Thứ Ba, 19 tháng 3, 2024

Duyên Khởi. Bài 9.- 12 ND. Hành.

Giáo lý Tam Pháp Ấn. Đức Phật dạy:
Chư “Hành” vô thường- Chư pháp vô ngã- Niết Bàn tịch tịnh.
“Hành” là từ gọi cho mọi hiện tượng vận hành u uẩn, Đây là Pháp Duyên Sanh, đều bị sinh diệt nên nói: “Chư hành vô thường”.
Đặc tính của Hành Uẩn: (trích Phật pháp & cuộc sống)
• Trong 5 uẩn thì hành uẩn là cội nguồn phát sinh ra ý niệm, dòng tư tưởng sinh diệt xuất phát từ hành uẩn tuôn chảy không ngừng .
• Hành uẩn là những hiện tượng tâm lý còn được gọi là tâm sở. Duy thức học chia thành 51 tâm sở gồm cả thọ, tưởng, tức là cảm giác và tri giác cũng gọi là hành.
• Hành uẩn cũng có sáu loại do sự tiếp xúc giữa sáu giác quan và sáu đối tượng, hành còn gọi là Tư. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân này: Sắc tư, thinh tư, hương tư, vị tư, xúc tư và pháp tư. Đây gọi là hành”.
• Hành uẩn bao gồm mọi hiện tượng tâm lý, Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo. Phàm hành gì thuộc quá khứ, hiện tại hay vị lai; Nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là hành uẩn”. Tất cả những hiện tượng tâm lý, sinh lý hiện tại là kết quả của hành trong quá khứ.
• Hành tạo nên một năng lực tiềm ẩn điều khiển thúc đẩy ở trong chiều sâu tâm thức. Trong kinh thường gọi là t“phiền não tùy miên”, hay trong luận gọi là “câu sanh phiền não”. Chúng làm nền tảng và lực đẩy để hình thành một năng lực hành mới, dẫn dắt con người đi tới tương lai.
• Hành uẩn tồn tại nhờ các điều kiện do duyên sinh nên chúng vô thường, trống rỗng và biến động bất tận.
• Hành là sự biến chuyển thay đổi của tâm niệm. Con người lúc nào cũng suy nghĩ về quá khứ, hiện tại và vị lai. Suy nghĩ về mình, về người, về giàu, về nghèo khó, về công danh, về sự nghiệp, về sắc diện, về tinh thần, về vật chất…Ý niệm sau thay thế ý niệm trước và cứ thế mà sanh khởi liên tục trong tâm của con người .
• Hành uẩn là nguyên nhân phát sinh ra ý niệm làm che lấp chơn tâm và Phật tánh.
• Đối với người tu Phật thì hành uẩn là quan trọng . Vì nếu phá được hành uẩn là phá được nguồn gốc của tất cả những niệm khởi. Phá được vọng niệm thì lúc đó chơn tâm, Phật tánh mới hiện bày.
• Tướng hành uẩn là tướng giả dối. Nó không phải là tánh của nhân duyên và cũng không phải là tánh của tự nhiên hợp thành. Đức Phật muốn chúng sinh thấy rằng hành uẩn chỉ là tướng giả dối do duyên với ngoại cảnh mới có.
• Hành uẩn gây nên sự hỗn loạn của trí. Nó đem những ý nghĩ tương tự lặp đi lặp lại trong đầu và gây phiền não. Đau khổ đến ngay khi chúng ta lo lắng những việc tương lai như: Khi nào kết hôn, khi nào có con, bao giờ thì sẽ có tiền v.v. Cái trí cứ lẩn quẩn đeo đuổi những sự kiện hoàn toàn thuộc về một thời khắc khác. Rồi nó lôi kéo, thôi thúc ta đem chúng ra sống trong hiện tại.
Sau đây là những ví dụ về các suy nghĩ của cái trí bị sai lệch. Các tư tưởng này tự bản thân nó không gây phiền não. Nhưng khi cái trí chấp chặt vào chúng. Ứng dụng bừa bãi và bất chấp mọi lý lẽ thì sẽ kéo theo phiền não ngay tức thì. Các ví dụ dưới đây cho thấy tác động của hành uẩn vào sự vận hành của cái trí.
Khi trí đang quan sát các hiện tượng và các sự việc mới. Nó tìm trong ký ức, nơi mà nó đã tích trữ mọi điều: Từ nghe, thấy, trải nghiệm đến các thói quen, quy ước và mong muốn. Sau đó nó khư khư áp đặt những quan niệm và giá trị cũ lên sự việc mới. Rồi nếu thế giới chung quanh không thuận theo mong đợi và sự lý giải của nó, cái trí sẽ trở nên khó chịu. Nó có thể than phiền hay thậm chí là nổi giận.
• Nói tóm lại, đây là cách mà qua sự vận hành rối loạn, hành uẩn tạo nên những đau khổ cho chúng ta:
• Nó bận rộn lặp đi lặp lại những phiền não từ quá khứ.
• Nó đắm chìm trong lo lắng, sợ hãi, và lẩn quẩn mơ tưởng việc tương lai.
• Nó khắc khoải, vật vã trong việc ứng dụng một cách cứng nhắc và bất kể lý lẽ các quan niệm, nhân sinh quan mà xã hội loài người đã đặt ra.
• Nó phán đoán, phân tích, nhục mạ, tranh cãi, xây dựng các hình ảnh và cảm xúc của bạo động, oán hờn, ganh tị, v.v…
• Nó cũng là tác nhân mang nhiều bệnh hoạn và đau đớn cho cơ thể vì sự miên man tai hại kia cứ liên tục chuyển tải sự nhiễu loạn của tư tưởng đến các tế bào.
Sau đây là những ví dụ về các suy nghĩ của cái trí bị sai lệch. Các tư tưởng này tự bản thân nó không gây phiền não. Nhưng khi cái trí chấp chặt vào chúng. Ứng dụng bừa bãi và bất chấp mọi lý lẽ thì sẽ kéo theo phiền não ngay tức thì. Các ví dụ dưới đây cho thấy tác động của hành uẩn vào sự vận hành của cái trí.
Khi trí đang quan sát các hiện tượng và các sự việc mới. Nó tìm trong ký ức, nơi mà nó đã tích trữ mọi điều: Từ nghe, thấy, trải nghiệm đến các thói quen, quy ước và mong muốn. Sau đó nó khư khư áp đặt những quan niệm và giá trị cũ lên sự việc mới. Rồi nếu thế giới chung quanh không thuận theo mong đợi và sự lý giải của nó, cái trí sẽ trở nên khó chịu. Nó có thể than phiền hay thậm chí là nổi giận.
Hành uẩn gây nên sự hỗn loạn của trí. Nó đem những ý nghĩ tương tự lặp đi lặp lại trong đầu và gây phiền não. Đau khổ đến ngay khi chúng ta lo lắng những việc tương lai như: Khi nào kết hôn, khi nào có con, bao giờ thì sẽ có tiền v.v. Cái trí cứ lẩn quẩn đeo đuổi những sự kiện hoàn toàn thuộc về một thời khắc khác. Rồi nó lôi kéo, thôi thúc ta đem chúng ra sống trong hiện tại.
Khi một người lẩm bẩm nói một mình suốt ngày thì ta cho rằng người ấy mắc bệnh tâm thần. Còn bản thân ta và tất cả mọi người còn lại thì cũng nói suốt ngày đêm, không ngừng nghỉ. Có khác chăng là ta nói âm thầm trong đầu, không phát thành lời mà thôi.
Đây là một căn bệnh trầm kha nhưng vì mọi người ai cũng bị mắc phải bệnh này nên tưởng rằng đây là một trạng thái “bình thường”. Điều này cho thấy sự thao túng của Hành uẩn khi nó liên tục vận hành và điều khiển ta. Nó thúc đẩy từng ý tưởng, lời nói, việc làm, cảm xúc mà ta tưởng rằng ta làm, ta muốn, ta cảm nhận hoặc ta đau khổ.( hết trích)
Có thể là hình ảnh về bản thiết kế và văn bản cho biết 'Ngũ uẩn Sắc Thọ Tưởng Hành Thức Nhãn thức Tâm Nhĩ thức Bát Thức Địa Hỏa Thủy Phong (Thân vật lý tứ đại) Tâm Thức Thiệt thức Tỷ thức Thân Thức Ý thức Mạt na thức A Lại da thức'
Tất cả cảm xúc:
5

Duyên Khởi. Bài 9.- 12 ND. 1.Vô Minh

Trong 12 Nhân Duyên. Tổ Đức phân tích:
Vô minh, Ái, Thủ tam PHIỀN NÃO.
Hành, Hữu nhị chi thuộc NGHIỆP đạo.
Tùng Thức chí Thọ tinh Sinh, Tử,
Thất chi đồng danh nhất KHỔ đạo !
*** Vô Minh là gì ?
Đáp: Là Không sáng tỏ trong sự Thấy- Biết.
* Ở kinh Thủ Lăng Nghiêm. Đức Phật dạy; "Tri kiến lập tri, là gốc của Vô minh. Tri kiến không chấp vào tri kiến là Gốc Niết Bàn (Minh).
Nghĩa là các sự Thấy, nghe, hay, biết của chúng ta.- Nếu trú chấp vào THỨC (chủ yếu vào 6 Thức để phân biệt).- Đó là cội gốc của Vô minh.
*** Minh là gì ?
* Ở kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Đức Phật dạy: Ta vì một đại sự nhân duyên mà hiên ra nơi đời.- Đó là vì KHAI- THỊ- NGỘ- NHẬP PHẬT TRI KIẾN cho chúng sanh.-
Minh .- tức là TRÍ là PHẬT TRI KIẾN.
Mục đích Tu của đệ tử Phật là: Chuyển hóa Vô Minh, thành MINH . Chuyển THỨC thành TRÍ.
Khi không Vô Minh thì 11 chi còn lại cũng thành Trí Huệ, thành Minh Triết, Thành Vô Sanh. (tất cả các đặc tính Trí Huệ, Minh Triết, Vô Sanh gọi chung là Phật)
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
3

Thứ Ba, 27 tháng 2, 2024

Duyên Khởi. Bài 8.- Vô Vi

Đối với Tôn Giáo khác.- Vô Vi là chỉ cho cái huyền bí, siêu nhiên của Đạo (thuộc về Huyền thuật) ! Giáo lý Phật thì khác hẳn cái nghĩa Vô Vi này.
* Với Đạo Phật:
Vi tức là Niết Bàn, là Bản Thể các Pháp, là Thật Tánh của các Pháp. Cũng tức là Thật Tướng, là Bản Thể của Pháp Duyên Khởi.
(theo thiền sư Ajahn Sumedho, Tâm và đạo, )
Thế thì pháp vô vi là gì? Bạn không thể thấy, ngửi, nếm, xúc chạm, nghe, hay suy nghĩ về pháp vô vi nhưng nó là nơi mà tất cả pháp hữu vi hội tụ về. Nó không thuộc về cảm giác. Nó là sự an tịnh. Nó không sinh khởi hay hoại diệt, không có sự bắt đầu hay chấm dứt. Chính nó là cội nguồn mà từ đó tất cả các pháp hữu vi được sinh khởi. Khi để tất cả sự việc hiện lên trong tâm và ra đi, bạn đang để cho chúng trở về với pháp vô vi hay pháp không điều kiện (tức là nhân duyên khởi).
Thế thì mục tiêu tối hậu của con người là thấy và biết rằng các pháp điều kiện (nhân duyên sanh) chỉ là những điều kiện, và pháp không điều kiện (vô vi) chỉ là pháp không điều kiện..... Và đạo Phật là chiếc xe, là quy ước, là cách thức, là truyền thống giúp bạn phá vỡ và đi xuyên qua những ảo tưởng, thoát khỏi những trói buộc của những điều kiện của thế giới luân hồi sinh tử.
Khi thấy được pháp không điều kiện, hay pháp vô vi, hay Niết bàn, lúc đó, bạn đang ở trạng thái vô sanh và bất tử. (hết trích)
VÔ VI nghĩa là không tạo tác. Trái lại với pháp hữu vi, các pháp không do nhân duyên sinh, không sinh diệt biến đổi, không bị chi phối bởi các tướng thành trụ hoại không, sinh trụ dị diệt, hay sinh lão bịnh tử, đều là pháp vô vi.
Theo luận Câu Xá thuyết minh, có 3 pháp thuộc về loại pháp vô vi:
1/. Hư không vô vi: Tất cả Pháp là Duyên khởi- nên Bản Thể là từ KHÔNG mà sanh.- Đó là Hư Không Vô Vi. Cũng cần để ý, cái hư không trong quan niệm thông thường, cái khoảng không chúng ta thấy trước mặt, không phải là hư không vô vi.- Vấn đề này luận Câu Xá nói: Nó cũng là một loại sắc pháp (hữu vi) hiện hữu trong không gian mà thôi, có sinh có diệt, có thay đổi biến hóa, vẫn nằm trong khái niệm của con người.- "Hư không vô vi" vượt ra ngoài khái niệm, chúng ta không thể dùng ý thức của con người mà biết được. (mà phải chuyển Thức thành Trí mới cảm nhận).
2/. Trạch diệt vô vi: Do dùng trí tuệ quán chiếu để diệt trừ mọi sự ràng buộc của phiền não vô minh mà hiển bày cảnh giới không tịch (niết bàn). Cảnh giới không tịch này xưa nay vốn hằng hữu, bất sinh bất diệt – cho nên gọi là vô vi; nhưng chỉ vì vô minh phiền não che khuất mà chưa hiển lộ ra được; nay nhờ tuệ giác quét sạch vô minh mà nó lại hiện rõ ra, cho nên gọi là “trạch diệt vô vi”.
3/. Phi trạch diệt vô vi: Đây là pháp vô vi không cần phải dùng trí tuệ tiêu diệt vô minh mới hiển bày, mà là thể tính không tịch vốn có hiển nhiên (Vô Sanh). đã không sinh thì tất nhiên cũng không diệt. Pháp không sinh không diệt là pháp vô vi. Pháp vô vi này không phải do dùng trí tuệ dứt trừ lậu hoặc để chứng đắc, nên gọi là “phi trạch diệt vô vi”.
Theo Duy Thức Học, có 6 pháp Vô Vi:
Đó là:
1/Hư không vô vi: không ngã không pháp rời các cấu nhiễm rỗng rang như hư không, chơn như, pháp tánh. Không dùng ý thức suy nghĩ, nó phi sắc phi tâm, không cấu tịnh, sanh, diệt và tăng giảm nên gọi là vô vi.
2/Trạch diệt vô vi: dùng trí huệ vô lậu lựa chọn diệt trừ nhiễm ô, nên chơn như vô vi mới hiện
3/Phi trạch diệt vô vi: không cần lựa chọn diệt trừ các phiền não, có 2:
a/Tánh chơn như vốn thanh tịnh, không cần lựa chọn, diệt trừ phiền não nhiễm ô nó mới có
b/Các pháp hữu vi thiếu duyên không sanh khởi, nên pháp vô vi được hiện nên gọi là phi trạch diệt
4/Bất động diệt vô vi: đệ tứ thiền lìa được 3 định dưới ra khỏi tam tai (đau binh, thủy, hoả) không bị mừng, giận, ghét, thương,.. làm chao động nơi tâm
**BẤT ĐỘNG DIỆT VÔ VI:Nghĩa là Diệt Đế vốn Như Như Bất Động (Thường trụ - Vô Sanh).
*Thế nào là Bất Động ?
Nghĩa là thể Tâm Lặng yên không đến không đi, không qua không lại .
Niết Bàn Tĩnh lặng bất sanh bất diệt, bất tăng bất giảm.
Bởi vì Tâm Vốn đã cùng khắp,nên không thể sanh diệt, đến đi, thêm bớt.
Niết Bàn Vô Trụ Xứ nên Bất Động Như như.
Triệu Luận viết:
BÀI LUẬN THỨ NHẤT
VẬT BẤT THIÊN
Phàm phu vọng thấy các pháp hình như có lưu động và biến đổi; nếu lấy Bát Nhã mà quán thì liền thấy ngay thật tướng của các pháp ngay đó thể tánh tịch diệt chơn thường, chẳng có chút tướng lưu động hay biến đổi, nên nói chẳng có một pháp được động chuyển là vậy.
Vì duyên sanh nên tánh không, nên mỗi pháp ngay đó vốn không biến đổi, chẳng phải tướng biến đổi mà tánh chẳng biến đổi (nghĩa là tánh với tướng chẳng khác).
Thấy được mỗi pháp không biến đổi, nên tức vật tức chân, chân thì chẳng có một pháp nào dính dáng đến tình cảm, theo đó mà quán tục thì tục tức chân vậy.
Vì do toàn lý thành sự, sự sự đều chân, thì thật tướng của các pháp ngay đó đều được hiển hiện rồi.
lại nói:
Gió bão bay núi mà thường tịnh
Nước sông đổ gấp mà chẳng trôi
Bụi trần lăng xăng mà chẳng động
Trăng qua bầu trời mà chẳng đi.
* Đây là ý nghĩa bất động diệt Vô Vi
5/Thọ tưởng diệt vô vi: khi được diệt tận định, diệt trừ thọ và tưởng tâm sở nên gọi thọ tưởng diệt vô vi
6/Chân như vô vi: không phải vọng gọi là Chơn (biến kế sở chấp) không điên đảo gọi là Như (y tha khởi) tức là thật tánh của các pháp (viên thành thật)
Theo Luận Hiển Dương Thánh giáo, có 8 pháp Vô Vi:
Vô vi có tám loại: hư không, phi trạch diệt, trạch diệt, bất động, tưởng thọ diệt, thiện pháp chân như, bất thiện pháp chân như, vô ký pháp chân như.
1. Hư không: Là đối tượng của tâm và tâm pháp, tức cảnh giới đối trị ngoại sắc
2. Phi trạch diệt: Là nhân duyên chưa tập hợp, ở khoảng giữa ấy, các hành không khởi diệt, nhưng chẳng phải ly hệ.
.
3. Trạch diệt: Là do phương tiện tuệ mà các hành hữu lậu hoàn toàn không khởi diệt, và đó là ly hệ.
4. Bất động: Là rời ý muốn trú cõi Biến tịnh, đắc đệ tứ tĩnh lự, ở khoảng giữa ấy, ly hệ đối với khổ lạc.
5. Tưởng thọ diệt: Là rời ý muốn trú cõi Vô sở hữu xứ, nhập diệt tận định, ly hệ vì tâm và tâm pháp không thường hiện hành bị diệt, và vì một phần tâm và tâm pháp thường hiện hành bị diệt.
6. Thiện pháp chân như: Là cảnh giới thanh tịnh nơi thiện pháp
7. Bất thiện pháp chân như: Là cảnh giới thanh tịnh nơi bất thiện pháp.
8. Vô ký pháp chân như: Là cảnh giới thanh tịnh nơi vô ký pháp. Lại nữa, năm pháp như vậy (tâm, tâm sở hữu pháp, sắc pháp,bất tương ưng hành pháp, vô vi) (hết trích)
* Vô Vi tìm ở đâu ?
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
Nguyễn Ngọc Hùng và 2 người khác

Duyên Khởi. Bài 7.- Hữu Vi

Thế nào là "Pháp Hữu Vi" ?
- Pháp hữu vi là pháp do nhân duyên hòa hợp vọng sanh, do nhân duyên sanh nên do nhân duyên diệt. Pháp do nhân duyên mới có nên là vô ngã, vì vô ngã nên vô thường, vì vô thường nên khổ, vì khổ nên bất tịnh (không ưng ý)
- Pháp Hữu Vi là những pháp do các duyên giả hợp mà có ra. Như cái nhà, chiếc xe, cây cối, con người, cầm thú v.v....
- Tất cả Pháp Hữu Vi đều do duyên hợp mà sanh nên chúng không thể độc lập mà trụ, sẽ theo duyên mà dị và hết duyên thì diệt.
- Hữu vi tiếng (有爲) Phạm: Saôskfta. Pàli:Saíkhata. Cũng gọi Hữu vi pháp. Pháp do tạo tác mà có. Chỉ chung cho các hiện tượng do nhân duyên hòa hợp mà được tạo ra. Cũng tức là tất cả hiện tượng trong quan hệ hỗ tương, sinh diệt biến hóa, lấy 4 tướng hữu vi sinh, trụ, dị, diệt làm đặc trưng. Ngược lại, pháp nào vĩnh viễn bất biến và tồn tại tuyệt đối thì gọi là Vô vi pháp.
- Pháp Hữu Vi theo duyên mà sanh, trụ, dị, diệt (thành, trụ, hoại, không), nên gọi là KHÔNG CÓ TỰ TÁNH. Chúng vô thường, biến ão không bền chắc.
Kinh Kim Cang Bát nhã dạy:
“Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.”
Dịch nghĩa:
Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng, huyễn, bọt, bóng,
Như sương, như chớp loé,
Hãy quán chiếu như thế.
- Theo Câu xá luận quang kí quyển 5, thì nhân duyên tạo tác gọi là Vi , còn các pháp sắc, tâm từ nhân duyên, có sự tạo tác của nhân duyên, cho nên gọi là Hữu vi, do đó, Hữu vi cũng là tên khác của pháp duyên khởi.
Theo Tự điển Phật học online:
* Pháp hữu vi có thể chia ra 3 loại gọi là Tam hữu vi, đó là: Sắc pháp (vật chất), Tâm pháp (tâm) và Phi sắc phi tâm pháp (pháp bất tương ứng).
* Pháp hữu vi là pháp vô thường, chuyển biến, đổi dời trong từng sát na, vì thế cũng gọi là Hữu vi chuyển biến. Sinh, trụ, dị, diệt (Tứ tướng hữu vi) là đặc trưng căn bản của các pháp hữu vi, cũng có thuyết hợp 2 tướng trụ, dị làm một mà lập Tam tướng hữu vi.
* Tất cả các pháp hữu vi cuối cùng sẽ bị lìa bỏ mà đến Niết bàn, cho nên gọi là Hữu li. 4. Hữu sự: Sự là nhân, nghĩa là các pháp hữu vi đều từ nhân mà sinh ra, cho nên gọi là Hữu sự. Lại nữa, pháp hữu vi phải nhờ quan hệ nhân quả mới thành lập được, như vậy, phàm là pháp hữu vi thì nhất định sẽ sinh ra quả, cho nên Hữu vi cũng được gọi là Hữu quả. Ngoài ra, Hữu vi còn có tên khác là Hữu sát na vì nó có tính chất sinh diệt đổi dời trong từng sát na. (hết trích)
Tóm lại: Hữu Vi Pháp là Pháp do nhân duyên sanh, là HIỆN TƯỢNG của Chân Như Tâm. Tánh chất của Pháp Hữu Vi là: Có Sanh- có diệt. có Cấu- có Tịnh. có Tăng- có Giảm. có Đến- có Đi (Vô thường, khổ, bất tịnh).
* Hữu vi cũng là tên khác của pháp duyên khởi.
* Chúng sanh trú chấp Hữu Vi Pháp, sống bằng Hữu Vi Pháp, bị Hữu Vi Pháp chi phối.- Nên phải chịu sanh tử luận hồi ưu bi khổ não.
* Tất cả các pháp hữu vi cuối cùng sẽ bị lìa bỏ mà đến Niết bàn,
Không có mô tả ảnh.
Tất cả cảm xúc:
Bạn và 1 người khác