Giáo lý Tam Pháp Ấn. Đức Phật dạy:
Chư “Hành” vô thường- Chư pháp vô ngã- Niết Bàn tịch tịnh.
“Hành” là từ gọi cho mọi hiện tượng vận hành u uẩn, Đây là Pháp Duyên Sanh, đều bị sinh diệt nên nói: “Chư hành vô thường”.
Đặc tính của Hành Uẩn: (trích Phật pháp & cuộc sống)
• Trong 5 uẩn thì hành uẩn là cội nguồn phát sinh ra ý niệm, dòng tư tưởng sinh diệt xuất phát từ hành uẩn tuôn chảy không ngừng .
• Hành uẩn là những hiện tượng tâm lý còn được gọi là tâm sở. Duy thức học chia thành 51 tâm sở gồm cả thọ, tưởng, tức là cảm giác và tri giác cũng gọi là hành.
• Hành uẩn cũng có sáu loại do sự tiếp xúc giữa sáu giác quan và sáu đối tượng, hành còn gọi là Tư. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân này: Sắc tư, thinh tư, hương tư, vị tư, xúc tư và pháp tư. Đây gọi là hành”.
• Hành uẩn bao gồm mọi hiện tượng tâm lý, Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo. Phàm hành gì thuộc quá khứ, hiện tại hay vị lai; Nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là hành uẩn”. Tất cả những hiện tượng tâm lý, sinh lý hiện tại là kết quả của hành trong quá khứ.
• Hành tạo nên một năng lực tiềm ẩn điều khiển thúc đẩy ở trong chiều sâu tâm thức. Trong kinh thường gọi là t“phiền não tùy miên”, hay trong luận gọi là “câu sanh phiền não”. Chúng làm nền tảng và lực đẩy để hình thành một năng lực hành mới, dẫn dắt con người đi tới tương lai.
• Hành uẩn tồn tại nhờ các điều kiện do duyên sinh nên chúng vô thường, trống rỗng và biến động bất tận.
• Hành là sự biến chuyển thay đổi của tâm niệm. Con người lúc nào cũng suy nghĩ về quá khứ, hiện tại và vị lai. Suy nghĩ về mình, về người, về giàu, về nghèo khó, về công danh, về sự nghiệp, về sắc diện, về tinh thần, về vật chất…Ý niệm sau thay thế ý niệm trước và cứ thế mà sanh khởi liên tục trong tâm của con người .
• Hành uẩn là nguyên nhân phát sinh ra ý niệm làm che lấp chơn tâm và Phật tánh.
• Đối với người tu Phật thì hành uẩn là quan trọng . Vì nếu phá được hành uẩn là phá được nguồn gốc của tất cả những niệm khởi. Phá được vọng niệm thì lúc đó chơn tâm, Phật tánh mới hiện bày.
• Tướng hành uẩn là tướng giả dối. Nó không phải là tánh của nhân duyên và cũng không phải là tánh của tự nhiên hợp thành. Đức Phật muốn chúng sinh thấy rằng hành uẩn chỉ là tướng giả dối do duyên với ngoại cảnh mới có.
• Hành uẩn gây nên sự hỗn loạn của trí. Nó đem những ý nghĩ tương tự lặp đi lặp lại trong đầu và gây phiền não. Đau khổ đến ngay khi chúng ta lo lắng những việc tương lai như: Khi nào kết hôn, khi nào có con, bao giờ thì sẽ có tiền v.v. Cái trí cứ lẩn quẩn đeo đuổi những sự kiện hoàn toàn thuộc về một thời khắc khác. Rồi nó lôi kéo, thôi thúc ta đem chúng ra sống trong hiện tại.
Sau đây là những ví dụ về các suy nghĩ của cái trí bị sai lệch. Các tư tưởng này tự bản thân nó không gây phiền não. Nhưng khi cái trí chấp chặt vào chúng. Ứng dụng bừa bãi và bất chấp mọi lý lẽ thì sẽ kéo theo phiền não ngay tức thì. Các ví dụ dưới đây cho thấy tác động của hành uẩn vào sự vận hành của cái trí.
Khi trí đang quan sát các hiện tượng và các sự việc mới. Nó tìm trong ký ức, nơi mà nó đã tích trữ mọi điều: Từ nghe, thấy, trải nghiệm đến các thói quen, quy ước và mong muốn. Sau đó nó khư khư áp đặt những quan niệm và giá trị cũ lên sự việc mới. Rồi nếu thế giới chung quanh không thuận theo mong đợi và sự lý giải của nó, cái trí sẽ trở nên khó chịu. Nó có thể than phiền hay thậm chí là nổi giận.
• Nói tóm lại, đây là cách mà qua sự vận hành rối loạn, hành uẩn tạo nên những đau khổ cho chúng ta:
• Nó bận rộn lặp đi lặp lại những phiền não từ quá khứ.
• Nó đắm chìm trong lo lắng, sợ hãi, và lẩn quẩn mơ tưởng việc tương lai.
• Nó khắc khoải, vật vã trong việc ứng dụng một cách cứng nhắc và bất kể lý lẽ các quan niệm, nhân sinh quan mà xã hội loài người đã đặt ra.
• Nó phán đoán, phân tích, nhục mạ, tranh cãi, xây dựng các hình ảnh và cảm xúc của bạo động, oán hờn, ganh tị, v.v…
• Nó cũng là tác nhân mang nhiều bệnh hoạn và đau đớn cho cơ thể vì sự miên man tai hại kia cứ liên tục chuyển tải sự nhiễu loạn của tư tưởng đến các tế bào.
Sau đây là những ví dụ về các suy nghĩ của cái trí bị sai lệch. Các tư tưởng này tự bản thân nó không gây phiền não. Nhưng khi cái trí chấp chặt vào chúng. Ứng dụng bừa bãi và bất chấp mọi lý lẽ thì sẽ kéo theo phiền não ngay tức thì. Các ví dụ dưới đây cho thấy tác động của hành uẩn vào sự vận hành của cái trí.
Khi trí đang quan sát các hiện tượng và các sự việc mới. Nó tìm trong ký ức, nơi mà nó đã tích trữ mọi điều: Từ nghe, thấy, trải nghiệm đến các thói quen, quy ước và mong muốn. Sau đó nó khư khư áp đặt những quan niệm và giá trị cũ lên sự việc mới. Rồi nếu thế giới chung quanh không thuận theo mong đợi và sự lý giải của nó, cái trí sẽ trở nên khó chịu. Nó có thể than phiền hay thậm chí là nổi giận.
Hành uẩn gây nên sự hỗn loạn của trí. Nó đem những ý nghĩ tương tự lặp đi lặp lại trong đầu và gây phiền não. Đau khổ đến ngay khi chúng ta lo lắng những việc tương lai như: Khi nào kết hôn, khi nào có con, bao giờ thì sẽ có tiền v.v. Cái trí cứ lẩn quẩn đeo đuổi những sự kiện hoàn toàn thuộc về một thời khắc khác. Rồi nó lôi kéo, thôi thúc ta đem chúng ra sống trong hiện tại.
Khi một người lẩm bẩm nói một mình suốt ngày thì ta cho rằng người ấy mắc bệnh tâm thần. Còn bản thân ta và tất cả mọi người còn lại thì cũng nói suốt ngày đêm, không ngừng nghỉ. Có khác chăng là ta nói âm thầm trong đầu, không phát thành lời mà thôi.
Đây là một căn bệnh trầm kha nhưng vì mọi người ai cũng bị mắc phải bệnh này nên tưởng rằng đây là một trạng thái “bình thường”. Điều này cho thấy sự thao túng của Hành uẩn khi nó liên tục vận hành và điều khiển ta. Nó thúc đẩy từng ý tưởng, lời nói, việc làm, cảm xúc mà ta tưởng rằng ta làm, ta muốn, ta cảm nhận hoặc ta đau khổ.( hết trích)



