Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Buddho - Thiền sư Ajhan Thate


Home  Thuyết pháp

Buddho - Thiền sư Ajhan Thate



“Thấy tốt đừng vội mừng, gặp xấu chớ vội chán. Đừng đánh giá, phán xét, mà hãy nhìn cả hai như chúng thực sự đang là.
Cả tốt lẫn xấu đều cắn người, ta chớ nên nắm giữ chúng”.

Thiền sư Ajhan Cha







Buddho


“ Buddho là một cái gì đó thật tĩnh lặng
và mát lành. Nó chính là con đường đưa đến an lạc và bình an – con đường duy nhất sẽ giải phóng chúng ta ra khỏi mọi đau khổ
trên thế gian này.”


Cuốn sách này là một hướng dẫn
thiền đơn giản và thiết thực theo
 trường phái thiền chỉ quán do Thiền sư Ajahn Thate giảng dạy, sử dụng đề mục niệm Buddho làm cho tâm trở nên
định tĩnh, vắng lặng đến mức cần thiết
khiến cho tuệ giác sanh khởi.


Buddho

Khi bạn đến học thiền với một nhóm thiền sinh hay một người thầy chuyên sâu về một pháp thiền nào đó, trước tiên bạn phải xem xét kỹ để tin tưởng rằng người thầy đó hoàn toàn có đủ kinh nghiệm trong pháp hành và pháp hành vị ấy hướng dẫn chắc chắn là một pháp hành đúng đắn. Đồng thời, bạn hãy thể hiện lòng tịnh tín của mình đối với nơi chốn mình đến hành thiền. Chỉ khi đã làm xong những việc đó rồi, bạn mới nên bắt đầu thực hành.

Thời trước, các vị thầy thường yêu cầu các  thiền sinh mới đến phải có một buổi lễ nhập môn và coi đó như một cách để làm tăng trưởng đức tin của người học trò, trước khi bắt đầu học thiền với thầy. Thông thường thiền sinh phải chuẩn bị một cái lễ gồm năm cặp nến sáp ong và năm bó hoa trắng – được gọi là năm khandha– hoặc tám cặp nến với tám bó hoa trắng – được gọi là tám khandha, mỗi cặp nến nặng chừng 15 gam, với một số lượng hoa trắng tương đương như thế. Rồi sau đó người thầy mới bắt đầu dạy cho học trò pháp thiền của mình. Tục lệ cổ xưa này cũng có rất nhiều cái hay. Ngoài ra cũng còn một số lễ nghi khác nữa, nhưng tôi sẽ không đi sâu vào chúng. Tôi chỉ nói một chút về buổi lễ nhập môn rất đơn giản và dễ thực hành như vậy thôi.

Chỉ sau khi đã khởi lòng tịnh tín trong tâm như trên, bạn mới nên tìm đến một người thầy có kinh nghiệm trong pháp hành. Nếu vị ấy là người chuyên hành thiền niệm sammā araham, thì vị ấy sẽ dạy bạn thực hành niệm sammā araham, sammā araham, sammā araham. Rồi sau đó vị ấy sẽ hướng dẫn bạn tưởng tượng đến một viên ngọc sáng trong, rực rỡ nắm trên rốn khoảng 2 inch, và yêu cầu bạn chú tâm vào điểm đó trong khi tiếp tục niệm thầm như vậy, không để cho tâm lang thang đi nơi khác. Nói cách khác, bạn lấy hình viên ngọc đó làm điểm chú tâm.

Nếu bạn tìm đến một người thầy chuyên thực hành phương pháp niệm phồng, xẹp của thành bụng, vị ấy sẽ hướng dẫn bạn thực hành thiền trên đề mục phồng xẹp đó và chú tâm vào tất cả mọi cử động, mọi động tác của thân mình. Chẳng hạn, khi nhấc chân bạn niệm nhấc, nhấc…Khi đặt chân xuống, niệm đặt, đặt ..v.v… Hoặc vị ấy sẽ yêu cầu bạn chú tâm liên tục vào chuyển động phồng xẹp của bụng trong mỗi hành động, cử chỉ hay mỗi tư thế của thân mình.

Nếu bạn tìm đến một vị thầy có kinh nghiệm thần thông, vị ấy sẽ hướng dẫn bạn niệm na ma ba dha, na ma ba dha và tập trung tâm chỉ vào một đề mục duy nhất cho đến khi bạn thấy được các cảnh giới địa ngục, chư thiên, phạm thiên…tất cả các loại, thấy nhiều đến mức bạn bị những hình ảnh đó cuốn trôi đi.

Nếu bạn tìm đến một vị thầy chuyên thực hành niệm hơi thở, vị ấy sẽ hướng dẫn bạn chú tâm vào hơi thở vào, hơi thở ra và an trụ tâm vững chắc chỉ trong đề mục hơi thở đó.

Nếu bạn tìm đến một vị thầy chuyên thực hành niệm Buddho (Bút-thô), vị ấy sẽ hướng dẫn bạn niệm Buddho, Buddho, Buddho và bạn phải an trụ tâm vững chắc trong pháp hành đó cho đến khi hoàn toàn thành thục. Rồi sau đó vị ấy sẽ yêu cầu bạn quán chiếu chính đề mụcBuddho cùng với cái (tâm) đang niệm Buddho đó. Một khi bạn đã thấy được chúng là hai cái khác nhau, thì lúc đó hãy tập trung chú ý vào cái (tâm) đang niệm Buddho. Khi đó từ Buddho sẽ biến mất, chỉ còn lại mỗi cái tâm đang niệm Buddho mà thôi. Bạn hãy chú ý vào cái tâm đang niệm Buddho đó và lấy nó làm đối tượng quán chiếu cho mình.

Con người trong thời đại chúng ta – hay trong bất cứ thời đại nào, dù có học thức hay có khả năng đến đâu (tôi không muốn chỉ trích mọi người là dễ tin vào những điều chưa được kiểm chứng, bởi vì, cuối cùng tất cả chúng ta đều muốn biết, muốn thấy chân lý), và nhất là đối với những người Phật tử chúng ta: Đạo Phật dạy chúng ta về nhân quả, chân lý đó hoàn toàn đúng đắn, thế nhưng tại sao chúng ta vẫn cứ bị rơi vào những cái bẫy của tuyên truyền, quảng cáo mà chúng ta nghe nhan nhản ở khắp mọi nơi như thế? Điều đó chắc chắn là do con người trong thời đại hiện nay quá thiếu kiên nhẫn và chỉ muốn có kết quả ngay, trước khi họ làm nhân cho đầy đủ. Điều đó kể cũng đúng thôi, bởi vì chúng ta đang ở trong thời đại nguyên tử mà.

Đạo Phật dạy chúng ta hãy nhìn sâu vào trong chính thân tâm mình. Tâm là các hiện tượng thuộc tâm lý, thân là các hiện tượng thể lý của chúng ta. Các hiện tượng thể lý đó phải nằm dưới sự điều khiển của tâm. Khi bắt tay vào hành thiền và huấn luyện tâm mình trở nên yên tĩnh và vắng lặng, chúng ta sẽ thấy rằng trong khoảnh khắc đó, chúng ta không tạo ra bất cứ vấn đề rắc rối nào cho bất cứ một ai. Nếu cứ tiếp tục thực hành cho đến khi thành thục, chúng ta sẽ ngày càng trở nên tĩnh lặng và bình an. Nếu ngày càng có nhiều người thực hành như thế, thì thế gian này sẽ tràn đầy hạnh phúc và bình an. Đối với thân, chúng ta có thể huấn luyện cho nó trở thành an lạc, chỉ khi tâm đã được huấn luyện và điều khiển hoàn toàn. Chỉ một phút giây chánh niệm tuột đi, thân ta lại “ngựa quen đường cũ” trở về với thói thường của nó ngay lập tức. Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng thực hành luyện tâm mình bằng cách niệm Buddho.




NHỮNG BƯỚC CƠ BẢN
 ĐẦU TIÊN ĐỂ THỰC HÀNH THIỀN

Khi thực hành thiền niệm Buddho, trước hết bạn cần bắt đầu với những bước cơ bản ban đầu như sau. Hãy làm tăng trưởng đức tin trong sạch trong tâm mình, rồi sau đó đảnh lễ trước Tam Bảo ba lần, và đọc:

Araham sammā-sambuddho bhagavā
            - Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Ngài là bậc Alahán cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy.

Buddham bhagavantam abhivādemi
             - Con xin đem hết lòng thành kính cúi đầu làm lễ Đức Thế Tôn, bậc Giác ngộ.

(Đảnh lễ một lạy)

Svākhato bhagavatā dhammo
              - Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Pháp Bảo Đức Thế Tôn đã khéo thuyết giảng.

Dhammam namassāmi
              - Con xin đem hết lòng thành kính cúi đầu làm lễ Pháp Bảo.

(Đảnh lễ một lạy)

Supatipanno Bhagavato sāvaka-sangho
               - Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Tăng Bảo, chư Đại đức Tăng chúng đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc thiện hạnh.

Sangham namāmi
               - Con xin đem hết lòng thành kính cúi đầu làm lễ Đức Tăng.         

(Đảnh lễ một lạy)

Namo tassa bhagavato arahato sammā-sambuddhassa.
               - Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Ngài là bậc Ứng cúng cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy.

Hãy niệm tưởng đến các ân đức của Đức Phật, bậc thầy cao thượng của chư thiên và nhân loại, bậc đã hoàn toàn dứt tuyệt khỏi mọi phiền não, nhiễm ô và đau khổ, bậc luôn luôn an tịnh và là nơi nương tựa xứng đáng cho chúng ta. Rồi sau đó đảnh lễ ba lần.

Chú ý: những bước căn bản ban đầu này chỉ đơn giản là ví dụ mà thôi. Nếu bạn muốn tụng kinh nhiều hơn thế thì cũng tốt, nhưng đầu tiên bạn nên đảnh lễ Đức Phật mỗi khi vào ngồi thiền, chỉ trừ khi nơi bạn ngồi thiền không thuận tiện để làm việc đó mà thôi.


Và bây giờ thì hãy vào ngồi thiền, chân phải đặt lên trên chân trái, tay trong lòng, tay phải đặt lên trên lòng bàn tay trái. Ngồi thẳng lưng. Niệm thầm từ Buddho trong tâm, đặt tâm ở ngực, ngay nơi trái tim. Đừng để sự chú tâm đi lang thang ra phía trước hay phía sau. Hãy chánh niệm giữ tâm mình ở một nơi, an trú vững chắc ở một điểm đó thôi và bạn sẽ đi sâu vào định.

Khi đã thể nhập vào định, tâm bạn có thể trở nên trống rỗng đến mức bạn không hề biết là mình đã ngồi được bao lâu nữa. Lúc xuất ra khỏi định thì nhiều giờ đã trôi qua. Vì lý do đó, bạn không nên ấn định trước thời gian cho mình trong khi ngồi thiền. Hãy để mọi việc trôi chảy thuận theo tự nhiên.

Tâm an trú thực sự ở trong định là cái tâm ở trong trạng thái nhất tâm. Nếu tâm vẫn chưa đạt đến nhất tâm thì nó vẫn chưa phải là định (toàn định), bởi vì cái tâm đích thực chỉ có một. Nếu có nhiều trạng thái tâm vẫn cứ tiếp tục hoạt động, tạo tác, khi đó bạn vẫn chưa thể thể nhập sâu vào chân tâm được. Bạn mới chỉ chạm được đến nó mà thôi.

Trước khi bắt tay vào hành thiền, đầu tiên bạn nên biết về sự khác biệt giữa tâm trí và chân tâm, bởi vì chúng không phải là một. Tâm trí là cái tư duy, suy nghĩ và tạo lập các loại tưởng, các loại khái niệm, tư tưởng đủ loại. Chân tâm chỉ đơn giản tĩnh lặng và hay biết rằng nó tĩnh lặng mà không hề tạo tác, gia công thêm bất cứ loại suy nghĩ, tư tưởng nào khác. Sự khác nhau giữa chúng cũng như sự khác nhau giữa con sông và sóng nước trên mặt sông vậy.

Tất cả mọi thứ kiến thức và tất cả mọi phiền não chỉ có thể sanh khởi lên bởi vì tâm trí chúng ta suy nghĩ tới chúng và tạo tác các loại ý nghĩ, tư tưởng và rồi lạc đường đi tìm kiếm chúng. Bạn chỉ có thể thấy rõ được những điều này bằng chính chân tâm của mình, khi tâm trí đã trở nên tĩnh lặng và bạn tiếp cận được với chân tâm.

Bản chất của nước vốn luôn luôn trong và sạch. Nếu ai đó pha thuốc màu vào nước, khi đó nước cũng đổi màu theo. Nhưng một khi nước đã được lọc và để lắng trong, nó sẽ trở thành nước sạch và trong suốt như trước khi pha màu. Tâm trí và chân tâm của chúng ta cũng giống như vậy.

Thực ra, Đức Phật dạy rằng tâm trí của chúng ta cũng chính là chân tâm. Nếu không có tâm trí đó thì cũng chẳng thể có tâm. Tâm trí chỉ là một nhân duyên, một điều kiện. Còn bản thân chân tâm thì không có điều kiện, không cần nhân duyên. Trong pháp hành thiền, dù cho bất cứ phương pháp nào mà người thầy hướng dẫn, nếu phương pháp đó đúng đắn thì nhất định nó phải giúp bạn xuyên thấu tới chân tâm của chính mình.

Khi đã tiếp cận đến chân tâm, bạn sẽ thấy được tất cả các loại phiền não của mình, bởi vì tâm trí chúng ta tích tụ tất cả các loại phiền não ở chính trong nó. Vì vậy, giờ đây cách thức xử lý chúng như thế nào là hoàn toàn tùy thuộc vào chính bạn.

Khi bác sỹ muốn điều trị cho bệnh nhân, thì trước hết họ phải tìm ra nguyên nhân gây bệnh cho người đó. Chỉ khi đó rồi họ mới có thể điều trị bằng các phương thuốc thích hợp cho người bệnh.

Khi chúng ta bắt đầu thực hành thiền ngày một nhiều hơn, niệm thầm Buddho, Buddho, Buddho… (Bút-thô, Bút-thô, Bút-thô) lặp đi lặp lại hoài như thế, tâm chúng ta sẽ dần dần buông bỏ bớt những sự xáo động, bất an và quy tụ trở lại, an trụ với Buddho. Tâm sẽ an trụ vớiBuddho làm đề mục duy nhất, cho đến khi bạn thấy được trạng thái tâm đang niệm Buddho đó hoàn toàn là một với chính chân tâm mình, trong mọi lúc, bất kể dù bạn đang đi, đứng, nằm, ngồi gì đi nữa. Dù đang làm bất cứ công việc gì, tâm bạn vẫn luôn luôn sáng suốt, rõ ràng với Buddho. Khi đã đạt tới giai đoạn này, bạn hãy giữ tâm mình như thế càng lâu càng tốt. Đừng vội vàng muốn thấy được cái này, cái kia– bởi vì tham muốn, mong cầu là một trở ngại lớn nhất để đạt tới tâm định. Một khi đã có tham muốn, mong cầu móng khởi là định tâm của bạn sẽ suy thoái ngay lập tức, bởi vì nền tảng định tâm của bạn – Buddho – không vững chắc. Khi điều này xảy đến, bạn sẽ không thể bám víu vào bất cứ bến neo nào được nữa, và bạn sẽ cảm thấy vô cùng thất vọng. Tất cả những gì bạn nghĩ đến lúc đó là trạng thái tâm an lạc và tĩnh lặng mình đã từng đạt được trước kia, và chính điều này sẽ lại làm bạn càng thêm trạo cử, bất an hơn nữa.

Cách chúng ta thực hành thiền cũng giống như cách người nông dân trồng lúa. Họ không hề vội vàng. Họ cày bừa, làm đất, gieo mạ, làm cỏ, cấy lúa…từng bước một, không bỏ sót một bước nào. Rồi sau đó chờ cho lúa lớn. Mặc dù không thấy được ngay hạt lúa đang đơm bông, ra hạt, nhưng họ tin tưởng chắc chắn rằng nhất định một ngày nào đó hạt lúa sẽ xuất hiện trên cây. Khi lúa đã đơm hạt, họ chắc chắn rằng nhất định mình sẽ gặt hái được vụ mùa ấy. Họ không cầm cổ cây lúa mà kéo lên cho mau lớn, cho nó đẻ ra hạt như mình mong muốn. Người nào làm như thế nhất định sẽ chẳng thể thu được chút xíu kết quả nào.

Trong thiền cũng vậy. Bạn không thể nào nóng vội được. Bạn không thể bỏ qua bất cứ một giai đoạn nào. Bạn phải tin tưởng chắc chắn rằng: “Đây chính là đề mục niệm chắc chắn sẽ làm cho tâm mình trở nên định tĩnh”. Chớ nên lo lắng, hồ nghi rằng liệu đề mục niệm này có phù hợp với căn cơ của mình hay không, và cũng chớ nên nghĩ rằng: “Người ấy, người nọ đã sử dụng đề mục niệm này và đạt được kết quả thế này, thế ia, nhưng khi tôi niệm từ Buddho này thì tâm lại chẳng hề định tĩnh. Nó không thích hợp cho tôi tý nào”. Thực ra, nếu tâm bạn an trụ vững chắc vào đề mục niệm bạn đang thực hành đó, thì bất kể đề mục niệm đó là từ gì, chắc chắn nó sẽ có kết quả - bởi vì bạn niệm đi niệm lại từ đó chỉ đơn giản với mục đích làm cho tâm vững chắc và an trụ mà thôi, chỉ thế thôi.  Còn có đạt được các kết quả khác ngoài mục đích ấy hay không, điều ấy hoàn toàn tùy thuộc vào tiềm năng và khả năng của cá nhân mỗi người.

Một lần nọ, trong thời Đức Phật, có một vị Tỳ Khưu đang ngồi thiền ở gần một cái ao. Vị ấy nhìn thấy một con chim bói cá đang nhào xuống ao để bắt cá, và vị ấy lấy luôn hình ảnh đó làm đề mục thiền cho mình cho đến khi đắc quả Alahán, ngay tại bên bờ ao ấy. Tôi chưa từng đọc trong bất cứ một cuốn sách thiền nào nói rằng người ta có thể lấy hình ảnh con chim bói cá bắt mồi làm đề mục thiền cả, thế nhưng vị Tỳ Khưu ấy đã làm được việc đó, đã có thể lấy sự việc đó làm đề mục thiền cho mình và đắc quả Alahán. Ví dụ này minh họa rất rõ cho những gì tôi đã nói ở trên.

Khi tâm đã an trú trong đề mục niệm Buddho, với chánh niệm luôn luôn hiện hữu, thì chắc chắn nó sẽ vượt qua được những sự phá phách, nổi loạn của tâm trí. Chúng ta phải huấn luyện và chế ngự nó, bởi vì chúng ta đang đi tìm kiếm sự an lạc và bình an cho tâm mình. Thông thường, cái tâm con người ta luôn luôn bận rộn đi tìm kiếm những thứ làm tâm phân tán, xao lãng, tháo động và hầu như mọi lúc, nó hay bị lạc đường như thế này: bạn niệm Buddho, Buddho, Buddhođược một lúc, ngay khi tâm vừa mới tập trung vào từ Buddho đó, thì nó đã lại không còn an trụ ở đó nữa. Nó bắt đầu chạy đi, lo lắng nghĩ ngợi đến những việc mình dự định làm hay những việc mình còn chưa làm xong. Nó nghĩ đến phải làm việc này, phải hoàn thành xong việc kia, cho đến khi nghĩ ngợi đủ hết mọi việc, nó lo lắng, băn khoăn rằng không biết công việc có hoàn thành tốt đẹp không, có như mình mong muốn không … Nó lo lắng rằng nếu mình không làm công việc người ta yêu cầu, hay không hoàn thành được việc mình muốn làm thì sẽ lãng phí thời gian vô ích hay sẽ làm mình mất mặt…vân vân và vân vân.

Đây chính là một loại xao lãng thường cản trở những thiền sinh mới hành thiền, không cho họ đạt được định tâm. Bạn phải kéo tâm mình quay lại ngay với đề mục niệm Buddho và tự nhắc mình: “Những suy nghĩ như thế này không phải là con đường đúng đắn để đạt tới sự an lạc; con đường đích thực tới an lạc là giữ tâm mình an trú vớiBuddho và không quan tâm tới một điều gì khác” – và rồi tiếp tục kiên trì niệm Buddho, Buddho, Buddho thật nhiều …

Chỉ một khoảnh khắc sau, tâm lại phóng đi tiếp, lần này thì nó nghĩ tới gia đình – nghĩ tới con cái, nghĩ đến vợ, đến chồng: không biết họ thế nào, có khỏe không? Có ăn được không? Nếu họ ở xa thì bạn lại bắt đầu suy nghĩ xem bây giờ họ đang ở đâu, đang làm gì…Người ở xa thì nghĩ đến người ở nhà. Người ở nhà thì nghĩ đến người đi xa – lo lắng người đó có an toàn hay không, có bị ai sinh sự, quấy nhiễu không vì chẳng có ai bên cạnh, vì người đó đang cô đơn một mình…nói chung là nghĩ đến 108 thứ khác nhau, nghĩ đến bất cứ cái gì mà tâm có thể tưởng tượng ra. Mà tất cả những điều đó chỉ là sự phóng chiếu của chính chúng ta, chẳng hề đúng với sự thật tý nào.

Hoặc giả, nếu như bạn còn trẻ và độc thân, bạn sẽ nghĩ đến những phút vui với bạn bè, nghĩ đến những nơi mình đã từng đi chơi với nhau, nghĩ đến những thời gian vui vẻ đã qua, đến những việc mình hay làm – nghĩ nhiều đến mức có lúc bạn còn thốt ra lời hoặc cười to lên nữa. Loại phiền não này là loại tệ hại nhất trong cả bọn.

Khi bạn niệm Buddho, Buddho, Buddho, các phiền não của bạn thấy rằng chúng không còn kiểm soát được tình thế nữa, bạn sẽ chạy thoát khỏi bàn tay chúng, vì vậy chúng tìm mọi phương cách để trói bạn chặt thêm nữa. Từ bé đến giờ bạn chưa bao giờ thực hành thiền định như thế này, và bạn đơn giản để cho tâm mình chạy đi theo phiền não. Chỉ đến bây giờ bạn mới bắt đầu tập hành thiền, do đó khi bạn niệm Buddho, Buddho, Buddho để khiến tâm vắng lặng, tịnh chỉ, thì khi đó cái tâm bắt đầu vùng vẫy, quẫy đạp như con cá bị vớt lên bờ, vùng vẫy thoát ra khỏi lưới để trở về với dòng nước quen thuộc của nó. Vì thế, bạn luôn luôn phải kéo tâm mình quay trở lại với đề mục niệm Buddho.

Buddho là một cái gì đó thật tĩnh lặng và mát lành. Nó chính là con đường đưa đến an lạc và bình an – con đường duy nhất sẽ giải phóng chúng ta ra khỏi mọi đau khổ trên thế gian này.

Vì vậy, bạn hãy thường xuyên kéo tâm mình quay lại với Buddho. Lần này thì nó bắt đầu lắng dịu trở lại. Khi đó, bạn sẽ bắt đầu cảm nhận được cái cảm giác mỗi khi tâm lắng đọng: nó an nghỉ, yên tĩnh và dễ chịu vô cùng, khác biệt hoàn toàn với cái tâm khi còn chưa vắng lặng, khi còn lao xao, trạo cử và bất an. Bạn cố gắng cẩn thận và tỉnh giác để gìn giữ tâm mình an trú trong trạng thái ấy và…Oops, nó lại chạy biến đi đằng nào mất tiêu rồi! Lần này thì nó lấy lý do tài chính ra để biện hộ. Nó nói rằng nếu bạn không làm việc này, không tìm kiếm cái kia thì sẽ đánh mất một cơ hội rất lớn. Nghe lời dụ dỗ của nó, bạn lại quay sang tập trung vào vấn đề ấy thay vì tập trung vào đề mục niệm của mình. Buddho chạy đi đâu mất nãy giờ bạn cũng chẳng hề biết nữa. Khi nhận ra Buddho đã biến mất thì đã quá muộn – chính vì thế mà người ta nói rằng cái tâm con người chúng ta luôn luôn tháo động, trơn tuột và rất khó kiểm soát, nó giống như con khỉ không bao giờ chịu ngồi yên một chỗ.

Đôi lúc, khi đã ngồi thiền được khá lâu, bạn lại bắt đầu lo lắng: có thể máu không lưu thông được, tế bào thần kinh của mình có thể sẽ chết vì thiếu máu, có thể mình sẽ bị tê cứng và cuối cùng còn có thể bại liệt nữa. Nếu bạn hành thiền xa nhà, trong rừng sâu chẳng hạn, thì còn tệ hơn: bạn lo lắng mình có thể bị rắn cắn hay bị cọp xơi, bị ma đuổi, phi nhân quấy nhiễu…Nỗi sợ chết cứ đeo đẳng bạn bằng mọi cách, tất cả chỉ đơn giản là bạn đang tự nhát mình mà thôi. Sự thật thì chẳng giống như bạn tưởng tượng tý nào. Từ thửa cha sinh mẹ đẻ đến giờ, bạn đã bao giờ tận mắt nhìn thấy cọp ăn thịt một ai đâu. Bạn cũng chưa từng một lần nhìn thấy mặt mũi con ma nó ra sao nữa – bạn còn không biết nó trông như thế nào, nhưng bạn vẫn cứ vẽ ra một con ma ở trong tâm mình, khiến cho mình sợ chết khiếp.

Những trở ngại trong quá trình thực hành mà tôi nêu ra ở đây chỉ là các ví dụ mà thôi. Trong thực tế chúng có rất nhiều. Người hành thiền sẽ phải tự mình khám phá ra chúng trong quá trình thực hành của mình.

Nhưng nếu bạn gìn giữ đề mục Buddho thật sít sao trong tâm mình, và sử dụng chánh niệm để an trụ tâm chỉ trong Buddho chứ không gì khác, thì sẽ không có nguy hiểm nào đến ngáng đường bạn cả. Tôi đảm bảo rằng sẽ không thể có một nguy hiểm nào cả - chỉ trừ phi bạn đã tạo một nghiệp xấu nào đó trong quá khứ, thì không ai có thể bảo vệ bạn được, điều đó nằm ngoài khả năng của bất cứ người nào. Ngay cả bản thân Đức Phật cũng không thể bảo vệ bạn tránh khỏi nghiệp được.

Khi mới hành thiền, đức tin của thiền sinh vẫn còn yếu. Cho dù họ thực hành với đề mục nào đi nữa, những loại phiền não này chắc chắn vẫn can thiệp, chen ngang, bởi vì chúng cấu tạo nên nền tảng cho cả thế gian này và cả tâm của bạn nữa. Giây phút chúng ta hành thiền và làm cho tâm mình nhất tâm chuyên chú, phiền não thấy rằng chúng ta đang thoát khỏi tay chúng, vì vậy chúng xúm đến bu quanh hòng không để cho chúng ta vượt thoát ra khỏi thế gian này.

Nếu thấy ra được sự nguy hiểm và tai hại của  phiền não, bạn cần phải làm cho tâm mình trở nên vững mạnh và tạo lập một đức tin vững chắc. Hãy tự nói với chính mình rằng: chúng ta đã để phiền não lừa đảo mình trong biết bao nhiêu kiếp sống rồi; giờ đây là lúc chúng ta phải đặt lòng tin vào Giáo pháp của Đức Phật và lấy Buddho (Buddho,tiếng Pali có nghĩa là Phật) làm nơi nương tựa cho mình. Rồi sau đó chúng ta củng cố chánh niệm cho thật vững chắc và gắn chặt tâm mình vào Buddho. Chúng ta đặt cả cuộc đời mình vào Buddho và sẽ không để cho tâm mình đi ra khỏi nó. Khi đã có quyết tâm dũng mãnh như vậy, bạn sẽ tiến thẳng vào nhất tâm và nhập định rất nhanh chóng.

Lần đầu tiên nhập vào an chỉ định, bạn sẽ có cảm giác như thế này: bạn không hề có một ý niệm gì về định hay trạng thái nhất tâm gì hết cả. Bạn chỉ đơn giản giữ chánh niệm tập trung vững chắc trên một đề mục duy nhất – và chính năng lực của tâm tập trung trên một đề mục đó sẽ là cái đưa bạn thể nhập vào định. Bạn không hề suy nghĩ xem định sẽ như thế này hay như thế kia, hay là mình muốn nó phải thế này hay thế nọ. Nó chỉ đơn giản hành động theo chính nó, một cách hoàn toàn tự động. Không ai có thể ép buộc được nó cả.

Khi đó, bạn cảm thấy dường như mình đã ở trong một thế giới khác (thế giới của tâm), với một cảm giác vô cùng dễ chịu và tách biệt, mà không có bất cứ một thứ gì trên thế gian này có thể so sánh được. Khi tâm xuất ra khỏi định, bạn sẽ cảm thấy tiếc nuối rằng cảm giác ấy đã qua đi, và bạn vẫn còn nhớ như in. Đó là tất cả những gì chúng ta có thể nói về định khi đã xuất ra khỏi trạng thái đó. Khi tâm thể nhập và an trú trong đó, chúng ta không còn quan tâm đến bất cứ những gì người khác nói hay làm nữa.

Bạn phải huấn luyện tâm mình để nhập định thường xuyên, để trở nên thành thục, nhưng đừng cố gắng hồi nhớ lại những trạng thái định đã có trước đây của mình, và chớ mong muốn định của mình phải giống như lần trước – bởi vì nó sẽ không bao giờ như cũ cả. Làm như thế bạn sẽ chỉ càng tự gây thêm rắc rối cho chính mình mà thôi. Chỉ đơn giản niệm Buddho, Buddho… và giữ cho tâm mình niệm liên tục như vậy. Còn sau đó tâm có làm gì thì đó là việc của nó.

Khi đã nhập định lần đầu tiên, những lần tiếp theo sẽ không giống y hệt như thế nữa, nhưng chớ lo lắng về điều đó. Bất cứ nó là như thế nào, cũng đừng lo lắng, băn khoăn về nó. Chỉ cần đảm bảo là bạn tập trung hoàn toàn vào nó mà thôi. Khi kết quả đến theo nhiều cách khác nhau, sự hiểu biết của bạn cũng sẽ được mở rộng và bạn sẽ phát huy được rất nhiều kỹ thuật thiện xảo khác nhau để làm việc với tâm mình.

Những gì tôi nói ở đây, chỉ nên đơn giản coi đó là những ví dụ mà thôi. Khi bạn thực hành theo những chỉ dẫn này, đừng quá coi trọng nó, đừng quá đặt nặng vào nó, nếu không nó sẽ trở thành những ảo ảnh trong quá khứ và thiền tập của bạn rồi sẽ chẳng đi tới đâu cả. Chỉ cần đơn giản ghi nhớ chúng như là một kinh nghiệm dùng để so sánh, khi thiền tập của bạn đã tiến triển mà thôi.

Bất cứ phương pháp nào bạn thực hành – niệm Buddho, niệm phồng xẹp hay niệm sammā araham – khi tâm bắt đầu lắng đọng trong định, bạn sẽ không nghĩ rằng tâm mình đã lắng đọng, hay đang lắng đọng, hay bất cứ điều gì khác. Nó sẽ tự lắng đọng một cách tự động. Thậm chí bạn còn không biết là mình đã buông bỏ việc niệm đề mục như thế nào nữa. Tâm bạn chỉ đơn giản tĩnh lặng và an lạc, sự an lạc không hề có được trên thế giới này hay bất cứ nơi đâu. Thực tại chế định của thế gian không còn xuất hiện ở đó nữa, và do đó cũng chẳng có tuệ giác nào khởi sanh trong đó cả. Điểm chính là bạn chỉ đơn giản huấn luyện tâm mình tập trung và rồi sau đó so sánh nó với trạng thái tâm không tập trung, không định tĩnh để thấy được chúng khác nhau ra sao; cái tâm đã đắc định và xuất định để quán chiếu các pháp khác biệt so với cái tâm chưa đắc định như thế nào.

Chân tâm và tâm trí, bây giờ chúng ta sẽ nói thêm một chút về chân tâm và tâm trí để bạn có thể hiểu được chúng. Bởi cuối cùng thì chúng ta đều đang nói về quá trình luyện tâm để đạt tới định, nếu không hiểu biết về mối quan hệ giữa chân tâm và tâm trí, bạn sẽ không thể biết được mình đang ở chỗ nào và cách thực hành định ra sao.

Tất cả mọi chúng sanh được sinh ra – dù là con người hay động vật – cũng đều có chân tâm và tâm trí, song chân tâm và tâm trí có những chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Tâm trí suy nghĩ, lang thang và tạo dựng nên đủ loại ý tưởng theo sự dẫn dắt của các loại phiền não. Còn chân tâm, nó chỉ đơn giản là cái hay biết. Nó không tạo tác nên bất cứ một ý tưởng nào cả. Nó nằm ở giữa, trung lập với tất cả mọi thứ. Chánh niệm trung lập: đó chính là chân tâm.

Chân tâm không hề có một cơ thể vật chất. Nó là một hiện tượng của tâm mà thôi. Nó chỉ đơn giản là sự chánh niệm. Bạn có thể đặt nó ở bất cứ nơi đâu. Nó không hề nằm trong hay nằm ngoài cơ thể. Khi chúng ta gọi trái tim cơ bắp trong ngực này là tâm, nó không phải là chân tâm thực sự. Nó chỉ là một cơ quan nội tạng bơm máu đi khắp cơ thể để nuôi sống chúng ta mà thôi. Nếu trái tim này không hoạt động nữa thì cuộc sống cũng chấm dứt.

Mọi người nói chung vẫn thường nói về tâm như thế này: “Tôi cảm thấy niềm hạnh phúc trong tâm…tôi cảm nhận nỗi buồn…sự nặng nề…sự thanh thản nhẹ nhàng…trong tâm”. Tất cả đều quy về tâm. Các học giả chuyên về Vi diệu pháp (Abhidhamma) thường hay nói rằng: có tâm bất thiện, tâm thiện, tâm vô nhân, tâm sắc giới, tâm vô sắc giới, tâm siêu thế và vân vân…nhưng không ai trong số họ hiểu được thế nào là tâm và thế nào là chân tâm.

Tâm là cái suy nghĩ, lý luận và tạo dựng nên các ý tưởng. Nó phải sử dụng đến 6 giác quan làm công cụ. Ngay khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm giác sự xúc chạm –nóng, lạnh, cứng, mềm - và ý suy nghĩ, nắm bắt các ý tưởng theo dòng phiền não, tốt hay xấu: nếu bất cứ điều gì cảm nhận là tốt, tâm liền thích thú; nếu xấu, nó chán ghét. Tất cả những điều này đều là công việc của tâm, hay của phiền não. Ngoài sáu giác quan này, tâm trí không thể sử dụng được cái gì nữa. Trong kinh điển, chúng được chia ra thành sáu căn, sáu trần và sáu giới, đại loại như vậy, nhưng không có thứ nào trong đó nằm bên trong sáu giác quan cả. Do vậy, những thứ này cũng đều là những đặc tính của tâm: cái không bao giờ chịu ngồi yên một chỗ.

Khi bạn huấn luyện tâm mình, hay nói cách khác là tu tập định, bạn phải chế ngự tâm mình vốn luôn lang thang chạy theo sáu giác quan và buộc nó đứng yên lại ở một điểm: đó chính là đề mục niệm Buddho. Đừng để nó tuột chạy đi đằng trước hay thụt lại đằng sau. Làm cho nó an trụ và hay biết rằng nó đang an trụ: đó chính là chân tâm. Chân tâm không có việc gì phải làm đối với sáu giác quan cả, chính vì thế nó được gọi là chân tâm.

Nói chung khi mọi người nói về chân tâm, họ thường ám chỉ về nơi tâm điểm của nó. Thậm chí, ngay cả khi họ nói về chân tâm của mình, họ cũng chỉ vào giữa ngực mình. Thực ra chân tâm chẳng nằm ở một nơi nào trong thân này cả, mặc dù nó vẫn luôn nằm ở nơi trung tâm của tất cả mọi thứ.

Nếu bạn muốn hiểu thế nào là chân tâm, bạn có thể thử làm một thí nghiệm sau đây. Hãy hít vào một hơi và giữ một lúc. Vào lúc đó, chẳng thể có cái gì sất cả, ngoại trừ một điều: chánh niệm đơn thuần, hoàn toàn trung lập. Đó chính là chân tâm, hay là “cái hay biết”. Nếu bạn cố gắng nắm bắt chân tâm của mình theo cách này, bạn sẽ không thể nắm giữ nó được lâu, chỉ lâu đến mức có thể nhịn thở được mà thôi, nhưng bạn có thể thử làm như vậy, chỉ để thấy ra được thế nào là chân tâm thực sự mà thôi.

(Giữ hơi thở có thể giúp làm giảm nhẹ cơn đau trên thân. Những người phải chịu những cơn đau đớn vật vã thường giữ hơi thở như là một cách giảm đau khá hiệu quả).

Khi bạn đã nhận ra rằng tâm trí và chân tâm có những chức năng và đặc tính khác biệt nhau như thế, bạn sẽ thấy công việc huấn luyện tâm của mình trở nên dễ dàng hơn nhiều. Thực ra thì chân tâm và tâm trí cũng chỉ là một mà thôi. Như Đức Phật đã nói, chân tâm cũng chính là tâm trí. Khi thực hành thiền chỉ, thì chỉ cần huấn luyện tâm mình là đủ; một khi tâm đã được huấn luyện, thì ngay tại đó chúng ta sẽ thấy được chân tâm của mình.

Khi tâm đã được huấn luyện hoàn toàn đầy đủ bằng chánh niệm, an trụ trong Buddho như một đề mục duy nhất, nó sẽ không còn chạy theo ngoại cảnh nữa mà sẽ quy tụ vào một điểm. Đề mục niệm sẽ biến mất mà bạn không hề hay biết và bạn sẽ cảm nhận được một cảm giác bình an và dễ chịu không gì so sánh nổi. Những người chưa từng cảm nhận được sự bình an này trước kia, khi lần đầu tiên cảm nhận được nó, họ không thể nào diễn tả được, bởi vì không có ai trên thế gian này từng được kinh nghiệm qua sự an lạc và bình yên đến thế. Mặc dù nhiều người khác cũng đã kinh nghiệm được, nhưng nó không hoàn toàn giống y hệt như nhau. Chính vì lý do này mà bạn cảm thấy rất khó để diễn tả được nó – mặc dù bạn có thể tự diễn tả được cho chính mình. Nếu muốn diễn tả lại cho người khác hiểu, bạn phải dùng đến những lối nói ẩn dụ, so sánh hay những ví dụ tương đương. Những thứ như thế này thường là những kinh nghiệm rất cá nhân: chỉ mình bạn tự biết, tự hiểu được mà thôi.

Ngoài ra, nếu bạn đã phát triển được một số tiềm năng trong những kiếp quá khứ, thì sẽ có rất nhiều điều lạ lùng xảy đến. Chẳng hạn bạn sẽ có thể thấy được những cảnh giới chư thiên hay ngạ quỷ. Bạn có thể nhớ được những kiếp quá khứ hay thấy trước được tương lai của mình và của người khác. Trong kiếp trước bạn đã là thế này, kiếp sau bạn sẽ thế kia…Mặc dù bạn không dự định là mình sẽ thấy được những điều đó, song khi tâm đã đắc định nó có thể tự hiểu biết được nhiều điều rất lạ lùng.

Những điều lạ lùng như thế thường làm cho những thiền sinh mới mê mẩn. Khi những điều này xảy đến với họ, họ rất thích đem đi khoe khoang với người khác. Những người khác cố gắng hành thiền, nhưng không đạt được những khả năng như vậy thì lại đâm ra chán nản, thất vọng và nghĩ rằng mình không có đủ phước hành thiền và rồi bắt đầu đánh mất đức tin vào pháp hành.

Còn đối với những người thấy được những điều đó, khi khả năng đó bị suy thoái đi – bởi vì họ đã bị những thứ bên ngoài lôi đi và không lấy chân tâm làm cứ điểm cho mình – thì họ không thể bám víu vào bất cứ cái gì được nữa. Khi nghĩ lại những điều họ đã thấy, tâm họ lại càng trở nên bất an, khuấy động hơn. Những người đã trót khoe khoang với người khác về khả năng của mình thì thường dựa trên những gì trước kia mình hay thấy để mà nói phóng đại lên. Những người khoái chuyện lạ rất thích nghe những chuyện như thế, nhưng đối với những thiền sinh nhiệt tâm thì họ không thèm để ý - bởi vì, một thiền sinh đích thực chỉ muốn nghe những điều thực tế và ngay trong hiện tại mà thôi.

Đức Phật dạy, sau này giáo pháp của Như Lai có được phát triển hay suy tàn đi là phụ thuộc vào những người thực hành giáo pháp. Giáo pháp sẽ ngày càng suy tàn khi những thiền sinh mới chỉ biết được chút ít đã vội đi khoe khoang, khoác lác với người, nói những chuyện trên trời dưới biển mà chẳng có thực chất chút nào, thay vì việc chính phải làm là giảng giải nguyên tắc hành thiền căn bản để hướng dẫn mọi người thực hành. Khi làm như thế, chính họ đang làm cho giáo pháp suy tàn mà không hề ý thức được điều đó.

Người làm cho giáo pháp hưng thịnh là những người chỉ nói những điều lợi ích và chân thật. Họ không nói chỉ vì muốn vui vẻ. Họ nói về nhân quả: “Khi bạn thực hành như thế này, niệm câu đó lặp đi lặp lại theo cách này, nó sẽ giúp tâm bạn quy tụ về một điểm, dập tắt phiền não và bất an như thế này…”.

Khi bạn hành thiền với đề mục niệm Buddho, hãy kiên nhẫn. Đừng nóng vội. Hãy đặt lòng tin vào đề mục thiền và sử dụng chánh niệm để an trụ tâm mình trong Buddho. Đức tin là cái sẽ làm cho tâm bạn vững vàng, không dao động, có thể buông bỏ tất cả mọi hoài nghi, do dự trong mình. Tâm bạn sẽ quy tụ về câu niệm đó và chánh niệm sẽ giữ cho nó an trụ trong Buddho suốt trong mọi lúc. Dù bạn đi đứng ngồi nằm hay trong bất cứ công việc gì bạn làm, chánh niệm sẽ luôn luôn giác tỉnh với chỉ Buddho mà thôi, không hề để tâm đến bất cứ điều gì khác ngoài nó. Nếu chánh niệm của bạn còn yếu, kỹ thuật còn non thì bạn phải bám chắc vào Buddho làm nền tảng cho mình.  Nếu không pháp hành của bạn sẽ không thể tiến triển được, hoặc nếu có tiến triển đi nữa thì nó cũng không có một nền tảng nào cả.

Để đạt được định tâm vững mạnh, bạn cần phải có quyết tâm. Khi chánh niệm vững mạnh, và bạn có quyết tâm, bạn quyết định rằng đây chính là điều mình muốn làm: “Nếu tôi không nắm bắt đượcBuddho, không thấy Buddho trong tâm mình hay không an trụ tâm được trong Buddho, tôi sẽ không đứng dậy khỏi chỗ ngồi thiền. Ngay cả khi mạng sống của tôi chấm dứt, tôi cũng không cần”. Khi bạn quyết định như vậy thì tâm của bạn quy tụ về nhất tâm nhanh hơn rất nhiều. Đề mục niệm Buddho, hay bất cứ cái gì có thể gây xao lãng, bối rối cho bạn sẽ nhanh chóng biến mất trong nháy mắt. Ngay cả cái thân này bạn đã dính mắc với nó bao lâu nay cũng sẽ không còn làm bạn phải bận lòng nữa. Tất cả những gì còn lại chỉ là chân tâm – chỉ còn lại chánh niệm đơn thuần– tĩnh lặng, mát lạnh và vô cùng dễ chịu.

Người hành thiền sẽ rất thích thú khi cảm giác này xuất hiện. Lần sau, họ lại mong ngóng cảm giác đó xuất hiện trở lại, và chính vì thế nó sẽ không đến nữa. Đó là bởi vì tâm tham đã ngăn cản không cho nó xảy đến. Định là một thứ rất vi tế và nhạy cảm. Bạn không thể ép buộc nó phải xảy ra như thế này hay thế khác được – và bạn cũng không thể cưỡng ép tâm mình nhập định được.

Nếu bạn nóng vội thì mọi việc sẽ lại chỉ càng rối hơn mà thôi. Bạn phải rất kiên nhẫn. Dù tâm có đắc định được hay không, nhưng bạn đã thực hành niệm Buddho từ trước tới nay rồi thì cứ tiếp tục niệmBuddho như vậy đi. Hãy thực hành như thể trước đây bạn chưa bao giờ niệm Buddho vậy. Hãy làm cho tâm quân bình và trung lập, để cho hơi thở điều hòa nhẹ nhàng, và dùng chánh niệm chú tâm vào mỗiBuddho mà thôi, không để ý đến bất cứ cái gì khác ngoài nó. Khi thời điểm đã chín muồi để tâm nhập định thì nó sẽ tự làm việc đó. Bạn không thể bố trí, thu xếp cách nó phải xảy đến như thế nào. Nếu nó là thứ mà chúng ta có thể sắp xếp được thì hẳn là tất cả mọi người trên thế giới này đã trở thành bậc thánh Alahán từ lâu rồi.

Biết cách thực hành thiền, nhưng không làm đúng theo nó; làm đúng được một lần, rồi sau đó lại muốn nó phải tiếp tục xảy đến theo cách như vậy nữa, nhưng nó không xảy ra: tất cả những điều đó đều là những trở ngại cho bạn trong quá trình thực hành thiền định.

Khi thực hành thiền với đề mục niệm Buddho, bạn phải thực hành cho đạt đến mức thuần thục và có thể nhanh chóng nhất niệm. Mỗi khi có trạng thái tình cảm tốt hay xấu nào đó tấn công bạn, bạn phải có khả năng ổn định tâm mình ngay lập tức. Chớ để tâm mình bị tác động bởi trạng thái tình cảm đó. Mỗi khi nghĩ đến Buddho, tâm bạn sẽ quy tụ lại ngay lập tức: khi đã có thể làm được điều này, tâm bạn sẽ trở nên vững chắc và có thể tự nương tựa vào chính nơi mình.

Khi thực hành theo cách này đến mức thuần thục và dầy dạn kinh nghiệm, sau một thời gian bạn sẽ phát hiện ra là những phiền não và dính mắc trong mình đối với tất cả mọi thứ dần dần tự biến mất. Bạn không phải cố công dẹp bỏ phiền não này, phiền não kia nữa, không còn phải tự bắt mình phải đoạn trừ phiền não này, phiền não nọ bằng phương pháp này, phương pháp kia nữa. Hãy bằng lòng với bất cứ phương pháp nào mà bạn cảm thấy thích hợp với mình. Thế là đủ!

Làm cho phiền não dần dần biến mất với phương pháp tôi vừa trình bày ở trên thì hay hơn là cứ phải cố thu xếp, sắp đặt mọi việc, phải nhập bốn tầng thiền chỉ, loại bỏ tầm, tứ, hỷ, lạc để chỉ còn lại nhất tâm và xả; hay hơn là phải cố sắp đặt để đạt tới được tầng giác ngộ đầu tiên bằng cách loại bỏ thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ; hoặc bằng cách xem xét các loại phiền não và tự nói với mình rằng: “với loại phiền não đó, tôi sẽ có thể quán chiếu như thế này, thế này để vượt qua nó. Tôi còn rất nhiều loại phiền não như thế, như thế trong mình, nếu có thể quán chiếu như vậy, các phiền não đó sẽ đoạn tận”.Nhưng bạn không hề nhận ra rằng chính cái tâm muốn thấy, muốn biết và muốn đạt được những điều đó lại là một loại phiền não đang gắn chặt trong tâm bạn đó. Khi không còn quán chiếu nữa, tâm bạn sẽ lại quay trở lại vị trí ban đầu và cũng chẳng đạt được cái gì cả. Tệ hơn nữa, nếu có ai đó nói điều gì ngược với kiến giải của bạn, ngược với tư kiến của bạn, bạn sẽ bắt đầu nổi sùng lên, như lửa đổ thêm dầu.   

Vì vậy, hãy bám chặt vào đề mục niệm Buddho của mình. Ngay cả khi bạn không đắc được cái gì đi nữa thì ít nhất bạn cũng phải lấy đề mục niệm đó làm nền tảng cho mình. Những thứ linh tinh thường chiếm giữ tâm bạn sẽ ngày càng bớt dần đi và thậm chí còn mất hẳn, điều đó còn tốt hơn là chẳng có một nền tảng nào cho mình bám víu vào cả.

Thực ra, tất cả mọi thiền sinh đều phải neo chắc vào đề mục niệm của mình. Chỉ khi đó họ mới có thể được coi là đang hành thiền với một nền tảng căn bản. Khi thiền của họ bị suy thoái, thì họ còn có thể sử dụng nó như một chỗ để bám víu, neo đậu vào.

Đức Phật dạy rằng những người đang cố gắng để đoạn trừ phiền não phải hành động như những chiến binh. Thời xưa, các chiến binh phải xây dựng những bức thành rất vững chắc với những bức tường dầy, với những hào nước bao quanh, với những cửa thành và tháp canh để chống đỡ lại những cuộc tấn công của quân địch. Khi một chiến binh ra chiến trường và thấy rằng quân mình không thể địch lại với quân thù, anh ta sẽ rút lui vào trong thành của mình và phòng thủ không cho quân địch phá thành. Đồng thời anh ta cũng chuẩn bị đầy đủ lực lượng, vũ khí và quân lương (củng cố định tâm vững chắc) rồi tiếp tục ra trận chiến đấu với quân thù (là các loại phiền não trong mình).

Định là một sức mạnh rất quan trọng. Nếu không có định, thì sự quán chiếu, phân biện của bạn sẽ lấy đâu ra sức mạnh đây? Sự quán chiếu của thiền tuệ quán không phải là thứ có thể chế tạo ra mà được. Mà thay vào đó, nó sanh khởi từ định tâm đã được làm chủ thuần thục cho đến khi trở thành vững chắc.

Ngay cả đối với những người được cho là đạt tới giác ngộ bằng thiền “khô tuệ” (tức bằng thiền tuệ quán Vipassana thuần túy, không qua con đường thiền chỉ), nếu không có chút định tĩnh nào trong tâm thì họ lấy đâu ra tuệ giác? Trường hợp đó chỉ đơn giản là định của họ chưa được làm chủ một cách hoàn toàn đầy đủ và thuần thục (như người hành thiền chỉ) mà thôi. Chỉ khi chúng ta hiểu theo cách này thì sự việc xem ra mới hợp lý.

Khi định của bạn đã vững chắc đến mức bạn có thể xuất nhập tùy ý, thì khi đó bạn sẽ có thể an trú trong nó trong thời gian dài và quán chiếu những phần thể trược của thân thể mình hay quán chiếu các thành tố vật lý của nó (tứ đại).  Hoặc nếu muốn, bạn có thể quán chiếu mọi người trên thế giới này cho đến khi thấy họ chỉ là những bộ xương mà thôi. Hoặc bạn có thể quán cả thế gian này chỉ là hư không…

Một khi tâm bạn đã hoàn toàn tập trung, thì dù khi bạn đang ngồi hay đi, hay đứng, hay nằm, tâm vẫn luôn luôn tập trung trong mọi lúc. Bạn sẽ có thể thấy rõ những phiền não trong mình – tham, sân, si, những thứ sanh khởi từ trong tâm – khởi lên do những nhân này, duyên kia như thế nào, cách nó duy trì theo cách thức này hay cách thức kia ra sao, và bạn sẽ có thể tìm ra được những phương cách để loại bỏ chúng bằng phương pháp này, phương pháp nọ.

Điều này cũng giống như nước trong hồ đã bị vẩn đục từ cả trăm năm nay, bỗng nhiên trong sạch trở lại và bạn có thể nhìn rõ được tất cả mọi thứ dưới đáy hồ - những thứ mà trước kia bạn chưa từng bao giờ nằm mơ thấy nó nữa. Chính điều này được gọi là tuệ giác – thấy tất cả mọi thứ như thực sự chúng đang là. Dù bất cứ thực tại nào chúng có, đó cũng chính là thực tại mà bạn đang thấy, thấy thực sự không hề bẻ cong, bóp méo.

Ép buộc tâm mình để trở nên tĩnh lặng cũng có thể loại bỏ được phiền não, song nó giống như một người cắt cỏ, chỉ cắt phần cỏ mọc trên mặt đất mà không đào tận gốc. Gốc rễ cỏ chắc chắn sẽ mọc trở lại khi mưa xuống. Nói cách khác, bạn thấy được sự nguy hại của những điều du nhập vào mình qua sáu giác quan, nhưng ngay khi vừa thấy nó, bạn đã vội rút lui vào sự tĩnh lặng mà không quán chiếu nó một cách cẩn thận như bạn đã làm khi tâm đang còn trong định. Tức là bạn chỉ muốn thụ hưởng sự vắng lặng trong tâm mà không muốn mất thời gian quán chiếu – giống như một con thằn lằn ru rú trong xó hang của mình để mong được an toàn. Khi vừa thấy kẻ thù tới là nó đã rụt ngay vào trong hang để chỉ trốn tránh nguy hiểm được một lúc nào đó mà thôi.

Nếu muốn nhổ tận gốc rễ phiền não, thì khi thấy phiền não sanh khởi lên từ sáu giác quan – chẳng hạn, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, thân xúc chạm khiến bạn khởi yêu ghét, thích thú hay chán ghét, và rồi sau đó chấp thủ, nắm giữ chúng, nó khiến tâm bạn u ám, động loạn, buồn đau và đôi khi còn đến mức làm bạn mất ăn, mất ngủ hay thậm chí còn tự tử vì chúng nữa – khi bạn thấy được nó một cách rõ ràng, hãy làm cho tâm định của mình vững chắc và rồi chú tâm hoàn toàn để quán chiếu, xem xét nó. Chẳng hạn, khi mắt thấy hình ảnh đẹp làm cho bạn cảm thấy thích thú, hãy tập trung quán chiếu chính cảm giác thích thú đó, để tìm ra xem nó sanh khởi từ mắt hay từ hình sắc bên ngoài.

Nếu xem xét hình sắc bên ngoài, bạn sẽ thấy nó chỉ là một hiện tượng vật lý mà thôi. Dù nó là tốt hay xấu thì nó cũng không cố thuyết phục bạn phải thích thú hay chán ghét, phải yêu hay ghét nó. Nó chỉ đơn giản là một hình sắc xuất hiện rồi biến mất theo đúng bản chất tự nhiên của nó.

Khi bạn quay sang quán chiếu cái mắt thấy cảnh sắc đó, bạn sẽ thấy rằng mắt bạn đi tìm kiếm các đối tượng và ngay khi vừa tìm được một đối tượng nào đó, ánh sáng sẽ được phản chiếu lên các tế bào thần kinh thị giác và làm cho các hình sắc được xuất hiện. Mắt không cố thuyết phục bạn phải thích thú hay chán ghét, phải yêu hay ghét bất cứ thứ gì. Chức năng của nó chỉ đơn giản là nhìn mà thôi. Một khi nó đã thấy được hình sắc nào đó, thì hình sắc đó rồi cũng biến mất.

Đối với các giác quan khác cùng các đối tượng tương ứng của chúng, dù là đối tượng hấp dẫn hay không, cũng đều phải được xem xét theo cùng một cách như vậy.

Khi bạn quán chiếu theo cách này, bạn sẽ thấy một cách rõ ràng rằng tất cả mọi thứ trên thế gian này trở thành đối tượng của phiền não là do bởi sáu giác quan này. Nếu bạn quán chiếu sáu giác quan này để không bị lôi theo chúng, thì khi đó các phiền não không thể sanh khởi trong bạn được nữa. Thay vào đó, tuệ giác và sự phân biện sẽ sanh khởi, tất cả cũng chính từ sáu giác quan này.Sáu giác quan là nguồn cội của thiện, ác. Chúng ta có được một kiếp sống tương lai hạnh phúc hay đau khổ là phụ thuộc vào cách chúng ta sử dụng sáu giác quan này.

Thế gian này dường như quá rộng lớn là bởi do tâm chúng ta không được định tĩnh, nó buông thả tự do, lang thang với các đối tượng của sáu giác quan. Thế gian sẽ thu hẹp lại khi tâm đã được huấn luyện trong định, để nó nằm dưới sự kiểm soát của bạn và có thể quán chiếu sáu giác quan hoàn toàn trong chính nó. Nói cách khác, khi tâm đã hoàn toàn tập trung, các giác quan bên ngoài – mắt thấy sắc, tai nghe tiếng…- sẽ không còn xuất hiện nữa. Tất cả những gì xuất hiện khi đó chỉ là những hình sắc và âm thanh, là những hiện tượng tâm linh chỉ hiện hữu ở trong định. Bạn sẽ không còn chú ý tới bất cứ thứ gì ở bên ngoài nữa.

Khi sự chú tâm của bạn đã hoàn toàn vững chắc, bạn sẽ có thể quán chiếu thế giới của tâm, chính nó đã làm sanh khởi lên mọi xúc chạm giác quan, tưởng, hành và tất cả các phiền não. Tâm bạn sẽ rút lui khỏi tất cả mọi thứ, chỉ còn lại mỗi chân tâm, mỗi sự hay biết thuần túy mà thôi.

Tâm trí và chân tâm có đặc tính khác nhau. Tâm trí là cái suy nghĩ, tạo tác tưởng và hành đến mức dính mắc và chấp thủ chúng là chính mình. Khi nó đã thấy được đau khổ, sự nguy hiểm và tai hại đến từ việc chấp thủ vào các loại phiền não, nó sẽ rút lui ra khỏi tất cả những phiền não đó. Khi đó tâm trí sẽ là chân tâm. Đây chính là điều khác biệt giữa tâm trí và chân tâm.

Chân tâm là cái trung lập và tĩnh lặng. Nó không hề suy nghĩ. Nó chỉ đơn giản hay biết về sự tĩnh lặng của mình. Chân tâm chính là cái trung tâm, cái trung lập đích thực. Trung lập với tất cả, không quá khứ, chẳng tương lai, không tốt, chẳng xấu: đó chính là chân tâm. Khi chúng ta nói về tâm điểm của mọi thứ, chúng ta muốn nói rằng nó là trung tâm. Ngay cả tâm của con người, đó là một thứ thuộc về phần tâm linh, mà chúng ta cũng nói là nó nằm ngay giữa lồng ngực. Nhưng chân tâm thực sự nằm ở đâu, chúng ta không hề biết. Hãy thử chú tâm vào bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể mà xem, bạn sẽ cảm thấy có sự hay biết ở điểm đó. Hay nếu bạn chú tâm ra bên ngoài cơ thể - chú ý vào một điểm mốc hay ngôi tường của một ngôi nhà chẳng hạn – thì đó cũng chính là điểm mà bạn hay biết.

Do đó chúng ta có thể nói rằng, chân tâm đích thực chính là sự hay biết tĩnh lặng và trung lập. Nơi nào có sự chánh niệm trung lập, thì nơi đó có chân tâm.

Khi mọi người nói về trái tim  một cách chung chung, đó không phải là chân tâm. Nó chỉ đơn giản là một hệ thống cơ bắp và van tim để bơm máu đi nuôi cơ thể mà thôi. Nếu nó không bơm máu đi khắp cơ thể như vậy thì bạn đã không thể sống được. Não bộ cũng như thế. Tâm chúng ta nghĩ đến thiện và ác, sử dụng não như một công cụ mà thôi. Hệ thống thần kinh trong não bộ chỉ là một cơ quan vật lý. Khi những nhân duyên, điều kiện khiến chúng tồn tại bị cắt ngang, thì cơ quan vật lý này cũng không thể tồn tại. Nó phải ngừng hoạt động.

Nhưng đối với tâm, một phần thuộc tâm linh, Đạo Phật dạy rằng nó sẽ vẫn còn tiếp tục tồn tại và có thể tiếp tục sanh lại nữa. Phần tâm linh này chỉ ngừng lại khi tuệ giác phân biện các nguyên nhân khiến chúng sanh lên và nhổ rễ hoàn toàn những nguyên nhân ẩn tàng đó.

Không có ngành khoa học nào trên thế giới này đạt tới điểm tận cùng cả. Bạn càng nghiên cứu, chúng lại càng mở rộng ra thêm. Chỉ có Đạo Phật mới có thể dạy bạn đạt tới điểm chấm dứt cuối cùng đó. Trong giai đoạn đầu tiên, Đạo Phật dạy chúng ta hãy tìm  hiểu về cơ thể mình, để thấy nó được cấu tạo thành từ 32 thể trược như thế nào và chức năng của chúng ra sao. Đồng thời, Đạo Phật cũng dạy chúng ta thấy ra rằng thân này rõ ràng chẳng có gì đáng ham thích. Đạo Phật dạy chúng ta hiểu biết thế giới này (thế giới loài người này), được tạo nên từ đau khổ mà cuối cùng cũng phải tan hoại theo đúng bản chất tự nhiên của nó.

Giờ đây, chúng ta đã nhận thức được cái thân này – mặc dù nó đầy bất tịnh và đáng nhờm gớm, và mặc dù nó được tạo nên bởi đủ loại khổ đau – nhưng chúng ta vẫn có thể nương tựa vào nó để sống trong một lúc nào đó, vì vậy chúng ta cần phải tận dụng nó để làm những việc tốt đẹp, để trả món nợ đời trước khi rời bỏ nó khi cái chết đến bên mình.

Đức Phật dạy rằng mặc dù bản chất tự nhiên của con người (và cả thế giới này) là phải tan hoại và chết, song cái tâm của họ vẫn cứ phải quay trở lại tái sinh chừng nào nó vẫn còn phiền não. Do đó, Ngài đã dạy chúng ta thực hành thiền định, đó là một công việc hoàn toàn thuộc về tâm. Một khi đã thực hành thiền định, chúng ta sẽ cảm nhận được tất cả mọi cảm giác xúc chạm bên trong, ở ngay trong tâm chúng ta. Chúng ta sẽ không còn phải quan tâm đến cái nhìn, cái nghe ở mắt hay ở tai nữa. Mà thay vào đó, chúng ta sẽ cảm nhận được sự xúc chạm đó ngay chính trong tâm mình. Đây chính là ý nghĩa của việc thu hẹp thế gian quanh mình.

Các giác quan là công cụ tốt nhất để đo lường cái tâm của mình. Khi một sự xúc chạm giác quan nào đó đến với tâm ta, liệu nó có tác động đến bạn hay không? Nếu nó có rất nhiều tác động, điều đó cho thấy chánh niệm của bạn còn rất yếu và nền tảng của bạn vẫn còn dễ bị lung lay. Nếu nó chỉ tác động rất ít, hay không hề tác động gì đến bạn cả, thì điều đó cho thấy chánh niệm của bạn mạnh và bạn đã hoàn toàn có thể tự chăm lo đến cho bản thân mình được rồi.

Đề-bà-đạt-đa, con người đã tạo ra bao nhiêu là rắc rối cho Đức Bồ Tát trong suốt con đường tu của ngài, nếu không có ông ta, ắt là Đức Bồ Tát đã không thể hoàn thiện được đầy đủ các Balamật của mình đến viên mãn. Chỉ khi Ngài đã hoàn thành đầy đủ, viên mãn các Balamật đó thì mới có thể đạt tới giác ngộ và trở thành Phật. Trước khi giác ngộ, Ngài đã phải chống lại cả một binh đoàn cám dỗ to lớn, và ngay sau khi Ngài giác ngộ, ba con gái của Ma vương vẫn còn tiếp tục đến cám dỗ Ngài thêm một lần nữa. Từ thời khắc chiến thắng huy hoàng đó, tất cả mọi con người trên thế gian này đã ca ngợi, tán thán ngài, người đã vượt qua được tất cả mọi phiền não trên thế gian, một lần và mãi mãi.

Chừng nào các giác quan bên trong vẫn còn hiện hữu, chừng đó sự xúc chạm trong tâm vẫn còn chiếm giữ tâm trí chúng ta. Vì thế, những con người thiện trí, thấy ra sự nguy hiểm và tai hại của những điều này, đã sẵn sàng từ bỏ chúng, chỉ để lại một chân tâm trung lập … không thiên vị…, không suy nghĩ, không tưởng tượng, không phóng chiếu về bất cứ thứ gì. Nếu làm được như thế thì thế gian này còn tạo thành được ở nơi đâu nữa? Đây chính là cách Đức Phật dạy chúng ta để đạt tới nơi mà thế gian này chấm dứt.

Rừng thiền Viên Không,
tháng 12/2006

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

5. Chú GiảiThuật Ngữ Phật Học.

18/06/20144:11 CH(Xem: 2539)
5. Chú Giải: Thuật Ngữ Phật Học.
CON ĐƯỜNG THÀNH TỰU A LA HÁN QUẢ
ARAHATTAMAGGA ARAHATTAPHALA
Tổng hợp các bài pháp thoại của Hòa ThượngÃcariya Mahã Boowa 
về hành trình tu tập của ngài

5. CHÚ GIẢITHUẬT NGỮ PHẬT HỌC.

Chú Giải II.
Ãcariya: Bậc thầy, người hướng dẫn, cũng sử dụng cho định nghĩa tôn kính khi ám chỉ một bậctrưởng lão. Khi viết hoa thì đó là một danh hiệudành cho một vị thầy bởi đệ tử của họ, như Ãcariya Mun và Ãcariya Mahã Boowa.
akãliko: Phi thời gian, không bị điều kiện hoá bởithời gian hoặc thời tiết, toàn triệt siêu vượt thời gian và không gian. Akãliko là ngữ tính của Pháp (Dhamma).
Anãgãmï: Bất Lai. Bậc A Na Hàm là người đã đoạn tận năm kiết sử thấp hơn đã ràng buộc tâm trí trong vòng quay của sanh tử luân hồi và bậc sau khi chết sẽ sinh ra trong cõi trời Sắc Cứu Kính và trong một thời gian không nhất định, sẽ chứng Niết Bàn tại đây, không bao giờ còn trở về thế giới này nữa. 
anattã: Vô ngãSự thật mà tất cả mọi hiện tượng rỗng không tất cả các pháp có thể đồng hóa như một cái “ngã”. Điều này có nghĩa là không có tập hợp các đặc tính của thân hoặc tâm (Ngũ uẩn) hợp thành một thực thể, một là cá nhân hoặc là tập thể, hoặc một thực thểcủa bản ngã có thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào qua tâm (citta). Do đó, cái được kinh nghiệm như là một bản ngã bất biến không gì hơn là một cá thể ảo tưởng khởi sinh ra từ vô minh và ảo tưởng… tạm bợ, thiếu vững chắc, và bị ràng buộc với đau khổ
anicca: Bản chất tạm bợ, không vững chắcvô thường của tất cả mọi hiện tượng trong tất cả mọi cảnh giới của sự sống. Nói theo một cách khác, tất cả các pháp sinh lên rồi diệt đi, chắc chắn phải thay đổi, và sẽ trở thành, khiến tất cả trở nên bất thỏa nguyện vàchắc chắn là gây đau khổ.
Arahant: Bậc đã “hoàn toàn giải thoát” hoặc bậc “thanh tịnh”. Người hành trình trên lộ trìnhThánh Đạo đến Sự Giải thoát, đã hoàn toàn đoạn trừ tất cả mọi lậu hoặc và do đó chắc chắn là tất cả mọi dấu vết vô minh và ảo tưởng đã được hủy diệt, không bao giờ còn sanh khởi trong tâm trí của ngài trong tương lai nữa. Hoàn toàn dứt bặt tất cả mọi kiết sử đã từng ràng buộc ngài với sự lặp đi lặp lại của vòng quay sanh tử luân hồi. Ngài không còn phải tái sinh vào bất kỳ kiếp sống nào nữa. Do đó, bậc Thánh A La Hán là một cá thể đã đạt Niết Bàn, và mặc dù mọi tập hợp cá thể (Ngũ uẩn) vẫn còn cho đến khi ngài tịch diệt, tâm của ngài… giải thoát tất cả mọi yếu tố của lậu hoặc bất kỳ là gì… tuyệt đối thanh tịnh. Khi chết, thân và tâm tan rã, lìa bỏ chỉ bản tâm vô ước địnhtuyệt đối thanh tịnh… hoàn toàn siêu vượt trên mọi mô tả có tính cách quy ước
avijjã: Nền tảng vô minh. Sự vô minh này là yếu tố chính trong ảo tưởng về chân tánh của ta và do đó, là yếu tố cốt lõi ràng buộc tất cả mọi chúng sinh trong vòng quay tái sinhVô minh hoàn toàn hiện hữu trong tâm (người biết). Là một phần khía cạnh chính ý thức củatâm từ thời vô thủy. Nó lấn chiếm “tánh thấy biết” của tâm và bóp méo thực chất của sựđơn thuần “thấy biết” bằng cách tạo ra nhị nguyên huyễn giả của “người biết” và “cái biết”. Từ quan điểm của một cá thể nẩy sinh đúng sai, thiện ác, trời và địa ngục, và toàn bộ khốiđau khổ bao hàm cả thế giới Ta Bà. Do vậy, vô minh là hạt giống sinh và tử, chính hạt nhân của tất cả mọi sự sống. Nó cũng là suối nguồn của tất cả mọi lậu hoặc tâm lý khởi sinh.
Thay vì xem ra tối tăm và đe dọavô minh là đỉnh cao của tất cả mọi đức hạnh tinh thầnvà tâm linh mà tất cả mọi chúng sinh nắm giữ trong kính mến tột bực nhất. Một sự quyến rũ lý thú của nó. Lý do mà tại sao tất cả mọi chúng sinh không thể thấy nó như thực tại nó đang là… Chủ nhân ông và là chúa tể của sinh và tử. Hiển lộ trước hết như là sự tối thượng trong đức hạnh và an lạc, trú xứ vĩnh viễn chân chánh của tâm, khi tuệ giác cuối cùng soi thấu gốc rễ của nó và phơi bày sự dối trá nền tảng của nó, Vô minh lập tức tan rã, hiển lộ bản tâm thuần tịnh vô nhiễm của tâm, Hỷ lạc Vô thượng chân chánh, Niết Bàn.
bhikkhu: Tu sĩ Phật Giáo, một thành viên nam giới trong tăng đoàn Phật Giáo người đã từ bỏ, sống đời sống vô gia cư, và tiếp nhận giới thọ cao hơn. Trong các quốc gia trường phái Nguyên thủy, các tỳ khưu hình thành trung tâm đoàn thể Phật GiáoHoàn toàn sống nhờ thực phẩm cúng dường và những nhu cầu căn bản khác. Đời sống tu sĩ dựa trêncác nguyên lý nghèo khótịnh thânphạm hạnh và thiền.
bodhi: Bồ đềTỉnh thứcGiác ngộTrí tuệ thù thắngBồ đề ngang bằng với trí tuệ viên mãn thể nhập trong Tứ Thánh Đế và chứng ngộ Niết Bànchấm dứt tất cả mọi đau khổ.
brahma (brahmã): Phạm thiên, trú xứ ba cõi trời sắc giới. Được tái sinh vào ba cõi giới thanh tịnh do nhập vào được các trạng thái thiền định. Kết quả là các bậc Phạm thiên này có được thân tướng cực kỳ thanh nhẹ tỏa ra ánh sáng thanh tịnh và kinh nghiệm mức độhỷ lạc vô biên. Khi thiện nghiệp được tái sinh đến các cảnh giới này cuối cùng cạn kiệt thì các Phạm thiên này sẽ chết đi và tái sinh ở những nơi khác, trong cảnh giới sự sốngthích hợp với nghiệp còn lại của họ.
Buddhasãsana: Giáo pháp của Đức Phật, nói chung là tổng quan Phật Giáo (Xem Sanana).
buddho: Giác ngộ Vô thượngTruyền thống Phật hiệu dành cho Đức Phật. buddhol làthuật ngữ dự bị cho thiền (parikamma), được lặp đi lặp lại nhiều lần trong tâm tưởng nhớ đến những phẩm chất cao quí đặc biệt của Đức Phật. Theo nghĩa đơn giản nhất, ta đặt sự chú ý đặc biệt trên sự lặp đi lặp lại “buddho), không ngừng tư duy đến thuật ngữ“buddho” khi hành thiền. Ta nên đơn giản ý thức mỗi từ lặp đi lặp lại “buddho, buddho, buddho” và loại trừ tất cả mọi thứ khác. Một khi nó trở nên liên tục, sự lặp đi lặp lại đơn thuần này sẽ đưa đến kết quả an lạc và tĩnh lặng trong tâm trí.
citta: Là cốt lõi của bản tánh thấy biết của tâm, phẩm chất nền tảng thấy biết tìm ẩn trong tất cả mọi chúng sinh. Khi liên kết với thân vật lý, nó được xem như là là “tâm trí” hoặc “trái tim”. Bị ô nhiễm bởi lậu hoặc ảnh hưởng bởi nền tảng vô minh (avijjã), “dòng chảy” đang hiện hành của nó biến hiện như là thọ (vedanã), tưởng (saññã), hành (sankhãra), và trước (viññãõa), do đó, lôi kéo tâm trong mạng lưới tự dối trá. Nó bị dối gạt về thực tánh của nó. Thực tánh của tâm đơn thuần “thấy biết”. Không chủ thể, không đối tượng, bất nhị, nó đơn thuần hay biết. Tâm không sinh không diệt. Không khởi lên rồi biến mất.
Thông thường, “tánh thấy biết” của tâm là phi thời gian, vô lượng vô biên và chiếu rọi rực rỡ, nhưng thực tánh của tâm bị che mờ bởi lậu hoặc (kilesa) trong nó. Tương quan quyền năng của nền tảng vô minh, điểm tập trung của “người biết” được tạo ra từ cái mà tánh thấy biết này nhận xét thế giới bên ngoài. Sự thiết lập của một trung tâm giả tạo tạo nên một “bản ngã” qua toàn bộ quang cảnh ý thức chảy ra ngoài để tri nhận nhị nguyên của “người biết” và “cái biết”. Do đó, tâm trở nên bị dính mắc với sinh, lão, bệnh, tử và sau đó, bị chìm đắm triền miên trong đau khổ
Trong tác phẩm này, tâm thường được ám chỉ như là trái tim; cả hai đồng nghĩa. Trái tim hình thành cốt lõi trong thân. Nó là trung tâmthực chất, yếu tính chính yếu trong thân. Nó là nền tảng căn bảnNhân duyên sanh khởi từ tâmthí dụ như vọng niệm, khởi lên ở đó.Thiện áchạnh phúc và đau khổ tất cả đều đồng phát xuất từ trái tim.
Thiền định chứng thực sự trọng đại của trái tim. Khi tâm tích tập tất cả mọi dòng chảy bên ngoài đang hiện hành vào một điểm, trạng thái tịch lặng định tĩnh của định phát khởi. Từquan điểm của thiền nhânkinh nghiệm nằm ở giữa ngực. Tánh thấy biết của tâm rõ rệt ngay ở đó. Do đó, tọa vị thật sự của ý thức là ngay trái tim, và tốt nhất là không nên xem “tâm trí” như là bộ não nằm trong đầu.
Có xu hướng mạnh mẽ cho rằng ý thức là kết quả trần thế qua sự tác động phức tạptrong bộ não con người, và khi bộ não chết đi, ý thức dứt bặt. Quan điểm máy móc nàyhoàn toàn sơ lược. Trong khi có chứng cứ cho là có những phần nào đó của bộ não được xem như một số hoạt động tinh thần nào đó, nhưng hiện tượng đó không có nghĩa là bộ não sản sinh ra ý thức. Cốt yếu, bộ não là một cơ quan phức tạp. Nó nhận và xử lý những dữ kiện phản ứng được đưa vào và thông tin về thọ, tưởng, hành , thức, nhưng nó không tạo ra những chức năng tinh thần này, hoặc nó không tạo nên ý thức hay biết. Điều đó hoàn toàn là phạm vi của tâm.
‘converge’: Khi tâm tích tập tất cả mọi dòng chảy bên ngoài vào một điểm, kinh nghiệmnày được biết như là tâm đang “đồng quy”. Tu tập thiền định là một phương pháp tập trung tất cả mọi dòng chảy khác nhau vào một điểm tập trung, do đó, tập trung vào mộttrạng thái hoàn toàn an lạc và định tĩnh.
Dhamma (skt. Dharma): Chân lý Vô thượng, các nguyên lý căn bản của Chân lý, phẩm chất tâm linh siêu việtGiáo pháp của Đức PhậtTrước tiên và tột bực nhất, pháp là bản chất tinh hoa của sự hài hoà toàn triệt trong và của tự thân nó, độc lập với tất cả mọi hiện tượng, tuy vậy tỏa khắp mọi mặt của tất cả mọi chúng sinhPhi pháp là trật tự hoàn hảocủa sự vật hình thành nền tảng tìm cho ẩn cho tất cả mọi sự sống, mặc dù nó không lệ thuộc hoặc bị lệ thuộc bởi bất kỳ hình tướng của sự sống nào. Tối hậu, Pháp tổng hợp tất cả mọi phẩm chất siêu việ, như không dính mắc, lòng bi mẫn yêu thương và trí tuệtâm linh toàn thiện mang tâm trí hài hoà tự nhiên với Chân lý Vô thượng. Thêm ra, Pháp bao trùm mọi căn bản nguyên lý vốn là cốt lõi Giáo pháp của Đức Phậtbao gồm những cốt cách hành vi nên được tu tập để hòa hợp với chính mình với trật tự tự nhiên của một sự vật. 
dukkha: Khổ, đau đớn, bất thỏa nguyệnbản chất không hài lòng của tất cả mọi hiện tượng. Khổ là duyeen của sự bất thỏa nguyện nền tảng rõ rệt trong chính bản chất của tất cả mọi chúng sinh. Chủ yếu nó là ý thức bất thỏa nguyện tìm ẩn tối hậu đục khoét thậm chí cả những kinh nghiệm khoái lạc nhất, bởi vì tất cả mọi sự vật trong thế giới hiện tượngphải thay đổi và do đó không xác thực. Vì vậy, tất cả mọi sự sống trong thế giới Ta Bàđược đặc tính hóa như là đau khổ.
kãmarãga: Ái dụcdục vọngDựa trên niềm tin rằng thân là ta và hạnh phúc đứng sau lưng có thể thành tựu cho bản thân ta thông qua các giác quan của thân. Kãmarãga làham muốn, thậm chí khát vọng, theo đuổi khoái lạc và sự hài lòng qua cứu cánh của thânvật lý. Với sự ô nhiễm tinh thần như là động lực lôi kéo, con người nỗ lực vượt qua sự bấtthỏa nguyện đó và tìm kiếm đáp ứng qua sự kích thích vật chất như là những cứu cánhchính yếu. Nếu sự ham muốn như vậy được cho phép nắm dây cương, nó dễ dàng trở thành một sự bận tâm thậm chí khiến ham muốn càng khởi lên, khiến tâm mãi mãi đói khát và bất thỏa nguyện.
kamma (skt. karma): Tạo tác qua thân khẩu ý đưa đến nghiệp tái sinh. Những tạo tác này chuyển tải nội dung đức hạnh cá biệt… thiện, ác, hoặc trung tính…và ý thức hằng mãi tiếp diễn đem đến hậu quả nguy hại theo quả trong tương lai. Phật Giáo cho rằng tất cả mọichúng sinh chưa giác ngộ chắc chắn phải bị ràng buộc trong sinh, lão, bệnh, tử và tái sinhlần nữa và lần nữa trong mọi tình huống và cảnh giới khác nhau. Vòng quanh bất tận của sự sống bị lôi kéo bởi bản chất nghiệp của họ và sự biến hiện không thể tránh được của mọi hậu quả của nó. 
khandha: Ngũ uẩn. Theo nghĩa đen, một “nhóm” or “tổng hợp”. Qua số nhiều, khandhasám chỉ đến năm tập hợp tinh thần của một cá thể, “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” và kinh nghiệm giác quan tổng hợp như (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân ý). Cũng được biết như là “những nhóm dính mắc” bởi vì chúng là đối tượng ham muốn trong sự sống con người. Trên thực tế, chúng đơn thuần là những phân loại của hiện tượng tự nhiên không ngừngsanh khởi và diệt đi và rỗng không với bất kỳ một bản ngã thực thể vĩnh viễn).
kilesa: Ô nhiễm tinh thầnLậu hoặc là lực phủ định và khẳng định ở phần tâm lý và cảm xúc hiện hữu trong trái tim và tâm trong tất cả mọi chúng sinh. Các lậu hoặc này có ba loại căn bản” tham, sân và si.” Ba loại này là sự thoái hóa làm ô nhiễm chính mọi ngườisuy nghĩ, nói năng, hành động và do đó, khiến làm bại hoại từ trong chính ý định và mục tiêu của sự sống của họ, ràng buộc họ (thông qua các hậu quả không thể tránh được bởi hành động của họ) mãi mãi bịt chặt họ với vòng quay bất tận của sự tái sinh. Sự biến hiện của chúng là vô số và khác nhau. chúng bao gồm đam mêđố kỵganh ghétkiêu mạn, tự hào, keo kiệtsân hậnhận thùvân vân và vân vân, với tất cả đủ mọi lậu hoặc vi tế hơn sản sinh ra các trạng thái bất thiện và nguy hại của tâm trí phải chịu trách nhiệm sự đau khổ vô tận của con người. Những lậu hoặc khác nhau này lôi kéo các trạng thái tinh thầntương tác lẫn nhau và tổng hợp chúng để tạo ra khuôn mẫu hành vi khiến con người vĩnh viễn phải chìm đắm trong đau khổ và khiến tất cả mọi sự bất ổn bất định của thế giansanh khởi
magga, phala, and Nibbãna: Thánh ĐạoThánh Quả và Niết Bàn. Được sử dụng bởi Bậc thầy Ãcariya Mahã Boowa. Diễn đạt Thánh ĐạoThánh Quả và Niết Bàn ám chỉ đếnbản chất siêu việt của lộ trình tu tập của Phật Giáo và mục tiêu chủ yếu của nó hướng dẫn ta , qua từng giai đoạn và giai đoạn, thông qua các trình độ giải thoát tiếp theo cho đến khicuối cùng ta đạt đến sự Giải thoát tối thượng của Niết Bàn.
mindfulness (sati): Chú ý. Khả năng tập trung sự chú ý trên bất kỳ đối tượng nào mà ta chọn lựa quán xét. Trong tất cả mọi pháp thiền, điều này có nghĩa là sự chú ý liên tục tập trung trực tiếp trên một đối tượng thiền đã được chọn hoặc trên một tiến trình khai mở của hiện tượng đang xảy ra đó là chủ thể khảo sát. Chánh niệm là một chức năng cốt yếu cho tất cả mọi pháp hành. Thiếu nó, tâm sẽ chao đảo và thất bại không thể nào tránh được để thành tựu đến các mục tiêu của nó.
nãma: Danh. Hiện tượng tinh thần. Nãma ám chỉ đến nhóm tập hợp của một cá thể, (nãmakhandha) bao gồm thọ, tưởng, hành và thức. 
Nibbãna (skt. Nirvana): Theo nghĩa đen có nghĩa là “dứt bặt”. Niết Bàn được so sánh vớingọn đèn hoặc lửa được dặp tắt. Ba ngọn lửa tham sân si bị dặp tắt trong tâm do thiếu dầu. Sự dặp tắt của ngọn lửa này giải thoát tâm trí từ tất cả mọi thứ ràng buộc nó với vòng quay tái sinh và sự đau khổ đang kinh nghiệm trong nó. Niết Bàn là sự Giải thoátTuyệt đốiHỷ Lạc Tối Thượng. Nó là mục tiêu tu tập tối hậu của Phật Giáo. Nó được cho là Vô sanh, Vô Tử, Phi điều kiện, nhưng hoàn toàn không còn bị dính mắc với tất cả mọi dấu vết của thực tại quy ước, một sự mô tả của cái gọi là Niết Bàn, hoặc hoàn toàn siêu vượt phạm trù của ngôn ngữ quy ước.
Pãli: Phạn ngữ cổ. Pãli là ngôn ngữ vào thời đại sớm nhất của Phật Giáo và là ngôn ngữđược dùng trong các tạng kinh Phật Giáo được bảo tòan. Đa số thuật ngữ đều được in chữ nghiêng trong tác phẩm này đều là Phạn ngữ.
rýpa: Sắc, và tổng quát hiện tượng về thân. Khi đối lập với Danh (nãma) hiện tượng tâm lý. Rupa là phần tổng hợp sắc của một cá thể.
sãdhu: “Lành thay.” Thường được dùng trong giới Phật tử, sãdhu là lời tán thán biểu hiện cho sự tri ânchấp nhận hoặc tán thành.
samãdhi: Định. Trạng thái tập trung và định tĩnh. Định được kinh nghiệm bởi những pháp thiền khác nhau mục đích để giúp cho cảm xúc dữ dội và mọi phóng dật của tâm lắng xuống bằng cách bám chặt trên một đối tượng chú ý và nhiệt tâm nắm giữ nó cho đến khitâm trí trở nên hoàn toàn thể nhập vào điểm đó và loại trừ tất cả mọi thứ khác, và do vậyhoàn toàn hợp nhất trong một trạng thái đơn thuần, thống nhất của sự tỉnh thức. Bằng cách tập trung sự chú ý của trên trên chỉ một đối tượng, dòng chảy vọng niệm tán loạnnày hiện khởi trong phạm vi giác quan dần dần tụ lại thành điểm tập trung bên trong thành một trạng thái bất động, định tĩnh gọi là samãdhi. Kinh nghiệm này không có nghĩa là tâm trí đang nỗ lực tập trung trên một điểm (Một sự chú tâm bên ngoài), nhưng thay vì vậy cần mẫn theo đuổi phương pháp với sự chú ý nhiệt tâm, tự nhiên rằng tâm trí, theo sự hài hoà của nó, đồng quy vào trạng thái hợp nhất của sự tỉnh thức. Kết quả kinh nghiệm là cảm giác một bản thể thuần khiết và hài hoà kỳ diệu đến bất khả tư nghì. Khi xuất khỏi trạng thái định, sự chú tâm định tĩnh tập trung này sau đó phục vụ như là nền tảng cho sự thành tựu theo đuổi các phương pháp khảo sát để phát triển tuệ giác và gặt hái tuệ kiến vào bản chất chân thật của tất cả mọi hiện tượng.
saÿsãra: Vòng quay tái sinh vô thủy khi mà tất cả mọi chúng sinh bị quay cuồng. Saÿsãra là một thuật ngữ dành cho tiến trình bất tận của bản thể sinh ra, bị bệnh, già đi, và chết… một tiến trình nối tiếp không ngừng nghỉ của sinh, lão, bệnh, tử và tái sinh. Nó bao trùm toàn cả vũ trụ pháp giới của mọi sự sống, từ bản thể vi tế nhất đến thanh nhẹ nhất, từcảnh giới cao nhất của cảnh trời vô sắc giới cho đến cảnh giới thấp nhất của địa ngục. Tất cả mọi sự sống trong vòng quay này hằng thay đổi, thiếuvững chắc, đấy dẫy đau khổvà buồn đau, với mỗi trạng thái của sự sống được quyết định bởi hành nghiệp của thân, khẩu và ý (kamma). Chứng Niết Bàn đánh dấu sự chuyển hoá siêu vượt trên thế giới Ta Bà.
Sangha: Tăng đoàn. Đoàn thể đệ tử của Đức Phật. Theo quy ước thông thường, điều này có nghĩa là giới luật tu trì. Trên lãnh vực lý tưởng, nó ám chỉ đến đệ tử của Đức Phật, dù là Phật tử hoặc tăng chúng, bậc đã đạt đến ít nhất là một trong bốn Thánh Đạo trên lộ trình A La Hán Quả
sankhãra: Hành,. Theo định nghĩa thông thường, sankhãra ám chỉ đến tất cả mọi động lực hình thành hoặc điều kiện hoá mọi vật trong thế giới hiện tượng của tâm trí và vật chất, và với hiện tượng đã hình thành hoặc điều kiện hoá đưa đến kết quả đó. Bốn tập hợp cá thể (sankhãra khandha) ngụ ý tư duy và sự tưởng tượng. Vọng niệm liên tục luân chuyển trong tâm trí và nhận thức hóa thành nhận thức của một cá thể. Sankhãra tạo ra các ý tưởng đó sau đó gởi chúng đến tưởng uẩn, lý giải và trau chuốt chúng, giả định về ý nghĩa của chúng. 
saññã: Tưởng, nhận thức của hiện tượng tâm và thân khi chúng phát khởi. Là tập hợp thứ ba của một cá thểTưởng uẩn liên kết với chức năng ký ức; thí dụnhận thứcliên kết, và dịch giải. Saññã nhận thức cả có biết và ban ý nghĩa và sự quan trọng của chúng đến tất cả mọi nhận thức cá nhân của một người. Thông qua sự nhớ lại kinh nghiệm quá khứchức năng của ký ức ban cho sự vật những ý nghĩa đặc biệt và sau đó rơi vào lý giải riêng của chúng, khiến ta trở nên vui hoặc buồn về cái mà ta nhận thức
sãsana: Lời dạy của Đức Phật, và khai triển ra, Phật Giáo tổng quát. Lộ trình tâm linh củaPhật tử chắc hẵn là đa bình diện nơi mà tất cả mọi thiện pháp được tu tập, từ hành vi bố thí cho đến thiền chuyển hoá, là các khía cạnh cốt yếu của con đường dẫn đến mục tiêutối hậuchấm dứt tất cả mọi đau khổThuật ngữ sãsana thông thường ám chỉ tổng hợp lời dạy của Đức Phật, sự tu tập của nó, và sự chứng ngộ của nó.
sãvaka: Đệ tử trực tiếp của Đức Phật, người nghe giáo pháp của Đức Phật và tuyên bốngài là bậc thầy của họ. 
Đại Chánh niệm và Đại Trí tuệ: Chánh niệm (sati) là chức năng chú ý một cách sắc bén với bất cứ hiện tượng gì sanh khởi trong lãnh vực hay biết. Tuệ giác (paññã) là chức năng tuệ kiến xem xét, khảo sát và phân tích bản chất của mọi hiện tượng khi chánh niệmtrở nên ý thức chúng. Đại Chánh niệm và Đại Trí tuệ là hai chức năng phát triển đến trình độ lão luyện tinh thông đặc tính hóa bởi sự cảnh giác cao độ, nhanh nhẹn và ling động, kết hợp với các quyền năng sắc bén của lý tríLiên tục làm việc một cách hợp nhất, không một khoảnh khắc thất niệm, Đại Chánh niệm và Đại Trí tuệ được cho là có khả năng tự động theo dõi và xuyên suốt sự thật của tất cả mọi hiện tượng khi chúng khởi lên và diệt đi. Bởi vì chỉ là hai chức năng duy nhất có khả năng khảo sát các lậu hoặc vi tế hơn ở giai đoạn cao nhất của Thánh Đạo (arahattamagga), sự phát triển của chúng là điều kiện tiên quyết để đạt đến trình độ tu tập này và do đó thành tựu đến mục tiêu tối hậuNiết Bàn.
Theravãda: “Thượng tọa bộ”. Được trao truyền đến chúng ta qua Phạn ngữ. Nó là hình thức giáo huấn cổ xưa nhất của Đức Phật. Theravãda (Nguyên Thủy) là một trong tông phái sớm nhất của Phật Giáo vẫn còn tồn tại đến bây giờ. Hiện giờ Theravãda có sức ảnh hưởng lớn tại Thái Lan, Tích Lan và Miến Điện. 
Tam GiớiDục giới (Kãma-loka), Sắc giới (Rýpa-loka), và Vô Sắc Giới (Arýpa-loka), tổnghợp lại thành toàn bộ vũ trụ của các chúng sinh hữu tình
vimutti: Tuyệt đối Giải thoátGiải thoát từ mọi sự thêu dệt và quy ước của tâm trí. Vimuttiđồng nghĩa với Niết Bàn.
viññãõa: Thức. Tri giác đơn thuần. Phần tập hợp thứ năm của cá thểThức uẩn đơn thuần ghi nhận dữ kiện giác quan, thọ và ấn tượng tinh thần khi chúng xảy ra. Thí dụ, khi các hình ảnh hữu hình tiếp xúc mắt, hoặc khi tư duy xảy ra trong tâm trí, thức của chúngđồng thời khởi lên. Khi đối tượng dứt bặt sau đó, thì ý thức của hiện tượng đó ghi nhậnnó.
wisdom (paññã): Thuật ngữ tuệ giác ám chỉ đến sự ứng dụng sắc bén và ling động của các nguyên lý nhân quả với mục tiêu xem xét, krxts và phân tán tất cả mọi hiện tượng vật lý và tinh thần, khi chúng sinh lên và diệt đi, thấy biết chúng như chúng đang là; vô thườngvà thiếu vững chắcràng buộc với đớn đau và đau khổ, và rỗng không với bất cứ hiện tượng gì có thể được đồng hóa như là một cái “ngã”. Khi được dùng trong Phật Giáo, tuệám chỉ xa hơn chỉ là sự phán đoán lành mạnh . Tuệ là chắc chắn tìm kiếmxem xétso sánh, và khảo sát vận hành của thân tâm qua ánh sáng của các nguyên lý nền tảng sự thật để có thể gặt hái cơ hội sắc bén trên các nguyên tố ô nhiễm (kilesas) khiến che mờchân tánh của chúng và chân tánh của người biết chúng.
Mặc dù lập luận quy nạp lúc mới bắt đầu là một phần tu tập tuệ, tri kiến vẫn còn rất nông cạn. Khi chức năng của tuệ phát triển và trở nên nội quán hơn, kỹ xão của nó lại càng trở nên vi tế hơn, trong khi đó tuệ kiến theo bản chất trở nên nhạy bén hơn. Chỉ khi nào tuệ kiến xuyên suốt thật sâu thẳm thì gốc rễ nguyên nhân gây ra sự bất thỏa nguyện của tâm trí có thể thật sự phơi bày, nhổ bật gốc và hủy diệt.
Thông thường, tuệ là phần thành tựu tiên quyết nhất qua sự vắng lặng của định. Cả hai cùng làm việc song đôi để bảo đảm công việc đoạn tận lậu hoặc thành tựu với hiệu quả cao nhất. Cả hai là hai khía cạnh cốt yếu của lộ trình dẫn đến chấm dứt tất cả mọiđau khổ


Về Dịch giả
Bhikkhu Sïlaratano với tên Richard E. Byrd, Jr. chào đời tại Winchester, Virginia vào năm 1948,
Bhikkhu Sïlaratano bắt đầu thọ giới xuất gia thành tu sĩ Phật Giáo tại Bangkok, Thái Lan vào năm 1977, sau khi đã trải qua nhiều năm tu dưỡng tại Ấn Độ và Tích Lan. Sau khi được thọ giới , ngài cư ngụ tại Thái Lan, tu tập dưới sự giám hộ của Bậc thầy Ãcariya Mahã Boowa.

1. Hòa thượng Ãcariya Mun Bhýridatta Thera — Tiểu sử Tâm Linh (A Spiritual Biography). Chuyển ngữ bởi Sïlaratano Bhikkhu (Việt dịch 2014)
Trích dẫn Chương 1: Hiếu kỳ về lời nói vị của vị thần khổng lồ với quyền năng siêu nhiên, Bậc thầy Ãcariya Mun hỏi và được trả lời rằng kẻ xâm phạm thường thấy một vài dấu hiệu quyền năng vào ngay đêm đầu tiên. Một giấc mộng quái gở thường chập chờn trong giấc ngủ: Một thần linh đen tối khổng lồ, cao ngất ngưỡng, đe dọa sẽ đưa ngườinằm mộng vào chỗ chết, la hét rằng nó đã là người bảo vệ cho hang động này lâu năm và có quyền sử dụng quyền uy tuyệt đối trên toàn cả khu vực, và sẽ không cho phép bất kỳ aixâm phạm. Nếu có bất cứ người xâm phạm nào thì sẽ lập tức bị đuổi đi, bởi vì nó sẽkhông chấp nhận bất cứ quyền uy nào lớn lao hơn nó, ngoại trừ bậc phạm hạnh toàn hảo và với một trái tim từ bi yêu thương, người đã ban phát các phẩm chất cao quí này đến với tất cả mọi chúng sinh hữu tình. Một bậc với phẩm hạnh cao quí như vậy được cho phép sống trong hang động. Vị thần thậm chí sẽ bảo vệ cho ngài và quy y ngài, nhưng sẽ không chịu đựng bất cứ những kẻ xâm phạmhành vi ích kỷ và đầu óc hạn hẹp nào.”
2. Hòa thượng Ãcariya Mun’s Paåipadã: Lộ Trình Truyền Thừa Tu Tập Của Ngài ( His Lineage’s Way of Practice). Cùng với tác phẩm tiểu sử của Hòa thượng Ãcariya Mun. Chuyển ngữ bởi Hòa thượng Ãcariya Paññãvaððho Thera. (Việt dịch – 2013)
Trích dẫn Chương Một: Khi chúng ta thật sự đôí chọi nó mà không cách để thoát ra và không thể tìm đến bất kỳ sự quy y nào, chúng ta nhất định phải thử và tư duy làm cách nào để hỗ trợ chúng ta. Dhamma qua bản chất là nơi chốn quy y giá trị và phong phú nhất và khi chúng ta quy phục nó, và nó thấm nhập như là sự quy y tâm của chúng ta, sau đó thì bất kỳ lúc nào chúng ta cần sự trú ẩn lớn lao nhất, thì Dhamma ban cho các kết quả tự biểu hiện chúng với chúng ta, ngay tức thì trước đôi mắt và tâm của chúng ta, không có chỗ hoài nghi nào cho chúng ta
3. Hòa thượng Ãcariya Khao Anãlayo: Tiểu Sử Thiền sư Truyền Thống Pháp Lâm(A Forest Meditation Master’s Biography). Chuyển ngữ bởi Hòa thượng Ãcariya Paññãvaððho Thera (Việt dịch 2013)
Trích dẫn: “Người thông tuệ nhất luôn hằng tán thán chánh niệm và tuệ giác từ thời cổ đại, dạy rằng chúng là hai chức năng cao thượng nhất và không bao giờ bị lỗi thời. Quí vị nên tư duy và tầm cầu và đào sâu chánh niệm và tuệ giác và tuyên dương chúng như làcứu cánh và phương tiện để tự phòng vệ chính mình và hủy diệt kẻ thù trong quí vị hoàn toàn và dứt khoát. Sau đó thì quí vị sẽ thấy là phạm trù tâm là vô giá và ưu tú nhất luôn trong chính quí vị từ hằng vô thủy vô chungGiáo pháp mà tôi đang dạy quý vị hoàn toànphát xuất từ Giáo pháp mà tôi đã khảo sát và kinh nghiệm là một kết quả. Nó không dựa trên sự dọ dẫm … như gãi mà không thể biết là chỗ ngứa ở đâu… bởi vì những gì mà tôi dạy phát xuất từ kinh nghiệm thấy biết, với sự chắc chắn.”
4. Tuệ Sanh Định (Wisdom Develops Samãdhi) Sổ Tay Hướng Dẫn Tu Tập Các Pháp Thiền Của Đức Phật (A Guide to the Practice of the Buddha’s Meditation Methods) (Việt dịch 2013).
Chuyển Ngữ bởi Hòa thượng Ãcariya Paññãvaððho Thera
Trích dẫn Chương Một: “Nên hiểu là Định của tất cả mọi loại thiền là giúp đỡ và hỗ trợ sự phát triển của Tuệ, và với mức độ mà điều này tùy thuộc vào sức mạnh định của ta. Nói một cách khác, định thô tế, vừa phải, giúp đỡ và hỗ trợ tuệ vốn thô tế, vừa phải hoặcvi tế, và tùy thuộc vào người có trí để chuyển định của họ ứng dụng vào sự phát triển tuệ. Nhưng thông thường mà nói, bất kỳ loại định nào được thành tựuhành giả tu tập pháp thiền đó có xu hướng trở nên dính mắc nó, bởi vì tâm rơi vào một trạng thái định tĩnh và khi nó yên nghỉ ở đó, một trạng thái an lạc và hạnh phúc hiện hữu. Có thể nosrgf dính mắc với định, hoặc sự vắng lặngtâm không có vấn đề gì khi vẫn duy trì sự tập trung, và có thểduy trì lâu dài theo ý của hành giảtùy thuộc vào trình độ định của hành giả
CÁC ẤN PHẨM NÀY ĐƯỢC PHÁT HÀNH TỰ DO BỞI:
Forest Dhamma Books
Baan Taad Forest Monastery
Baan Taad,Ampher Meung
Udon Thani 41000
Thailand
www.ForestDhamma.org