộc mưu sinh. Nhưng chén cơm chiều của bạn đã giúp tôi giữ lại mạng sống. Tôi chân thành biết ơn nghĩa cử cao đẹp, tấm lòng cao quý của bạn. Biết vậy, lòng bạn có rộn vui không? Đó chính thật là phép màu!
Tại sao bạn phải chờ đợi một phép màu trong khi bạn hoàn toàn đủ khả năng tạo ra nhiều phép màu? Đừng mãi chờ đợi sự đổi thay ở nhân loại, ở cộng đồng xã hội, ở người khác. Bạn hãy thay đổi để tạo ra điều kỳ diệu. Cuộc sống bon chen với đầy dẫy những thử thách, cam go và cám dỗ. Nhưng nụ cười sau giờ tan ca mệt nhoài của bạn đã biến mâm cơm muộn của gia đình trở nên ngon lành, ấm cúng hơn. Nụ cười đó cũng xua tan nỗi âu lo trong lòng người mẹ và người thân. Con bạn vững tin hơn cắp sách đến trường. Thật giản dị để tạo ra phép màu. Tịnh hóa địa cầu sẽ khởi đầu bằng sự thay đổi nhận thức, tư duy ở bạn. Bạn sẽ làm tinh sạch trái đất.
Bạn là ai? Bạn là những người sống trong sự hiểu biết. Hiểu biết để thương yêu chân thành. Hiểu biết để giữ trái đất được an toàn, phát triển bền vững. Hiểu biết để đẩy lùi khổ đau, chiến tranh, thù hận. Hiểu biết để nhận ra giá trị của sự sống, con người… Bạn hãy chọn lựa thế giới mới cho nhân loại.
Tôi là ai? Tôi đã chọn lựa “Tôi chỉ là một con én nhỏ. Tôi sẽ bay từ phương Nam sang phương Bắc, từ phương Đông sang phương Tây”. Tôi đến để giúp bạn nhận biết “Mùa xuân đang đến rất gần”. Có thể tôi không có dịp nhìn thấy mùa xuân trong ánh mắt của bạn. Nhưng tôi rõ biết mùa xuân luôn tồn tại và sẽ đến. Thế nên tôi cũng sẽ không hối tiếc và tuyệt vọng dù rằng “Mùa xuân có đến muộn”. Vì đó là chọn lựa của chính tôi. Tôi đặt niềm tin tuyệt đối vào bạn “Bạn là phép màu, là Thánh Massiah, là Phật vị lai”.
Chương II
Sự Nổi Loạn Nội Tại
- Sự nổi loạn nội tại.
Giả định “Xã hội loài người là một cội cây hoàn chỉnh”. Về lý thuyết người dân sẽ là gốc rễ của xã hội còn những thành phần khác chỉ là phần ngọn. Theo quy luật tồn tại bền vững phần gốc rễ nặng sẽ phải nằm ở điểm tận cùng của xã hội. Phần ngọn nhẹ hơn sẽ nằm ở tầng trên xã hội. Cây muốn sinh trưởng, phát triển tốt thì các thành phần gốc rễ, cành nhánh, hoa trái, chồi lá,… sẽ phải có sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa lẫn nhau. Cây mà cánh lá sum xuê, nhiều hoa trái nhưng gốc rễ gầy yếu thì dễ gãy đổ. Cây muốn ra hoa, kết trái thường phải rụng lá nhằm đảm bảo dưỡng chất cho mầm sống mới. Lá vàng thì phải lìa cành. Chồi lá mà non yếu, bị sâu cắn hại thì cây sẽ xác xơ, cằn cỗi. Cội cây khỏe mạnh nhưng bị bọn trẻ nghịch ngợm bẻ gãy ngọn thì sẽ tự tạo ra chồi non mới mà tiếp tục sinh trưởng. Khi mà phần ngọn, phần gốc gắn kết bền chặt với nhau nếu gốc rễ thiếu nước, cội cây sẽ điều tiết giúp rễ vươn dài đến nguồn nước đảm bảo cho cây sinh tồn. Thêm nữa, cho dù cội cây được đặt ở nơi có đầy đủ dưỡng chất nhưng thân cây hư rỗng, chồi lá thối nát thì gốc rễ cây sẽ ngập úng và cây bị chết,… Vậy gốc ngọn, cành lá, hoa trái, thân rễ,… phần nào là quan trọng nhất đối với cội cây? Tất cả cùng quan trọng vì sự tồn tại của mỗi bộ phận đều có chung giá trị đảm bảo cho cội cây sinh tồn và bộ phận quan trọng hơn chính thật là gốc rễ. Dù vậy tự thân gốc rễ cũng không thể là một cội cây hoàn chỉnh. Vậy điều quan trọng nhất cho sự sinh tồn ổn định của cội cây là gì? Điều quan trọng nhất không gì khác hơn là giữ cho các bộ phận gốc rễ, cành lá, chồi ngọn,… có được mối gắn kết bền chặt, hài hòa, cân đối.
Cũng lại như vậy, xã hội con người cũng cần phải có sự gắn kết hòa hợp với nhau giữa các thành phần, tầng lớp trong xã hội. Giai cấp lãnh đạo mà xa rời dân, rời gốc, không nắm bắt, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng người dân thì khó có thể điều tiết, lãnh đạo tốt đất nước. Hiện tại, nhân loại dường như đã hình thành một khoảng cách rất lớn giữa giàu nghèo, giữa các tầng lớp xã hội. Mỗi thành phần xã hội đều đang trói trong “Cơm áo gạo tiền”, danh lợi, địa vị, quyền hạn,… Thế nên sự gắn kết giữa các thành phần, tầng lớp xã hội, giữa người dân và giới lãnh đạo cơ hồ rất mong manh, dễ đứt gãy. Điều này được thể hiện qua sự rối ren, hỗn loạn xã hội trên thế giới, ở rất nhiều quốc gia do những biến động về chính trị, kinh tế, thiên tai, chiến loạn,…
Đã có vết nứt gãy, lỗi nhịp trong định hướng phát triển của nhân loại. Những nhà hoạch định chiến lược cứ mãi tung hô khẩu hiệu “Phát triển, phát triển và phát triển” nhưng họ đã quên không xác định được “Điểm dừng lại”. Điều mấu chốt quan trọng nhất của nhân loại là “Điểm dừng lại” mà nhân loại lại quên bỏ.
Phát triển thiếu định hướng, không bền vững nhân loại sẽ đi về đâu? Nhằm đơn giản vấn đề tôi sẽ đặt ra giả định bằng cách thu nhỏ trái đất lại: Giả như trái đất chỉ là một hòn đảo nhỏ với sức chứa 10.000 người. Ban đầu số người dân trên đảo chỉ có 2.000 người. Những nhà quản lý lẽ ra phải nhận biết và điều tiết thật hợp lý đảm bảo cho dân số trên đảo không vượt qua 10.000 người. Đó chính là “Điểm dừng” về dân số. Khi xác định được “Điểm dừng dân số” thì phải chăng những nhà quản lý sẽ cân đối xác định được “Điểm dừng” của các vấn đề khác. Ví như để đảm bảo cho 10.000 người no đủ đòi hỏi 50.000 tấn lương thực thực phẩm thì đó cũng chính là “Điểm dừng” về lương thực thực phẩm. Dựa trên những định mức cụ thể nhà quản lý sẽ đưa ra những chiến lược phát triển hợp lý cho xã hội. Khi mọi vấn đề đạt đến “Điểm dừng” thì nhà quản lý sẽ điều tiết xã hội đi vào ổn định, cân bằng. Tại sao cứ phải đặt mục tiêu phát triển mà thiếu đi sự định hướng cần thiết? Hạn chế dân số ở định mức 10.000 người lại tạo ra 100.000 tấn lương thực thực phẩm để mà làm gì? Ngược lại, việc không xác định “Điểm dừng dân số” phát triển dân số vượt mức thì việc thiếu ăn, đói nghèo dẫn đến tranh giành, giết chóc giữa người với người nhằm cân bằng lại dân số, hoặc là nhân loại tiến hành xâm lược, cướp bóc ở những hòn đảo khác - hành tinh khác. Người hiểu biết sẽ rõ biết “Đó không phải việc làm hợp đạo”. Tôi là người ngu ngốc, trí óc đơn giản nhưng tôi vẫn biết rằng “Khi tôi lấy một món đồ vật ở một ngôi nhà vắng chủ dù rằng không có người bắt gặp và tôi có che giấu tật xấu kín kẽ thì tôi vẫn là một tên trộm”. Khi tôi thực hiện hành vi xấu trên nhiều lần thì tôi sẽ trở thành tên trộm chuyên nghiệp. Khi chẳng may có người bắt gặp thì họ sẽ mắng tôi là “Tên trộm vặt xấu xa”.
Thực tế là việc ấm no, sung túc, hạnh phúc của một người, một gia đình, một dòng tộc, một đất nước, một hành tinh,… không thể xây dựng trên máu, mồ hôi, nước mắt hoặc là bằng phương cách trộm cướp từ người khác, ở nơi khác.
Phải chăng đây là vấn đề sai lầm ở nhận thức, tư duy của nhân loại?
Nếu thật đó là sai lầm của nhân loại thì phải chăng đã đến lúc phải sửa sai và vấn đề đặt ra là sẽ bắt đầu sửa sai từ đâu?
Có lẽ việc sửa sai sẽ bắt đầu ở trong tư duy, ý thức, nhận thức của mỗi người. Bạn có cho rằng “Đó là điều thật sự hợp lý” không?
Thế nên sự phát triển bền vững, ổn định ở mỗi người, gia đình, xã hội đều phải lấy nội tại làm nền tảng , lấy “Điểm dừng” có sự định hướng đúng mực của nhân loại làm căn bản.
Bạn cũng đừng vội đưa ra lời khỏa lấp: Trái đất không phải là một hòn đảo nhỏ”. Trái đất quá rộng lớn để xác định “Điểm dừng” cho mọi vấn đề. Bởi vì dù trái đất có rộng lớn đến mấy thì trái đất vẫn có giới hạn. Bạn đã ước lượng được trọng lượng hành tinh xanh. Vấn đề còn lại để xác định “Điểm dừng” chỉ là dựa vào sự hiểu biết và gắn kết giữa người với người trong nhân loại. Đây là việc làm thật sự cần thiết nhằm đảm bảo cho việc tồn tại trái đất bền vững, an toàn, ổn định.
Sự rối loạn nội tâm trong mỗi con người là nguyên nhân dẫn đến sự hỗn độn, rối ren cho nhân loại. Bạn hãy tự chiêm nghiệm, nhận biết và tìm ra lời giải cho một thế giới hòa bình, văn minh, thịnh vượng. Hãy tạo ra mối gắn kết bền chặt, hài hòa giữa các thành phần, tầng lớp xã hội, giữa người với người! Hãy sống có hiểu biết và yêu thương chân thành!
- Cân bằng lại nội tâm bằng sự hiểu biết.
Nền văn minh sẽ qua, nền văn minh từ năm 2012 trở về trước, xã hội con người đã tiến bộ không ngừng do sự hiểu biết của con người ngày càng nâng cao. Từ lâu xa, nhân loại thực sự đã phát triển tiến lên văn minh, hiện đại dựa vào những bất ổn nội tại có trong lòng nhân loại. Sự bất ổn nội tại khởi nguồn từ trong tư duy, nhận thức, ý thức của cá nhân mỗi con người. Thực sự trong mỗi con người luôn tồn tại sự nổi loạn cho dù người đó là ai và bạn cũng không là ngoại lệ.
Về vật chất, từ thời nguyên thủy con người luôn tìm kiếm, tạo ra và cả việc giành giật, trộm cướp mang về phần hơn cho bản thân, gia đình, dòng tộc, đất nước. Khởi nguồn cho sự nổi loạn chỉ khởi đầu ở vài cá nhân với mục đích mang lại lợi ích cá nhân và gia đình. Về sau, con người hiểu biết hơn, họ đã tranh giành nhằm mang về lợi ích cho dòng tộc và đất nước. Việc tranh giành đã nâng lên thành xâm lược, cướp bóc, chiến tranh. Việc tạo ra sản phẩm, hàng hóa cũng từ việc con người không bằng lòng với những gì đang có mà con người đã tìm tòi, sáng tạo, sản xuất ra lượng vật chất mới cho nhân loại.
Bạn hãy dừng lặng, đừng chấp chặt vào ngôn ngữ. Việc không chấp nhận hiện tại, ý thức tạo ra những cái mới hơn có khác biệt với sự nổi loạn không?
Cũng chính nhờ sự nổi loạn từ bên trong của mỗi con người mà nhân loại phát triển tiến lên. Nhưng sự nổi loạn nội tại cũng tự có khiếm khuyết. Bởi lẽ có sự nổi loạn nội tại giúp cho sự phát triển xã hội và có sự nổi loạn làm tha hóa giá trị con người, làm băng hoại xã hội. Xã hội hiện nay có dân số đông đảo với nhận thức chênh lệch, sự hiểu biết không đúng mực con người đã và đang sống thực dụng, ích kỷ thì sự nổi loạn nội tại có thiên hướng xấu đang nhấn chìm sự tiến bộ của loài người. Chiến tranh, hận thù, tàn phá thiên nhiên, tăng dân số, tệ nạn xã hội,… đều có xuất phát điểm từ sự nổi loạn nội tại tệ hại, không cần thiết của nhân loại.
Về tinh thần tâm linh, thời sơ khai con người sống bằng việc săn bắt và hái lượm. Ngày ngày, con người lo tìm kiếm cái ăn, cái mặc có đâu thảnh thơi mà nghĩ đến vấn đề tinh thần tâm linh. Khi xã hội loài người lớn mạnh có thêm nhiều hiểu biết việc giành giật, cướp bóc, giết hại đồng loại khiến tinh thần con người không an. Kết hợp với việc tiếp xúc mơ hồ với những người đã khuất dần dần hình thành các hình thức tín ngưỡng tâm linh. Đây là nền tảng cho sự ra đời và phát triển các loại hình tôn giáo của nhân loại. Có những thời điểm sự tàn ác khiến cho người được lợi lẫn kẻ bị hại đều rơi vào khủng hoảng nội tâm và những vị giáo chủ các tôn giáo đã ra đời. Họ đã trấn an thế giới tâm linh trong mỗi con người và làm cân bằng nội tâm nhân loại. Nhưng do sự thiếu hiểu biết sáng rõ, con người đắm chìm trong thế giới tâm linh, từ bỏ lao động khiến nhân loại đứng trước nguy cơ tuyệt diệt. Chủ nghĩa vô thần, duy vật đã hình thành giúp nhân loại tồn tại và phát triển tiến lên nền kinh tế hàng hóa. Do sự chủ quan, thiếu hiểu biết về thế giới tâm linh ý thức hệ mới của nhân loại đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Lẽ ra nhân loại cần dung hòa cân bằng hài hòa thế giới vật chất và tinh thần thì con người lại đi xóa bỏ, triệt tiêu thế giới tâm linh.
Việc làm chủ quan, kém hiểu biết của con người tất yếu xảy ra sự khủng hoảng nội tâm ở mỗi con người. Chủ nghĩa thực dụng man trá, tàn khốc ra đời lan tỏa rộng khắp là dấu hiệu để nhận biết giai đoạn khủng hoảng nội tâm sâu sắc, trầm trọng trong nhân loại. Sự rối loạn nội tâm đã khiến con người quay về nương tựa vào tôn giáo với sự hiểu biết mơ hồ về thế giới tâm linh - Kết quả của việc xóa bỏ, triệt tiêu chủ nghĩa duy tâm mà không có sự khách quan, hiểu biết. Niềm tin là điều mà các tôn giáo trói nhận thức, tư duy con người ở thời điểm khủng hoảng hiện tại.
Tin vào điều gì? Thực ra ngay cả những vị giáo chủ, những nhà lãnh đạo tinh thần cũng không rõ biết là phải “Tin vào điều gì?”. Bởi lẽ dù thành tín nguyện cầu họ cũng không nhận được một thông điệp cụ thể, rõ ràng từ Phật, các Đấng quyền năng,… Vì lẽ đó họ không thể có câu trả lời thỏa đáng, đúng mực cho sự mong chờ khắc khoải của các tín đồ thuần tín. Không có lối thoát cho việc giải tỏa bế tắc nội tâm, nhân loại đang khao khát một phép lạ, một Phật Di Lặc, một Thánh Massiah,…
Phải chăng nhân loại đã mặc định tin rằng “Phật Thích Ca Mâu Ni, Thánh Ala, Chúa Jesus,… là người của ngày hôm qua”?
Những điều tôi vừa trình bày để nhận biết sự nổi loạn trong nhân loại về tinh thần cũng không kém phần khốc liệt và sai lạc.
Nhân loại nên chăng nhìn nhận mọi vấn đề ở cả thế giới vật chất và tâm linh với góc nhìn tổng thể, khách quan, sáng rõ?
Khi hiểu biết sáng rõ thì tự khắc sẽ có giải pháp cân bằng cho sự nổi loạn nội tâm trong mỗi con người. Đừng trông chờ kỳ vọng vào sự xuất hiện của Phật Di Lặc, Thánh Massiah,… Vì lẽ những thành phần cơ hội luôn tồn tại, họ sẽ tạo dựng lên những vị giáo chủ mới mà bạn tôn thờ nhằm đánh cắp niềm tin, tài sản, gia đình, cuộc sống của bạn.
Hơn nữa, bạn chính thật là phép màu, là Phật Di Lặc, là Thánh Massiah,… chứ không là một ai khác.
Hoa ưu đàm 3000 năm mới hé nở một lần. Mỗi khi hoa ưu đàm nở, Thánh Vương sẽ xuất thế. Đó là những câu từ có thật ẩn trong kinh sách cổ. Nhân loại đang chờ đợi Thánh Vương xuất thế. Nhưng từ cái thật có trong kinh sách đã có cái không thật ở hiện tại. Hoa ưu đàm đã nở khắp mọi nơi, ai là người sống hơn 3000 năm? Hình ảnh hoa ưu đàm được miêu tả hay lưu giữ hơn 3000 năm ở nơi đâu để con người nhận biết “Hiện nay hoa ưu đàm đã nở”?
Tôi không “Đánh mất” niềm tin của bạn. Bạn đã có niềm tin “Hoa ưu đàm đã nở khắp mọi nơi”. Việc đó đồng nghĩa với việc sẽ có rất nhiều, rất nhiều Thánh Vương xuất thế và chỉ khi đó thì trái đất mới được tịnh hóa tinh sạch, tươi mới. Vì thế bạn hãy là phép màu, là Thánh Vương!
Trước đây, tôi hay nhìn nhận mọi việc ở sự tuyệt đối, sự hoàn hảo. Về sau, tôi nhận ra không có bất cứ điều gì là tuyệt đối hoàn hảo. Tôi đã từng thất vọng cho đến khi chấp nhận sự thật “Không có bất kỳ sự vật, hiện tượng nào chứa đựng sự hoàn hảo tuyệt đối”. Ngay lúc ấy, tôi nhận ra “Mọi sự vật, hiện tượng đều tuyệt đối hoàn hảo”.
Tuy nhiên, cũng chính do sự cầu toàn mà tôi không chấp nhận “Việc thay đổi một điều không thật bằng một sự giả tạo”. Cho dù mục đích của việc làm đó có chứa đựng ý nghĩa, mục đích cao khiết, thánh thiện - Làm cho nhân loại tốt đẹp hơn, giúp nhân loại quay về, nhận ra giá trị con người và sự sống. Nhưng mọi việc sẽ ra sao khi nhân loại nhận ra “Bạn đang cố đánh cắp niềm tin và hy vọng của họ”?
III. Sự nổi loạn nội tại trong bạn.
Đã có bao giờ bạn tự hỏi “Bạn đang sống vì điều gì?” và thành thật trả lời câu hỏi đó. Hẳn là không có nhiều người làm việc làm dường như ngớ ngẩn nhưng thật sự cần thiết đó. Bởi lẽ việc làm thiết thực đó sẽ giúp bạn định hướng được con đường bạn đi xuyên suốt cuộc đời.
Đã từ lâu nhân loại đã hình thành ý thức hệ định hướng dựa trên thói quen hay nói khác đi là dựa vào truyền thống. Con người sinh ra, lớn lên, lập gia đình. Việc di truyền nòi giống dòng tộc nhằm duy trì hương khói ông bà tổ tiên.
Lạ một điều là con người không thật sự rõ biết việc làm trở thành truyền thống trên có ý nghĩa gì?
Do vậy con người khi lớn lên sẽ tự ý thức ổn định công việc và xây dựng gia đình nhưng lại không tích lũy được lượng kiến thức, trạng thái tâm lý tinh thần cần thiết cho việc tạo dựng một gia đình cân bằng hài hòa, hạnh phúc. Vì lẽ lấy việc ổn định gia đình, công việc làm định mức và do không thật xác định được “Thế nào là hạnh phúc?”, con người đã không thực sự xác định được mục đích sống của tự thân một cách rõ ràng. Yếu tố nội tâm con người vì thế đã không được hàm dưỡng đúng mực.
Chủ nghĩa thực dụng ra đời và sự thiếu sự cân bằng nội tâm con người ngày nay đã sống lối sống đam mê hưởng thụ. Sự nổi loạn nội tại không định hướng dẫn đến sự tha hóa nhân cách, giá trị con người.
Bởi do không xác định mục đích sống con người đã lao vào những tệ nạn xã hội - mại dâm, ma tuý, bia rượu, cờ bạc, trộm cướp,… nhằm giải tỏa sự rối loạn nội tâm, phóng thích những ham muốn, đam mê về vật chất, thể xác và tinh thần. Vì mải mê với việc giành phần hơn về mình và sự đánh mất giá trị tự thân những con người đắm chìm trong tệ nạn xã hội nên không còn sáng suốt nhận ra “Để thọ hưởng những đam mê, sự phấn khích, niềm vui cuồng loạn,… họ đã lấy đi tài sản, nước mắt, sự hạnh phúc, ấm êm của người khác - Có thể họ lấy đi mọi thứ của người thua cuộc hoặc là của chính gia đình, người thân và cả bản thân”. Do không hiểu biết đúng mực con người đã lấy tiền bạc, tài sản, sự hạnh phúc,… và đổi về sự mất mát, đau khổ, nước mắt của con người, người thân, đổ vỡ gia đình,… để hưởng thụ những phút giây vui thú ngắn ngủi, giả tạm. Mọi việc chỉ khởi nguồn từ những trò chơi tiêu khiển khuây khỏa, giết thời gian nhàn rỗi. Sau cùng là sự túng quẩn, ly tán, đổ vỡ hạnh phúc gia đình. Điều đáng tiếc là xã hội con người đang rơi ngày càng sâu vào vũng lầy tăm tối mà không có được sự cảnh tỉnh từ các chuyên gia, các nhà tư tưởng định hướng xã hội.
Hiển nhiên là không có giải pháp khả thi nào được đưa ra, nhân loại sẽ đi về đâu?
Sự nổi loạn nội tại trong mỗi con người đang tiến lên mức cuồng loạn. Giá trị sống, nhân cách đảo lộn trong cuộc mưu sinh của mỗi cá nhân kéo theo sự mong manh, dễ đổ vỡ ở mỗi gia đình. Các nhà tư tưởng, chuyên gia tư vấn tâm lý hôn nhân và gia đình,… trói trong nỗi lo “Cơm áo gạo tiền”, địa vị, danh vọng, tiền bạc,… đã không nhận biết sáng rõ, không đưa ra những định hướng cụ thể cho việc phát triển một gia đình hài hòa, hạnh phúc.
Việc tăng dân số vượt mức đã buộc nhân loại đưa ra định mức “Mỗi gia đình chỉ được sinh từ 1 đến 2 con”. Việc kế hoạch hóa gia đình dựa trên hiện tượng của sự việc - việc gia tăng dân số mà không dựa vào bản chất của sự việc - ý thức, nhận thức, tư duy và sự hiểu biết ở con người đã hình thành một lỗ hổng sâu rộng ở gia đình trong xã hội.
Nhằm tiện cho việc trình bày tôi sẽ đưa ra một giả định cụ thể. Hiện tại, luật hôn nhân gia đình cho phép người nữ được kết hôn ở tuổi 18, người nam tuổi 20. Điều này đồng nghĩa với việc 25 năm sau hai người con đã trưởng thành. Cứ cho rằng gia đình này đã nuôi dạy con tốt, ở độ tuổi trên dưới 45 đầy sung mãn, trách nhiệm đối với con cái và gia tộc đã hoàn mãn. Nhất là khi gia đình không gắn kết bằng tình thương yêu và sự hiểu biết mà chính bằng trách nhiệm truyền thống thì sự nổi loạn nội tại của cả vợ lẫn chồng sẽ xé nát mái gia đình nhằm tìm kiếm cái mới lạ ở một con người khác - một gia đình tan vỡ, tạo ra hai hay nhiều gia đình khác mong manh hơn. Chủ nghĩa thực dụng là sống trong ham muốn, đam mê và hưởng thụ.
Điều tôi vừa trình bày phải chăng là một câu chuyện viễn vông, không thực tế?
Không chỉ vậy, tác nhân góp phần làm cho gia đình mong manh, dễ ly tán mang tên là “Phong trào bình đẳng cho nữ giới - Nam nữ bình quyền”. Việc giao thoa hai nền văn hóa Đông Tây đã du nhập hòa trộn các tư tưởng, các truyền thống văn hóa vào lẫn nhau. Đôi khi con người ngộ nhận, lầm lẫn không đủ sáng suốt nhận ra “Thế nào là đúng, là hợp lý”.
Người phụ nữ phương Đông có thật sự phải cần vùng lên mạnh mẽ để giành lấy quyền bình đẳng? Phải chăng người phụ nữ phương Đông đang bị chèn ép sống trong cảnh khốn cùng?
Có lẽ đã lâu lắm rồi, người phương Đông nhận biết rõ thật “Phía sau người đàn ông thành đạt luôn có bóng dáng của một người đàn bà”. Điều này không có nghĩa là vai trò người phụ nữ thấp kém hơn người đàn ông mà là phải có hậu phương vững chắc thì mới có được sự thắng lợi từ tiền tuyến. Thật ra đã có sự dung hòa cân đối vai trò của người phụ nữ và người đàn ông trong xã hội phương Đông. Vấn đề bạo lực gia đình vẫn có tồn tại nhưng đó chỉ là hiện tượng chứ không là bản chất ở nét văn hóa của gia đình phương Đông. Thực tế là vấn đề bạo lực gia đình vẫn tồn tại trong xã hội phương Tây với triết lý “Nam nữ bình quyền” - được cho là văn minh, tiến bộ. Thậm chí mức độ bạo lực gia đình ở phương Tây cao hơn hẳn ở phương Đông. Vì thế mà “Phong trào đòi quyền bình đẳng cho người nữ” mới ra đời ở phương Tây. Do không có sự hiểu biết sáng rõ các nhà tư tưởng, nhà văn hóa phương Đông đã ra sức tuyên truyền cho phong trào bình đẳng nam nữ. Việc làm thiếu sáng suốt này đã phá vỡ sự cân bằng vốn có ở các gia đình phương Đông, làm gia tăng bạo lực gia đình, tăng tỉ lệ ly hôn ở xã hội phương Đông. Do không đứng ở góc nhìn tổng thể, khách quan việc sửa sai dựa vào hiện tượng sự việc mà không dựa vào bản chất vấn đề thì con người càng sửa sẽ càng thêm sai.
Do sự vùng lên mà thiếu sự hiểu biết sáng rõ, người phụ nữ phương Đông đã không tiên liệu được “Điều gì sẽ xảy ra?”. Kết quả của việc vùng lên mạnh mẽ của người phụ nữ phương Đông là hôn nhân tan vỡ, con cái vắng cha, thiếu mẹ, thiếu tình thương yêu, xã hội rơi vào hỗn loạn. Lối sống hưởng thụ “Ông ăn chả, bà ăn nem” đã làm biến đổi gia đình. Lẽ ra gia đình là một mái ấm hạnh phúc, yên vui lại trở thành “Nấm mồ” chôn vùi tình yêu thương con người, là nơi chứa đựng đau khổ, tư thù và nước mắt.
Những đứa trẻ lớn lên thiếu tình thương yêu. Việc sớm dấn thân vào đời và dễ dàng tiếp cận tệ nạn xã hội, phim ảnh dung tục, ngoài luồng. Những “Gia đình trẻ con” được xây dựng tạm bợ ra đời. Điều gì đảm bảo cho “Gia đình trẻ con” bền vững?
Những năm gần đây, tỷ lệ ly hôn không ngừng tăng nhanh và độ tuổi ly hôn giảm dần qua từng năm chứng thực cho hôn nhân gia đình không thật sự ấm êm, hạnh phúc. Nhận biết được sự thật đó, một thành phần không ít giới trẻ hiện nay đã có xu hướng không thiết tha đến việc lập gia đình. Họ hoài nghi giá trị của mái ấm hạnh phúc, nghi ngại khả năng tìm được nửa còn lại hòa hợp, sợ nạn bạo lực gia đình, e dè tệ nạn ma túy, cờ bạc, rượu, người thứ ba,… Và hiện tượng sống thử, giới trẻ có xu hướng tạo ra những đứa trẻ mà không trói buộc vào việc kết hôn cũng như xây dựng một mái gia đình. Xu hướng này đã hình thành và lan tỏa trong xã hội loài người. Đây cũng kết quả của việc du nhập, giao thoa giữa các nền văn hóa.
Phải chăng mô hình “Gia đình kiểu mới” sẽ thống trị xã hội trong tương lai không xa? Việc gắn kết giữa người với người, giữa các thế hệ lấy gì làm nền tảng?
Tại sao độ tuổi ly hôn ở gia đình giảm dần?
Khi con người sống dựa trên cơ sở nhân cách đạo đức, tình yêu thương. Ở thời điểm cuộc sống còn nhiều khó khăn, gia đình đông con thì việc nuôi dạy, việc mưu sinh đã chiếm hết thời gian cũng như tâm trí của con người. Tình thương và trách nhiệm nuôi dạy con đã gắn kết gia đình. Cho đến khi con cái trưởng thành, cuộc sống ổn định, đầy đủ. Lúc bấy giờ, người cha mẹ đã có độ tuổi 55 - 60, việc nổi loạn nội tại và những mâu thuẫn vốn có từ trước không ngừng nảy sinh. Người cha, người mẹ dần thoát ra những ràng buộc nuôi dạy con đã thể hiện cái tôi lấn át người còn lại. Nếu những mâu thuẫn mới phát sinh không được dung hòa sẽ dẫn đến việc đổ vỡ gia đình.
Thực trạng gia đình hiện nay chỉ chăm lo một đến hai người con thì trách nhiệm nuôi dạy con có phần nhẹ nhàng hơn. Nhất là khi con người sống hưởng thụ, xem nhẹ tình thương yêu, cả trách nhiệm thì việc độ tuổi ly hôn giảm dần và tỷ lệ ly hôn tăng nhanh là điều không khó để lý giải.
Hôn nhân gia đình là nơi gắn kết những người biết sống yêu thương lẫn nhau, là duyên nợ nhiều đời. Bạn hãy trân trọng giữ gìn hạnh phúc gia đình vì đó là hạnh phúc của bạn và những người thân yêu.
“Mắt con trai, tai con gái” là câu nói thật sự có giá trị của người xưa. Trên thực tế trí thông minh, sự hiểu biết của người nam và người nữ là không có sự chênh lệch.
Vậy tại sao bạn dễ dàng nhận thấy người nam lại xử lý điều hành mọi việc có phần tốt, nhanh gọn và hiệu quả hơn người nữ? Điều gì đã tạo ra sự khác biệt đó?
Đó là vấn đề tầm nhìn, góc nhìn. Người nam thường nhìn nhận, đánh giá mọi vấn đề ở góc nhìn tổng thể, khách quan nên sáng rõ. Người nữ có tính phân biệt cao, đánh giá sự việc ở mức độ tỉ mỉ, gần sát nên thiếu sự sáng rõ, tổng thể. Chỉ đạt độ tinh tế cao ở từng bộ phận, từng khía cạnh. Vì vậy việc làm của người nữ có sự dính mắc, có tính sở hữu cao và đôi khi đánh mất sự khách quan. Mọi vấn đề đều đã được tích lũy từ lâu xa, trở thành thói quen, truyền thống và trở thành đặc trưng riêng cho mỗi giới. Khởi nguồn của sự khác biệt là do bởi người nữ dính mắc, trói buộc vào tình yêu mẫu tử thiêng liêng dần dần nuôi lớn tính ích kỷ, tính chiếm hữu, tính phân biệt so sánh.
“Mắt con trai” vốn đã có sự khiếm khuyết. Người nam chỉ mải nhìn đôi khi quên mất việc lắng nghe. Vì không chú ý lắng nghe người nam đã không thật sự thấu hiểu. Không hiểu nỗi lòng của người bạn đời, người thân về những vất vả của việc làm mẹ, nuôi con và quán xuyến việc gia đình. Thiếu sự cảm thông, quan tâm đến người bạn đời là đầu mối của việc “Đánh mất” hạnh phúc gia đình.
“Tai con gái” vẫn có điều không ổn. Người nữ mải lắng nghe nên quên mất việc nhìn. Không nhìn thấy được những khó khăn của người nam trong cuộc mưu sinh, người nam lại rất ít khi nói về công việc. Người nam sợ người bạn đời lo lắng, muốn thể hiện sự bản lĩnh, điểm tựa vững chắc của gia đình. Sự không thông hiểu giữa hai người bạn đời dẫn đến sự sai khác về lối sống, quan điểm,... tạo ra việc “Cơm không lành, canh không ngọt”. Nếu những bất ổn không được dung hòa, “Đất không chịu trời, trời không chịu đất” kết hợp với lối sống thực dụng thì ly hôn là giải pháp thường thấy được con người chọn lựa. Đúng thật là không hiểu biết thì không thể thương yêu.
Mọi giải pháp sửa sai dựa trên góc nhìn, tư duy hạn hẹp, lệch lạc,… nhằm làm thay đổi hiện tượng sự việc đều sẽ không thể tạo ra những kết quả tốt cho những vấn đề gây ra sự rối ren cho xã hội hiện nay.
Hãy giải quyết mọi việc dựa vào bản chất và góc nhìn tổng thể, khách quan, có sự hiểu biết sáng rõ. Bản chất của vấn đề là ở nội tại của mỗi người. Thế nên giải pháp cho mọi vấn đề là dùng sự hiểu biết sáng rõ, đúng thật nhằm giúp con người thay đổi nhận thức, ý thức, tư duy, giá trị của tự thân.
Mỗi người hãy tự đổi thay để cho cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, tươi vui hơn. Tại sao cứ phải chờ đợi sự thay đổi ở người khác, nơi khác mà không bắt đầu việc “Làm mới” ngay nội tại của bản thân. Hãy đổi mới ý thức, nhận thức, tư duy và giải phóng phép màu kỳ diệu mà mỗi người đang cất giữ. Nền văn minh mới khởi nguồn từ nụ cười vào mỗi sớm mai.
- Cội nguồn, khoảng trống và thực ại.
Từ xưa đến nay dường như không có một ngôi trường nào đảm nhận việc hướng dẫn, chỉ bày con người cách thức làm cha, làm mẹ một cách chuẩn mực, hợp lý. Đã từ lâu kỹ năng làm cha mẹ dựa vào nền tảng sự hiểu biết, nhận thức về cuộc sống, đời sống tinh thần của tự thân mỗi người,… và dựa vào bối cảnh tình hình xã hội mà con người đang sống.
Tuy nhiên, khi bạn mở lòng ra nhìn vào cuộc sống với một góc nhìn tổng thể, khách quan,… bạn sẽ nhìn ra được “một điểm chung” luôn tồn tại trong mọi gia đình. Bạn sẽ nhận thấy quy luật phát triển ở một dòng tộc bất kỳ giống như là quy luật nước ròng, nước lớn của một dòng sông. Ở những gia tộc bạn tìm hiểu sẽ có những giai đoạn mà mọi người trong dòng họ đó sang giàu, có truyền thống ham học, sống hiểu biết,… và xen lẫn với những giai đoạn những người trong dòng tộc đó rơi vào cảnh nghèo đói, khó khăn, truyền thống hiếu học bị xem nhẹ,… Người xưa đã đúc kết quy luật này thành một câu thành ngữ được ẩn dụ về thời gian “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Với tri thức ngày nay, con người sẽ biểu thị quy luật này thành một biểu đồ hình sin với những đường cong lên xuống. Tất nhiên là khoảng thời gian để gia tộc đó phát triển cực thịnh và giai đoạn suy tàn ở mỗi thời điểm là sẽ không giống nhau. Điều này lệ thuộc vào truyền thống giáo dục về nội tâm, đạo đức nhân cách con người ở mỗi dòng tộc. Quy luật “nước ròng, nước lớn” của mỗi dòng tộc gần như là luôn đúng. Cụ thể, nếu có một gia tộc đã trải qua nhiều đời nghèo khó, cơ khổ. Cha mẹ tần tảo, nuôi con cái ăn học. Những người con cháu trong dòng tộc nhận biết được tình thương của những người đi trước đã cố gắng “chăm học, chăm làm”. Cuộc sống dần xoay chuyển, gia tộc đó sẽ thoát cảnh nghèo khổ vươn lên giàu có. Trải qua nhiều đời, khi mãi sống trong cuộc sống giàu sang, vinh hiển những con cháu trong dòng tộc đó hình thành nên tư tưởng biếng lười, ỷ lại,… và thời điểm suy tàn của dòng tộc đó sẽ sớm hiện rõ.
Cho dù xuất phát điểm của mỗi dòng tộc là rất khác nhau nhưng quy luật thịnh suy giữa các gia tộc đều gần như tuân thủ vào quy luật con nước ròng, con nước lớn. Nếu cơ sở xây dựng gia tộc không dựa trên cơ sở nội tâm, tinh thần và sự hiểu biết của con người thì sự bền vững ở dòng tộc đó sẽ mong manh, dễ đứt gãy.
Trong bối cảnh xã hội hiện tại, lối sống thực dụng thiên về vật chất đã tạo ra những xáo trộn nhất định cho cuộc sống gia đình. Hiển nhiên là quy luật “nước lớn, nước ròng” ở mỗi gia đình sẽ không hề mất đi mà biểu hiện rõ hơn với những thời điểm thịnh suy dường như ngắn lại và có vẻ như nghiệt ngã hơn vì sự mâu thuẫn, rạn nứt, giành giật,… xảy ra là giữa cha con, chồng vợ, anh em, con cháu, người thân.
Tôi đã lặng lẽ bước qua ba mươi tuổi đời. Cái độ tuổi chưa đủ để gọi là từng trải nhưng cũng đủ chính chắn nhìn thẳng, nói thật về cuộc sống. Đã từng có lúc tôi sợ phải sống và tôi từng sống như là một cái xác không hồn. Tôi an nhiên nhìn đời và cơ hồ nhận ra bản chất cuộc sống mà xã hội loài người đang ngụp lặn, vẫy vùng,… Một vòng tròn lẩn quẩn mà con người dường như không nhận biết, không thể thoát ra. Con người từ lâu ngụp lặn trong tấm lưới sinh lão bệnh tử mà họ không còn trực nhận, họ quên mất mình là “cá nằm trong lưới”. Con người đang trói mình trong nỗi lo cơm áo gạo tiền - Đời sống vật chất và giới hạn về sự hiểu biết - Đời sống tinh thần nội tâm. Do không nhận biết nên con người đã không giữ được sự hài hòa, cân bằng giữa đời sống nội tâm và vật chất nên đã tạo ra sự xáo trộn, rối ren,... trong lòng mỗi người cũng như toàn nhân loại.
Tôi sẽ bắt đầu câu chuyện với những mối quan hệ trong gia đình. Tôi sẽ nói về mối nguy ở sự kỳ vọng của cha mẹ đối với con cái. Ý thức con người ngày nay ít nhiều bị vật chất chi phối khiến những người làm cha mẹ không chuẩn bị tri thức, nhận thức để nuôi dạy con tốt. Thế nên bạn sẽ dễ dàng nhận ra những người làm cha mẹ dạy con cái chối bỏ nguồn gốc của chính mình. Bạn sẽ không khó để bắt gặp những gia đình có học thức, trình độ hiểu biết cao như giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giám đốc, doanh nghiệp,… răn dạy, áp đặt con cháu “Hãy cố gắng học tập cho tốt, còn bằng học kém, ham chơi thì lớn lên sẽ phải cuốc đất, cày ruộng”. Còn những gia đình công nhân, nông dân thì cũng răn đe con cái bằng câu nói đại loại như “Con không học giỏi, mẹ cho con nghỉ học bán vé số, đánh giày,…” Bạn đừng vội trách tôi “Bới lông tìm vết” vì đó chỉ là những lời khuyên dạy con trẻ của người lớn. Bạn hãy nhìn vấn đề này thực tế một chút bạn sẽ nhận biết được vấn đề rõ thật là chính người lớn đã chối bỏ cội nguồn tổ tiên của chính họ.
Đời sống của người nông dân quá cơ khổ, lam lũ,… người lớn đã khuyên con cái ăn học nên người. Những người con trưởng thành và răn đe con cháu bằng những lời dạy của cha ông như là một thói quen hay là thật sự họ đã quên cội nguồn hoặc là họ muốn chối bỏ cái nguồn gốc mà xã hội cho rằng ngu dốt, thấp hèn. Bên cạnh đó, một niềm kỳ vọng, kiêu hãnh đã được đặt vào người con vì lẽ “Con hơn cha là nhà có phúc”. Bất kỳ gia đình sang giàu hay nghèo khó đều trói buộc, áp đặt,… con cái vào “lý tưởng” của cha mẹ.
Bạn nghĩ sao nếu mai này số lượng người thuộc tầng lớp trí thức, kinh tế, thượng lưu đông đảo hơn thành phần lao động nông dân, công nhân?
Đáng tiếc là tri thức con người đang xây dựng trên cơ sở lạc lối đó. Những người con gánh nặng trên vai niềm kiêu hãnh của cha mẹ liệu chúng có thể đạt được kỳ vọng, sở nguyện ở người lớn?
Nếu đạt được sự kỳ vọng thì những đứa trẻ sẽ thành công trong việc chối bỏ cội nguồn và chúng lại dạy bảo con cái hãy nên làm thế. Nếu không làm tốt thì những đứa trẻ sẽ không làm vừa lòng cha mẹ. Nỗi mặc cảm tội lỗi của người con, sự thất vọng nuối tiếc ở cha mẹ khiến cho những đứa con được xem là bất hiếu sẽ khó ăn ở ngay nơi đã được sinh ra. Tất nhiên mối quan hệ trong gia đình là rất đa biến thế nên không phải mọi việc đều diễn tiến như những gì tôi đã trình bày. Thực tế sẽ có rất nhiều tình huống khác xảy ra nhưng tôi chỉ muốn nhắc nhở bạn “Đừng dạy con cháu chối bỏ nguồn gốc và bạn phải tỉnh táo, sáng suốt tìm ra phương pháp nuôi dạy con cái tốt hơn”. Với góc nhìn sáng rõ, khách quan bạn sẽ nhận biết “Việc dạy con cái chối bỏ nguồn gốc trong lối sống thực dụng, bon chen, ích kỷ,… là việc làm rất thiếu hiểu biết. Có thể người cha, người mẹ sẽ vĩnh viễn mất đi người con”.
…
Hãy nuôi dưỡng nội tâm, tinh thần của thế hệ trẻ bằng việc rèn luyện con cháu bạn thói quen đọc sách lành mạnh và bổ ích!
Chương III
Dấu Vết Tàn Tro
- Ngược dòng lịch sử loài người.
Con người sơ khai, người nguyên thủy sinh sống chủ yếu bằng việc săn bắt và hái lượm. Lúc bấy giờ, thức ăn chưa nhiều, có phần thiếu thốn. Loài người sống chung cùng, mọi thứ đều được phân chia đồng đều. Mối quan hệ của các thành viên trong cộng đồng người là bình đẳng. Tổ hợp người sống cùng với nhau được gọi là thị tộc. Tập hợp nhiều thị tộc gọi là bộ lạc. Chế độ tồn tại ở xã hội nguyên thủy khởi nguồn là mẫu hệ. Người nữ đứng đầu trong cộng đồng thị tộc. Mọi thành viên trong thị tộc đều lắng nghe sự chỉ đạo, tổ chức phân công của người nữ đứng đầu thị tộc.
Vì sao chế độ mẫu hệ gắn liền với sự khởi nguồn của loài người? Tại sao người nữ lại điều hành xã hội loài người thời sơ khai và con cái lấy họ mẹ?
Nguyên do là tính bình đẳng trong xã hội nguyên thủy và do loài người hiểu biết chưa cao, chưa có sự phân biệt rõ ràng. Mọi việc thuận theo lẽ tự nhiên. Thế hệ trẻ tôn trọng thế hệ lớn tuổi. Ông bà, cha mẹ chăm lo, bảo bọc con cháu. Những đứa bé ra đời mặc nhiên quyến luyến người đã sinh ra chúng. Tính phân biệt chưa cao, những đứa trẻ đôi khi chẳng cần biết “Ai là cha?”. Người nữ đã đứng đầu thị tộc, bộ lạc dựa vào chính vai trò, vị trí sinh sản ra con người đảm bảo sự di truyền giống nòi, sự tồn tại thị tộc, dòng họ. Tổ chức xã hội thời nguyên thủy giống như là tổ chức của một tổ ong, tổ mối,… hoàn chỉnh. Trong tổ ong,… gồm có ong chúa, ong đực, ong thợ, ong con,… Đứng đầu tổ chức sống hoàn chỉnh là con ong chúa; ong chúa luôn luôn là ong cái, là con ong duy nhất có khả năng sinh sản nhằm đảm bảo cho tổ ong tồn tại và phát triển.
Con người dần tinh khôn hơn, sự hiểu biết hình thành nên sự phân biệt so sánh. Xã hội loài người đã đông đúc, sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều dẫn đến việc tư hữu trong xã hội con người. Những người đứng đầu trong cộng đồng người đã biết đến việc tích lũy riêng cho cá nhân, dòng tộc. Tình thương yêu đã có sự phân biệt rạch ròi. Sự gian xảo, mưu tính đã nảy sinh trong trí óc của người tinh khôn.
Tính phân biệt, sự hiểu biết,… đã nảy sinh vấn đề cướp bóc, xâm lấn giữa các bộ lạc. Những bộ lạc có tính cách hiền lành, nhu hòa thường bị các bộ lạc hung hãn chiếm lấy nơi ở tốt cũng như của cải tài sản.
Nguyên nhân nào khiến những bộ lạc hiền hòa phải rời bỏ nơi ở tốt mà không phản kháng, chống đối lại bộ tộc xâm lược?
Đó là kết quả ở sự ích kỷ trong tình thương yêu của người nữ. Những người đứng đầu bộ lạc vốn là người nữ đã vì tình thương yêu con cháu, dòng tộc. Họ không muốn xảy ra xung đột gây chết chóc người của bộ lạc nên rời đi. Sự nhu nhược của người đứng đầu bộ tộc đã khiến bộ lạc hiền hòa chịu nhiều thiệt thòi. Nhưng bộ lạc hung hãn vẫn chèn ép cho đến khi những người đàn ông trưởng thành trong bộ lạc hiền hòa vùng lên đòi lại những gì đã bị cướp đi. Sau nhiều cuộc vùng lên mạnh mẽ; sự hiểu biết nâng lên, người đàn ông trong bộ tộc nhận ra sức mạnh của bản thân và từng bước xóa bỏ chế độ mẫu hệ trong bộ lạc. Chế độ phụ hệ ra đời dựa trên cơ sở sức mạnh cơ bắp của người đàn ông và vai trò đảm bảo sự tồn tại giống dòng của người nữ không còn là vấn đề sống còn của bộ lạc. Nguyên do số người trong bộ lạc đã đông đúc, người nữ cũng không còn nhớ được vai trò, vị trí tối quan trọng của tự thân ở trong bộ lạc. Hơn nữa, với sức mạnh cơ bắp người đàn ông đã dập tắt ý chí tự chủ cũng như khả năng phản kháng của người nữ. Chế độ phụ hệ ra đời đã không còn tùy thuận theo tự nhiên mà do sự hiểu biết, tính phân biệt và lòng tham có ở con người.
Từ đó, nhân loại đã phát triển xây dựng con người theo con đường trái với tự nhiên, không thuận theo đạo.
Xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến,… con người đã xây dựng chế độ phụ hệ chuyên chính, tước đoạt tất cả vai trò, vị trí, quyền lợi,… của người nữ. Nhằm nắm vững vai trò, vị trí xã hội người đàn ông cùng với việc tham đắm dục vọng, chế độ đa thê ra đời và lan rộng ra khắp nhân loại. Đã có thời gian sức mạnh, quyền hạn, sự thành đạt,… của người đàn ông được dựa trên cơ sở số người nữ mà người đàn ông chiếm hữu. Các bậc vua chúa, vương hầu,... lập ra “Tam cung, lục viện” nhằm thể hiện sức mạnh quyền lực và bản lĩnh đàn ông để nhiếp phục thiên hạ quần hùng. Về sau, do việc tham đắm nữ sắc các vị vua đã sa đọa, trụy lạc. Kết quả của việc làm trái đạo là các hôn quân sớm chết kéo theo một hệ lụy - Người dân rơi vào cảnh khốn cùng, lầm than. Xã hội loạn lạc, chiến tranh triền miên. Ngày nay, không ít người vì tham đắm thú vui xác thịt và việc thiếu sự hiểu biết về cân bằng âm dương nội tại ở cơ thể người dẫn đến tinh lực suy, khí lực cạn, hỏa khí vượng,... đốt cháy “tâm can tỳ phế thận” tạo ra hàng loạt căn bệnh xã hội quái ác, khó trị. Căn bệnh thế kỷ HIV là một trong số những căn bệnh nguy hiểm mà nguyên nhân phần nhiều là do hành vi trái đạo của con người mang lại,...
Việc dùng quyền hạn, sức mạnh áp chế của người đàn ông kéo dài trải qua rất nhiều thế hệ đã làm thay đổi nhận thức, ý thức, tư duy của toàn nhân loại. Nhân loại mặc nhiên thừa nhận “Người nữ là phái yếu, người nam là phái mạnh” và trói sự hiểu biết nhân loại vào quan điểm lầm lạc đó. Từ việc dùng sức mạnh cơ bắp để tước đoạt vai trò lãnh đạo và xây dựng xã hội dựa trên tham dục của người đàn ông mà xã hội mặc nhiên thừa nhận “Người đàn ông mạnh mẽ ở tất cả mọi phương diện”. Nhưng điều đó không là sự thật, khi dùng sự hiểu biết tổng thể, khách quan nhân loại sẽ nhận ra “Sự thật dường như trái ngược hoàn toàn”.
- Người đàn ông có thật sự mạnh mẽ hay sự yếu đuối của người nữ?
Dựa vào yếu tố y học để xác định độ mạnh mẽ giữa người nam và người nữ. Theo y học cổ truyền thì việc bốc thuốc cho người bệnh tuân thủ theo nguyên tắc “Nam thất, nữ cửu”, điều này cho thấy khả năng đề kháng và tiếp nhận liều lượng thuốc ở người nữ có phần cao hơn người nam.
Dựa vào việc phát triển tâm sinh lý thì việc dậy thì ở người nữ ở độ tuổi 9 - 14 tuổi còn ở người nam là 12 - 15 tuổi. Những năm gần đây thì độ tuổi dậy thì đang trẻ hóa rơi vào 8 - 9 tuổi, tỷ lệ dậy thì sớm ở người nữ vẫn cao hơn người nam.
Theo những thống kê gần đây, số đông người nam thừa nhận khả năng sinh lý của cá nhân “yếu đuối” hơn hẳn người bạn đời. Khả năng chịu đựng các “cú sốc” tinh thần, chấn động tâm lý ở người nam cũng kém hơn hẳn người nữ. Thất tình, mất việc, người thân chết,… dễ khiến người nam rơi vào tuyệt vọng, nghĩ quẩn. Tỷ lệ người đàn ông có vợ chết trước cũng mau chóng “theo gót” người bạn đời cao hơn hẳn số người nữ có chồng chết sớm.
Dựa vào khả năng hấp thụ các chất kích thích như bia rượu, thuốc lá, ma tuý, mại dâm,… người nữ cao hơn hẳn người nam. Dù rằng số lượng người nữ sử dụng bia rượu không hơn người nam bởi do truyền thống văn hóa nhưng khi những người nữ bước qua giới hạn truyền thống, thể hiện sự bình đẳng thì cánh đàn ông “sâu rượu, mọt bia” đều phải “Ngã mũ” thừa nhận “Xin thua các chị”.
…
Tất cả những vấn đề trình bày ở trên cho thấy sức mạnh của người nam chỉ thể hiện ở “Vai u, thịt bắp” còn các vấn đề về khả năng chịu đựng, sức mạnh tinh thần, nội tâm, sinh lý, sức khỏe, tình dục,… giữa hai giới cần nên “Xét lại”.
Tri thức nhân loại dựa trên góc nhìn chủ quan, phiến diện và trói vào ngôn ngữ lẫn tư duy, nhận thức hạn hẹp đã phát triển xã hội con người tạo ra hàng loạt sai lầm.
Trong nhận thức, con người đã dùng tư duy và ngôn ngữ để phân biệt việc quan hệ tình dục với nhiều ngôn từ khác nhau. Nếu việc quan hệ dựa trên sự đồng thuận giữa hai người yêu nhau thì tạm gọi là “Sự thăng hoa của tình yêu”. Việc quan hệ tình dục dựa trên cơ sở mua bán, trao đổi thì tạm gọi “Mại dâm”. Việc quan hệ tình dục có xuất phát từ một người, không được sự đồng thuận của người còn lại và tùy mức độ thì có các cách gọi “Lạm dụng tình dục”, “Cưỡng dâm”, “Hãm hiếp”,…
Được và mất? Thật ra khi “Xét lại” việc quan hệ tình dục giữa người nam và người nữ, ai là người được? Ai là kẻ mất? Tri thức nhân loại đã từ lâu tin rằng “Người nam được và người nữ mất”, thế nên những người đàn ông “Ham của lạ” sẽ phải bỏ một số tiền để mua “Cảm giác thỏa mãn”. Kết quả là vừa mất tiền, vừa mất sức. Điều đáng ngạc nhiên là con người lại đang hài lòng trói mình trong những nhận thức, tư duy lầm lạc. Việc cố thể hiện “Sự mạnh mẽ không thật” ở người đàn ông gián tiếp làm suy kiệt thể lực, tinh thần và đổ vỡ sự ấm êm gia đình,...
Được và mất? Thật ra vấn đề quan hệ tình dục xét theo tự nhiên vốn không vướng vào quan niệm được mất. Quan hệ tình dục là nhằm bảo đảm sự duy trì sự sống tồn tại. Chỉ đến khi con người xa rời tự nhiên, có lối sống hưởng thụ và giới hạn vào hiểu biết, tư duy, nhận thức sai lạc thì việc được mất, hơn thua,… sẽ làm đảo lộn trật tự xã hội.
Phong trào bình đẳng giới ra đời mà không thật sự nhận biết “Ai là phái mạnh?”. Nhận thức, tư duy nhân loại tạo ra ý thức hệ “Vùng lên” ở người nữ, gián tiếp làm gia tăng sự “Yếu đuối” ở người nam trong xã hội hiện đại. Người đàn ông ngày càng trở nên “Nữ tính hóa”. Giới tính thứ ba cũng không ngừng gia tăng nhanh về số lượng với nguyên do - Tôi quá “mạnh mẽ” để là một cô gái yếu đuối, tôi quá “yếu đuối” để làm một người đàn ông “thực thụ” kết hợp với lối sống hưởng thụ, đam mê, phóng túng... Với góc nhìn tổng thể, khách quan bạn sẽ rõ biết “Tất cả mọi vấn đề dường như đã tích lũy qua rất nhiều đời, nhiều kiếp luân hồi trong 3 cõi 6 đường”.
Ý thức sống dựa trên cơ sở “Người nam là phái mạnh” đã khiến người nam đi tìm kiếm người tình để thọ hưởng cũng như là níu giữ lại “Sự mạnh mẽ”,...
Việc “Vùng lên” kết hợp việc nổi loạn nội tại và sức mạnh thật sự sẵn có ở người nữ gây ra một biến động lớn lao, có tác động xấu làm đổ vỡ gia đình, rối loạn xã hội.
Lối sống thực dụng, ham thích thể hiện của giới trẻ, việc dậy thì sớm, rối loạn tâm sinh lý,… những bé gái ở tuổi vị thành niên tập tành làm người lớn sẽ là “Con mồi” cho những người đam mê dục vọng. Kết quả là có những người cao tuổi đứng sau song sắt vì hành vi “Giao cấu trẻ vị thành niên”. Còn nạn nhân thì bị khủng hoảng tinh thần và khi không có ý thức, nghị lực sống thì sẽ trượt dài trên con đường sa đọa, trụy lạc,…
Những rối loạn về nhận thức dẫn đến căn bệnh biến thái giới tính, sinh lý ở không ít người. Những con người đó đam mê thỏa mãn dục vọng theo bản năng bất chấp luân thường, đạo lý, tình người. Những việc làm xấu xa, tệ hại,... sẽ khiến cho những con người đó mê loạn khi già yếu, lương tâm giày vò. Họ sẽ vật vã, đau đớn lúc lìa đời. Không có lấy một người thân bên cạnh. Khi chết, họ sẽ đi về đâu?
Tạo hóa rất công bằng, con người phải trả giá cho những việc làm sai trái, thiếu hiểu biết của tự thân. Ai sẽ là “Người phán xét” công bằng, khách quan để trừng phạt những con người tội lỗi? Khi còn sống, lương tâm của mỗi người sẽ luận tội cho những việc làm, hành vi ở mỗi người. Nhất là khi con người rơi vào tình trạng già yếu, bệnh tật. Khi chết, những việc làm sai trái dù đã trải qua nhiều kiếp vẫn sẽ tái hiện lại và khiến những người tạo tội ác do tham đắm, sân hận, si mê,... rơi vào những nẻo xấu trong 3 cõi 6 đường. Phật Thích Ca gọi đó là nghiệp quả của mỗi người. Sau thời gian học hỏi, hành trì pháp Phật tôi rõ biết “Lời nói của Như Lai là lời không hư dối, là lời đúng thật”.
…
Tất cả những lầm lạc của con người ngày nay là do nhân loại tự trói vào sự hiểu biết giới hạn, góc tư duy hạn hẹp, chủ quan và sự hẹp hòi, ích kỷ của lối sống thực dụng. Từ đó, dẫn đến sự lầm lạc có hệ thống trong tư duy, nhận thức, ý thức của nhân loại. Đây là những lầm lạc không chỉ mang tính truyền thống, thói quen mà là những lầm lạc vượt không gian, thời gian, ăn sâu vào trong tâm thức con người và truyền từ đời này sang đời khác. Nói khác hơn là những lầm lạc này đã vượt khỏi giới hạn về thế giới vật chất, ngôn ngữ mà thuộc về thế giới tâm linh vô hình.
Sự sai lầm về nhận thức, tư duy, việc quên bỏ giá trị con người, việc không hiểu rõ nguồn gốc, bản chất của sự sống,… con người đang nhấn chìm nhân loại bằng chiến tranh, thù hận, thiên tai, dịch bệnh và đau khổ. Chỉ có sự hiểu biết sáng rõ về bản chất, giá trị sự sống, con người thì con người mới nhận biết rõ thật những sai lầm trong nhận thức, tư duy. Từ việc nhận biết sự sai lầm ở góc nhìn tổng thể, khách quan dựa vào bản chất vấn đề con người mới có thể đưa ra những giải pháp sửa sai thật sự hiệu quả. Sửa sai ngay trong ý thức, nhận thức, tư duy ở mỗi người giúp con người nhận ra giá trị tự thân trong cuộc sống, xã hội. Sự hiểu biết sẽ làm thay đổi nhận thức, giá trị con người.
Chương IV
Nhận Diện Sai Lầm
- Khoa học.
Khoa học đang định hướng dựa trên hàng loạt những sai lầm và đã có không ít tiền của nhân loại được dùng phí phạm cho tri thức sai lầm đó.
Khoa học đang tìm cách trả lời câu hỏi “Vũ trụ là có giới hạn hay không có giới hạn?”. Và sẽ vĩnh viễn không có câu trả lời đúng, cuối cùng cho câu hỏi đó. Vì sao? Vì câu trả lời tùy thuộc vào tầm nhìn của kính viễn vọng và các trang thiết bị quan sát hiện đại không ngừng phát triển đã làm tiêu tốn một lượng tiền của, vật chất khổng lồ. Mỗi khi con người tiến xa hơn thì sẽ nhìn thấy nhiều hơn nhưng không thể nhìn thấy được hết toàn phần vũ trụ và đôi khi nhìn lại thì con người lại nhận biết rằng “Ta đã đánh mất rất nhiều thứ”. Câu hỏi “Vũ trụ hữu biên hay vô biên?”, đó thật sự là một câu hỏi sai nên không thể có được câu trả lời đúng và dẫn đến nhiều sai lầm khác. Việc tìm câu trả lời “Vũ trụ có giới hạn không?” giống như là việc lớn lên của một con người. Khi còn bé, đứa bé chỉ quanh quẩn trong nhà. Đứa bé nhìn ra khoảng trời bên ngoài nhận biết sự rộng lớn xung quanh ngôi nhà, đứa bé e dè, sợ sệt thế giới bên ngoài. Tầm nhìn của đứa bé là vũ trụ chỉ giới hạn xung quanh ngôi nhà. Lớn lên, hiểu biết thêm một chút đứa trẻ nhận định “Vũ trụ chỉ giới hạn nơi chú sống, có thể là một vùng quê nghèo hoặc một thành phố lớn”. Sau đó, chàng trai trẻ hiểu biết hơn “Đất nước mình chỉ là một hành tinh và vũ trụ bao gồm nhiều hành tinh giống như đất nước mình đang sống”. Chàng trai trẻ háo hức lên đường tìm hiểu những hành tinh xa xôi như nước Đức, Anh, Pháp, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Phi,... và chàng trai dần tin rằng “Vũ trụ là không có giới hạn” nhưng chàng trai lại đi tìm “Sự không giới hạn của vũ trụ”. Cho đến khi chàng trai không còn trẻ, người đàn ông quay về đất nước, về nơi đã sinh ra. Cha mẹ, dòng tộc không còn ai. Người đàn ông nhận ra rằng “Quê hương, đất nước - Nơi được sinh ra mà con người còn không rõ biết”. “Vũ trụ là vô biên hay hữu biên?” đã cướp mất tuổi trẻ, hạnh phúc, gia đình và cả sự hiểu biết về cội nguồn của con người. Phần lớn tài sản của gia đình không còn vì người đàn ông đã ném chúng vào khoảng không vô nghĩa. Người đàn ông không còn trẻ cô độc sống hết những ngày còn lại với câu hỏi “Ta là ai?”. Cũng lại như vậy ngành khoa học vũ trụ đang “Ném tiền qua cửa sổ” để nhìn ngắm “Sự huyền ảo của vũ trụ về đêm”. Họ cứ ngỡ “Họ đang ở ngoài vũ trụ”. Thế nên sự đói nghèo, dịch bệnh, chiến tranh, thiên tai,… sẽ không ảnh hưởng đến họ. Nếu may mắn trái đất còn tồn tại thì ngày họ trở về sẽ nhận biết “Ta chẳng còn ai” và cô độc sống với những chuỗi ngày còn lại trong sự mông lung, huyễn hoặc.
Với khối lượng tiền của được hỗ trợ dồi dào, nhân loại cần một câu trả lời về thành tựu mà khoa học thu được. Hình ảnh kỳ ảo của vũ trụ, những thiên hà, ngân hà, khái niệm về vật chất tối, năng lượng tối, lỗ đen vũ trụ,… Sự hình thành và biến diệt của những hành tinh, những thiên hà,… Lỗ đen nuốt chửng và làm mất hút những hành tinh,… Giá trị của thành tựu khoa học đạt được dựa trên định hướng sai lầm thật sự không có nhiều ý nghĩa và tự có khiếm khuyết. Lỗ đen làm mất hút hoàn toàn vật chất là do sự giới hạn của tri thức khoa học. Điều này không đúng với định luật bảo toàn vật chất với đại ý “Vật chất không tự sinh ra cũng không tự mất đi, vật chất chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác, từ nơi này sang nơi khác”. Định luật bảo toàn vật chất về cơ bản không có sự khiếm khuyết.
Điều mà các nhà thiên văn học nhận biết, thu được ngoài không gian không có nhiều khác biệt so với việc nghiên cứu vật chất ở cấp độ phân tử, nguyên tử. Trong đó hình ảnh kỳ ảo của các thiên hà, ngân hà là hình ảnh các nguyên tử kim loại, tinh thể phi kim được phóng đại cực lớn. Hạt nhân là hành tinh, electron là vệ tinh, proton, nơtron, điện tích âm, dương, từ trường là năng lượng tối, vật chất tối,… Sự trao đổi electron giữa các nguyên tố là lỗ đen hút mất vật chất và thực tế vật chất vốn không mất đi. Phải chăng việc tìm hiểu khoa học không gian cũng như nghiên cứu khoa học ở cấp độ nguyên tử, phân tử dường như cũng không sai khác nhiều với việc tìm hiểu dòng chảy của con sông với bên lở, bên bồi hoặc tìm hiểu sự sinh trụ dị diệt của vật chất, hay vòng sinh lão bệnh tử của con người? Tất cả chỉ là những biến chuyển chứ không là quá trình diệt tận.
Sự thật là có rất nhiều việc gần gũi, thiết thực với chính tự con người mà bạn còn không rõ biết. Mục đích sống thực sự của bạn là “Đi tìm và bắt lấy điều gì?”. Khi bạn không có mục tiêu rõ ràng bạn chỉ quẩn quanh mà không thu được những kết quả cụ thể.
Lý thuyết về Vụ Nổ Lớn - Bigbang đã tự có sai lầm. Giả thuyết cho rằng “Vụ Nổ Lớn là khởi nguồn cho việc hình thành vũ trụ và trái đất” là không có cơ sở. Vì để tạo ra được vụ nổ thì trước đó đã phải có vật chất chứ không thể có việc không có gì mà xảy ra một Vụ Nổ Lớn. Nếu giả định này là đúng thì vật chất có trước Vụ Nổ Lớn mới tạm gọi là khởi nguồn của vũ trụ.
Từ lâu đã có một luồng tri thức nhân loại tin rằng “Sẽ có một ngày con người vượt qua giới hạn không gian, thời gian để chụp lại hình ảnh của Vụ Nổ Lớn cũng như là hình ảnh của vũ trụ, trái đất thời sơ khai”. Điều này có thể không? Cơ sở đưa ra giả định này có phần phức tạp nhưng nhằm đơn giản thì giả định trên dựa vào cơ sở “Hai người xuất phát tại cùng một vị trí cách La Mã 5000 km, người đi bộ trước 12 tháng, người còn lại đi tàu cao tốc. Vì thế hiển nhiên là người đi tàu cao tốc sẽ bắt gặp, vượt qua và đến La Mã trước người đi bộ. Giả thuyết có vẻ hợp lý nhưng lại có lỗ hổng, người đi tàu cao tốc vượt qua người đi bộ chứ không thể vượt qua thời điểm nơi chính anh xuất phát và anh cũng không thể nhìn thấy bản thân tại nơi xuất phát khi đến được La Mã”. Lý thuyết về cỗ máy vượt không gian, thời gian đã không thực tế. Tôi 40 tuổi không thể vượt không gian, thời gian 20 năm để gặp tôi 20 tuổi. Vì khi đó tôi 40 tuổi gặp tôi 20 tuổi, vậy ai là tôi? Vật chất nào tạo ra tôi 20 tuổi, vật chất nào tạo ra tôi 40 tuổi? Sai lầm tiếp nối những sai lầm.
Y học hiện đại đang nghiên cứu tế bào mầm, phôi thai người, sinh sản vô tính,… để tạo ra các cơ quan bộ phận cấy ghép cho người bệnh nhằm hạn chế việc mua bán nội tạng người sống. Vấn đề dường như thể hiện tính nhân đạo, là việc cứu người. Nhưng xét lại cũng là việc “Giết nhiều người, cứu một người”. Xem ra cũng không phải là việc làm hợp đạo. Y đức của người thầy thuốc sẽ xấu hổ khi làm việc trái lương tâm. Con người, có ai mà không chết? Khi người bệnh nhận thức, rõ biết điều đó thì sẽ không vì mạng sống của bản thân mà phải lấy đi sự lành lặn, toàn vẹn của một người còn sống khác. Sự hiểu biết sẽ làm thay đổi nhận thức, giá trị con người.
Khoa học phát triển không ngừng. Hàng loạt vũ khí hủy diệt, tên lửa tối tân, chiến hạm hiện đại, siêu bom hạt nhân,... dùng để giết rất nhiều người. Khi đó, những con người tạo ra chúng vênh vênh tự đắc “Đây là một thành tựu vượt bậc của khoa học hiện đại”. Họ thờ ơ hay quên mất việc “Họ đang tạo ra một món đồ dùng để giết rất nhiều đồng loại” và đôi khi món đồ lấy mạng của chính họ. Nhân loại vẫn cứ vô tâm, bàng quan “Chuyện của thiên hạ”.
Tôi tự thẹn và miễn cưỡng mượn lời người xưa nói lại “Người hiểu biết không đi mà biết, không nhìn mà thấy rõ”.
Nhân tiện tôi sẽ viết lại một câu chuyện được trích trong tác phẩm “Đường Xưa Mây Trắng” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Đỉnh Cao Của Nghệ Thuật
Con đường này Phật đã từng đi. Người đi thong thả và ngắm nhìn cảnh vật.
Trời gần trưa, người ghé khất thực ở một xóm ven đường, rồi người mang bát đi vào một khu rừng yên tĩnh gần đó để thọ trai. Thọ trai xong, Phật đi kinh hành trong rừng và sau đó người tìm một gốc cây im mát ngồi xuống để tĩnh tọa. Được sống trở lại một mình trong rừng, Phật rất hoan hỷ.
Người ngồi tĩnh tọa được hồi lâu thì thấy một đám thanh niên đi ngang. Đây chắc là những thanh niên con nhà khá giả bởi vì người nào cũng ăn mặc tươm tất sạch sẽ. Họ vào khoảng ba mươi người. Nhiều người cầm nhạc cụ trong tay. Thấy Phật, họ dừng lại, thanh niên đi đầu cúi chào và hỏi:
- Sa - môn, ông có thấy một cô gái mới chạy ngang qua đây không?
Phật hỏi lại:
- Các bạn tìm cô gái ấy để làm gì?
Người thanh niên kể lại đầu đuôi câu chuyện. Bọn họ đều là dân thành phố Banarasi. Họ vào rừng này từ sáng để tổ chức một cuộc vui. Họ có đem theo nhiều nhạc cụ và một cô vũ nữ. Sau khi đàn hát, múa nhảy và ăn uống, cả bọn đều tìm chốn ngã lưng để ngủ trưa. Trong khi mọi người ngủ trưa, cô gái đã đánh cắp một số những đồ châu báu trang sức của bọn con trai và bỏ đi mất. Các chàng trai thức dậy thấy thế rủ nhau đi lùng bắt cô gái.
Phật nhìn các chàng trai và trầm tĩnh nói:
- Này các bạn, trong giờ phút này các bạn nên đi tìm cô gái hay là nên đi tìm chính các bạn?
Các cậu con trai ngạc nhiên. Phong thái của ông thầy tu đã đặc biệt mà câu hỏi của ông ta cũng đặc biệt. Câu hỏi đó làm cho các cậu giật mình. Họ rủ nhau ngồi xuống, vây quanh Phật. Chàng trai đầu đàn nói:
- Bạch sa - môn, có lẽ chúng con nên đi tìm chúng con trước.
Phật nói:
- Sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại, nhưng tâm ta ít khi chịu an trú trong giây phút hiện tại. Tâm ta hay ưa trở về quá khứ hoặc vọng đến tương lai. Ta cứ tưởng ta là ta, nhưng quả thực ta chưa hề thực sự tiếp xúc ta với ta, bởi vì tâm ta cứ rong ruổi chạy theo những ảo ảnh của quá khứ và của vị lai. Chỉ có một phương cách duy nhất để tiếp xúc với sự sống đích thực: Đó là trở về với giây phút hiện tại. Nếu các em biết trở về với giây phút hiện tại thì các em trở nên tỉnh thức và lúc đó các em mới có cơ hội tìm được các em. Các em hãy nhìn những đọt lá xanh và ánh sáng mặt trời đang lọc qua những đọt lá ấy. Các em đã từng có dịp thật sự ngắm nhìn màu xanh của lá cây trong trạng thái trầm lặng và tỉnh thức của tâm tư chưa. Màu xanh ấy là một khía cạnh vi diệu của sự sống. Nếu các em chưa bao giờ thực sự nhìn màu xanh ấy thì bây giờ đây các em hãy thử nhìn đi.
Các chàng thanh niên yên lặng. Theo ngón tay trỏ của Phật, họ ngước nhìn những ngọn lá xanh đang run nhẹ dưới làn gió thoảng của buổi trưa hè. Một lát sau, Phật quay lại với chàng trẻ tuổi ngồi gần bên người, và nói:
- Em có ống sáo, vậy em hãy thổi sáo đi.
Chàng thanh niên hơi ngạc nhiên một chút, nhưng cũng lấy sáo ra. Ngồi lại ngay ngắn, anh ta đưa sống sáo lên thổi. Mọi người lắng nghe. Tiếng sáo đượm buồn như tiếng than khóc của một cuộc tình duyên lỡ dỡ. Trong khi anh thổi sáo, mắt Phật không rời khỏi anh.
Khúc sáo chấm dứt. Rừng trưa đượm buồn. Mọi người im lặng, Phật cũng im lặng.
Bỗng nhiên người thanh niên thổi sáo quay lại, cầm đưa ống sáo cho Phật:
- Sa - môn, ngài thổi sáo đi.
Phật mỉm cười. Tất cả các chàng trai đều cười rộ. Ai cũng cho anh chàng là ngộ nghĩnh. Đã có ai đưa ống sáo để bảo một vị sa - môn thổi bao giờ. Nhưng Phật đã đưa hai tay tiếp nhận ống sáo. Mọi người đều nhìn về vị sa - môn, sự tò mò trong mỗi người được kích thích.
Phật thở những hơi thở thật dài và thật nhẹ, rồi người nâng ống sáo lên ngang miệng. Hình ảnh người con trai thổi sáo năm xưa trong vườn Thượng Uyển thành Kapilavatthu hiện ra trong Phật. Đó là một đêm trăng. Đó là bà Maha Pajapati ngồi trên ghế đá đang im lặng lắng nghe. Đó là Yasodhara với đỉnh trầm thơm mới đổi.
Phật bắt đầu thổi sáo.
Tiếng sáo nhẹ như một làn khói nhỏ lơ lửng và nhẹ nhàng đi lên từ một mái tranh nghèo nào đó ở ngoại thành Kapilavatthu trong giờ nấu cơm chiều. Rồi làn khói bỗng nhiên tỏa rộng trên không gian như một đám mây.
Đột nhiên đám mây biến hình thành một đóa hoa sen ngàn cánh, mỗi cánh hoa một màu sắc khác nhau lấp lánh trong ánh nắng chiều. Đột nhiên một người thổi sáo biến thành một ngàn người thổi sáo, tất cả những màu nhiệm của vũ trụ đều được chế biến thành âm thanh, âm thanh muôn màu muôn sắc, âm thanh khi thì nhẹ như gió thoảng, khi thì mau như tiếng mưa rào, khi thì trong như tiếng hạc, khi thì đậm đà như tiếng ru con, khi thì sáng rỡ như ngọc lưu ly, khi thì hùng vĩ như tiếng hải triều, khi thì im lặng như nụ cười của người đã thoát ly được sự hơn thua còn mất. Chim chóc trong rừng đã im hơi lặng tiếng và gió chiều cũng đang thổi rì rào trong lá. Rừng được bao phủ bởi một không gian thanh tịnh, an lạc và nhiệm màu. Tất cả các chàng thanh niên ngồi bên Phật đều trở nên tỉnh táo một cách kỳ lạ. Họ hoàn toàn sống trong giây phút hiện tại, tiếng sáo đưa họ về với những màu nhiệm của giây phút hiện tại. Họ có rừng cây, họ có Phật, họ có tiếng sáo, họ có nhạc, họ có bản thân họ. Tiếng sáo đã chấm dứt, nhưng tiếng sáo vẫn còn, không có chàng thanh niên nào nghĩ tới cô vũ nữ và những châu ngọc bị đánh cắp.
Họ ngồi yên lặng rất lâu. Cuối cùng chàng thanh niên thổi sáo lên tiếng hỏi Phật:
- Sa - môn, thầy thổi sáo thật hay, con chưa bao giờ nghe ai thổi sáo diệu kỳ như vậy. Thầy đã học với ai? Con có thể theo thầy để học thổi sáo được không?
Phật mỉm cười:
- Hồi nhỏ, tôi đã học thổi sáo, nhưng bảy năm nay tôi không có dịp thổi. Đây là lần thứ nhất tôi thổi sáo trở lại sau bảy năm, nhưng tiếng sáo bây giờ lại có chất liệu hơn tiếng sáo ngày trước.
- Tại sao thế, thưa sa - môn? Tại sao sau bảy năm không tập dượt mà tiếng sáo thầy lại hay hơn?
- Thổi sáo hay không phải là chỉ do tập dượt nhiều. Sở dĩ tôi thổi được hay hơn ngày xưa là tại vì tôi đã tìm được chính tôi. Nghĩa là tôi đã tìm ra được đạo giác ngộ. Em không thể đạt được tới chỗ tuyệt vời của nghệ thuật nếu em không lên tới được chỗ tuyệt cùng của tâm linh. Vì vậy nếu em muốn thổi sáo hay thì em phải tu học theo con đường tỉnh thức.
Rồi Phật bắt đầu giảng cho các chàng thanh niên về đạo giác ngộ, về bốn sự thật và con đường Bát Chánh. Ba mươi người thanh niên nghe người giảng đều được tỏ ngộ. Tất cả đều quỳ xuống tỏ ý xin làm môn đệ xuất gia của người.
Phật vui lòng làm lễ xuất gia họ ngay tại chỗ, và bảo ba mươi chàng thanh niên tìm ngay về vườn Lộc Uyển để gặp đại đức Kondanna, Người dặn họ trình bày tự sự với thầy Kondanna rồi xin thầy cho cạo bỏ râu tóc, khoác áo khất sĩ và thọ lãnh những lời chỉ dẫn tu học. Người bảo trong một tương lai gần họ sẽ được gặp lại người.
Đêm ấy, Phật nghỉ trong rừng. Sáng hôm sau, người vượt sông Hằng, rồi theo bờ sông đi về phương Đông.
Qua câu chuyện, tôi đặt lại câu hỏi “Trong giờ phút này bạn đi tìm cô gái hay tìm chính bạn trước?”
- Tôn giáo.
Chủ nhật, ngày 12 tháng 3 năm 2000, tại thánh đường Phero - Roma, Đức giáo hoàng John Paul II, đại diện cho Giáo hội công giáo La Mã với gần một tỷ tín đồ, đã đưa ra lời xưng thú “7 núi tội lỗi”.
- Xưng thú “tội lỗi chung”.
- Xưng thú tội lỗi trong khi phục vụ “chân lý”.
- Xưng thú tội lỗi đưa đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô.
- Xưng thú tội lỗi trong sách lược bách hại dân Do Thái.
- Xưng thú tội lỗi trong những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển.
- Xưng thú tội lỗi trong sự kỳ thị phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ.
- Xưng thú tội lỗi trong việc “Vi phạm những quyền căn bản của con người”.
Lời xưng tội của giáo hội Công giáo được đưa ra nhằm xin nhân loại tha thứ cho những hành động làm phương hại đến hòa bình thế giới và quyền con người. Những hành động qua gần 20 thế kỷ đã đưa đến những thảm họa to lớn cho nhân loại như Thánh Chiến, Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, kỳ thị phái nữ, xâm lăng văn hóa, ý đồ thống trị và thái độ thù nghịch đối với những tôn giáo khác, bách hại dân Do Thái, gây chia rẽ trong cộng đồng Ki Tô, liên kết với những thế lực thực dân, phát xít,…
Sự thành thật và việc làm quả cảm của Đức giáo hoàng John Paul II thật đáng khâm phục! Điều này cho thấy khi dùng sự hiểu biết chân chánh và sự thành thật con người sẽ bước qua nỗi sợ của bản thân, lịch sử dám nhìn thẳng, nói thật về những điều mình rõ biết. Tôi thật sự khâm phục Đức giáo hoàng John Paul II!
Việc làm của Đức giáo hoàng khẳng định một sự thật “Con người không thể chỉ sống bằng niềm tin và hy vọng. Con người cần sống có hiểu biết để nhận ra giá trị của chính mình”.
Lời chân thành gửi đến Đức Giáo hoàng và Giáo chủ của tất cả các tôn giáo đương đại. Hãy mang sự hiểu biết đến cho các tín đồ thuần thành. Họ tin tưởng bạn vì thế bạn hãy xứng đáng với niềm tin của họ.
Sự hiểu biết về thế giới tâm linh có ở đâu? Tất cả có đầy đủ trong Tam tạng kinh của Phật Thích Ca, có trong tâm của mỗi người khi con người thật sống.
Phải chăng tôi đang cố đồng hóa những tôn giáo khác quy thuận về đạo Phật?
Không ích gì, trong tôi đạo Phật vốn chẳng thật có. Công giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Do Thái giáo,… tất cả được gọi là tôn giáo. Tôn giáo là gì? Nếu dùng ngôi ngữ giả lập để nói về tôn giáo thì tôn giáo chỉ có thể tạm gọi là “Ngôi nhà tâm linh”.
Lời nói gửi đến Đức Đạt lai lạt ma. Ngài đã phải sống lưu vong để đòi lại quyền lợi cho người dân Tây Tạng. Ngài hãy xét lại việc làm đó có đáng không? Máu, nước mắt, tiền của, sức lực, nỗi đau khổ, sự hận thù,… ngày càng thêm chồng chất và con đường Ngài đang đi có chứa đựng sự vô vọng. Đạo Phật là bất tranh, bất bạo động. Đạo Phật là sự hiểu biết để thương yêu. Ngài đã có sự hiểu biết và niềm tin của nhân loại. Phải chăng ngài nên dùng sự hiểu biết để hóa giải hận thù, chiến tranh và đau khổ ở con người?
Đại quốc giả hạ lưu, thiên hạ chi giao, thiên hạ chi tẫn.
Tẫn thường dĩ tĩnh thắng mẫu, dĩ tĩnh vi hạ. Cố đại quốc dĩ hạ tiểu quốc tắc thủ tiểu quốc. Tiểu quốc dĩ hạ đại quốc tắc thủ đại quốc.
Cố hoặc hạ dĩ thủ. Hoặc hạ nhi thủ. Đại quốc bất quá dục kiêm súc nhân. Tiểu quốc bất quá dục nhập sự nhân.
Phù lưỡng giả các đắc sở dục, đại giả nghi hạ.
Nước lớn thì như là vùng nước thấp, vùng nước thấp thường là chỗ quy tụ nước của tất cả sông ngòi, kênh rạch,… vì thế vùng nước thấp giống như là mẹ của các sông ngòi, kênh lạch,… Vì nước lớn như là vùng nước thấp nên sẽ là nơi quy tụ của các nước nhỏ, giống như là mẹ của các nước nhỏ. Nếu nhà cầm quyền hiểu rõ lẽ đạo này thì khi đó sẽ có cách ứng xử với các nước nhỏ như tấm lòng của người mẹ đối với con cái, phải có sự yêu quý, tôn trọng chủ quyền các nước nhỏ.
Nước lớn mà tôn trọng nước nhỏ thì nước nhỏ sẽ tự thuần phục, không chống đối. Ngược lại, nước nhỏ mà tôn trọng nước lớn thì nước lớn sẽ che chở, giúp đỡ.
Khi nước lớn và nước nhỏ cùng khiêm hạ, tôn trọng lẫn nhau thì thiên hạ sẽ thái bình, không xảy ra chiến tranh loạn lạc. Vì bởi nước lớn sở dĩ muốn gồm thâu nước nhỏ cũng chỉ vì muốn bảo hộ, xây dựng. Nước nhỏ sở dĩ chống đối lại cũng chỉ vì muốn tự chủ, không bị lệ thuộc vào nước lớn.
Nếu cả nước lớn và nước nhỏ đều hiểu tận cùng đạo lý, cùng khiêm hạ thì cùng đạt được mục đích, sở cầu của mỗi nước. Nhưng điều cốt yếu trước nhất - đó là nước lớn phải khiêm hạ, phải như là vùng nước thấp.
Nhân đây, tôi cũng gửi lời nhắn đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh “Đường xưa mây trắng đã viết lại con đường của Phật Thích Ca đi rất đẹp và chân thật”. Lời chúc sức khỏe xin được gửi đến Thiền sư. Tôi cám ơn Thiền sư rất nhiều!
III. Xã hội.
Phải chăng nhân loại đang xây dựng trên nền tảng sự cường thịnh, giàu có,… của một gia đình, một quốc gia dựa trên sự đói nghèo, bệnh tật, khổ đau, dốt nát,… của một gia đình, một quốc gia khác?
Bạn dễ dàng nhận thấy ở các nước phát triển sẽ giới hạn việc tiêu thụ các sản phẩm như bia rượu, thuốc lá, các chất kích thích,… nhưng lại cho phép sản xuất hàng loạt các mặt hàng kể trên để xuất khẩu sang nước khác nhằm thu về nguồn lợi nhuận khổng lồ.
Tại sao các nhà quản lý hạn chế tiêu thụ bia rượu, thuốc lá,… trong nước? Vì lẽ những sản phẩm trên sẽ gây bệnh tật, làm tha hóa nhân cách, sức khỏe của con người. Họ bảo vệ sức khỏe thể chất, tinh thần cho người dân trong nước. Còn vấn đề sức khỏe tinh thần, thể chất của người dân nước khác? Đó là chuyện của thiên hạ.
Lối sống thực dụng và việc không rõ biết về giá trị của tự thân con người đang tranh giành tiền bạc, tài sản,… về cho cá nhân bằng mọi hình thức, thủ đoạn gian xảo, tinh vi. Cờ bạc, cá độ, số đề, ma tuý, bia rượu,… sẽ khiến con người sống trong đau khổ, tan nát gia đình, hỗn loạn xã hội.
Tại sao những tệ nạn xã hội vẫn tồn tại?
Lòng tham của con người và việc con người đang lầm lạc sống trong một môi trường “Tự lừa mình, dối người”. Vì những mối lợi nhỏ mà con người đã dối lừa nhau. Sống mãi trong dối lừa con người đã quên mất “Sự thật”, tạo ra những tệ nạn làm rối ren xã hội.
Số đề có nguồn gốc từ đâu? Đã có bao gia đình ly tán, đổ vỡ? Bao nhiêu người đã chết vì những con số rủi may? Nước mắt đã đổ dài trên những gương mặt người cha, người mẹ, người vợ, người con,… khi có người thân vướng vào số đề. Tại sao xã hội không thể dẹp bỏ tệ nạn này? Bởi lẽ bạn đang sửa sai vấn đề dựa vào hiện tượng vì thế vấn đề sẽ không thể giải quyết triệt để. Mai này, các nhà quản lý xóa bỏ ngành xổ số kiến thiết và tệ nạn số đề sẽ không còn gây nhiễu loạn cho xã hội. Giá trị của ngành xổ số kiến thiết là ích nước lợi nhà và giải quyết công ăn việc làm cho một số người. Khi con người không nhiều hiểu biết, nước nhà còn nghèo việc xây dựng đất nước thông qua việc xổ số kiến thiết nhằm thu gom nguồn vốn nhàn rỗi trong dân là việc làm thiết thực. Nhưng đã qua rồi thời điểm khó khăn, ngành xổ số kiến thiết nên chăng tháo bỏ vì những tiêu cực nảy sinh và phát triển sâu rộng. Trên thực tế, ngành xổ số kiến thiết không tạo ra vật chất mà lại là việc hao tốn không ít tiền của. Đau khổ chất chồng, nước mắt đã đổ. Phải chăng đã đến lúc gỡ bỏ ngành xổ số kiến thiết?
Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị con người. Người dân hiểu biết sẽ tự có ý thức chung tay đóng góp, xây dựng đất nước khi xã hội rơi vào cảnh khó khăn. Điều quan trọng nhất là bạn phải xứng đáng với niềm tin của người dân. Đừng dối lừa nhau.
Cá độ dựa vào điều gì mà tồn tại? Thể thao là những môn giải trí, thư giản tinh thần. Nhân loại đã phạm sai lầm khi đặt vai trò, vị trí những môn thể thao nhầm chỗ. Thể thao cũng không là ngành tạo ra sản phẩm vật chất. Người nông dân, công nhân, trí thức,… nghĩ gì khi so sánh những đồng lương còm cỏi với thu nhập hàng tháng của những vận động viên bóng đá, bóng chày,… Thật không công bằng, không hợp lý. Thật không đúng. Nhưng nhân loại lại chấp nhận điều không đúng đó như là một lẽ thật. Không chỉ vậy, từ sự không hợp lý tồn động trong ngành thể thao đã nảy sinh nhiều tiêu cực cá độ, bán độ, sự nhũng nhiễu trong giới thể thao,… Lòng tham là đầu mối của những khổ đau. Lẽ ra các nhà quản lý và giới thể thao nên nhận biết vị trí, giá trị thực sự của ngành. Có lẽ đã đến lúc đặt ngành thể thao về đúng vị trí. Có lẽ đã đến lúc phân công lại thu nhập giữa các ngành nghề trong xã hội cho hợp lý hơn.
Ngành văn hóa truyền thông, truyền hình, phim ảnh, quảng cáo,… là ngành có rất nhiều ảnh hưởng, chi phối đến tư duy, nhận thức, sự hiểu biết của con người,… Tuy nhiên, hiện nay nhân loại đang xây dựng ngành truyền thông làm một công cụ hữu hiệu để dối lừa nhau. Những trò chơi truyền hình may rủi, vô bổ,… Những chương trình quảng cáo không thể hiện đúng với thực tế, giả trá,… lẽ ra không được quảng bá rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng. Ai thắng, ai thua? Mặc, ta có được một khoản tiền. Những bộ phim dung tục hướng dẫn con người biết sống thủ đoạn, thực dụng, tàn độc hơn,… Phải chăng tiền có thể mua được tất cả? Nhân cách, giá trị của con người sẽ đánh đổi bằng một khoản tiền. Lối sống thực dụng, ích kỷ, xấu xa và nghiệt ngã. “Có tiền mua tiên cũng được” - câu nói người xưa phải chăng trở thành chân lý sống của ngày nay? Bạn hãy nên tỉnh táo, sáng suốt khi chọn lựa việc “Đánh đổi” giá trị nhân cách con người bạn bằng một khối tiền hay lượng vật chất tương đương. Vì sẽ không có vật gì có thể có giá trị tương đương với giá trị con người bạn dù rằng “Giá trị con người” không thể cân đo, đong đếm, nhận dạng và làm một “Món đồ ăn”,... Hãy trân quý giá trị của tự thân vì đó là phần người trong con người của bạn. Đừng để chủ nghĩa thực dụng nhấn chìm bạn như là nhấn chìm một chiếc lá vàng rơi.
Ngành chứng khoán, địa ốc, bất động sản, ngân hàng,… nên chăng xét lại vai trò, vị trí trong xã hội. Dường như có điều không hợp lý khi một người bỏ ra một số tiền hoặc tài sản lớn rồi chờ đợi người khác lao động cật lực để mang tiền của về cho mình. Người lao động chỉ nhận một ít “Giá trị thặng dư” được tạo ra. Những cổ đông lớn chỉ rong chơi và hưởng thụ.
Con người đang sống với “Trái tim vô cảm” chăng? Nhân loại còn “Tình người” không?
Tôi cũng xin cám ơn “Những trái tim biết yêu người” đã bỏ ra những khoản tiền lớn để mang mùa xuân về cho những người nghèo khó, khốn cùng trong cơn bão khủng hoảng tài chính Châu Âu. Cám ơn những Mạnh Thường Quân đã chi trả tiền giúp cho dân nghèo mua được những món đồ trả góp trước thềm xuân 2012. Tôi cám ơn vì bạn đã cất lên tiếng nói “Nhân loại vẫn còn có tình yêu thương chân thật”.
Hoa Kỳ và các nước trong khối liên minh NATO đã bỏ ra bao nhiêu tiền của, tài sản cho những cuộc chiến Irac, Apganixtan, LyBia,… và số tiền đó mang sứ mạng giết người, gây đau khổ, khoét sâu thù hận. Hàng năm có bao nhiêu tiền của được đổ vào việc sản xuất vũ khí, trang bị quốc phòng, tập trận chiến lược. Hệ thống lá chắn tên lửa của Hoa Kỳ, hệ thống phòng thủ tên lửa chung Châu Âu và Nga lại là bao nhiêu tiền? Châu Âu đang khủng hoảng kinh tế lại dư tiền của để đầu tư cho mục đích tạo chiến tranh và thù hận. Tại sao câu chuyện vô lý trên lại hóa thành sự thật? Các cường quốc quân sự vẫn bào chữa cho tham vọng bá chủ của một số ít người “Ta cần nâng cao khả năng chiến đấu phòng thủ nhằm bảo vệ đất nước, chống lại những cuộc tấn công từ xa của những thế lực thù địch”. Ai đủ khả năng tấn công các cường quốc quân sự? Người dân các quốc gia nghèo, kém phát triển chăng? Thật sự nhân loại hiểu biết sẽ không ai muốn sống trong chiến tranh, khổ đau và thù hận. Nên chăng dừng lại việc sản xuất vũ khí, chạy đua vũ trang. Ai sẽ làm điều đó? Con người với sự hiểu biết sẽ tháo gỡ ngòi nổ của chiến tranh và thù hận. Bạn sẽ cất tiếng nói, thể hiện lập trường yêu hòa bình, yêu tự do vì sự phồn vinh, thịnh vượng và an toàn của trái đất.
Nếu có thể bạn hãy làm một phép tính thống kê đánh giá lại số tiền mà các cường quốc quân sự đầu tư cho vũ khí hạt nhân, cho chiến tranh, tập trận,… là bao nhiêu? Cũng như lượng tiền rót vào các gói cứu trợ kinh tế mà các nước lâm vào khủng hoảng nợ công và các nước nghèo đói, kém phát triển đang cần? Tại sao ý thức hệ của nhân loại lại chấp nhận việc “Con người sẵn sàng bỏ tiền ra để giết người” mà không sẵn lòng “Lấy tiền nhàn rỗi để cứu người”? Giá trị con người, sự hiểu biết của con người phải chăng đã bị lòng tham và sự thù hận “Bóp chết”?
Khủng hoảng nợ công Châu Âu, các nước đang thực hiện chính sách “Thắt lưng buộc bụng”. Nhưng mỗi thành phần, tầng lớp trong xã hội đều sống thực dụng, ích kỷ vì “Cơm áo gạo tiền”, vì địa vị, quyền lợi cá nhân. Giải pháp “Thắt lưng buộc bụng” có phải là giải pháp tối ưu? “Thắt lưng buộc bụng” ai đây? Nếu những thành phần, tầng lớp xã hội ở một quốc gia khủng hoảng đều sống với “Trái tim biết yêu người” tự khắc vấn đề khủng hoảng kinh tế, nợ công sẽ được giải quyết triệt để. Mọi vấn đề khủng hoảng sẽ được giải quyết triệt để khi những con người trong mỗi quốc gia cùng chung tay với giai cấp lãnh đạo nhằm tháo gỡ những khó khăn. Cần có sự gắn kết bền chặt và sự thông hiểu giữa các thành phần, tầng lớp trong xã hội. Những nhà kinh tế, những chính khách giàu có với khối tài sản khổng lồ dường như có đủ khả năng giúp đất nước vượt mọi khó khăn. Giải quyết mọi vấn đề phải dựa vào nội tại cũng như là bản chất thì mới thật sự là giải pháp khả thi, hiệu quả.
Hy Lạp đã nhận những gói cứu trợ cần thiết nhưng kết quả nhận được có tương thích với lượng tiền bỏ ra. Nếu Hy Lạp không còn khả năng chi trả cho những khoản vay thì những chủ nợ lớn sẽ làm gì? Cấm vận kinh tế chăng? Bóp chết nền kinh tế của một đất nước đang rơi vào khủng hoảng có lấy lại được “Giá trị thặng dư” của nhân loại. Tạo ra cuộc chiến tranh để lấy lại những gì đã mất chăng? Lấy máu và nước mắt con người để giành giật lại “Khối tiền, tài sản chưa cần dùng đến”. Có lẽ giải pháp xóa nợ cần được xét đến vì “Tiền của thiên hạ nên trả về cho thiên hạ”.
Tại sao các nước Châu Âu đều rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công?
Một là lòng tham và sự ích kỷ của giới chính trị, kinh tế, quốc phòng, khoa học, con người. Hai là sự gắn kết giữa người dân và giới lãnh đạo là không bền chặt không dựa trên sự hiểu biết. Sẽ không có việc khủng hoảng nợ công nếu con người không ích kỷ, thờ ơ, không dám nhìn thẳng, nói thật những suy nghĩ, hiểu biết của chính mình ở góc nhìn tổng thể, khách quan và sáng rõ.
Nước Đức đã đưa ra giải pháp tăng tuổi nghỉ hưu cho người lao động từ 65 tuổi lên 67 tuổi nhằm giúp đất nước vượt ra cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ tạo tiền lệ xấu cho sự phát triển xã hội. Nhiều quốc gia sẽ làm theo dẫn đến hàng loạt những sai lầm.
Có thực tế không khi phát triển đất nước dựa trên nền tảng sức lao động của những người cao tuổi?
Con người vốn tự có lòng tham, sẽ rất ít người ý thức việc dừng lại khi vẫn còn khả năng kiếm được rất nhiều tiền. Đôi khi con người không nhận thức được việc “Kiếm thật nhiều tiền để làm gì?”.
Lý giải cho việc gia tăng tuổi nghỉ hưu là nhằm giảm gánh nặng cho việc đóng góp quỹ phúc lợi xã hội ở lao động trẻ là điều không thật hợp lý. Quỹ phúc lợi, lương hưu trí vốn dĩ đã được người lao động đóng góp khi bước vào tuổi lao động. Khi nghỉ hưu họ chỉ lấy lại những gì thuộc về họ. Giá trị thặng dư họ đã tạo ra khi tham gia lao động là đủ để họ sống nhàn hạ đến cuối đời. Việc tăng tuổi hưu còn tạo ra việc thiếu việc làm cho giới lao động trẻ dẫn đến mất cân bằng xã hội. Giới trẻ không có việc làm sẽ nổi loạn, rơi vào những tệ nạn xã hội,…
Thật sự nếu được chọn lựa sẽ không ai chọn làm người xấu mà không làm người tốt.
Tội phạm, trộm cướp, khủng bố, bắt cóc, tống tiền,… họ là ai?
Họ cũng là những con người biết sống, biết yêu thương người như mọi người. Họ đã túng quẩn trong việc mưu sinh, họ đã đi lầm đường. Một số lượng không nhỏ những người lạc lối nhận thức được việc làm sai trái. Họ đã muốn quay trở lại nhưng xã hội đã ruồng bỏ, không chấp nhận. Vì họ không có điểm tựa vững chắc nên ngày càng lún sâu vào con đường tội lỗi, xấu xa. Nếu nhân loại thực sự đang sống trong nền văn minh tiến bộ thì hãy rộng mở cửa đón những con người lầm lạc quay về hoặc là giúp họ nhận ra giá trị thật sự có trong con người của họ. Sự hiểu biết sẽ làm thay đổi nhận thức, giá trị sống ở con người.
Biến đổi khí hậu toàn cầu không thể giải quyết trên bàn đàm phán. Đã có nhiều cuộc hội nghị cấp cao diễn ra khắp mọi nơi, Hiệp định thư Kyoto,… Kết quả là không gặt hái được nhiều thành công. Không ít tiền của được đầu tư cho những cuộc gặp quan trọng. Nơi gặp gỡ của những cuộc hội nghị thượng đỉnh là những phòng ốc sang trọng, đèn điện sáng choang, máy điều hòa không khí vẫn đều đều hoạt động,... Ta không thể kêu gọi, hô hào mọi người tắt một bóng đèn điện để hạn chế sự nóng lên của trái đất khi mà ta không phải là người đầu tiên thực hiện thao tác đó. Giải pháp cho việc biến đổi khí hậu toàn cầu đang thực hiện trên ngọn cây. Nhân loại là gốc dường như đã bị bỏ quên khi con người bước vào bàn đàm phán. Việc chống biến đổi khí hậu không thể thực hiện bằng những lời nói suông mà bằng những hành động thật sự thiết thực. Tôi không cho rằng “Những cuộc hội nghị liên thông giữa các nước là không cần thiết” nhưng “Hãy làm cho những cuộc gỡ cấp cao thật sự có giá trị”. Hãy giúp con người tự ý thức “Tắt một bóng đèn” hơn là kêu gọi, hô hào “Mọi người hãy tắt một bóng đèn”. Vì lẽ họ sẽ “Tắt một bóng đèn” khi bắt gặp cái nhìn của bạn.
Bệnh tật, đói nghèo,… sẽ được đẩy lùi khi con người thật sự có hiểu biết, sống trong tình yêu thương chân thật.
Tôi đã từng được biết đến những bữa tiệc thừa mứa với giá trị bằng cả một gia tài của người nghèo và những con người thưởng thức bữa tiệc đó đều sớm chết vì bệnh béo phì, tiểu đường, bệnh gut,… Có lẽ khi họ cầm những cái chén, cái ly rượu sang trọng và thưởng thức những món ăn thượng hạng, họ đã không bắt gặp được ánh mắt thèm thuồng của một em bé mồ côi, của một bà lão già nua đói rét, đang run run cầm chiếc nón lá,… Họ là những con người giàu có, sang cả nhưng “Phải chăng họ đã sống vô cảm với đời?” Họ ngỡ họ hạnh phúc, sung túc, no đủ. Nhưng thật ra họ chưa từng tiếp xúc với hạnh phúc chân thật. Họ không thật sự no đủ. Họ đã thiếu, đã mất rất nhiều thứ - sức khỏe, tình yêu thương, giá trị của sự sống và cuộc sống ở hiện tại.
Nếu bạn muốn dưỡng nuôi “Trái tim biết sống để yêu người”, bạn hãy bớt một chén cơm, một con cá, một quả trứng,… trong mâm cơm chiều ở gia đình bạn gửi đến những người khốn khó. Con bạn cần học cách sống biết yêu thương. Hơn nữa, việc bớt một chén cơm trong khẩu phần ăn, bạn sẽ có thêm một ngày sống khỏe mạnh, an vui.
Tôi đã đi vài nơi và bắt gặp những lời nguyền “Tôi thà vất đi những thức ăn thừa chứ không bố thí cho những gã ăn mày biếng việc dù chỉ là một đồng xu lẻ”, “Tôi thà đem ném tiền qua cửa sổ chứ không cho những người nghèo khó, thấp hèn”,... Tại sao lại có những lời nguyền cay độc? Đó là kết quả của việc “Tình thương yêu, lòng nhân hậu,… bị lợi dụng, bị dối lừa”. Những người thốt ra những lời nguyền trên vốn dĩ là một người có tấm lòng bồ tát, biết yêu thương người. Nhưng họ đã bắt gặp những người khốn khó được họ giúp đỡ “Thay hình đổi dạng” ngồi thưởng thức những món ăn đắt tiền. Họ được biết số tiền của họ được ném vào canh bạc, số đề, cá độ,… Dường như những người thốt ra lời nguyền đã sai khi quyết định “Từ bỏ yêu thương” vì ngoài kia vẫn còn có rất nhiều người sống trong khốn khó, cần giúp đỡ. Hãy nên xả bỏ lời nguyền vì việc giúp người là việc đáng làm, đáng trân trọng và điều đó góp cho bạn nhiều nguồn vui. Hãy nhìn lại việc giúp người ở khía cạnh khác hơn. Việc bạn giúp người khác một số tiền, một món tài sản,… sẽ mang niềm vui đến cho người khác và cho chính bạn, thế là đủ. Bạn đừng kỳ vọng cũng như xét nét người được cho sẽ làm gì với số tiền của bạn. Điều đó là không thật sự cần thiết vì tiền của bây giờ đã là của họ. Bạn vướng bận, để tâm đến việc tốt đã làm sẽ khiến bạn mất hết sự thanh thản, thoải mái. Vạn nhất người được cho làm không đúng ý, bạn lại chất chứa một nỗi buồn. Lẽ ra là việc tốt, niềm vui bạn lại mang về sự buồn bực, tức giận và oán ghét. Nên chăng bạn xả bỏ những việc tốt đã làm để mang về nhiều niềm vui, hạnh phúc hơn nữa. Đặc biệt, những người hiến tặng nội tạng, bộ phận cơ thể,… hãy nên buông bỏ, đừng giữ lại trong tâm trí những bộ phận đã được cho đi. Kẻo không “Ngày trở về” bạn sẽ không “Lành lặn” tinh thần và thể xác.
Tại sao xung đột, đấu tranh, chiến loạn,… cứ diễn ra ở khắp mọi nơi?
Do bởi con người sống trong tham dục và trói sự hiểu biết vào sự giới hạn của ngôn ngữ. Cộng đồng các quốc gia độc lập, cộng đồng các quốc gia không liên kết,… nghe có hợp lý không? Đã độc lập, tự chủ, không liên kết mà lại tạo thành cộng đồng.
Hiện nay các nước phát triển, đang phát triển không ngừng gia nhập vào các khối, các liên minh để thúc đẩy, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển. Nhưng ngược lại có không ít vùng miền hẻo lánh, kém phát triển gây xung đột, đấu tranh đòi ly khai, tự trị. Máu, nước mắt và thù hận của con người lại đổ xuống cho những cuộc chiến sống còn phi nghĩa. Con người lẽ nào lại không phải là con người? Nếu có hiểu biết thì con người sẽ không sống trong sự phân biệt, kỳ thị chủng tộc, màu da,... Con người sẽ yêu thương người mà sống. Đó là giá trị con người.
Đẹp hay xấu? Nhiều thập kỷ trước, tiêu chuẩn của một hoa hậu là mẫu người có dáng mảnh mai còn gọi là “Mình hạc xương mai” và hiển nhiên là những người không đạt tiêu chuẩn đó thì tạm gọi là xấu. Ngày nay, tiêu chuẩn cho một người mẫu đẹp là “Ngực nở, eo thon, mông đầy đặn”. Vậy nên lẽ đẹp xấu cũng do quan niệm tùy lúc, tùy thời. Việc cái đẹp dựa vào tiêu chuẩn “Ngực nở, eo thon, mông đầy đặn” đã góp phần tạo ra căn bệnh béo phì trong xã hội ngày nay. Tôi đã từng nói mọi việc đều được tích lũy trong tâm thức của mỗi người. Khi ý thức hệ dựa trên quan niệm “Ngực nở, eo thon, mông đầy đặn” thì tâm thức con người sẽ chấp giữ lấy tiêu chuẩn đó để xây dựng nên thân xác của tự thân. Khi con người sống lương thiện thì sẽ được luân chuyển lại thành người để hoàn thành tâm nguyện đó. Ở góc nhìn tổng thể, khách quan bạn sẽ nhận ra con người dường như ngày càng đẹp hơn. Tôi đang đề cập đến nét đẹp tự nhiên mà không nói đến nét đẹp của phẫu thuật, mỹ phẩm. Đó không phải là sự ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình tích lũy trải qua nhiều đời, nhiều kiếp. Dù muốn hay không thì khoa học không thể lý giải được vấn đề này. Quay lại vấn đề căn bệnh béo phì. Dù rằng tâm thức con người lưu giữ hình ảnh “Ngực nở, eo thon, mông đầy đặn” nhưng do vướng vào góc nhìn hạn hẹp, lối sống hưởng thụ, tham đắm “ăn ngon, mặc đẹp” mà không chăm “rèn giũa, luyện tập”. “Người quay trở lại” đã trở nên béo phì.
Hoa hậu, người đẹp,… phải chăng đã thừa hưởng được nhan sắc và dựa vào nhan sắc để có được tiền tài, danh vọng, địa vị? Đã có không ít tiêu cực đáng xấu hổ trong thế giới người mẫu, hoa hậu, ca sĩ, diễn viên hào nhoáng, giới thượng lưu,...
Những cô gái bán dâm được tiếng là “Bán vốn tự có để nuôi miệng”. Tiếng đời dị nghị, dèm pha. Phận người bạc bẽo, thấp hèn, mạt hạng.
Nhà tù 5 sao là những nhà tù trang hoàng lộng lẫy như thể là khách sạn 5 sao. Ở tù mà sang cả như thể là một chính khách được bảo vệ, canh giữ 24/24.
Con người dường như cũng đang phát triển dựa trên những định hướng như thế. Nhốt mình trong một nhà tù sang trọng, quý phái. Sau này, mỗi hành động việc làm của con người được camera, vệ tinh, hệ thống định vị,… giám sát, theo dõi 24/24. Mỗi một bước đi có những cận vệ robot liền kề. Phải chăng đây là câu chuyện khoa học viễn tưởng? Trở lại thực tại vậy. Hiện nay, không khó để nhận biết những gia đình giàu có, gia đình chính khách, nguyên thủ quốc gia,… mỗi bước đều có cận vệ, cảm tử thế thân,… bảo vệ, che chắn nghiêm ngặt. Nếu bạn có có cơ may tiếp cận những đứa trẻ của những gia đình đó thì bạn hãy hỏi “Cuộc sống của bạn thật tuyệt vời!?!”. Hẳn là bạn sẽ nhận được câu nói với đại ý “Không thoải mái, mất hết tự do”. Cứ như là “ở tù” vậy.
Sự tích lũy truyền kiếp, truyền đời không chỉ thể hiện ở tự thân mỗi người mà còn tạo ra nét đặc trưng cho mỗi quốc gia, vùng miền,… Có một sự thật là nét đặc trưng cho mỗi dân tộc không phải đợi đến khi con người ra đời học hỏi, xây dựng nên mà thực tế là đã hình thành ngay từ khi còn “trong bụng mẹ”. Người Nhật không phải ngẫu nhiên mà thích ăn cá sống, là mẫu người quả cảm, thông minh và gan dạ. Người Philipin thì thông thạo việc sông nước. Người Somali thì liều lĩnh, táo bạo…
Thật giả, đúng sai, được mất, hơn thua,… đúng là trò đùa tinh vi, quái quỷ của ngôn ngữ.
…
Mỗi khi chuẩn bị cho một cuộc tranh cử tổng thống ở một đất nước là bao nhiêu tiền của, giá trị thặng dư của nhân loại. Việc làm đó có thật sự cần thiết không? Nếu là người thật sự tài giỏi và đức độ, người dân cần tài năng lãnh đạo của bạn thì tự khắc bạn sẽ được đặt vào đúng vai trò, vị trí của mình. Vận động tranh cử sẽ cần một khoản tiền lớn và không có gì đáng ngạc nhiên khi bạn phải có “Một giá trị đánh đổi tương đương”. Rất có thể điều đó làm “Đánh mất” sự khách quan của bạn khi lãnh đạo và có thể bạn sẽ “Đánh cắp” niềm tin của người dân dành cho bạn. Cùng với những nguyên do khác tôi cũng nhận biết “Bạn không thật sự hoàn toàn làm chủ khi đưa ra những quyết định trọng đại”. Thậm chí bạn có thể bị phế truất ngôi vị khi phạm những sai lầm. Danh tiếng, địa vị, quyền hạn,… sẽ cuốn trôi tất cả khi sự tín nhiệm không còn. Nguyên thủ Gadafi là một điển hình biểu trưng cho kết cuộc bi thảm của người đứng đầu đất nước. Nguyên thủ Gadafi đã phải nhận lấy cực hình trừng phạt thật quá tàn khốc. Tôi tự hỏi “Tội ác của nguyên thủ Gadafi có đáng phải nhận đòn thù như thế không?”. Sự thù hận không chỉ khiến người tạo ra oán thù phải trả giá mà lâu đài, dinh thự của chế độ Gadafi cũng bị đập đổ tan hoang? Tại sao con người lại cứ cất công xây dựng mọi thứ để rồi lạnh lùng phá bỏ. Phải chăng thù hận đã che mờ lý trí khiến con người không ý thức được rằng “Chính họ đã tạo ra lâu đài, dinh thự,... Máu, mồ hôi, sức lao động,… của họ và người thân đã xây dựng những công trình tráng lệ, xa hoa”? Thật sự bạn cần quyền lực hay bạn cần phục vụ cho người dân tốt hơn?
Nếu ngày mai tôi có gặp giới lãnh đạo Việt Nam, Tổng thống Barac Obama, Tổng thống Putin, Thủ tướng Anh, Chính khách Pháp, Nguyên thủ quốc gia Đức, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào,… Tôi sẽ dành cho họ một sự tôn trọng như bất cứ người bạn nào tôi từng gặp nếu họ dành cho tôi sự tôn trọng. Nếu họ không có sự tôn trọng thì tôi sẽ rời đi. Bởi lẽ tôi với họ có quyền con người bình đẳng. Về sự hiểu biết cuộc sống, sự học rộng hiểu nhiều,… có thể họ hơn tôi. Nhưng đời sống nội tâm, tinh thần, niềm hạnh phúc, an lạc, thảnh thơi không hẳn họ có nhiều hơn tôi. Về mạng sống, tôi và họ đều có một mạng sống. Mạng sống của tôi cũng ngang bằng, không hề nhỏ nhoi hơn họ. Quyền hạn, địa vị, danh vọng,… không quyết định giá trị, mạng sống của con người. Nếu hiểu biết họ sẽ tôn trọng tôi cũng như tôi đã từng tôn trọng họ. Tôi đến để giúp họ nhận ra “Họ có đủ khả năng làm tốt hơn việc đang làm”.
Điều quan trọng nhất của người làm chính trị là phải rõ biết tâm tư, nguyện vọng của người dân. Đừng dối lừa nhau! Đừng đánh cắp niềm tin và sự kỳ vọng ở những người dân. Bạn sẽ mất tất cả nếu không đủ thành tín, không sống chân thật khi mà con người bước vào kỷ nguyên “Sống hiểu biết để thương yêu”.
Chương V
Cánh Cửa Cuối Đường Hầm
- Câu chuyện lỗi lầm của mẹ
Thư gửi mẹ
Mẹ có còn đó chăng, thưa mẹ?
Con vẫn còn đây, xin chào mẹ của con!
Ánh sáng diệu kỳ vào lúc chiều hôm
Xin cứ tỏa trên mái nhà của mẹ.
Người ta viết cho con rằng mẹ
Phiền muộn, lo âu quá đỗi vì con
Rằng mẹ luôn dạo bước bên đường
Khoác tấm áo choàng xưa cũ nát.
Trong bóng tối buổi chiều hôm xanh ngắt,
Mẹ mãi hình dung một cảnh tượng hãi hùng
Rằng có kẻ nào vừa đâm trúng tim con
Giữa quán rượu ồn ào, loạn đả.
Nhưng mẹ ơi! Xin mẹ cứ an lòng!
Đó chỉ là cơn nặng nề mộng mị
Con có đâu be bét rượu chè
Đến nỗi chết mà không nhìn thấy mẹ.
Con vẫn như xưa, đằm thắm, dịu dàng
Vẫn như xưa chỉ một niềm mong ước
Sớm thoát khỏi nỗi buồn đau trĩu nặng
Để trở về với mái nhà xưa.
Con sẽ về khi vào độ xuân sang
Mảnh vườn ta trắng cây cành nảy lộc
Chỉ có điều, mẹ nhé! Mỗi ban mai,
Đừng gọi con như tám năm về trước
Đừng thức dậy những ước mơ đã mất
Đừng gợi chi những mộng đẹp không thành
Đời con nay đã thấm nỗi nhọc nhằn
Đã gánh chịu bao điều cay đắng…
Cũng đừng dạy con nguyện cầu vô ích,
Với cái cũ xưa, đừng quay lại làm chi
Chỉ mẹ là nguồn vui, là ánh sáng diệu kỳ
Chỉ có mẹ giúp đời con vững bước…
Hãy quên những âu lo, mẹ nhé!
Đừng buồn phiền quá đỗi vì con,
Mẹ cũng đừng luôn dạo bước ra đường
Khoác tấm áo choàng xưa cũ nát…
(Sergei Esenin)
Có chút gì xao xuyến, rung động trong lòng bạn? Bạn có chạnh lòng nhớ về người cha, người mẹ khi đọc bài thơ trên. Bài thơ là cảm nhận của người con khi “thấm mệt” trên đường đời. Nhìn lại quãng đời đã qua, người con nhận ra những nông nổi, những lỗi lầm,… thời niên thiếu, hiểu rõ được tấm lòng thương con vô bờ của cha mẹ, người con thầm mong ngày trở về. Ẩn khuất trong bài thơ còn chứa đựng chút nỗi niềm hờn trách, xen lẫn sự thương cảm xót xa và một điều mong mỏi, hy vọng sự thay đổi ở đấng sinh thành.
Chỉ có điều, mẹ nhé! Mỗi ban mai,
Đừng gọi con như tám năm về trước
Đừng thức dậy những ước mơ đã mất
Đừng gợi chi những mộng đẹp không thành
…
Cũng đừng dạy con nguyện cầu vô ích,
Với cái cũ xưa, đừng quay lại làm chi
…
Hãy quên những âu lo, mẹ nhé!
Đừng buồn phiền quá đỗi vì con,
Mẹ cũng đừng luôn dạo bước ra đường
Khoác tấm áo choàng xưa cũ nát…
Dù ở quốc gia, vùng miền lãnh thổ nào? Tấm lòng người mẹ đều luôn nghĩ và sống vì con. Bài thơ trên là tình cảm rất thật mà nhà thơ người Nga, Sergei Esenin đã viết và gửi cho người mẹ của ông.
Bạn hãy cảm nhận…! Về bản chất của tình yêu thương, bạn sẽ không nhận thấy sự khác biệt của tấm lòng người mẹ đối với người con. Dù là người Châu Âu hay người Châu Á, Phương Tây hay Phương Đông,… thì tấm lòng người mẹ đều lo nghĩ về con như thế. Tuy nhiên, cách thể hiện tình yêu thương con ở mỗi người mẹ sẽ có ít nhiều sự khác biệt,...
Qua bài thơ, những người con sẽ thấu rõ hơn tình cha, nghĩa mẹ là rất thiêng liêng, cao quý. Họ dường như cả đời sống hy sinh, lo nghĩ cho các con. Tuy nhiên, sự chắt chiu, tằng tiện, dành dụm mọi thứ nhằm chăm lo cho những người con đôi khi quá mức. Họ không dám ăn ngon, không dám mặc đẹp, luôn nhớ về và chất giữ lấy những khoảng thời gian thơ ấu của con. Họ cứ thường kể lập lại những câu chuyện cũ xưa mà người con cảm thấy chán ngán, mệt mỏi. Họ cũng luôn trông nom, răn dạy,… những người con như thể là những người con sẽ không bao giờ lớn. Điều này đã khiến những người con cảm thấy tù túng, ngột ngạt,… và đẩy người con xa rời người mẹ. Đôi lúc, người con muốn quay về mái nhà xưa nhưng một cảm giác gò bó, tù túng,… khiến người con ngần ngại, chầm chậm bước quay về,…
Sự hối hận, tiếc nuối là cảm xúc mà những người con bộc bạch khi ngày họ quay trở về đã không còn được vòng tay của mẹ ôm ấp, chở che. Người mẹ vĩnh viễn ra đi nhưng những ký ức nông nổi, lầm lạc,… lại ùa về, lấp đầy tâm trạng bi thương. Sự hối tiếc, ân hận dằn xé trong lòng những người con trẻ. Những người con trẻ đã khóc rất nhiều và nguyện cầu “Giá như thời gian quay trở lại, họ sẽ ngoan hiền, hiếu thuận, vâng lời cha mẹ”. Nhưng thời gian không quay lại bao giờ…!
Tuổi thơ nông nổi, những đứa trẻ thường bị cuốn vào những trò chơi, những cuộc vui vầy bên chúng bạn. Việc học đôi khi chiếm hết thời gian, làm bọn trẻ mất hết tự do. Lũ trẻ đã bỏ học, rong chơi. Những bậc làm cha mẹ biết được, đã khuyên bảo, răn đe và đánh đập. Việc này đã khiến cho những đứa trẻ càng chán ngán việc học. Bởi lẽ, trong suy nghĩ non nớt những đứa trẻ sẽ đổ lỗi “Chính việc học là nguyên nhân làm cho ba mẹ rầy la, đánh mắng, không còn thương yêu chúng,…”. Những đứa trẻ vẫn thường mắc cùng suy nghĩ lầm lạc như vậy. Người lớn lại không nhận thức rõ vấn đề này. Thấy con mãi chơi đùa, không còn chăm học. Họ răn đe “Nếu con không muốn học thì mẹ sẽ đốt hết sách vở, cho con nghỉ học để mà thỏa chí rong chơi, lêu lỏng”. Cùng với lời nói, người lớn sẽ giật lấy tập vở, cặp sách và châm lửa đốt. Điều gì sẽ xảy ra? Những người con vừa cố giành lại sách vở, vừa khóc lóc, van xin và hứa sẽ đổi thay.
Tại sao những đứa trẻ cố giành lại sách vở? Phải chăng bọn trẻ còn chăm học? Điều này dường như đúng nhưng cũng rất có thể đứa trẻ giành lấy tập vở vì những nguyên nhân khác. Có thể do việc làm của người cha, người mẹ là khá bất ngờ, những người con chưa kịp nghĩ suy “Nghỉ học rồi thì mọi việc sẽ ra sao?”. Nhưng chúng vẫn muốn giữ lấy hình ảnh ngoan hiền, chăm học dưới cái nhìn của cha mẹ. Hoặc là trong đầu óc tinh ranh thơ trẻ,… những người con đã kịp suy lường “Nếu nghỉ học sẽ không còn bạn bè, không còn cơ hội trốn học, rong chơi” và còn nhiều nguyên nhân khác nữa,…
Sự không thông hiểu giữa cha mẹ và con cái là nguyên nhân chính tạo ra hố sâu tình cảm ngăn cách giữa hai thế hệ. Những người con lầm lủi, cam chịu sống dưới sự áp đặt, răn đe của người lớn. Với cách nghĩ của người lớn thì những việc họ trói con cái vào khuôn khổ, buộc đứa trẻ phải luôn tuân thủ nghe lời chỉ mang lại những điều tốt đẹp cho con. Nhưng những người con đã không hiểu rõ, không nghĩ vậy. Thế nên những đứa trẻ càng thêm khó bảo, bỏ bê việc học. Phần lớn những người con rơi vào tình trạng trên đều nghỉ học giữa chừng, sớm rời gia đình tìm kiếm công việc mưu sinh. Khoảng cách giữa cha mẹ và con cái càng nới rộng ra thêm. Mãi lo toan cho cuộc sống, những người con đã không còn nhiều thời gian về thăm lại mẹ cha. Do không học hành đến nơi, không nhiều hiểu biết,… người con phải làm những công việc nặng nhọc, cơ cực,… Người con lại e ngại phải về nhà vì ở nơi đó có những lời đay nghiến, răn đe và hờn trách. Đến khi họ quay về thì cha mẹ đã “Gần đất, xa trời”. Cha mẹ đã già lẩn, trí óc không còn minh mẫn, sáng suốt,... Những câu chuyện xưa cũ nát được kể lại nhiều lần. Người con lập gia đình, sinh con, đẻ cái và biết đến việc dạy dỗ con trẻ. Lúc cha mẹ qua đời, con trẻ đủ tuổi đến trường. Cuộc sống gia đình rơi vào cảnh khó nghèo, lam lũ,… bởi do cha mẹ trẻ không có công ăn, việc làm ổn định. Những đứa bé lại mãi chơi cùng chúng bạn. Người cha, người mẹ trẻ dường như nhận ra đã có lúc bản thân ham chơi, trốn học, không biết vâng lời. Cảm giác ăn năn, hối tiếc về những chuyện đã qua, ký ức về thuở dại khờ, nông nổi,… Biết là đã muộn để chuộc lại lỗi lầm xưa, họ đã nghĩ đến việc sửa lại những lầm lạc thời thơ dại. Người mẹ đốt nén hương thơm gửi cho người đã khuất với những giọt nước mắt lăn dài. Người con trẻ tình cờ bắt gặp giọt nước mắt trên khuôn mặt hao gầy của mẹ. Đứa bé thơ dại, hồn nhiên hỏi “Ai làm mẹ khóc? Sao mẹ lại khóc trước bàn thờ ông bà?”. Người mẹ đã lau vội những giọt nước mắt và bắt đầu kể cho đứa bé nghe câu chuyện “Lỗi lầm của mẹ”. Về sau, người mẹ trẻ không còn áp đặt, ràng buộc,… người con phải học như thế này, như thế kia nữa. Bà mẹ chỉ nhẹ nhàng khuyên “Con hãy ráng chăm lo, học hỏi sự hiểu biết để mai này thành người hữu ích, sống tốt trong xã hội”. Đứa bé này là một đứa trẻ thông minh, hiểu biết, thấu rõ nỗi lòng của mẹ đã chăm học, chăm làm. Về sau, người con trở thành một giáo viên mẫu mực.
Tôi đã được người bạn kể lại câu chuyện “Lỗi lầm của mẹ” vào một buổi chiều mưa. Dưới bóng chiều chập choạng, ánh mắt của người bạn vẫn ngời lên nét tự hào đã là một người con ngoan hiền, hiếu thuận.
- Cần lắm sự đổi thay
Mẹ à! Mẹ nằm nghỉ ngơi, con đi xóm một lúc. Chút nữa, con về sẽ nấu nước cho mẹ tắm.
Thuận ơi! Con để mắt xem chừng bà nội. Đừng để nội đi ra khỏi nhà nghe con. Dạo này bà nội con già lẩn rồi, đi ra khỏi nhà là không còn nhớ được đường về.
…
Những câu nói quen thuộc tôi vẫn thường nghe người chị hàng xóm dặn dò đứa con trai trông chừng bà nội già lẩn. Tôi thầm nghĩ “Rõ là khổ! Hơn nữa đời người sống minh mẫn, sáng suốt,…”. Rồi đến tuổi “xế chiều” lại trở nên si dại, đần ngốc, lú lẩn,… với sự hiểu biết không bằng đứa trẻ lên ba.
Có bao giờ bạn nhìn thấy một bà cụ dùng nước tiểu của chính mình để tắm rửa, uống ăn,…? Có bao giờ bạn bắt gặp một ông lão già khọm trần truồng bên cạnh đống phân gớm bẩn, ông lão dùng những ngón tay khô gầy nghịch đùa phân và nước tiểu, rồi ông lão lại dùng những ngón tay bẩn chà lên khuôn mặt nhăn nheo ngả màu thời gian, cả tấm thân gầy còm, run rẩy,…? Có phải họ là những người bị bệnh tâm thần? Không! Họ là những người cao tuổi già lẩn. Họ đã từng là những người làm trụ cột của gia đình nhưng giờ thì họ phải sống với chuỗi ngày vô tri, đần ngốc,…
Trên bước đường bôn ba, xuôi ngược, tôi đã không ít lần chứng kiến, nghe kể về những cảnh đời, những số phận bất hạnh, hẩm hiu,... Nhưng hình ảnh những người cao tuổi già lẩn là cảnh đời khiến tôi nhiều xót xa, nặng oằn tâm trí hơn cả. Sống mà rơi vào tình cảnh già lẩn, rõ thật là sống không bằng chết. Đã có lúc, tôi lo lắng nghĩ về bản thân ở độ tuổi “Gần đất xa trời”. Nếu chẳng may tuổi già mình lại như thế thì quả thật là rất đáng sợ! Thế là tôi nghĩ đến việc “Làm cách nào để thoát ra khỏi căn bệnh lú lẩn, si dại,… ở tuổi già?”.
Tôi đã tìm hiểu hoàn cảnh, tính cách sống, công việc, thân nhân của những người già lẩn và những vấn đề liên quan khác,… Sau khi tổng hợp và phân tích, dường như tôi tìm ra một vài điểm chung giữa những người già lẩn. Thời trẻ, họ là những người hay lo nghĩ, xét nét mọi việc, có phần cố chấp, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền,… Về già, tính tình họ không hề thay đổi. Thậm chí, tính cách còn có phần độc tài, chuyên quyền hơn. Họ thường áp đặt, răn đe, rầy dạy,… con cháu. Dù rằng không hẳn là mọi việc họ khuyên dạy con cháu là sai nhưng bối cảnh xã hội đã khác xưa. Thời đại ngày nay mà bảo con cháu dùng quạt nan thay cho quạt điện, dùng khói đuổi muỗi thay cho bình xịt, nhang trừ muỗi,… thì đã không còn hợp thời,... Không chỉ có vậy, một bà già 70 tuổi chờ đợi cậu con trai 30 tuổi về dùng cơm, một ông cụ 80 tuổi chờ cửa cô con gái 40 tuổi về nhà ngủ rồi mới yên tâm chợp mắt thì quả thật là sự lo lắng của người già đã rơi vào quá mức, ngược đời,...
Những người cao tuổi lại sợ sự cô độc, lẻ loi, sự im lặng và sợ mọi người quên mất sự hiện diện, vai trò của họ. Người cao tuổi cố níu giữ vai trò làm chủ gia đình bằng việc nhớ nghĩ lại những câu chuyện về thời thơ bé của con cháu nhằm khơi gợi, nhắc nhở con cháu biết vâng lời,… Nhưng sự minh mẫn không còn họ đã kể lặp đi, lặp lại những câu chuyện rời nát, chắp vá. Những lời khuyên dạy chán ngắt cùng với sự răn đe, dọa nạt cũ rích, vô ích. Hiển nhiên là những lời nói của người già sẽ không được thế hệ trẻ chú ý, lắng nghe và làm theo. Việc này khiến những người lớn tuổi thêm buồn bực, muộn phiền,… dẫn đến tâm trạng bị con cháu bỏ rơi, hắt hủi,... Tất cả những ức chế, dồn nén tinh thần càng làm cho người già cáu gắt, khó chịu,… Con cái lại bận rộn việc mưu sinh, không có nhiều thời gian quan tâm chăm sóc cha mẹ già. Sự buồn bực, lo nghĩ khiến những người già nhớ trước, quên sau, lầm lộn mọi việc là khởi đầu cho căn bệnh lú lẩn quái ác. Người lớn tuổi cho rằng mình đã từng trải trên đường đời và cố ý thể hiện quyền lực là người chủ gia đình qua việc ra sức áp đặt, trói buộc con cái phải làm theo những quyết định, yêu cầu của họ. Cụ thể, họ bức ép con cháu bỏ công ăn, việc làm về nhà chăm lo vườn tược, ruộng đồng,... Nhưng những người con vốn đang là một doanh nghiệp thành đạt, bác sĩ, kỹ sư,… Thế nên họ chưa thể quay về theo ý muốn của cha mẹ già. Người lớn tuổi đã thể hiện sự độc đoán, chuyên quyền, tính gia trưởng bằng việc bán đất đai, ruộng vườn. Những người con sẽ ra sức ngăn lại, mâu thuẫn giữa hai thế hệ hình thành và làm cho cả hai thế hệ chuốc lấy đau khổ, hờn oán,… Việc lo nghĩ, muộn phiền, tính gia trưởng, việc cố thể hiện quyền làm chủ gia đình, sự oán hờn, giận dỗi,… đan xen trong trí não của người già. Tất cả các vấn đề trên làm cho suy kiệt thêm tinh thần và thể chất của người già vốn đã rệu rã, hao mòn theo dấu thời gian. Dần dần, người già trở nên si dại, đần ngốc, lú lẩn,…
Tại sao bà cụ dùng nước tiểu của chính mình để tắm rửa, uống ăn,…? Những lo nghĩ, muộn phiền đan xen đã khiến trí nhớ của bà cụ lầm lộn, quên lẫn. Ngay khi bà cụ tiểu tiện thì bà lại nhớ đến việc tắm rửa, ăn uống. Sự xáo trộn, lẫn lộn của trí óc khiến bà cụ dùng nước tiểu của chính mình như là một thứ nước uống hay là nước dùng cho tắm rửa. Tính hay quên và đôi mắt không còn tinh tường khiến người già lẩn không còn nhận ra đường về nhà. Không chỉ vậy, sâu thẳm trong tâm trí của bà cụ đã từng có ý định bỏ nhà đi vì bà cụ nhận ra “Trong mắt con cháu, bà chỉ là một bà già vô tích sự”. Sự buồn bã, hờn tủi, nuối tiếc,… đã nuôi lớn ý định rời bỏ lũ con cháu vô ơn, bất hiếu ở bà cụ.
Tại sao ông lão già khọm lại trần truồng bên cạnh đống phân gớm bẩn, ông lão dùng những ngón tay khô gầy nghịch đùa phân và nước tiểu, rồi ông lão lại dùng những ngón tay bẩn chà lên khuôn mặt nhăn nheo ngả màu thời gian, cả tấm thân gầy còm, run rẩy,…? Ông lão đã nhớ nghĩ, chất giữ hình ảnh đứa con thời thơ ấu, vô tri. Ký ức đứa bé trần truồng nghịch đùa phân và nước tiểu, ông đã ngăn đứa con chà xát những thứ bẩn dơ lên thân người ra sao? Nhưng đáng tiếc! Ông lão đã quên mất “Ông là ai?” Ông lầm lẫn, ngộ nhận “Bản thân ông là đứa bé thơ dại”. Không chỉ có vậy, ở ngay hành động nghịch đùa phân, chi trét những thứ bẩn dơ lên tấm thân trần trụi của ông lão có chứa đựng sự trả thù cho những oán hờn được chất giữ, nuôi lớn trong lòng. Mối oán hận này có từ đâu? Từ những khoảng thời gian trước khi ông già lẩn hoàn toàn. Từ những việc ông lão trói buộc con cháu mà chúng không thuận theo. Lúc đó, ông lão nhận biết mình đã già, không làm ra tiền nên cháu con không nghe lời. Ông lão nghĩ thầm “Đúng là có tiền mua tiên cũng được”. Ông lão tiếc rẻ “Giá như mình còn số tiền kha khá thì làm gì có đứa con ngỗ nghịch nào không chịu vâng lời”. Rồi thì ông lão nhận biết “Bản thân còn có đất đai, ruộng vườn”. Một ý nghĩ lóe lên “À, mình bán đất đai, ruộng vườn thì sẽ có tiền. Có tiền rồi thì con cháu sẽ nghe theo, đứa nào không nghe thì đói khổ mặc xác”. Nhưng những người con đã không cho ông lão làm việc đó. Dù rằng những người con đã phân bua, giải bày: Hiện tại, gia đình cũng đủ ăn, đủ mặc. Đất đai, ruộng vườn hãy nên để lại cho con cháu hoặc là làm “Của để dành” phòng ngừa khi có bệnh ngặt nghèo thì dùng đến. Tuy nhiên, ông lão nghĩ rằng “Mình là người từng trải, hiểu chuyện và chỉ khi có tiền trong tay thì mình mới khôi phục được quyền hành, là người chủ gia đình”. Thế nên ông đã cố chấp giữ ý riêng “Những người con không cho bán đất là muốn sang đoạt tài sản của ông. Chúng là những đứa con bất hiếu đã bức bách, dồn ép ông”. Mối hận trong lòng được nuôi lớn dần, ông lão oán hận chính những người con mà ông đã thương yêu, nuôi dạy cho khôn lớn. Mối oán hờn đã làm rạn nứt tình phụ tử cao quý, thiêng liêng. Ông lão nghĩ đến việc làm mất mặt, bêu xấu tội bất hiếu của con cháu trước xóm làng, dòng họ. Ban đầu là việc “Chửi chó, mắng mèo” và ông bà, tổ tiên. Tiếp theo, ông lão uống rượu, giả vờ say rồi khóc kể tội lỗi của con cái cho mọi người cùng biết. Ông lão lăn lê “đầu đường xó chợ”, mặc quần áo tanh hôi, rách bẩn nhằm bêu xấu con cháu. Con cháu ra sức khuyên ngăn còn mọi người thì dường như thờ ơ, chẳng quan tâm. Sự phẫn uất, căm giận và việc sa đà bia rượu mau chóng biến ông lão thành một người già lẩn si dại, đần ngốc, vô tri.
...
Tóm lại, tất cả những đè nén tinh thần - Việc nhớ nghĩ chất chứa, việc chấp giữ phiền muộn, lo toan, bực dọc,… sẽ khiến những người cao tuổi trở nên phẫn uất, già lẩn,… tạo ra những cảnh đời bi thương, thảm não. Những hình ảnh mà ở nơi đó sẽ khơi dậy sự thương cảm, chua xót,… trong lòng của bất kỳ một ai được một lần tận mắt chứng kiến. Đó là sự xót thương trĩu nặng lòng người.
Phải chăng tất cả những người cao tuổi đều bị căn bệnh già lẩn quái ác hành hạ, giày vò?
Không hẳn là tất cả người già đều trở nên si dại, lú lẩn, đần ngốc,... Tôi lại đi tìm hiểu nguyên do dẫn đến sự khác biệt giữa những người già lẩn và những người cao tuổi có đầu óc sáng suốt, tinh tường. Một sự khác biệt rõ nét về lối sống giữa hai nhóm người cao tuổi. Trong khi những người cao tuổi già lẩn có lối sống luôn chứa giữ lấy muộn phiền, lo nghĩ, thường xét nét can thiệp vào mọi việc. Thậm chí họ can thiệp cả vào những công việc mà gần như họ không hề biết chỉ với mục đích chứng tỏ sự từng trải, nhiều hiểu biết của bản thân,… thì những người già có tinh thần minh mẫn lại có lối sống bình thản, an nhàn. Qua tìm hiểu, tôi nhận biết “Những người cao tuổi ở nhóm người già có trí óc sáng suốt là những người học được cách sống biết dừng lại, biết buông bỏ những lo nghĩ”.
Đây là buổi trò chuyện giữa tôi cùng với một người cao tuổi giữ được sự sáng suốt, minh mẫn và khỏe mạnh.
Tôi dò hỏi: Tại sao ông lại không cáng đáng, chỉ dẫn mọi việc cho con cháu như những người cao tuổi ở nhóm người già lẩn đã làm?
Ông lão trả lời: Cuộc sống sau này là của thế hệ trẻ. Thế nên, con cháu họ phải biết sống tự lập, không dựa dẫm vào thế hệ đi trước, ông không thể “Lột da như rắn” để sống đời với con cháu. Hơn nữa, bối cảnh xã hội không ngừng thay đổi, cách suy nghĩ của hai thế hệ lại sai khác nhiều. Áp đặt, trói buộc con cháu làm theo ý riêng của mình thì không hẳn là đúng đắn. Con cháu hiếu thuận vâng lời nhưng trong lòng lại không vui. Còn bằng con cháu không thuận theo, dẫn đến tranh cãi thì cả người lớn lẫn con trẻ đều chuốc lấy buồn phiền, đau khổ,… Ông đã sống hơn nửa đời người mới có được sự hiểu biết từng trải. Sự hiểu biết từng trải ở người cao tuổi là nhận biết được thời điểm dừng lại. Nhận biết khi nào con cháu lớn khôn thì chuyển giao mọi việc cho thế hệ con cháu còn người cao tuổi thì buông bỏ những lo nghĩ đa đoan, tận hưởng những giây phút an nhàn, thảnh thơi,…Chỉ có như vậy thì người cao tuổi mới có thời gian nuôi dưỡng tinh thần, giữ cho trí não minh mẫn, sáng suốt. Về sau, họ không rơi vào tình cảnh già lẩn, không gây khó, làm khổ con cháu,…
Tôi hỏi thêm: Vậy…! Tại sao những người cao tuổi từng trải khác lại không biết “Điểm dừng”? Tại sao họ lại trói buộc, áp đặt con cháu phải làm theo ý riêng của họ?,…
Ông lão trả lời: Xem ra chú em cũng là người hiểu chuyện. Già chẳng tiếc lời trò chuyện cùng chú em.
Dừng lại một lúc, ông lão lại nói: Những người cao tuổi không biết “Điểm dừng lại”, thường hay can thiệp, sắp xếp mọi việc làm của con cháu là vì tình thương yêu con cháu trong lòng họ quá lớn.
Thật vậy, trong cái nhìn của phần lớn những người làm cha mẹ thì những đứa con luôn bé bỏng, đáng yêu. Đó là nguyên nhân làm cho cha mẹ nghĩ rằng “Những đứa trẻ chẳng bao giờ lớn”. Thế nên những người làm cha mẹ luôn bảo bọc, chăm lo, sắp xếp mọi việc cho con trẻ. Thời gian cứ trôi qua, những người con dần khôn lớn nhưng cha mẹ thường không tin nhận vào sự trưởng thành của lũ trẻ. Họ vẫn để mắt, xét nét việc làm của con cái.
Tại thời điểm này sẽ hình thành nên hai nhóm cha mẹ khác biệt nhau:
Nhóm thứ nhất là nhóm người tạo điều kiện cho những người con phát huy năng lực, sở trường,… Nếu những người con có thể tự lập tốt thì họ chuyển giao dần công việc, tài sản cũng như vai trò trụ cột gia đình cho thế hệ trẻ, giúp những người con sớm nhận biết vai trò, trách nhiệm làm chủ cuộc sống của chính mình. Từ đó, tạo cho thế hệ trẻ có được sự tự tin, vững vàng đối diện với những khó khăn, thử thách của cuộc sống,... Nếu những người con chưa đủ tự tin để làm chủ cuộc sống thì những người làm cha mẹ sẽ dìu dắt, chỉ dạy, động viên,…giúp thế hệ trẻ có thêm niềm tin, sức mạnh và sự hiểu biết,… để hòa nhập tốt vào cuộc sống. Thế hệ trẻ được nuôi dạy theo phương cách này tương lai sẽ trở thành những trụ cột vững chắc của gia đình và xã hội. Đến khi nhận biết con trẻ đã thực sự trưởng thành thì những bậc cha mẹ chuyển giao hết mọi việc cho con cái, buông bỏ vai trò làm chủ gia đình, dứt trừ những suy nghĩ, lo toan về cuộc sống của con cháu, tận hưởng sự an nhàn, thảnh thơi. Chú em có biết “Tại sao những người cao tuổi từng trải biết được điểm dừng lại không?”. Bởi vì sự từng trải hiểu biết giúp họ dám chấp nhận sự thật. Họ đã nuôi dạy những người con từ tấm bé. Cho đến lúc con trẻ khôn lớn, trưởng thành. Điều này đồng nghĩa với việc “Họ đã già”. Chấp nhận thực tế “Bản thân đã già” thì những người cao tuổi mới có thời gian nghỉ ngơi, thư giản. Tâm trí thảnh thơi giúp người cao tuổi dừng lại những lo nghĩ đa đoan vì lẽ họ lo toan gần cả một đời người, đã đến lúc họ dừng lại ngơi nghỉ. Sự hiểu biết từng trải lại một lần nữa giúp người cao tuổi nhận ra “Rồi họ sẽ phải chết, đó là một sự thật mà bất kỳ ai cũng phải trải qua ở kiếp người”. Người cao tuổi dám chấp nhận sự thật sẽ chọn lựa lối sống cho quãng đời còn lại cũng như là chọn lựa cách thức chết cho bản thân. Những người từng trải sẽ dễ dàng nhận biết “Cái chết đến với con người với rất nhiều hình thức khác biệt nhau nhưng thực ra chỉ là biểu hiện của hai hình thức chính có sự sai khác ít nhiều về mức độ biểu hiện. Đó là cái chết đến với con người như là một giấc ngủ ngon êm đềm, không mộng mị và một cái chết vật vã, đau đớn cả về xác thân lẫn tinh thần”. Nhìn những người có cái chết nhẹ nhàng như đang say ngủ chú em sẽ nhận thấy ở nơi đó có sự bình yên an lạc, không hối tiếc lo toan, sầu khổ. Chú em cũng nhận thấy được sự chấp nhận việc già chết là một sự thật ở nét mặt của người đã khuất, họ an nhiên, bình thản đón nhận cái chết,... Ngược lại, nhìn những người phải chết vật vã, đớn đau chú em sẽ thấy những ưu tư phiền muộn, sự ân hận tiếc nuối, lo lắng,… và cả việc không cam chịu, không chấp nhận cái chết tìm đến họ qua những hình ảnh vùng vẫy, giẫy dụa,… như là cố níu kéo lại mạng sống, hơi thở của chính mình nhưng việc làm đó thật sự vô ích. Tìm hiểu thêm chú em sẽ biết những người già lẩn, những người khó khăn với con cháu, những người có tính gia trưởng, độc đoán, cố chấp, hay can thiệp vào công ăn, việc làm của con cháu, ham muốn thể hiện mình,… thường phải nhận lấy những cái chết bi thảm, vật vã. Bởi lẽ tính cách cố chấp, bảo thủ,… khiến họ không can tâm, không chấp nhận việc già chết là một việc tất yếu, không thể tránh khỏi của đời người. Tóm lại, do không hiểu biết và chấp nhận “Bản thân đã già yếu” những người cao tuổi này đã không có thời gian chuẩn bị cho những ngày cuối đời. Họ không có được thời gian nhàn hạ, tự tại, hàm dưỡng nội tâm, giữ tâm trí minh mẫn, sáng suốt, kiên định. Việc lo nghĩ đa đoan làm suy kiệt tinh thần và thể chất gây nên việc rối loạn trí nhớ, già lẩn ở người cao tuổi. Do không chấp nhận việc già chết là việc không thể tránh khỏi cho nên khi cận kề với cái chết những người cao tuổi này sẽ hoảng loạn, cầu cứu, bám víu sự sống một cách tuyệt vọng, đau đớn. Già đã sống đến từng tuổi này để nhận biết sáng rõ “Việc dừng lặng, buông bỏ những suy tư, lo nghĩ,… giúp tinh thần của người già luôn minh mẫn, sáng suốt; cơ thể thì ít bệnh tật”. Nếu người cao tuổi nào cũng có lối sống lành mạnh, tỉnh táo như thế thì già tin chắc rằng “Căn bệnh già lẩn quái ác sẽ không thể gây khó, bức hại người già”.
Nhóm thứ hai là nhóm những người thương yêu, bảo bọc, chăm lo con cái từ miếng ăn, giấc ngủ,… Sự thương yêu khiến họ luôn nghĩ con trẻ còn nhỏ dại, yếu đuối,… Họ ra sức chở che, tiếp sức,… mọi việc. Họ không an tâm khi con trẻ tham gia làm những công việc mới mẻ, khác lạ. Họ sợ lũ trẻ sẽ làm hỏng việc, thất bại. Vì thế họ sẽ ngăn cản, cấm đoán con cái làm những việc mà họ không thông hiểu, rõ biết. Họ ép buộc con trẻ vào những khuôn khổ, những công việc giới hạn mà theo sự hiểu biết của những người làm cha mẹ là “Tốt nhất cho con”. Việc này khiến cho những đứa trẻ trở nên bạc nhược, yếu đuối, sống ỷ lại vào cha mẹ. Vạn nhất cha mẹ đột ngột qua đời thì những đứa trẻ đó sẽ khó thể vững vàng sống tốt trong xã hội. Hoặc là đến khi những đứa trẻ lớn lên. Một số vẫn giữ lối sống ỷ lại, dựa dẫm vào người khác, những người con thuộc nhóm thành phần này là những người có lớn nhưng không có khôn, chúng sẽ khó thể xây dựng cuộc sống tự lập hài hòa, hạnh phúc. Số khác nhận ra những điều không ổn, vô lý khi cha mẹ cứ trói buộc họ vào những công việc, những nghĩ suy không đúng với sở thích, năng lực của bản thân. Kết quả sẽ dẫn đến những tranh cãi, chống đối lại những quyết định mang tính áp đặt, ràng buộc của người lớn. Mâu thuẫn sẽ lớn dần tạo nên hố sâu tình cảm giữa cha mẹ và con cái. Mâu thuẫn này phát sinh do sự sai khác về nhận thức giữa hai thế hệ. Trong khi thế hệ người cao tuổi cho rằng “Con cái vẫn còn nhỏ dại, chưa lớn khôn” thì thế hệ trẻ lại nhận thấy “Cha mẹ đã già, lớn tuổi”. Khi mà sự khác biệt về nhận thức giữa hai thế hệ không được dung hòa ổn thỏa thì những chống trái, xung đột,… không ngừng nảy sinh, gây ra sự đổ vỡ, ly tán gia đình. Kết quả là cả hai thế hệ đều chuốc lấy khổ đau, muộn phiền. Lẽ ra những người làm cha mẹ phải biết thời điểm dừng lại và hiểu rõ đạo lý “Tre già, măng mọc”. Chỉ khi chuyển giao vai trò làm chủ cho thế hệ trẻ thì con cái mới có thể khôn lớn, trưởng thành và họ mới có cuộc sống nhàn hạ, thảnh thơi.
Tôi lại hỏi: Giả như những người con vẫn muốn dựa dẫm, nương nhờ sự nâng đỡ, dìu dắt của cha mẹ. Trong trường hợp này có phải người làm cha mẹ sẽ tiếp tục bảo ban, quán xuyến mọi việc cho con cháu đến lúc cuối đời không?
Ông lão trả lời: Chú em ngốc thật hay là giả ngốc? Nếu hiểu biết chú em sẽ nhận ra những con gà rừng, heo rừng,… thường thích ứng rất tốt trong môi trường sống hoang dã ít thức ăn, nhiều kẻ thù. Bởi vì những chú heo rừng, gà rừng,… ngay từ nhỏ đã được tập sống quen dần với những khó khăn, khắc nghiệt. Ngược lại, những con gà nuôi, heo nhà,… thì lại dễ nhiễm bệnh tật dù rằng “Đồ ăn, thức uống, thuốc bổ dưỡng thì luôn được bày sẵn”. Kết quả là lũ thú rừng thích ứng tốt sẽ sống khỏe mạnh đến lúc cuối đời còn lũ thú nuôi chỉ là “Đồ bị thịt” lại sớm lên bàn mổ. Thực tế là con người khi sống trong môi trường nhiều khó khăn, thử thách thường sớm trưởng thành, chững chạc hơn những người sống trong môi trường được nâng đỡ, che chở quá mức của cha mẹ. Người cao tuổi từng trải rõ biết điều đó và giúp con cái có ý thức, lối sống tự lập, tránh cho con cháu trở thành “Đồ bị thịt”. Họ biết được giới hạn tình yêu thương, sự bảo bọc, nâng đỡ đối với con cái. Họ chấp nhận sự vấp ngã, thất bại ở thế hệ trẻ vì “Mỗi lần vấp ngã là một lần bớt dại, ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần”. Sự vấp ngã là bài học mà mỗi người đều phải tự học lấy để thích ứng, sống tốt hơn và người già không thể chăm lo, sống mãi với con cháu. Mặt khác, người cao tuổi hiểu biết cũng nhận biết “Sự sống là của con cháu, họ không thể sống thay thế hệ trẻ. Còn cái chết sẽ đến với họ và con cái cũng chẳng thể chết thay”. Họ cũng cần có thời gian quen dần và chấp nhận cái chết. Vì thế người cao tuổi từng trải hiểu biết sẽ buông bỏ mọi việc cho con cháu, dừng lại những lo nghĩ đa đoan, quay về lối sống tĩnh lặng, an nhàn.
Tôi tiếp lời: Việc chuyển giao hết quyền hành, công việc, tài sản,… đồng nghĩa với việc người cao tuổi không còn gì cả. Chuỗi ngày còn lại chủ yếu sống dựa con cháu. Nếu chẳng may gặp phải con cái ngỗ nghịch, bất hiếu,… xem người già là đồ vô tích sự, đồ đáng bỏ đi,… thì quả thật là những ngày cuối đời của người cao tuổi bi thảm, cùng quẩn. Có lẽ người cao tuổi nên chuẩn bị sẵn cho mình một số tài sản đảm bảo cho đến ngày nhắm mắt, nên chăng?
Ông lão khẽ cười nói: Chú em thật là…! Đã nói buông bỏ mọi thứ mà còn giữ lại “Tài sản hộ thân” thì làm sao dứt bỏ lo nghĩ được. Hơn nữa, không sống thành thật, bao dung với con cháu, còn “Rào trước, đón sau” thì làm sao con cháu có thể sống với người cao tuổi bằng tình thương chân thành cho được. Chú em phải hiểu rõ là “Khi con người gieo nhân yêu thương, hòa hợp, ấm êm và hiểu biết thì sẽ nhận được quả tốt là sự hiếu thuận, thảo hiền, chân thật,… Ngược lại, khi con người gieo nhân ngang tàng, bạo ngược, ích kỷ, ganh ghét, tranh giành,… thì sẽ nhận lấy quả báo là sự mất mát, lẻ loi, cô độc, mọi người xa lánh,…”. Mặt khác, nếu chẳng may gặp phải con ngỗ nghịch, bất hiếu thì người cao tuổi phải sớm nhận biết đó là lỗi của chính mình vì đã không biết cách nuôi dạy con. Xuất phát từ tình thương chân thành, người làm cha mẹ sẽ có phương cách chỉ dạy những người cháu ngoan hiền, tự khắc con cái nhận ra lầm lỗi, trở nên hiếu thuận. Chỉ khi con cháu xua đuổi, ruồng bỏ,… thì người cao tuổi cứ an nhẫn bước đi vì sự hiểu biết từng trải sẽ giúp người cao tuổi nhận ra: Là cha mẹ không ai lại “Tranh ăn” với con cháu. Người cao tuổi từng trải một khi nhận ra “Con người, chính ngay mạng sống của bản thân còn không thể làm chủ được thì việc tranh giành vai trò làm chủ gia đình, tài sản, của cải,… có ích lợi, có giá trị gì?”. Khi người cao tuổi nhận thức, chấp nhận “Cái chết sẽ đến với mình là một việc hiển nhiên, không thể né tránh” thì có khó khăn, chướng ngại nào mà họ không thể vượt qua. Người cao tuổi từng trải sẽ kiên định, quả cảm đối diện với cuộc sống gian truân, ngang trái,… bởi lẽ chết đã không sợ thì có gì đáng để lo nghĩ.
Tôi buộc miệng: Người cao tuổi mà sống kham nhẫn, chịu đựng như vậy hẳn là con cháu chẳng thể xa lánh, rời bỏ cho được. Nhưng ông lão à! Liệu ông lão nói được mà có làm được như vậy không? Hay là khi ông gặp cảnh “Trái ý, nghịch lòng” thì mặc tình “La con, mắng cháu”, nguyền rủa ông bà, tổ tiên,...
Ông lão nghiêm giọng: Chú em nói đúng lắm! Mọi người, ai cũng có thể hiểu biết, lĩnh hội hết những điều ta đã trao đổi với chú em nhưng sống được như thế quả thật là không dễ. Vì thế ngay khi hiểu chuyện thì chú em hãy tập sống với những điều đã lĩnh hội, tạo thành một thói quen tốt. Đừng chờ đợi đến khi lớn tuổi rồi mới áp dụng, già chỉ e rằng “Khi đó, chú em lại trở thành một con vẹt, nói được mà không hiểu đang nói gì và cũng không làm theo được” bởi vì thói hư, tật xấu đã thành thói quen, không dứt bỏ được. Ở từng tuổi này, già đã gặp không ít cảnh đời “Dở khóc, dở cười” - Rất nhiều người khuyên bảo, chỉ dẫn người khác sống tốt - đừng gia trưởng, độc đoán, cố chấp, bảo thủ, đừng cáu gắt, khó tính, trì chiết, rầy la,… con cháu nhưng nhìn lại thì chính họ lại là người mắc nhiều tật xấu nhất và về sau những người đó rơi vào tình cảnh lú lẩn, đần ngốc,... Thật đáng tiếc! Người xưa dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” nghĩa là trước nhất phải xét bản thân có mắc sai trái gì, sau đó mới xét đến người xem có lỗi lầm gì. Sau khi xét kỹ mọi việc thì mới khách quan mở lời góp ý, sửa sai. Con người thời nay thì lại khác, chỉ mãi lo xoi mói, phanh phui,… lỗi lầm của người. Quên bỏ, che giấu,… những sai trái của bản thân - Việc làm thành công thì ra sức tâng bốc, kể lể công trạng. Việc làm sai trái thì lờ đi, lảng tránh hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác,… Thật ra chú em đang đứng trước sự chọn lựa của một đời người và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả của việc chọn lựa. Về sau chú em sẽ không thể đổ lỗi, trách hờn,… bất kỳ ai vì đó chính là chọn lựa của chú em. Một là chú em sống lành mạnh, có hiểu biết, yêu thương đúng mực, biết dừng lại, tạo điều kiện cho con cháu tự lập tốt. Sống gần gũi, hài hòa với con cháu … thì chú em sẽ có thời gian nghỉ ngơi, sống an nhàn, minh mẫn, khỏe mạnh đến cuối đời. Hai là chú em sống gắt gỏng, khó khăn, ham tranh giành vai trò làm chủ, cố chấp, bảo thủ, chuyên quyền,… thì mọi người sẽ phải xa lánh, rời bỏ,…Chú em phải chịu cảnh lẻ loi, cô độc khi tuổi già, sức yếu và căn bệnh già lẩn sẽ có dịp tàn phá khiến cho tâm trí chú em trở nên si dại, đần ngốc,… Có lẽ đây là cảnh đời mà chú em không mong muốn mình nhận lấy. Vì thế ngay bây giờ chú em hãy chọn con đường để mà đi, già lẩn rồi thì sẽ không còn cơ hội chọn lựa. Chú em có biết rằng “Ngày nay những người cao tuổi thường dễ bị đột quỵ do tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim không?”. Những đè nén, ức chế tinh thần do tính cố chấp mà những người cao tuổi đã bị bệnh tật xâm hại. Cả những căn bệnh như tiểu đường, béo phì, thoái hóa khớp, giảm trí nhớ,… ít nhiều cũng do những tổn thương về tình cảm, tinh thần. Những tổn thương tinh thần đã gián tiếp hay trực tiếp tàn phá, làm hao mòn trí não, thân thể người già. Có phải là những người giữ được sự hài hòa, cân bằng giữa tinh thần và vật chất thì ít bệnh tật còn những người làm việc quá sức hoặc lo nghĩ nhiều thì dù có tích góp rất nhiều tài sản, của cải thì cũng không thể thọ hưởng dài lâu vì bệnh tật, khổ đau,… sẽ làm những người lao tâm, lao lực sớm ngã quỵ?
…
Như tôi đã trình bày ở trên, nhìn những người cao tuổi già lẩn khiến lòng tôi nặng trĩu. Tôi thật lòng muốn giúp họ thoát ra căn bệnh già lẩn quái ác nhưng biết làm sao khi đó chính là chọn lựa của những người cao tuổi khó tính, không mở lòng ra để sống tốt hơn. Tôi lại nhận biết được một phương pháp giúp người cao tuổi nâng cao trí nhớ, sự tập trung, giữ được sự cân bằng về tinh thần, giảm trừ bệnh tật, sức khỏe ổn định. Phương pháp ngồi thiền là trợ pháp hữu hiệu giúp người cao tuổi có được sự minh mẫn, sáng suốt,…
Những lúc rảnh rỗi, ít việc bạn hãy rèn luyện việc ngồi thiền. Việc ngồi thiền sẽ giúp thần trí bạn được ngơi nghỉ, cân bằng lại. Bạn có khoảng thời gian thoát ra khỏi những lo lắng, chộn rộn,… trong cuộc sống hàng ngày.
Phương pháp ngồi thiền căn bản gồm có 3 giai đoạn: Nhập, trụ, xuất.
- Nhập thiền:
Bạn hãy chọn một nơi bằng phẳng, sạch sẽ, thoáng mát, kín gió. Đối với người cao tuổi thì hãy nên dùng một chiếc gối mềm đặt ở nơi ngồi. Ngồi lên chiếc gối, điều chỉnh thân hình ngay ngắn, giữ xương sống thẳng. Đầu hơi cúi về trước, mắt nhắm hờ, nét mặt bình thản, tự nhiên.
Có hai cách ngồi:
- Ngồi bán già: Nâng chân trái để lên phần đùi của chân phải hoặc ngược lại.
- Ngồi kiết già: Nâng chân trái để lên đùi chân phải, nâng chân phải để lên đùi chân trái, kéo gót bàn chân áp sát vào thân.
Đặt bàn tay phải nằm trên lòng bàn tay trái. Những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái vừa chạm nhau, đặt hai bàn tay nằm giữa lòng hai bàn chân.
Nếu lòng bàn chân bên nào trũng nên dùng khăn chêm vào cho bằng.
Dùng mũi hít không khí vào cơ thể và tập trung mường tượng “Không khí trong lành, sạch sẽ tràn khắp cơ thể làm cơ thể trở nên tươi mới, tràn đầy sức sống”. Sau khi nghĩ tưởng như vậy rồi thì thở ra bằng miệng, ngay khi thở ra lại tập trung mường tượng “Tất cả khổ đau, phiền muộn, bệnh tật đều được đẩy ra ngoài qua luồng khí được thở ra”. Thở như thế vài lần từ mạnh rồi đến nhẹ dần. Thở xong ngậm miệng lại, về sau cả việc hít và thở được thực hiện bằng mũi đều đều, nhè nhẹ.
- Trụ
Có 3 bước căn bản mà người ngồi thiền phải rèn luyện thuần thục thì mới phát huy được hiệu quả tốt nhất của việc ngồi thiền.
Bước 1: Tập trung đếm hơi thở. Sau khi hít không khí vào rồi thở không khí ra bằng mũi bạn hãy dùng ý đếm 1; lại hít vào, thở ra bạn đếm 2; cứ tiếp tục như thế,… bạn đếm đến 10 thì đếm lại từ đầu với con số 1.
Trong quá trình đếm, bạn có thể bị nhầm lẫn số đếm thì đếm lại vòng đếm với con số 1. Sau một thời gian rèn luyện thuần thục thì bạn không đếm số nữa. Bạn hãy chuyển qua bước 2.
Bước 2: Sau khi điều hòa, ổn định hơi thở, bạn hãy tập trung chú ý, theo dõi luồng khí di chuyển trong cơ thể. Khi hít vào, luồng khí lưu chuyển đến đâu bạn hãy chú tâm nhận biết. Khi thở ra bạn cũng cảm nhận luồng không khí lưu chuyển ra sao?
Lưu ý: Bạn hãy giữ hơi thở nhẹ, đều, ổn định trong suốt quá trình ngồi thiền. Ở bước 1 và 2, bạn hãy dừng lại hết mọi suy tư, lo nghĩ,… để giữ sự tập trung đếm cùng với việc theo dõi hơi thở một cách thuần thục. Việc làm chuyên tâm này sẽ giúp tinh thần bạn có được sự tập trung có chủ định, trí não khỏe mạnh, tinh tường, minh mẫn. Sau khi nhuần nhuyễn bước 1, 2 bạn hãy chuyển qua bước 3.
Bước 3: Bạn vẫn bắt đầu với việc đếm và theo dõi hơi thở. Sau khi điều hòa, ổn định hơi thở. Bạn hãy dừng lặng việc đếm và theo dõi hơi thở, buông bỏ hết tất cả mọi thứ chạy lăng xăng trong đầu. Bạn hãy giữ tâm an tịnh, bình thản. Lúc bấy giờ, bạn sẽ thấy nội tâm bạn luôn bị xáo trộn, trí não bạn luôn chạy theo mọi thứ điên đảo diễn ra hàng ngày. Chuyện vui buồn, được mất, hơn thua,… Việc đã qua - thời thơ ấu, lỗi lầm ngày trước,… Việc hiện tại - chuyện cơm áo gạo tiền,… Việc chưa đến - ngày mai đám cưới thằng Tí, ngày kia là ngày kị cơm của ông nội con Tèo,… cứ đan xen, nhảy loạn trong đầu. Bạn hãy tỉnh táo, bình thản nhìn những tấn tuồng bi hài của trò đời. Bạn sẽ nhận ra “Ngay thời điểm hiện tại bạn sẽ chẳng thể cùng lúc giải quyết tất cả mọi việc. Mọi việc rồi sẽ qua đi dù có hay không có sự sắp xếp của bạn”. Tôi nói “Mọi việc rồi sẽ qua đi dù có hay không có sự sắp xếp của bạn”, lời nói này có hợp lý không? Tôi sẽ đưa ra một ví dụ rất thực tế. Giả như bạn có dự định “Ngày kia bạn sẽ đi dự đám kị cơm ông nội của con Tèo thì về đêm trời trở lạnh, bạn không may bị tai biến và được nhập viện điều trị”. Dù rằng không có sự hiện diện của bạn thì ngày kị cơm của ông bạn hàng xóm vẫn tổ chức bình thường, điều này có thể xảy ra không? Do đó, bạn đừng quá coi trọng vai trò, sự hiện diện của bản thân vì bạn thật sự không là gì cả. Mạng sống của chính bạn, bạn còn không làm chủ được thì việc sắp đặt, làm chủ mọi việc có giá trị gì? Thế nên bạn đừng tìm về quá khứ vì quá khứ thì đã qua. Bạn cũng đừng tìm đến tương lai vì tương lai thì chưa đến và không một ai dám chắc rằng “Tại thời điểm tương lai đó, bạn còn sống hay đã chết”. Hãy sống tốt và trân quý cuộc sống ở hiện tại. Chấp nhận sự thật đó bạn sẽ bình thản đối mặt với những lo nghĩ, toan tính vẩn vơ. Bạn đừng chạy rong theo những ý nghĩ, những suy tư vì ngay tại thời điểm ngồi thiền bạn sẽ không thể giải quyết được bất kỳ một việc nào cả. Bạn cũng đừng cố xóa những ý nghĩ đó vì ngay khi ý nghĩ này mất đi thì sẽ phát sinh ý nghĩ khác. Tâm trí bạn luôn chộn rộn, đan xen mọi chuyện như thế. Từ trước đến nay, do mãi chạy theo cuộc mưu sinh mà bạn không nhận ra điều đó. Lúc bấy giờ bạn lại nhận ra “Bạn không thật sự làm chủ trí não của chính mình”. Nhận thức rõ như thế bạn sẽ bật ra câu hỏi “Vậy những nghĩ tưởng lăng xăng, những hình ảnh đã qua, những lo toan,… là gì? Tại sao bạn muốn dừng lặng lo toan, giữ đầu óc thảnh thơi mà chúng cứ chạy càn loạn làm cho tinh thần bạn mệt nhoài, rối trí?”. Những suy tư, lo nghĩ, tưởng nhớ,… chính thật là những kẻ trộm. Những tên trộm này sẽ trộm sức khỏe tinh thần của bạn, làm bạn mệt mỏi, chán chường, mất đi sự tỉnh táo, sáng suốt, minh mẫn. Bất kỳ ai khi làm việc trong điều kiện thiếu sáng suốt, mất tập trung,… sẽ dễ gây ra những việc không đúng, tạo nhiều lỗi lầm. Hiểu rõ như thế bạn sẽ phải khắc chế những tên trộm. Bạn không thể bắt hết lũ trộm này và cũng không cần bắt chúng. Vì khi bạn bắt một tên trộm thì đồng nghĩa với việc bạn phải giữ lấy tên trộm đó. Rồi lại có tên trộm khác lẻn vào, bạn đuổi bắt, giữ lại thì tiếp tục có thêm nhiều tên trộm khác vây quanh bạn. Bạn sẽ mệt nhoài với việc đuổi bắt, giữ mà tâm trí không dừng lặng được. Bạn không nên làm vậy. Bạn cứ bình thản, tỉnh táo, tập trung nhìn tên trộm; tên trộm sẽ tự biến mất. Việc này giống như là việc tên trộm muốn trộm của nhà người nhưng người chủ đã tỉnh táo canh giữ thì tên trộm sẽ phải rời đi và những tên trộm theo sau nhìn thấy ông chủ tỉnh táo cũng không dám bén mảng, dòm ngó nhà người nữa. Rèn luyện như thế lâu ngày dài tháng bạn sẽ có khoảng thời gian giữ tâm trí dừng lặng dài lâu thêm. Điều này đồng nghĩa với việc trí não bạn tỉnh táo, sáng suốt và có sự tập trung cao. Tuy nhiên, bạn cũng không thể giữ mãi tâm trí dừng lặng, những tên trộm vẫn quẩn quanh ngôi nhà của bạn. Vì thế bạn sẽ dùng sự tập trung tinh thần để khiến chúng biến mất hoàn toàn. Qua quá trình rèn luyện ít nhiều gì bạn cũng đã có thể kiểm soát được tâm trí, bạn hãy bắt đầu nhớ nghĩ có sự tập trung về những chuyện đã qua với những kí ức, hình ảnh, nghĩ tưởng,… tốt, hay, đẹp. Điều này giúp trí não bạn thư thái, thoải mái, an ổn. Khi kiểm soát tốt tâm trí, bạn hãy nhớ nghĩ về những chuyện không vui, những việc “Trái ý nghịch lòng” mà con cháu đã gây ra,… nhưng bạn đừng chìm vào trong sự buồn lo, sầu khổ. Bạn hãy đi tìm và bắt lấy những khía cạnh tốt dù là nhỏ nhặt trong những việc xấu xa đó để mà cảm thông, tha thứ, bỏ qua những lỗi lầm. Làm được như thế là bạn hoàn toàn thanh thản, thoát ra khỏi mọi ưu tư, phiền muộn. Làm thế nào để tìm ra mặt tốt trong lỗi lầm của con cái? Giả như trong một cuộc tranh cãi người con đã nặng lời xúc phạm, không nghe theo ý kiến của bạn. Điều này khiến bạn rất buồn, bây giờ bạn hãy xét lại vấn đề này ở góc đánh giá khác, tốt hơn. Thực tế là trước đó con bạn vẫn là người con biết vâng lời có lẽ việc tranh cãi khiến con bạn tức giận, đánh mất khả năng kiểm soát nên đã nói lời sai quấy, cay độc. Con cái làm theo ý riêng thể hiện việc chúng đã có ý thức tự lập, khôn lớn. Dù rằng theo đánh giá của bạn thì việc con bạn cố làm chắc rằng chuốc lấy thất bại nhưng những vấp ngã bước đầu sẽ giúp con bạn trưởng thành, mạnh mẽ hơn. Vì bạn rõ biết sự từng trải mà bạn có được cũng chính là kinh nghiệm của những lần thất bại trước đó và học được ở trường đời,… Hoặc là con cái từ bỏ, xua đuổi bạn. Hiển nhiên bạn sẽ rất tức giận, đau lòng và oán hận những đứa con bất hiếu, vô ơn. Nếu bạn vẫn chấp giữ những ý nghĩ đó thì bạn khổ đau hơn và tinh thần bạn sẽ suy sụp. Sự căng thẳng thần kinh sẽ kéo theo nguy cơ tai biến, nhồi máu, đột quỵ,… tìm đến bạn. Bạn hãy chuyển dịch ý nghĩ sang hướng tốt hơn. Việc con bạn ruồng bỏ bạn rõ thật là việc làm sai nhưng tại sao con cái lại hành xử tệ bạc? Bạn hãy xét lại “Phải chăng bản thân bạn cáu gắt, khó ăn khó ở, trái tính trái nết,… khiến con cháu phải xa lánh?”. Nếu thật sự bạn đã sai thì bạn hãy sửa đổi, không bao giờ là muộn cho việc sửa sai lỗi lầm. Nếu con bạn sai thì bạn hãy tha thứ cho con trẻ, sống bình thản. Nếu có thể bạn hãy chân thành nghĩ về những việc hay, hãy nói những điều tốt của con bạn, đừng bêu xấu tội bất hiếu của con cháu. Bởi lẽ chúng là con cháu bạn, chúng không phải là kẻ thù của bạn. Có lẽ con bạn hãy còn trẻ dại, thời gian chúng sẽ lớn lên và việc nuôi dạy con góp phần giúp chúng hiểu rõ tấm lòng của bạn,… Bạn phải rõ biết “Bạn tìm cách hóa giải những chuyện buồn đau không phải chỉ vì con bạn mà vì chính bản thân bạn”. Sự bao dung, tha thứ, vị tha,… sẽ nuôi dưỡng sức khỏe tinh thần của bạn. Khi tất cả những gút mắc, vướng bận, chuyện vui buồn,… trong lòng tan biến thì bạn mới thật sự làm chủ được nội tâm, tâm hồn của bạn. Bạn sẽ có được tâm trạng an lạc, thanh thản.
- Xả thiền:
Trước khi dừng việc ngồi thiền, bạn dùng mũi hít vào và thở ra bằng miệng vài ba lần (hơi thở từ nhẹ đến mạnh dần). Sau đó, bạn cần làm những động tác xoay chuyển giúp cơ thể giảm những tê mỏi, căng cứng và khí huyết lưu thông bình thường trở lại. Ban đầu thả lỏng thân, xoay người, xoay hông, cổ qua lại. Tiếp theo dùng hai tay chà xát lẫn nhau, dùng tay chà xát vào vùng hông, vùng cổ, mặt, đầu, vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau tạo ra hơi nóng rồi áp hai bàn tay lên đôi mắt. Thao tác này giúp tinh thần tỉnh táo, mắt sáng tỏ hơn và trị được một số bệnh thông thường ở mắt nếu được thực hiện thường xuyên. Duỗi thẳng chân và dùng hai tay xoa bóp hai chân giúp chân không còn tê mỏi. Kết thúc việc ngồi thiền.
Việc xả thiền tùy thuộc vào thời gian ngồi thiền. Nếu chỉ ngồi trong khoảng thời gian ngắn mà có việc gấp cần làm thì bạn chỉ xoay chuyển thân người, hông, cổ, co duỗi chân vài lần là có thể đi lại bình thường. Nhưng khi thời gian ngồi thiền lâu bạn nên chú ý làm tốt, thực hiện kỹ các thao tác xả thiền thì việc ngồi thiền mới đạt hiệu quả cao nhất. Bạn không nên làm thao tác xả thiền qua loa, đại khái rồi đứng lên, bước đi ngay bạn sẽ bị té ngã vì hai chân tê buốt. Thao tác dùng tay chà xát cơ thể cần mạnh nhưng không gấp, cứ thong thả trong từng thao tác.
Nếu có thể bạn hãy sắp xếp việc ngồi thiền hai buổi mỗi ngày với những thời điểm cố định nhằm nâng cao khả năng tập trung tinh thần, làm chủ được các trạng thái tâm lý, cảm giác của bản thân,… Ban đầu, bạn sẽ không thể ngồi lâu vì thế bạn hãy bắt đầu làm quen dần với 20 phút cho một buổi ngồi thiền. Sau đó tăng dần thời gian ngồi thiền lên nhưng cũng đừng cố gắng, gò ép bản thân quá mức. Cốt yếu cho buổi ngồi thiền thành công là ở việc bạn dừng lặng mọi suy tư, lo nghĩ. Ngồi thiền là phương pháp tốt giúp bạn hàm dưỡng nội tâm, nuôi dưỡng sức khỏe thể chất và trí não,… Trạng thái tĩnh tại, dừng lặng của thiền định sẽ giúp bạn khai mở, nâng cao sự hiểu biết về cuộc sống. Sự hiểu biết này ẩn chứa và sẵn có trong tâm hồn bạn, bạn sẽ không học được sự hiểu biết lợi lạc này từ bên ngoài. Tôi vốn là người vụng về, kém trí, ít hiểu biết về cuộc sống. Vì không hiểu biết nhiều nên tôi chập choạng bước trên đường đời. Việc thiền định đã giúp tôi khai mở sự hiểu biết, giúp tôi vững tin đối mặt lòng người đa đoan, muôn lối với một nụ cười bình thản nở trên môi.
III. Câu chuyện bên lề
Thực tế là có rất nhiều việc bạn cố quên đi nhưng càng muốn quên thì lại càng thêm nhớ. Vậy nên bạn hãy cứ tập trung nhớ rõ lại những việc đó, chấp nhận đó là sự thật, là chuyện đã qua và hóa giải tất cả những vị đắng còn đọng lại trong tâm trí bạn.
Dẫu biết rằng cố quên là sẽ nhớ
Hãy dặn lòng cố nhớ để mà quên.
Sau một quá trình thiền định dài lâu, bạn buông bỏ được mọi vướng mắc thì tâm trí bạn thật sự dừng lặng, ngơi nghỉ. Trí não minh mẫn, sáng suốt và sức mạnh tinh thần kiên định. Bạn đã đủ mạnh để đối mặt với kẻ thù cuối đời - Cái chết. Sự hiểu biết từng trải và định lực vững vàng giúp bạn chấp nhận sự thật “Cái chết sẽ đến với bạn”. Nhìn nhận “Việc chết là lẽ dĩ nhiên, là điều tất yếu” bạn sẽ không còn sợ chết nữa. Có thể bạn cười nhạo và tự tin khẳng định “Bạn không sợ chết, chết không có gì là đáng sợ”. Tôi tin bạn vì “Tôi cũng không sợ chết”. Tuổi trẻ, tôi chẳng ngán ngại một điều gì. Trời cao đất rộng chẳng hơn một bước chân,... Thời gian qua đi, tôi nhìn thấy người khác giãy dụa, rên xiết, cuồng loạn,… ở những phút giây cuối đời. Lòng tôi thầm lo, lo rồi lại sợ. Đó là một quá trình mà mỗi người đều phải trải qua. Tuổi trẻ khí vượng, nông nổi, bồng bột, háo thắng,… “Coi trời bằng vung”. Đến khi cao tuổi già yếu, sức tàn, lực kiệt, nhiệt huyết suy giảm, mòn mỏi,…con người lại sợ sệt, lo lắng. Sợ tiếng chó vọng giữa đêm. Sợ tiếng bước chân người bên hiên vắng. Sợ nghe tiếng gió giao mùa. Sợ cả mùa xuân đến,… Và bạn hãy nhìn lại, tìm hiểu những người vừa mới chết. Có bao nhiêu người bình thản chìm vào giấc ngủ sâu? Có bao nhiêu người vẫy vùng, níu kéo, bám víu,… từng hơi thở cuối? Bạn thuộc nhóm người nào? Nói và làm là hai việc khác nhau. Không hẳn bạn nói là có thể làm được. Thế nên bạn cần có quá trình rèn luyện, chuẩn bị từ trước. Hơn nữa, nếu thật sự bạn không sợ chết, chấp nhận cái chết thì bạn đã buông bỏ mọi việc cho con cái, không xét nét, can thiệp,…công việc của thế hệ trẻ, những “Trái ý nghịch lòng” không thể não hại, khiến bạn đau lòng vì “Chết đã không sợ” thì sẽ không có điều gì làm bạn rối trí.
Chuyển sang vấn đề khác, tôi sẽ nói về trạng thái con người ngay tại thời điểm chết. Bạn có từng thấy một người chết vùng vẫy, gào thét,… trước khi dứt hơi thở sau cùng không? Người đó không phải là bạn nhưng bạn hãy trực nhận “Hình ảnh đó có khác gì hình ảnh ta lột da một con rắn đang còn sống không?”. Hẳn đây không thể là một cảm giác dễ chịu. Nguyên nhân của việc vùng vẫy, gào thét,… ở người chết là do người này thật sự đau đớn, hoảng loạn,… vì họ không chấp nhận cái chết. Bạn lại nghĩ: Vậy chỉ cần chấp nhận “Cái chết sẽ đến” thì sẽ thanh thản lìa đời. Bạn nghĩ đúng nhưng điều quan trọng nhất là bạn phải có định lực đủ mạnh và tâm trạng thực sự bình thản trước mọi việc. Và … khi bạn rơi vào căn bệnh già lẩn thì bạn sẽ không có sự chọn lựa cách thức chết cho chính bạn. Sự minh mẫn, sáng suốt, định tỉnh,… là việc mà người cao tuổi nên gìn giữ. Việc ngồi thiền không chỉ giúp người cao tuổi không bị già lẩn mà còn giúp người cao tuổi nâng cao khả năng chịu đựng những đau đớn về tinh thần và thể xác. Do việc ngồi thiền sẽ giúp bạn quen dần cảm giác tê buốt, căng cứng ở chân, hông, cổ và sự tĩnh lặng ở trí não. Những điều này sẽ rất lợi ích cho bạn, nhất là khi bạn cận kề cái chết. Tôi không dùng cái chết để khiến bạn lo lắng, hoảng sợ. Điều này không ích lợi gì cho cá nhân tôi. Tôi chỉ giúp bạn chấp nhận một sự thật tuyệt đối “Chết là điều tất yếu, không thể tránh khỏi của đời người” và giúp bạn không bị căn bệnh già lẩn quái ác hành hạ, giày vò.
Việc ngồi thiền không chỉ tốt cho người cao tuổi. Dù bạn là ai thì việc giữ tinh thần tập trung, trí não minh mẫn, sáng suốt,… đều rất tốt. Việc ngồi thiền tốt cả cho việc học, công việc và sức khỏe của bạn. Việc ngồi thiền thật sự rất ích lợi cho sức khỏe của bạn. Những căn bệnh đau khớp, đau thần kinh tọa, cột sống, bướu cổ, ung thư, tiểu đường, giảm trí nhớ,… đã thuyên giảm khi những bệnh nhân siêng năng ngồi thiền. Lý giải cho khả năng trị bệnh của việc ngồi thiền là do khi dừng lặng mọi lo toan suy tính, cơ thể bạn có thời gian nghỉ ngơi, điều hòa lại những huyệt vị bị nghẽn, khí huyết sẽ lưu chuyển thông suốt khắp cơ thể. Quá trình ngồi thiền tinh chuyên, không gượng ép sẽ hình thành một luồng khí trung hòa trong cơ thể. Luồng khí này sẽ tự tìm đến những cơ quan, bộ phận “gặp sự cố” trong cơ thể người và sửa chữa những “hỏng hóc” ở nơi đó. Tuy nhiên, bạn phải kiên trì, nhẫn nại, chuyên tâm thiền định. Bạn cũng đừng cố tìm học những phương pháp ngồi thiền kỳ đặc. Vì lẽ khi bạn hành trì sai phương pháp hoặc bỏ lỡ nửa chừng thì việc ngồi thiền kỳ đặc đó có thể sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần của bạn và “Tiền mất, tật mang”.
Tóm lại, việc ngồi thiền - thiền định là dừng lặng ý niệm, buông bỏ suy tư, lo nghĩ để đạt được trạng thái tĩnh tâm. Khi khởi nghĩ, bạn hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp. Khi gặp những chuyện không vui, bạn hãy hóa giải chúng bằng cách tìm ra những điểm tốt trong câu chuyện buồn đó. Đừng tạo điều kiện cho buồn lo, sầu khổ,… nhấn chìm, não hại tinh thần của bạn. Nếu phải nhớ thì bạn hãy nhớ lại mọi việc rồi quên bỏ, đừng chất giữ tất cả mọi chuyện. Vì ngay cả mạng sống bạn còn không giữ, không làm chủ được thì bạn giữ những câu chuyện vẩn vơ, vớ vẩn để được gì? Bạn hãy giữ tâm trí an lạc, thảnh thơi, giữ tâm thanh tĩnh,…
Một vấn đề khác không kém phần quan trọng mà người cao tuổi cần lưu tâm. Đó là người cao tuổi phải rèn luyện lối sống lặng yên, tĩnh tại. Thế nên việc ít nói, giữ sự im lặng là cần thiết. Người xưa có câu “Đa ngôn sác cùng, bất như thủ xung” có hàm nghĩa là càng nói nhiều lại càng nguy hại cho thân, chi bằng giữ sự yên tĩnh, lặng im. Vì lẽ bạn hãy chú ý những người sau khi nói huyên thuyên, dông dài,…mọi chuyện thì phải dừng lại thở hào hển, mồ hôi đổ ra như tắm. Đặc biệt, ở những người cao tuổi sau một hồi tranh luận, “ăn to nói lớn”,… thì hơi thở gấp gáp, đứt quãng, hao hơi, tốn sức,… Khi con người cất lên tiếng nói, nhất là những lúc tranh cãi, kích động,… thì sẽ làm rối loạn nhịp thở, nhịp tim,… Điều này sẽ dẫn đến việc tán loạn hơi thở - khí lực mà khí lực trong cơ thể người là chủ của mạng người. Khí lực thực sự là chủ của mạng sống con người vì lẽ con người có thể nhịn ăn, nhịn uống vài ngày nhưng có mấy ai nhịn thở được 5 phút. Khi còn trẻ, khí lực con người còn mạnh nên cho dù có “Ăn to nói lớn”, “Lao tâm khổ trí”, tổn hao khí lực,… thì việc phục hồi nguyên khí, sức lực, bình ổn điều hòa lại hơi thở còn có phần dễ dàng. Tuy nhiên, nếu những người trẻ tuổi không biết bảo toàn nguyên khí, sống trong sự căng thẳng về tinh thần và thể chất thì việc hao mòn nguyên khí âm thầm sẽ gây ra bệnh tật, tinh lực suy, khí lực cạn dần, dẫn đến việc sức khỏe suy giảm, tuổi thọ rút ngắn lại. Còn đối với người già thì vấn đề nghiêm trọng hơn, việc nói nhiều sẽ làm khí lực tán loạn. Việc điều hòa bình ổn lại nhịp thở, nhịp tim, tâm trạng,… sẽ mất nhiều sức lực dẫn đến tổn hao nguyên khí, nguyên thần của con người.
Nguyên thần của con người là gì? Nói với nghĩa hẹp, dễ hiểu thì nguyên thần là sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Còn nói với nghĩa rộng, đầy đủ thì nguyên thần chính là tâm, còn gọi là phần hồn của con người. Một người được gọi là người sống thì gồm có 2 phần gồm thân và tâm. Thân xác là phần vật chất, có hình dạng có thể nhìn thấy, nắm bắt,… được xem là phần dương. Còn phần tâm thì vô hình, không thể sờ mó, nắm bắt,… được xem là phần âm. Nhưng trên thực tế người vừa mới chết, thân xác còn, phần tâm rời khỏi lại nằm im, bất động,… Vì thế khi nhìn nhận chuẩn xác hơn thì phần thân là dương nhưng thật ra lại là âm, tạm gọi là dương trong âm. Còn người sống cử động, suy nghĩ được là do tâm chi phối, điều khiển,… Tâm là phần âm lại có thể giúp thân xác bất động làm việc, đi lại, nói cười,… nên chuẩn xác hơn sẽ tạm gọi tâm là âm trong dương. Người chết, thân xác vật chất sẽ hư hoại, tan rã mất. Còn phần tâm không hình, không dạng,… thì sẽ tan mất hay ra sao? Phần tâm đi về đâu?
Khi nguyên khí tán loạn, tan mất thì con người sẽ chấm dứt mạng sống. Việc nói nhiều, tranh cãi kích động,… sẽ làm người già sớm chết hoặc rơi vào tình trạng già lẩn, si dại,… Thế nên việc dừng lặng, ít nói sẽ rất cần thiết cho sức khỏe tinh thần và thể chất ở người già. Không chỉ vậy việc ít nói sẽ không gây ra những cãi vã, xung đột,… trong gia đình vì sự khác biệt về nhận thức, sự hiểu biết, bối cảnh sống giữa hai thế hệ là luôn tồn tại. Điều này sẽ giúp cho gia đình bạn có sự hài hòa, ấm êm và hạnh phúc. Có thể bạn sẽ nghĩ: Nếu sống dừng lặng, ít nói,… thì người cao tuổi có khác gì “Pho tượng biết đi”, không có giá trị gì? Vậy “Chết quách cho xong”. Bạn đừng nên cạn nghĩ, cực đoan như thế. Vì lẽ: Một là việc nói nhiều, can thiệp quá mức vào việc làm của con cháu sẽ làm bạn “Hao hơi tốn sức”, làm rạn nứt tình cảm, đổ vỡ gia đình,… thì bạn nói để được gì? Hai là việc giữ trí não tinh tường, sáng suốt, sức khỏe tốt sẽ giúp bạn có tâm thái an lạc, tươi vui. Có tinh thần minh mẫn, bạn ít lời nhưng lời nói lại có sự chuẩn mực, lời hay ý đẹp - Bạn sẽ là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con cháu, được mọi người kính nể, tôn trọng. Ba là bạn thật sự không thể làm chủ việc chết vì thế bạn hãy giữ sự minh mẫn, bình thản để đón nhận một giấc ngủ nhẹ nhàng, thanh thản hơn là phải đau đớn, khổ sở, oằn mình,…khi cái chết tìm đến. Tóm lại, việc bạn ít nói, giữ sự yên lặng sẽ giúp bạn bảo toàn được sức khỏe thể chất và tinh thần.
Khi nói, bạn hãy nói những điều hay, những việc tốt để khuyên dạy con cháu. Hãy cất lời nói hợp thời, đúng lúc - Khi con cháu cần đến sự hiểu biết, kinh nghiệm từng trải,… của bạn. Là cha mẹ, bạn phải rõ biết những đứa trẻ khi đói chúng sẽ đòi ăn, khi khát sữa chúng sẽ đòi bú, khi “tè ướt quần” chúng sẽ kêu khóc,… Khi no đủ chúng sẽ hồn nhiên vui đùa, tự do,… Rõ biết như thế, bạn đừng gò bó, áp đặt, sắp xếp,… mọi việc cho thế hệ trẻ. Việc làm đó sẽ gây khổ cho bạn, cho con bạn, cho người thân,… Hãy sống an nhàn, thảnh thơi, dứt trừ lo toan, buông bỏ mọi việc,…
Tôi lại đi vào “vết xe đỗ” của những người mẹ, tôi sẽ kể một câu chuyện xưa cũ nát. Tương truyền vào một thời xa xưa, ở Trung Quốc. Có một nhà sư đạo cao, đức trọng được mọi người tin tưởng, cả nể. Vào một ngày kia, vị pháp sư được mời dự một tiệc cưới. Đến lúc nhìn thấy cô dâu và chú rể, nhà sư buộc miệng nói “Ô hay! Bà lấy cháu nội”. Hiển nhiên là câu nói đó đã gây ra sự chấn động lớn. Mọi người chú ý và yêu cầu nhà sư trình bày cho rành mạch, rõ ràng cơ duyên đã nói ra câu nói “động trời” trên. Nhà sư đã trình bày “Sở dĩ ông nói điều đó là vì cô dâu hiện tại chính là bà nội của chú rể”. Câu chuyện được kể rằng bà nội của chú rể vốn là một người hiền lành, tốt bụng. Tuổi tác đã cao mà bà lão vẫn cứ chất giữ tình yêu thương, lo lắng cho con cháu. Đặc biệt là bà lão rất yêu quý cháu trai vừa mới chào đời. Bà lão đã mất khi đứa cháu trai tròn một tuổi. Trước khi nhắm mắt bà vẫn ôm giữ ý định lo cho đứa cháu còn nhỏ dại, không có bà ai nuôi đứa cháu nên người. Vì ý nghĩ đó bà cứ quanh quẩn, lân la,… xung quanh ngôi nhà của mình. Rồi một ngày kia bà đã hạ sinh vào gia đình của người láng giềng bên cạnh. Năm tháng qua, hai đứa trẻ dần khôn lớn, chúng gặp nhau trong một lễ cưới.
Trong câu chuyện này bà nội của chú rể là người hiền lành, tốt bụng, sống thiện lương. Vì thế bà lão đã có thể luân hồi trở lại nẻo Người và thành toàn sở nguyện mà tiền kiếp chất chứa. Bạn đừng cho rằng câu chuyện này là thật, cũng đừng vội nghĩ là không thật. Nhưng bạn hãy sống để về sau đừng hối tiếc!
Có thể khi đọc những trang giấy này bạn là một đứa trẻ, một cụ già, một chàng trai, một cô gái,… Bạn hãy chiêm nghiệm, đừng vội xem qua rồi thờ ơ, lãnh đạm buông lời: “Chuyện của người ta”, “Đây là trò vớ vẩn của kẻ nhàn rỗi”,… Bởi lẽ dù bạn là ai thì tôi đã viết cuộc đời bạn vào trong vài trang giấy mỏng. Tôi đã thật sự làm điều đó. Giả như bạn nhận thấy những trang giấy này còn chút ít giá trị thì hãy giữ lại cho mình một bản và gửi tặng cho những người thân yêu khi cảm nhận họ cần đến.
Hãy xem những trang giấy mỏng này như là một món quà. Trân trọng! Chúc mọi điều tốt đẹp đến với bạn và bạn hãy luôn tươi vui, sống khỏe, hạnh phúc!
Không bao giờ là muộn cho việc sửa sai,
Không bao giờ là sớm cho việc rèn luyện một thói quen tốt.
Chương VI
Sửa Lại Chiếc Xe Đạp Cũ
- Lại nói về tôn giáo.
Tôn giáo tại sao lại có thể tồn tại lâu dài, xuyên suốt và dường như không có ranh giới, biên giới, không giới hạn quốc gia, vùng miền,… như các ngành khác? Bởi lẽ vấn đề tôn giáo là vấn đề tinh thần, niềm tin trong mỗi con người. Tín ngưỡng tâm linh dường như không tranh cạnh như các ngành nghề truyền thống khác. Thế nên tôn giáo vượt qua giới hạn vật chất. Cho đến khi sự hiểu biết, tính phân biệt,… con người nâng lên.
Đã có không ít người đã lợi dụng tôn giáo, xây dựng niềm tin cho các tín đồ nhằm phục vụ cho những mục đích riêng biệt, khác nhau.
Lão giáo ra đời dựa vào tri thức có trong Đạo đức kinh của Lão Tử nhưng Đạo đức kinh lại có chỗ khiếm khuyết. Con người hãy nên sống theo đạo nhưng đạo là cái gì mơ hồ, trừu tượng, không rõ biết. Thế nên thật không dễ để tin nhận, tùy thuận theo. Tại sao Lão Tử không thể thấu hiểu rõ đạo? Vì lẽ ông đã không thật sự đặt bản thân vào trong đạo. Ông chỉ sống tùy thuận theo quy luật đạo. Ông đã né tránh nhận biết quỷ thần, thế giới tâm linh. Vô hình chung ông không thể nhận biết thế giới vô hình cũng tồn tại trong đạo. Vì lẽ đó ông đã không thể hiểu đạo một cách sáng rõ và toàn vẹn.
Tuy nhiên, khi con người học hỏi, tìm hiểu sống thật với tri thức ẩn chứa trong Đạo đức kinh thì xã hội sẽ không còn tranh giành, hơn thua, được mất và cả việc bạo động. Quân đội được giải tán, vũ khí sẽ bị tiêu hủy. Những vật gieo rắc hận thù, đau khổ cho con người sẽ không còn khi con người sống có hiểu biết nhận ra lẽ thật của sự sống, giá trị của bản thân, vòng tròn sinh lão bệnh tử.
Khi con người hiểu biết sẽ không còn sự phân biệt, kỳ thị người Trung Hoa, người Tây Tạng, người Mỹ, người Châu Phi, người Châu Úc,… Có người nào không là người? Khi hiểu biết để sống thương yêu thì ranh giới, biên giới, quốc gia, vùng miền,… đã không còn là vấn đề sống còn, tranh chấp. Tại sao con người cứ phải giới hạn tình yêu thương chân thật của bản thân? Tại sao tôi không thể yêu thương người Đức, người Pháp, người Somali,… như yêu thương chính mình?
Ai có thể giới hạn tình yêu thương chân thành của mỗi người? Không có bất kỳ người nào có thể làm điều đó, ngoại trừ chính bạn.
Bạn hãy bước qua sự thực dụng, ích kỷ và nỗi sợ của bản thân. Hãy sống với sự hiểu biết và tình yêu thương chân thật để xóa bỏ khổ đau, thù hận, chiến tranh. Hãy quả cảm chọn lựa tương lai cho nhân loại và cũng là tương lai của chính bạn.
Phật Thích Ca ra đời đã nhận biết thế giới tâm linh và đặt bản thân vào trong đạo. Người rõ biết đạo. Việc nhận ra quy luật của sự sống ở 3 cõi 6 đường có thể tóm gọn chỉ bằng một câu nói ngắn gọn “Vạn pháp quy tâm”. Đó là đạo, là lời nói không hư dối, là lời đúng thật. Khi rõ biết đạo con người sẽ biết thương yêu chân thành, tấm lòng bao dung rộng mở,… Mọi xấu xa, thấp hèn,… sẽ bị đẩy lùi do sự hiểu biết được nâng lên. Con người cần nhận biết giá trị của tự thân và vòng quay luân hồi của sự sống. Khi hiểu biết sáng rõ, bạn sẽ có quyền chọn lựa “Dừng lại hay tiếp tục quẩn quanh trong một vòng tròn”.
- Vòng quay luân hồi.
Sinh lão bệnh tử là một vòng quay ở một đời người. Con người đã nhận biết nhưng thường hay quên lãng và không thật sự rõ biết. Khi còn sống, con người sẽ không nghĩ rằng “Mình sẽ chết”. Thậm chí, ngay cả khi đã chết vẫn có không ít người không chấp nhận “Mình đã chết”. Đó chính là “Dấu vết” để nhận biết thế giới tâm linh, vô hình. Thật ra con người đã không rõ biết “Ngay thời điểm hiện tại đã luôn luôn diễn ra sự sinh lão bệnh tử ngay trong thân xác và tinh thần. Mọi thứ đều đang biến chuyển chưa từng dừng lại trong mỗi người ngay cả lúc sống lẫn lúc chết”. Đó là sự thật. Hơn nữa, vẫn có những đứa bé vừa chào đời đã mắc bệnh hiểm nghèo và chết. Ở tuổi 20 đầy nhiệt huyết vẫn có thể chết vì cơn gió lạnh đầu đông. Tôi cũng có thể chết khi vội vã bước sang đường,… Vậy sinh lão bệnh tử phải chăng luôn hiện hữu? Ý thức rõ thật quy luật sinh lão bệnh tử bạn sẽ nhận ra “Giá trị của sự sống”.
Không chỉ vậy, sinh lão bệnh tử có chứa đựng chìa khóa khai mở sự hiểu biết về vòng quay luân hồi của vạn vật. Chữ tử không chỉ mang hàm nghĩa là “Sự chết” mà còn có nghĩa là “Con”. Và… bạn hãy nhìn xem xác thân vật chất của con người khi về già phải chăng teo tóp, thu nhỏ lại, chiều cao cũng thấp dần. Đôi khi cả chiều cao và cân nặng của người già cũng chỉ bằng đứa trẻ; về tinh thần, sự hiểu biết,… nếu bạn dám nhìn vào sự thật thì dường như trí não người già cũng suy giảm, giới hạn như là một đứa trẻ. Họ sợ sệt, lo lắng, toan tính vụn vặt, tấm lòng cũng không còn rộng mở như khi ở độ tuổi niên thiếu hoặc là khi cường tráng. Nếu bạn bắt gặp những người già không có ý thức nuôi dưỡng tâm hồn, nội tâm thì bạn sẽ nhìn thấy những người cao tuổi già lẩn, mất trí. Bạn đừng vội xót thương cho họ vì nếu không hiểu biết bạn sẽ trở thành họ ở thời điểm tương lai. Sự hiểu biết sẽ giúp bạn bước ra những cảnh đời bi thương, tăm tối. Phải chăng cuộc đời con người là một vòng quay tròn và lẩn quẩn? Con người sau khi “Chui ra vỏ ốc” đứng lên lớn mạnh, hùng dũng bước đi rồi từ từ bé nhỏ trở lại, tan rã và lại đi tìm lấy, chiếm giữ “Một vỏ ốc mới”.
Tôi đã tham khảo được trong kinh sách về một vòng quay luân hồi - Sự luân chuyển lên xuống, qua lại của chúng sinh trong 3 cõi 6 đường, giữa hai thế giới vô hình và hữu hình.
Để đơn giản tôi sẽ trình bày hai vòng quay riêng lẻ nhưng trên thực tế hai vòng luân hồi thuận nghịch đan xen, hòa quyện vào nhau.
Vòng luân hồi thuận: Vũ trụ vốn dĩ gồm hai thành phần - Phần vật chất hữu hình và phần vật chất vô hình. Khi có vật chất sẽ đồng nghĩa với việc có sự sống và không có một Đấng quyền năng nào đủ khả năng tạo ra vật chất. Vật chất là sẵn có trong vũ trụ. Cho đến khi mầm sống đầu tiên theo quan điểm của khoa học ra đời và phát triển. Sự tiến hóa sẽ dẫn đến sự phong phú, đa dạng các dạng sống, chủng loại khác nhau. Loài trên cạn, loài dưới nước, loài ăn động vật, loài ăn thực vật, loài to lớn, loài nhỏ bé, loài nhìn thấy được, loài chỉ nhìn thấy được bằng kính hiển vi, loài không thể nhìn thấy được - Thế giới tâm linh, vô hình,… và chúng luân chuyển lên xuống, qua lại với nhau. Điều đặc biệt là để luân chuyển từ thế giới hữu hình sang thế giới hữu hình có một bước lưu chuyển trung gian ở thế giới vô hình.
Vòng luân hồi nghịch: Đã có khiếm khuyết trong sự tìm tòi, hiểu biết của cá nhân tôi. Lý giải việc luân chuyển qua lại, lên xuống giữa những chủng loài có hệ thần kinh kém phát triển, không nhiều hiểu biết là điều dễ hiểu, không khó để nhận biết. Nhưng đối với chủng loài có hệ thần kinh thông minh như loài người thì thật sự khó luận giải. Sự thông minh, trí tuệ, khả năng phân biệt rạch ròi, tốt xấu, hay dở,… ở loài người là rất cao. Tại sao loài người lại chấp nhận rơi vào những cõi giới, những chủng loài cấp thấp? Tôi rõ biết là không có một Đầng quyền năng nào “Rỗi hơi” làm việc trừng phạt con người ở nơi địa ngục tối tăm. Không có một ai còn nhớ mình đã bị hành hạ, giày vò nơi địa ngục và… không một ai nhớ được những lỗi lầm đã phạm phải ở tiền kiếp mà sửa sai trong kiếp hiện tại. Vậy nên việc trừng phạt của các Đấng quyền năng ở địa ngục là không có giá trị. Thế nên sẽ không có Đấng quyền năng nào đảm nhận việc làm vô ích, vô nghĩa nơi địa ngục. Vạn pháp quy tâm để nhận biết rằng “Tất cả việc làm thiện ác, xấu tốt, khổ não, việc trừng phạt, địa ngục, ngạ quỷ,… chỉ lưu xuất từ trong bản tâm mê lầm, trói buộc trong sự giới hạn hiểu biết ở mỗi người”.
Thật không hợp lý khi khẳng định chắc thật là “Con người giết trâu, mổ heo,… lại phải thay hình đổi dạng nhằm trả món nợ đã vay”. Người giết thịt và người ăn thịt, ai mới thật là người tạo tội? Lại không hẳn là câu hỏi đúng. Tôi giết thịt vì sinh kế cho gia đình, cho những đứa con bé bỏng, đáng yêu. Tôi phải đền tội vì làm việc chân chính để nuôi sống gia đình? Trong khi những người ham thích “Món ngon vật lạ” lại thoát tội. Công lý nằm ở đâu? Tôi lại nhận biết “Khi mang xác thân vật chất, con người cần phải ăn để tồn tại”. Ăn thực vật hay động vật, về bản chất thật không có nhiều sự khác biệt, rất nhiều sinh mạng đã phải chết cho từng chén cơm rau. Phải chăng đạo lý giác ngộ có điều khiếm khuyết?
Tôi nhận ra “Món chay hay món mặn không hẳn là quyết định cõi giới mà tôi sẽ luân chuyển” nhưng câu hỏi “Tại sao con người lại chấp nhận quay về những chủng loài đội lông mang vảy?” vẫn chưa câu trả lời.
Rồi tình cờ tôi nhìn thấy những việc làm, hành động của những người cao tuổi già lẩn mất trí. Họ hoàn toàn không còn sự chọn lựa “Lối đi” cho bản thân. Tôi đã có được lời giải cho vòng quay luân hồi với một nỗi lòng nặng trĩu. Việc già lẩn ở con người vốn là một việc được tích lũy, trải qua nhiều kiếp. Khi đã có chìa khóa khai mở cho việc luân hồi ở 3 cõi 6 đường thì mọi việc trở nên sáng rõ. Vấn đề không phải ở việc ăn mặn hay ăn chay, người giết thịt hay kẻ ăn thịt,… mà là ở việc tham đắm thọ hưởng, sân hận, si mê dẫn đến con người rơi vào những đường xấu. Không những vậy, con người còn rơi vào nẻo xấu do sự thiếu hiểu biết về thế giới tâm linh, việc không sống thật ở thời điểm hiện tại, việc sống trong thế giới ảo tưởng, việc không chấp nhận sự thật khi “Mình đã chết”, việc cuồng loạn, níu giữ khi “Mạng sống gần dứt”,… Mọi thứ được tích lũy trong tâm thức phân biệt, dính mắc và sẽ hiển hiện khi đủ duyên.
Khi con người không hiểu biết sống thật ở thời điểm hiện tại, nếu xảy ra tai nạn hoặc biến cố đột ngột “Con người chết mà không kịp nhận thức rõ điều đó”. Vì ngỡ là còn sống, con người sẽ rong rủi, lang thang. Cho đến khi con người thèm một miếng thịt trâu, một con chim sẻ,… và nếu có một quả trứng, một bào thai tượng hình thì con người sẽ chuyển kiếp.
Những người bạn đang tìm “Bóng dáng” của bản thân trong những trò chơi game, trong đam mê của những chất kích thích, sự phấn khích của cờ bạc đỏ đen, của thú vui thân xác,… bạn đang không thật sống ở thế giới thật. Vạn nhất gặp phải điều bất hạnh, bạn sẽ lạc lối trong thế giới huyễn hoặc đang cố tạo ra, lang thang mãi trong thế giới ảo khi về lại thế giới vật chất chỉ e trên thân “Mọc đầy lông lá”.
Mọi việc sẽ tích lũy lại, bạn không dễ dàng từ bỏ một thói quen nếu không quả cảm từ bỏ thói quen đó. Chủ bạc sẽ trở thành con bạc; người bán ma tuý,… sẽ sớm trở thành con nghiện; cướp của, giết người rồi thì sẽ chịu sự trừng phạt của pháp luật, lương tâm. Công lý luôn tồn tại, công lý có trong sự hiểu biết của mỗi người.
Những điều tôi trình bày là lẽ thật. Bạn hãy chiêm nghiệm. Thận trọng!
Thật sự vòng quay luân hồi rất mầu nhiệm và công bằng. Luân hồi không đáng sợ như con người lầm tưởng. Con sâu rúc vào kén, hóa nhộng rồi thành bướm. Con sâu không chết đi, con sâu chỉ trở thành con bướm. Nếu nhận biết rõ thật như thế, con sâu sẽ không buồn phiền, khổ não vì con sâu biết rằng “Ngày mai, mình sẽ bay cao và bay xa hơn đến với những chân trời mới”. Chúng sinh 3 cõi 6 đường cũng đều như vậy nhưng điều quan trọng nhất là phải sống thật, an trú trong hiện tại và sống với sự hiểu biết sáng rõ về sự sống cũng như giá trị của tự thân. Một điều quan trọng không kém là phải giữ sự cân bằng, an toàn cho trái đất vì lẽ “Giữ được non xanh lo gì mai này không có củi đốt”.
Nhưng phải chăng không có lối thoát khỏi vòng quay luân hồi? Không. Vòng quay luân hồi vốn tự có lối ra. Tôi đã bước qua lối đó rơi vào luân hồi và cũng sẽ bước qua lối đó để thoát khỏi luân hồi. Nếu bạn nhận thức luân hồi quá khốc liệt, tàn nhẫn, mang xác thân vật chất chỉ khốn cùng, đau khổ thì tôi sẽ chỉ bạn lối ra. Sự tồn tại cái tôi trong bạn đã khiến bạn lạc lối trong 3 cõi. Bạn hãy hành trì buông bỏ cái tôi vốn không thường tại, hiện hữu bởi do sự mê lầm và sống thật trong hiện tại. Khi nhân duyên đủ, xác thân tan rã về tứ đại bạn hãy buông bỏ cái tôi thường tại vốn kết tinh bằng không đại cho tâm hòa vào hư không bao trùm tất cả. Bạn đã thoát khỏi luân hồi. Bạn đừng lo lắng loài người tuyệt diệt vì dù cho toàn nhân loại hành trì đồng thời thoát ra khỏi luân hồi thì sự sống vẫn tồn tại. Bởi lẽ có hai dạng chúng sinh mà bạn không rõ biết luôn tồn tại đảm bảo duy trì sự sống trong vũ trụ. Đó là chúng sinh một tâm có nhiều thân và chúng sinh một thân có nhiều tâm. Hơn nữa, những chủng loài cấp thấp hơn sẽ luân chuyển sang nẻo Người duy trì sự tồn tại của con người.
Bạn hãy chọn lựa con đường bạn đi “Dừng lại hay tiếp tục trôi nổi trong luân hồi”. Nếu muốn bước vào những nẻo tốt ở 6 đường thì bạn hãy sống thật với sự hiểu biết sáng rõ và an trú ở thời điểm hiện tại để thường xuyên tiếp xúc với bản tâm vắng lặng, không phân biệt, dính mắc. Khi có chánh định và biết buông bỏ, dừng lại đúng lúc bạn sẽ tự chủ hoàn toàn trong các nẻo luân hồi. Từ bi hỷ xả là trợ pháp hữu hiệu giúp bạn dũng mãnh, tinh tấn hành bồ tát đạo. Bạn nên tỉnh táo, sáng suốt lựa chọn lối đi cho bản thân vì lẽ “Thân người khó được, chánh pháp khó tìm cầu”. Nếu đã có đủ duyên thì bạn hãy nên trân quý giá trị của sự sống và giá trị con người.
Tâm có thể rỗng không, tịch tịnh. Tâm vốn là hư không. Ý thức phân biệt, dính mắc,… tạo ra cái tôi ở mỗi người. Cái tôi đó không hình dạng, màu sắc, không thể cầm nắm, nếm ngửi. Thể của cái tôi cũng là hư không. Nhưng chúng sinh trong 3 cõi u mê, chấp giữ nên theo nghiệp lăn lên, lộn xuống trong 6 đường vì nghĩ tưởng cái tôi là thật có. Nếu bạn nhận ra đời là bể khổ. Muốn thoát khỏi luân hồi; không muốn trôi nổi, đói khổ trong kiếp ngạ quỷ, không muốn chịu nỗi đau kinh khiếp do việc bị hành hạ ở cõi địa ngục tối tăm, không muốn “mang lông, đội vảy”,… Chấp nhận “Chết là hết” thì bạn hãy hành trì buông bỏ cái tôi. Khi “nhắm mắt lìa đời” hãy tan ra như làn khói nhẹ, như hạt sương mai,… Bạn sẽ được giải thoát hoàn toàn. Bạn hãy sống tùy thuận theo đạo. Dứt trừ tham lam, sân hận, si mê, hoài nghi và kiêu mạn. Lối sống đó sẽ giúp bạn có cuộc sống an lạc, thanh thản, hạnh phúc. Từ bi hỷ xả giúp bạn sớm được giải thoát hoàn toàn. Thật không dễ buông bỏ! Nếu bạn không thật sự quả cảm và mạnh mẽ từ bỏ lối sống thực dụng ích kỷ, xấu xa, đam mê hưởng thụ. Tôi vì bi nguyện của Đức Phật Thích Ca nói lời đúng thật, không hư dối gửi đến nhân loại. Trân trọng!
Hãy xét lại vấn đề “Bạn nên cứu người hay cứu bạn trước?”.
Chương VII
Khoảng Giữa Miền Tối Sáng
Tôi đã trình bày thế giới tâm linh và huyễn thân - hình thần trong phương pháp tu tiên ẩn chứa ở đạo Lão bằng những ngôn từ chân thật, mộc mạc. Nếu tôi không từng tiếp xúc cõi giới vô hình và hành trì chạm đến huyễn thân thì sẽ khó có thể trình bày vấn đề rõ thật đến vậy. Tôi đang khẳng định sự thông minh, nhiều hiểu biết và việc thực chứng. Không ích gì. Vì tôi rõ biết “Tôi sẽ đánh mất mình khi thể hiện bản thân”.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,
Người đời ai khóc Tố Như chăng?
(Nguyễn Du)
Văn hào Nguyễn Du từng cảm thán “Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, người đời còn có ai khóc thương cho ông không?”. Có lẽ chẳng còn ai nhỏ lệ khóc cho người cũ đã ba trăm năm? Tôi rõ biết điều đó và tôi cũng không cần người nhỏ lệ khóc tiễn đưa vì những giọt nước mắt đó cũng chỉ là vô nghĩa khi thế giới vẫn còn chiến tranh, thù hận, khổ đau. Nếu có thể bạn hãy chuyển hóa những giọt nước mắt tiếc thương thành sức mạnh tinh thần, cùng truyền trao bộ sách “Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị của con người” để nhân loại cùng nhau dệt một giấc mơ đẹp. Giấc mơ về một nền văn minh mới, một kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên nhân loại cùng chung sống trong sự hiểu biết và thương yêu chân thành.
Lẽ ra, tôi để bộ sách âm thầm sống trong lòng mọi người. Vài trăm năm sau lại có một “Thánh nhân” đã chết được thừa nhận. Nhưng tình hình kinh tế - chính trị - xã hội thế giới đang hình thành và lộ rõ những mối nguy lớn có thể bộc phát gây biến động sâu sắc đến nhân loại. Con người lại ngụp lặn trong những khổ đau, thù hận, chiến tranh. Tôi rõ biết “Thế giới tiến bộ chậm chạp 1000 năm vẫn an toàn và ổn định hơn so với việc thế giới phát triển vội vã, không định hướng sáng rõ chỉ với 100 năm”. Thế nên tôi cần bạn tiếp sức mang sự thật về giá trị, nguồn gốc sự sống và con người trả về sự hiểu biết cho nhân loại. Bạn hãy yên tâm trao truyền bộ sách vì tôi đã dùng mạng sống của bản thân nhằm tự chịu trách nhiệm về mọi vấn đề đã trình bày.
Ngôn từ có trong bộ sách đôi khi thể hiện sự cao ngạo, tự phụ nhưng đó không là bản chất, đó chỉ là hiện tượng mà thôi.
Tại sao tôi lại chủ động đối đầu với những thế lực hùng mạnh?
Vì lẽ nhân loại dường như đã không nhận biết rõ thật đâu là gốc ngọn của các thành phần, tầng lớp trong xã hội, giữa mối quan hệ người với người. Nếu chỉ lặng lẽ trao truyền trong tầng lớp dân thường thì việc làm tươi mới, ổn định địa cầu sẽ chậm chạp. Thậm chí là sẽ không khả thi. Tôi nổi loạn manh động chạm đến các nhà lãnh đạo tinh thần, tôn giáo, chính trị, nhà tư tưởng, nhà quản lý, nhà văn hóa, các chuyên gia,… vì họ là những người nắm lấy tư tưởng cũng như khả năng định hướng phát triển nhận thức, ý thức, tư duy của nhân loại. Việc va chạm giữa tôi với họ cũng giúp bạn nhận ra giá trị thật sự của tự thân. Trong mối quan hệ xã hội, bạn thật sự là gốc rễ. Thế nên bạn hãy dùng sự hiểu biết chân chánh để thể hiện lập trường yêu chuộng hòa bình, ổn định bền vững và cân bằng hài hòa xã hội. Tuy nhiên, bạn hãy dựa vào sự hiểu biết yêu thương để giải quyết mọi vấn đề. Bất tranh, bất bạo động là vấn đề sống còn của nhân loại.
Con người không thể dùng chiến tranh, thù hận, máu và nước mắt để xây dựng một thế giới hòa bình, hạnh phúc, thịnh vượng, sống thương yêu.
Bạn và nhân loại hãy cùng đồng lòng lên tiếng “Kêu gọi, ngăn chặn chạy đua vũ trang, dẹp bỏ những kho vũ khí hủy diệt, bom nguyên tử,… định hướng lại sự phát triển của khoa học, xã hội là vấn đề sống còn của nhân loại”. Trái đất sẽ cân bằng, hài hòa, ổn định trở lại khi sự gắn kết giữa người với người, giữa các thành phần, tầng lớp trong xã hội con người được bền chặt dựa trên sự hiểu biết và tình yêu thương chân thật.
Có thể bộ sách của tôi ra đời không có được một điểm tựa vững chắc tại nơi bộ sách hoàn thành nhưng tôi tin rằng “Các quốc gia đang lâm vào nạn khủng hoảng kinh tế, nợ công, nhân đạo, xã hội rối ren, các nước đang leo thang chiến tranh và nhân loại thế giới đang cần đến vì sự hòa bình, văn minh, tiến bộ của nhân loại,…”. Các nước như Đức, Pháp, Hy Lạp, Hàn Quốc, Triều Tiên, Iran, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản,… Nếu có thể bạn hãy dịch ra nhiều thứ tiếng và giúp quyển sách vươn ra thế giới. Bộ sách cũng là tiếng nói chung của người Việt Nam yêu chuộng hòa bình vì sự an ninh và ổn định của thế giới. Bất kỳ nơi nào - quốc gia, vùng miền,… mà rộng truyền bộ sách “Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị của con người” thì nơi đó sẽ sớm có những đổi thay tích cực trong nhận thức, tư duy của con người trong người dân và các thành phần, tầng lớp xã hội ở nơi đó. Xã hội quốc gia, vùng miền,… đó sẽ tự ổn định, cân bằng và hài hòa hơn.
Đừng nhầm lẫn việc tôi đang dùng bạn để tạo danh tiếng, địa vị cá nhân. Nếu xét việc được mất thì dường như là tôi chẳng có cái để được.
Trước đây, nếu nhân loại chưa có nhiều hiểu biết thì với bộ sách “Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị của con người” hẳn là tôi sẽ được ghép vào tội - Tội ác chống lại loài người. Hiển nhiên là hình phạt cho dạng tội phạm đặc biệt nguy hiểm này luôn rất tàn khốc nhưng đó đã là câu chuyện của ngày hôm qua. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tôi sẽ không phải trả giá cho những việc đã trình bày.
Tôi hiểu rằng “Với những điều đã trình bày, tôi thật không đáng để nhận lấy cái chết”. Nhưng xã hội con người luôn tồn tại những thành phần cực đoan, cơ hội,… có thể họ không chấp nhận những điều tôi đã viết và việc gì đến sẽ đến. Có thể sẽ có điều bất hạnh xảy đến với tôi. Đôi khi sự việc không hay đó sẽ vượt mức, khó kiểm soát, ảnh hưởng không tốt đến xã hội. Thôi vậy, hãy xử sự mọi việc nhẹ nhàng hơn, họ muốn đến lấy những gì thuộc về họ thì cứ để họ lấy.
Tôi cũng nhận biết rằng “Khi bộ sách rộng truyền thì tôi sẽ có sức mạnh của nhân loại. Sẽ có rất nhiều người sẵn sàng vì tôi mà chết”. Họ sẽ đứng ra bảo vệ tôi nhưng việc làm đó thật sự không cần thiết. Tôi sớm muộn gì thì cũng sẽ phải chết và người đến chỉ muốn “Tôi trả giá việc đã làm”. Vậy thôi! Hãy thành toàn sở cầu cho họ.
Đừng tạo thêm hận thù vì khi sự việc an bài thì tôi sẽ không quay trở lại. Hãy sống hiểu biết cảm thông, tha thứ để thương yêu chân thành.
Tôi cũng không chuẩn bị tinh thần cho việc tạo lập một địa vị trong xã hội. Tôi chỉ muốn quay về cuộc sống của một người dân thường, sống một cuộc đời vô lo, tự tại, thoát ra khỏi việc được mất, hơn thua. Tôi chỉ là một người nhu nhược, yếu đuối, không có tinh thần cầu tiến. Tôi là người đến từ hôm qua. Thế nên, bạn hãy để tôi mất hút giữa dòng đời như chưa từng đến bao giờ. Việc cần làm đã làm, việc cần viết đã viết. Tôi chẳng còn gì để trình bày cho bạn. Còn chăng chỉ là trái tim, đôi mắt, lá gan,… khi bạn cần cứ việc đến lấy.
Tôi mạo muội gợi nhớ lại lời di nguyện và mong bạn thành toàn “Mai này khi phần xác thân vật chất của tôi đã hư hoại, không còn giá trị thì bạn hãy đốt thành tàn tro tùy thuận ném vào hư không”. Tôi mong bạn thành toàn việc làm này không phải vì tôi mà là vì bạn. Vì lẽ tôi không muốn tạo thêm mê lầm trong nhân loại.
Có thể việc ra đời bộ sách “Sự hiểu biết làm thay đổi nhận thức, giá trị của con người” sẽ khiến tôi lấy mất “Trái tim” của bạn. Hãy thận trọng! Bạn đang gửi niềm tin, hạnh phúc, tình yêu thương chân thành vào giọt sương mai trên lá cỏ. Mọi vấn đề đều có thể xảy ra trong cuộc sống xã hội với lòng người đa đoan, muôn lối. Vạn nhất tôi không còn lá gan, quả thận, đôi mắt, trái tim,… thì nước mắt, nỗi buồn đau,… sẽ làm bạn gục ngã, đánh mất sự an vui. Thế nên, bạn hãy xem tôi như người xa lạ.
Sau cùng, tôi sẽ lập lại thông điệp gửi đến bạn: Hãy tạo nên phép màu “Tịnh hóa địa cầu”. Hãy chọn tương lai cho nhân loại.
Chúc bạn luôn khỏe mạnh, yên vui sống trong tình yêu thương chân thành và sự hiểu biết! Cám ơn, bạn!

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét