Chương IV
Trong một giấc ngủ chập chờn, tôi đã gặp và trò chuyện
cùng Binladen.
Tôi:
- Chào
ông Binladen! Sau khi ông chết 2, 3 ngày thì tôi mới được biết. Hôm nay, tôi
lại tình cờ gặp ông. Tôi có vài điều muốn hỏi, ông có đồng ý trả lời không?
Binladen:
- Được.
Ông đã quan tâm thì ta tiếc gì mà không trả lời.
Tôi:
- Ông
được gì sau những năm tháng vẫy vùng khiến muôn người khiếp sợ?
Binladen:
- Ông
có sợ ta không?
Tôi:
- Việc
gì tôi phải sợ ông.
Binladen:
- Ta
biết. Ông đâu có sợ ta và cũng có rất nhiều người không từng sợ ta. Thực ra ta
cũng như mọi người - Ta có những người thân yêu cha mẹ, anh em, vợ con và những
người thân,… Ta có cả những người ganh ghét, thù hằn. Ta cũng biết có rất nhiều
người không cần biết ta là ai. Nhưng ta lại được khoác lên mình chiếc áo trùm
khủng bố, cuồng sát khét tiếng và chỉ có những người khoác cho ta chiếc áo đó
mới thật sự khiếp sợ Binladen.
Tôi:
- Tại
sao ông phải giết rất nhiều người? Xua cả những người bạn, người thân vào chỗ
chết, không ít người dân vô tội chết do sự cuồng sát, lạm sát của ông. Ông có
thú vui giết người sao?
Binladen:
- Thú
vui giết người? Người dân vô tội? Nếu có thể làm một người thường dân vô tội
thì ta sẽ làm một người dân như thế.
Binladen
dừng lại một lúc sau mới tiếp lời:
- Ta
hối tiếc! Cả cuộc đời ta đã bị lợi dụng. Ta đã vô tri ném mạng sống và cả gia
đình của ta vào trong thù hận, mất mát và khổ đau.
Tôi
buộc miệng hỏi:
- Cả
đời ông bị lợi dụng?
Binladen
đáp:
- Không
sai. Lúc ta chưa là trùm khủng bố khét tiếng thì ta đã bị người khác lợi dụng.
Khi ta nổi tiếng với vai trò thủ lĩnh khủng bố, ta vẫn bị lợi dụng. Cho đến khi
ta chết, người ta vẫn còn lợi dụng cái chết của ta.
Tôi:
- Ông
có thể trình bày rõ hơn không?
Binladen:
- Lúc
còn trẻ ta đã được đưa đi huấn luyện với mục đích phục vụ trong quân đội. Nói
đúng hơn là phục vụ cho chiến tranh, giết người. Khi nhận ra, ta không muốn bị
lợi dụng, bỏ trốn thì không được. Ta chống đối lại thì bị gọi là quân phiến
loạn. Nhằm để đảm bảo cho sự tồn tại, ta đã phản kháng và chẳng lâu sau ta được
khoác trên mình chiếc áo trùm khủng bố.
Tôi:
- Thế
khi ông đã trở thành thủ lĩnh Binladen, ai có thể lợi dụng ông?
Binladen
thở dài:
- Ông
thật cả nghĩ. Ta buộc phải leo lên lưng hổ thì đâu thể tùy tiện bước xuống. Khi
làm trùm khủng bố, quả thật có nhiều việc ta không thể là chủ. Có những việc ta
làm chỉ để củng cố vị thế lãnh đạo nhằm bảo toàn mạng sống của ta và người
thân. Trong cuộc sống, có ai mà không sợ chết. Con giun, cái kiến còn tham sống
nữa là… Nhưng cuối cùng ta vẫn bị chết thảm. Khi ta chết rồi người khác vẫn còn
lợi dụng danh tiếng và cái chết của ta.
Tôi:
- Ông
đùa à?
Binladen
hỏi:
- Ông
nghĩ sao? Ai sẽ được hưởng lợi từ cái chết của ta? Nhân loại được gì khi ta
chết? Thật nhầm lẫn! Ta chết là chủ nghĩa khủng bố bị tiêu diệt? Hay là cái
chết của ta sẽ khiến cho chủ nghĩa khủng bố trở nên đa biến và khó lường. Nhiều
kẻ sẽ lợi dụng cái chết của ta để củng cố vai trò lãnh đạo. Trong đó có cả giới
chính khách lẫn những tên khủng bố cuồng tín cực đoan. Sẽ có nhiều thủ hạ của
ta nhân danh báo thù cho thủ lĩnh Binladen mà dấy lên những cuộc tắm máu loài
người. Nhân loại sẽ lại sống lo sợ trong sự mất mát, đau thương, chiến tranh và
thù hận.
Cả
tôi và Binladen đều im lặng.
Một
lúc sau, Binladen lại lên tiếng: Thật ra ta không đáng chết. Lẽ ra phe chống
khủng bố và ta nên ngồi lại thỏa hiệp, thương lượng trong hòa bình.
Tôi:
- Thỏa
hiệp với tội ác?
Binladen:
- Ông
đã sai rồi, ông nói xem. Phải chăng giết người là tội ác? Hay chân lý nằm trong
tay kẻ mạnh? Nếu ông thừa nhận chân lý nằm trong tay kẻ mạnh thì tự ông cũng
lầm lạc. Ông có thấy những con sư tử chúa, những con khỉ đầu chó thủ lãnh và
rất nhiều loài mãnh thú hung tợn khác,… Chúng đã dùng sức mạnh để giành giật vị
trí đầu đàn và cố giữ vị trí thống trị đó. Nhưng đến lúc già yếu thì chúng vẫn
lầm lũi, trốn chạy khi chạm phải những đồng loại trẻ, khỏe và hung tợn hơn.
Chân lý thực sự không nằm trong tay kẻ mạnh, ông nên hiểu rõ điều đó.
Tôi:
- Tôi
thật sự bất ngờ! Những điều tôi nghe về Binladen rất khác với những gì tôi được
nghe ông nói. Ông cứ như là một con người khác, ông rất sâu sắc. Có phải ông đã
về hợp thể với Đấng quyền năng mà ông tôn thờ?
Binladen:
- Ông
lại sai rồi. Tôi đang ở Địa ngục. Ngày tôi bị giết, Đức giáo chủ đã đến và hỏi “Con
có điều gì hối tiếc?”. Tôi đã trả lời “Con sống vì đạo, chết vì đạo nên không
có gì hối tiếc”. Nhưng con không can tâm, con căm hận những người đã giết chết
con. Con nguyền rủa họ, con sẽ báo thù. Rồi tôi chợt nhớ ra và hỏi “Giáo chủ!
Ngài đến để đưa con về với Thiên đàng, về với Thánh Ala phải không?”. Giáo chủ
điềm đạm “Con không thể lên Thiên đàng. Trong lòng con tràn đầy tham dục, hận
thù, con không thể về Thiên đàng làm nhiễm ô cõi nước của Thánh Ala”. Tôi đã
bàng hoàng gượng hỏi “Nhưng Thánh kinh răn dạy con thánh chiến, tử vì đạo”.
Giáo chủ tiếp lời “Con đã ngộ nhận kinh Thánh. Giáo lý, kinh điển răn dạy hạn
chế sát sinh loài vật thì có lý nào khuyến khích tín đồ sát hại đồng loại và
những người vô tội. Cõi Thiên đàng không được tạo dựng bằng máu và nước mắt của
muôn loài. Khi ta nhập thế, loài người còn thiếu hiểu biết, man rợ, nhiều thú
tính. Ta kêu gọi thánh chiến, tử vì đạo chỉ nhằm mục đích bảo vệ dân tộc ta
trước sự tàn ác của những chủng người khác. Nhưng ngày nay mọi chuyện đã thay
đổi con người đã có nhiều hiểu biết, biết sống yêu thương. Chỉ có một số người
hiếu chiến, khát máu mới gieo rắc chiến tranh và thù hận. Con lầm lạc, ngộ nhận
kinh Thánh, tin lời những kẻ cuồng tín, hiếu sát thì Thánh Ala không thể tiếp
dẫn con. Con phải xuống Địa ngục gột rửa lỗi lầm, dứt trừ tham dục, hận thù thì
cổng Thiên đàng sẽ rộng mở đón con”.
Tôi
nhận ra Binladen đã thay đổi cách xưng danh.
Binladen
lại nói:
- Thế
đấy! Tôi lầm lạc cả đời, đến lúc nhận rõ mọi việc thì đã muộn. Nếu tôi có thể
chọn lựa thì tôi chỉ mong có thể làm một người dân bình thường vô tội. Còn bây
giờ tôi phải gột rửa những tối tăm, hận thù và những tội lỗi tôi đã gây ra.
Vũ
trụ vạn hữu hay nói một cách khác là mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ
trụ từ những vật vô tri như gỗ, đá, mưa,
gió,… đến những vật hữu tri như chim cá, muôn thú và loài người,…
Những
sự vật, hiện tượng có thể nhận biết bằng mắt thường như sấm chớp, băng tan, sự
sinh trụ dị diệt của vạn vật,… cho đến những sự vật, hiện tượng không thể dùng
mắt mà phân định được như không khí, chân không và các cõi vô hình,…
Chúng
đều hiện diện trước ngôn ngữ mà loài người dùng để giao tiếp. Chúng có trước cả
loài người. Thế nên trước khi loài người có sự hiểu biết và dùng tiếng nói giao
tiếp thì chẳng có bất kì loài gì, vật gì có tên gọi.
Đến
khi con người có chút hiểu biết, biết phân biệt so sánh thì loài người mới tiến
hành đặt tên cho muôn vật. Sự phân định, đặt tên này ban đầu hoàn toàn là ngẫu
nhiên và khách quan.
Bởi
lẽ khi chưa có ngôn ngữ thì con vật nào cũng không có tên nên việc đặt cho con
vật đó là con hổ hay con bò đều không có sự khác biệt. Việc đặt tên mọi vật vì
thế rất lộn xộn, tùy tiện và trùng lập.
Về
sau những người có hiểu biết nhận thấy sự rối rắm đó đã đề xuất ý kiến “Đưa ra
những quy ước chung để đặt tên các sự vật, các giống loài,…”.
Việc
làm đúng đắn, cần thiết này được loài người chấp nhận và tất cả các sự vật,
hiện tượng mà con người nhận biết về sau đều có được tên gọi.
Ban
đầu, việc đặt tên muôn vật rất khách quan. Lâu về sau, việc đặt tên có phần
mang tính chủ quan nhằm chia nhóm các sự vật, hiện tượng, muôn loài và muôn
vật,…
Qua
những điều tôi trình bày ở trên cho thấy. Cùng với sự hiểu biết ngày càng cao,
con người đã dùng tâm ý, ý thức phân biệt để đặt tên vạn vật có trong vũ trụ.
Những việc làm đó của con người được gói gọn vào cụm từ “Vạn pháp quy tâm” -
Vạn vật có trong vũ trụ nhờ tâm phân biệt và ngôn ngữ của con người mà thành
hình và có tên gọi.
Như
tôi đã từng khẳng định về sự hiện hữu của thế giới tâm linh tồn tại song hành
với thế giới vật chất. Thế giới vật chất hữu hình thì bạn đã rõ biết, tôi chỉ
trình bày thêm về thế giới tâm linh vô hình.
Tuy
nhiên, muốn trình bày về thế giới vô hình thì tôi vẫn phải chia nhóm và đặt tên
gọi cho từng nhóm. Tôi đã nói trước đó việc đặt tên về sau là do sự chủ quan
của con người, hoặc dựa vào số đông, hoặc dựa vào việc đặt tên của người đi
trước,…
Cõi
giới vô hình lại không thể nhìn thấy được. Chúng chỉ do tâm ý mà sinh ra những
rung cảm thăng hoa, vui tươi, sầu khổ, hoảng loạn, dè dặt, hạnh phúc, chán
chường, nặng nề,…
Dựa
vào những rung cảm khác nhau đó, những người có sự hiểu biết về thế giới vô
hình mới phân định ra cõi Thiên đàng, cõi Địa ngục, cõi Ma quỷ,…
Tùy
sự hiểu biết mà họ có những sự phân định khác nhau. Nhiều người đã dùng sự hiểu
biết này trở thành giáo chủ những tôn giáo và thế hệ đi sau tiếp nối thế hệ đi
trước xây dựng tôn giáo dựa trên giáo lý, kinh điển được truyền thừa.
Tuy
nhiên, không phải vị giáo chủ nào cũng có sự hiểu biết rành rẽ về cõi vô hình
nên giáo lý, kinh điển cũng có ít nhiều khiếm khuyết.
Thêm
nữa, mãi về sau tư dục của con người khiến cho giáo lý, kinh điển càng thêm mai
một, mất dần sự thật.
Phật
Thích Ca ra đời. Trong quá trình tìm đạo, hành đạo, Người tham cứu, học hỏi
phần lớn các giáo lý, kinh điển các tôn giáo khác nhau. Người không thể phân
định được tôn giáo nào cao tột. Người cũng không quá quan tâm về sự phân chia
đó vì lẽ người đang chú tâm đi tìm con đường xa lìa sự khổ cho loài người.
Đến
ngày thành đạo, Phật nhìn rõ vạn pháp là hư huyễn, không thật có cũng không
thật không, biến chuyển liên tục. Nhìn lại chính mình, Phật nhìn rõ xác thân
này rồi cũng tàn hoại, sự vui buồn, được mất, hơn thua, cũng biến chuyển,… Phật
nhận ra đó chỉ là ý, là vọng tâm lưu xuất ra từ bản tâm vắng lặng, tĩnh tại của
người. Bởi vì Phật nhận biết Người đang dùng bản tâm vắng lặng để nhìn rõ sự
luân chuyển của vạn pháp.
Khi
nhận biết rõ sự lý vô thường của vạn pháp, của xác thân,… Phật không còn tham
đắm, dính mắc và Người đạt được sự an lạc, tự tại và giải thoát.
Tuy
nhiên, Người vẫn nhớ bi nguyện cứu khổ loài người và muôn vật. Người đã từng
quán chiếu thế giới tâm linh vô hình và thế giới vạn hữu nhận ra sự luân chuyển
lên xuống, qua lại của muôn loài.
Nhằm
giúp con người dễ lĩnh hội, nắm bắt về sự hiểu biết, giác ngộ và sự giải thoát,
Phật nhận biết Người cần có phương pháp truyền đạt hiệu quả.
Vì
thế Phật đã gọi muôn vật - Những chủng loài có sự sống luân chuyển giữa hai
phần hữu hình và vô hình với cùng cái tên chung là chúng sinh.
- Phần
hữu hình, Phật chia ra hai nhóm gồm loài người và súc sinh.
- Phần
vô hình, Phật dựa vào tâm thức rung cảm của những chúng sinh tồn tại trong phần
vô hình chia ra làm bốn nẻo gồm Trời, Atula, Ngạ quỷ, Địa ngục.
Phật
đã không áp đặt tính chủ quan vào việc phân chia 3 cõi vì lẽ Phật đã đạt bản
tâm vắng lặng, tịch diệt, rõ biết vạn pháp đều là tướng hư vọng.
Việc
dùng ngôn ngữ phân chia 3 cõi chỉ là phương tiện nhằm truyền đạt giáo lý về con
đường giải thoát mầu nhiệm cho chúng sinh trong 6 nẻo được thuận tiện, hiệu
quả.
Thế
nên việc Phật chia thế giới vô hình và hữu hình ra làm 3 cõi 6 đường là tùy
thuận vào nhận thức, sự hiểu biết của con người thời Phật tại thế - Vạn pháp
quy tâm.
Chữ
tâm trong vạn pháp quy tâm chứa hàm ý là tâm phân biệt của con người.
Nhìn
nhận sự tồn tại của luân hồi sẽ giúp con người nhìn rõ mọi sự vật, hiện tượng
tồn tại, biến diệt, hình thành trong cuộc sống và vũ trụ.
Có
những buổi chiều, tôi lang thang trên biển vắng. Tôi dừng lại, ngồi trên bãi
cát và nhìn những con sóng lăn tăn. Gió từ biển thổi vào, tôi có cảm giác rất
thư thái, dễ chịu. Có hôm tôi thấy rất vui khi nhìn những em bé nghịch nước và
xây những lâu đài cát. Có hôm tôi buồn đến lạ, tôi nhớ nhà,... Cùng là cảnh
biển vắng về chiều, sao tâm tôi lại có những cung bậc cảm xúc khác nhau.
Cũng
lại như vậy. Đứng trước phong cảnh thanh nhàn, u tịch của một vùng núi, ngắm
mặt trời lặn tắt, mỗi người chúng ta sẽ có những cảm xúc khác nhau. Có người
cảm nhận sự cô đơn, buồn tẻ; Có người nhận thấy vẻ đẹp hoang sơ; Có người lại
thấy sự bình yên, tĩnh tại,…
Hóa
ra cảnh không tạo ra cảm xúc trong mỗi người mà những cảm giác vui buồn, hân
hoan, yêu ghét,… lưu xuất từ trong bản tâm vắng lặng.
Cảnh đã không sinh được tâm nhưng tâm lại sinh ra cảnh.
Thật vậy! Có những cơn mưa tháng sáu dai dẳng khơi gợi lòng người những nỗi
buồn, những nhớ mong da diết. Rồi cơn mưa chiều bỗng trở nên thật đẹp khi tôi
tình cờ gặp em trên một góc phố không quen hoặc là khi tôi nhận được tin sức
khỏe bà hồi phục tốt sau ca mổ tim phức tạp,… Ngôi nhà lá xác xơ, gió lùa, tạm
bợ được thay bằng ngôi nhà mái ngói khang trang,…
Những điều tôi vừa trình bày chỉ góp phần giúp bạn thừa
nhận cảnh do tâm sinh nhằm mục đích trình bày vấn đề sau:
Cảnh do tâm sinh và sự luân hồi, giữa chúng có một mối
liên quan mật thiết.
Bạn có biết về những đứa trẻ bị bệnh tự kỷ?
Những đứa bé thật tội nghiệp! Chúng vụng về, nhút nhát,
sợ sệt và hoảng loạn khi gặp phải người khác lạ. Bệnh tự kỷ là căn bệnh khá
mới, khó trị, thường gặp ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Tại sao căn bệnh này trước đây rất hiếm gặp mà khi con
người bước vào kỷ nguyên hiện đại chúng ngày càng trở nên phổ biến và gia tăng
không ngừng về số lượng?
Tôi đi tìm nguyên do và nhận biết những đứa trẻ đó không
phải một sớm một chiều mà trở nên như vậy. Tất cả những nỗi lo lắng, sợ sệt
được tích lũy từ những kiếp lâu xa trước đó. Xã hội, kinh tế phát triển đã cuốn
người lớn vào cuộc mưu sinh. Những ngôi nhà to rộng, kín cổng cao tường, những
đứa bé gần như bị tách rời khỏi thế giới loài người,...
Một số đứa trẻ lớn lên trong hoàn cảnh như thế, không bè
bạn, không người thân, người cha nát rượu,… chúng trở nên rụt rè, yếu đuối,…
Những hồi ức được ghi nhận qua nhiều đời và họ đã trở lại kiếp người với những
khiếm khuyết về tinh thần.
Tôi còn nhận thấy những người vướng vào căn bệnh tự kỷ là
những chiến binh, những tướng lĩnh phục vụ trong quân đội,… đã từng có mặt
trong những đoàn quân viễn chinh tắm máu loài người. Khi họ chết với những ký
ức tội ác, máu và những mảnh vụn xác thân người, họ đã hoảng loạn không thể
quay lại ở kiếp người. Đã rất lâu xa, nỗi sợ dần nguôi ngoai, họ đã trở lại
nhưng với một tâm hồn không còn định tỉnh,…
Tôi
dò tìm nguyên nhân của những em bé nhiễm chất độc da cam. Thật nhức nhối!
Họ
là ai?
Họ
là thường dân, là binh lính của các bên tham chiến. Bom đạn đã cày nát thân
người họ, đầu vỡ, tay chân gãy lìa. Những hóa chất độc hại không chỉ hủy hoại
thân thể mà ảnh hưởng cả hệ thần kinh của những nạn nhân - Sự kinh hoàng, ảo
giác,... Họ đã chết trong sự đau đớn cùng cực và một ký ức không dễ xóa nhòa
trong tâm thức.
Sự
đau đớn về tinh thần, thể xác khiến họ lạc lối trong các nẻo Atula, người, súc
sinh, ngạ quỷ và Địa ngục với những phần chấp vá, không vẹn nguyên.
Loài
người đã nợ xương máu và tinh thần của những nạn nhân chất độc màu da cam,
chiến tranh, cả những người bị bệnh tự kỷ, những người điên loạn,... Nhân loại
phải trả lại cho họ sự nguyên vẹn về tinh thần, hình hài bởi lẽ họ cũng là nạn
nhân của chiến tranh, của sự thiếu hiểu biết và không ít người trong số họ đã
từng là những người thân yêu của chúng ta.
Cách
duy nhất để giúp họ trở lại vẹn nguyên là tạo cho họ sự bình yên, sự sẻ chia và
gần gũi.
Căn
bệnh béo phì, những căn bệnh quái lạ,… những đứa trẻ vừa mới sinh ra đã bị suy
gan, suy thận, tim,… những căn bệnh lẽ ra chỉ xuất hiện ở người lớn.
Khoa
học sẽ mãi không tìm ra được nguyên nhân khi chấp chặt vào tri thức chủ quan
của nhân loại.
Tôi
nhận biết những người bệnh đã từng chịu đau đớn của những căn bệnh quái ác đó
từ những kiếp lâu xa. Họ đã không kịp buông bỏ sự đau đớn, cả nỗi ám ảnh về
nguyên nhân gây ra cái chết cho họ.
Tôi
chỉ có một lời khuyên gửi đến bạn “Bạn phải học cách buông bỏ hoặc là đi tìm
lại gương mặt thật của mình khi chưa được sinh ra”.
Giới
tính thứ ba cũng không ngừng tăng lên trong xã hội được xem là văn minh phát
triển.
Nguyên
nhân nào đã tạo ra những con người bị rối loạn giới tính?
Có
tương quan nào về sự chuyển đổi giới
tính của những chủng loài có trong tự nhiên?
Họ
đã đến từ đâu?
Sự
kỳ vọng của người lớn, gia đình đã có nhiều anh em trai nhưng đứa út vẫn lại là
cậu bé. Thôi thì con hãy là một bé gái cho vui cửa, vui nhà. Những đứa bé trai
được chăm lo như bé gái, những đứa bé gái được dạy dỗ như là những đứa bé trai.
Chúng lớn lên và đôi khi chúng ngộ nhận giới tính của chính mình. Đáng tiếc,
chúng vẫn ghi nhớ ký ức tuổi thơ nhầm lẫn vào trong tâm thức, chúng khôn lớn, già
và chết đi. Rồi lại sinh ra.
Thật
không may ! Lại một gia đình cần một bé gái nhưng lại một cậu bé ra đời. Đó là
một trong những nguyên nhân tồn tại giới tính thứ ba.
Nhưng
tại sao ngày nay giới tính thứ ba không ngừng gia tăng số lượng?
Phim
ảnh và một số hóa chất, hocmon tăng trưởng,... tạo ra đã làm thay đổi hành vi,
gây rối loạn tâm sinh lý con người cũng là một nguyên nhân.
Một
số đứa trẻ lớn lên không tin vào giới tính của mình. Tôi quá yếu đuối để làm
một chàng thanh niên khỏe mạnh. Số khác lại cảm thấy tôi quá mạnh mẽ nên không
thể là một cô gái yếu đuối.
Tham
dục con người cũng góp phần không nhỏ tạo ra giới tính thứ ba. Sự ham muốn tìm
hiểu tận tường cơ thể của những người khác giới - Những bắp tay rắn chắc, những
cơ thịt chứa đựng sự sung mãn, những đường cong gợi cảm, cảm giác của đối
phương,… Tất cả được ghi nhận, tích lũy
lại. Trải qua nhiều đời kiếp lâu xa, khi định tâm về giới tính không còn
vững, tất cả sẽ biểu hiện ra bên ngoài, không thể che giấu. Có lẽ bạn phải nên
tự cứu mình. Hãy tìm lại sự an định của nội tâm. Thiền định, sống lành mạnh sẽ
giúp bạn giảm thiểu, dứt trừ những ham muốn, những ngộ nhận về chính bản thân
mình. Bạn phải tự cứu bạn vì phía sau bạn là đường tối, lối rẽ.
Chuyển sang vấn đề khác:
Khi
không phải trả quả cho những nghiệp nhân xấu ác mà mỗi người đã tạo tác trong
tiền kiếp. Tùy theo sự tích lũy thiện nghiệp, con người sẽ được sinh ra trong hoàn
cảnh sang giàu hay đói nghèo khác nhau. Đó chỉ là phúc phận của mỗi người.
Tuy
nhiên, mỗi người bình thường ra đời đều có trong tâm những tiềm thức trí tuệ,
tài năng, sức khỏe, sở thích, sự tham đắm, u mê, tự tính học hỏi, biếng lười,…
là như nhau.
Tùy
điều kiện môi trường sinh sống và lớn lên mà mỗi người có những sự khai mở khác
nhau. Khi chưa đạt được sự hiểu biết và nhận thức, những đứa trẻ thường không
thể tự khai mở những tiềm thức ẩn chứa trong tâm, chúng sẽ học hỏi mọi thứ xung
quanh và ở những người lớn.
Thế
nên việc quyết định cho sự khai mở này là những người nuôi dạy những đứa trẻ.
Đã
có rất nhiều người lớn đã sai khi mở tiềm thức cho trẻ. Họ đã mở sự ích kỷ, sự
tham đắm ăn uống, chưng diện, biếng lười, ngang ngược,… Đứa trẻ đó lớn lên với
những tiềm thức hư xấu, chúng không thể dừng lại vì mọi thứ đã trở thành thói
quen. Những chàng thanh niên hay cô gái đó sẽ khó thể mở những tiềm thức hữu
ích khác. Bởi vì những tiềm thức khác đã bị ép vào sâu bên trong tâm thức.
Chúng chỉ có thể khai mở khi có một biến cố lớn lao thay đổi hoàn toàn cuộc đời
người đó. Biến cố lớn lao này thường là những biến cố rất khổ đau.
Việc
khai mở tiềm thức giống như ta ăn một bữa tiệc với nhiều loại trái cây chôm
chôm, xoài, ổi, mít, sầu riêng, măng cụt, mảng cầu, bơ, táo, hồng, nho, lựu,...
Khi ta tham đắm một loại trái cây nào và đã ăn no rồi thì không thể thưởng thức
mùi vị của những loại trái cây khác.
Cho
dù ta có dùng một loại trái cây thượng hạng và ngon nhất thì ta vẫn là người
thiệt thòi nhất vì ta không thực sự là người thưởng thức buổi tiệc với nhiều
loại trái cây.
Có
không ít những đứa trẻ được người nuôi dạy khai mở trí tuệ, tài năng,.. ngay từ
thơ bé. Sự kỳ vọng biến đứa bé thành một thiên tài, một ngôi sao sáng trên bầu
trời.
Sự
ích kỷ của người lớn đã khiến những tài năng nhỏ tuổi sớm tắt lịm. Đã có những
đứa trẻ với hệ số IQ, EQ cao đã được bảo bọc trong niềm kì vọng của người lớn.
Chúng đã sớm bộc lộ những khả năng thiên bẩm đạt được những thành công nhất
định. Rồi chúng nhận ra chúng bị cướp đi tuổi thơ hồn nhiên. Chúng hụt hẫng, phản
kháng, nổi loạn và hư hỏng.
Người
lớn vẫn không nhận ra sai lầm. Họ vẫn áp đặt kỳ vọng, răn đe và mất tất cả. Đứa
trẻ thiên tài đã không còn tin vào người thân chúng. Sự hào nhoáng, hư danh hảo
huyền sẽ giết chết những tài năng sớm nở, chóng tàn.
Hãy
khách quan nhìn nhận có rất nhiều những tài năng trẻ tuổi được đánh giá là
những thiên tài tương lai đã biến mất và không để lại chút dấu tích.
Và
rất nhiều những sai lầm khác khi khai mở tiềm thức cho những đứa trẻ.
Bạn
hãy nên nhận thức rõ nhằm khai mở tiềm thức những đứa con thân yêu.
Mỗi
người sẽ không thể khai mở được hết những tiềm thức cho dù họ có ý thức khai mở
tất cả tiềm thức vì lẽ họ sẽ già chết trước khi hoàn thành công việc đó. Những
gì ghi nhận trong tiềm thức của mỗi người thực sự là quá nhiều, trải qua vô số
kiếp trôi lăn trong 6 nẻo.
Ngay
cả những người đạt được sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn họ cũng không khai mở
hết tiềm thức; Họ chỉ mở những tiềm thức giúp họ giác ngộ và giải thoát.
Quán Chiếu Tam Giới.
Tôi
là một chúng sinh đã từng trôi lăn không nhàm mỏi trong 3 cõi 6 đường. Vì thế
trong tâm thức tôi có niềm tin, sự thánh thiện của cõi Trời. Có định tâm, định
lực hùng mạnh của cõi Atula. Có trí tuệ, sự hiểu biết của cõi Người. Có sự
hoang dã, ngu khờ của nẻo Súc sinh. Có sự lầm lạc, mê mờ của kiếp Ngạ quỷ. Có
sự hoảng loạn, tối tăm của chúng sinh trong Địa ngục.
Không
riêng tôi, bất kỳ chúng sinh nào còn trôi lăn trong 6 nẻo đều có trong tâm thức
đầy đủ những thuộc tính đặc trưng của 6 nẻo.
Tôi
lại mượn pháp Phật trình bày về Tam giới.
Như
tôi đã nói từ trước Phật đã mượn ngôn từ và tùy thuận nhận thức loài người để
phân định ra 3 cõi 6 đường. Bởi lẽ trên thực tế rất khó để phân định 3 cõi 6
đường cho rành rõ vì nẻo Atula thật là muôn hình vạn dạng hiện diện ở cả 3 cõi
6 đường. Và ở mức độ tương đối, hầu hết chúng sinh mỗi nẻo thường tồn tại rất
lâu trong nẻo họ hiện diện. Họ chỉ chuyển qua nẻo khác khi nhàm mỏi hoặc xảy ra
một biến cố lớn khiến họ phải bừng tỉnh.
Riêng
nẻo Người thì việc luân chuyển có phần thường xuyên, năng động hơn vì lẽ loài
người có trí tuệ, sự hiểu biết và khả năng phân biệt. Những đặc tính đó khiến
con người sinh ra rất nhiều đức tính khác như yêu, ghét, hoài nghi, cao ngạo,
tham đắm, si mê, nóng nảy, hiền từ,… và khả năng ghi nhớ, chất chứa, lưu giữ ký
ức. Chính những điều mà dường như nẻo người hơn những nẻo khác lại khiến cho
con người dễ mê mờ, lầm lạc trong 6 nẻo.
Tuy
nhiên, nẻo người thực sự có ưu thế hơn những nẻo khác đó là sự ưu việt về trí
tuệ, sự hiểu biết. Đây chính là điều kiện cần và đủ để con người thoát khỏi
luân hồi bằng việc đạt được chánh định - Sự hiểu biết về giác ngộ, giải thoát.
Đây
là cảnh giới được xây dựng dựa trên nền tảng niềm tin về tự thân của mỗi chúng
sinh. Chúng sinh hiện diện trong nẻo Trời thường có những rung cảm thăng hoa,
những ước mơ đẹp, sự thánh thiện, hoàn mỹ,...
Những
chúng sinh này có cùng đặc tính được diễn đạt nôm na, dễ nhận biết bằng cụm từ
“Cầu được ước thấy”. Họ sẽ ngay lập tức được thỏa mãn những điều mong muốn như
ăn ngon, mặc đẹp, thân hình rực rỡ, dung mạo uy nghi, xinh đẹp,…
Những
chúng sinh tồn tại ở nẻo Trời, tiền kiếp của họ thường gieo nhiều nhân tốt, làm
nhiều việc thiện, tích lũy phước duyên, có tấm lòng thanh cao, thánh thiện,…
Nẻo giới này cao hơn 5 nẻo còn lại, những chúng sinh ở nẻo khác đều kiêng dè
khi chạm phải.
Trong
nẻo Trời còn có sự hiện diện những vị thần sắc đẹp, thần đánh đàn, thần ca
múa,…và cả những chúng sinh đạt định lực về sự giải thoát nhưng lại chưa buông
bỏ được ý niệm về cái tôi thường tại. Đây là chúng sinh ở nẻo Atula bởi lẽ
chúng sinh nẻo Atula định lực rất hùng mạnh. Những chúng sinh tồn tại ở cảnh
giới này rất thong thả, ung dung, tự tại, dài lâu cho đến khi họ nhàm chán và
cần có sự đổi thay. Họ dấy lên ý niệm cần có thân thì lập tức theo nghiệp lực
rơi vào 6 nẻo.
Cũng
có rất nhiều chúng sinh trong nẻo Trời sau thời gian thì họ đạt được chánh định
về sự giải thoát, chánh định này có được khi ở những kiếp người trước đó họ đã
có dịp học hỏi, rèn luyện. Họ đã không còn trói buộc về thân, đánh tan ý niệm
về cái tôi mà họ còn đang chấp giữ thì ngay lập tức họ thể nhập Niết bàn tịch
diệt.
Đây
là cảnh giới có định tâm, định lực vững vàng nhất trong 6 nẻo. Thế nên không có
nẻo nào mà không có sự tồn tại của họ.
Tiêu
biểu cho nẻo Atula đó là những vị thần chiến tranh. Họ thực sự là những người
thần binh, thần tướng. Họ ra đời là để đánh nhau, chiến đấu không dừng nghỉ.
Hiển nhiên sau những trận giao tranh thì thương tích cũng đầy người, việc gãy
tay, đứt chân, nát ngực, vỡ đầu,… là chuyện thường tình. Họ không cần quá nhiều
thời gian để phục hồi nguyên vẹn và nâng cao khả năng chiến đấu.
Ngoài
ra, nẻo Atula còn có rất nhiều vị thần khác nhau tùy theo tâm ý của mỗi chúng
sinh mà thành hình, định tâm hùng mạnh khiến chúng sinh nẻo Atula hoàn toàn làm
chủ tâm ý bản thân.
Cũng
như chúng sinh nẻo Trời, chúng sinh nẻo Atula sau vô số kiếp hiện diện nẻo
Atula thì nhàm mỏi, dừng lại và trôi lăn trong luân hồi.
Đây
là cảnh giới bạn đã biết. Con người là chúng sinh có trí tuệ, sự hiểu biết và
khả năng quyết định tạo tác nghiệp nhân quả thiện ác. Điều này khiến cho con
người quyết định con đường đi của họ sẽ đi trong 6 nẻo.
Tâm
từ, tâm bi, tình yêu thương chân thành, sự hiểu biết và sự hiểu biết về giác ngộ,
giải thoát sẽ giúp chúng sinh ở nẻo Người được sinh về nẻo Trời hoặc cõi Niết
bàn.
Việc
chú tâm, ghi nhớ và những thói quen tốt giúp con người có được định tâm, định
lực vững chắc là lối dẫn con người vào nẻo Atula. Nếu có hiểu biết về chánh
định thì việc thể nhập Niết bàn chỉ là vấn đề thời gian.
Việc
thực hành thiện nghiệp, sống hòa đồng, hiểu biết và thương yêu giúp con người
luân chuyển trong kiếp người. Đây là cảnh giới tốt nhất để tu tập đạt được
chánh định giải thoát. Bởi lẽ con người không thể tồn tại mãi ở kiếp người rồi
sẽ trôi lăn. Tham đắm, hơn thua, sân hận, si mê,… là những cám dỗ mà chỉ cần
thiếu chút hiểu biết là con người rơi vào nẻo khác.
Bạn
đừng cả nghĩ “Nếu ai cũng đạt được chánh định thì loài người sẽ dứt mất”. Điều
bạn cần làm là giải thoát chính bản thân mình khi bạn cảm thấy đó là việc làm
cần thiết. Những chúng sinh khác sẽ lại luân chuyển thành người và tiếp tục đi
trên con đường giải thoát.
Bạn
lại giả lập câu hỏi:
- Nếu
tất cả chúng sinh nẻo khác quay về kiếp người và đạt được chánh định thì loài
người sẽ phải diệt vong?
Tôi
trả lời:
- Loài
người sẽ không diệt vong khi tất cả chúng sinh lần tìm về chánh định vì trong 3
cõi 6 đường còn hai hạng chúng sinh mà bạn không rõ biết. Đó là những chúng
sinh một tâm mà lại có nhiều thân và những chúng sinh một thân nhưng lại có
nhiều tâm. Những chúng sinh này luôn hiện diện và giữ mãi sự tồn tại chúng sinh
trong 3 cõi 6 đường. Loài người sẽ diệt mất khi chiến tranh, thù hận leo thang
thành thế chiến thứ ba, trái đất nổ tung và không còn gì nữa.
Nhưng
điều này không đồng nghĩa với việc bạn không còn nữa. Bạn vẫn còn sự sống và
góp nhặt lại hình hài của mình từ những mầm sống trong cát bụi và không hẳn con
người sẽ tìm lại hình dạng của con người hiện đại ngày nay.
Việc
này giống như ta đưa những nhà bác học tài ba, lỗi lạc nhất đến một vùng đất xa
lạ, không trang bị cho họ bất cứ một vật dụng gì hỗ trợ cuộc sống. Họ sẽ phải
tự thích nghi để tồn tại. Có lẽ họ sẽ không khác gì những con người sơ khai xa
xưa. Thậm chí khả năng thích nghi của họ sẽ kém hơn vì những kỹ năng sinh tồn trong
tự nhiên đã bị quên lãng.
Nhưng
khi họ tồn tại thì những tiềm thức sẽ dần khai mở và đồng thời họ cũng có những
hướng thích nghi khác hơn.
Điều
đáng sợ nhất trong nẻo Người là khả năng lưu giữ những điều đã qua và thói
quen.
Tuy
nhiên, con người vẫn còn được một kỹ năng tối quan trọng là khả năng buông bỏ,
không dính mắc nhưng không phải ai cũng đạt được kỹ năng rất quan trọng này.
Việc có được kỹ năng này cần phải trải qua quá trình rèn luyện kiên trì, lâu
dài, có chủ định và tích lũy.
Nhớ
lại, tôi đã từng có kiếp những tưởng hại người nhưng chung cuộc thành ra lại
hại chính mình.
Ở kiếp đó, tôi là một chàng
trai nghèo, tính tình chất phác đem lòng thương một cô gái cùng làng. Chúng tôi
yêu thương nhau, cùng thề nguyền sẵn sàng vì nhau mà chết và nguyện hứa sẽ
không lấy ai khác nếu không đến được với nhau. Nhưng thật không hay khi cậu ấm
của một cường hào làng bên cũng để mắt đến cô gái. Việc tôi yêu cô gái đã trở
thành cái gai trong mắt cậu ấm và tôi đã bị đánh đập, hành hạ cho đến chết. Mặc
dù đã chết, tôi vẫn ôm giữ mối tình, tôi không thể dứt bỏ, quanh quẩn theo cô
gái như bóng với hình. Cô gái đã rất buồn khổ. Điều này càng khiến tôi thêm đau
xót. Kẻ hãm hại tôi lại đến chèn ép gia đình cô gái và đã cưới được người tôi
thương. Sự căm tức, thù hận, đau khổ, sự phản bội,… khiến tôi vật vã và lời
nguyền báo thù được khắc vào tâm thức. Oan nghiệt chất chồng. Cô gái có thai và
sinh ra một bé trai. Tôi đã chuyển lại kiếp người với thân phận là con trai của
những người tôi căm hận. Hiển nhiên là tôi không nhớ, không ý thức gì về lời
nguyền nhưng tôi lại là một đứa bé hư hỏng, ngang tàng và bạo ngược. Tôi đã phá
hỏng tất cả gia tài, sự nghiệp gia tộc. Tất cả không còn gì kể cả người thân.
Họ chết dần mòn cùng với sự khánh kiệt của dòng họ. Tôi bắt đầu một kiếp sống
nghèo đói, lang thang.
Đó
là kết quả truyền kiếp của việc chất chứa, nắm giữ sự u mê và thù hận.
Qua
câu chuyện tiền kiếp, tôi lại có một lời nhắn gửi những người ghét bỏ thân
mạng.
Tôi
đã bắt gặp những kiếp chúng sinh mê mờ không tìm được lối đi - Những người vì
phút yếu lòng tự tìm đến cái chết. Họ không tìm được cách thoát ra những khổ
đau trong cuộc sống. Họ chọn cái chết để giải tỏa mọi khổ đau.
Họ
đã nhầm lẫn! Chết không giải quyết được vấn đề. Họ vẫn giữ nỗi khổ đau, hụt
hẫng, chán chường, yêu hận,… không thể thoát ra và cũng không còn thân xác và
tâm trí để tìm ra hướng giải quyết. Sự đau khổ bức hại còn nặng nề hơn nỗi đau
khổ khi họ sống, họ không thể làm gì khác ngoài việc chịu đựng sự hành hạ.
Việc
này có phần nào giống như việc ta đói bụng mà lại nhìn thấy rất nhiều đồ ăn,
thức uống ngon lành bày ra trước mắt và ta không thể ăn. Cơn đói càng lúc càng
tăng. Mùi thức ăn thơm phức mà ta chỉ có thể đưa mắt nhìn.
Bạn
hãy tự cảm nhận những cảm xúc khó chịu đựng đó. Hãy tỉnh táo giải quyết mọi
việc hơn là làm cho sự việc trở nên tồi tệ hơn.
Trong
quá trình thể nhập vào tiền kiếp ở hình hài con dòi, con bọ hung,… ăn xác thối,
đống phân,… tôi bắt gặp rất nhiều đồng loại. Họ là những chúng sinh đã từng
tham đắm việc uống ăn, đam mê, ham muốn,… và họ hiện diện trong những nơi mà
con người cho rằng dơ bẩn nhất để tận hưởng những khoái cảm dục vọng, thỏa mãn
sự thèm khát. Đây là lời cảnh báo đến những người vướng vào những đam mê, trụy
lạc - Ma túy, mại dâm, cờ bạc, nát rượu,…
Hãy
nhận thức, ý thức lại hành vi và cố thoát ra khỏi những vũng lầy đen tối, nhầy
nhụa!
Bạn
đừng cạn nghĩ “Bạn sẽ không phải trả nghiệp quả nặng nề vì bạn chỉ là người
gieo rắc những tệ nạn xã hội, chỉ là người môi giới mại dâm, buôn bán ma túy,
chất kích thích,… chưa từng dùng qua những thứ độc hại đó”.
Điều
đó không có nghĩa là bạn thoát được nghiệp quả. Bạn đã phải tiếp xúc với những
chất kích thích, những cô gái bán xác thân,… những việc làm thường xuyên đó sẽ
được ghi nhận lại.
Hơn
nữa, những hình ảnh của những con nghiện sự vật vã, sự đau đớn, tiếng kêu rên
và cả sự thăng hoa, ảo giác phấn khích,… của con nghiện khi được tiêm chất kích
thích sẽ khó thể xóa mờ trong ký ức và bạn sẽ thành con nghiện ở những kiếp về
sau và bạn sẽ phải trả giá cho những thói quen xấu, được tích lũy qua nhiều
đời.
Những
con nghiện có được cảm giác gì khi được tiêm kích thích?
Một
cảm giác thăng hoa tột bực, sự hưng phấn cùng cực nhưng đó chỉ là những ảo giác
nhất thời. Tiếp theo sẽ là một sự đê mê, mê mờ, hư ảo và họ không nhận biết
được rõ mọi việc. Cuối cùng là sự hụt hẫng, chán chường, hoài nghi, mất tất cả
và cảm giác mặc cảm, tội lỗi ngự trị tâm trí.
Những
cảm giác không chân thật sẽ khiến người nghiện không làm chủ bản thân và những
nẻo tối của kiếp sau sẽ rộng mở chờ những chúng sinh mê lầm bước vào và đóng
chặt lại.
Nẻo
người cũng có sự hiện diện chúng sinh nẻo Atula. Những người điên loạn. Định
lực hùng mạnh khiến chúng sinh Atula tin rằng họ là một chiến binh, là một
người tử tù, một người thầy cúng, người đưa ma,...
Có
lẽ không ít người biết việc. Một số người già chết rồi chợt sống lại và thay
đổi tâm tính lẫn hành vi sống khác hẳn lúc trước khi chết. Họ ăn rất nhiều đến
mức những người thân không thể ngờ một người già cả lại có thể ăn hết lượng
thức ăn như thế và họ lại đòi ăn liên tục. Họ là hiện thân của chúng sinh nẻo
Atula.
Đối
với những chúng sinh nẻo Atula nương gá thân xác con người, chúng ta chỉ có thể
giúp họ không điều kiện. Họ đã từng là người, từng sống tham đắm, khổ đau và
trong mối quan hệ nhân duyên chằng chịt có thể bạn đã nợ họ. Việc bạn có thể
làm khi gặp phải trường hợp này là trả nợ tiền kiếp.
Việc
nương nhờ thân xác người của chúng sinh nẻo Atula không hẳn là dễ thực hiện.
Bởi lẽ ví như xác thân con người là một ngôi nhà thì thần thức, bản tâm của con
người chính là người chủ của ngôi nhà đó.
Ngôi
nhà đó chỉ có một chìa khóa duy nhất và chỉ có người chủ nhà thật sự mới sử
dụng được chiếc chìa khóa đó. Ngôi nhà đó thường xuyên đóng cửa, rất ít khi
người chủ rời khỏi ngôi nhà.
Ngay
khi con người ngủ thì họ không đi ra khỏi nhà, họ chỉ tắt đèn và nghỉ ngơi.
Chỉ
khi ngôi nhà mở cửa, người chủ lại lơ là, mất cảnh giác thì chúng sinh nẻo
Atula mới có thể tạm chiếm nhà người.
Mặc
dù là người chủ ngôi nhà nhưng việc dùng chìa khóa rời khỏi nhà, con người
thường không thể chủ động. Phần lớn, con người chỉ rời khỏi ngôi nhà thân xác
khi họ chết.
Ngoài
ra, có một số người nhận thức về thế giới tâm linh, họ dùng công phu hành trì
để thể nhập, tìm hiểu cõi giới khác, cũng như làm quen dần với việc thoát ly,
tách rời thân xác.
Việc
này thật sự nguy hiểm vì lẽ nếu không có chánh định, định tâm vững vàng khi họ
quay trở lại thì ngôi nhà đã có chủ mới hoặc là họ không còn nhớ cách mở cửa
vào nhà.
Chánh
định, định tâm yếu kém họ sẽ không đủ sức giành lại ngôi nhà của chính mình.
Chúng sinh nẻo Atula cũng không thể tự mở cửa ngôi nhà vắng chủ. Họ chỉ lẻn vào
ngay tại thời điểm người chủ mở cửa bước ra nhưng do dự, không dứt khoát khép
cửa lại.
Tuy
nhiên, thực sự cõi Atula vẫn thường xuyên mượn được nhà người. Bởi vì có một số
người định tâm yếu kém, tâm trí mê mờ,… Những người này lại thường rơi vào tình
trạng mở cửa nhà không tự chủ nên dễ bị chúng sinh nẻo Atula lợi dụng đoạt nhà.
Những
con người có định tâm yếu kém, tâm trí mê mờ,… cũng do bởi những nhân duyên
nghiệp quả mà họ gieo từ trước. Họ chỉ có thể tự cứu họ bằng việc học lại sự
tập trung và định tỉnh. Đây quả thật không phải là việc làm dễ dàng, họ cần
phải kiên trì và nhờ sự gia hộ của Phật - Tín tâm niệm Phật.
Đây
là nẻo chúng sinh không nhiều khả năng học hỏi, nhận biết. Chúng cũng bị hạn
chế về khả năng ghi nhớ, lưu giữ hình ảnh trong não bộ.
Chúng
tồn tại chủ yếu dựa vào bản năng sinh tồn tự nhiên, tập tính hoang dã và ngu
khờ hơn rất nhiều so với nẻo Người.
Khả
năng hiểu biết, ý thức, nhận thức,… yếu kém thể hiện chúng không biết chúng
sinh nẻo Người bắt chúng, giết chúng để làm gì?
Chúng
chỉ biết chạm trán với loài người là rất nguy hiểm. Thế nên chúng thường lẩn
tránh, trốn chạy. Về cảm giác, ở mức độ tương đối, chúng không có nhiều cung
bậc cảm xúc phức tạp như ở loài người. Việc cắn xé gây thương tích, bị hành hạ,
bị giết, bị nhốt,… thường gây cho chúng sinh nẻo súc sinh những cảm giác đau,
sợ sệt, hoảng loạn,… nhưng chúng không mang nặng ý thức, tư duy về cảm giác đau
khổ, phiền não,…
Những
chúng sinh nẻo súc sinh thường luân hồi cục bộ nghĩa là chúng trải qua rất
nhiều đời tồn tại trong hình dạng chủng loài mà chúng hiện diện bởi vì chúng có
tập tính bầy đàn, tiếng kêu đồng loại, hình dạng chủng loài… là những tín hiệu
được ghi nhớ do thói quen huân tập vì chúng thường xuyên dùng để giao tiếp,
trao đổi thông tin với đồng loại.
Chúng
chỉ luân chuyển sang chủng loài khác hoặc nẻo khác khi có những biến cố đặc biệt
hoặc do cơ duyên thích hợp.
Đây
là nẻo có rất nhiều, rất nhiều chủng loài nên việc luân chuyển cũng muôn hình
vạn dạng không thể trình bày rõ ràng, rành mạch.
Tôi
chỉ trình bày vài dạng luân hồi tiêu biểu, đơn giản.
Điển
hình là việc luân hồi giữa con gà và con sói với cả hai chiều thuận nghịch.
Con gà sau rất nhiều kiếp
tồn tại trong xác thân con gà. Vào một thời điểm nào đó, con gà bị lạc bầy và
gặp phải một con sói. Lẽ thường, con sói sẽ đuổi bắt, vồ lấy con gà xấu số.
Nhưng tập tính giống loài, con sói sẽ không ăn vội con gà, nó sẽ dùng con gà
vào việc rèn luyện kỹ năng bắt mồi.
Hiển nhiên là con gà rất
hoảng loạn vì xung quanh toàn là hình ảnh những con sói hung ác. Ký ức mới đáng
sợ này sẽ được ghi nhận với hình dạng, tiếng gầm gừ, việc đuổi bắt, vờn mồi,…
và không có gì đáng ngạc nhiên khi con gà đó sẽ là con sói ở kiếp sau.
Việc
luân chuyển từ con sói thành con gà cũng bi thảm không kém.
Một con sói chuyên bắt trộm
gà của một gia đình sống ven rừng. Sau nhiều lần mất gà, người chủ đã đặt bẫy
nhằm bắt kẻ phá hoại. Con sói dính bẫy. Người chủ thật sự căm giận muốn giết
ngay con sói nhưng lại nghĩ không hẳn chỉ có một con sói. Họ quyết định không
giết con sói mà nhốt cạnh chuồng gà để những con sói khác thấy đồng loại bị
nhốt không đến phá nữa.
Mặc dù con sói bị con người
bắt nhưng nó không quan tâm, nó đang đói và món ăn khoái khẩu của nó là những
con gà đang bị nhốt ở gần bên. Con sói bị bỏ đói đến chết với một nỗi nhớ… con
gà.
Con
người rơi vào nẻo súc sinh như thế nào?
Có
thể là thói quen, là thú vui, là sự ưa thích,…
Ví như tôi là người thích
nuôi những con thú cưng - chó, mèo, chim cảnh,… Sự yêu thích đó khiến tôi lưu
giữ những hình ảnh xinh đẹp dễ thương đó vào trong tiềm thức thì sẽ có một lúc
nào đó tôi sẽ là một trong những chú chim xinh đẹp, chú chó dễ thương, con mèo
hoang vô chủ,…
Nẻo
súc sinh chuyển sang kiếp người như thế nào?
Có
rất nhiều hình thức khác nhau, tôi chỉ trình bày hình thức cơ duyên, phúc phận.
Một chú chó con đi lạc, đói
lả một đứa bé biết yêu thương loài vật mang về nuôi chăm sóc. Con chó đó sẽ nhớ
hình bóng con người đã thương yêu, nuôi chú và nếu nhân duyên đến con chó đó sẽ
chuyển kiếp.
Nẻo
Trời, Atula chuyển sang nẻo súc sinh ở dạng trực tiếp.
Sau
khi nhàm mỏi, chán chê sự tự tại, ý niệm về thân sẽ dẫn chúng sinh hai nẻo
Trời, Atula mang trên mình vảy hoặc lông thú dựa vào niềm tin hoặc định tâm.
Nẻo
Atula còn chuyển sang nẻo súc sinh thông qua nẻo Người.
Có
một số người nhàm chán cuộc sống đua chen, quay về đời sống ẩn dật, tu tập
thiền định đạt được định tâm nhưng không hiểu biết về chánh định. Họ nhìn những
con bướm, những con chim,… ở nơi họ sinh sống thật tự do và họ mong mỏi được là
con chim, con bướm,… Định tâm mà họ đạt được sẽ giúp họ luân chuyển vào xác
thân nẻo súc sinh.
Và
còn nữa… Những chúng sinh tạo nhân xấu ác rơi vào nẻo súc sinh quả thật rất
nhiều, nhiều vô số.
Nẻo
giới này phần nhiều là những chúng sinh có nghiệp nhân, thói quen huân tập xấu
ác từ tiền kiếp về nẻo tối này để chịu đựng sự khổ não bức hại.
Tham
đắm, ham muốn dục vọng, si mê, lầm lạc, sân hận, nóng nảy,… là chìa khóa mở
cánh cửa nẻo giới này. Nẻo Atula tồn tại ở nẻo này thường gặp ở dạng quỷ đói,
định tâm đói thường xuyên, liên tục khiến chúng sinh này chịu khổ não rất
nhiều. Trải qua rất nhiều, hàng hà sa kiếp thì những rung cảm si mê, lầm lạc,
mặc cảm tội lỗi, việc làm xấu ác sẽ nguôi ngoai dần mở đường cho những chúng
sinh này quay lại trôi lăn trong 6 nẻo.
Ngoài
ra, nẻo giới này nếu gặp những người có được chánh định, định tâm vững dùng
chân tâm chỉ dẫn cũng góp phần giúp chúng sinh cõi giới này sớm được siêu sinh.
Một
phần không nhỏ chúng sinh trong nẻo ngạ quỷ là những vong hồn uổng tử, những
người tự hủy hoại mạng sống do thù hận, ghen ghét, đố kỵ, bế tắc,… trong cuộc
sống. Họ tìm đến cái chết vì nghĩ chết là hết nhưng đến khi chết rồi lại nhận
thấy tâm ý mình vẫn tồn tại nhưng họ không thể nhận biết sẽ đi đường nào vì
những đau khổ khi sống vẫn còn đeo đuổi, hành hạ ở mức độ cao hơn.
Những
việc làm xấu ác, nhất là ở hiện kiếp chính là con đường dẫn về Địa ngục. Dù cho
tội ác được che đậy tinh vi, khéo léo thì chúng sinh tạo nghiệp cũng không thể
trốn chạy được nghiệp quả vì bạn chỉ có thể lừa người nhưng không thể gạt mình.
Nẻo
Địa ngục là cảnh giới khổ não, bức hại, hành hạ nặng nề nhất trong 6 nẻo. Chúng
sinh trong nẻo này hoảng loạn kinh sợ đến mức không nhận biết được gì, không
biết mình sợ điều gì chỉ sợ và rất sợ.
Những
khổ hình, khổ não sẽ do ai bức ngặt?
Tất
cả chỉ lưu xuất từ tâm ý rối loạn, không còn định tỉnh của chúng sinh đó.
Tôi
sẽ đơn giản nẻo Địa ngục giúp bạn dễ nhận biết ở một cấp độ nhẹ hơn. Chúng sinh
trong nẻo Địa ngục sẽ hoảng loạn hơn gấp rất nhiều lần so với việc một con
người vì cướp một món tài sản có giá trị, lỡ tay giết người.
Người
đó rõ biết “Giết người là đền mạng”. Anh ta xóa mọi dấu vết nhưng anh vẫn ngờ
rằng người khác đã nghi ngờ. Anh tìm cách lẩn trốn nhưng anh lại nghĩ những
việc xấu ác của anh mọi người đã biết. Họ cho anh một cơ hội nhưng anh không
muốn nắm bắt lấy, anh sợ cảnh sống tù tội. Anh bắt đầu trốn chạy nhưng anh cảm
nhận người truy bắt đang đến rất gần. Anh nghĩ về những ngày đen tối trong tù,
chịu muôn điều tủi nhục, hành hạ, cái chết treo lơ lững trên đầu, người chết
đòi mạng,… Và thế là anh trốn chạy không dừng nghỉ.
Nhưng
trong tâm trí mê loạn anh lại nghĩ mọi người đã bắt được anh, đang tra tấn,
đánh đập. Anh hoảng loạn vừa chạy vừa kêu la, rên khóc. Anh nhận thấy toàn thân
đẫm máu, đau nhức không kể xiết,… Đó chỉ là những cung bậc cảm giác mà chúng
sinh nẻo Địa ngục phải lãnh nhận ở cấp độ thấp.
Nẻo
Địa ngục là cảnh giới tối tăm, lạnh lẻo rợn người xen lẫn sự nóng bức, khét cháy,...
Thế nên, phần lớn chúng sinh nẻo này khi luân chuyển sang nẻo khác thường tinh
thần không định tỉnh, động loạn.
Cũng
như ở nẻo ngạ quỷ chúng sinh nẻo Địa ngục cũng chịu bức não dai dẳng, liên tục
hàng sa số kiếp mới được luân chuyển sang nẻo khác nhưng hoàn toàn không thể
chọn lựa con đường để đi.
Tóm
lại, sự luân hồi trong tam giới, cũng như đời sống chúng sinh trong tam giới là
rất phức tạp đan xen lẫn nhau. Chỉ có một phương cách duy nhất để thoát khỏi
luân hồi trong tam giới là đạt được sự hiểu biết giác ngộ, giải thoát hoàn toàn
và sống với cái biết đó.
Khi
đạt được sự hiểu biết về sự giải thoát hoàn toàn ở một mức độ nhất định thì bạn
sẽ nhận ra sự luân hồi không đáng sợ vì lẽ sự luân hồi chứa đựng sự khách quan,
sự công bằng cần thiết đối với mọi chúng sinh trong tam giới.
Khi
rõ biết lẽ thật này rất nhiều người sau quá trình hành trì tu tập đạt chánh
định đã lập hạnh bồ tát, nhập thế cứu độ muôn loài. Vào sinh tử nhưng không mê
đắm, đắm chìm trong sinh tử.
Con
người là chúng sinh có được phước báo rất lớn khi có khả năng quyết định con
đường của mình đi trong 6 nẻo và gần như là chúng sinh duy nhất có đặc quyền
bước đi trên con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Bạn
sẽ cả nghĩ “Tại sao con người có được đặc quyền ưu tiên đó? Thật không công bằng!”.
Thế
mới nói - Lạm bàn là trái đạo. Hãy đi tìm câu trả lời trong tự tâm.
Tuy
nhiên, tôi sẽ nói rõ vấn đề bạn đã hoài nghi. Bạn đã nhầm lẫn! Đó chính là sự
huyền diệu, công bằng của bánh xe luân hồi. Bởi lẽ có chúng sinh nào không từng
luân chuyển qua kiếp người.
Chỉ
là ở kiếp người đó có cơ duyên biết đạo, hiểu đạo và hành đạo hay không?
Thân
người khó được, chánh pháp khó tin nhận, khó tìm cầu,... Nếu được làm người thì
bạn hãy nên trân trọng!
Vì
nghiệp duyên nhiều đời, con người thường được sinh ra, lớn lên trong những hoàn
cảnh khác nhau sang hèn, nghèo giàu, hạnh phúc, khổ đau,… Nhưng tất cả mỗi
người đều có khả năng giải thoát hoàn toàn là như nhau.
Những
người sang giàu hãy biết dừng lại sống, đừng tham đắm tích góp,… vừa làm khổ
não thân tâm vừa hại cả người thân và con cháu vì lẽ con cháu có phúc phận của
con cháu.
Bạn
hãy nên cho con bạn một chiếc cần câu, chỉ bày chúng cách sử dụng chiếc cần câu
hơn là cho chúng một số cá.
Nếu
bạn chuẩn bị cho con bạn những mâm cỗ thịnh soạn đủ dùng cho đến lúc chúng cuối
đời thì con bạn có phần vô dụng. Bạn sẽ giết chết tài năng, sự hiểu biết và
cuộc sống của con bạn.
Kim ngọc mãn đường, mạc chi năng thủ,… Trì nhi doanh chi, bất nhi kì dĩ,…
Vàng
bạc đầy nhà làm sao mà giữ nổi. Giữ chậu đầy hoài chi bằng thôi đi,…
Quả
thật vàng bạc đầy nhà làm sao giữ nổi vì khơi gợi lòng tham người khác, là việc
làm nguy hại đến thân mạng. Nhà lắm bạc, nhiều tiền con cái dễ và người thân dễ
sinh hư đốn, trụy lạc,… Bạn cũng không là người giữ kho, cũng không là nô lệ
của đồng tiền, vàng bạc.
Giữ
chậu đầy hoài chi bằng thôi đi vì lẽ đó là việc làm không nhiều lợi ích. Trong
khi tôi đang cần cái chậu đó làm việc khác có ích hơn. Nếu tôi cứ cố chấp giữ
nước trong chậu thì sẽ không làm được những điều quan trọng cần thiết khác.
Giữ
chậu đầy hoài chi bằng thôi đi còn có hàm nghĩa sâu sắc khác. Đó là mỗi người
chúng ta sinh ra và lớn lên thường học hỏi sự hiểu biết trong cuộc sống. Cho
đến một lúc nào đó cái tôi của mỗi người tự cho rằng mình đã trưởng thành, từng
trải, đủ thông minh hơn người khác.
Sự
tự phụ hiểu biết hơn người khiến cho mỗi người không thể tiến bộ thêm vì người
đó sẽ không học hỏi những điều mới lạ khác như là một cái chậu nước đầy không
thể đổ được nước vào thêm.
Chỉ
khi người đó dứt trừ sự tự phụ hơn người, biết khiêm tốn, hạ mình lắng nghe
người khác, học hỏi thêm thì sự hiểu biết của người đó mới không ngừng tăng
trưởng, tiến bộ thêm.
Những
người nghèo khó cũng nên biết dừng lặng sống. Nếu bạn cứ vội vã, tất bậc trong
cuộc mưu sinh thì bạn đã đánh mất chính bạn, bạn quên mất cuộc đời mình và bạn
đánh mất đi điều kỳ diệu duy nhất của cuộc sống. Bạn sẽ không thể có hạnh phúc chân
thường mà bạn và gia đình đang tìm.
Những
người giả dạng ăn xin, những người con có cha mẹ, người thân là tội nhân đang
lãnh án tù, cả những người sống bằng nghề cướp giật, móc túi, đâm thuê, chém
mướn,… Cuộc sống khó khăn, bạn không tìm ra được nẻo sáng trong xã hội loài
người.
Bạn
hỏi:
- Ai
cho tôi lương thiện?
Tôi
trả lời:
- Bạn
phải cho bạn lương thiện. Vì lẽ những người giả dạng ăn xin, bạn phải sống lăn
lê trên đường, tự tạo cho mình những vết thương lở loét, tật nguyền, vẻ mặt
thảm não và thân cận với những người ăn xin thật, mọi hình ảnh sẽ lưu giữ lại,
những thói quen xấu khiến bạn sẽ là những người bệnh hoạn, tật nguyền ở kiếp
mai sau và những con dòi, ruồi nhặng cũng được lưu vào trong tâm trí. Đó không
phải là những nẻo tốt mà bạn muốn đi.
...
Những
người bạn tham gia băng nhóm đâm thuê, chém mướn, giết người bạn có nhìn thấy
sự tương quan với những loài dã thú hung tợn. Tội ác, máu, nước mắt, mặc cảm
tội lỗi, nỗi sợ hãi, sự trả thù,… những việc làm này sẽ dẫn bạn về đâu trong 6
nẻo.
Tất
cả hãy dừng lại, chưa muộn cho sự dừng lại. Bạn hãy quay về cuộc sống thiện
lương, lành mạnh.
Hãy
xóa những ký ức tối tăm, những thói quen xấu, tìm lại sự thanh thản, bình yên
trong tâm hồn. Tôi vẫn biết có thể những lời cảnh tỉnh bạn sẽ khiến tôi bị
giết. Nhưng tôi vẫn viết dẫu sao tôi vẫn phải giúp bạn.
Nếu
tôi vì bạn mà chết tôi sẽ không mang điều đó theo, bạn cũng hãy quên đi và sống
lại từ đầu.
Hãy
giữ lòng thanh tĩnh!
Những
người bạn đang tham đắm thú vui thân xác, những bước nhảy cuồng quay với viên
trắng, viên hồng, ma túy,… Những người sống bằng máu và nước mắt người khác, bằng
việc giết chóc với chiến tranh, thù hận, những nhà chính trị độc tài, đầy tham
vọng, si mê và ích kỷ, cả những người đang mê đắm những trò chơi games cuồng
loạn,…
Hãy
dừng lại! Hãy quay về! Hãy là đường xưa mây trắng bay…!
Kinh
tế phát triển, cuộc sống sang giàu, nhàn hạ đôi khi lại là mối họa không nhỏ.
Phú quý sinh lễ nghĩa - nhiều lễ nghi, hủ tục khiến con người phạm sai lầm, bị
thành phần cơ hội lợi dụng rơi vào những tệ nạn mê tín dị đoan. Việc này không
chỉ hại họ mất tiền, tinh thần rối ren mà còn hại đến cả những người thân đã
khuất thêm mê mờ, lầm lạc. Hiện nay, do cuộc sống có phần dư dã, việc ma chay,
cúng đám tổ chức với rất nhiều nghi thức tế lễ rườm rà, giấy tiền vàng mã được
đốt rất nhiều, có cả nhà lầu, xe hơi, xe máy, máy bay,… được gửi xuống cho
người đã khuất.
Việc
này thật tai hại vì người đã mất lẽ ra sớm được luân hồi nhưng vì tài vật người
thân gửi xuống quá nhiều, họ tham đắm chất giữ chấp nhận sống kiếp ngạ quỷ quẩn
quanh. Có một sự thật là khi tồn tại ở trạng thái không có thân quá lâu, chúng
sinh đó sẽ càng thêm mê mờ tâm thức dẫn đến về sau càng dễ sa chân vào đường
dữ.
Lời
thật gửi đến bạn mong bạn hãy thận trọng đối với những việc làm dễ khiến người
đã khuất thêm lạc lối.
Nhân
dịp thể nhập tam giới, Vô Ưu cảnh tỉnh chúng sinh ở nẻo không có thân nên tự
nhận biết đúng sai, đừng mê mờ tham đắm vật thực, vật cúng dẫn đến việc ngụp
lặn trong nẻo tối Địa ngục và kiếp ngạ quỷ nếu cứ mê lầm thì khổ não biết đến
bao giờ ngừng dứt.
Chương V
Nếu
gia đình là tế bào xã hội thì con người chính là nhân của tế bào. Vậy ra xã hội
chính là cơ thể.
Cơ
thể khỏe mạnh đòi hỏi những tế bào cấu tạo cơ thể phải hoàn chỉnh. Điều này đòi
hỏi nhân tế bào phải tốt. Đây chính là gốc rễ cho sự tồn tại vững chắc ổn định
của xã hội loài người.
Đã
từ lâu, nhân loại dường như đã quên lẽ thật này. Họ đã quên bỏ gốc chỉ quan
tâm, chăm lo phần ngọn. Khi bạn nhìn nhận trên phương diện tổng thể, bạn sẽ
nhận ra từ lâu con người chỉ quan tâm những vấn đề trọng yếu như chính trị,
kinh tế, tôn giáo, giáo dục, khoa học,…
Nhưng
nhân loại gần như quên hẳn vai trò con người mới chính là yếu tố quyết định nên
một xã hội bền vững, ổn định, hòa bình và hạnh phúc.
Nhân
loại nên chăng nhìn nhận, thừa nhận lại vị trí vai trò của yếu tố con người
trong xã hội loài người?
Giả
định xã hội loài người là một cái cây hoàn chỉnh.
Phải
chăng con người là gốc rễ?
Các
ngành nghề chính trị, kinh tế, tôn giáo, xã hội,... chỉ là một phần của thân
cây?
Khoa
học, giáo dục, công nghiệp, nông nghiệp, văn hóa, thể thao,… là cành nhánh, hoa
trái của cái cây hoàn chỉnh đó?
Khi
việc này được thừa nhận thì mỗi người sẽ ý thức được vị trí, vai trò quan trọng
của tự thân và sẽ có những đóng góp tích cực, vun đắp sức sống cho cây khỏe
mạnh.
Ngành
giáo dục sẽ dùng tâm đạo nhằm giáo dục con người ý thức, nhận thức về cuộc
sống. Giúp con người sống có ý thức, có hiểu biết, sống tùy thuận, không làm
điều trái đạo sẽ nguy hại cho mọi người và chính mình.
Nguồn
gốc sơ khai của ngành giáo dục là việc con người học hỏi, tìm hiểu tự nhiên,
tích lũy những hiểu biết bổ ích trong tự nhiên nhằm có cuộc sống tốt hơn. Việc
góp nhặt, tìm tòi tạo thành những kinh nghiệm cho con người, về sau con người
truyền dạy trao đổi cùng nhau và tiếp tục học hỏi mọi thứ có trong tự nhiên.
Vì
học hỏi tự nhiên nên việc làm của con người tùy thuận theo tự nhiên. Việc học
hỏi không ngừng và học tất cả những gì con người thấy có lợi cho cuộc sống.
Càng
về sau con người tích lũy nhiều hiểu biết, họ đã chia ra nhiều ngành học khác
nhau và việc học được gọi là giáo dục. Nhưng khi hiểu biết được nâng cao, con
người lại tách rời, không còn gần gũi, tùy thuận tự nhiên như trước.
Việc
giáo dục chủ yếu ở nhà trường, lớp học,… vì con người lầm lạc nghĩ rằng chỉ học
ở trường là đủ dẫn đến việc giáo dục, răn dạy ở nhà ít dần và gần như mất hẳn.
Điều này vấp phải một sai lầm tai hại.
Việc
dạy và học của ngành giáo dục chịu áp lực và sự chi phối của sự phát triển kinh
tế, xã hội,… khiến ngành giáo dục chỉ chú trọng đến việc đào tạo nhân tài qua
việc nhồi nhét một dung lượng kiến thức khổng lồ, không ngừng tăng lên vào bộ
nhớ của thế hệ trẻ. Thế hệ trẻ lặn ngụp trong khối kiến thức đồ sộ và do không
được sự quan tâm của người lớn nên đã không trao dồi, luyện rèn nhân cách đạo
đức.
Hơn
nữa, chúng mệt mỏi với nhiều môn học quan trọng mà chúng không biết học để làm
gì?
Thậm
chí ngay cả những người đứng đầu ngành giáo dục cũng quên mất việc dạy những
môn học đó cho thế hệ trẻ nhằm mục đích gì?
Đơn
cử như môn giáo dục công dân, môn đạo đức những cô cậu học sinh học chúng để
làm gì?
Phải
chăng học để rèn luyện nhân cách đạo đức làm người?
Hai
môn học này có còn giá trị thực tiễn hay chỉ là môn học hình thức?
Vì
lẽ những người học sinh không tập và làm theo được. Trong cuộc sống người lớn
dạy chúng khác hẳn và thực tế hơn. Người lớn không làm đúng với những điều mà
thế hệ trẻ đã được học.
Sống
phải thực dụng, phải biết cách thu gom danh lợi, tiền tài,… khi cần thiết có
thể dùng bất cứ thủ đoạn miễn sao đạt được mục đích cá nhân. Đó là những gì thế
hệ trẻ học được ở người lớn, ở ngành văn hóa, giải trí phim ảnh,… Lối sống thực
dụng. Thế nên với những đứa trẻ chăm ngoan đến một lúc nào đó chúng sẽ bị mất
phương hướng, cảm thấy lạc hậu, chậm tiến hơn bạn bè.
Một
số đứa trẻ trở nên mất tự tin, nhút nhát, yếu đuối. Số khác nổi loạn đến mức
người lớn mất khả năng kiểm soát,… Bạn đừng cho rằng tôi phô trương, phóng đại
quá mức vấn đề.
Có
chăng là tôi đã lên tiếng có phần quá chậm trễ, muộn màng?
Môn
sử học được truyền dạy với mục đích gì?
Ai
sẽ nhận trách nhiệm trả lời câu hỏi này?
Kiến
thức lịch sử loài người được cập nhật từng năm, ai đủ trí tuệ để nhận biết tất
cả?
Thế
hệ trẻ cần biết đến thế chiến thứ nhất, thế chiến thứ hai, lịch sử Liên Bang Xô
Viết, nền dân chủ Mỹ, sự phát triển của Nhật sau thế chiến thứ hai,… để làm gì?
Phải
chăng học sinh học chỉ để biết, để thi tốt nghiệp rồi quên lãng?
Giá
trị thực sự của môn sử học phải chăng là…?
Lịch
sử loài người được ghi nhận lại để nhân loại nhận biết những sai lầm mà con
người đã vấp phải xuyên suốt quá trình phát triển nhằm rút ra những bài học
kinh nghiệm, tránh vấp phải những sai lầm tương tự.
Lịch
sử nhắc cho nhân loại nhớ chiến tranh, thù hận là máu và nước mắt của loài
người. Chiến tranh không có giá trị gì đối với sự phát triển, tiến bộ của loài
người nhưng nhân loại đã nhầm lẫn chỉ lưu giữ lịch sử với mục đích dạy, học và
quên đi.
Vì
không nhận biết rõ mục đích của việc lưu giữ lịch sử nên nhân loại đang chuẩn
bị cho một cuộc chiến tranh mới, nhằm giảm bớt dân số thế giới bằng các cuộc
xung đột, tranh chấp, giao tranh, gây hấn giữa các nước trong khu vực và trên
thế giới.
Và
còn bao nhiêu môn học có trong ngành giáo dục mà nhân loại không rõ biết giá
trị thực tiễn?
Phải
chăng đã đến lúc ngành giáo dục chú trọng việc rèn luyện tài đức cho thế hệ
trẻ?
Xã
hội sẽ ra sao nếu thế hệ tương lai chỉ là một lực lượng người tài và rất nhiều
thành phần bất hảo,… còn những người có nhân cách đạo đức thì gần như không tồn
tại?
Khoa
học có cùng nguồn gốc sơ khai với giáo dục. Về sau được tách ra, ngành khoa học
được xây dựng và phát triển theo hướng tìm tòi, nghiên cứu, phát minh ra những
cái mới mà tự nhiên chưa có nhằm phục vụ cho đời sống con người ngày một tốt
hơn.
Khoa
học đã rất thành công trong việc đóng góp cho sự tiến bộ của loài người.
Khoa
học đạt được những thành tựu công nghệ vượt bậc góp phần nâng cao đời sống con
người. Chính do việc sống vùi trong thành tựu đã khiến tri thức nhân loại có
những dấu hiệu tự mãn và ảo tưởng.
Đại
diện tri thức nhân loại đã cho rằng sự hiểu biết của khoa học là cùng tột. Chối bỏ nguồn gốc tự nhiên nhưng vội quên mọi
thành tựu phát minh khoa học đều dựa vào tự nhiên, có nguồn gốc của tự nhiên.
Tách rời tự nhiên thì sẽ không có một phát minh khoa học nào tồn tại.
Lẽ
ra tri thức khoa học phải rõ biết điều đó, dập tắt sự cao ngạo không cần thiết
đối với một người làm khoa học chân chính.
Tri
thức nhân loại cũng nên hiểu rõ câu nói rất thật của hai nhà khoa học tài ba
Newton và Einstein khi họ được khen ngợi vì phát minh ra những thành tựu khoa
học vĩ đại cho nhân loại. Câu nói rất chân chất “Tôi chỉ như một em nhỏ may mắn
tìm được một hòn cuội trên bờ một đại dương”.
Như
tôi đã trình bày ở những phần trước khoa học đã sai khi làm một công cụ phục vụ
cho tham vọng và tư dục của con người.
Khoa
học hãy nên sớm định hướng lại sự phát triển của tri thức nhân loại theo hướng
bền vững, có hiểu biết và đặt trên cái nhìn tổng thể, khách quan.
Nguyên
gốc của chính trị chỉ là một vài người có hiểu biết được cộng đồng người nhờ
cậy việc phân xử những tranh cãi vụn vặt trong đời sống hàng ngày của loài
người thời sơ khai. Việc chọn lựa người phân xử ban đầu có phần khách quan chỉ
cần người phân xử có sự hiểu biết nhất định, được nhiều người coi trọng, thường
là những người cao tuổi trong cộng đồng.
Những
người được tín nhiệm làm việc với tinh thần khách quan và vô điều kiện. Họ làm
việc có ích cho cộng đồng nên thi thoảng họ cũng nhận được những món quà từ
cộng đồng và những người có chuyện nhờ họ can thiệp.
Cộng
đồng người ngày càng đông đúc và phát sinh ra nhiều vấn đề phức tạp khiến cho
việc cần thiết phải có một nhóm người với số lượng nhiều hơn để giải quyết tốt
mọi việc tranh chấp ra trong cộng đồng.
Cộng
đồng người đã tiến hành gom góp, trích một khoản tài sản, của cải chung nhằm
duy trì sự hoạt động liên tục của nhóm người được phân công phục vụ những việc phát
sinh trong cộng đồng người.
Nhóm
người này là những người nhanh nhạy trong cộng đồng người, một số được những
người lớn tuổi trong làng chỉ định, số khác được mọi người đề cử. Lúc bấy giờ,
sự xây dựng nhóm người trên đã có tính chủ quan của con người. Dần dần, cộng
đồng người nhờ sự tổ chức, sắp xếp của nhóm người đó mà phát triển lớn mạnh.
Nhóm người trên cũng dần nhận rõ vai trò và giá trị của mình. Họ bắt đầu can
thiệp nhiều hơn đến những vấn đề khác như việc sản xuất, phân chia sản phẩm làm
ra, xây dựng công quỹ, xây dựng lực lượng bảo vệ,… tạo thành một tổ chức quyền
lực ngày thêm hoàn chỉnh, thâu tóm quyền hành.
Đó
là quá trình ra đời, hình thành và phát triển của hệ thống chính trị sơ khai.
Xã
hội phát triển dần lên xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, hệ thống
chính trị lúc bấy giờ đã hoàn chỉnh. Giới chính trị phong kiến tiến hành tranh
giành quyền lực, thâu tóm đặc quyền, đặc lợi với các thành phần khác trong xã
hội. Lòng tham con người là không có giới hạn, giới chính trị nghĩ đến việc
cướp đoạt tài sản, tiền của các quốc gia lân cận. Nhằm thỏa mãn lòng tham cá
nhân, giới chính trị tiến hành xây dựng quân đội, sản xuất trang bị vũ khí và
việc xâm lấn, cướp bóc những vùng đất, lãnh thổ khác được tiến hành. Chiến
tranh, thù hận đã được con người tạo ra.
Nhằm
đảm bảo vị trí thống trị, giới chính trị phong kiến đã áp đặt hệ tư tưởng “Trung
quân, ái quốc” vào mọi tầng lớp, mọi thành phần trong xã hội.
Tuy
nhiên, lòng tham của giới cầm quyền phong kiến đã vượt giới hạn. Tài sản, của
cải xã hội làm ra bị nhà cầm quyền trưng dụng, chiếm giữ phục vụ cho nhu cầu cá
nhân, ăn chơi trụy lạc, hoang phí,…
Nhà
cầm quyền phong kiến chỉ lo thu gom, tích lũy quyền lợi cá nhân, không còn chăm
lo xã hội, bỏ mặt người dân sống trong đói khổ, loạn lạc, khốn cùng,… Người dân
bất mãn giai cấp thống trị tự tư, tự lợi đã tiến hành những cuộc đấu tranh,
phản kháng lật đổ triều đình thay nhà cầm quyền mới.
Các
triều đại mới ban đầu cũng chăm lo cho đời sống người dân được lòng dân ủng hộ.
Kinh tế, chính trị, xã hội đi vào ổn định và phát triển cực thịnh. Tư dục con
người lại tiếp tục đẩy con người vào chiến tranh, tranh đoạt. Giới phong kiến
lại quên bỏ người dân. Lại đấu tranh lật đổ chính quyền.
Sau
vô số cuộc đấu tranh, chiến tranh đẫm máu, con người ý thức nhận định lại vấn
đề. Chế độ quân chủ, quyền lực tập trung vào tay những ông vua chỉ sau một thời
gian chăm lo cho dân thì lại đi vào “Vết xe đổ”.
Vì
tư dục cá nhân, gia đình, hoàng tộc và giai cấp chẳng mấy chốc của cải xã hội
lại bị sử dụng sai một đích, chỉ đem lại lợi ích cho một nhóm người, làm giàu
cho giới thống thống trị, người dân bị rơi vào khốn khó. Những cuộc đấu tranh
nổ ra, máu và nước mắt người đổ xuống. Thế nên, họ xây dựng một thể chế chính
trị mới - Chế độ dân chủ.
Tuy
nhiên, xã hội cần có người lãnh đạo, người dân tiến hành bầu cử những người họ
tín nhiệm lên làm chính quyền. Chủ nghĩa tư bản, xã hội chủ nghĩa được xây dựng
trên nền tảng dân chủ.
Nhưng
lòng tham con người chưa từng ngừng dứt, nguồn vật chất sản xuất trong nước
không đáp ứng được lòng tham của giới cầm quyền. Chủ nghĩa tư bản chuyển thể
thành chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít, tiến hành bành trướng lãnh thổ,
xâm lược xây dựng hệ thống các nước thuộc địa, cướp đoạt tài sản mang về phục
vụ cho chính quốc.
Nhưng
trên thực tế lượng vật chất, tài sản cướp về chủ yếu phục vụ cho giới cầm quyền
và phục vụ cho chiến tranh. Lòng tham của giới chính trị đã tạo ra chiến tranh
tắm máu nhân loại và cả người dân, dân tộc họ.
Sự
trơ tráo của giới chính trị được che đậy tinh vi bằng những lời lẽ gây ngộ nhận
với tinh thần dân tộc, lòng yêu nước,... Họ đẩy người dân đến trước mũi súng
của kẻ thù, để rồi kích động, leo thang chiến tranh. Người dân sẽ chết vì giới
chính trị nhưng sẽ không có điều ngược lại.
Tôi
muốn nói điều gì?
Người
dân có thể vì giới chính trị mà chết nhưng sẽ khó có chuyện giới chính trị vì
người dân mà chết. Những quốc gia đang tranh chấp, xung đột và cả những quốc
gia đang có sự tranh chấp quyền lực giữa các đảng phái,... Trong khi người dân
vì họ mà bị chết thì họ vẫn bình yên.
Nếu
tình hình vượt mức kiểm soát, họ sẽ lẩn trốn, sống lưu vong chứ không thể vì
người dân mà nhượng bộ.
Dù
là thể chế chính trị nào đi chăng nữa thì quyết định cho sự phát triển ổn định
của xã hội vẫn chỉ là yếu tố con người.
Chế
độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản, xã hội chủ nghĩa,… cũng đã từng xây dựng được
những thời hoàng kim trên nhiều quốc gia, trong nhiều thời kỳ lịch sử khác
nhau, vẫn đảm bảo được xã hội phát triển cực thịnh, người dân no ấm, cuộc sống
thái bình. Thế nên quyết định cho một xã hội công bằng, tiến bộ, hạnh phúc là
yếu tố con người. Đặt biệt là vai trò người đứng đầu thể chế chính trị.
Một
phần khác tác động không nhỏ đến sự ổn định xã hội là tư dục của các thành phần
khác nhau trong xã hội. Khi sự ích kỷ len vào tất cả các thành phần xã hội thì
điều này đồng nghĩa với việc xã hội sẽ đại loạn.
Thể
chế dân chủ và thể chế quân chủ thì có gì khác biệt?
Quyền
lực vẫn tập trung trong tay một số người. Thế nên điều quan trọng là ở số người
đó có ý thức, nhận thức gì về xã hội, tư tưởng họ hướng về người dân hay về
thành phần, vị trí mà họ đang nắm giữ,…
Thể
chế dân chủ đề cao vai trò của người dân trong xã hội?
Liệu
người dân các nước trong khối NATO có nhận biết rõ nguyên nhân mà NATO không
kích tấn công Lybia?
Nếu
phần lớn câu trả lời là không thì vai trò, vị trí của họ thể hiện ở đâu?
Thực
tế, người dân sau khi giao quyền lực chính trị cho một nhóm người thì gần như
không còn tiếng nói, đánh mất luôn vai trò trung tâm của xã hội. Nhưng lại là
thành phần gánh nhận mọi hậu quả mà giới chính trị gây ra. Nếu nhân loại cứ xây
dựng chính trị theo lối “Lấy ngọn bỏ gốc” thì có lẽ xã hội loài người khó có
thể đạt được mục tiêu công bằng, tiến bộ và văn minh. Bởi vì xã hội loài người
sẽ như là một dòng sông gồm có con nước ròng và con nước lớn. Con người sẽ ngụp
lặn trong dòng sông với được mất, hơn thua, vui buồn, hạnh phúc và đau khổ,… và
sẽ có số ít người làm người giữ đạo, lặng yên, đứng trên bờ sông nhìn thế sự
đảo điên, hỗn loạn.
Cụ
thể hơn là chế độ chính trị này phát triển cực thịnh, tư dục của giới chính trị
và các thành phần khác trong xã hội vượt giới hạn. Chế độ chính trị mới ra đời
phủ nhận chế độ chính trị cũ không còn hợp thời và kèm theo là máu và nước mắt
của nhân loại. Chế độ chính trị mới góp phần xây dựng xã hội phát triển rồi đi
vào “Vết xe đổ” - Lòng tham con người. Lại bị phủ định bởi chế độ chính trị
khác cùng với những mất mát, đau thương cho nhân loại.
Nhưng
trên thực tế chế độ chính trị khác cũng chỉ là chế độ chính trị trước đó đã
được con người thay đổi cho phù hợp với tình hình mới. Những cuộc phủ định, xóa
bỏ, triệt tiêu lẫn nhau sẽ mãi còn tiếp diễn nếu nhân loại không thay đổi quan
điểm, góc nhìn. Cứ mãi “Lấy ngọn bỏ gốc”.
Có
lẽ mỗi người trong xã hội nên nhìn nhận lại vai trò, vị trí của bản thân trong
công cuộc xây dựng một xã hội văn minh, công bằng và tiến bộ.
Đừng
quá ích kỷ, cá nhân đặt mình ra khỏi xã hội nhằm xây dựng cuộc sống chung tốt
đẹp và hoàn thiện. Đây cũng là lời giải, giải pháp hữu hiệu cho việc khắc phục
khủng hoảng nợ công đã, đang và sẽ lan nhanh, lan rộng ở các nước Châu Âu và
khắp thế giới.
Giới
chính trị nên chăng nâng tầm vị trí, vai trò con người trong các thành phần xã
hội bằng việc thu hẹp tầm ảnh hưởng, tạo điều kiện lành mạnh cho các thành phần
xã hội tự phát triển,…?
Giới
chính trị chuyển sang quản lý xã hội và con người ở tầm vóc cao hơn. Có lẽ sự
chuyển biến này sẽ giúp xã hội phát triển theo hướng công bằng, tiến bộ và bền
vững hơn. Nhưng mọi việc sẽ theo một tiến trình từng bước, thận trọng, khách
quan và việc cần làm trước tiên là giúp con người nhận thức, ý thức được vai
trò, vị trí của họ trong cuộc sống.
Nhằm
đơn giản vấn đề, tôi sẽ chuyển vấn đề chính trị xã hội phức tạp sang việc quản
lý gia đình đơn giản hơn nhưng thật ra về bản chất của hai vấn đề trên là không
hề sai khác cũng gồm có nhiều mối quan hệ đan xen, việc đối nội, đối ngoại,…
nhưng tôi chỉ trình bày vấn đề quản lý gia đình.
Đây
là một gia đình 2 thế hệ, tất cả các thành viên đều đã trưởng thành. Việc quản
lý gia đình này có rất nhiều cách, tùy thuộc vào tầm nhìn của người chủ gia đình.
Tôi chỉ trình bày hai cách quản lý tiêu biểu.
Nếu
tầm nhìn của người chủ gia đình hạn hẹp, cứng nhắc, chủ quan,… thì họ sẽ can
thiệp, sắp xếp,… vào phần lớn công việc của các thành viên trong gia đình. Việc
làm này thật nguy hại vì các thành viên trong gia đình sẽ bị lệ thuộc, đánh mất
dần khả năng sáng tạo và tính tự lập. Nếu người chủ gia đình đột ngột chết thì
những thành viên trong gia đình mất phương hướng và việc tranh giành vai trò
quyền làm chủ gia đình sẽ xảy ra nhưng thật sự cũng không có thành viên nào
rành rẽ việc lãnh đạo.
Trường
hợp người chủ gia đình phạm những sai lầm nghiêm trọng mà những thành viên khác
không có khả năng can ngăn thì mọi việc sẽ trở nên tồi tệ.
Trường
hợp người chủ gia đình mải mê bộc lộ vai trò lãnh đạo, ép ngặt những thành viên
trong gia đình thái quá thì việc xung đột ly tán sẽ phá hỏng gia đình. Người
chủ gia đình sẽ phải chịu trách nhiệm về sự đổ vỡ đó khiến cho người chủ gia
đình lẫn gia đình thêm nặng nề, ngột ngạt,...
Tóm
lại, việc can thiệp quá nhiều vào công việc của các thành viên trong gia đình
sẽ khiến người chủ gia đình căng thẳng, mệt mỏi còn những thành viên trong gia
đình cũng sẽ không thoải mái, mất tự chủ và sẽ tìm mọi phương cách qua mặt
người chủ gia đình để giành lấy những tự do, lợi ích riêng tư.
Có
lẽ đây không phải là cách thông minh để quản lý một gia đình hạnh phúc, bền
vững.
Nếu
người chủ gia đình có tầm nhìn rộng, khách quan,… Người chủ gia đình sẽ không
can thiệp sâu vào công việc, thậm chí ông còn tạo điều kiện cho các thành viên
phát triển năng lực, công việc. Ông vẫn tìm hiểu để nhận biết việc làm của các
thành viên có phù hợp hoàn cảnh, khả năng của từng thành viên.
Nếu
có những việc không phù hợp thì người chủ gia đình góp ý nhằm giúp những thành
viên khắc phục và tránh tình trạng xấu có nguy cơ xảy ra.
Người
chủ gia đình quản lý theo cách này thì tự thân ông cũng không chịu nhiều áp
lực, không phải lo nghĩ nhiều vì việc cần làm đã có những thành viên tích cực
chăm lo.
Những
thành viên trong gia đình tự nhận thức vai trò của bản thân mà làm tốt mọi
việc. Họ sẽ phát huy những sự hiểu biết vào công việc, cuộc sống giúp cho công
việc ngày một tiến triển và cuộc sống ngày càng nâng cao,...
Đây
là phương pháp quản lý rất hiệu quả thể hiện người chủ gia đình là người có
hiểu biết, tầm nhìn rộng, khả năng quản lý tốt.
Vi
vô vi, vô bất vi - Làm mà không làm, không làm mà không gì không làm. Là lời
khuyên mà Lão Tử gửi cho giai cấp thống trị thời ông sống nhưng nhà cầm quyền
đương thời không thể lĩnh hội nên đã can thiệp quá nhiều vào công việc người dân
khiến xã hội càng thêm hỗn loạn, con người dùng quyền mưu, gian kế, cướp đoạt,
hãm hại lẫn nhau,…
Nhân
loại và giới chính trị nên học lại nguồn tri thức ẩn chứa trong Đạo Đức Kinh -
Lão Tử nhưng phải lĩnh hội đúng được tư tưởng, đạo lý mà Lão Tử muốn truyền tải
đến người đọc.
Tôi những tưởng sẽ viết duy nhất mỗi quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng
bay…”. Cho đến khi tôi tình cờ lĩnh hội được huyền nghĩa ẩn chứa trong Đạo Đức
Kinh của Lão Tử, tôi nhận ra một số học giả đã diễn dịch Đạo Đức Kinh không
thực sự chuẩn xác. Vì thế nhân loại đã không nhận ra được giá trị thực sự của
quyển sách quý này. Về sau, nếu có cơ duyên tôi sẽ vì bạn mà dịch giải quyển
sách “Đạo đức kinh thậm giải...”.
V. Kinh tế và…
Sơ
khởi chỉ là việc trao đổi qua lại những món hàng hóa giữa những người cùng
chung một cộng đồng như là việc đổi con cá lấy trái cây, đổi con gà lấy cái
bàn, cái ghế,… Việc trao đổi có phần tùy tiện, không dựa vào giá trị của vật
trao đổi mà chỉ dựa vào nhu cầu của mỗi người.
Về
sau con người mới đặt vấn đề giá trị tương đương và quy ước lấy vàng, bạc,
tiền,… dùng làm vật quy đổi. Ngành kinh tế bắt đầu từ nhu cầu cần thiết, là
việc trao đổi qua lại các vật dụng giữa người với người trong cuộc sống hàng
ngày.
Ban
đầu, ngành kinh tế chỉ đóng vai trò trao đổi nên giá trị vật trao đổi gần như
là tương đương với giá trị số bạc, số tiền quy đổi. Về sau ngành kinh tế chuyển
sang buôn bán thì đã có sự khác biệt giá trị vật trao đổi đã thấp hơn giá trị
số tiền quy đổi.
Cụ
thể, người thợ mộc đóng một cái bàn với giá trị công sức, nguyên liệu tạo ra
cái bàn là 50.000đ. Một người đến mua cái bàn trên với giá 55.000đ và mang về
bán lại cho người khác với giá 60.000đ. Sự chênh lệch giá này là chấp nhận
được. Cho đến khi ngành kinh tế phát triển thành nền kinh tế hàng hóa thì phát
sinh thêm ngành thương mại dịch vụ và quảng cáo thì mọi việc trở nên đảo lộn.
Trên
thực tế, giá trị hàng hóa không tăng lên trong quá trình “nhào nặn” của nền
kinh tế nhưng giá trị số tiền quy đổi đã vượt giới hạn khi đến tay người tiêu
dùng đôi khi cao đến mức không tưởng. Ví như cái bàn kia nếu được phân phối
trên kênh bán hàng của các công ty bán hàng đa cấp thì người tiêu dùng sẽ phải
mua với giá có thể lên đến 1.500.000đ hoặc hơn nữa.
Còn
đối với các kênh mua bán của nền kinh tế hàng hóa thị trường thì giá của cái
bàn trên vào khoảng 100.000 - 150.000đ.
Điều
này đồng nghĩa với việc một lúc nào đó. Khi cần cái bàn, người thợ mộc sẽ phải
mua lại cái bàn do mình đóng - cái bàn trị giá 50.000đ bằng một số tiền lớn hơn
gấp rất nhiều lần vào khoảng từ 100.000 - 1.500.000đ.
Vấn
đề này cho thấy ngành kinh tế đã không còn đóng vai trò trao đổi hàng hóa mà đã
là việc mua bán với giá trị chênh lệch cực lớn. Phần giá trị chênh lệch này sẽ
nằm trong tay các thành phần kinh tế. Điều này không có lợi cho việc phát triển
một nền kinh tế bền vững.
Sự
thực dụng khiến ngành kinh tế vấp thêm sai lầm khác. Tận dụng vai trò là ngành
quyết định sự ổn định kinh tế - xã hội - chính trị, các ngành kinh tế độc
quyền, được bảo hộ chèn ép ngược lại ngành chính trị, gia tăng sức bóc lột
người lao động, bước vào cuộc đua cạnh tranh giá không lành mạnh,…
Việc
này sẽ tạo ra những bất ổn xã hội khó quản lý và kiểm soát hậu quả. Việc chênh
lệch giàu nghèo quá lớn là mối họa góp phần làm cho xã hội rối ren.
Ngành
kinh tế đã lường trước rủi ro thành lập những tập đoàn, những công ty đa quốc
gia nhằm thoát ly khỏi sự quản lý, giám sát của ngành chính trị và có đường lui
khi xã hội có rối loạn, chính biến.
Việc
làm ngỡ thông minh của giới kinh tế hóa ra lại là sự cạn nghĩ vì khi xã hội đại
loạn thì có nơi nào được yên ổn. Khi loạn lạc chiến tranh, đói nghèo xảy ra thì “Cướp của người giàu” là giải pháp
thường thấy của những người khốn cùng.
Chiến
thuật “Vắt chanh bỏ vỏ” của ngành kinh tế sẽ hại lại chính ngành kinh tế vì con
cá nào rời khỏi mặt nước thì con cá đó sẽ phải chết. Lòng tham của những người
làm kinh tế đã chối bỏ nguồn gốc của ngành kinh tế và vướng vào sai lầm chung
của nhân loại.
Ngành
nông nghiệp, công nghiệp vẫn lầm lũi làm việc sản xuất ra của cải, vật chất cho
xã hội, là ngành đóng vai trò rất lớn cho sự tồn tại, phát triển kinh tế, chính
trị, xã hội loài người. Nhân loại đã không nhìn nhận đúng mức giá trị sức lao
động của ngành sản xuất. Điều này tiềm ẩn nguy cơ bùng phát rối loạn xã hội
loài người.
Ngành
thương mại, dịch vụ, quảng cáo, thể thao, văn hóa,… chỉ là những ngành phụ
trợ phục vụ nhu cầu giải trí cho con
người lại được đầu tư phát triển quá mức. Trên thực tế các ngành này không sản
xuất ra vật chất phục vụ nhu cầu ăn uống, tiêu dùng hàng ngày của con người
nhưng lại chiếm dụng phần lớn giá trị tài sản, vật chất mà ngành sản xuất làm
ra. Điều này chứa đựng một nghịch lý.
Trong
khi lực lượng sản xuất hàng hóa gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống thì các
thành phần gần như không sản xuất ra được hàng hóa, vật chất thiết yếu cho xã
hội lại có mức sống cao.
Quân
đội là lực lượng bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc nhưng nhân loại lầm lạc đang
dùng quân đội như là một công cụ chiến tranh, quân giết người.
Trong
thế giới vật chất, bạn rõ biết nợ máu phải trả bằng máu. Trong cõi vô hình, sự
luân hồi sẽ ghi nhận việc làm của bạn. Bạn sẽ nhận lấy nghiệp quả mà bạn đã tạo
ra. Đó là một quy luật rất khách quan và công bằng.
Xã
hội loài người hiện đang xây dựng, phát triển trên con đường không có sự định
hướng hoặc là sự định hướng lầm lạc.
Cụ
thể việc phát triển lệch lạc các ngành nghề trong xã hội sẽ kéo theo sự lầm lạc
về nhận thức của con người. Sự thực dụng sẽ kéo phần lớn lực lượng lao động vào
làm trong các ngành nghề không sản xuất ra của cải phục vụ nhu cầu sống và tồn
tại của xã hội.
Cho
đến một lúc nào đó, khi lượng hàng hóa không đủ phục vụ xã hội thì sẽ lại có
việc xáo trộn các thành phần lao động trong xã hội. Con nước ròng rồi con nước
lớn.
Bao
giờ xã hội con người mới có sự cân bằng và ổn định tương đối?
Thêm
nữa, ngành giáo dục bị thương mại hóa đang dạy loạn. Đủ loại hình thức, đủ loại
bằng cấp, tay nghề khác nhau. Việc nâng cao dân trí được định hướng lệch lạc.
Nhân loại đã nhận thức, định hướng sai lầm đưa ra quy ước “Bạn sẽ có vị trí,
chỗ đứng cao trong xã hội nếu bạn có nhiều bằng cấp”.
Hậu
quả của việc làm sai lầm này đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Nạn học
giả, bằng cấp giả, mua bán bằng cấp, mua bán vị trí trong xã hội,…
Khi
tất cả mọi thứ đều được che đậy, ngụy tạo, sự gian trá lọc lừa, nhân cách của con
người chỉ còn là “Cái bánh vẽ” mà hiển nhiên là không thể nhìn “Cái bánh vẽ” mà
con người có thể no bụng được.
Hơn
nữa, xã hội sẽ ra sao khi tất cả mọi người đều là kỹ sư, bác sĩ, kiến trúc sư,
nhà kinh tế, nhà chính trị, nhà xã hội, luật sư, sĩ quan,… không có lấy một
người dân thường, người nông dân, công nhân,…?
Sẽ
không có gì đáng ngạc nhiên khi nói nhân loại đang định hướng xóa bỏ những con
người biết trồng lúa, lúa mì, lúa mạch, hoa màu và nông sản,…
Tại
sao tôi vẫn cứ trình bày vấn đề đời đạo đan xen?
Bởi
lẽ bạn và nhân loại sẽ không thể tách rời đời đạo. Đời đạo vốn không hai, là
một khối duy nhất.
Bạn
thử nghĩ tách đời rời khỏi đạo, khỏi những quy luật tự nhiên, làm việc trái
đạo, trái quy luật tự nhiên thì phải chăng đời sẽ diệt vong?
Quy
luật tự nhiên và sự sống thì vẫn còn mãi. Nhưng tách đạo ra khỏi đời thì đạo
cũng không thể tồn tại.
Chính
vì lẽ này mà đệ tử Phật gồm hai thành phần:
- Người
xuất gia là thành phần giữ đạo, hành đạo, truyền trao kinh Phật, giáo pháp cứu khổ,
giác ngộ và sự giải thoát.
- Người
tại gia là người tham gia lao động sản xuất, học hỏi, tìm hiểu giáo pháp để xây
dựng cuộc sống hạnh phúc, hài hòa đời sống tâm linh và đời sống vật chất.
Ngoài
ra, người tại gia cũng góp phần lưu giữ đạo Phật qua việc hộ trì tăng bảo
truyền trao chánh pháp.
Người
học Phật chân chính không phải là chuyên cần cầu nguyện, lễ lạy và cúng bái.
Nhân
đây tôi cũng đập tan định kiến, kiến chấp của những người theo chủ nghĩa duy
vật có cách nhìn hạn hẹp, thiếu khách quan,… khi đưa ra nhận định thành phần
tôn giáo chỉ là thành phần ăn bám của xã hội.
Sở
dĩ giới chủ nghĩa duy vật có nhận định hẹp kém trên là vì họ không nhận ra giá
trị góp phần làm an định xã hội mà những tôn giáo chân chính tạo ra thông qua
những tác động tích cực về tinh thần và tâm linh cho con người trong xã hội.
Câu
hỏi tôi đặt ra là “Nếu thành phần tôn giáo chỉ là những kẻ ăn bám xã hội thì
những thành phần khác trong xã hội như chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa,
du lịch, dịch vụ,… là ai?”.
Trên
thực tế, chỉ có ngành nông nghiệp, công nghiệp là ngành sản xuất ra lượng vật
chất phục vụ xã hội. Thế nên những người có tầm nhìn hạn hẹp, thiếu khách
quan,… hãy nên tự đánh giá lại bản thân và có cách nhìn tổng thể, khách quan
hơn.
Hãy
tự nhận biết “Mỗi thành phần, mỗi tầng lớp, mỗi bộ phận,… trong xã hội đều có
những giá trị khác nhau nhưng tất cả có cùng chung mục đích góp phần xây dựng
cuộc sống nhân loại tốt đẹp, ấm no và hạnh phúc”.
Những
thành phần không có giá trị phục vụ cho cuộc sống con người thì sẽ tự đào thải
vì đó chính thực là kẻ ăn bám của xã hội.
Đạo là bản thể của sự sống là nguồn
gốc sinh ra vạn vật. Đạo dung chứa vạn vật và vạn vật vận động và phát triển
theo những quy luật tự nhiên. Đó là cây cối, loài vật và con người tồn tại
trong quy luật sinh lão bệnh tử. Là các sự vật hiện tượng như mưa giông, sấm
chớp, gỗ đá,… thì chịu sự chi phối của quy luật thành trụ hoại không. Điều này
đồng nghĩa với với việc vạn vật được sinh ra, lớn lên, tàn hoại dần và cuối
cùng sẽ mất đi.
Là vật chất hay không phải vật chất đều nằm trong quy
luật đó. Tôi tạm xem đây là phần vật chất của đạo.
Đạo có trước sự phát sinh ngôn ngữ
chữ viết do đạo có trước cả loài người và vũ trụ. Thế nên chữ đạo cũng chỉ là
giả lập ngôn ngữ, là tạm dùng từ để gọi.
Cùng với sự hiểu biết sơ khai của
loài người, khái niệm đạo ban đầu chỉ là vạn vật có trong tự nhiên.
Về sau con người có sự hiểu biết hơn.
Họ tự đặt ra câu hỏi “Con người và vạn vật có từ đâu? Cái gì đã tạo ra sự sống?”.
Và nhiều câu hỏi hóc búa khác...
Kết quả là người xưa không thể tìm ra câu trả lời. Sự
hiểu biết thời đó không thể tìm ra được nguồn gốc tạo ra loài người và sự sống.
Những người được cho là người hiểu biết, thông thái bàn
luận với nhau. Sau cùng, họ thống nhất với nhau trời đã sinh ra loài người và
vạn vật.
Sở dĩ người xưa thừa nhận trời sinh ra loài người và vạn
vật vì họ nhận thấy sấm chớp, mưa giông,… những hiện tượng thể hiện sức mạnh
siêu nhiên dường như xuất hiện trên bầu trời. Vì thế họ nhận định có lẽ trời đã
sinh ra những hiện tượng đó và như vậy chỉ có trời mới đủ khả năng tạo ra con
người và vạn vật.
Càng
về sau, con người hiểu biết hơn. Sự phân biệt, so sánh yêu thương, hận ghét,
tranh giành,… được rạch ròi. Họ nhận thấy những người thân yêu cứ lần lượt
chết. Họ đau xót thương nhớ. Kết quả trong giấc ngủ chập chờn, họ gặp lại những
người thân đã mất. Có người về than khóc, kể khổ. Có người vui tươi, rạng rỡ
hơn cả lúc họ còn sống. Họ lấy làm lạ, mới tìm gặp, trao đổi những điều mắt
thấy tai nghe.
Những
người cao tuổi biết nhiều mới “xét lại” câu hỏi “Con người chết đi về đâu?”.
Bởi
vì họ nghĩ nếu chết là hết thì sao họ lại có thể gặp lại người thân trong giấc
ngủ và với những cung bậc cảm xúc khác nhau?
Họ
chưa thể có ngay câu trả lời. Mãi về sau, câu hỏi lớn này được các nhà thông thái, hiểu biết rộng đưa
ra một lý giải.
Con
người chết sẽ tan hoại vào trong đất. Đất thì vẫn có những nơi sụt lún, động
đất và phun trào lửa nóng,…
Phải
chăng người chết đang bị hành hạ ở những nơi đó?
Khái
niệm Hỏa ngục, Địa ngục ra đời. Ngoài ra, họ còn nhìn nhận ra vấn đề khác. Số
người về báo mộng cho người thân với tâm trạng tươi vui, lạc quan thì lúc còn
sống họ có đời sống rất thuần phác, hiền lương, vui vẻ và có ích cho mọi người.
Vậy ra có thể họ đã lên trời.
Thế
là có Thiên đàng và Địa ngục, tôi tạm quy ước đây là tinh thần, tâm linh vô
hình của đạo.
Lạm bàn thêm về việc làm gàn dở của người xưa:
Bạn
chớ trách người xưa dở hơi đặt ra những câu hỏi ngớ ngẩn rồi đưa ra những câu
trả lời ngây ngô, nông cạn. Lẽ ra nên dùng những khoảng thời gian vô bổ đó để làm
việc, kiếm tiền học tập, làm giàu thì lợi ích hơn. Tôi cũng đã từng nghĩ họ nên
như thế. Nhưng tôi đã lầm.
Vì
sao?
Vì
đến nay, con người vẫn đang tìm cách trả lời những câu hỏi đó nhưng vẫn chưa có
câu trả lời hoàn chỉnh. Tiên phong cho sự tiến bộ loài người - Khoa học vẫn
đang cố tìm câu trả lời nguồn gốc của con người, của sự sống.
Thời
gian bắt đầu khi nào, có kết thúc không?
Vũ
trụ là vô biên hay hữu biên, là vô hạn hay hữu hạn,…?
Việc
đi tìm nguồn gốc loài người và sự sống là rất cần thiết và đúng đắn nhưng khoa
học đã sai khi tìm hiểu nguồn gốc con người, sự sống lại đi tìm hiểu ở nơi
không có sự sống, loài người.
Cụ
thể, khoa học ra ngoài vũ trụ, không gian để đi tìm nguồn gốc sự sống. Có lẽ
đây là sai lầm không thể chối cãi và không thể bào chữa của ngành khoa học.
Sai
lầm khác rất nghiêm trọng của ngành khoa học là từ bỏ câu hỏi của người xưa “Con
người chết sẽ đi về đâu?”
Vì
sự hiểu biết nông cạn và chủ quan khi không thể trả lời câu hỏi trên tri thức
nhân loại đã vội bác bỏ bằng việc khẳng định “Con người chết là hết”.
Điều
này đồng nghĩa với việc chặn đứng sự hiểu biết của loài người về nguồn gốc của
sự sống, của loài người. Bởi lẽ nếu xem như câu hỏi nguồn gốc của sự sống là
một ổ khóa cần mở thì câu trả lời con người chết sẽ đi về đâu chính là chiếc
chìa khóa duy nhất để mở ổ khóa đó.
Quay lại vấn đề đạo.
Tổng
hợp lại tôi sẽ có khái niệm về đạo. Đạo là bản thể là nguồn gốc của sự sống và
vạn vật. Tính chất của đạo là tùy thuận những quy luật tự nhiên.
Đạo
gồm hai phần:
- Phần
vật chất hữu hình.
- Phần
tâm linh vô hình.
Khái
niệm về đời đã thể hiện sự ích kỷ của loài người. Vì khi đặt khái niệm đời làm
câu hỏi thì phần lớn câu trả lời nhận được đều là những vấn đề liên quan đến
con người. Nhưng thật ra đời mang hàm nghĩa rất rộng, đời chính là phần dụng
của đạo.
Khi
tìm hiểu về đời bạn sẽ nhận ra đạo. Đời chính là tất cả các sự vật hiện tượng -
vạn vật nằm trong những quy luật tự nhiên.
Thế
nên đời cũng gồm hai phần:
- Phần
vật chất hữu hình.
- Phần
tâm linh vô hình.
Tuy
nhiên, khi tâm phân biệt của con người càng rõ ràng thì đời đạo trở nên tách
biệt, ngày càng xa rời nhau. Khi khái niệm đời bị giới hạn vào những vấn đề
liên quan đến con người thì đạo - đời bị chia hai và đạo chịu sự tác động chủ
quan của con người đã khoác cái tên mới là Tôn giáo.
Ban
đầu, khi hiểu biết con người chưa cao, khả năng tạo ra vật chất là chưa nhiều
thì nhân loại vẫn xem trọng phần tinh thần, tâm linh. Ở mức độ tương đối có thể
xem như phần vật chất và phần tinh thần tâm linh vẫn còn cân bằng dung hòa. Sự
hiểu biết nâng lên, sự phân biệt rõ ràng thì xuất hiện sự khác biệt.
Người
phương Đông cổ xưa sống tùy thuận theo tự nhiên. Mặc định tin rằng con người có
đời sống an vui, hạnh phúc là ở phần tinh thần nên người phương Đông đi sâu tìm
hiểu, học hỏi, nuôi dưỡng phần tinh thần, nội tâm. Việc làm này giúp cho họ có
điều kiện tiếp xúc với thế giới tâm linh và tin sâu vào sự tồn tại của cõi giới
vô hình. Thế nên việc làm của người phương Đông cổ xưa thường tùy thuận theo
đạo, theo tự nhiên; Họ có đời sống nội tâm sâu sắc, triết lý sống mang tính
nhân văn, sống từ ái, cần kiệm, khiêm nhu vì lẽ họ mơ hồ nhận biết “Họ chỉ là
một phần rất nhỏ bé của sự sống”.
Những
người hiểu biết cất công tìm hiểu về thế giới tâm linh và họ đã đạt những hiểu
biết nhất định về cõi vô hình. Vì thế phương Đông là chiếc nôi của nhiều tôn
giáo lớn có sức ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của nhân loại và cả
thế giới tâm linh. Có thể nói đời sống người phương Đông xưa có xu hướng thiên
về nội tâm, tâm linh hơn là vật chất.
Người
phương Tây cổ xưa có nhận thức khác, họ tin rằng có thể cải thiện cuộc sống
bằng việc cải tạo, làm thay đổi tự nhiên. Họ đã thành công trong việc tạo ra
nhiều của cải, vật chất. Họ tin rằng con người sẽ có cuộc sống hạnh phúc khi có
nhiều của cải, vật chất. Người phương Tây cổ xưa có cách sống lệch về phần vật
chất, ít chú trọng phần tâm linh vô hình. Vì mãi theo đuổi sản xuất vật chất
người phương Tây cổ xưa không có điều kiện tiếp xúc với cõi vô hình nên họ tin
rằng con người chết là hết.
Nhưng
vật chất đã không mang lại hạnh phúc như người phương Tây mong đợi, họ có những
lo toan, những hụt hẫng về tinh thần,… hoài nghi về giá trị của cuộc sống.
Chính
sự hoài nghi này đã khiến một số người phương Tây tiếp xúc được với người đã
khuất. Họ bắt đầu tin rằng thế giới tâm linh có tồn tại, họ sang các nước
phương Đông học hỏi về thế giới tâm linh trong giáo lý, kinh điển của các tôn
giáo. Nhưng họ không thỏa mãn vì có quá nhiều những nghi vấn trong kinh điển mà
họ không tìm được câu trả lời. Các nhà truyền giáo trói buộc họ bằng đức tin,
niềm tin nhưng họ cần sự hiểu biết và lời giải đáp cho những hoài nghi trong
đầu họ.
Người
phương Tây cố tạo ra thêm nhiều trò giải trí, những môn thể thao,… để an định
tinh thần nhưng vẫn không khỏa lấp được khoảng trống tâm linh.
Chủ
nghĩa thực dụng và những nhà truyền giáo không chân chính đã nhận ra điều đó,
họ đã xây dựng nên những tà thuyết, tà giáo quái lạ, điên đảo, làm cho phần
tinh thần tâm linh của người phương Tây thêm bấn loạn.
Chủ nghĩa thực dụng ra đời và lan
rộng từ tây sang đông.
Điều đó đồng nghĩa với vật chất quyết định ý thức?
Phần tâm linh, cõi vô hình sẽ bị xóa bỏ hoàn toàn trong
tri thức nhân loại?...
Thực tế, vật chất không quyết định được ý thức, tinh thần
của con người. Thể hiện rõ vật chất càng nhiều, tinh thần con người càng rối
loạn. Sự hụt hẫng tinh thần, bấn loạn nội tâm khiến con người càng quay về tìm
lại thế giới tâm linh.
Nhưng giáo lý, kinh điển đã bị diễn giải sai lệch, chân
sư khó tìm, các nhà truyền giáo chỉ còn biết trói buộc con người vào đức tin,
niềm tin. Nhiều tôn giáo ra đời lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của tín đồ, gom góp
tài vật phục vụ việc trái đạo.
Đây là biểu hiện của đời đạo suy vi, hỗn độn.
Tóm lại, đời cũng có hai phần gồm
phần vật chất và tâm linh.
Lẽ ra đời đạo chỉ là một nhưng tâm phân biệt của con
người đã chia thành hai. Đạo là phần thiên lệch về tinh thần, đời là phần thiên
lệch về vật chất.
Chính sự phân chia lệch lạc này đã góp phần làm mai một
sự hiểu biết về đạo, về đời của con người. Con người làm việc trái đạo là đầu
mối của sự rối loạn nội tâm, xã hội loài người.
Nhân loại cần phải hợp nhất đời đạo, sống tuy thuận theo
đạo nhằm dung hòa lại phần vật chất và tâm linh trong mỗi con người.
Khi phần vật chất và tâm linh được cân bằng thì tinh
thần, nội tâm con người sẽ tự ổn định.
Ở
phần II, ngoài việc trình bày những vấn đề liên quan đến Phật giáo và các tôn
giáo thuộc về Thần giáo, tôi sẽ trình bày thêm Lão giáo - Là tôn giáo đã đóng
góp nhiều tri thức giá trị cho sự hiểu biết của nhân loại.
Tuy
nhiên, do tư tưởng bất tranh của đạo và sự hiểu biết hạn chế của người đời sau
nên nguồn tri thức quý giá trên bị quên lãng, đánh mất giá trị thực tiễn.
Tôn
giáo cũng gồm phần vật chất hữu hình và phần tâm linh vô hình.
Khác
biệt của đạo và tôn giáo là đạo mang tính tự nhiên, tôn giáo lại chịu nhiều sự
chi phối của con người nên có phần chủ quan, áp đặt.
Tuy
nhiên, thật không dễ phân định tôn giáo và đạo. Do tôn giáo là sự chuyển thể
của đạo khi sự hiểu biết và tâm phân biệt của con người nâng lên.
Thực
ra hiểu biết con người không dừng lại ở nhận định con người và vạn vật do trời
tạo ra. Họ đưa ra thêm nhiều giả thuyết về nguồn gốc của sự sống là nước, không
khí, lửa,… Từ những giả thuyết đó con người đã tạo ra nhiều tôn giáo thờ những
Đấng quyền năng khác nhau Thượng Đế, Thánh Ala, Đức Chúa Trời, Thần Lửa, Thần
Nước,…
Quay
thời gian ngược lại hàng ngàn năm trước, khi sự hiểu biết con người còn hạn
chế, lòng tham đã khiến con người tranh giành đất đai, tài sản lẫn nhau. Các
nước lớn đã xâm lấn, cướp bóc các nước khác bằng sức mạnh của phần thuộc tính
con trong con người. Sự tàn bạo dã man trong việc cai trị của các nước lớn
khiến người dân ở các nước bị chiếm đóng khốn cùng, rất nhiều cuộc đấu tranh,
phản kháng nhỏ lẻ diễn ra và nhanh chóng bị đè bẹp.
Nguyên
do sự thất bại của các cuộc đấu tranh là mang tính tự phát, thiếu tổ chức,
thiếu đoàn kết. Nhằm củng cố vai trò thống trị, giới cai trị đã tiến hành những
cuộc trừng phạt đẫm máu khiến người dân các nước thuộc địa thêm căm hận, uất
ức, tinh thần tự tôn dân tộc được nuôi lớn dần.
Lúc
bấy giờ, con người đã có niềm tin, con người được một Đấng quyền năng nào đó
tạo ra. Trong số những người tổ chức các cuộc đấu tranh phản kháng, có người đã
nhận ra nguyên nhân thất bại của các cuộc đấu tranh và họ cũng có những hiểu
biết nhất định về thế giới tâm linh. Họ sắp đặt, chuẩn bị một kế hoạch hoàn
hảo. Họ tạm dừng các cuộc đấu tranh, bỏ vào những hang động, chuyên tâm thiền
định nhằm tìm hiểu thêm về cõi vô hình và vạch ra những kế hoạch mới nhằm giúp
dân tộc thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước xâm chiếm.
Khi
thời cơ đến, họ xuất hiện với vai trò là hóa thân của Đấng quyền năng mà dân
tộc họ tôn thờ. Việc làm này được tiến hành từng bước với sự xuất hiện của nhà
tiên tri và những lời sấm truyền.
Kết
quả họ đã thành công vì những người dân với niềm tin được sự hỗ trợ của thần
linh đã đoàn kết lại, vùng lên mạnh mẽ, bất chấp mạng sống.
Tinh
thần quật khởi đó đã đánh bại quân đội lớn mạnh của các nước xâm chiếm. Giành
lại được chính quyền, những người lãnh đạo nhận thấy giá trị của phần tâm linh
trong tinh thần của con người, họ tiếp tục duy trì đức tin trong lòng người dân
để dễ bề cai trị và thuận lợi cho việc bảo vệ chủ quyền quốc gia. Giáo lý, kinh
điển, lời răn, điều luật, lời tiên tri,… được xây dựng và dần hoàn chỉnh. Điều
này tùy thuộc vào tính khách quan, tư dục, sự hiểu biết về tâm linh của những
nhà lãnh đạo tinh thần và bối cảnh xã hội khi tôn giáo đó ra đời.
Tuy
nhiên, càng về sau tính chủ quan và tư dục đã bộc lộ trong các điều luật vì lẽ
chúng tạo ra những đặc quyền, đặc lợi cho giới cầm quyền, cho các thành phần
lãnh đạo tôn giáo,…
Tiêu
biểu cho dạng tôn giáo xây dựng theo kiểu mẫu trên chính là Kitô giáo và Hồi
giáo.
Kito Giáo:
Khi
đất nước bị xâm lược, người dân Israel đã không có sự đoàn kết nên không đủ sức
giành độc lập, tự do dân tộc. Một nhóm người có hiểu biết về Thần giáo đã nhận
ra muốn khôi phục chủ quyền đất nước cần phải dựa vào yếu tố tâm linh. Họ tạo
dựng ra vị giáo chủ mới - Chúa Jesu ra đời là con của đức Chúa Cha.
Kito
giáo đã thành công trong việc giành lại độc lập, chủ quyền quốc gia. Để duy trì
sự phát triển và tồn tại chủ quyền quốc gia, các nhà truyền giáo đã xây dựng hệ
thống giáo lý, kinh điển mới có nhiều khác biệt so với nguyên bản cho phù hợp
với tình hình xã hội, tương quan với sự hiểu biết tiến bộ của con người.
Việc
làm thiện, tích lũy phước đức, tu bồi đạo đức, phẩm hạnh - Là nền tảng cho sự
ổn định, phát triển xã hội vẫn được duy trì. Xóa bỏ chế độ đa thê. Nghiêm ngặt
trong chế độ gia đình, xây dựng cuộc sống gia đình một vợ một chồng, tổ chức cuộc
sống có phần khoa học hơn.
Kito
giáo chú trọng vấn đề vật chất hơn, không đào sâu, tìm hiểu vấn đề tâm linh.
Các nhà lãnh đạo Thiên Chúa, Tin Lành giữ đạo bằng việc trói buộc tín đồ vào
niềm tin. Niềm tin kiên định không đặt ra những câu hỏi hóc búa, gai góc truy
nguyên nguồn gốc của Chúa Jesu và Đức Mẹ Maria,...
Tinh
ý, bạn sẽ nhận ra Kito giáo là tôn giáo đã được tư tưởng phương Tây đồng hóa.
Tuy nhiên, Kito giáo vẫn phó thác số phận cho Đấng quyền năng, xin tội và cầu
nguyện. Con người là do Thượng đế, do Chúa Cha tạo ra.
Về
sau tư dục của những người lãnh đạo tinh thần đã chia Kito giáo ra làm Công
giáo La Mã, Chính Thống Giáo Đông Phương, Anh Giáo, Tin lành, các nhóm Kito
giáo độc lập,...
Hồi Giáo:
Cũng
như Kito giáo, dựa vào yếu tố tâm linh các vị thủ lãnh tinh thần đã giành lại
được vai trò lãnh đạo đất nước. Sau khi giành lấy chủ quyền, vị giáo chủ cùng
các chức sắc, các thành phần trong tôn giáo đã xây dựng hệ thống kinh điển,
điều luật và các lời răn,… khuyên dạy con người làm nhiều điều thiện, điều tốt,
hạn chế sát sinh hại mạng,…
Bối
cảnh lịch sử và điều kiện xã hội ở khu vực Trung Đông thời đó là chế độ chiếm
hữu nô lệ, là chế độ quân chủ. Thân phận người phụ nữ thật sự hèn kém. Lòng
tham dục của giới thống trị và sự hiểu biết hạn chế của con người trong xã hội
chiếm hữu nô lệ, chế độ đa thê được thừa nhận.
Nhằm
đảm bảo vị trí thống trị, giới chính trị và các nhà truyền giáo gieo vào lòng
người dân về đức tin tuyệt đối với Thánh Ala. Còn họ được chỉ định là đại diện
của Đấng quyền năng và là những người có khả năng giao tiếp được với Thánh Ala.
Nếu con người tin theo và đáp ứng tốt những yêu cầu của họ, sẵn sàng chết vì
những nhiệm vụ được họ thay mặt Đấng quyền năng giao phó thì khi chết sẽ về Thiên
đàng cộng trú với Thánh Ala.
Càng
về sau, các giai cấp thống trị và các thủ lãnh tinh thần lợi dụng việc tử vì
đạo, thánh chiến để bảo vệ đất nước và củng cố địa vị giai cấp thống trị. Kinh
Coran lại là cổ ngữ đã khiến cho người đời sau thêm lầm lạc mơ hồ.
Trên
thực tế khi chuyên tâm trì kinh Coran thì người trì tụng sẽ có thể tiếp xúc với
cõi vô hình nhưng muốn nhận biết rõ thế giới tâm linh thì đòi hỏi người trì
kinh phải có định tâm thật vững vàng và có sự hiểu biết rộng về cõi vô hình.
Chính
vì việc được tiếp xúc, nhận biết mơ hồ về cõi vô hình nên các tín đồ Hồi giáo
có đức tin mãnh liệt và tin những nhà truyền giáo chính thật là đại diện của
Thánh Ala.
Không
dừng lại đó, giai cấp lãnh đạo đã hạn chế sự hiểu biết của người dân.
Đặc
biệt là người phụ nữ bằng cách hạn chế họ đến trường. Vì giai cấp lãnh tụ tinh
thần tôn giáo nhận biết rằng “Khi người dân có hiểu biết thì người dân sẽ có
những hoài nghi, không còn tin vào những điều luật vô lý và giai cấp thống trị
sẽ mất lá bùa hộ mạng quan trọng”.
Người
dân ngay từ nhỏ đã được nhồi nhét vào đầu niềm tin tôn giáo sâu sắc.
Tử
vì đạo, thánh chiến được giới lãnh đạo dùng như một lá bùa bảo hộ cho sự tồn
vong của quốc gia, dân tộc và họ sẽ đảm bảo được vai trò thống trị.
Tôi
cũng đã nhận ra sự quay lưng lại với những điều luật không đúng, không còn hợp
thời của các tín đồ Hồi giáo có hiểu biết. Mai này, những tín đồ Hồi giáo thuần
thành sẽ không còn giữ đức tin mù quáng như trước. Không lâu nữa, những người
phụ nữ Hồi giáo sẽ được đến trường, họ cần sự hiểu biết.
Tôi
cũng nhận ra những thanh niên, những người đàn ông Hồi giáo tiến bộ đã nhận
biết những điều không hợp lý của chế độ đa thê. Tuy nhiên, họ cần thêm thời gian
để bước qua lòng tham dục.
Những
quốc gia Hồi giáo rồi đây sẽ có phong trào bình đẳng giới phát triển mạnh mẽ
nhất so với các quốc gia khác trên thế giới, người phụ nữ Hồi giáo sẽ tìm được
chỗ đứng thực sự của họ trong xã hội văn minh.
Giai
cấp lãnh đạo các quốc gia Hồi giáo nên sớm nhận biết rõ điều này, tùy thuận
thay đổi cho hợp với lòng tin của các tín đồ, cho phù hợp với tình hình phát
triển của nhân loại. Đừng cố giữ lấy lá bùa hộ mạng đã mất hết quyền năng. Điều
này sẽ sớm ra.
Hơn
nữa, những người bạn Hồi giáo hãy nhìn nhận lại vấn đề. Thánh Ala, giáo chủ,
nhà tiên tri Mohamet có chia Hồi giáo ra làm hai dòng Sunni và Shitte không?
Họ
có kêu gọi tín đồ dòng Sunni giết hại dòng Shitte và ngược lại không?
Nếu
câu trả lời là có thì thật vô lý. Sunni và Shitte có cùng cha chung - Thánh Ala
và nhà tiên tri Mohamet.
Có
người cha nào khiến các con mình giết hại lẫn nhau không?
Vậy
câu trả lời đúng sẽ là không. Thế nên Hồi giáo phân cành rẽ nhánh là do tư dục
của các thủ lãnh tinh thần Hồi giáo. Họ chia rẽ tín đồ nhằm nhận lấy nhiều lợi
dưỡng hơn và tranh giành quyền lợi cá nhân.
Lão Giáo:
Tiêu
biểu cho tư tưởng Lão giáo được lưu giữ trong quyển sách Đạo Đức Kinh của Lão
Tử.
Không
giống với các tôn giáo khác, tư tưởng của đạo Lão mang đậm nét Á Đông với nền
tảng triết lý sống, với tư tưởng bất tranh, khiêm nhu bởi lẽ Lão Tử nhận biết
rõ quy luật của đạo hơn các vị giáo chủ của các tôn giáo khác. Lão Tử không chủ
trương tranh cạnh, không kêu gọi bạo động, đấu tranh, sống tùy thuận theo đạo,
tùy thời,… Vì Lão Tử rõ biết quy luật sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không,
sinh lão bệnh tử của vạn vật, của con người. Con người cũng là một phần của
đạo, vì thế khi con người làm trái đạo thì tất sẽ bị diệt vong.
Quy
luật của đạo đã được Lão Tử diễn giải:
Cố quý dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ.
Sang
lấy hèn làm gốc, cao lấy thấp làm nền. Bởi lẽ nếu không có hèn, không có thấp
thì làm gì có sang, có cao. Thế nên thấp, hèn là gốc, là nền của cao, sang.
Khúc tắc toàn, uổng tắc trực, oa tắc doanh, tệ tắc tân, thiểu tắc đắc, đa
tắc hoặc.
Tùy
thuận thì sẽ được bảo toàn, cong rồi thì sẽ thẳng ra, cạn rồi sẽ đầy, ít thì sẽ
được thêm, nhiều rồi thì sẽ loạn.
Tĩnh thắng động, hàn thắng nhiệt, thanh tĩnh vi thiên hạ chính.
Trọng vi khinh căn, tĩnh vi táo quân. Thị dĩ thánh nhân chung nhật hành bất
li tri trọng, tuy hữu vinh quan, yến sử siêu nhiên. Nại hà vạn thặng chi chủ
nhi dĩ thân khinh thiên hạ? Khinh tắc thất căn, táo tắc thất quân.
Tri kỳ vinh, thủ kỳ nhục, vi thiên hạ cốc, thường đức mã túc, phục quy ư
phác. Phác tán tắc vi khí, thánh nhân dụng chi, tắc vi quan trưởng, cố đại chế
thập bất cát.
Tĩnh
thắng động, lạnh thắng nóng, thanh tĩnh là đạo làm chủ thiên hạ.
Nặng
là gốc rễ của nhẹ, sự tĩnh tại, lặng yên là chủ của sự náo động, xáo trộn. Vì
vậy người hiểu đạo thì suốt ngày không rời gốc, rời đạo. Tuy là người có quyền
tự chủ, tự quyết định nhưng lại chú trọng sự nhàn tĩnh, xa rời tư dục, xử sự
khách quan, tùy thuận. Vì là người hiểu đạo nên không thể coi trọng bản thân mà
xem thường mọi người xung quanh. Xem nhẹ người là trái đạo, kém đức; Người vô
đạo, kém đức thì sẽ tự đánh mất bản thân, bị đào thải ra khỏi xã hội loài
người.
Người
hiểu đạo biết vinh nhưng giữ nhục làm cái hay của thiên hạ. Giữ cái hay của
thiên hạ thì cái đức vĩnh cữu bất biến sẽ tự đầy đủ, mọi người nhìn cái đức
vĩnh cữu bất biến sẽ hiểu đạo mà tự trở về mộc mạc như gỗ chưa đẽo. Gỗ chưa đẽo
thì tùy thuận xẻ ra làm đồ dùng. Người hiểu đạo tùy thuận mà điều khiển được
mọi việc. Cho nên người hiểu đạo, biết đạo thời không can thiệp, không chia cắt
mọi việc thành nhỏ vụn.
Ngũ sắc linh nhân mục manh, ngũ âm linh nhân nhĩ lung, ngũ vị linh nhân
khẩu sản, trì sính điền liệp linh nhân tâm phát cuồng. Nan đắc chi hóa linh
nhân hành phương. Thị dĩ thánh nhân vị phúc bất vị mục, cố khứ bỉ thủ thử.
Ngũ
sắc làm người mờ mắt, ngũ âm làm người ù tai, ngũ vị làm người tê lưỡi, ruổi
ngựa săn bắn làm lòng người mê loạn, loạn động. Vàng bạc châu báu khiến hành vi
con người đồi bại. Cho nên ngưòi hiểu đạo chỉ cầu no bụng không cầu vui mắt, bỏ
việc xa xỉ, đa dục mà giữ lấy sự chất phác, đạm bạc.
Lão
Tử xem trọng đạo, khuyên người giữ đạo vì lẽ.
Đạo sinh chi, đức súc chi, vật hình chi, thế thành chi. Thị dĩ vạn vật mạc bất
tôn đạo quý đức. Đạo chi tôn, đức chi quý, phù mạc chi mệnh nhi thường tự
nhiên.
Cố đạo sinh chi, đức súc chi, trưởng chi, dục chi, đình chi, độc chi, dưỡng
chi, phú chi. Sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, trưởng nhi bất tể, thị vị huyền
đức.
Đạo
sinh ra vạn vật, đức bao bọc vạn vật, vật thành hình, tùy thuộc vào điều kiện
hoàn cảnh khí hậu, đất nước mà vật có hình dạng, công dụng khác nhau. Dù vậy
đạo và đức không cần vạn vật coi trọng. Nhưng đạo vẫn được coi là mẹ vạn vật,
đức vẫn được xem là quý vì đạo và đức không can thiệp, chi phối vạn vật mà để
vạn vật tự nhiên phát triển.
Đạo
sinh ra vạn vật, đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành hình, che chở vạn
vật. Tuy đạo sinh ra vạn vật nhưng không chiếm làm của riêng, để cho vạn vật tự
lớn mà không cậy công, không làm chủ, không can thiệp chi phối sự phát triển
của vạn vật nhờ vậy mà đạo đạt được cái đức huyền diệu.
Có
lẽ người đời sau đã hiểu sai tư tưởng hàm chứa trong Đạo Đức Kinh nên vội nhận
định tư tưởng bất tranh, khiêm nhu của Lão Tử rất có hại cho sự phát triển, sự
tiến bộ của loài người, không nhìn ra được cái thấy tột cùng của Lão Tử “Nếu
loài người sống tùy thuận ôm đạo, giữ đức thì xã hội loài người sẽ phát triển
rất ổn định và bền vững”.
Về
điểm này thì Khổng Tử cũng có sự đồng thuận với Lão Tử, Khổng Tử nói:
Tứ thời hành yên, bách vật sinh yên, thiên hà ngôn tai.
Trời
có nói gì đâu mà bốn mùa thay đổi, luân phiên vận hành, vạn vật cứ tự thích
nghi tùy thuộc vào hoàn cảnh. Cá tự có vây, chim tự mọc cánh, con nòng nọc lên
cạn thì tự mất đuôi thành ếch, con tằm tự làm kén hóa nhộng, rồi đục kén ra
thành bướm;… và loài vật nào cũng vậy, đói thì đi kiếm ăn, no rồi thì thôi, mệt
thì kiếm chỗ nghỉ,…
Lão
Tử đã rất sâu sắc khi nhận ra mọi vật đều có hai mặt trái phải nhưng thật khó
phân định trái phải một cách rõ ràng. Ông cũng nhìn ra được dù vật lớn hay nhỏ
đều dường như có bản chất như nhau. Thế nên khi tìm hiểu quy luật bản chất của
những sự vật hiện tượng cực lớn hoặc cực nhỏ, vi tế thì ông sẽ tìm hiểu quy
luật, bản chất ở những sự vật hiện tượng đơn giản, dễ tìm hiểu hơn nhờ vậy ông
nắm rõ quy luật của đạo, của các sự vật hiện tượng.
Phản giả đạo chi động, nhược giả đạo chi dụng. Thiên địa vạn vật sinh ư
hữu, hữu sinh ư vô.
Phù vật vân vân, các phục quy kì căn. Quy căn viết tĩnh, thị vị phục mệnh.
Phục mệnh viết thường. Tri thường viết minh, bất tri thường vọng tác hung.
Luật
vận hành của đạo là trở lại lúc đầu, trở lại gốc, nhờ vậy mà đạo trở nên diệu
dụng. Vạn vật trong trời đất sinh ra là có mà có lại từ không sinh ra.
Vạn
vật phồn thịnh đều trở về cội nguồn, về đạo. Về cội nguồn thì tĩnh, còn gọi là
trở về mệnh. Trở về mệnh là lẽ thường. Hiểu được lẽ thường là sáng suốt, không
hiểu lẽ thường mà vọng động thì sẽ gây họa.
Bởi
lẽ:
Nhân chi sinh dã nhu nhược, kì tử dã kiên cường. Vạn vật thảo mộc chi sinh
dã như thủy, kì tử dã khô cảo. Cố kiện cường giả, tử chi đồ, nhu nhược giả,
sinh chi đồ. Thị dĩ binh cường tắc bất thắng, mộc cường tắc binh. Cố kiên cường
xử hạ, nhu nhược xử thượng. Vật tráng tắc lão. Lương cường giả bất đắc kì tử.
Con
người khi sinh ra thì mềm yếu, khi chết thì cứng đơ. Cây cỏ sinh ra thì mềm
dịu, chết thì khô cứng. Thế nên cứng mạnh là cùng loài với chết, mềm yếu là
cùng loài với sống. Vì vậy binh lực mạnh không hẳn sẽ tất thắng bởi lẽ những
cây to cứng thường dễ bị đổ gãy trước giông bão. Cứng mạnh thì phải đặt ở dưới,
mềm yếu thì được đặt ở trên. Vật gì cường tráng rồi thì sẽ già. Cuồng bạo thì
sẽ chết bất ngờ.
Xí giả bất lập, khóa giả bất hành. Tự giả bất chương, tự phạt giả bất công,
tự khoa giả bất trường.
Đứng
nhón chân thì sẽ không vững, bước xoạc cẳng thì không đi được xa. Người tự biểu
hiện thì không sáng rõ, kẻ tự kể công thì không còn công trạng, người khoe
khoang, phô trương thì sẽ không tồn tại lâu dài.
Tri nhân giả trí, tự tri giả minh. Thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường.
Tri túc giả phú, cường hành giả chí.
Kẻ
biết người là người khôn, tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là
có sức mạnh, thắng được mình thì mới thật sự kiên cường. Người biết đủ là người
giàu, người chăm làm là người có chí.
Lão
Tử nhận thấy quỷ thần cũng nằm trong đạo. Tuy nhiên, ông đã không đi sâu tìm
hiểu về cõi giới vô hình. Bởi do Lão Tử đứng ở vị trí là người quan sát đạo nên
đã không thể nhập được vào đạo, không nhận rõ hết bản nguyên của đạo dù rằng
ông biết đạo luôn trường cửu.
Cụ
thể:
Đạo chi vi vật, duy hoảng duy hốt, hốt hề hoảng hề, kì trung hữu vật. Yểu
hề, minh hề, kì trung hữu tinh, kì tinh thậm chân, kì trung hữu tín.
Tự cổ cập kim, kì danh bất khứ, dĩ tuyệt chúng phủ. Ngô hà dĩ tri chúng phủ
chi trang tai? Dĩ thử.
Đạo
là cái gì chỉ mập mờ, thấp thoáng; mập mờ, thấp thoáng mà ẩn chứa hình tượng ở
bên trong; thấp thoáng, mập mờ mà bên trong có vật; nó thâm viễn, tối tăm mà
bên trong có cái tinh túy; cái tinh túy đó rất thực, rất đáng tin.
Từ
xưa đến nay, đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo vạn vật. Do đâu mà ta biết bản
nguyên của vạn vật? Chính là do đạo.
Vì
Lão Tử hiểu rõ quy luật của đạo, quy luật của cuộc sống. Lão Tử nhìn thấy quy
luật phát triển của xã hội giống như con nước ròng rồi con nước lớn. Ngay thời
điểm ông sống là một con nước ròng. Hiểu được quy luật Lão Tử đã không vọng
động mà lui về giữ đạo, đứng ngoài cuộc tranh đua của thế sự suy đồi, đảo điên.
Lão
Tử viết Đạo Đức Kinh nhằm khuyên nhủ mọi thành phần trong xã hội từ vua chúa,
quan lại,… đến người dân nên hiểu, sống tùy thuận theo đạo nhưng nếu xã hội mất
đạo, đại loạn thì nên quay về ở ẩn, giữ mình, giữ đạo.
Nói
cách khác khi nhìn rõ quy luật con nước ròng, con nước lớn của cuộc sống, Lão
Tử đã giữ mình làm bờ sông. Vì lẽ này mà ông đã không thể nhập vào đạo được.
Đây là điểm khác biệt của Lão Tử và Phật Thích Ca Mâu Ni:
Cùng
là tư tưởng bất tranh, bất bạo động, Đức Phật cũng nhận biết rõ các quy luật
vận hành của đạo. Nhưng Phật không những nhận ra quy luật của đạo ở thế giới
vật chất hữu hình mà Người còn rõ biết quy luật vận hành của thế giới vô hình.
Sau cùng Phật hợp nhất cả hai cõi giới vô hình, hữu hình và Người thể nhập hòa
vào đạo.
Hay
nói một cách khác với tư tưởng giữ đạo, Lão Tử sẽ là bờ sông; không vướng vào
việc đua tranh nước ròng, nước lớn để đạt được sự tiêu diêu, tự tại.
Còn
Phật Thích Ca hòa vào đạo, là đạo nên sẽ là dòng sông có con nước ròng, con
nước lớn, có cả bờ sông. Nhưng vì rõ biết bản nguyên của đạo nên Phật không
tham đắm, không dính mắc nên đạt sự an lạc, tự tại.
Phật Giáo:
Ở
góc nhìn tổng thể, Vô Ưu sẽ có những nhìn nhận khách quan về các tôn giáo có
nguồn gốc Phật giáo.
Mật tông:
Có phần thiên lệch về phần tâm linh, người tu Mật tông
tiếp cận với cõi giới vô hình bằng các chú thuật, nhờ tha lực cõi giới vô hình
mà tin sâu vào sự giác ngộ giải thoát.
Nhìn nhận ở mức độ tương đối Mật tông cơ hồ có nét giống
Hồi giáo.
Tịnh độ tông:
Xây dựng niềm tin cho Phật tử về cõi Tây Phương cực lạc
của Phật A Di Đà. Lập ra kiến giải người tu tịnh độ hành trì tự lực tu hành,
tin sâu lời nguyện của Phật A Di Đà, khi vãng sinh sẽ được tiếp dẫn về cõi Tây
Phương. Điều này đồng nghĩa với việc người tu tịnh độ ngoài tự lực của bản thân
còn được tha lực tiếp dẫn.
Nhìn nhận ở mức độ tương đối Tịnh độ tông cơ hồ có nét
giống Kito giáo.
Thiền tông:
Không cầu tha lực, tự lực hành trì, chú trọng thiền định,
giữ tâm thanh tĩnh.
Nhìn nhận ở mức độ tương đối cơ hồ có nét giống Lão giáo.
Gần đây xuất hiện vài tôn giáo dựa vào kiến giải Phật Di
Lặc sẽ hạ sinh trong tương lai đã khai tông, lập giáo thờ Phật Di Lạc.
Nhìn nhận ở mức độ tương đối cơ hồ có nét giống Kito giáo
thời kỳ buổi đầu lập giáo, dựa vào lời tiên tri của kinh Phật.
Tuy nhiên, tôi nhận định những tôn giáo này có phần trá
ngụy. Có thể việc khai tông, lập giáo chỉ nhằm mục đích lợi dưỡng hoặc có ẩn chứa
mưu đồ khác.
Tôi rất hy vọng bạn nhận thức rõ mục đích của bạn và
chuyển mục tiêu về hành trì theo chánh pháp.
Dù
vậy, đã có sự khác biệt của các tôn giáo có nguồn gốc từ Phật giáo với các tôn
giáo thuộc về Thần giáo. Đó là các tôn giáo thuộc về Phật giáo có lưu giữ Tam
Tạng Kinh của Phật Thích Ca.
Trong
Tam Tạng Kinh có ẩn chứa sự hiểu biết giác ngộ giúp chúng sinh trong 3 cõi
thoát khỏi luân hồi, giải thoát hoàn toàn. Người học Phật nên tự nhận biết tìm
về cõi Phật là dựa vào trí tuệ - Sự hiểu biết về giác ngộ, về sự giải thoát
hoàn toàn.
Nếu
người học Phật chỉ dựa vào niềm tin, định lực thì cơ hồ còn thiếu. Vì thiếu sự
hiểu biết về giải thoát hoàn toàn chính là thiếu chánh định. Khi nhận biết được
chánh định thì hãy sống với cái biết đó. Ngay đó chính là cõi Phật.
Lại nói về sự suy vong của Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc:
Ấn Độ:
Sau
khi Phật nhập diệt một khoảng thời gian lâu xa thì giáo lý kinh điển của Phật
đã không còn giữ được chân giá trị ngay tại Ấn Độ. Bởi vì tư tưởng của Phật giáo
cũng bất tranh, bất bạo động.
Hơn
nữa, những vị Tổ về sau thân phận, sự hiểu biết và đạo pháp không uyên thâm
bằng Phật nên không thể giữ sự hưng thịnh của Phật giáo ngay tại nơi Phật sinh
ra.
Điểm
mấu chốt của kinh điển của Phật là phá ngã. Phá tiểu ngã hòa vào đại ngã, phá
đại ngã hòa vào vô ngã. Điều này không phải dễ thực hiện.
Trong
khi tư dục, lòng tham của con người thì lại rất lớn, giới thống trị và giới Bà
la môn cùng với các tôn giáo khác ở Ấn Độ thời đó.
Đặc
biệt là Hồi Giáo đã triệt hạ Phật giáo để thu gom lợi dưỡng và giành lấy quyền
chi phối tinh thần con người thông qua yếu tố tâm linh.
Phật
giáo đã suy vong ngay chính tại nơi được khai sinh.
Thực
tế thì đạo Phật đã có sự chia tông, rẽ giáo từ trước đó do tư dục của con
người, do cái tôi trong những người học Phật chưa phá bỏ được. Mỗi mỗi người
học Phật đều cho rằng pháp môn hành trì của bản thân là cao tột, tranh hơn luận
thắng. Gây sự chia rẽ cho người tu học.
Những
bậc chân tu, thực học chán ngán sự chia rẽ tông giáo đã bỏ vào những động đá
sâu trên dãy Hymãlạpsơn. Đây là những dấu hiệu của đạo Phật rơi vào thời kỳ Mạt
pháp.
Trung Quốc:
Tổ
Bồ Đề Đạt Ma nhận thấy nhân duyên giáo hóa Phật pháp ở tại Ấn Độ đã không còn
tương hợp đã xuống thuyền sang Trung Quốc.
Tổ
Bồ Đề gặp vua Lương Võ Đế nhưng không hợp căn cơ, nhận biết người học Phật ở
Trung Hoa rơi vào kiến giải, lạm bàn. Tổ Đạt Ma bỏ vào núi, chín năm ngó vách.
Sau
gặp Nhị Tổ Huệ Khả, căn cơ khế hợp, dùng một câu nói đưa Nhị Tổ đạt được chánh
định. Khai sáng pháp môn tâm truyền tâm.
Trải
qua năm đời tổ đến đời Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Phật giáo được rộng truyền khắp Trung
Quốc nhưng lại mất đi chân giá trị vì người tu học vướng vào kiến chấp, luận
giải mê mờ. Người học Phật lại tranh danh, đoạt lợi, dưới mắt không người.
Cụ
thể, khi Lục Tổ Huệ Năng đền cầu Ngũ Tổ học pháp thì đã bị đồng môn khinh rẻ vì
ông là người hạ liệt, ít học.
Tuy
nhiên, đạo giải thoát không quý trình độ học vấn mà là ở tâm và căn cơ người
cầu pháp, Lục Tổ đắc pháp, nhưng khi nhận lấy y bát phải trốn đi cho thấy đã có
sự tranh giành về địa vị trong Phật giáo. Lục Tổ là người ít học, song lại có
pháp khí đại thừa. Lục Tổ Huệ Năng là người làm bừng sáng pháp môn đốn ngộ.
Về
sau thiền tông chia ra làm năm dòng thiền khác nhau, tùy cơ mà dùng pháp giúp
người tu học đạt được sự giác ngộ giải thoát.
Nhưng
đây cũng chính là đầu mối họa chia tông, rẽ giáo của Phật giáo. Những người
được truyền thừa về sau không phải ai cũng đắc pháp dẫn đến tranh giành Phật
tử, thu gom lợi dưỡng. Dẫn đến đạo pháp suy vi, người tu học rơi vào kiến giải,
lạm bàn gây ngộ nhận cho người sơ cơ tham học, việc truyền pháp bị lạc lối -
Lấy ngọn bỏ gốc.
Lại nói về Phật Thích Ca:
Từ
xưa đến nay, trong nhân loại chỉ có Phật Thích Ca là người khiến Vô Ưu phải vừa
đáng kinh sợ, vừa đáng kính phục. Lý giải vấn đề này, tôi sẽ tỏ bày:
Phật
là người đã từ bỏ vương quyền, vợ con để tìm đạo giải thoát, cứu khổ muôn loài.
Đây là một việc làm rất dũng mãnh bởi lẽ đạo lớn không tìm được thì Phật sẽ trở
thành con người bất nhân, bất nghĩa, bất trung, bất hiếu.
Phật
có cái nhìn rất toàn diện, hiểu biết cùng tột. Khi lánh đời, tìm đạo thì Người
mặc y phục tối màu, thể hiện sự xa rời đời, học đạo. Đến khi đạt đạo giải
thoát, Người nhận ra cần phải rộng truyền đạo pháp sâu rộng đến mọi người, mọi
tầng lớp trong xã hội. Người đã chuyển thể từ y phục sẫm màu sang y phục sáng
màu - Màu vàng để tạo ấn tượng đẹp, bắt mắt về một giáo đoàn những người tu đạo
giải thoát đến với tất cả mọi người trong xã hội.
Điều
này góp phần cho mọi người chú ý học hỏi giáo lý, giáo pháp về đạo giải thoát.
Câu
chuyện Phật vừa sinh ra đã bước đi bảy bước hiện ra bảy đóa sen rực rỡ và một
tay chỉ trời, một tay chỉ đất rồi cất tiếng nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã
độc tôn” - Trong cõi trời đất chỉ có ta là tôn quý hơn cả. Duy chỉ có trí tuệ
Phật mới nói được câu nói này.
Có
thể xem đây là một câu Slogon đầu tiên của nhân loại. Câu nói thể hiện chỉ có
cái ngã của Phật là cao quý, to lớn và trùm khắp hơn cả.
Đã
có rất nhiều người tìm hiểu Phật giáo cạn nghĩ vội trách “Phật đã nói dối vì
Phật đã phá bỏ cái ngã rồi mà sao còn tự cao, tự đại?”.
Họ
đã lầm lạc! Phật thật sự đã phá cái ngã thành vô ngã vì thế cái ngã của Phật là
cái vô ngã, là tâm, là đạo. Thử hỏi có cái gì không tồn tại trong tâm, trong
đạo, trong cái vô ngã. Thế nên cái vô ngã là cao quý, to lớn cùng cực.
Thiên
thượng thiên hạ duy ngã độc tôn cũng chính là một pháp môn giải thoát của Đức
Phật. Khi bạn tìm ra huyền nghĩa trong câu nói này thì xem ra bạn đã lĩnh hội
được đạo giải thoát.
Trong
kinh Phật có rất nhiều điều Phật thuyết mà khi đối chiếu với đời sống hiện tại,
tôi thật sự giật mình kinh sợ.
Phật thuyết “Về sau con người tham lam, sân hận, si mê đến mức có thể dùng
lá cây, ngọn cỏ để đoạt mạng người và cũng chính do sự tham lam, sân hận, si
mê,… mà tuổi thọ con người sẽ giảm xuống. Con người sinh ra và chết đi trong
vòng mười ngày, ba ngày sau khi sinh là đã có thể sinh con,...”.
Bạn
sẽ thấy thật vô lý, tôi cũng thấy vậy. Cho đến khi tôi nhìn ở góc nhìn tổng
thể, không chấp chặt câu từ và thời gian thì sự việc lại khác.
Quả
thật người đời nay đâu cần đến vũ khí để giết người.
Những
chiếc máy bay dân dụng, tòa nhà chọc trời, xe điện ngầm, sữa, thức ăn, thức
uống,… phải chăng đã được dùng để giết người khi con người tham đắm, u mê, sân
hận?
Tuổi
thọ con người thực sự đang nâng lên hay giảm đi khi xét trên phạm vi thế giới
và những đứa trẻ phải chăng đã dậy thì, phát dục sớm hơn so với những thế hệ
trước?
Cõi
giới A Di Đà cũng cho tôi nhận biết cái nhìn thấu đáo, cùng tột của Phật Thích
Ca. Khi hoàng hậu Vi Đề Hi chứng kiến cảnh con bà - Vua A Xà Thế bức tử cha
mình - Vua Tần Bà Sa La, bà đã rất tuyệt vọng, cố tìm đến gặp Phật. Phật nhận
biết rõ tình cảnh của bà Vi Đề Hi, biết rằng có khuyên giải thế nào thì cũng
không xoa dịu, không làm nguôi ngoai, không thể an định tinh thần của hoàng
hậu. Phật đã thuyết về cõi A Di Đà tuyệt đẹp, là nơi không có khổ não bức hại.
Việc làm này đã giúp hoàng hậu Vi Đề Hi gắng gượng tinh thần, sống hành trì tu
học để vãng sinh về cõi A Di Đà.
Cõi
A Di Đà là thật có và bạn chỉ có thể về đến cõi Phật này bằng niềm tin và sự
hiểu biết giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Phật
Di Lặc ra đời cùng với từ bi hỷ xả. Đây cũng là một pháp môn của Đức Phật. Đó
là con đường mà nhân loại phải bước đi nếu loài người muốn tồn tại. Sự chênh
lệch giàu nghèo giữa các nước trên thế giới, giữa người với người trong mỗi
quốc gia là quá lớn. Điều này ẩn chứa những bất ổn xã hội, loạn lạc, chiến
tranh xảy ra là điều rất khó tránh khỏi.
Trên
thực tế cả người giàu lẫn người nghèo đều đang có những bấn loạn nội tâm. Người
giàu đang mải mê tham đắm, tích góp tài sản nhưng vàng bạc đầy nhà làm sao giữ
nổi và giữ để làm gì. Con cái hư đốn, trụy lạc.
Thế
nên bạn giữ tài sản lại cho ai?
Con
bạn không phải là kẻ vô dụng, bất tài. Con cháu có phúc phận của con cháu.
Người nghèo khó tất bậc trong cuộc sống, nỗi lo cơm áo gạo tiền, lao tâm, khổ
trí. Vậy thì bạn càng nên phải bố thí.
Bạn
sẽ hỏi:
- Tôi
có gì để bố thí?
Tôi
sẽ trả lời:
- Bạn
có cái gì thì bố thí cái đó. Bạn có nỗi lo cơm áo gạo tiền, sự lao tâm, khổ
trí,... Bạn bố thí tất cả những thứ đó đi. Bạn còn sống là còn phải làm nhưng
bạn hãy quên nỗi lo đi, quên sự lao tâm, khổ trí đi. Bạn giữ chúng làm gì chỉ
khiến bạn thêm bạc nhược và hèn kém. Dù muốn hay không thì bạn vẫn phải làm và
sống. Than vãn kể khổ thì có ích gì. Nếu nhân duyên chưa đến thì khi bạn phải
chết đói ngay trước mặt, tôi cũng không đưa cho bạn cái bánh mì mà tôi đang cầm
trên tay.
- Bạn
còn gì nữa?
Bạn
còn có nụ cười. Bạn hãy bố thí nụ cười, hãy giữ nụ cười trên môi tinh thần bạn
sẽ phấn chấn. Bạn, những người thân yêu của bạn sẽ vơi bớt những khổ đau và mọi
người sẽ gần với bạn hơn.
...
Những
quốc gia giàu có, có cần phải giúp đỡ các nước nghèo đói mà không toan tính, vụ
lợi?
Bạn
sẽ không làm khác được vì sự bất ổn của các nước nghèo đói sẽ gây biến động đến
toàn thế giới. Sự đói nghèo khiến con người coi thường mạng sống sẽ nhập cư
bằng mọi hình thức vào nước bạn sẽ gây rối loạn xã hội làm tăng tỷ lệ thất
nghiệp, tệ nạn xã hội, băng nhóm, cướp giật, bạo loạn khắp nơi.
Bạn
sẽ không thể kiểm soát được biên giới và ngăn chặn được việc nhập cư trái phép.
Bạn có thể bắn giết vài người nhưng không thể giết hết tất cả. Bạn sẽ phải bắn
những người mà họ phải nuốt cỏ khô, nhai dép cao su, nhặt phân bò ăn cho đỡ
đói,...
Những
người bạn nước nghèo, bạn phải tự lực tự cường, phải tự xây dựng lại cuộc sống.
Việc trốn chạy sang nước khác tiềm ẩn nhiều rủi ro, mất người thân là điều khó
tránh khỏi và đất nước bạn lại càng chìm sâu vào nghèo đói. Dân tộc bạn cần bạn
để xây dựng lại cuộc sống, người thân của bạn cũng không muốn mất bạn. Sự đoàn
kết dân tộc và nhân loại sẽ là một phép màu.
Hãy
tin vào điều đó!
Từ
bi hỷ xả là hãy biết sống yêu thương, đồng cảm với nỗi đau của những người khốn
khổ nghèo. Giúp họ bạn sẽ có nhiều niềm vui, hãy quên đi những việc tốt đã làm
được. Vì khi đó bạn sẽ làm thêm được nhiều việc có ích hơn, bạn sẽ có nhiều
niềm vui hơn.
Nếu
không dính mắc tâm trí bạn sẽ được thảnh thơi, thanh thản, bạn sẽ gần với đạo.
Khi đạt được chánh định bạn sẽ là đạo, là Phật, là Bồ tát thể nhập Niết bàn -
Thường lạc ngã tịnh.
Chỉ
khi bạn đạt được chữ xả thì bạn mới có thể làm mọi việc một cách chân thành,
không toan tính, vụ lợi. Khi đó bạn thật sự lớn lao và vĩ đại.
Còn
rất nhiều điều mà Phật thuyết ra tương hợp với cuộc sống nhưng tôi không thể
trình bày hết được và vì một lý do khác nữa.
Tôi
lại mượn một câu chuyện Phật đã kể:
Một buổi chiều từ rừng về, Phật cầm trong tay một nắm lá Simsapa. Người đưa
nắm lá lên và hỏi các vị khất sĩ:
- Các vị khất sĩ! Lá trong tay tôi nhiều hay lá trong rừng nhiều?
Các vị khất sĩ đáp:
- Lá trong tay Phật thì ít mà lá trong rừng thì nhiều.
Phật nói:
- Cũng như thế đó, các vị khất sĩ! Những điều tôi biết do sự thực chứng thì
nhiều, nhưng những điều tôi dạy cho quý vị thì ít.
- Tại sao lại như vậy?
Tôi chỉ muốn trình bày cho quý vị những gì thực sự lợi ích cho công trình
tu tập của quý vị mà thôi…
Sở
dĩ, Phật hái nắm lá Simsapa và hỏi câu hỏi dường như vô nghĩa “Lá trong tay tôi
nhiều hay lá trong rừng nhiều” là vì ở thời điểm đó có nhiều người tu học khởi
hỏi những câu hỏi siêu hình không có lợi ích gì cho việc giác ngộ giải thoát.
Phật
muốn cảnh tỉnh những người tu học thời đó về mục đích thực sự của họ khi tìm
đến đạo Phật.
Tiếp đó, Phật đã kể câu chuyện về một người bị trúng tên độc.
Ví như có một người bị trúng một mũi tên có tẩm thuốc độc. Khi người thầy
thuốc muốn nhổ mũi tên ra, bôi thuốc để trừ độc. Nhưng người bị thương đã không
cho người thầy thuốc đụng vào vết thương.
Người ấy nói:
- Khoan đã, trước hết tôi muốn biết ai là kẻ đã bắn mũi tên này? Tên họ
người đó là gì? Mấy tuổi? Ở đâu? Làm nghề gì? Thuộc giai cấp nào? Tại sao lại
bắn tôi? Tôi cũng muốn biết: Loại cung đã bắn ra mũi tên này là loại cung nào?
Trên mũi tên đó có tẩm chất độc loại gì? Lấy từ đâu?...
Người bị thương đó sẽ chết trước khi anh ta tìm ra được hết những câu trả
lời.
Bạn
cũng vậy! Nếu bạn cứ u mê tìm hiểu những vấn đề không có lợi gì cho sự liễu
thoát sinh tử, cho sự dứt trừ khổ đau. Bạn sẽ phải trầm luân trong muôn muôn
kiếp.
Vũ
trụ là hữu biên hay vô biên, là hữu hạn hay vô hạn, sự hiểu biết này có giúp
bạn được sự an lạc, giải thoát không?
Tuy
nhiên, khi bạn đạt được đạo ta chưa từng sống thì bạn sẽ rõ biết vạn pháp.
Bạn
sẽ không tìm thấy rất nhiều điều tôi đã trình bày trong quyển sách “Hãy là
đường xưa mây trắng bay…” ở bất kỳ quyển kinh sách nào. Vì đó chính là những
chiếc lá trong cánh rừng Simsapa - Nơi Phật đã từng hái một nắm lá để xóa tan
những câu hỏi siêu hình không lợi ích cho người tu hành thời đó.
Vậy
tại sao tôi làm điều này?
Ngày
nay, tri thức con người đã được nâng cao. Bạn không chỉ sống bằng niềm tin, bạn
cần sự hiểu biết để củng cố, khẳng định lại tính xác thực của sự giác ngộ giải
thoát hoàn toàn, con đường Phật đã đi.
Hơn
nữa, tâm phân biệt của con người đã tách rời đời đạo. Người làm việc trái đạo
thời nhiều. Xã hội đang ngấm ngầm những bất ổn, rối ren. Lòng người đa đoan,
bấn loạn,…
Tôi
thể theo bi nguyện của Phật Thích Ca giúp nhân loại hợp nhất đời đạo - Góp phần
giúp bạn nhận ra đạo, sống tùy thuận theo đạo để bảo toàn sự sống trên trái
đất. Thế nên tôi phải mạo muội hái vài chiếc lá Simsapa.
Bạn
đừng hỏi bất kỳ ai những điều bạn hoài nghi là đúng hay sai?
Cho
dù đó là bậc chân tu thực thụ vì lẽ những bậc chân tu thường chán ngán sự đời,
lánh vào đạo mà nội dung quyển sách tôi trình bày chuyện đời không ít.
Chuyện
đời cũng chính là vài chiếc lá trong số những chiếc lá Simsapa tôi đã hái mang
về. Thế nên bạn chỉ có thể tìm câu trả lời ngay trong tự tâm.
Cũng
đừng tìm gặp tôi hỏi đáp luận bàn. Những điều tôi viết rất thật, bạn đã hoài
nghi dò hỏi chỉ dẫn đến tranh luận. Tranh luận là trái đạo, gặp tôi vô ích.
Chương VI
Quyển
sách rồi cũng đã hoàn tất, làm sao tôi có thể nhanh chóng rộng truyền cho nhân
loại. Tôi sẽ đi tìm những người đồng cảm - Những mạnh thường quân, họ sẽ hỗ trợ
tôi chi phí in sách và họ sẽ giúp tôi truyền sách.
Tôi
biết rằng rồi sẽ có người giúp tôi làm việc này.
Nhưng
đến bao giờ và nếu đều đó xảy ra thì Vô Ưu thật chỉ là nói mà không làm?
Tôi
sẽ tạo điều kiện cho quyển sách ra đời nhanh hơn. Tôi sẽ đưa quyển sách đến tay
nhân loại bằng một con đường khác. Tôi sẽ đánh Ván Cờ Trân Long.
Đây
là một ván cờ rất thú vị. Ván cờ này không có kẻ thắng người thua, cũng không
phải là một ván cờ hòa.
Để
chuẩn bị chơi ván cờ tôi sẽ bán sức lao động trong vòng 20 năm với số tiền 300.000.000đ
(Ba trăm triệu đồng).
Tôi
sẽ chia số tiền này ra làm hai phần chính. Một phần tôi sẽ in vào khoảng 5.000
quyển sách, phần còn lại tôi gửi về gia đình và giải quyết một số việc khác.
Việc làm này xem như là trả nợ ân tình, tôi vẫn biết nợ ân tình không dễ trả
hết.
Nhưng
tôi lại nợ nhân loại sự hiểu biết và đã đến lúc phải trả lại. Đời người trung
hiếu không phải lúc nào cũng có thể giữ vẹn toàn. Tôi đành cam làm người con
bất hiếu.
Về
hợp đồng lao động ban đầu. Người mua sức lao động của tôi sẽ phải chấp nhận kèm
theo một hợp đồng ràng buộc. Tôi sẽ kết thúc hợp đồng ban đầu với mức giá
500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) tùy thời. Điều này đồng nghĩa với việc ngay
khi tôi mới vừa ký hợp đồng ban đầu mà tôi lại muốn giải phóng hợp đồng thì
phải hoàn trả người mua sức lao động của tôi với số tiền là 500.000.000đ.
Trong
suốt quá trình lao động, tôi vẫn có thể chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng
vẫn đảm bảo số tiền 500.000.000đ. Dù thời gian giải phóng hợp đồng sớm hay muộn
1 năm, 10 năm, 20 năm thì số tiền 500.000.000đ vẫn là không đổi.
Ngoài
ra, người chủ mua lao động cũng chấp nhận việc tôi cho đi một lá gan, một trái
thận hay một bộ phận nội tạng nào đó trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng
lao động.
Tuy
nhiên, việc hiến tặng nội tạng được giới hạn ở mức độ tôi vẫn có thể đảm bảo
tốt công việc.
Có
lẽ người chủ chấp nhận mua sức lao động của tôi sẽ nhận thấy sự thiệt thòi
trong hợp đồng nhưng đổi lại tôi sẽ toàn tâm, toàn ý làm việc, nghiêm túc và
thành thật trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng.
Tuy
nhiên, giới hạn của công việc là không trái với lòng người. Tôi sẽ cố làm tốt
những công việc được giao dù là việc nặng hay việc nhẹ.
Ván
Cờ Trân Long được bắt đầu. Tôi sẽ đi tìm người chi trả 500.000.000đ để giải
phóng tôi ra khỏi hợp đồng. Tôi không cần biết người này thuộc quốc gia, dân
tộc nào, chỉ cần muốn cùng tôi đánh Ván Cờ Trân Long và biết luật chơi của ván
cờ.
Luật
chơi của ván cờ là người mua gần như không được gì cả. Vì ngay sau khi thoát
khỏi hợp đồng ban đầu mà người chơi Ván Cờ Trân Long không biết dùng tôi vào
việc gì hoặc dùng tôi vào những việc có tính chất cá nhân. Khi đó, có thể tôi
sẽ tự kết thúc hợp đồng bằng việc hiến tặng đôi mắt, trái tim cho những người
cần. Có thể tôi thực hiện giấc ngủ sâu không trở lại. Có thể tôi đi đến ở những
vùng bất ổn và sẽ bỏ mạng ở đó… Vì thế người chơi Ván Cờ Trân Long phải lĩnh
hội được nội dung quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”. Là người đã
sống được với từ bi hỷ xả, dứt trừ được tham đắm, sân hận, si mê, hoài nghi và
kiêu mạn. Chấp nhận đánh một ván cờ có phần thua thiệt.
Thật
ra tôi đánh Ván Cờ Trân Long với hai mục đích. Một là để quyển sách “Hãy là
đường xưa mây trắng bay…” sớm truyền đến những nơi cần đến. Hai là tôi sẽ nhận
biết được “Tôi sẽ là người giữ đạo hay là người phải đi hiển bày sự thật đến
với nhân loại.
Nhưng
dù hiện diện trong vai trò nào thì tôi cũng không chú tâm đến việc làm. Việc
nào cần làm thì tùy thuận làm và như tôi đã nói bạn có thể đến để nhận lại trái
tim, đôi mắt, quả thận, lá gan,… bất cứ thời điểm nào mà bạn cảm thấy cần đến
lấy.
Tôi
vẫn biết người đời có thể bỏ hàng tỷ đồng để mua nụ cười một cô gái đẹp nhưng
không hẳn đã bỏ ra 100.000đ để cho một gã ăn mày.
Với
số tiền 500.000.000đ, tôi thật không là gã ăn mày nên vấn đề sẽ có phần khó
giải. Nhưng tôi vẫn đánh ván cờ này, tôi có toan tính riêng. Tôi đi tìm chân
tâm trong loài người.
Vạn
nhất tôi tìm không gặp được chân tâm. Điều này đồng nghĩa quyển sách tôi viết
là phế vật đáng bỏ đi. Người viết quyển sách cũng là phế vật đáng bỏ đi. Vậy
thì tôi ôm mộng giữ đạo, cố tỏ ra vẻ cao thượng.
Tôi
vẫn nhận biết có rất nhiều người thật lòng muốn giúp tôi thoát khỏi hợp đồng
ban đầu nhưng họ không đủ sức. Vậy thôi không đủ sức thời đừng cố sức, tôi trân
quý tình cảm của bạn.
Nhưng
điều tôi cần không phải là giải phóng khỏi hợp đồng mà là tôi sẽ làm được gì
sau khi thoát ra khỏi hợp đồng ràng buộc?
Còn
những ai giàu sang hợm hĩnh, cố tạo ra sự cao thượng giả tạo, những kẻ hám
danh,… muốn mua tôi ra khỏi hợp đồng ban đầu nhằm mục đích tư lợi cá nhân thì
hãy thôi đi. Đó là một ý tưởng sai lầm và ngu ngốc.
Bạn
có thể tự lừa gạt, tự che mắt mình chứ không thể dối lừa nhân loại và khi tôi
nhận ra tư lợi của bạn thì bạn sẽ mất tất cả. Tôi sẽ mất và danh tiếng bạn cũng
khó thể vẹn nguyên.
Chương VII
Việc
thêm một câu hay bớt một từ, việc có hay không có quyển sách không làm tôi
thông minh thêm hay ngu dốt đi. Nếu bạn không chập choạng bước đi trong mê lầm.
Nhân loại đang sống trong sự hiểu biết và thương yêu, hòa bình và hạnh phúc.
Hoặc là đã có ai đó lên tiếng đánh thức sự lầm lạc của nhân loại, tôi đã không phải làm kẻ vụng về học đòi theo
người đời viết sách.
Có
lẽ khoảng thời gian đó tôi sẽ thảnh thơi nhìn mây trắng bay, ngắm lá vàng rơi,…
cũng có thể tôi đang nghĩ về một mái nhà êm ấm,…
Rất
nhiều câu từ trong sách khiến bạn nghĩ tôi đang cố tạo một hình tượng thánh
nhân.
Bạn
đã lầm! Thánh nhân toàn là những đã người chết, xương thịt cũng đã không còn.
Người chết thì không thể biết và tự hào “Ta là một thánh nhân”.
Họ
thành thánh nhân thì danh tiếng của họ đã bị lợi dụng, sẽ có không ít người
sống nhờ danh tiếng của họ. Tôi không là thánh nhân.
Tôi
đến với câu nói “Vô Ưu đến để giết chết người chết, cứu sống người sống”. Việc
làm dường như vô nghĩa này sẽ là việc làm duy nhất của một đời Vô Ưu.
Với
câu nói trên, tôi cũng không ngoại lệ. Chỉ khi tôi thật chết thì người đời sẽ
không ngộ nhận, lạm bàn về Vô Ưu.
Đây
có thể xem là di ngôn của Vô Ưu. Sẽ có một ngày tôi phải chết, nếu nhân loại
tìm thấy và nhận ra cơ thể tôi còn có chỗ dùng được thì tùy nghi mổ xẻ. Cho đến
khi thành phế vật vô giá trị thì bạn hãy đốt tất cả thành tàn tro và tùy thuận
ném vào hư không. Đừng giữ lại khối thịt thừa hỗn độn, dễ hư hoại!
Vô
Ưu không khai tông, không lập giáo, không truyền thừa.
Tuy
nhiên, bạn sẽ trở thành Vô Ưu khi đạt được sự vô ưu. Nhưng Vô Ưu không nắm lấy
thiên hạ. Thế nên mãi về sau sẽ không có Vô Ưu truyền thừa.
Tôi
đã có lúc khởi ý tưởng “Chỉnh sửa nội dung, ngôn từ quyển sách cho thật hoàn
hảo”. Vì tôi vẫn biết quyển sách trình bày không được chỉnh chu, ngôn từ, văn
ngữ trùng lập, xáo trộn. Tôi tự biết văn phong thô vụng và việc trình bày đời
đạo đan xen nhưng tôi lại rõ biết đời đạo vốn là một, tách biệt thời trái đạo.
Thôi vậy tôi sẽ giữ vẻ mộc mạc của gỗ chưa đẽo bạn cứ tùy thuận xẻ mà làm đồ
dùng.
Viết
lại sự hiểu biết của loài người, lời văn cuồng ngạo,… bạn dễ dàng nhận ra sự tự
phụ, cao ngạo và kiêu hãnh đến hợm hĩnh.
Sự
tự phụ đó mang lại cho tôi lợi ích gì?
Có
chăng điều đó sẽ khiến nhân loại căm hận, ghét bỏ, mạng sống tôi mong manh hơn
và nếu mải mê giữ sự tự phụ, cao ngạo tôi chẳng thể bước rời khỏi 3 cõi 6
đường?
Tuy
nhiên, tôi vẫn thể hiện sự cao ngạo, ngông cuồng cho bạn giận dữ, kích động
cùng cực và dừng lại xem tôi là thứ người gì?
Khi
đó bạn sẽ nhớ ra câu hỏi “Bạn là chủ hay làm nô lệ trong cuộc đời của bạn?”.
Thật
ra, tôi đã có sự khiêm nhượng chỉ vì bạn sơ ý và chủ quan nên không nhận ra.
Tôi đã không tự phụ viết ra sự hiểu biết của nhân loại. Tôi là người đi sau,
tôi chỉ viết lại sự hiểu biết của nhân loại.
Và
ở góc nhìn khách quan, bạn sẽ tự nhận biết “Tôi không phải là người làm chính
trị dùng tôn giáo để an định tâm trí người dân. Tôi cũng không phải là nhà
truyền giáo nương nhờ chính trị và các phương tiện truyền thông để tạo danh
tiếng, gồm thâu lợi dưỡng. Tôi chỉ là một người hiểu chuyện thấy bạn đánh rơi
một món đồ vật thì trân trọng nhặt lên và đem trả lại cho người chủ”.
Thật
ra cũng có đôi lúc, tôi ngỡ tôi là thiên hạ nhưng thiên hạ thì vướng mắc việc
thiên hạ. Sau cùng, tôi sẽ không là ai cả.
Điều
quan trọng nhất khi nhìn nhận nội dung quyển sách, bạn hãy xét ở phương diện
tương đối. Khuynh hướng trình bày nội dung quyển sách là mặt trái của các sự
vật, hiện tượng trong cuộc sống, dựa vào nền tảng là số đông.
Mục
đích trình bày xuyên suốt quyển sách là khẳng định lại sự tồn tại của thế giới
tâm linh, sự luân hồi và sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Nội
dung quyển sách chứa đựng việc đánh thức sự hiểu biết của nhân loại. Chỉ mong
tri thức nhân loại hãy nên nhìn nhận, xét lại mọi vấn đề trong cuộc sống ở góc
nhìn tổng thể, khách quan nhằm nhận biết sáng rõ những sai lầm và sớm có giải
pháp sửa sai phù hợp và chuẩn mực.
Quả
thật, tôi không từng nghĩ là sẽ thực hiện việc viết sách. Nhưng nếu tôi không
trình bày sự hiểu biết vào những trang sách thì tất cả những giải pháp sửa sai
của nhân loại sẽ muộn màng, hận thù, đau khổ, chiến tranh,... lại bức hại loài
người và tôi hiểu rằng “Khi tôi nói những lời như rót mật vào tai. Ai có thể
nghe, chấp nhận khi trong lòng tràn đầy tham dục, sân hận, si mê và toan tính?
Nếu thật nhân loại sớm nhận ra những gì tôi trình bày trong sách thì tôi đâu
cần phải viết quyển sách bằng máu và mạng sống. Lúc bấy giờ, có lẽ tôi đã tìm
đến một ngôi chùa hoang vắng, tôi sẽ múc nước tìm trăng. Có thể tôi giấu mình ở
vùng quê yên bình, giữ lòng mình với những hồn nhiên,...”.
Xuyên
suốt phần I, tôi đã đứng ở vai trò giữ đạo, đã biến đời đạo thành một khối mập
mờ và hỗn độn. Chỉ có những người có sự hiểu biết nhất định về đời, về đạo thì
mới tin nhận huyền nghĩa ẩn tàng trong quyển sách. Ở phần II, tôi nhận rõ vai
trò đi trong phi đạo và đã hiển bày sự thật. Khi biết dừng lặng, bạn sẽ dễ dàng
lĩnh hội sự thật đó nhưng điều đó là chưa đủ. Bạn cũng đừng mang những điều bạn
cảm nhận được ra luận đàm, lý giải. Việc làm đó sẽ không có nhiều ý nghĩa vì
những vui buồn, được mất, hơn thua,… vẫn còn trong bạn.
Chỉ
khi bạn sống được với sự thật thì những muộn phiền, khổ đau sẽ không thể chạm
được đến bạn. Bạn sẽ hạnh phúc, tự tại và đạt được sự giải thoát hoàn toàn ngay
trong những giây phút hiện tại. Bạn hãy kiên nhẫn tìm ra sự thật. Đó là một
việc làm rất hữu ích. Việc xem sách cũng tùy thuận, bạn không nhất thiết phải
xem từ trang đầu đến trang cuối. Bạn cứ tùy tiện lật quyển sách ra xem và chỉ
xem toàn bộ quyển sách khi bạn cảm thấy thực sự cần thiết.
Bạn
hãy cho bạn cơ hội ở 3 lần giở sách.
Tôi
cũng nhận biết quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…” sẽ sớm được nhân
loại đón nhận vì lẽ chủ nghĩa thực dụng quá tàn khốc đã lấy đi những gì là tình
người, sự cao thượng, lòng vị tha,… chỉ đem lại cho loài người sự mất mát, sự
ích kỷ nhỏ nhen, sự hoài nghi, sự lọc lừa,…
Thế
nên loài người đang bắt đầu đi tìm lại tình yêu thương chân thật, tâm hồn trong
sáng, đời sống nội tâm lành mạnh và an định lại thế giới tâm linh.
Những
ai sẽ là người dễ dàng lĩnh hội huyền nghĩa trong “Hãy là đường xưa mây trắng
bay…”?
Là
những người biết dừng lại. Dừng lại để uống một ly nước mát. Dừng lại thưởng
thức một món ăn. Dừng lại để nhớ về những người đã khuất. Dừng lại nhìn những
đứa trẻ nô đùa. Dừng lặng nhìn những cảnh đời bất hạnh… và trong lòng họ dừng
lặng những toan tính, đua tranh,…
Những
người đạt được sự giàu sang, bất chợt nhận ra và tự hỏi “Ta đang sống vì điều
gì?".
Những
người đang rơi vào cùng cực của khổ đau, họ sẽ nguôi ngoai khi nhận ra cuộc đời
họ đã được viết thành trang sách.
Những
người đang trên đường tìm đạo và tình cờ có được quyển sách này.
Những
người có hiểu biết sống với trái tim thật sự biết thương yêu.
Những
người không ích kỷ, biết vì nhau mà sống,… Đó là những người dễ dàng lĩnh hội
được ý từ trong sách.
Dù
bạn là ai?
Tôi
cũng hy vọng quyển sách này được truyền trao đến tay bạn. Bạn hãy đọc qua dù
chỉ một lần, bạn sẽ tự thay đổi cuộc đời mình. Có thể bạn bận rộn, đắm chìm
trong những bôn ba, bạn sẽ lãng quên Vô Ưu.
Rồi
có lúc bạn nhận ra cuộc đời là con nước ròng, rồi con nước lớn và Vô Ưu sẽ giúp
bạn nhận ra bạn là dòng sông bình yên, tĩnh lặng, hiền hòa,...
Xuyên
suốt việc trình bày nội dung quyển sách, dường như tôi luôn đặt tôi vào nẻo
chết. Tôi đã “chạm đến” rất nhiều thành phần, tầng lớp xã hội khác nhau.
Tại
sao tôi làm vậy?
Nếu
chỉ đơn giản tôi là kẻ chán đời thì đâu cần phải tốn nhiều công sức và tâm
huyết lắm vậy?
Thế
giới tâm linh không thật có tôi đã không viết quyển sách “Hãy là đường xưa mây
trắng bay…”. Với tấm bằng kỹ sư trong tay, tôi có thể tự xây dựng một cuộc sống
no đủ.
Nếu
chán ngán sự đời thì tôi sẽ buông bỏ tất cả vào chùa làm người quét lá đa.
Nhưng tôi vẫn viết sách bằng mạng sống, hy vọng bạn sẽ trân quý cuộc sống.
Có
lẽ sau khi xem hết phần I của sách Hãy là đường xưa mây trắng bay... sẽ có
không ít người nghĩ tôi vì số tài khoản của quỹ Từ bi sinh hỷ lạc để viết quyển
sách này.
Đó
là một sự ngộ nhận đáng tiếc!
Nếu
hiểu về luật pháp bạn sẽ nhận ra số tài khoản kia sẽ sớm được phong tỏa và kiểm
soát. Tôi vẫn biết vậy. Song tôi vẫn làm và cả ngôi nhà Nối lại những yêu
thương cũng sẽ vướng những hàng rào nguyên tắc.
Vậy tôi làm những việc vô ích kia để làm gì?
Tạo danh tiếng? Danh tiếng với sinh mạng cái nào quý? Sinh mạng với của
cải, cái nào hơn?
Quả
thật, tôi rất muốn thực hiện hai việc làm trên vì cuộc sống cần có người làm.
Tôi
làm việc đó có tư tâm, tư lợi, có thực sự khách quan không?
Việc
này có lẽ chỉ có trời biết, đất biết và tôi biết. Sẽ có người hoài nghi tính
khách quan trong những việc làm của tôi.
Bạn
có thật sự khách quan không khi hoài nghi việc làm của tôi?
Tôi
cũng nhận biết sẽ không có nhiều người đủ kiên nhẫn để nghe tôi trình bày hai
việc làm dường như hợp pháp. Còn việc đọc quyển sách có lẽ họ bận rộn và không
thể thực hiện việc làm vô vị này. Vì thế họ không giúp tôi được.
Tôi
không làm được điều đó không có nghĩa là người khác không làm được.
Xã
hội vẫn đang có rất nhiều những quỹ từ thiện hợp pháp, những ngôi nhà tình
nghĩa,…
Và
điều tôi muốn chuyển tải đến những người có tấm lòng thánh thiện, bồ tát là hãy
sống với trái tim, tình yêu thương chân thật.
Khi
đó, bạn sẽ rất gần với đạo. Đừng dính mắc, để tâm vào những việc tốt đã làm,
bạn sẽ tự nhận biết niềm hân hoan, vui sướng trong bạn và cả những người được
bạn giúp đỡ sẽ tăng lên gấp bội.
Nếu
hiểu rõ lẽ đạo tôi trình bày trong quyển sách thì bạn và đạo sẽ không là hai.
Bạn đạt được chân thường, chân lạc, chân ngã, chân tịnh.
Thật
không công bằng! Tôi chỉ nói mà không làm.
Không
hẳn vậy! Tôi sẽ dùng 10 năm sức lao động của tôi để truyền trao quyển sách đến
với bạn. Và ngay khi hoàn thành quyển sách, tôi sẽ đến bệnh viện, vào phòng
hiến tặng cơ quan nội tạng, tôi sẽ hiến tặng bất cứ cơ quan, bộ phận nội tạng
nào mà người bệnh đang cần. Đôi mắt, trái tim,… tôi cũng sẽ không cần giữ lại.
Tuy
nhiên, ai sẽ dám lấy trái tim khi tôi còn đang sống?
Thế
nên điều tôi cần làm tiếp theo là hành trì đi tìm giấc ngủ sâu không trở lại.
Tôi
có một yêu cầu ràng buộc “Nếu có ai đó đến nhận lấy đôi mắt thì hãy cứ trả tôi
về cuộc sống bình thường. Bạn không cần lo lắng, bảo bọc, chăm sóc,… chỉ dõi
mắt nhìn xem tôi có còn hồn nhiên, vô tư, tự tại hay những điều tôi trình bày
trong quyển sách chỉ là những dối lừa, những lời nói điêu ngoa”.
Nếu
bạn nhận thấy tôi bước lê những bước chân thảm não bên đường bạn hãy đốt hết
những gì “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”.
Tôi
vẫn chờ đợi bạn đến mang sự thật trả về cho nhân loại.
Nhân
đây, tôi cũng gửi lại lời nhắn:
Bạn
đừng chuyển tiền vào số tài khoản của Vô Ưu.
Quỹ
Từ bi sinh hỷ lạc và ngôi nhà Nối lại những yêu thương chỉ là một lời nói
suông?
Không
hẳn vậy! Có lẽ khi quyển sách được rộng truyền thì quỹ Từ bi sinh hỷ lạc và
ngôi nhà Nối lại những yêu thương sẽ dễ dàng được xã hội chấp nhận hơn. Tuy
nhiên, bạn hãy làm với trái tim và tình yêu thương chân thật.
Tại
sao tôi chọn con đường đi trong phi đạo?
Tôi
tìm đạo giác ngộ, giải thoát vừa hay đạt được chút tỏ ngộ. Nhìn nhân loại đi
trong mê lầm, tôi không khỏi xót xa. Đạo đời hai lối, người làm trái đạo thời
nhiều.
Trái
đất nổ tung còn không người tu học?
Đạo
Phật bất tranh nhưng tôi phải tùy thời. Vả lại đạo Phật bất tranh vì Vô Ngã là
tôn quý hơn cả.
Những
điều tôi biết nói để ai nghe?
Việc
tôi cần làm là trả kinh Phật về cho nhân loại. Giữ mãi kinh điển trong chùa chỉ
e bụi bám, nhện giăng. Tôi biết khi khoác y áo Cà sa thì phải một lòng giữ đạo.
Những điều tôi trình bày không nằm trong kinh điển thì hiển nhiên là sự thật
khó nói ra. Nói ra thì tôi sẽ trở thành ngoại đạo. Vì lẽ đó tôi rõ biết mình
không thể đi trong Phật đạo hành Phật đạo nên đành thôi đi trong phi đạo hành
Phật đạo.
Vượt
khỏi giới luật Phật môn, tôi lại vướng vào kiến chấp, nguyên tắc xã hội, pháp
luật. Tôi tự nhận biết mình không làm sai và việc không thể không làm.
Thiên
thượng thiên hạ duy ngã độc tôn cũng chính là một pháp môn giải thoát của Đức
Phật. Nếu pháp môn nào của Phật cũng khai tông, lập giáo chẳng lẽ phải tạo lập
ra tám vạn bốn ngàn tông giáo thuộc Phật giáo.
Nếu
thật như thế thì không phải người học Phật sẽ mê mờ, bấn loạn sao?
Với
những hiểu biết về tam giới, tôi hoàn toàn có thể khai tông, lập giáo. Chỉ chịu
khó nhẫn nại đôi chút, tôi sẽ vào chùa thí phát quy y sau 5 năm. Trong khoảng
thời gian này, tôi trao dồi sở học, kiến giải Phật pháp và chuyên tâm thiền
định. Sau 5 năm, tôi lên chánh điện hoặc đến những nơi công cộng đông người qua
lại,… Tôi ngồi thiền định miên mật 7 ngày, 7 đêm và sau đó truyền trao quyển
sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay…”. Có lẽ sẽ không mất nhiều thời gian để tôi
tạo dựng tông giáo riêng. Nhưng đó không phải là điều tôi cần làm, điều tôi cần
làm là giao trả sự hiểu biết giải thoát hoàn toàn của Phật Thích Ca về cho nhân
loại và cả 3 cõi 6 đường.
Thế
nên khi Vô Ưu đã không khai tông, lập giáo thì mãi mãi về sau sẽ không có bất
kỳ một tôn giáo nào được sáng lập vì tôn giáo đó sẽ là trá ngụy, vì lợi dưỡng
mà thành hình. Tôn giáo đó là tà ma, ngoại đạo vì chỉ tạo ra những ngộ nhận mê
lầm trong tinh thần của con người và chúng sinh 3 cõi.
Chủ
nghĩa thực dụng đang xây dựng cho nhân loại một nhận thức đi tìm cái hay, cái
đẹp trong cuộc sống. Bạn cứ ngỡ những cái hay, cái đẹp là rất nhiều nhưng cuộc
sống không phải vậy.
Ẩn
chứa bên trong sự hào nhoáng, vinh quang, bóng bẩy,… là những xấu xa, khốn
cùng, tranh đua nghiệt ngã,…
Bạn
có thể đánh mất chính bạn trước tham vọng danh lợi, bạc tiền.
Khi
đó nhân cách, phẩm giá của con người bạn sẽ thả trôi theo dòng nước chảy, bạn
được gì?
Danh
phận hão huyền, tiền của như mây.
Bạn
mất gì?
Mất
đi sự tôn quý của bản thân, người thân rời bỏ. Xung quanh bạn là những toan
tính, lọc lừa, tư lợi cá nhân. Quần áo tinh tươm, trang sức lộng lẫy, sự quyến
rũ của hương nước hoa,… không che dấu sự băng hoại tâm hồn, những vết bẩn dơ
tinh thần không thể gột rửa. Bạn hụt hẫng, gục ngã và cuồng loạn trong sự phồn
vinh giả tạm.
Tuy
nhiên, cuộc sống vẫn có mùa xuân hoa nở, tiếng mẹ hát ru con, những đêm trăng
thanh gió mát, tiếng gà gáy trưa,… những điều đó làm cho cuộc sống rộn niềm vui
và hạnh phúc.
Những
cái đẹp, cái hay khi bạn cố tìm thì sẽ mất. Bạn nên đi tìm những cái hư, cái
xấu để chúng mất dần đi. Bạn hãy đi tìm mặt trái của cuộc sống bạn sẽ nhận ra
điều kỳ diệu. Khi đó, bạn sẽ nhận ra những cảnh đời bất hạnh những người mù
lòa, tật nguyền lân la xin từng cái bánh, miếng ăn. Những thân hình kỳ dị, đầu
to, tay chân teo tóp. Những người già lưng còm rao bán những tờ vé số rủi may.
Bạn
còn nhận thấy nước mắt người mẹ chảy dài khi người con nghiện ma túy, nỗi đau
của người cha cũng thầm dậy trong lòng,… Khi cầm lấy chén cơm bạn sẽ nhìn thấy
rất nhiều những mảnh đời đói lạnh,... bạn sẽ quý hạt cơm hơn vì bạn biết rằng
bạn còn có cơm ăn. Bạn thương quý gia đình hơn và hiếu thuận quay về...
Bạn
cứ tiếp tục đi tìm ở những nơi tận cùng cuộc sống, sự sống vẫn tồn tại dù rằng
rất khổ đau. Những người bạn nhiễm HIV đang chờ tử thần réo gọi, họ vẫn kiên
tâm, gắng gượng nở nụ cười kìm nén nỗi đau, họ vẫn sống, vẫn làm việc.
Những
trại trẻ mồ côi, những khu nuôi dưỡng người điên loạn, những nạn nhân chất độc
màu da cam dường như hôm nay rộn ràng hơn ngày hôm trước bởi lẽ đã có những tấm
lòng vàng đang nhen nhóm những niềm vui. Bạn sẽ thấy cuộc sống sẽ ý nghĩa hơn
vì bạn học được sự hiểu biết để thương yêu.
Bạn
cứ hãy đi tìm những trái ngang của cuộc sống cho đến khi bạn vỡ oà cảm xúc cuộc
sống thật ngập tràn sự tươi đẹp lẫn niềm vui.
Bạn
nghĩ sao?
Hơn
60 năm một cuộc đời?
Đời
người dài rộng hay dường như ngắn ngủi?
Phải
chăng cuộc đời chỉ như là một giấc mơ thoáng qua?...
Nếu
bạn nhận ra đời chỉ dường như là một giấc mơ. Bạn hãy mơ một giấc mơ đẹp và giữ
lấy điều mầu nhiệm đó. Cuộc đời bạn sẽ đẹp tươi khi bạn biết giữ gìn.
V. Bát nhã tâm kinh mộc giải.
Bát
nhã ba la mật đa tâm kinh là bài kinh cô động lại của bộ kinh bát nhã, lời kinh
súc tích gãy gọn nhưng không vì thế mà giảm đi chân giá trị. Những ai hành trì
miên mật bài kinh này, tự khắc trí tuệ khai mở. Khi cơ duyên đến, tùy nghi đại
ngộ sẽ đạt sự giải thoát mầu nhiệm ngay trong hiện đời.
Tôi
tự thẹn Hán văn ngu muội, không dám tranh hơn luận thắng với các bậc tôn
trưởng, cao đức. Chỉ vì muốn lời kinh trở nên gần gũi hơn với người học Phật,
tôi đành một phen mạo muội. Đắc tội!
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
Quán tự tại bồ tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn
giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá lợi tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức
thị sắc. Thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá lợi tử! Thị chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh,
bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung. Vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức. Vô
nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Vô nhãn
giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão
tử diệc, vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố. Tâm vô quái ngại,
vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo, mộng tưởng cứu cánh Niết
bàn. Tam thế chư Phật y bát nhã ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la tam muội tam
bồ đề.
Cố tri bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô
thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
Lời
kinh như lời nhắn gửi của Đức Phật Thích Ca đến với người học Phật, y kinh hành trì miên mật sẽ mau chóng liễu thoát
sinh tử.
Phật
thuyết:
Khi
ta quan sát một vị bồ tát đã đạt được sự tự tại giải thoát, ta sẽ nhận thấy vị
này chuyên tâm hành trì bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí
tuệ tùy thuận ở mọi lúc, mọi nơi. Nhờ vậy mà vị Bồ tát này nhận ra sắc thọ tưởng hành thức đều là tướng hư
huyễn, không thật vì tất cả do duyên hợp. Do nhận biết lẽ thật đó mà vị Bồ tát
vượt qua mọi khổ não, tai ách và phiền muộn.
Sắc do vật chất gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, đầu, cổ, tay chân, thân hình, máu
huyết,… hợp thành. Thọ do cảm giác vui buồn, giận thương, yêu ghét,… hợp thành.
Tưởng là những nhận thức nghĩ nhớ, ghi nhận, chuyện đã qua, việc hiện tại,
tương lai,… hợp thành. Hành là tri giác, là những tâm ý dao động, lăn xăn, dừng
nghĩ,… hợp thành. Thức là ý thức do tâm phân biệt, so sánh, đánh giá,… hợp
thành. Bồ tát nhận thức rõ khi tách rời sắc thọ tưởng hành thức, và các phần
nhỏ mắt tai, mũi lưỡi, vui buồn, nhớ nghĩ, sự lăn xăn tâm ý, ý thức so sánh,…
thì sẽ không có ai là bồ tát và ngay cả khi hợp nhất chúng lại cũng không có vị
bồ tát nào vì sắc thọ tưởng hành thức khi hợp lại vẫn không dừng lặng mà diễn
ra quá trình sinh trụ dị diệt,... Chỉ có sự tự tại của chân tâm là thường còn.
Vì thế vị Bồ tát không còn tham đắm dính mắc những tranh giành, hơn thua, được
mất, thật giả,… nên không còn bị sự đau khổ, lo lắng bức hại.
Này
người học Phật! Hãy tự nhận biết! Có thì không khác gì không, không thì không
khác gì có. Có tức là không, không tức là có.
Vì lẽ thân xác người chết khi tan hoại vào đất thì thân người sẽ không còn
mà con người thì phải chết. Nhưng khi còn sống, thân xác chưa tan hoại thì vẫn
có thân người. Thế nên có thì đâu khác gì không, không đâu khác gì có và nói
một cách khác thì có tức là không, không tức là có vì nó biến chuyển liên tục,
không dừng nghỉ, không bền vững mãi mãi.
Cảm giác, nhận thức, tri giác, ý
thức cũng đều như thế.
Chúng cũng biến chuyển liên tục,
không dừng nghỉ, không bền vững. Ai có thể giữ mình vui hoặc buồn cả ngày; nhận
thức, ý thức, tri giác của mỗi người cũng không dừng lặng được; việc đẹp xấu,
những chuyện ngày mai, hôm qua,... chạy loạn trong đầu. Vì thế chúng cũng không
khác gì không, cũng không khác gì có. Chúng cũng chính là không mà cũng chính
là có.
Này người học Phật! Hãy tự nhận
biết. Tất cả các pháp đều không phải tồn tại ở dạng có hay không, cũng không
sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. Tất cả các pháp
đều không có hình tướng, không có cảm giác, nhận thức, tri giác, ý thức, tư duy.
Cũng không có cái gì gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi , thân, ý; Cũng không có gì là
màu sắc, âm thanh, mùi hương, khẩu vị, sự xúc chạm và các sự vật, các pháp.
Cũng không có cái bị thấy, không có cái bị nhận biết phân biệt. Không có sự hiểu
biết không sáng rõ, cũng không có sự hiểu biết sáng rõ. Không có sự già chết
cũng không có sự không già chết. Không có sự khổ, không có nguyên nhân gây ra
sự khổ, không có dứt trừ sự khổ, cũng không có dứt khổ. Không có sự hiểu biết
trí tuệ, cũng không có pháp để đắc.
Vì bởi rõ biết có tức là không,
không tức là có. Khi người học Phật sống được với cái biết đó thì sẽ rõ biết
vạn pháp - Mọi sự vật, hiện tượng đều không phải tồn tại ở dạng có hay không?
Tất cả chỉ do duyên, đủ duyên thời nhận thấy rằng có nhưng khi duyên biến diệt
không còn nữa thời nhận thấy là không. Thế nên người học Phật sẽ nhận biết vạn
vật sẽ không có sinh diệt, không có dơ sạch, không có tăng giảm. Sở dĩ có sự
sinh diệt, dơ sạch, tăng giảm là do tâm phân biệt của con người, do con người
quan sát, đánh giá ở góc nhìn hạn hẹp chứ không đặt sự vật hiện tượng ở góc
nhìn tổng thể khách quan. Cụ thể, khi ta nhìn một đống phân bò bên một gốc cây
mận, ta sẽ thấy sự nhòm gớm, dơ bẩn. Sau một thời gian ta không thấy đống phân
bò nữa và cây mận trước kia chưa có trái, bây giờ đã có nhiều trái chín mọng.
Ta hái vài trái mận cho vào miệng ăn và nhận định cây mận có trái ngon ngọt,
thanh mát. Vì không nhìn ở góc nhìn tổng thể nên ta vội quên cây mận tốt tươi,
nhiều trái là do chuyển hóa đống phân bò gớm bẩn thành quả ngọt. Mọi vật trong
cuộc sống cũng đều như vậy chúng không thể tự có mà nương nhờ các duyên, đủ
duyên thì mới có thể sinh ra. Điều này đồng nghĩa với việc vạn pháp sẽ không có
gì cả. Không hình tướng, cảm giác, nhận thức, tri giác, ý thức, mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý, màu sắc, âm thanh, mùi hương, vị giác,… Không có sự hiểu biết
trí tuệ, cũng không có pháp để đắc.
Nhiều người tham cứu, học hỏi Phật
đến đây thì mê mờ lý sự. Vạn pháp đều là không thì có gì để tu học, không có
pháp để đắc thì tu hành mà làm chi. Những người theo ngoại đạo chỉ trích Phật
giáo chấp không cũng ở lý này. Vì không nhìn nhận, đánh giá ở góc nhìn tổng thể,
khách quan nên chúng sinh 3 cõi 6 đường mê mờ, lầm lạc. Qua đoạn kinh văn này,
bạn thấy vạn pháp là không nhưng ai là người nhận thấy vạn pháp là không? Đó là
người tu học đạt quả vị Bồ tát. Vậy ra không phải vạn pháp hoàn toàn không mà
còn có một vị Bồ tát tự tại. Bồ tát là ai? Bồ tát là người tự cứu mình thoát
khổ và độ người thoát khổ. Vì lẽ con người tự nhận mình có thân, tham đắm thân
sinh ra khổ. Hiểu lý lẽ đó vị Bồ tát đã hành thâm bát nhã ba la mật quán chiếu
nhận rõ thân không thật, các pháp không thật để không còn dính mắc, nhằm xa lìa
sự khổ. Cái mà vị Bồ tát cầu đắc chính là cái không có gì để đắc, là không có
người để đắc - Vô sở đắc.
Khi đạt cái pháp không có gì
để đạt, vị Bồ tát đã y tựa vào bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền
định, trí tuệ hành trì miên mật, và đạt được tâm không lo lắng, tâm không sợ
sệt, tâm không kinh hoảng, từ đó xa rời sự mộng tưởng điên đảo về Niết bàn - cõi
thường lạc ngã tịnh. Ba đời chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều y tựa vào bố
thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí huệ hành trì miên mật mà
chứng ngộ được quả vị chánh đẳng, chánh giác.
Khi đạt được pháp không có gì đạt
được, vị Bồ tát tiếp tục hành trì miên mật sáu phép ba la mật cho đến khi tâm
không còn xao động, sợ sệt, lo lắng thì đạt được chánh định, đạt được chánh
định rồi thì vị Bồ tát không còn động loạn, mong cầu về cõi Niết bàn thường lạc
ngã tịnh nữa. Phật còn khẳng định “Cũng bằng việc hành trì liên tục, tùy thuận,
không rời bỏ sáu pháp ba la mật mà chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai
đạt được sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn, đắc quả vị Phật”.
Vì
vậy người học Phật phải rõ biết hành trì sáu pháp ba la mật bố thí, trì giới,
nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ tùy thuận mọi lúc, mọi nơi thì đó
chính là câu thần chú lớn nhất, là câu thần chú sáng rõ nhất, là câu thần chú
cao tột nhất, là câu thần chú không có câu thần chú nào có thể so bì. Câu thần
chú này sẽ có công năng diệt trừ hết mọi sự khổ nạn, tai ách. Đây là lời nói
chân thật không có hư dối.
Ý từ của đoạn kinh văn rất rõ ràng, người học Phật phải tùy thuận, siêng
năng hành trì sáu phép ba la mật thì sẽ đạt được sự tỏ ngộ và nhận ra đây là
câu thần chú cao tột có công năng độ thoát con người ra khỏi mọi cảnh khổ.
Người học Phật sẽ tự biết lời nói đó không chút hư vọng, là lời nói đúng thật.
Có
thể trình bày Bát nhã ba la mật đa tâm kinh theo một cách khác, cách nói như
sau:
Giải
thoát giải thoát, giác ngộ giải thoát, giác ngộ sẽ được giải thoát. Đó là tự
tánh bồ đề thường tại trong mỗi chúng sinh.
Cuối cùng, Phật lại thuyết có một cách đơn giản, ngắn gọn hơn để người học Phật trì bộ kinh chứa trí
tuệ bát nhã ba la mật đa. Đó là:
Người học Phật sẽ tự giải thoát bằng sự hiểu biết cùng tột về sự giải thoát
hoàn toàn - Sự hiểu biết về không có cái tôi thường tại trong mỗi chúng sinh,
khi sống được với sự hiểu biết giải thoát thì sẽ được giải thoát hoàn toàn. Và
đó chính là tự tánh bồ đề trong mỗi chúng sinh không bao giờ dứt mất.
Có lẽ phần trình bày về Bát Nhã Tâm Kinh Mộc Giải chỉ
được những người tu học quan tâm nhưng thôi bạn hãy kiên nhẫn xem hết vì lẽ
việc đọc một đoạn sách sẽ không hại gì. Tôi sẽ tóm gọn toàn bộ quyển sách “Hãy
là đường xưa mây trắng bay…” qua hàm ý ẩn chứa trong câu chú “Yết đế yết đế, ba
la yết đế, ba la tăng yết đế. Bồ đề tát bà ha”.
Trong Tam tạng kinh, Phật cũng chỉ trình bày một vấn đề
duy nhất, đó chính là con đường của sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn mà bất kỳ
chúng sinh nào có hiểu biết, biết dừng lại, nhìn nhận và hành trì tùy thuận đều
có thể đạt được.
Trong câu chú trên cũng không ngoài mục đích khuyên người
tìm về nẻo sáng giác ngộ giải thoát.
Phật thuyết “Người học Phật hãy tự giải thoát bằng sự
hiểu biết giải thoát”. Đó cũng là Phật tánh thường còn của mọi chúng sinh.
Nếu bạn hỏi:
- Tại sao phải tự giải thoát? Tôi có bị nhốt đâu? Ai nhốt
tôi?
Tôi sẽ trả lời:
- Bạn đã tự nhốt bạn. Bạn nhốt mình trong xác thân giả
tạm, luôn luôn tàn hoại. Bạn nhốt mình trong cái tôi điên đảo trôi lăn trong 6
đường.
Vì lẽ gì tôi biết điều đó?
Vì tôi bắt gặp bạn trong những lo toan, phiền muộn, khổ
đau. Bạn tham đắm, u mê với tranh giành được mất. Bạn bước qua cuộc đời mình
vội vã. Và ở tuổi xế chiều, bạn hụt hẫng, hoang mang. Bạn chỉ là nô lệ của cái
xác thân vay mượn. Bạn chỉ thực sự là ông chủ khi hòa cái tôi nhỏ bé vào cái vô
ngã viên dung của vũ trụ, của nhân loại. Ngay khi đó, bạn sẽ tự nhận biết những
điều tôi nói là những lời chân thật. Bạn sẽ không còn khổ đau, không tham đắm,
hoài nghi, si mê,… bạn chỉ giữ lại niềm an lạc, tự tại và sự giải thoát hoàn
toàn khỏi thân tâm.
Để làm một ông chủ trong cuộc đời, bạn hãy tùy thuận hành
trì sáu phép ba la mật bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí
tuệ. Việc làm thiết thực này sẽ giúp bạn sớm nhận ra con đường của sự hiểu biết
giải thoát là thật có và khi đó đạo - đời chỉ là một mà thôi.
Bạn cũng không phải tìm sáu phép ba la mật ở đâu xa. Bố
thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định, trí tuệ là sẵn có trong con
người bạn. Bạn chỉ việc lấy chúng ra và tùy thuận sử dụng.
Mục Lục
Chương IV:
Chánh Pháp Thất Truyền Của Phật Thích Ca - Quán Chiếu
Tam Giới
Vô Ưu đến không đem lại
cho bạn bất cứ điều gì. Vô Ưu đến chỉ lấy đi những nỗi khổ đau, phiền muộn có
trong bạn và trong lòng nhân loại.
Tôi gượng nói cho ý từ lệch lạc
Buông đằng đông
Buông đằng tây
Cho mây lặng, nước ngừng trôi…
Mai này, tôi sẽ vì người
mà sống, vì người mà chết. Mai này, tôi sẽ ăn cơm của thiên hạ, làm việc cho
thiên hạ nhưng không nắm lấy thiên hạ. Đến tháng 12 năm 2012, nếu quả thật lòng
người khó đoán, tôi không tìm được trái tim chân thật, tình yêu thương chân
thật của loài người thì tôi đành học theo hạnh người xưa làm “Bù nhìn rơm” đứng
giữa trời.
Dù bạn là ai đi chăng
nữa thì quyển sách nhỏ này cũng lưu giữ những giọt nước mắt chứa đựng sự yêu
thương từ bi và tấm lòng thánh thiện của bạn. Có thể những giọt nước mắt của
bạn sẽ nằm ở phần đầu, hoặc ở phần sau nhưng cũng có thể ở đoạn giữa của quyển
sách. Bạn hãy kiên nhẫn tìm lại những giọt nước mắt thánh thiện ấy. Hãy yên tâm
vì đây là những giọt nước mắt yêu thương. Thế nên, những giọt nước mắt đó sẽ
nuôi dưỡng tâm hồn bạn.
Việc xem sách cũng tùy
thuận, bạn không nhất thiết phải xem từ trang đầu đến trang cuối. Bạn cứ tùy
tiện lật quyển sách ra xem và chỉ xem toàn bộ quyển sách khi bạn cảm thấy thật
sự cần thiết. Bạn hãy cho bạn cơ hội ở 3 lần giở sách.