Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

BỒ ĐỀ ĐẠT MA QUÁN TÂM PHÁP - THÍCH MINH THIỀN phần3

TUẦN THỨ TƯ
18 – 6 – 1972 (8 – 5 N. Tý)
Hôm nay trước khi vào học tiếp, tôi xin đưa ra một
nhận xét mong quí vị lưu tâm:
Trong một số người đến cùng nhau học Đạo ở đây,
chỉ có bao nhiêu đây mà tôi thấy có đến mấy người
cận thị; như thế tính ra số người ấy trên đất nước
Việt Nam và trên thế giới thì sẽ ra sao ?! Một vấn đề
như thế mà người ta vẫn coi thường! Tôi thấy rất
đáng thương tâm. Đó là điểm thứ nhất.
Điểm thứ hai là: Chiều hôm qua cửa chùa bị xét.
Thực ra chuyện đó không có đáng chi, nhưng cũng
có thể gây ra thành tai hại khủng khiếp. Vì nếu tôi
như người ta, không phải thiệt tu - gặp những kiểu
đó, thì nếu tôi không theo phe này cũng sẽ theo phe
kia để chống lại cho vừa ý mình.
Chỉ bao nhiêu đó thôi, mà nếu mình không biết
được mình thì sẽ gây tùm lum ra, để rốt cuộc càng
không biết được mình cũng không thể biết được
người. Nên ở đây hễ tôi có nói là nói thẳng thắn
không khi nào tránh né, miễn tôi xét thấy việc tôi
làm không sai và không có gì trái với Đạo.
Chỉ một cái nhìn đó cũng đủ cho chúng ta thấy cái
tình thế nhân loại đang xuống dốc một cách ghê
gớm. Nên nếu chúng ta nhẹ dạ kiểu đó thì ai điều
khiển mình cái gì cũng được. Do đó Thiền học có
danh từ “Như cẩu trục khối” (Cẩu là chó, trục là
đuổi theo). Nghĩa Thiền học muốn nói rằng: Khi
không biết gì hết về mình thì ngoại cảnh thúc đẩy
mình sẽ bị chạy theo, cũng như chó bị đuổi theo cục
đất ném vậy. Đó là hai điểm chúng ta cần lưu tâm.
Giờ đây chúng ta học tiếp phần “Luận Ngộ Tánh”.
* Thế mới biết: chấp tâm học pháp thì cả tâm lẫn
pháp đều mê. Đừng chấp tâm mà học pháp thì cả
tâm và pháp đều ngộ.
Nghĩa là dù chấp tâm cũng là một thứ chấp. Chấp
là gì? – Là một chữ để chỉ cho sự đóng cứng một
chỗ. Bởi vì vũ trụ này rất sống, không có lúc nào
chết tê một chỗ ; nên nếu mình đóng cứng lại thì đó
là chấp.
* Phàm mê nghĩa là mê ở trong ngộ, ngộ là ngộ ở
trong mê..
Nghĩa là chính mình đây là một hiện tượng từ
trong tự tánh xuất hiện. Mỗi người đều vốn có tánh
Phật. Nhưng vì mê nên gọi là mê ở trong ngộ.
Nhưng cũng y như trên thân chúng sanh này, bây
giờ biết được thân này chỉ là hiện tượng mà không
kẹt ở trong tướng, nên gọi là ngộ ở trong mê. Giản
dị như vậy. Ý nói bàn tay vẫn y nguyên là vậy, mà
trở bên này sấp, trở bên kia ngửa; chớ không phải là
cái nào khác.
* Con người chánh kiến biết được tâm vốn rỗng
không liền siêu mê ngộ.
Làm sao biết được như thế ? - Mỗi chúng ta cứ để
tâm thanh tịnh đừng nghĩ phải quấy, thiện ác chi
hết; rồi soi trở lại tâm mình thấy nó đặc hay lỏng,
lớn hay nhỏ, trong hay ngoài … tự nhiên sẽ nhận ra
được chớ không có chi khó khăn hết.
Khi biết được tâm vốn rỗng không, nghĩa là biết tất
cả tướng đều là hiện tượng – lòng sẽ không còn kẹt
vào cái chấp đóng cứng nữa, thì tất nhiên là siêu mê
ngộ.
Siêu mê ngộ là sao ? – Nghĩa là ở trong tướng mà
không mắc kẹt với tướng, ở trong không mà không
mắc kẹt với không. Đừng hiểu chữ siêu là nghĩa
không ở trong mà nhảy vọt ra tới ngoài; bỏ xác thân
này để nhảy đi tìm cảnh nào khác. – Siêu nghĩa là
vẫn ở trong mà thông suốt ra tới ngoài. Ngoài với
trong vốn không có, chỉ có đồng nhất; chớ không
phải là bỏ ở trong mà chạy ra ngoài, hay bỏ ở ngoài
mà chạy vào trong.
* Như thế mới gọi là thấy biết đúng. Sắc chẳng tự
sắc, do tâm nên có sắc.
Có bao giờ cây quạt tự nó ngồi dậy xưng tao đây là
quạt! Tại có người ta nên mới có tên quạt và vật gọi
là quạt. Nhưng có người khác cũng chưa đáng quan
hệ, phải có mình mới có vấn đề. Bởi vì khi chưa có
mình, chuyện ở ngoài này có hay không không
thành vấn đề. Chỉ khi có mình rổi mới có vấn đề.
Nên biết trung tâm vấn đề là mình.
* Tâm chẳng tự tâm, do sắc nên có tâm.
Sự thật, nói tâm nói sắc là tại có thân này. Vì chấp
thân nên mới có sắc và mới sanh tâm. Nên biết cái
chấp là nguồn cội.
* Thế mới biết tâm và sắc, cả hai cùng nương nhau
sanh diệt.
Hễ có chấp thân thì có chấp tâm.
Kinh Hoa Nghiêm có nói: mỗi người có hai thiên
nhơn đi theo ở hai bên vai, một người tên là đồng
danh, một người tên là đồng sanh; hễ mình làm điều
chi họ cũng biên vào sổ. – Cũng như nói đến Phật,
thì mỗi vị có hai vị Bồ Tát theo hầu. – Hay các cụ
già ở thôn quê cũng thường nói: “Tụi bây làm gì thì
làm, coi chừng có 2 bên vai vác làm chứng à !”. –
Là vì hễ có chấp thân này thì có phải có quấy, và có
ôm đồm chấp chứa. Nên hễ có một chút xíu là có đủ
thứ hết.
* Có là có ở trong không. Không là không ở trong
có. Thế gọi là thấy đúng.
Nghĩa là không một cái “có” nào không là tổ hợp.
Không có tổ hợp nào lại không ở trong tổ hợp, dù
nhỏ đến thế nào cũng vậy.- Thế mới biết: cái “có”
theo kiểu mình đặt, chẳng qua cũng là một thứ
“không”. Và cái “không” theo kiểu mình đặt chẳng
qua cũng là một thứ “có”. Do đó là có ở trong
không, không là không ở trong có. Thế gọi là thấy
đúng.
* Vả chăng, nếu thật thấy là không chỗ chẳng thấy,
cũng không chỗ thấy.
Nếu thật thấy thì không có thấy từng lỏm, từng cục
riêng; nghĩa là thấy khắp. Tôi thấy rằng tôi với ông
không có dính dấp gì nên tôi ích kỷ thẳng tay, tôi
nghĩ bài trừ được ông càng tốt. Nhưng sự thật, nếu
tôi tiêu diệt hết tất cả những gì không phải tôi thì tôi
cũng phải tiêu diệt luôn.
* Tuy thấy khắp muời phương, nhưng chưa từng có
thấy. Vì sao thế ? – Vì không chỗ thấy, vì thấy được
cái không thấy, vì thấy không phải thấy.
Nghĩa là con mắt của người thông đạt không có
thấy một vật nào riêng tư, cũng không một vật nào
đặc kẹo như bánh đúc như cái thấy của con mắt
thường tình. Bởi vì bao la vốn đồng nhất, tương
quan, biến hóa, lưu thông và cũng bất khả phân, bất
khả hợp.
* Cái mà phàm phu gọi là thấy ấy đều là vọng tưởng
cả.
Nói như vậy không phải là Phật phủ nhận cái thấy
của chúng ta; nhưng vì cái thấy của chúng ta bị
thông qua con mắt và màn lưới của cái tâm mê.
Thí dụ một sắc đẹp từ khi mới tượng trong thai đến
khi già xuống lỗ đều thay đổi một cách biện chứng.
Nhưng chúng ta lại chận đứng một khúc mình vừa
mắt nhất; đề rồi nào luyến tiếc, nào kỷ niệm … xót
thương chồng chất … Thế là chúng ta không thấy gì
hết, hay là chỉ thấy bằng vọng tưởng. Nên mới có
câu:
“Đêm nay là cuối mùa Đông
Giấy hoen, mũ cũ, mắt dưng lệ thừa
Lần trang kỷ niệm về xưa
Sầu theo dòng chữ như mưa lào rào..”
Như vậy là mang cái cũ đã qua rồi đeo lên cổ, lấy
cái nặng đó mà cảm thấy sướng.
Thật ra qủa địa cầu này vẫn sống như chúng ta
sống. Nếu chúng ta thử bước tránh ra ngoài vòng
bao la, lớn bằng cái lớn của hư không, rồi quay nhìn
lại qủa địa cầu nay suốt từ khi nó mới tượng cho đến
khi lâm chung. Nếu chúng ta quay phim, chiếu lên
màn bạc thật nhanh, chúng ta sẽ thấy rõ qủa địa cầu
này thật đang sống. Nó cũng thở phình ra thóp vào
như bao nhiêu cuộc sống khác. – Nhưng thường thì
chúng ta chận một khúc vừa ý để ôm lại, còn khúc
nào ghét thì chận để xô nó ra. Nên ôm đồm chấp
chứa riết rồi nặng qúa đi không nổi, bịnh đó là tại
chúng ta không có thấy suốt. Do đó kinh Lăng
Nghiêm nói : “Tại vì mình muốn thấy quá nên
không thấy được”. Lão Tử cũng nói :”bởi vì mình
thấy nhiều quá nên mắt hóa ra đui” là nghĩa như thế.
* Nếu vắng lặng không chỗ thấy mới gọi là thấy
thật.
Đó là nghĩa thấy không có manh mún. Tôi thấy
trong tôi có tất cả mọi người, trong tất cả mọi người
có tôi. Do đó tôi mới ngồi đây để nói chuyện này
với qúi vị. Chớ nếu tôi thấy mỗi người đều riêng tư
thì tôi sẽ lo ích kỷ phận tôi, sống đời cho yên ổn
phần tôi.
* Tâm và cảnh đối nhau, cái thấy trong đó phát sanh
Nghĩa là tánh biết của mình đụng với cái tướng,
phát ra cái trí, rồi nó đặt tên, phân chia .. gọi là thấy.
* Nếu trong chẳng khởi tâm thì ngoài chẳng sanh
cảnh, cảnh và tâm đều vắng lặng, như thế mới gọi là
thấy thật.
Nếu tôi thấy được tất cả mỗi cảnh vật đều y như nó
hiện đang có, đừng chồng thêm một ý nghĩ thì
không có cảnh vật nào nao núng tôi được. Nhưng ý
nghĩ nó tới lẹ lắm – Tôi đi ngang cây cầu khỉ, nếu ở
dưới rạch có nước thì tôi mạnh dạn đi qua, còn nếu
không có nước là tôi không dám đi. Thế là hồi tôi đi
hay không dám đi đều đã có tính toán rồi, mà không
cần thời gian suy nghĩ. Hễ thấy có nước đi qua dễ,
là hồi đó ở trong tôi đã tính nếu rớt trên mặt nước
thì tôi cũng biết lội nên không lo. Còn không có
nước mà không dám đi là tôi cũng đã tính rồi, rủi rớt
xuống dưới bùn qúa sâu thì nguy lắm, nên sợ mà
không dám đi. - Nếu có chuyện gì tới, chúng ta
đừng có một chút tính toán gì ở trong lòng thì cảnh
sẽ không điều động chúng ta được. Nhưng tai hại
nhất là lòng chúng ta luôn luôn bàn cãi, tính toán đủ
các thứ ở trong. Thế nên chúng ta đừng nghĩ rằng;
sao cái tâm tôi nó yên qúa, mà tôi vẫn khổ như
thường! – Đó là chúng ta tưởng tượng vậy thôi, chớ
không bao giờ có chuyện tâm yên mà vẫn khổ vì
trong tâm chúng ta nó đá banh mà mình cũng không
hay. – nên trong chuyện thầy trò Tam Tạng cãi nhau
về vấn đề Tâm Kinh, cuối cùng Tôn Ngộ Không nói
:”nghĩa là cứ việc làm thinh, làm thinh tới trong
ruột, đi hoài chừng nào tới thì thôi !”. Sự thật là hầu
hết chúng ta không làm thinh được như vậy, hễ
chuyện đụng tới là liền nhảy nhổm ra, nên sự thấy
biết dễ dàng bị nhầm lẫn. – Đó là chỗ chúng ta rất
nên lưu tâm.
* Chẳng thấy tất cả pháp mới gọi là được Đạo.
Chẳng biết tất cả pháp mới gọi là tỏ pháp.
Nói đến đây tôi nhớ có người hỏi Ngũ Tổ :”Tại sao
trong chùa có hơn ngàn người, đủ thứ bậc … đều
học Đạo đã lâu, tại sao Tổ không truyền y bát cho
các người đó, lại truyền cho một người mới vào
chùa chưa biết đọc, cũng chưa tụng một bài kinh
nào, chưa thọ một giới nào? – Ngũ Tổ trả lời :”Tại
vì Huệ Năng không biết pháp Phật nên được truyền
y bát”. Câu nói thật chẳng khác nào đóng đinh vào
lỗ tai chúng ta vậy! Sự thật, đó là ý Tổ muốn nói
Huệ Năng từ hồi nào đến giờ chưa có kiến thức nên
nghe chuyện này liền được thấm trọn vào lòng; còn
các ngươi vì chồng chất kiến thức nhiều qúa nên cái
nghe chỉ là sơn phết ngoài da chớ không ăn sâu vào
trong lòng. Tôi ý thức điều đó một cách thâm sâu vô
cùng. Từ thời Ngũ Tổ đến bây giờ đã qua bao nhiêu
lâu, Tổ đã nói lên câu đó mà đến bây giờ chúng ta
cũng chưa thức tỉnh!
Kiến thức tôi nói đây, dù cho kiến thức của Phật
giáo cũng là kiến thức mà thôi. Chúng ta hãy nhìn
trọn tất cả đại học Phật Giáo Việt Nam cũng như
Nhật Bản, kể cả đại học Nalanda - đều vẫn làm theo
kiểu chẳng những giữ nguyên cái mê mà còn nuôi
lớn thêm cho thành những con vẹt nhà Phật, chớ
không phải để giúp thêm cho con người có đủ khả
năng tu chứng? Do đó chúng ta thấy nêu lên câu nói
nghe như rất đúng :”Tu mà không học là tu mù, học
mà không tu là đải đựng sách”. Nhưng rốt cuộc là
câu nói nêu lên để chơi, mà làm vẫn y như cũ! - Chỗ
đó Ngũ Tổ có nói rõ lắm : dù cho các ông có giàu
kiến thức phật-giáo đến đâu, cũng chỉ là một thứ
chướng Đạo (gọi là sở tri kiến, có khi Phật dùng chữ
sở tri ngu). Bởi bị biết nhiều qúa hóa ra ngu, vì cái
biết đã cản lấp trí huệ. – Thí dụ tôi đi đến một nơi
mà người ta đồn rằng có ma nhiều lắm. Nghe nói
vậy tôi không biết làm sao, liền bấm ngón tay, vừa
đọc thần chú vừa đi tới. Như thế tôi nói rằng tôi
không sợ ma là đâu phải! Đó là tôi đã dựa hẳn vào
cây cột thần chú và bấm ngón tay mà không sợ vậy
thôi! Nên phần đông chúng ta đều tìm cách đào tẩu,
tìm hóc để chun vào chớ không cần tìm sự thật; cho
đến tình trạng hiện nay mà vẫn còn mua hầm núp
nổi để núp chớ không phải là thiệt muốn giáp mặt
sự thật để biết; và điều đáng tội nghiệp nhất là kiến
thức Phật giáo cũng đã bị rơi vào trong đó. Do đó
tôi thấy câu nói của Ngũ Tổ là một lời than đối với
tình trạng đang xuống dốc khủng khiếp của chúng ta
ngày nay vậy.
Hỏi: Thưa, nếu tai hại đến như thế tại sao Phật lập
pháp để lại làm chi?
Đáp: Điều đó không có chi lạ. Dù cho tôi có tài ba
gì, cho đến tất cả chư Phật cũng thế, đều phải mượn
phương tiện để nói cho chúng ta nghe. Do đó ở
trong cái đồng nhất mà lòng còn vướng 2 tướng, thì
dù nói có hay đến đâu cũng là ma nói. Nên kinh
Kim Cang có nói :”Không có Phật, cũng không có
pháp để nói nữa”. Nghĩa là sợ mình rơi vào trong
cái nghe, để rồi sẽ thấy có ông Phật ở trên thiệt cao,
còn mình ở dưới lỗ nẻ; là hai người cách biệt. Chớ
không thấy được bổn lai không có chia chẻ, không
có 2 tướng. Nên kinh Hoa-Nghiêm có câu:
“Vọng niệm thiên lưu nải hữu khứ lai chi tướng,
Chơn tâm tuyệt đải bổn vô kim cổ chi thù”.
Nghĩa là vọng niệm trôi lăn nên có tướng đi tướng
đến. Sự thật bổn tánh vốn không có hai nên không
có xưa và nay.
Và cũng vì như thế, một lần ông Tu Bồ Đề tụng
kinh Kim Cang xong, chư thiên ứng thanh lên nói
:”Tu Bồ Đề tụng Kim Cang hay qúa !” – Tu Bồ Đề
đáp :”Tôi có nói gì đâu ?” Thiên thần liền ứng :”
Ông không có nói gì hết, thì tôi cũng không có nghe
gì hết”. – Nghĩa là người huyển nói người huyễn
nghe, phải hiểu như thết mới đúng lý. Phải đặt một
nền móng bổn lai vốn không hai tướng để nghe
pháp thì pháp mới chơn. Nên từ mấy năm nay, tôi
luôn luôn đề cao với tất cả chư quí vị thiện hữu đến
đây nghe - về vấn đề phải nhận cho ra nguồn tâm
linh ngay ở nơi lòng mình trước, rồi nghe cái gì
cũng trúng, nhìn ở đâu cũng trúng. Do đó tôi nói khi
đang mang kính đen mà muốn nhìn màu sắc đích
thật của sự vật, thì công việc ưu tiên của tôi là phải
gỡ cặp kính đen để xuống chớ đừng đi tìm cách nào
khác. Hễ gỡ kính đen để xuống rồi thì tôi nhìn ở đâu
cũng thấy được mặt thật. Do chỗ đó, tôi thường
khuyên mỗi người nên phải để nằm lòng câu nói của
ngài Huệ-Năng khi Huệ-Minh đến hỏi pháp :“ Nếu
ông muốn nghe pháp, hãy nên dứt hết các duyên,
đừng mống sanh một ý nghĩ, giây lát ta sẽ nói cho
nghe”. Giây sau Tổ Huệ Năng mới nói: “Vậy trong
khi không nghĩ thiện nghĩ ác gì hết, cái gì là tâm
tánh của ngài?”.
Đến chỗ đó thì không có người nói và người nghe,
mà cũng có người nói cũng có người nghe. Và có
thể nói hoài cũng được, mà nín hoài cũng được – Đó
là chỗ cốt tủy. Chúng ta làm sao mang ý thức đó đi
vào tất cả hành động hằng ngày, thế là đắc Đạo. Đắc
Đạo nghĩa là không có được gì hết; nghĩa là vẫn
cuộc sống bình thường này mà vẫn yên ổn, lòng
không sạo sục.
* Vì sao thế? – Vì thấy và chẳng thấy đều là chẳng
thấy
Tôi đã nói qua về 2 cách biết con rùa : một người
biết thật rõ ràng hình dáng con rùa, thấy cách sinh
hoạt và nếm vị thịt của nó mà không biết tên gọi con
vật là gì. Có ngưòi đưa con rùa ra hỏi biết con gì
không? Người đó đáp không biết! - Một người khác
chỉ biết tên con rùa và nghe tả sơ qua về hình dáng
của nó. Có người đưa con rùa ra hỏi biết không?
Đáp: biết! đó là con rùa! Do đó biết với không biết
đều là chưa thiệt biết.
Tôi còn nhớ chuyện một nhà vua nọ rất sợ gặp
thuyết khách. Một hôm phải tiếp sứ giả là một tay
thuyết khách nổi tiếng. Nhà vua ra điều lệ trước :
thuyết khách được phép nói tự do, nhưng cấm
không cho thí dụ. -Thuyết khách liền vô đề:
Có một người không từng biết cái nỏ ra sao, vậy
nhà vua sẽ làm cách nào để người đó biết được cái
nỏ?
Nhà vua đáp: phải thí dụ như có một cây cung …
Thuyết khách liền nói: Ấy, Bệ-Hạ còn phải thí dụ,
tại sao ngài cấm tôi thí dụ ?!
Thế nên nói phải có thí dụ; đó chẳng qua là mượn
cái nầy để nói cái kia, mượn cái kia để nói cái nọ mà
thôi. Nếu kẹt trên lời và chữ thì không làm sao thấy
được ý chánh. Trang-Tử có nói một câu rất hay
:”Nói là mượn lời để diễn tả ý, nghe là nương nơi
lời để đạt ý. Được ý phải quên lời. Thế mà đời này
có mấy ai được ý quên lời để mình cùng chơi cho
đỡ buồn!” – Ý Trang-Tử muốn nói tất cả thế-gian
đều kẹt ở trong danh ngôn sắc tướng! Trang-Tử
được xếp vào bậc nhất tài-tử cũng từ chuyện đó.
* Hiểu cùng chẳng hiểu đều là chẳng hiểu. Cái thấy
không phải thấy mới gọi là thật thấy. Cái hiểu
không không hiểu mới gọi là hiểu rộng lớn.
Nghĩa là thấy, hiểu mà còn mắc kẹt và trong lý-trí
từ vùng, thì không phải là thiệt thấy thiệt hiểu.
* Vả chăng, thấy đúng nghĩa là không phải cái thấy
có thấy mà là cái thấy trong không thấy. Thật hiểu
nghĩa là không phải cái hiểu trong có tướng, mà là
cái hiểu trong không có tướng. Phàm hễ có cái bị
biết đều gọi là chẳng biết. Không có cái bị biết mới
gọi là thật biết. Biết cùng chẳng biết đều không phải
biết. Kinh nói chẳng bỏ trí tuệ gọi là ngu si. Nếu
tâm là không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là thật cả.
Nếu tâm là có, hiểu cùng chẳng hiểu đều là vọng.
Nghĩa là nếu tôi còn thấy tôi có sự nghiệp trí-huệ,
sự nghiệp kiến thức dồi dào qúa : nếu một việc đã
qua tôi vẫn còn ôm đồm, chấp chứa; đó là một thứ
ngu si. Nên mới nói :”nếu chẳng bỏ trí huệ gọi là
ngu si “, nghĩa là còn có sở đắc là không phải tríhuệ.
Còn nếu tâm không bị chấp sự nghiệp hiểu biết thì
làm sao cũng trúng. Nên mới nói :” Nếu tâm là
không, hiểu cùng chẳng hiểu đều là thật cả”. Nghĩa
là nếu chuyện đã qua rồi, chuyện hiện tại không
dừng, chuyện vị lai chưa đến; trong lòng mình cứ
rỗng rang, thảnh thơi, không ôm đồm chất chứa,
không sạo sục đau khổ, thì việc gì đến cũng giải
quyết được dứt khoát.
“Nếu tâm là có thì hiểu cùng chẳng hiểu đều là
vọng”. Cái tâm đặc kẹo tối đen gọi là vô lý, ngu si.
Ôm đồm kiến thức là sự nghiệp của lý trí. Hai cái đó
cũng là một thứ bề bên đây và bề bên kia, chấp có
và chấp không mà thôi.
* Nếu tỏ ngộ thì pháp theo người. Nếu chẳng tỏ ngộ
thì người theo pháp.
Nếu đã nhận ra được vấn đề nguồn cội của chính
mình, thì mỗi việc niệm Phật tụng kinh … đều là
chuyện mình dùng pháp. Còn nếu chưa có đường
hướng rõ rệt để nhận ra con người của mình, thì dù
làm theo pháp nào cũng chẳng qua là mê tín, làm
giống, làm theo, là chuyện mình bị pháp nó dùng.
Dù không làm gì hết cũng là một thứ làm giống làm
theo ; dù không tin gì hết cũng là một thứ mê tín mà
thôi.
* Nếu pháp theo người thì phi pháp trở thành pháp,
hết thảy pháp đều chơn. Nếu người theo pháp thì
pháp trở thành phi pháp, hết thảy pháp đều trở thành
vọng.
Kinh Kim-Cang chư gia có nói :”Người chánh
dùng pháp tà thì pháp tà trở nên chánh. Người tà
dùng pháp chánh thì pháp chánh trở nên tà”. Điều
đó không có chi lạ cả ! Nếu biết, đó là tại phía trong
của tôi, chớ không phải tại phía ngoại cảnh. Do đó,
khi tôi không thấy được chuyện tụng kinh, niệm
Phật, ăn chay, giữ giới … đều là những phương tiện,
những pháp tôi dùng để pháp tập khí, để hộ niệm
cho cái tâm tự giác tự ngộ ; và tôi cũng không biết
gì hết về chính con người của tôi, thì tôi sẽ cho
những phương tiện đó là chân lý. Để rồi ngày nào
có tụng kinh, tôi kể như ngày đó tôi đã thực hiện
được chân lý. Nếu ngày nào bận việc không tụng
được, thì trong bụng bức rức khó chịu. Chính hồi đó
là con ma pháp đang điều khiển tôi. Thế là pháp đó
biến ra ma rồi ! Nên dù Phật có đến với chúng ta
chăng nữa, điều hệ trọng nhất là ở chúng ta chớ
không phải ở Phật. Dù lương y Biển-Thước Hoa-Đà
sống dậy đến với người bịnh chăng nữa, điều hệ
trọng ở người bịnh chớ không phải ở Biển-Thước
Hoa-Đà ; vì khi người bịnh ngậm miệng không chịu
uống thuốc thì dù có lương y cũng không làm gì
được. Nên mới nói : hễ người chánh dùng tà pháp,
pháp tà hóa ra chánh ; người tà dùng pháp chánh,
pháp chánh hóa ra tà.
Nói đến đây tôi xin nhắc lại câu chuyện đối đáp
của Lục-Tổ : một người đem câu kinh đến hỏi Lục-
Tổ: - Tánh Phật là thường, có phải thế không?
Lục-Tổ nói: Ông nghe lộn rồi đó ! – Tánh chúng
sanh là thường, tánh Phật mới vô thường.
Người kia bỡ ngỡ hỏi : Sao ngài nói trái với kinh
vậy?
Tổ đáp: Tôi truyền tâm ấn Phật, đâu có nói trái với
kinh ! - Nếu tánh Phật là thường, vậy chúng sanh
nghiệp báo ở đâu ra ?! Nếu tánh chúng sanh là vô
thường, thì muôn thuở làm gì có người phát Bồ Đề
tâm ?!
Thế là Tổ đã nhìn thấu tới trong trong bụng ông
kia đã bị chấp thường chấp đoạn, mà hiểu lầm cái
thường và vô thường của Phật nói.
Thế mới biết quan hệ là chỉ ở cách dùng. Nên
trong võ thuật Thiếu-Lâm, cốt yếu là luyện cho con
người trở lại cái dẻo bình thường của gân cốt cả
chiều thuận lẫn chiều nghịch, để khi áp dụng, không
những không đánh không đỡ, mà chỉ cần tránh kéo
là đối phương bị té rơi vào trong cái không ; bấy giờ
mới đỡ lên để thuyết pháp. Thiền ở trong võ-thuật
Thiếu-Lâm là vậy.
Hỏi: Thưa, người hỏi Lục-Tổ câu đó cũng trúng,
tại sao Tổ đáp ngược như thế?
Đáp: Vì ông nói chỉ đứng ở ngoài, thuộc lòng câu
kinh mà hỏi chớ không hiểu gì hết. Còn Lục-Tổ đáp
vậy là để phá cái mê cho ông đó, chớ không phải
nói theo miệng, không phải nghe người ta nói y theo
mình liền vội chấp nhận. Cũng như câu chuyện có 2
người đến hỏi phật:
Người thứ nhứt cầm một vật tới hỏi Phật : Cái này
“có” phải không? - Phật nói : Phải, có.
Lại hỏi : phải cái này có thiệt không? - Phật đáp :
phải có thiệt. Tất cả đều thiệt, cho tới hư không
cũng thiệt. Nếu hư không có thiệt thì cũng không có
tôi với ông.
Người thứ hai cầm một vật khác đem lại hỏi : cái
này không có phải không? - Phật đáp : phải! không
có.
Lại hỏi : Phải cái này không có thiệt không? - Phật
đáp : Phải ! không có thiệt. Tất cả đều không thiệt,
cho tới hư không cũng không thiệt. Nếu hư không
mà thiệt không thì tôi với ông cũng không có.
Nghĩa hiển hiện sự thật trong Thiền học là vậy.
* Cho nên thánh nhơn chẳng đem tâm mà cầu pháp,
cũng chẳng đem pháp mà cầu tâm, cũng chẳng đem
tâm mà cầu tâm, đem pháp mà cầu pháp. Cho nên
tâm chẳng sanh pháp, pháp chẳng sanh tâm. Tâm
pháp đều vắng lặng nên thường ở trong định.
Nghĩa là hư không đứng yên ; chỉ có mình chạy tới
hay thụt lui làm xáo trộn hư không ; làm ngăn cách
hư không với mình là hai. Cũng như chúng ta ngồi
trên chiếc xe đậu yên thì không thấy gió. Còn nếu
mở máy cho xe vọt tới thì đàng trước lướt gió, đàng
sau bị bụi cuốn đuổi theo. Như vậy là mình ủi gió để
trúng mình, mà gọi là trúng gió. Nên chỉ cần đứng
yên lại thì hư không với mình không có cách bức.
Do đó, đem tâm mà cầu pháp hay đem pháp cầu tâm
; đem tâm cầu tâm hay đem pháp cầu pháp đều là
chuyện làm thêm, chưa hoàn toàn chính xác. – Nên
trong Thiền học mới nói : “Bất dụng cầu chơn, duy
tu tức vọng “. Nghĩa là đừng dùng cách làm thêm để
tìm cái thiệt, chỉ cần ngừng làm thêm cái mê mà
thôi. Đó là nghĩa tâm pháp đều vắng thì thường ở
trong định.
Hỏi: Thưa, giữa người chất phát và người lão
luyện trong cuộc sống đối với việc chứng ngộ có
khác nhau ra sao?
Đáp: Đối với ngộ thì người chất phát dễ hơn.
Nhưng đối với chứng hoàn toàn thì 2 người đều khó
như nhau. Tại sao vậy ?- Vì đối với người chất
phát, chưa nếm sự đời thì nghe Đạo dễ nhận ra. Tuy
đã ngộ thấy nhưng vấn đề chứng vẫn chưa rồi, vì
lòng vẫn còn lóng nghe, còn sạo sục đối với chuyện
sắp tới. Khác với trường hợp của Lục-Tổ là dòng
sinh mệnh đã qua đã nếm cả sự đời, bây giờ Tổ thị
hiện nên lòng không còn sạo sục thèm muốn nữa.
Nhờ đó khi nhận ra sự thiệt là tức khắc nhảy vô đó
liền.
Còn đối với một người đã nhẫn hết chuyện đời,
nghe Đạo tuy khó nhận được liền. Nhưng khi đã tới
mức cùng, hễ nhận ra được thì chứng cũng mau –
Nên hai trường hợp đó cũng có giống nhau mà cũng
có khác.
Đến đây tôi xin nói cùng tất cả quí vị đến nghe
đây, tôi bảo đảm rằng sự học hỏi cùng nhau của
chúng ta suốt mấy năm nay không khi nào lạc
hướng được. Nếu không tin, quí vị cứ về làm thử
xem có lạc nổi không ! Nhưng chuyện thời gian
nhanh hay chóng tùy theo người hộ niệm, chớ quyết
định không lạc hướng ; đã biết hướng đi rồi, quyết
định không phải đi tới khoanh lò xo thứ hai.
Trong kinh Phật có nói đến vấn đề A-La-Hán
muốn xuống địa phủ phải mượn nghiệp. Đó là ý
muốn nói đi theo nẻo A-La-Hán, khi đã đóng cứng
rồi, muốn cho lòng trở lại để thành nguời chứng qủa
thì khó vô cùng. – Là vì A-La-Hán khi muốn xuống
địa phủ ít nhất phải làm một cái gì để mượn nghiệp
đi xuống. Nhưng đã mắc kẹt ở trong tốt xấu, có
không thì làm sao làm nổi chuyện đó ! Nên A-La-
Hán chưa chứng qủa được vì chưa lưu thông.
Do đó, việc đặt cái nhân sai lầm thật vô cùng nguy
hiểm ! Nên trong kinh có nói :” Chẳng thà muôn
kiếp không tỏ ngộ chớ không thà một sớm lầm
đường”. Nghĩa là hãy thận trọng cái nhân, đừng vội
giải quyết, mà trước phải biết cho rõ sự việc, đừng
sợ tu lâu không thành Phật. Chỗ quan hệ nhất là đặt
cái nhân như thế nào đây !
Nếu đã nhận ra ý của tôi nói, nếu tâm không còn
săn đuổi nữa, thì hồi đó chúng ta lọt vào trong định
hồi nào không hay. Đó là nghĩa của đại định không
hình không tướng, chớ không phải là thứ định có
xuất nhập.
* Tâm chúng sanh sanh thì pháp Phật diệt. Tâm
chúng sanh diệt thì pháp Phật sanh.
Giản dị quá ! Hễ vọng tâm nổi lên thì pháp Phật
phải diệt, là vì mình còn có biết gì nữa là phải quấy.
Hễ tâm tỏ ngộ nổi lên thì tự nhiên đâu đó phân
minh, là pháp Phật sanh. Bởi vậy nên Lục-Tổ mới
nói niệm trước mê là Phật làm chúng sanh, niệm sau
ngộ là chúng sanh thành Phật.
* Nếu đã biết tất-cả pháp đều chẳng có tự tánh
riêng, thế gọi là người có Đạo. Biết tâm chẳng thuộc
về của riêng của các pháp – Đó là người thường ở
Đạo tràng.
Nghĩa là nếu biết được tất-cả pháp đều không có
thật, đều không thể chấp kẹt. Đó là người ở Đạotràng.
* Khi mê có tội, ngộ rồi không tội. Vì sao thế ? Vì
tánh tội vốn không.
Nghĩa là hễ khi mê thì có mình, người, thân cảnh,
có không, phải quấy, được mất, hơn thua, lợi hại,
sống chết … Vì hễ có, thế tất phải có 2 bề. Nên đến
khi không có cái “có” nữa, thì tướng còn không có,
làm gì có hai bề ! Nên tội cũng từ tâm sanh ; mà hễ
tâm giác ngộ thì chuyện đó hết thành vấn đề. Cũng
như nếu tôi có cây cột đóng đinh, thì người đi qua
có xâu thịt, xâu lạp-xưởng … mới máng lên được.
Chớ nếu đừng có cây cột thì không có chỗ máng.
Giản dị như vậy.
* Kinh nói: các Phật pháp không có tự tánh riêng,
thật dụng chớ nghi, nghi liền thành tội.
“Các pháp không có tự tánh riêng” là một cách nói
khác cũng như câu nói của Khổng Tử : “Vạn vật
đồng nhất thể”. Nên trong bài công phu chiều ở các
chùa gọi là “Mông Sơn thí thực” có câu:
“Nhược nhơn dục liểu tri tam thế Phật. Ưng quán
pháp giới tánh, nhứt thiết duy tâm tạo”. Nghĩa là
nếu ai muốn rõ Phật mười phương ba đời, hay là tấtcả
Phật – thì nên quan sát để nhận cho thấy được
tánh của bao la, pháp giới, tất-cả đều tại có mình
nên mới có chuyện.
* Vì sao thế ? – Vì tội do nghi hoặc mà sanh.
Nghi hoặc nghĩa là không có rõ suốt dứt khoát.
Nếu rõ suốt dứt khoát thì tội nghiệp đời trước hết
thành vấn đề.
* Khi mê thì 6 thức 5 ấm đều là pháp phiền não
sanh tử. Khi ngộ thì 6 thức 5 ấm đều là pháp Niết-
Bàn không sanh tử.
Sự thiệ__________t, con dao thì phải bén, còn mình đem dùng
chém lộn, hay gọt khoai gọt bầu … là chuyện do
mình. Cũng như tai, mắt, miệng, mũi, thân, ý là
chuyện thân người phải có ; nó vốn không có lỗi,
chỉ có mình đem dùng trúng hay trật mà thôi.
Nhưng khốn thay ! Vì chúng ta không có quay trở
vô, nên việc xài dùng hóa ra đều trật hết.
Trang-Tử có kể chuyện ông “Hỗn Độn”; là người
không có mắt tai mũi miệng, thân tròn như trứng
vịt; nhưng trí-huệ linh thông sáng suốt. Hai nước
láng giềng ở hai bên ông gây chiến, phải mượn
đường thông thương ngang qua nước ông. Sau một
lúc mệt mỏi vì trận chiến, hai vị Quốc vương ghé
nhà ông Hỗn-Độn xin tạm nghỉ. Một hôm thấy ông
Hỗn-Độn thiếu mắt tai mũi miệng, vì cảm tình
thương ông nên hai vua rước thầy lỗ-bang về khai
quang điểm nhãn cho ông có tai mắt mũi miệng …
rồi ông cũng chết luôn !
Nghĩa là khi đã vọt ra là kể như người đó đã chết.
Nên chúa Giê-Su là con một của đức Chúa Trời mà
bị đóng đinh trên Thập-Tự-Giá, chết chôn xuống 3
ngày sống dậy 40 ngày trở về Trời. Chuyện này
cũng bắt đầu từ chỗ đó.
* Người học Đạo chớ nên tìm Đạo ở ngoài. Vì sao
thế ? – Vì biết tâm là Đạo.
Kinh Pháp-Hoa có nói rằng : tất-cả chư Phật hiện
ra trong đời nay đều chỉ vì có một đại sự nhân
duyên là khai thị cho chúng sanh tỏ ngộ tâm tánh
mà thôi. Ở kinh Pháp-Hoa gọi đó là “Tri-kiến-Phật”.
Kinh Lăng-Nghiêm gọi là “Đại-Phật-Đảnh Như-Lai
mật nhân”. Kinh Kim Cang gọi là “Vô Thượng Bồ-
Đề” hay “Như-Lai” … ở mỗi nơi đều dùng danh từ
khác nhau nhưng ý diễn tả không có khác. Chỉ con
gà nhưng người ta khéo nấu sẽ có ra mấy chục món.
Hiển nhiên là vậy chớ không có chi lạ cả.
* Nếu khi được tâm, không có tâm có thể được. Nếu
khi được Đạo, không có Đạo có thể được.
Có người hỏi Lục-Tổ : Ai được cốt tủy của Ngũ-
Tổ ? Lục-Tổ đáp : Ai vô tâm thì được, ai có Đạo thì
không.
Lại hỏi: Vậy hòa-thượng có được không?
Đáp: Không.
Thế mới biết tâm phải thật thả lỏng mới trả lời nổi
câu đó.
* Nếu nói đem tâm cầu Đạo mà được, thì gọi là tà
kiến.
Bởi vì nếu đem tâm cầu Đạo mà có được, thì tất
nhiên ngoài tâm còn có một thứ Đạo nữa. Thế là vẫn
còn lung tung trong đối lập.
* Khi mê có Phật có pháp. Khi ngộ không Phật
không pháp.
Nghĩa là khi mê thấy có chúng sanh, có Phật, có
tất-cả; mỗi pháp đều riêng. Khi ngộ, thấy tất-cả đều
tuyệt đối bình đẳng, vạn vật đồng nhất thể. Chớ
đừng hiểu lầm là khi ngộ rồi chỉ có một mình ta
thôi. Cũng như có người đọc Krishnamurti rồi nói :
Khi mình ngộ Đạo rồi, mình chửi người ta cũng
được. Học Đạo kiểu đó thì có ngày chúng giết chết !
* Vì sao thế ? Vì ngộ tức là Phật, là pháp. Vả chăng
tu nghĩa là diệt cái thấy có thân riêng thì Đạo thành.
Cũng như hột giống nứt vỏ thì cây nẩy mầm.
Nghĩa là phá cái chấp ngã thì Đạo thành. Phải
nhắm vào chỗ mê mà phá ; nếu không thì làm tào
lao không tới đâu hết.
* Cái thân sanh tử nghiệp báo luôn luôn vô thường;
là pháp không nhất định, chỉ tùy niệm mà tu, cũng
không nên chán sanh tử hay thích sanh tử.
Người nào chán sanh tử hay thích sanh tử cũng đều
không phải ; vì đó là làm thêm chớ không có để tự
nhiên như cái vốn có vậy.
* Chỉ làm sao trong tâm luôn luôn đừng vọng tưởng
thì khi sống nhập được hữu dư Niết-Bàn, khi chết
vào được vô-sanh pháp nhẫn.
Rõ ràng lắm ! Chỉ có làm sao lòng chúng ta đừng
có sạo sục. Nhưng khốn đốn cho chúng ta là thằng
người là một thứ đứng núi này trông núi nọ, ở đây
ngóng chuyện bên kia, ở bên kia ngóng chuyện bên
nây. Bây giờ ngóng chuyện sắp tới, nhớ chuyện đã
qua, mà hiện tại không có sống. Bịnh đó là tại chúng
ta không có hiểu biết, do đó mà chúng ta mới học để
hiểu biết.
Thưa nói đến đây tôi xin trình bày một câu chuyện
; trong nhà Phật có 2 danh từ thật là mâu thuẫn:
Câu thứ nhứt trong kinh Lăng Nghiêm : “Bất tùy
phân biệt”, nghĩa là đừng đi theo cái phân biệt. Phân
biệt là tôi biết cái này là cây quạt, cuốn kinh …
Nhưng nếu không biết phân biệt gì hết thì tôi là
ngưòi điên.
Đến câu thứ hai lại thấy nói ngược lại : “Nếu ai
khéo phân biệt các tướng thì nghĩa cứu cánh không
bị lay động”. Đi vào biển kinh nghe hai câu đó
chúng ta không khỏi bị mâu thuẫn lùng tung trong
lòng - Thật ra nỗi sạo sục trong lòng đó là do không
thông đạt, do mình không biết được mình. Chính tôi
đây, thành thật mà nói tại tôi không biết mà tôi cũng
bị một lúc lùng tung, hỏi ai cũng không biết, bực bội
hết sức ! Sở dĩ có phân biệt là tại tôi thấy có tốt xấu,
phải quấy, hơn thua, thiện ác, sống chết có thật tình.
Sở dĩ có cái thấy như thế tại tôi mê lầm, không
thông đạt. - Nếu thiệt tình thông-đạt thì lòng hết sạo
sục. Nên khi tôi thấy cứu tận không có nghĩa sống
chết, phải quấy thiệt như mình tưởng, thì tự nhiên
lòng tôi sẽ yên, thảnh thơi không còn sợ chết tham
sống nữa. Chuyện thật rõ rệt như vậy, nhưng khi
không hiểu thì nó trở nên rắc rối vô cùng. Nên
Thiền-học nói : hễ chưa thông đạt, thì dù ông Phật
bằng sắt cũng phải tháo mồ hôi ! Điều đó quan hệ
lắm.
Nên bí quyết để học Phật, trước nhất là học về con
người của mình. Nếu không lấy cây thước kinh Phật
để đo trong bụng mình, thì dong ruỗi theo sự nghiệp
kiến thức của kinh sách, để cuối cùng học thì học
Phật mà lại thành ma. Tai hại tại chỗ đó. Do vậy
không có một người nào có phước hơn một người
rỗng rang rời rảnh, động dụng đừng mê. Không có
người nào có phước cho bằng trong cuộc sống đã
qua qua rồi, hiện tại không dừng lại, vị lai chưa đến,
trong lòng không có chấp chứa.
* Khi mắt thấy sắc chẳng nhiễm sắc, tai nghe tiếng
chẳng nhiễm tiếng thì đều là giải thoát.
Nói thì dễ nhưng không phải là chuyện chơi ! Nếu
người nào nhìn sắc mà ráng đừng nhiễm sắc, nghe
tiếng mà ráng đừng nhiễm tiếng, thì người đó tự làm
cho cái tâm cũng chết luôn. Bởi vì cái tâm đâu phải
khúc gỗ mà muốn nó đừng nhiễm. Chỉ có thật hiểu
rõ vấn đề rồi bỗng dưng không bị nhiễm nữa. Nhờ
tôi đã biết quá rõ nên việc người ta chửi bới hay làm
chướng ngại tôi, tôi ít thấy nguy hiểm hơn ở phần
trong tôi, ở phần ý nghĩ của tôi. Hồi đó tự nhiên tôi
không nhịn cũng phải nhịn. Như thế không phải là
tôi nhịn cho ông ở ngoài, mà vì tôi sợ đám giặc ở
trong lòng tôi nổi dậy làm cho tôi nhìn ngoại cảnh
đều sai lầm. Cả Phật Di Lặc có 6 thằng nhỏ bò trên
mình móc mắt, mũi, tai, miệng … là do ý nghĩa đó.
* Mắt chẳng đắm sắc thì mắt là cửa lễ, tai cũng vậy.
Thật vậy, nếu đã rõ thông được bổn tánh, thì tự
nhiên đối với mọi người dù lớn hay nhỏ, xấu hay
đẹp, mình đều có thái độ kỉnh trọng như nhau. Do
đó mới nói con mắt là cửa lễ. Ngược lại, nếu mắt
đắm sắc thì gặp người tốt mình đi theo, gặp người
xấu mình phủi ra. Cũng như trong các công sở ngày
nay, hễ các cô trẻ đẹp vào làm giấy tờ thì được làm
nhanh chóng, còn các ông nam hay người xấu vào
thì phải chịu chậm trễ, bê tha đủ thứ. Chúng ta phải
dám nói sự thật, vì dù có phũ phàng đó cũng là sự
thật. Tôi lúc nhỏ mới biết làm thầy thuốc, trong
bụng mình bị chứa ‘cọp’ nhiều qúa, nên ‘cọp’ ở
ngoài tới mình để ý người đẹp mà săn sóc kỹ hơn.
Do đó cũng phải đề phòng mấy ông thầy thuốc như
thường !
* Nói tóm lại, khi thấy sắc mà thấy được đến tánh
của sắc thì không nhiễm, thường giải thoát.
Nói một cách khác là : “Nếu ai khéo phân biệt sắc
tướng thì nghĩa cứu cánh không bị lay động”. Nghĩa
là nếu tôi thấy được tất cả hiện tượng đều tổ hợp, dù
ở trong hột bụi nhỏ xíu cũng tổ hợp, và tận cùng của
tổ hợp là cái “không là gì”. Nếu tôi chứng thực được
điều đó ngay ở trong thân tôi, thì tôi không bị mắc
kẹt ở sắc nữa, là vì tôi thấy sắc mà thấy được đến
tánh của sắc.
* Nếu mắc kẹt ở tướng của sắc là thường bị trói
buộc. Nếu chẳng bị phiền não trói buộc thì gọi là
giải thoát, chớ không có giải thoát nào khác hơn.
Nghĩa giải thoát là trong lòng mình hết sạo sục, hết
sợ hãi, không mong cầu, tham đắm, bon chen mà
vẫn sống cuộc đời y như mọi người ; chớ không có
thứ giải thoát nào khác, mà cũng không có ở một xứ
nào khác.
* Người khéo quán sắc, sắc chẳng sanh tâm, tâm
chẳng sanh sắc, thì sắc và tâm đều thanh tịnh
Nghĩa là người khéo nhìn sắc thì sắc không làm
mống tâm, không gây tai hại. Sự thật, sắc đâu có
gây tai hại, chỉ có mình mang sắc để tự tại mà thôi.
Nên có người hỏi Lục-Tổ : nói như Ngài, khi thông
đạt rồi không cần tụng kinh giữ giới nữa phải không
? - Tổ đáp : kinh có cắn mổ gì ông đâu ! Cần thì
tụng, không cần thì thôi.
* Khi không vọng tưởng thì một tâm là một cõi
Phật. Khi vọng tưởng khởi thì một tâm là một cõi
địa ngục.
Mỗi người chúng ta nên lưu ý điểm đó. Hễ khi
không có vọng tưởng khởi thì một tâm là một cõi
Phật, nghĩa là tất-cả đều là cõi Phật, vì không có
khởi lên hai tướng. Còn khi mê, một mống niệm ích
kỷ ngu mê nổi lên thì kể là một cõi địa ngục, như
thế biết rằng 3 A-tăng-kỳ kiếp có hay không chúng
ta tức khắc biết. Nên nếu không có tâm thì không có
cảnh ; nếu không có một duyên cớ gì thì qúi vị cũng
không có đến đây để chúng ta cùng nhau học hỏi ;
nếu tôi là người nuôi vịt tàu thì cũng không hề có
chuyện này.
* Chúng sanh làm ra vọng tưởng, lấy tâm sanh tâm
nên thường ở địa ngục. Bồ-Tát quán sát vọng tưởng
chẳng lấy tâm sanh tâm, nên thường ở cõi Phật. Nếu
chẳng lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm đều nhập vào
không, niệm niệm đều qui về tịnh, từ một cõi Phật
đến một cõi Phật. Nếu lấy tâm sanh tâm thì tâm tâm
đều chẳng tịnh, niệm niệm đều qui về động, từ một
địa ngục qua một địa ngục. Khi một niệm khởi thì
liền có 2 nghiệp thiện ác, có thiên đường địa ngục.
Nếu một niệm tâm chẳng khởi thì hai nghiệp đều
dứt, thiên đường địa ngục cũng không.
Nói tâm khởi thì có thiên đường địa ngục, chúng ta
đừng hiểu lầm rằng tu lâu rồi chết tê không nghĩ gì
hết. Nghĩa ở đây muốn nói rằng : chúng ta nghĩ gì
thì nghĩ, làm gì thì làm, nhưng trong từng giờ từng
phút từng giây, hãy nên lưu tâm xem chúng ta có lìa
bổn tánh hay không. Sự thật, tất-cả đều là hiện
tượng huyển hóa, chính mình cũng là hiện tượng
huyển hóa. Nhưng nếu chúng ta không hiểu như vậy
thì dù cho nghe pháp cũng vẫn là bị tạo thiên đường,
địa ngục, mắc kẹt vào trong hai tướng. Nên dù nghe
hay nói, làm, cũng đều có cách để cuộc sống chúng
ta cũng nghe cũng nói cũng làm … mà không bị
vướng vào vòng tục lụy được hay không? đó là điều
quan hệ.
Bởi vì hễ khi trong lòng chúng ta bị vướng kẹt vấn
đề thời gian không gian, đắm chấp theo tướng mà
lầm không rõ tất-cả hiện tượng đều là huyển hóa vô
thường ; thì tự nhiên chúng ta bị rơi vào trong hai
tướng đối lập, nghĩa là rơi vào cái cặp – Cái cặp là
nghĩa thấy có ngày đêm, phải quấy, thiện ác, nóng
lạnh, được mất, hơn thua, sống chết … đều là thật.
Nhưng nếu chúng ta không thấy có phải quấy, thiện
ác, ngày đêm, sống chết thì chúng ta là người điên.
Do đó chúng ta phải ở trong cái ‘thấy’ mà chẳng
mắc kẹt trong cái thấy; nghĩa là thấy được tất-cả đều
là hiện tượng ; cho đến thời gian không gian chỗ
chúng ta ở đấy chẳng qua cũng là thời gian không
gian của thái-dương-hệ này mà thôi. Biết đâu chúng
ta bước qua thái-dương-hệ khác, thì thời gian không
gian cũng đổi khác! Ở đây một ngày một đêm 24
giờ, nhưng ở Bắc và Nam cực thì một ngày một đêm
là một năm, và đến các tinh cầu khác thì lại khác
nữa. Điều đó phải rất nên lưu tâm.
Nên học Đạo không có gì khác hơn là trả lại con
con người cuả mình cái vốn có. Thân này vốn biến
chuyển theo đà của bao la vũ trụ, càng ngày càng
mới, mới từ giờ từ phút từ giây; đã qua mới, hiện tại
mới, sắp đến mới … nên lòng chúng ta cũng phải
lỏng y như vậy, thì tự nhiên cuộc sống sẽ yên ổn.
Ngược lại chúng ta ôm đồm những cái đã qua đóng
cứng lại, mà còn ngóng đến vị lai, để hiện tại không
có sống. Đó là nguồn gốc của đau khổ. – Tôi biết
nói như thế sẽ có người cho là ích kỷ. Nhưng kỳ
thực nếu một người không thấy như thế thì không
hề có dám ôm trọn cái khổ thế gian vào lòng để mà
giải quyết ; nếu có chăng nữa rồi cũng không khỏi
buổi đầu thì do lòng tốt, đến cuối cùng biến sanh lợi
dụng mà không tự hay như các nhà cách mạng đã
làm. Không nữa cũng sẽ bị chán nản thối chuyển cái
tâm buổi đầu chớ không hề nguyên vẹn. Đó là chỗ
khác của Nhất-thừa và Tiểu-thừa, thế gian và Đạo
vậy.
* Vì “Thể” vốn không phải có, không phải không. Ở
phàm là có, ở thánh là không.
Tôi xin kể câu chuyện đối đáp cuả một cư-sĩ học
Thiền và Thiền-sư :
Cư-sĩ hỏi : Địa ngục có không ?
Đáp : Có.
Hỏi : Thiên đường có không ?
Đáp : Có.
Hỏi câu nào Thiền-sư cũng đáp có. Bực mình, ông
cư sĩ hỏi lại : Bạch Hòa-thượng, Hoà-thượng nói
vậy mà có bảo đảm trên lời nói không ?
Thiền-sư không trả lời câu hỏi mà hỏi lại rằng : hôm
nay ông đi gặp ai nói tôi nghe thử.
Thấy hỏi trúng chuyện trong bụng, ông đáp : tôi đi
có gặp một vị Hoà-thượng.
Thiền-sư hỏi : vậy Hoà-thượng đó có vợ không ?
Đáp : Không.
Hỏi : có con không ? – Đáp : không
Hỏi : Có sự nghiệp không ? – Đáp : không.
Hỏi điều chi cũng đáp không. Thiền-sư lại hỏi tiếp :
- Còn ông có vợ không ? – Đáp : có
- Có con không ? – Có
- Có sự nghiệp không ? – Có
- « À ! Vậy thì Hoà-Thượng đó nói phải rồi ; còn
ông đâu được quyền nói không ! ».
Cho nên : « Có thì có tự mảy may.
Không thì cả thế gian này cũng không.
Thử xem bóng nguyệt dòng sông,
Ai hay không có có không là gì ! ». là
vậy.
Bây giờ qúi vị có điều chi thắc mắc xin cứ hỏi.
Có người hỏi : Xin thầy nói tiếp cho nghe.
Đáp : Tôi muốn có ai có ngứa chỗ nào thì mới gãi,
chỉ sợ gãi không trúng chỗ sẽ trầy da !.
Hỏi : Thưa, « Nhứt thiết duy tâm tạo » nghĩa thế nào
xin cho nghe rõ.
Đáp : Muốn hiểu nghĩa câu nói đó, chúng ta cần
phân biệt kỹ nghĩa duy vật và duy tâm của Âu Tây.
Nghĩa duy tâm theo Âu Tây hiểu rằng một con
người có một linh hồn, khi thân này chết đi thì nó
chuyển sang thân khác y nguyên vậy – Còn theo
duy vật lại hiểu rằng chết rồi là hết chuyện. Nhưng
buồn cười là tuy nói vậy nhưng họ vẫn còn nhớ, còn
vui khổ, còn mang theo ... Bây giờ nói đến vấn đề
duy tâm của nhà Phật, chúng ta nên thận trọng để
hiểu chữ « Tâm » trước khi nói thêm chữ « duy ».
Chắc quí vị vẫn còn nhớ câu chuyện Na-Tiên Tỳ-
kheo và vua Lan-Đà mà tôi đã thuật trong những
tuần trước ; cũng như bây giờ tôi hỏi : cây quạt này
có phải tâm không ? – Không.
- Ông đây có phải là tâm của tôi không ? - Không
Tất-cả, chúng ta đều không thể nói cái nào là tâm
của tôi được.
- Tất cả đều không phải tâm ; vậy cái gì là tâm ?
Đó là chỗ mỗi người phải tự nhận thẳng lấy thì hiểu
được câu : « Nhứt-thiết duy tâm tạo » của Phật nói.
Hỏi : làm cách nào mới gọi là « Hành thâm Bát Nhã
Ba-la-mật-đa » ?
Đáp : không có cách nào làm đúng nghĩa « Hành
thâm Bát-Nhã Ba-La-Mật » bằng cách trở vô khám
phá chính con người của mình trước.
Bây giờ chúng ta thử nghĩ xem thân này có tốt đẹp
y nguyên như vậy hoài không ? hay là sáng, trưa,
chiều nó đều thay đổi khác, kiếp này khác, kiếp sau
khác. Cho đến tâm của chúng ta cũng vậy, lúc nhỏ
với già ngược nhau. Nên có nhiều người thuở nhỏ
ăn chơi phóng túng sanh con ra cũng một dòng máu
nên lớn lên ăn chơi cũng phóng túng. Đến khi ấy
mình đã già mới hiểu chuyện ăn chơi phóng túng
thất bại, nên trở lại đường tu hành. Còn đứa con
đang lúc lớn, ham ăn chơi phóng túng, chúng ta
không có cách gì cản ngăn, bèn đánh đập mà than :
con mình sao bất hiếu.
Thử hỏi cái đó của ai mà có ra ? – Đó là cái mâu
thuẫn trong lòng mình từ trước, bây giờ mới hiện ra
đó !
Nếu nhỏ với già ngược nhau, thì tự nhiên kiếp này
với kiếp trước, với kiếp qua nữa ... cũng khác, và
kiếp tới cũng khác. Nếu 10 năm trước với 10 năm
sau có khác thì 1 năm trước với 1 năm sau cũng có
khác. Nếu năm trước với năm sau ngược nhau thì
đầu năm với cuối năm cũng ngược nhau và trong
một ngày sớm chièu cũng có mâu thuẫn. Mà sớm
chiều có mâu thuẫn thì chớp con mắt cũng có mâu
thuẫn. Thế thì mình là một cái xe chở đầy nhóc một
khối mâu thuẫn xỏ xâu chậy khua lổn cổn. Đó gọi là
đau khổ. Có suy đến tận cùng rồi chúng ta mới thấy
thân tâm này là một khối tổ hợp do nhiều thành
phần cực nhỏ. Ở trong cái cực nhỏ cũng do nhiều
thành phần cực mún mín ... đến cái không biết nói
gì nữa, rồi đến cái « không là gì ».
Thưa tôi xin chịu tất cả trách nhiệm với qúi vị
rằng : chỉ cần thấy thiệt rõ tới chỗ đó, khỏi cần làm
thêm gì nữa hết. Đó gọi là « Hành thâm Bát-Nhã
Ba-La-Mật-Đa ». Tôi cũng chỉ nói đến đó thôi ; vì
dù tôi có nói thêm cũng chẳng qua là việc làm thêm
ít cọng ngò trên dĩa cá chưng, không có gì khác cả.
Quan hệ chỉ ở chỗ đó.
Hỏi : Thưa, người duy vật nói đứng trên khác quan
để nhận xét sự việc. Vậy khác quan đó có đúng
không ?
Đáp : Hễ nói chủ quan với khách quan khác nhau
đèu là lầm cả. Chủ quan và khách quan đều là chủ
quan. Mà nếu thiệt là khách quan thì tức không có
khách quan. Bởi vì bổn lai vốn không có trong với
ngoài, chủ với khách. Nếu kẹt vào chủ và khách là
kẹt vào lý trí mà tính. Chủ là một thứ « Mình »
mang nhãn hiệu « chủ ». Khách là một thứ « Tôi »
mang nhãn hiệu « khách ». Nhưng sự thật cả hai đều
là chủ quan cả.
Hỏi : Thưa, chúng ta đều phải nhờ phương tiện tu
hành mới có được Phật tánh. Nay thầy nói bổn tánh
Như-Lai sẵn có, vốn vô thỉ vô chung. Vậy sự thật là
sao xin cho nghe rõ.
Đáp : Hay lắm ! Đây, xin ông hãy nghe kỹ : Nếu
bổn tánh là thứ làm ra, thì bổn tánh của tôi, bổn tánh
của ông và của mọi người đều khác. Cũng như đức
Chúa Trời và Phật của mỗi người đều khác, nên 2
Chúa đụng nhau là có đánh, hay Phật của Ấn Quang
và của Việt Nam Quốc Tự đụng nhau cũng đánh !
Do đó, nếu chân lý, bổn tánh là thứ làm ra, thì đó
chưa phải là chân lý bổn-tánh.
Thế nên tôi dẹp vấn đề bổn-tánh, chỉ nói cần phải
khám phá chính con người của mình trước, thì tự
nhiên bổn-tánh hiển hiện, chớ không thể đi tìm bổntánh
được. Không ai có thể đi tìm một người mà
mình chưa từng biết mặt biết tên bao giờ ! Chỉ có
nghe tên người ta đặt mà cùng nhau tranh cãi Trời
lớn hay Phật lớn. Thật vô ly ! Tốt hơn là cứ trở lại
con người của mình, thấy rõ đích thực tận cội nguồn
thì mọi việc vỡ toang.
Hôm trước tôi đọc thấy phù hiệu của Thông-Thiên-
Học có hàng chữ : « Không có tôn-giáo nào qua
chân-lý » - tôi nhận thấy người viết câu đó cũng đã
cố gắng lắm, nhưng vẫn còn ở trong cái Tôi mà viết.
Theo tôi, nếu thử sửa câu đó lại như thế này thì quí
vị sẽ nghĩ sao ? « Không có một tôn giáo một chân
lý nào qua việc cần phải khám phá chính con người
của mình trước » - Tự nhiên chúng ta thấy rõ ràng
minh bạch hơn.
Do đó, việc học Đạo cần phá hơn cần lập. Nếu cái
sân của tôi thiệt là xi măng, thì cái gì có thể quét
được đều là rác rến. Bao giờ không còn gì quét được
nữa, thì đó mới là sân xi măng của tôi. – Chúa hay
Phật .. đều là danh ngôn của chúng ta đặt ra. Bao
giờ phủ nhận hết tất-cả, đến tận từng đáy mà không
còn phủ nhận được nữa, thì muốn gọi bằng gì cũng
được. Nên một người chưa dám phủ nhận tất-cả thì
người đó cũng không dám chấp nhận tất-cả. Và
cũng do đó mà thế giới này vẫn còn từ cục riêng tư,
đánh nhau mãi không thôi. Điều này chúng ta phải
rất lưu tâm.
*

* * * *

Không có nhận xét nào: