Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2024

10 Huyền Môn. Bài 18 - Duy tâm hồi chuyển- Nhập Pháp Giới- Niết Bàn - Sanh tử.

Pháp Giới là gì?
- Đáp: Trong khung cảnh hẹp, pháp giới chỉ cho giới hạn của mỗi pháp. Trong phạm vi rộng, pháp giới chỉ cho toàn thể không gian rộng bao la.
- Pháp giới là bản thể chung của vạn pháp, tuy vô hình, bất sanh bất diệt .- Nhưng muôn ngàn hiện tượng sai khác tác động lẫn nhau, trợ duyên cho nhau nhưng không ngăn ngại nhau vì tất cả đều ở trong một trật tự nhịp nhàng cho đến nỗi “một trở thành tất cả và tất cả trở thành một”- và muôn ngàn hiện tượng vọng hiện từ Pháp Giới (gọi là Hóa Thân).
- Pháp giới còn gọi là pháp thân hay pháp tánh, pháp tướng, tức là nói đến lý tánh chân thật, thanh tịnh, bình đẳng của vạn pháp.
- Về mặt Chân Đế.- Pháp giới còn gọi là Như Lai tàng, ở khắp nơi trong vũ trụ, vốn sẵn có từ vô thỉ, không thể dùng giác quan hay trí tưởng tượng mà thấy được. Kinh Kim Cang nói “Như Lai, tức vô sở tùng lai, diệt vô sở khứ, cố danh Như Lai”.
- Pháp giới là đầu mối vọng hiện ra muôn sự vật, lớn không ngoài, nhỏ không trong “Phóng chi tắc cai la thế giới, thu chi tắc tế nhập vi trần” (Buông ra thì trùm khắp pháp giới, thâu lại thì nhỏ hơn vi trần), nên pháp giới là tâm của vũ trụ, đồng thời cũng là tâm của con người và tùy theo pháp môn,
- Pháp giới có những danh hiệu khác nhau như: Chơn như, Chơn tâm, Chơn không, Tỳ Lô Giá Na, Bản lai diện mục, Như ý châu, Niết Bàn, Phật tánh. v.v...
Vì vậy pháp giới có đủ cả hai mặt chơn đế và tục đế, bản thể và hiện tượng, tánh và tướng mà hai mặt này lại tương dung, tương nhiếp với nhau như sóng và nước.
Ở Duy tâm hồi chuyển- Niết Bàn - Sanh tử.- Duy Tâm hiện này. Là nói : Niết Bàn - Sanh tử là do hành giả tu Phật. Có nhập Pháp Giới hay chưa mà ra.
Nếu thuận chuyển, gọi là niết bàn. Nên kinh nói “Tâm tạo ra các Như Lai”. Nếu nghịch chuyển đó là sanh tử. Nên nói “Ba cõi hư vọng chỉ do tâm tạo”.
Sanh tử, niết bàn đều chẳng ngoài tâm. Ngoại thế giới hay nội thân thể đều là cảnh duy tâm biến hiện. Thế nên, chẳng thể khẳng định rằng lớn hay nhỏ, rộng hay hẹp, tâm hay cảnh, tăng hay giảm v.v.... Kinh Niết Bàn nói “Phật tánh không phải tịnh cũng không phải bất tịnh”. Tịnh cùng bất tịnh đều duy tâm. Nếu lìa tâm hoàn toàn không có pháp khác.
Mọi sự vật hiện hữu trong cuộc đời đều bắt nguồn từ "Như lai tạng tính thanh tịnh chân tâm"mà kiến tạo nên. Tâm làm chủ tất cả. Cho nên trong kinh nói: Tâm tạo chư Như Lai, nhược bằng nghịch chuyển "tức thị sinh tử"; mà thuận chuyển thì "sinh tử thị niết bàn". Chân Tâm (Phật tính) vốn không sinh, không diệt, không tăng, không giảm, không nhơ, không sạch. Bản thể của Chân Tâm là trong sáng tròn đầy, chu biến khắp pháp giới bao la. Tâm là chủ động tất cả.
Nếu thuận chuyển, gọi là niết bàn. Nên kinh nói “Tâm tạo ra các Như Lai”. Nếu nghịch chuyển đó là sanh tử. Nên nói “Ba cõi hư vọng chỉ do tâm tạo”. Sanh tử, niết bàn đều chẳng ngoài tâm. Thế nên, chẳng thể khẳng định rằng tánh là tịnh hay bất tịnh. Kinh Niết Bàn nói “Phật tánh không phải tịnh cũng không phải bất tịnh”. Tịnh cùng bất tịnh đều duy tâm. Nếu lìa tâm hoàn toàn không có pháp khác. Kinh Lăng Già nói “Ngoài tâm không có cảnh giới, không có trần, chỉ do hư vọng mà thấy”.
Tâm làm chủ tất cả. Cho nên trong kinh nói: Tâm tạo chư Như lai, nhược bằng nghịch chuyển “tức thị sinh tử”; mà thuận chuyển thì “sinh tử thị niết bàn”.
* Thế nào là Thuận & Nghịch ?
+ Thuận chuyển: Là xoay Tâm về Bản Thể Chân Như.- Gọi là Hồi Quang phản chiếu.
+ Nghịch chuyển: Là xoay Tâm theo hiện tượng, thức tình Vọng động.(Trục sắc thinh nhi tham nhiễm.Thập triền thập sử,Tích thành hữu lậu chi nhơn.Lục căn lục trần,Vọng tác vô biên chi tội.)
+ Tổ dạy: Quy căn đắc Chỉ- Tuỳ Chiếu thất tông. Nghĩa là "về nguồn" (Thuận chuyển) được Tông chỉ. Mà chạy "theo Chiếu" (nghịch chuyển) thì mất Tông chỉ.
Chân Tâm (Phật tính- Bản Thể- chân như Tâm) vốn không sinh, không diệt, không tăng, không giảm, không nhơ, không sạch. Bản thể của ấy là trong sáng tròn đầy, chu biến khắp pháp giới bao la. Tâm ấy là chủ động tất cả.
“Nhập Pháp Giới” là phẩm tâm cao nhất của toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm. Nhập Pháp Giới.- Chính là Nhập Niết Bàn (theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm).- Nhưng: Niết Bàn và Sanh Tử chỉ do duy Tâm Hồi chuyển Thiện Thành. (như phẩm Nhập Pháp Giới- kinh Hoa Nghiêm nói rõ).
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3

10 Huyền Môn. Bài 17 - Duy tâm hồi chuyển - Chủ Bạn Viên Minh Cụ Đức Môn

Sự thành lập khéo léo của các môn đều quay về nhất tâm. Duy tâm tức là tất cả đều từ tâm. Hồi chuyển thiện thành có nghĩa là khéo léo qui về nơi tâm. Tướng-tánh, hiện tượng-bản thể, duyên sinh, tất cả những cái chúng ta đưa ra đều là phương tiện. Tất cả đều từ một tâm mà ra. Cánh cửa thứ mười.
Ngài Pháp tạng cho rằng Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn, mới chỉ biểu thị lí do các pháp vô ngại, chứ chưa thể biểu thị tướng vô ngại, cho nên, trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, ngài đổi thành Chủ bạn viên minh cụ đức môn. [X. Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.4; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.10]. (xt. Thập Huyền Môn).
Chủ là cái chính, bạn là cái phụ. Tùy theo trường hợp, có lúc cái này làm chủ, cái kia làm bạn, nó thay đổi nhau mà đóng vai trò, không có cái nào quan trọng hơn cái nào. Đức Quan Âm bồ tát đã thành Phật lâu rồi mà vẫn đóng vai đệ tử. Đức Thích Ca cũng vậy, ngài đã thành Phật lâu rồi mà cũng có thể đóng vai thính chúng, thanh văn. Chính Đức Quan Âm cũng hóa hiện ra nhiều tướng, khi thì con nít, khi thì người lớn.
Tùy theo trường hợp mà đóng vai trò, lúc nào cần làm con nít thì chúng ta làm con nít, lúc nào cần làm người lớn thì chúng ta làm người lớn. Nếu cần làm sư chị thì ta sợ gì không làm sư chị? Nếu cần làm sư em thì tại sao ta không làm sư em? Miễn là mình làm cho đẹp, cho thành mà thôi. Không có cái nào quan trọng hơn cái nào.
Ở trong một cây lúa, trong một bông hoa cũng vậy. Nó có chủ, có bạn. Cái nào nổi bật hơn, trở thành quan trọng nhất thì nó là chủ. Cái nào núp sau lưng để yểm trợ thì là bạn. Núp sau lưng không có nghĩa là không quan trọng bằng. Khi một cái núp sau lưng biểu hiện ra thì cái hồi nãy hiển hiện làm chủ bây giờ trở thành bạn. Làm vua, làm tôi, làm anh, làm em, làm thầy, làm trò đều là như vậy. Kiếp này ta làm thầy, kiếp sau ta làm trò. Kiếp này ta làm cha, kiếp sau ta làm con. Vấn đề là ta làm được trách vụ của mình cho đẹp thôi. Một cái hiển thì tất cả cái khác ẩn. Ẩn-hiển, chủ-bạn có liên hệ với nhau, chúng ta phải làm cho khéo, phải làm như những nhà nghệ thuật.
Trong nghệ thuật hát bội, có những qui luật của hát bội: khuôn mặt người đóng vai trung thần thì bôi màu khác, nịnh thần thì bôi màu khác, không được lẫn lộn. Sau khi diễn xong vai người nịnh, rồi làm người trung thì phải bôi màu khác. - Ẩn-hiển, chủ-bạn là như vậy.
Nói về sự thành tựu của những thiện đức mà nhờ đó, chủ và tớ cùng hoạt động một cách nhịp nhàng và xán lạn. Nếu cái này là chủ thì tất cả những cái khác sẽ hoạt động như là thần tử của nó, nghĩa là theo lý tắc nhất tức nhất thiết và nhất thiết tức nhất. Chúng tạo thành một toàn thể viên toàn trên thực tế, cái này cái kia xen lẫn nhau.
* Tất cả mười huyền môn đều thiết lập bởi một nguyên lý của sự pháp hiện kỳ diệu của tâm, không ngoài giáo lý nhất tâm.
* Thế giới bên ngoài là sự phóng hiện của tâm và từ thế giới này ta cũng trực ngộ được Chân tâm, đây là nguyên lý “tùng tướng hiển tánh”. (Không có vấn đề vật chất ngoài tinh thần, hay tinh thần ngoài vật chất, cả hai yếu tố chung một bản thể.).
Đó là ý nghĩa: Duy tâm hồi chuyển - Chủ Bạn Viên Minh Cụ Đức Môn
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3

10 Huyền Môn. Bài 16 - Duy tâm hồi chuyển- Pháp Tạng - kim sư tử chương.

Kim Sư Tử Chương là một tác phẩm rất ngắn của thầy Pháp Tạng nhưng bao hàm được giáo lý của Kinh Hoa Nghiêm.(rõ nét Môn Duy tâm hồi chuyển).
Kim Sư Tử Chương.- Nội dung sách này được chia làm 10 môn:
1. Minh duyên khởi: Vàng vốn không có tự tính, chỉ do bàn tay khéo léo của người thợ đúc chạm mà thành con sư tử, nghĩa là hình tướng sư tử tùy duyên mà hiện.
2. Biện sắc không: Thể tính của sư tử tuy là không nhưng cũng không trở ngại gì cho việc phô bày hình tướng sư tử.
3. Ước tam tính: Đem Sư tử tình hữu (về mặt tình thì có sư tử nhưng về mặt lí thì không), Sư tử tự hữu(sư tử có giả)và Kim tính bất biến (chất vàng không thay đổi) phối hợp với 3 tính Biến kế sở chấp, Y tha khởi và Viên thành thực của Duy thức thì: - Sư tử tình hữu: Sự tồn tại của sư tử là do tư tưởng hư cấu chủ quan (Biến kế sở chấp). - Sư tử tự hữu: Sự tồn tại của sư tử là nhờ duyên bên ngoài mà hiện ra một cách giả có(Y tha khởi). - Kim tính bất biến: Người thợ khéo léo đúc vàng thành hình dáng sư tử, nhưng tính chất của vàng thì không thay đổi(Viên thành thực).
4. Hiển vô tướng: Về mặt thể tính mà nói thì tất cả đều là vàng, ngoài vàng ra không có sư tử cho đến tướng trạng của sư tử.
5. Thuyết vô sinh: Sư tử tuy có sinh diệt, nhưng bản thể của vàng thì không thêm, bớt.
6. Luận ngũ giáo: Về mặt duyên khởi của sư tử, tất cả đều bàn rõ yếu chỉ của Hoa nghĩa Ngũ giáo(Ngu pháp Thanh văn giáo, Đại thừa Thủy giáo, Đại thừa Chung giáo, Đại thừa Đốn giáo, Nhất thừa Viên giáo).
7. Lặc thập huyền: Lặc, nghĩa là thâu tóm tất cả. Tông Hoa nghiêm mượn bản chất, tướng trạng của sư tử làm thí dụ, để trình bày từng môn trong thập huyền môn của Pháp giới duyên khởi.
8. Quát lục tướng: Dùng 6 tướng tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại của sư tử để bàn rõ về lí Lục tướng viên dung .
9. Thành bồ đề: Nhờ vào các pháp môn nói ở trên, khi thấy sư tử liền thấu suốt được lí tất cả pháp hữu vi xưa nay vốn vắng lặng, đồng thời xa lìa thủ xả, vào biển Nhất thiết trí, rồi tiến lên được Nhất thiết chủng trí mà ngộ đạo.
10. Nhập Niết bàn: Nếu thấy rõ được tướng sư tử và vàng đều không còn, thì chẳng sinh phiền não, vĩnh viễn xa lìa gốc khổ, chứng nhập Niết bàn. Hệ thống tông Hoa nghiêm tuy phức tạp, sâu xa, khó hiểu, nhưng Kim sư tử chương đã tóm tắt được những điểm cốt yếu một cách rõ ràng, cho nên đã trở thành bộ sách nhập môn của học thuyết Hoa nghiêm. Về các bản chú sớ của sách này thì có: Hoa nghiêm kinh Kim sư tử chương chú, 1 quyển, của Thừa thiên; Vân gian loại giải, 1 quyển của Tịnh nguyên; Quang hiển sao, 2 quyển, của Cao biện. [X. Phật tổ thống kỉ Q.39; Phật tổ lịch đại thông tải Q.15; Hoa nghiêm tông kinh luận chương sớ mục lục; Chư tông chương sớ lục Q.1]
Thuở xưa- hoàng hậu Võ Tắc Thiên mời thầy Pháp Tạng vào cung, bà rất thích nghe thầy thuyết pháp. Hôm đó thầy giảng về kinh Hoa Nghiêm. Thấy trong cung có một con sư tử bằng vàng, thầy cầm lên và lấy nó làm ví dụ để giảng về giáo lý Hoa Nghiêm cho hoàng hậu nghe. Sau buổi giảng thầy về chùa và ghi chép lại những điều mình đã giảng. Và đó là tác phẩm : Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương.
Với thí dụ con sư tử vàng .- 1. Minh duyên khởi:
Vàng không có tự tính, nhờ có thợ khéo mà tướng sư tử sinh khởi. Sự sinh khởi ấy sở dĩ có được là do nhân duyên nên gọi nó là duyên khởi.
Duyên khởi là sự sinh khởi của các pháp tùy trên điều kiện. Duyên là Nhân duyên, khởi là sinh khởi, Vàng không có tự tính, nhờ có điều kiện là thợ khéo mà có tướng sư tử sinh khởi. Chúng ta nên biết rằng con sư tử thầy Pháp Tạng cầm trên tay để thuyết pháp là một ví dụ thôi. Thầy dùng hai hình ảnh để nói chuyện là vàng và sư tử, thêm vào đó là ông thợ. Trong sự liên hệ giữa vàng và sư tử có ông thợ chen vô trong đó. Nếu không có ông thợ thì vàng không bao giờ thành sư tử.
Vàng chính nó không có tự tính, nhờ điều kiện có thợ giỏi mới có tướng sư tử hiện ra. Sự có mặt của sư tử chỉ do duyên mà thôi, không duyên thì không có sư tử. Đó gọi là duyên khởi.
Trong đoạn này, chính nhờ ông thợ nên tướng sư tử mới hiện. Nhờ quán sát nên chúng ta mới thấy vàng trong tướng sư tử. Nếu không có sư tử thì làm sao thấy được vàng. Không thấy sóng thì làm sao thấy nước? Nói tới duyên sinh ta thấy có hai loại: ông thợ là duyên khởi, vàng là tánh khởi. Tánh cũng là một loại duyên.
Bây giờ chúng ta dùng một ví dụ khác là nước và sóng. Giữa nước và sóng cũng có một liên hệ như là giữa vàng và sư tử. Sự liên hệ đó là anh chàng gió. Nếu gió không can thiệp vào thì làm gì có sóng nổi lên cho chúng ta thấy. Ở đây cũng vậy, nếu không có ông thợ khéo thì làm sao có được con sư tử. Qua đó, chúng ta thấy có ba điều kiện:
1. Vàng tượng trưng cho bản thể, nền tảng của những hiện tượng . Cũng như nước là nền tảng của sóng thì vàng là nền tảng của sư tử. Nếu không biểu hiện ra sư tử thì vàng biểu hiện ra cái gì? Nó có thể biểu hiện ra đôi bông tai, chiếc vòng hoặc dây chuyền.
Vàng cũng như chân như, như bản thể, là nền tảng cho những hiện tượng phát khởi. Nếu không có sự can thiệp của ông thợ thì chúng ta không thấy được sư tử, đôi bông tai..., không thấy được vàng, cũng như nếu không có sự can thiệp của gió thì không thấy được sự liên hệ giữa nước và sóng.
2. Sư tử tượng trưng cho thế giới hiện tượng , hiện tượng giới. Trong khi học bài này ta phải biết con sư tử vàng thầy Pháp Tạng cầm trên tay chỉ là một ví dụ. Chúng ta đừng nên kẹt vào ví dụ.
Vàng không có tự tính, nhưng con sư tử thì có có, có không, có đẹp, có xấu. Đợt sóng thì có xuống, có lên, có cao, có thấp, nhưng nước thì không có tính đó. Sư tử, bông tai, dây chuyền...,có lớn, có nhỏ, có đẹp, có xấu. Nhưng vàng thì vượt thoát những cái đó, không nhỏ, không to, không đẹp, không xấu. Chúng ta không thể nói gì về vàng vì vàng là vô tính. Nhờ không có tự tính nên mới có ra được những hiện tượng trên thế giới (thế giới hiện tượng).
3. Ông thợ tượng trưng cho duyên, cho điều kiện. Nhờ có điều kiện thợ khéo mà có tướng sư tử sinh khởi.
Chúng ta có thể nói đến bốn giáo lý về duyên khởi:
1- Nghiệp cảm duyên khởi
2- A lại gia duyên khởi
3- Chân như duyên khởi
4- Pháp giới duyên khởi
Tóm lại, duyên khởi có ít nhất là bốn loại: Nghiệp cảm duyên khởi, A lại gia duyên khởi, Tánh duyên khởi và Pháp giới duyên khởi.
Tất cả các cái hợp thành một cái và một cái chứa đựng tất cả các cái.
Đó là giáo lý của kinh Hoa Nghiêm. Trong giáo lý Hoa Nghiêm, người ta phân biệt ra Lý và Sự. Lý là thế giới của bản thể (bản thế giới) và Sự là thế giới của hiện tượng (hiện tượng giới).
Cánh cửa thứ mười: Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn, thì:
Vàng và sư tử hoặc ẩn hoặc hiển tùy trường hợp, hoặc một hoặc nhiều, thật ra cả hai đều không có tự tánh, tất cả đều xoay quanh và biến chuyển theo tâm. Dù nói về sự hay về lý (bản thể hay hiện tượng) thì cả hai đều do tâm mà có sự thành lập và có cái vị trí của mình. Cái này gọi là Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn.
Sư tử không có tự tánh mà vàng cũng không có tự tánh. Tướng, tánh là từ tâm chúng ta mà ra. Giống như khi ta chơi nhạc vậy, chơi ra một bản nhạc rồi thôi, bị vướng vào một bản nhạc thì không được.
Đó là một cách nói, chia ra làm tướng, làm tánh, làm vàng, làm sư tử, nhưng tất cả đều do tâm mà hiện ra. Sự thành lập của các pháp trên cơ bản nhân duyên, sự liên hệ giữa tánh và tướng, tất cả thứ đó đều do thi thiết của tâm mà thôi. Rốt cuộc tất cả chỉ là tâm, cái đó gọi là duy tâm hồi chuyển thiện thành môn .
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2024

10 Huyền Môn. Bài 15 - Duy tâm hồi chuyển- Tịch & Chiếu

Mọi sự vật hiện hữu trong cuộc đời đều bắt nguồn từ “Như lai tạng tính thanh tịnh chân tâm“mà kiến tạo nên.
Tâm làm chủ tất cả. Cho nên trong kinh nói: Tâm tạo chư Như lai, nhược bằng nghịch chuyển “tức thị sinh tử”; mà thuận chuyển thì “sinh tử thị niết bàn”.
* Thế nào là Thuận & Nghịch ?
+ Thuận chuyển: Là xoay Tâm về Bản Thể Chân Như.- Gọi là Hồi Quang phản chiếu.
+ Nghịch chuyển: Là xoay Tâm theo hiện tượng, thức tình Vọng động.(Trục sắc thinh nhi tham nhiễm.Thập triền thập sử,Tích thành hữu lậu chi nhơn.Lục căn lục trần,Vọng tác vô biên chi tội.)
+ Tổ dạy: Quy căn đắc Chỉ- Tuỳ Chiếu thất tông. Nghĩa là "về nguồn" (Thuận chuyển) được Tông chỉ. Mà chạy "theo Chiếu" (nghịch chuyển) thì mất Tông chỉ.
Chân Tâm (Phật tính- Bản Thể- chân như Tâm) vốn không sinh, không diệt, không tăng, không giảm, không nhơ, không sạch. Bản thể của ấy là trong sáng tròn đầy, chu biến khắp pháp giới bao la. Tâm ấy là chủ động tất cả.
Ví dụ như: Vàng và sư tử hoặc ẩn hoặc hiển tùy trường hợp, hoặc một hoặc nhiều, thật ra cả hai đều không có tự tánh, tất cả đều xoay quanh và biến chuyển theo tâm. Dù nói về sự hay về lý (bản thể hay hiện tượng) thì cả hai đều do tâm mà có sự thành lập và có cái vị trí của mình. Cái này gọi là Duy Tâm Hồi Chuyển Thiện Thành Môn.
* Ở ví dụ trên: Sư tử không có tự tánh mà vàng cũng không có tự tánh.- Tướng (sư tử), tánh (vàng ròng) là từ tâm chúng ta mà ra. Giống như khi ta chơi nhạc vậy, chơi ra một bản nhạc rồi thôi, bị vướng vào một bản nhạc thì tâm trạng bị kẹt.
Do Tâm mới có Lý và Sự. Do Tâm mới có vạn hữu sinh thành và biến dịch. Vậy Tâm là chính yếu.- Đây là lập trường căn bản của bộ kinh Hoa Nghiêm chủ trương “Nhất thiết duy tâm tạo”.
* Pháp môn “Duy Tâm thối chuyển thiện thành” cũng có ý nghĩa: Các pháp đều tương tức vô ngại hay Tâm tức Cảnh, Cảnh tức Tâm,
+ Khi Cảnh tịch thì Cảnh là Tâm,
+ khi Tâm chiếu thì Tâm là Cảnh.
+ Tịch và Chiếu chỉ là hai mặt của một đồng tiền.
* Tất cả mười huyền môn đều thiết lập bởi một nguyên lý của sự pháp hiện kỳ diệu của tâm, không ngoài giáo lý nhất tâm.
Thế giới bên ngoài là sự phóng hiện của tâm và từ thế giới này ta cũng trực ngộ được Chân tâm, đây là nguyên lý “tùng tướng hiển tánh”. Không có vấn đề vật chất ngoài tinh thần, hay tinh thần ngoài vật chất, cả hai yếu tố chung một bản thể.
* Chuyển Tâm (như bài kệ):
Kiến văn như huyễn uế,
Tam giới nhược không hoa.
Văn phục ế căn trừ,
Trần tiêu giác viên tịnh.
Nghĩa:
Thấy nghe như huyễn mộng
Ba cõi như không hoa
Điều phục tâm tan mộng
Sạch bụi trời trong xanh
Pháp môn “Duy tâm hồi chuyển thiện thành” tức là pháp môn tương tức vô ngại: Tâm tức cảnh và cảnh tức tâm. Khi cảnh “Tịch” thì cảnh là tâm, khi tâm “Chiếu” thì tâm là cảnh, nó không phải hai, mà chẳng phải một. (Vô Nhất - Bất Nhị).
Có thể là hình ảnh về 1 người, tượng đài và đền thờ
Tất cả cảm xúc:
3