Thứ Năm, 11 tháng 4, 2024

10 Huyền Môn. Bài 6 .- Vi Tế Tương Dung An vị (1/. Môn An vị tương dung vi tế)

kinh văn: Này Ca Diếp ! Nếu một Bồ tát trụ Đại thừa Đại Niết Bàn có thể đem núi Tu Di cao rộng để vào trong vỏ hạt cải, vậy mà các chủng loại sinh vật ở trong núi không hề hay biết cũng chẳng có bị chật hẹp hay sự khác lạ nào. Chỉ có người trình độ tương đương mới thấy biết việc làm của vị Bồ tát kia và cũng biết khi nào đem về đặt lại chỗ cũ.
Kinh nói: "Hết thảy thế giới nhập vào một hạt bụi nhỏ”. Dù vậy thế giới không bị thu hẹp lại, cũng không bị tán vụn ra. Đó là cái nhỏ chứa đựng cái lớn. Nhưng không phải nới rộng cái nhỏ để sức chứa, cũng thâu hẹp cái lớn lại cho vừa sức chứa. Trật tự vạn hữu vẫn như vậy. Bao dung lẫn nhau mà không tạp loạn.(hết trích)
Ở Cao Tăng truyện có sự tích Sư Huỳnh Long, nói ý nghĩa này:
Nguyên ông Lữ Đồng Tân là người ở xứ Kinh Triệu, đời nhà Đường, hiệu là Thuần Dương Tử.
Ban sơ, ông học Nho, đã thi ba lần không đậu. Sẵn dịp ông gặp Ngài Hớn Chung Ly, Ngài dẫn ông về non Chung Nam ở trọn bảy năm và truyền cho đủ các phép Tiên thuật.
Một bữa kia, ông Lữ Đồng Tân muốn đi đến cả miền thế gian mà độ người, bèn vào xin phép thầy. Ngài Hớn Chung Ly bằng lòng, lại lấy gươm báu trao cho ông và dạy rằng: “Gươm này của thầy ta là Đông Họa Đế Quân truyền lại cho ta. Muốn sát hại người nào thì phải biết trước tên họ và chỗ ở của người ấy, rồi niệm một câu chú, gươm đó hóa ra rồng xanh bay đến chỗ đó mà chém đầu. Nay ta giao cho ngươi đem theo mà hộ thân, song ngươi phải nhớ ba điều này: Một là đừng chọc ghẹo thầy chùa, hai là đừng để mất gươm báu này và ba là ngươi đi mãn ba năm rồi phải trở về đây. Nếu ngươi cãi lời thì ta không dung thứ”.
Ông Lữ Đồng Tân phụng mạng, lạy thầy mà lãnh gươm, rồi từ từ hạ san.
Ông đi đủ các xứ, đã mãn kỳ ba năm mà không độ được người nào. Một bữa kia, ông đi ngang qua xứ Huỳnh Long, nghe nói tại nhà quan Phó Công tên là Vĩnh Thiện có thiết một cuộc chay để làm lễ trai tăng cúng dường các nhà sư.
Ông bèn vào chơi và muốn dự lễ trai ấy, nhưng ông Phó Công nói rằng: “Ta cúng dường đệ tử của Phật, chớ không phải cúng dường đệ tử của Tiên. Vậy ngươi không được phép vào dự tiệc này!”.
Ông Lữ Đồng Tân bèn hỏi: “Phật nhà ông có đạo đức gì mà ông trọng như thế?”.
Ông Phó Công trả lời: “Thôi, đừng nói chi đến chuyện các Phật sống thuở trước! Hiện nay, có hòa thượng Huệ Nam ở chùa Huỳnh Long thường thuyết pháp độ người được mấy chục ngàn rồi. Còn đạo Tiên của ngươi lâu nay có độ được người nào chưa?”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe hỏi như vậy, lấy làm thẹn, quên lời thầy căn dặn, liền đi đến núi Huỳnh Long quyết tìm hòa thượng Huệ Nam mà đấu phép.
Khi đến nơi, ông vừa gặp sư cụ đang lên nhà giảng đường. Ông bèn lén xen vào hàng đại chúng, ngờ đâu hòa thượng biết trước, bèn nói rằng: “Hôm nay ta không thuyết pháp! Ta có một lời chuyển ngữ hỏi đại chúng …”.
Sư cụ vừa mới nói tới đó thì thầy một người (tức là ông Lữ Đồng Tân) ở trong hàng đại chúng bước ra, cười rồi hỏi rằng: “Hòa thượng có câu chi, xin nói mau mau!”.
Sư cụ nói tiếp:
Lão tăng năm nay lớn gan
Đóng trai dưới núi rồng vàng
Tay áo tuốt ra roi sắt
Đánh tan Thế Giới ba ngàn
Ông Lữ Đồng Tân vỗ tay cười và đáp lại: “Hòa thượng năm trước chẳng lớn gan, năm ngoái chẳng lớn gan, sang năm chẳng lớn gan, chỉ có năm nay lớn gan. Xin hòa thượng cho phép tôi trả lời:
Gan ta lúc này to đại
Chuyên sự hơn thua cướp trại
Giật quách roi sắt trong tay
Để lại ba ngàn Thế Giới
Ông Lữ Đồng Tân bèn nói tiếp: “Bốn câu của hòa thượng tầm thường, không lạ chi! Tôi có một lời chuyển ngữ này, như hòa thượng trả lời được thì chém tôi, còn như không trả lời được thì tôi chém hòa thuợng”.
Sư cụ bằng lòng, rồi ông Lữ Đồng Tân đọc bài kệ như sau:
Thiết vàng cày đất trỉa kim tiền
Thằng đá con con xỏ chuỗi liên
Hột lúa chứa xong bầu thế giới
Nửa nồi nấu đủ cuộc sơn xuyên
Mấy ông Lão Tử khi thùy địa
Tay của Hồ tăng lúc chỉ thiên
Huyền ấy chớ rằng chưa hết lực
Trong huyền, huyền ấy lại không huyền.
Hòa thượng Huệ Nam liền đáp lại:
Sẵn lò hồng để trĩa kim tiền
Mãnh sáng kia, ai xỏ đặng liền
Hột lúa hóa đặng ba ngàn giới
Biển lớn thâu về đủ bách xuyên
Tháng hạ đầu lò phun mãnh hỏa
Trời đông đáy nước nạp lương thiên
Chân như ai tỏ trong thiền ấy
Trong thiền, thiền ấy có sanh thiền.
Ông Lữ Đồng Tân nghe mấy câu kệ, biết mình đã thua, nhưng ông còn gượng hỏi: “Hòa thượng nói rằng hột lúa hóa ra ba ngàn thế giới, hòa thượng thua rồi!”.
Sư cụ bảo rằng: “Ngươi muốn điều chi thì lại gần đây mà nói, chớ ta đã điếc mà ngươi còn đứng xa nói thì ta nghe không đặng”.
Ông Lữ Đồng Tân tưởng thật, bèn bước lại gần bên, ngờ đâu thình lình sư cụ nhanh tay chụp đầu ông níu lại mà hỏi: “Ngươi nói rằng một hột lúa chẳng hóa đặng ba ngàn thế giới thì ngoài cái nồi nửa cân của ngươi còn nấu những vật gì?”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe hỏi như vậy, bèn nghẹn họng, không đáp lại được.
Sư cụ liền hỏi tiếp: “Nếu y theo lời giao ước của ngươi, ta phải chém đầu ngươi. Nhưng vì đạo Phật của ta cấm sát sanh nên ta tha cho ngươi đó”.
Nói rồi, sư cụ lấy cái giải xích mà đánh trên đầu ông Lữ Đồng Tân một cái, làm cho ông mắc cỡ đỏ mặt, liền lui ra ngoài, nghênh mặt lại ngó trộm sư cụ, rồi cười ba tiếng, lắc đầu ba cái, vỗ tay ba hiệp và mang gươm đi thẳng vào núi.
Đến chỗ vắng vẻ không người, ông bèn rút gươm báu ra, họa bùa niệm chú, rồi dặn gươm bay tới chùa Huỳnh Long mà giết hòa thượng Huệ Nam. Dặn dò xong, ông bèn hét lên một tiếng, gươm ấy liền hóa ra con rồng xanh bay thẳng đến nhà phương trượng của sư cụ.
Khi ấy, hòa thượng Huệ Nam thấy con rồng xanh bay liệng trên hư không, liền lấy ngón tay chỉ lên, tức thì con rồng xanh bèn hóa lại gươm, rồi rơi xuống cắm dưới ao bùn.
Ông Lữ Đồng Tân ngồi trên núi trông đợi hơn nửa ngày mà không thấy con rồng xanh trở về, bèn niệm chú thâu gươm lại mà không thấy gì!
Lúc ấy, hồn vía của ông sảng lạc, không biết tính sao, phải liều mạng chạy xuống chùa Huỳnh Long để tìm gươm báu.
Đến nơi, ông gặp Ngài Huệ Nam và hỏi rằng: “Xin hòa thượng trả gươm lại cho tôi”.
Sư cụ đáp: “Ai mượn gươm của ngươi mà ngươi đến đòi? Nó cắm dưới ao bùn kia, ngươi ra đó mà lấy!”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe nói, liền chạy ra ao, cúi xuống nắm gươm, ráng hết sức bình sinh mà nhổ lên, nhưng gươm chẳng nhúc nhích!
Sư cụ thấy vậy, bèn nói: “Ngươi muốn giết ta, ta chẳng trả gươm ấy lại cho ngươi. Ngươi có giỏi thì tự nhổ lấy!”.
Ông Lữ Đồng Tân bèn năn nỉ sư cụ: “Hòa thượng dùng phép thuật mà cắm trụ gươm ấy rồi, tôi làm sao nhổ lên nổi! Vậy xin hòa thượng có lòng từ bi, muốn trả gươm cho tôi thì xin nhổ lên giùm!”.
Sư cụ bèn đáp: “Ta có bốn câu kệ, nếu ngươi hiểu được thì ta trả gươm lại cho ngươi”.
Nói rồi, Ngài lấy một tờ giấy, vẽ một cái vòng. Trong vòng ấy, có chấm một điểm, rồi dưới cái vòng lại đề bốn câu kệ như sau:
Đầu gươm có đơn hẳn
Lòng đơn sẵn gươm rồi
Bằng ai hiểu nhơn ấy
Ắt thoát khỏi luân hồi.
Ông Lữ Đồng Tân xem đi xem lại một hồi lâu mà không hiểu chi cả. Hòa thượng thấy vậy, bèn niệm chú rằng: “Án Hộ Pháp thần linh tốc tốc hiện hình”. Niệm xong, ông Hộ Pháp hiện đến. Sư cụ bèn bảo rằng: “Ngài phải đem tên này giam cầm trong núi Khổn Ma Nham, mỗi ngày chỉ cho ăn một cái bánh thôi. Chừng nào nó tỏ ngộ được thiền cơ, Ngài dẫn nó tới đây cho ta hỏi”.
Ông Hộ Pháp phụng mạng, bảo ông Lữ Đồng Tân đi, ông dùng dằng không chịu đi. Ông Hộ Pháp bèn nói lớn rằng: “Đi mau, kẻo cái bảo xử của ta đây nặng hơn tám vạn bốn ngàn cân xán xuống một cái thì thịt xương ngươi nát như bùn!”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe nói thất kinh hồn vía, bèn riu ríu đi theo, không dám cãi nữa!
Một hôm, nhân lúc ông Hộ Pháp đi khỏi, ông Lữ Đồng Tân ở trong hang đá bèn tự nghĩ rằng: “Khi mình hạ san, thầy có căn dặn đừng có chọc ghẹo thầy chùa. Bởi vì mình dại, không nghe lời thầy, cho nên mới bị nạn như vậy! Còn ông hòa thượng nói rằng chừng nào mình tỏ ngộ được thiền cơ thì mới tha tội cho mình, mà biết đời kiếp nào mình mới tỏ ngộ được thiền cơ? Cổ nhân nói rằng: Tam thập lục kế dĩ đào vi thượng. Ở đây khổ cực lắm, chịu không nổi! Vậy mình tính việc trốn đi thì tiện hơn”.
Ông Lữ Đồng Tân tự nghĩ như vậy, rồi lén bò ra cửa hang, cởi mây bay về núi Chung Nam, vào quỳ trước mặt thầy mà thọ tội.
Ngài Hớn Chung Ly thấy ông trở về mà không có gươm báu của mình, nghe ông kể hết đầu đuôi tự sự, Ngài nổi giận mà mắng rằng: “Ta đã dặn dò ba chuyện mà ngươi đều phạm cả, lại còn bị người ta đánh u đầu, làm xấu hổ cho đạo. Ngươi còn mặt mũi nào mà về đây nữa?”.
Ông Lữ Đồng Tân cứ lạy hoài và thưa rằng: “Tội của con đã đáng rồi! Trăm lạy thầy dung thứ cho con và xin thầy dùng phương pháp chi mà thâu gươm báu về, chớ ông hòa thượng đã cắm dưới bùn rồi, con đọc chú thâu về không được!”.
Ngài Hớn Chung Ly quở mắng một hồi lâu, rồi viết một bức thư trao cho ông Lữ Đồng Tân, bảo đem đến chùa Huỳnh Long mà đưa cho hòa thượng Huệ Nam.
Sư cụ tiếp lấy thư và xé ra xem, thấy có vẽ một cái vòng, ở trên vòng thì chấm một điểm, ở dưới vòng thì có đề bốn câu kệ như sau:
Đơn vẫn là gươm
Đặng đơn biết gươm
Gươm vẫn là đơn
Đặng gươm biết đơn.
Sư cụ xem thơ xong, bèn nói với ông Lữ Đồng Tân: “Ta vì tưởng thầy của ngươi nên mới trả gươm ấy. Thôi, ngươi ra lấy đi!”.
Ông Lữ Đồng Tân bước ra ao mà nhổ gươm, thấy nhẹ bổng, cầm gươm trở vào lạy sư cụ và xin cho biết cái lý huyền diệu trong thơ.
Sư cụ hỏi: “Ngươi có chịu quy y Tam Bảo, ta sẽ truyền cho”.
Ông Lữ Đồng Tân liền đáp: “Tôi xin tình nguyện quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và nguyện làm đệ tử của hòa thượng”.
Sư cụ bảo ông quỳ xuống và hiệp chương tịnh tâm mà nghe mấy lời này: “Hôm trước, ngươi nói rằng một hột lúa đựng cả thế giới, ấy là nhỏ mà hàm lớn, nên ngoài cái vòng có một chấm. Còn ta thì nói rằng một hột lúa hóa ba ngàn thế giới, ấy là lớn mà hàm nhỏ, nên trong cái vòng có một chấm”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe xong, liền hiểu được cái nhân tánh, tức thì làm một bài kệ và trình cho sư cụ xem:
Quăng bầu, ném dây, đập luôn đơn
Cái thuốc trường sanh cũng chán lờn
Từ gặp Huỳnh Long truyền phép Phật
Mới hay ngày trước lỗi đường chân. (hết trích)
Đây là Diệu lý dùng Môn An vị tương dung vi tế, ngay nơi tướng mà nói. Như một hạt cải là tướng nhỏ. Núi Tu Di là tướng lớn. Nói "tướng lớn" là Núi Tu Di, hay "tướng nhỏ" là hạt cải.- là do sự thấy biết lầm chấp do vô minh nên phân biệt sanh. Nếu có thể "quán thật tướng", thì thật tướng các pháp là vô tướng. (còn tiếp)
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3

kinh văn: Này Ca Diếp ! Nếu một Bồ tát trụ Đại thừa Đại Niết Bàn có thể đem núi Tu Di cao rộng để vào trong vỏ hạt cải, vậy mà các chủng loại sinh vật ở trong núi không hề hay biết cũng chẳng có bị chật hẹp hay sự khác lạ nào. Chỉ có người trình độ tương đương mới thấy biết việc làm của vị Bồ tát kia và cũng biết khi nào đem về đặt lại chỗ cũ.
Kinh nói: "Hết thảy thế giới nhập vào một hạt bụi nhỏ”. Dù vậy thế giới không bị thu hẹp lại, cũng không bị tán vụn ra. Đó là cái nhỏ chứa đựng cái lớn. Nhưng không phải nới rộng cái nhỏ để sức chứa, cũng thâu hẹp cái lớn lại cho vừa sức chứa. Trật tự vạn hữu vẫn như vậy. Bao dung lẫn nhau mà không tạp loạn.(hết trích)
Ở Cao Tăng truyện có sự tích Sư Huỳnh Long, nói ý nghĩa này:
Nguyên ông Lữ Đồng Tân là người ở xứ Kinh Triệu, đời nhà Đường, hiệu là Thuần Dương Tử.
Ban sơ, ông học Nho, đã thi ba lần không đậu. Sẵn dịp ông gặp Ngài Hớn Chung Ly, Ngài dẫn ông về non Chung Nam ở trọn bảy năm và truyền cho đủ các phép Tiên thuật.
Một bữa kia, ông Lữ Đồng Tân muốn đi đến cả miền thế gian mà độ người, bèn vào xin phép thầy. Ngài Hớn Chung Ly bằng lòng, lại lấy gươm báu trao cho ông và dạy rằng: “Gươm này của thầy ta là Đông Họa Đế Quân truyền lại cho ta. Muốn sát hại người nào thì phải biết trước tên họ và chỗ ở của người ấy, rồi niệm một câu chú, gươm đó hóa ra rồng xanh bay đến chỗ đó mà chém đầu. Nay ta giao cho ngươi đem theo mà hộ thân, song ngươi phải nhớ ba điều này: Một là đừng chọc ghẹo thầy chùa, hai là đừng để mất gươm báu này và ba là ngươi đi mãn ba năm rồi phải trở về đây. Nếu ngươi cãi lời thì ta không dung thứ”.
Ông Lữ Đồng Tân phụng mạng, lạy thầy mà lãnh gươm, rồi từ từ hạ san.
Ông đi đủ các xứ, đã mãn kỳ ba năm mà không độ được người nào. Một bữa kia, ông đi ngang qua xứ Huỳnh Long, nghe nói tại nhà quan Phó Công tên là Vĩnh Thiện có thiết một cuộc chay để làm lễ trai tăng cúng dường các nhà sư.
Ông bèn vào chơi và muốn dự lễ trai ấy, nhưng ông Phó Công nói rằng: “Ta cúng dường đệ tử của Phật, chớ không phải cúng dường đệ tử của Tiên. Vậy ngươi không được phép vào dự tiệc này!”.
Ông Lữ Đồng Tân bèn hỏi: “Phật nhà ông có đạo đức gì mà ông trọng như thế?”.
Ông Phó Công trả lời: “Thôi, đừng nói chi đến chuyện các Phật sống thuở trước! Hiện nay, có hòa thượng Huệ Nam ở chùa Huỳnh Long thường thuyết pháp độ người được mấy chục ngàn rồi. Còn đạo Tiên của ngươi lâu nay có độ được người nào chưa?”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe hỏi như vậy, lấy làm thẹn, quên lời thầy căn dặn, liền đi đến núi Huỳnh Long quyết tìm hòa thượng Huệ Nam mà đấu phép.
Khi đến nơi, ông vừa gặp sư cụ đang lên nhà giảng đường. Ông bèn lén xen vào hàng đại chúng, ngờ đâu hòa thượng biết trước, bèn nói rằng: “Hôm nay ta không thuyết pháp! Ta có một lời chuyển ngữ hỏi đại chúng …”.
Sư cụ vừa mới nói tới đó thì thầy một người (tức là ông Lữ Đồng Tân) ở trong hàng đại chúng bước ra, cười rồi hỏi rằng: “Hòa thượng có câu chi, xin nói mau mau!”.
Sư cụ nói tiếp:
Lão tăng năm nay lớn gan
Đóng trai dưới núi rồng vàng
Tay áo tuốt ra roi sắt
Đánh tan Thế Giới ba ngàn
Ông Lữ Đồng Tân vỗ tay cười và đáp lại: “Hòa thượng năm trước chẳng lớn gan, năm ngoái chẳng lớn gan, sang năm chẳng lớn gan, chỉ có năm nay lớn gan. Xin hòa thượng cho phép tôi trả lời:
Gan ta lúc này to đại
Chuyên sự hơn thua cướp trại
Giật quách roi sắt trong tay
Để lại ba ngàn Thế Giới
Ông Lữ Đồng Tân bèn nói tiếp: “Bốn câu của hòa thượng tầm thường, không lạ chi! Tôi có một lời chuyển ngữ này, như hòa thượng trả lời được thì chém tôi, còn như không trả lời được thì tôi chém hòa thuợng”.
Sư cụ bằng lòng, rồi ông Lữ Đồng Tân đọc bài kệ như sau:
Thiết vàng cày đất trỉa kim tiền
Thằng đá con con xỏ chuỗi liên
Hột lúa chứa xong bầu thế giới
Nửa nồi nấu đủ cuộc sơn xuyên
Mấy ông Lão Tử khi thùy địa
Tay của Hồ tăng lúc chỉ thiên
Huyền ấy chớ rằng chưa hết lực
Trong huyền, huyền ấy lại không huyền.
Hòa thượng Huệ Nam liền đáp lại:
Sẵn lò hồng để trĩa kim tiền
Mãnh sáng kia, ai xỏ đặng liền
Hột lúa hóa đặng ba ngàn giới
Biển lớn thâu về đủ bách xuyên
Tháng hạ đầu lò phun mãnh hỏa
Trời đông đáy nước nạp lương thiên
Chân như ai tỏ trong thiền ấy
Trong thiền, thiền ấy có sanh thiền.
Ông Lữ Đồng Tân nghe mấy câu kệ, biết mình đã thua, nhưng ông còn gượng hỏi: “Hòa thượng nói rằng hột lúa hóa ra ba ngàn thế giới, hòa thượng thua rồi!”.
Sư cụ bảo rằng: “Ngươi muốn điều chi thì lại gần đây mà nói, chớ ta đã điếc mà ngươi còn đứng xa nói thì ta nghe không đặng”.
Ông Lữ Đồng Tân tưởng thật, bèn bước lại gần bên, ngờ đâu thình lình sư cụ nhanh tay chụp đầu ông níu lại mà hỏi: “Ngươi nói rằng một hột lúa chẳng hóa đặng ba ngàn thế giới thì ngoài cái nồi nửa cân của ngươi còn nấu những vật gì?”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe hỏi như vậy, bèn nghẹn họng, không đáp lại được.
Sư cụ liền hỏi tiếp: “Nếu y theo lời giao ước của ngươi, ta phải chém đầu ngươi. Nhưng vì đạo Phật của ta cấm sát sanh nên ta tha cho ngươi đó”.
Nói rồi, sư cụ lấy cái giải xích mà đánh trên đầu ông Lữ Đồng Tân một cái, làm cho ông mắc cỡ đỏ mặt, liền lui ra ngoài, nghênh mặt lại ngó trộm sư cụ, rồi cười ba tiếng, lắc đầu ba cái, vỗ tay ba hiệp và mang gươm đi thẳng vào núi.
Đến chỗ vắng vẻ không người, ông bèn rút gươm báu ra, họa bùa niệm chú, rồi dặn gươm bay tới chùa Huỳnh Long mà giết hòa thượng Huệ Nam. Dặn dò xong, ông bèn hét lên một tiếng, gươm ấy liền hóa ra con rồng xanh bay thẳng đến nhà phương trượng của sư cụ.
Khi ấy, hòa thượng Huệ Nam thấy con rồng xanh bay liệng trên hư không, liền lấy ngón tay chỉ lên, tức thì con rồng xanh bèn hóa lại gươm, rồi rơi xuống cắm dưới ao bùn.
Ông Lữ Đồng Tân ngồi trên núi trông đợi hơn nửa ngày mà không thấy con rồng xanh trở về, bèn niệm chú thâu gươm lại mà không thấy gì!
Lúc ấy, hồn vía của ông sảng lạc, không biết tính sao, phải liều mạng chạy xuống chùa Huỳnh Long để tìm gươm báu.
Đến nơi, ông gặp Ngài Huệ Nam và hỏi rằng: “Xin hòa thượng trả gươm lại cho tôi”.
Sư cụ đáp: “Ai mượn gươm của ngươi mà ngươi đến đòi? Nó cắm dưới ao bùn kia, ngươi ra đó mà lấy!”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe nói, liền chạy ra ao, cúi xuống nắm gươm, ráng hết sức bình sinh mà nhổ lên, nhưng gươm chẳng nhúc nhích!
Sư cụ thấy vậy, bèn nói: “Ngươi muốn giết ta, ta chẳng trả gươm ấy lại cho ngươi. Ngươi có giỏi thì tự nhổ lấy!”.
Ông Lữ Đồng Tân bèn năn nỉ sư cụ: “Hòa thượng dùng phép thuật mà cắm trụ gươm ấy rồi, tôi làm sao nhổ lên nổi! Vậy xin hòa thượng có lòng từ bi, muốn trả gươm cho tôi thì xin nhổ lên giùm!”.
Sư cụ bèn đáp: “Ta có bốn câu kệ, nếu ngươi hiểu được thì ta trả gươm lại cho ngươi”.
Nói rồi, Ngài lấy một tờ giấy, vẽ một cái vòng. Trong vòng ấy, có chấm một điểm, rồi dưới cái vòng lại đề bốn câu kệ như sau:
Đầu gươm có đơn hẳn
Lòng đơn sẵn gươm rồi
Bằng ai hiểu nhơn ấy
Ắt thoát khỏi luân hồi.
Ông Lữ Đồng Tân xem đi xem lại một hồi lâu mà không hiểu chi cả. Hòa thượng thấy vậy, bèn niệm chú rằng: “Án Hộ Pháp thần linh tốc tốc hiện hình”. Niệm xong, ông Hộ Pháp hiện đến. Sư cụ bèn bảo rằng: “Ngài phải đem tên này giam cầm trong núi Khổn Ma Nham, mỗi ngày chỉ cho ăn một cái bánh thôi. Chừng nào nó tỏ ngộ được thiền cơ, Ngài dẫn nó tới đây cho ta hỏi”.
Ông Hộ Pháp phụng mạng, bảo ông Lữ Đồng Tân đi, ông dùng dằng không chịu đi. Ông Hộ Pháp bèn nói lớn rằng: “Đi mau, kẻo cái bảo xử của ta đây nặng hơn tám vạn bốn ngàn cân xán xuống một cái thì thịt xương ngươi nát như bùn!”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe nói thất kinh hồn vía, bèn riu ríu đi theo, không dám cãi nữa!
Một hôm, nhân lúc ông Hộ Pháp đi khỏi, ông Lữ Đồng Tân ở trong hang đá bèn tự nghĩ rằng: “Khi mình hạ san, thầy có căn dặn đừng có chọc ghẹo thầy chùa. Bởi vì mình dại, không nghe lời thầy, cho nên mới bị nạn như vậy! Còn ông hòa thượng nói rằng chừng nào mình tỏ ngộ được thiền cơ thì mới tha tội cho mình, mà biết đời kiếp nào mình mới tỏ ngộ được thiền cơ? Cổ nhân nói rằng: Tam thập lục kế dĩ đào vi thượng. Ở đây khổ cực lắm, chịu không nổi! Vậy mình tính việc trốn đi thì tiện hơn”.
Ông Lữ Đồng Tân tự nghĩ như vậy, rồi lén bò ra cửa hang, cởi mây bay về núi Chung Nam, vào quỳ trước mặt thầy mà thọ tội.
Ngài Hớn Chung Ly thấy ông trở về mà không có gươm báu của mình, nghe ông kể hết đầu đuôi tự sự, Ngài nổi giận mà mắng rằng: “Ta đã dặn dò ba chuyện mà ngươi đều phạm cả, lại còn bị người ta đánh u đầu, làm xấu hổ cho đạo. Ngươi còn mặt mũi nào mà về đây nữa?”.
Ông Lữ Đồng Tân cứ lạy hoài và thưa rằng: “Tội của con đã đáng rồi! Trăm lạy thầy dung thứ cho con và xin thầy dùng phương pháp chi mà thâu gươm báu về, chớ ông hòa thượng đã cắm dưới bùn rồi, con đọc chú thâu về không được!”.
Ngài Hớn Chung Ly quở mắng một hồi lâu, rồi viết một bức thư trao cho ông Lữ Đồng Tân, bảo đem đến chùa Huỳnh Long mà đưa cho hòa thượng Huệ Nam.
Sư cụ tiếp lấy thư và xé ra xem, thấy có vẽ một cái vòng, ở trên vòng thì chấm một điểm, ở dưới vòng thì có đề bốn câu kệ như sau:
Đơn vẫn là gươm
Đặng đơn biết gươm
Gươm vẫn là đơn
Đặng gươm biết đơn.
Sư cụ xem thơ xong, bèn nói với ông Lữ Đồng Tân: “Ta vì tưởng thầy của ngươi nên mới trả gươm ấy. Thôi, ngươi ra lấy đi!”.
Ông Lữ Đồng Tân bước ra ao mà nhổ gươm, thấy nhẹ bổng, cầm gươm trở vào lạy sư cụ và xin cho biết cái lý huyền diệu trong thơ.
Sư cụ hỏi: “Ngươi có chịu quy y Tam Bảo, ta sẽ truyền cho”.
Ông Lữ Đồng Tân liền đáp: “Tôi xin tình nguyện quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và nguyện làm đệ tử của hòa thượng”.
Sư cụ bảo ông quỳ xuống và hiệp chương tịnh tâm mà nghe mấy lời này: “Hôm trước, ngươi nói rằng một hột lúa đựng cả thế giới, ấy là nhỏ mà hàm lớn, nên ngoài cái vòng có một chấm. Còn ta thì nói rằng một hột lúa hóa ba ngàn thế giới, ấy là lớn mà hàm nhỏ, nên trong cái vòng có một chấm”.
Ông Lữ Đồng Tân nghe xong, liền hiểu được cái nhân tánh, tức thì làm một bài kệ và trình cho sư cụ xem:
Quăng bầu, ném dây, đập luôn đơn
Cái thuốc trường sanh cũng chán lờn
Từ gặp Huỳnh Long truyền phép Phật
Mới hay ngày trước lỗi đường chân. (hết trích)
Đây là Diệu lý dùng Môn An vị tương dung vi tế, ngay nơi tướng mà nói. Như một hạt cải là tướng nhỏ. Núi Tu Di là tướng lớn. Nói "tướng lớn" là Núi Tu Di, hay "tướng nhỏ" là hạt cải.- là do sự thấy biết lầm chấp do vô minh nên phân biệt sanh. Nếu có thể "quán thật tướng", thì thật tướng các pháp là vô tướng. (còn tiếp)
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3

10 Huyền Môn.- Bài 5.- Nhất thiết duy Tâm.

Theo kinh hoa Nghiêm .- Tất cả các Pháp Giới, hay Vũ trụ đều là hiện tướng của Tâm. Học về Pháp Giới Vũ Trụ cũng tức là học về Tâm.
Phật dạy:
Nhược nhân dục liễu tri,
tam thế nhất thiết Phật,
ưng quán pháp giới tánh,
nhất thiết duy tâm tạo
(若人欲了知、三世一切佛、應觀法界性、一切惟[唯]心造,)
Nghĩa:
nếu người muốn thông suốt,
ba đời tất cả Phật,
nên quán tánh pháp giới,
hết thảy do tâm tạo.
(K. Hoa Nghiêm)
Nhưng Tâm nào tạo ra được Vũ Trụ ?
+ Vọng Tâm ư ?
+ Chân Tâm ư ?
+ Như Tâm ư ?
+ Huyễn Tâm ư ?
+ Hay là Tâm nào khác ?
Tất cả các câu hỏi đó sẽ lần lượt giải trình ở.- Sự hình thành, an trụ, biến dị, hoại diệt v.v... các Bản Thể, hiện tượng, Như Pháp, Huyễn Pháp của Vũ Trụ đều theo những qui luật chứ không phải loạn khởi loạn diệt. Các qui luật mà Pháp Giới Vũ trụ theo đó vận hành, được Đức Phật dạy ở kinh hoa Nghiêm, qua 10 Huyền Môn. Như sau:
Có thể là hình ảnh về 1 người, đền thờ và văn bản cho biết 'TẤT ÇẢ DO TAM TẠO n'
Tất cả cảm xúc:
3

Thập Huyền Môn . Bài 4.- VTQ- 4 Pháp Giới.

 Các Pháp Giới trong Hoa Tạng giới là vô lượng vô số. Nhưng tựu chung. Chúng là các Thế giới Chủng (chủng loại khác nhau) có thể chia làm 4 Pháp Giới:

1. Sự Pháp Giới. 2. Lý Pháp Giới. 3. Lý Sự Pháp Giới. 4. Sự Sự Pháp Giới.
1/. Sự pháp giới: thế giới của sự vật như chúng ta vẫn thấy bằng giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp… Sự là sự vật, là tướng, là chân lý quy ước, tương đối. Đây là thế giới của hiện tượng.
Sự pháp giới thì người thường chúng ta đều kinh nghiệm. Đó là thế giới hiện bày cho mắt tai mũi lưỡi thân ý của chúng ta. Với cái nhìn của người thường, đây là thế giới của sự khác biệt, phần tử, hữu hạn, của không gian và thời gian. Như vậy đó cũng là thế giới của sanh tử, có sanh già bệnh chết, có khổ đau vô thường, có được có mất, có đến có đi…
Tóm lại, sự pháp giới là cảnh giới vật chất của chúng sanh chúng ta.- Đây là Thế Giới thế tục, vật chất, thuộc về chân lý quy ước, tương đối (thế đế hay tục đế).- Có thể tiếp xúc bằng 6 Giác quan.
2/. Lý pháp giới: thế giới của tánh, hay tánh Không, pháp tánh, Phật tánh, Như Lai tạng tánh… Đây là thế giới của bản thể, của chân lý tuyệt đối, tối hậu.(Do Thiền quán mà thấy được).
Lý pháp giới là thế giới của bản thể, bản tánh không sanh không diệt, không đến không đi, không dơ không sạch, không tăng không giảm… như hư không. Đây là chỗ hướng đến của mọi chúng sanh, của mọi triết học, mọi tôn giáo, mọi khoa học – đi tìm bản chất đầu tiên và cuối cùng của mọi sự, bản thể của mọi hiện tượng, và do đó thoát khỏi thế giới vô thường của sự vật và hiện tượng. Kinh Hoa Nghiêm, cũng như kinh Pháp Hoa, thường nói đến “thật tướng của tất cả các pháp”. Thật tướng là Lý, tất cả các pháp là Sự.
Trong Phật giáo, lý là tánh Không, Niết-bàn, Pháp thân, Như Lai tạng, Phật tánh, cái vô hạn, cái toàn thể, cái nền tảng của mọi sự. Mọi sự và chúng sanh từ đó xuất sanh, hiện hữu trong đó và tiêu tan trong đó. Lý là ba phương diện đã nói ở trước: tánh Không, quang minh, và như huyễn.
Lý là chân lý tuyệt đối và tối hậu.- Như các vị Thanh văn, Độc giác, Bồ Tát thấy được.
3/.Lý Sự vô ngại pháp giới: thế giới của sự đồng nhất, dung thông, tương tức tương nhập. tương dung tương nhiếp giữa tánh và tướng, giữa Không và sắc, giữa bản thể và hiện tượng.
Lý Sự vô ngại pháp giới là sự hòa nhập, hợp nhất giữa sự và lý, giữa sắc và Không, giữa sanh tử và Niết-bàn. Điều này là đặc trưng của Đại thừa. Ngay khi phát Bồ-đề tâm là đã có sự hòa nhập ấy. “Nguyện đạt đến giác ngộ” nghĩa là nguyện đạt đến chân lý tuyệt đối là tánh Không. “Để cứu giúp tất cả chúng sanh” nghĩa là vẫn ở trong sanh tử, trong chân lý tương đối mà hoạt động.- Đây là Cảnh giới tu chứng của hàng Đệ Tử Phật.
4/. Sự Sự vô ngại pháp giới: thế giới của sự tương tức tương nhập tương dung tương nhiếp giữa sự vật và sự vật, giữa tướng và tướng, giữa hiện tượng và hiện tượng.
Sự sự vô ngại pháp giới. Khi đã thấu đạt cùng tận lý tánh Không và cùng tận bản tánh của sự tướng, Khi tâm thanh tịnh ở mức độ vi tế nhất, thì lý sự vô ngại trở thành sự sự vô ngại. Pháp giới sự sự vô ngại được thấy rõ ràng từ địa thứ tám trở lên.
Tại sao sự vô ngại, tương nhập tương nhiếp với sự? Vì sự hay sắc thanh hương vị xúc pháp là vô biên, không có biên bờ, và vô lượng, không có hạn lượng.
“Sắc là vô biên. Tại sao thế? Sắc tiền tế, hậu tế, trung tế đều bất khả đắc. Sắc thọ tưởng hành thức là rộng lớn. Tại sao thế? Sắc thọ tưởng hành thức tiền tế, hậu tế, trung tế đều bất khả đắc.
Vì sắc vô lượng nên Bát-nhã ba-la-mật vô lượng, vì sắc lượng bất khả đắc vậy. Như hư không lượng bất khả đắc, cũng vậy, sắc lượng bất khả đắc. Hư không vô lượng nên sắc vô lượng. Vì sắc vô lượng nên Bát-nhã ba-la-mật vô lượng.
Sắc vô biên nên Bát-nhã ba-la-mật của Bồ-tát vô biên. Vì sao thế? Sắc tiền tế, hậu tế, trung tế đều bất khả đắc. Vì duyên tất cả các pháp vô biên nên Bát-nhã ba-la-mật vô biên”. (Đại Bát-nhã, phẩm Tán hoa).
Làm sao để thấy như vậy? Bằng tâm và mắt thanh tịnh mà kinh điển nói là “con mắt pháp thanh tịnh”. Tâm và mắt thanh tịnh đến đâu thì pháp giới Hoa Nghiêm hiện ra đến đó.
Để được tâm và mắt thanh tịnh, chúng ta thực hành tất cả pháp môn trong kinh Hoa Nghiêm, nghĩa là tất cả Phật pháp. Thực hành được nhiều pháp chừng nào càng tốt chừng ấy.
* Chữ “vô ngại” là một từ được nói đến nhiều trong kinh Hoa Nghiêm. Bốn pháp giới do Đại sư Đỗ Thuận (558-640), tổ sáng lập ra Hoa Nghiêm tông, nêu lên. Ba pháp giới đầu thường thấy trong các luận giải về các kinh Đại thừa, dù bằng những thuật ngữ khác. Đặc biệt, từ ‘pháp giới sự sự vô ngại’ là một sáng tạo đặc biệt của Đại sư Đỗ Thuận, nói lên cảnh giới tột bực và đặc trưng của kinh Hoa Nghiêm.
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
5

Thập Huyền Môn . Bài 3.- VTQ- Tỳ Lô Giá Na Phật.

* Thế Giới Hoa Tạng có đức Tỳ Lô giá Na làm giáo chủ.- Mà Chư Tổ chỉ ra Tỳ Lô là Tánh Hải của Chư Phật.
Kinh hoa Nghiêm diễn tả Hoa Tạng Thế giới:
Tổng đại liên hoa tên là "Nhuy hương tràng" với Tràng này phía rốt dưới có Núi Tu Di và nhiều phong luân bằng số vi trần, mà lớp dưới hết là lớp phong luân thứ nhứt tên là "bình đẳng trụ", lớp này nó duy trì lên trên tất cả Bửu diệm xí nhiên trang nghiêm.... Cho đến lớp phong luân rốt trên là "Thù thắng uy quang tạng", lớp này nó hay duy trì "Biển Phổ quang ma ni hương thủy", biển nầy là "tổng hương thủy hải" ở dưới Đại liên hoa nhụy hương tràng. (lượt trích)
Tỳ Lô tánh hải có nghĩa là:
(毗盧性海): biển tánh Tỳ Lô, nghĩa là thể tánh của đức Phật Tỳ Lô Giá Na (s: Vairocana, 毘盧遮那) rộng lớn vô hạn, giống như biển lớn; còn gọi là Tỳ Lô Tạng Hải (毘盧藏海). Tỳ Lô là pháp thân như lai, nên Tỳ Lô tánh hải cũng thông cả Pháp Tánh Giới (法性界), Phật Tánh Giới (佛性界). Như trong Cổ Tôn Túc Ngữ Lục (古尊宿語錄, CBETA No. 1315) quyển 30 có câu: “Tỳ Lô tánh hải, tự tha vô ngại, mê ngộ ngộ mê, tương vong tương tại, nhất trần bách ức, bách ức nhất trần, bôn tẩu trần sát, bất động bản thân (毗盧性海、自他無礙、迷悟悟迷、相亡相在、一塵百億、百億一塵、奔走塵剎、不動本身, biển tánh Tỳ Lô, ta người không ngại, mê ngộ ngộ mê, cùng mất cùng còn, một trần trăm ức, trăm ức một trần, chạy khắp bụi trần, chẳng động bản thân).”
Ở Nhị Khoá Hiệp giải, có lời giảng rằng:
Thế thì, giữa Hoa tạng có vô lượng chư Phật, mỗi Phật, mỗi Phật đều là lẫn khắp nhau, lẫn ứng hiện nhau, thì Hoa tạng đây tức là diệu cảnh diệu tâm của mỗi mỗi đức Phật mà cũng là những diệu cảnh diệu tâm nơi nhứt tâm của ta với người vậy thôi.
Nên kẻ tu hành nếu y theo tổng đồ để quán xét nhìn tưởng, sự quán tưởng dần dần thuần thục, thì tâm lượng rỗng sáng rộng ra, thế với Hoa tạng huyền môn, Tỳ lô tánh hải ta tự lẫn suốt được.(hết trích)
Mỗi một Phật sát đều có những vật trang nghiêm nhiều bằng số vi trần; mỗi một món trang nghiêm đều phóng ra những tia sáng nhiều nhiều số vi trần; mỗi một ánh sáng đều hiện ra những Hoa tạng thế giới trên và những sự bất khả tư nghị trong chốn sát hải cả ba đời. Tỷ như nghìn mặt gương trung trùng đối diện nhau, lẫn lẫn chói dọi khắp chiếu suốt nhau.
Song, với Hoa tạng và Tâm hải ấy, toàn là cái nhứt tâm của người đương đời, thế thì tâm đủ pháp giới, mà pháp giới tức là tâm, vì đều rộng lớn hòa lẫn nhau vô cùng vô tận, chính thật đây bảo: "Hoa tạng huyền môn Tỳ Lư tâm (tánh) hải".
Thế mới biết:
Xứ xứ tổng thành Hoa Tạng giới
Tòng giao hà xứ bất Tỳ Lô🌿
🌿Chốn chốn đều là Hoa Tạng giới
Nơi nào chẳng phải chỗ Tỳ Lô🌿
HT. Thích Đức Niệm nói:
Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.
Hoa Nghiêm tiếng Phạn là Avatamsaka, có nghĩa là đóa hoa thanh khiết tuyệt đẹp nhất trần gian, ngát hương khắp mười phương các cõi pháp giới.
Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với Tâm là một, vạn pháp đồng nhất thể. Tâm thanh tịnh thì thấu đạt chơn lý Phật tánh, suốt thông pháp giới vô ngại, thể nhập bất tư nghì giải thoát hạnh môn. Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng-sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng trong nước. Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả. Đó là bản tánh vô ngại của Tâm. Bản tánh chơn tâm suốt thâu vạn pháp hữu tình và vô tình; lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng; lấy xứng tánh bất tư nghì vô ngại giải thoát làm thể. Đó là ý nghĩa căn cốt của Kinh Hoa Nghiêm.(hết trích)
Biết rõ tất cả pháp. Đều chẳng có tự tánh. Hiểu pháp tánh như vậy. Tức thấy Lô Xá Na.
* Tỳ Lô Giá Na là Pháp Thân của Phật.- Cũng tức là Pháp Giới, là Vũ Trụ.- Nên nói: Đức Tỳ Lô thân phắp tất cả mọi chỗ, mà chỗ của Phật ở gọi là Thường tịch Quang tịnh Độ
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3