Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

SÁCH HÃY LÀ ĐƯỜNG XƯA MAY TRẮNG BAY


Sẽ có một ngày trong đời, bạn cầm trên quyển sách này. Lúc đó, có thể bạn là một người giàu có hoặc là một người nghèo khó, có thể bạn là một nhà khoa học hay là một người tu hành,... Quyển sách này như viên gạch chắn ngang trên con đường bạn đang đi. Dù bạn là ai đi chăng nữa? Hãy là một người có ý thức, có lòng từ bi, biết thương xót những người đi sau mình. Vào những buổi chiều tối, họ sẽ loạng choạng khi vấp phải. Bạn hãy nhặt viên gạch lên. Đừng vội vứt đi, bạn hãy xem viên gạch còn dùng được không. Nếu dùng được nhưng bạn lại thực sự không cần đến viên gạch cũ. Bạn hãy mang theo và cho bất kỳ một người nghèo khó nào mà bạn nhìn thấy ven đường. Sẽ có không ít người cần một viên gạch để kê lại cái chân giường nơi ẩm thấp. Nhà khoa học cũng nên xem xem viên gạch bằng chất liệu gì? Nhà tu trẻ hãy mang viên gạch về lau chùi lại, biết đâu cũng có lúc cần dùng đến. Cuối cùng, nếu viên gạch đã quá cũ nát, hư bể thì bạn hãy ném viên gạch vào hư không!...
Nếu bạn có đủ kiên nhẫn đọc hết quyển sách này thì tôi đảm bảo quyển sách sẽ làm thay đổi ý nghĩa cuộc sống của bạn - Giúp bạn sống tốt, có ích hơn.





Vô Ưu






Hãy là
đường xưa
               mây trắng
                      bay …

Quyển sách này chứa đựng cả Vũ trụ vạn hữu. Thế nên khi bạn chưa xem đến trang cuối cùng. Bạn đừng vội gấp quyển sách lại.
Dù bạn là ai thì tôi cũng thật sự khuyên bạn nên đọc quyển sách này. Rất có thể bạn sẽ tìm thấy được một khía cạnh khác của cuộc sống. Nếu may mắn, bạn sẽ tìm ra được điều kỳ diệu duy nhất trong cuộc sống. Đó là Tình yêu thương chân thật có trong bạn. Nếu bạn thật sự sống với cái thấy đó, bạn sẽ không còn biết đến những khổ đau trong thân tâm. Bạn sẽ nhẹ nở một nụ cười trên môi. Nụ cười đó sẽ đẹp rạng rỡ. Tất cả mọi người sẽ yêu mến bạn. Bạn sẽ không còn có kẻ thù và những người ganh ghét. Vì hận thù, ganh ghét trong lòng họ sẽ tan mất trước nụ cười của bạn,…


 Vô Ưu
(Tùy bút)


PhẦN I

Chương I

Có bao giờ bạn dừng lại, lắng lòng và nhìn vào cuộc sống chưa?
Với một bản tâm vắng lặng như thế, bạn sẽ nhận ra cuộc sống thật đầy rẫy những khổ đau! Khổ đau có trong  bạn; trong những người thân; trong những người xa lạ; cả trong tiếng thú hoang vướng bẫy giữa rừng; tiếng kêu tuyệt vọng của chú chuột trong móng vuốt của chú mèo tinh quái; và ... hơn thế nữa, bạn có nghe tiếng rên siết, máu cây rừng đã đổ trong những cánh rừng sâu; sóng biển đã ai oán thét gào; tiếng nổ mìn phá đá cũng thê lương,... Và sự trả thù đã trở lại. Biển đã hung dữ hơn. Bão tố đã tàn khốc hơn. Máu đã đổ nhiều hơn... Cái chết bao trùm tất cả.
Bạn có từng nghĩ về những điều tôi vừa nói chưa?
Bạn có tự hỏi “Vì sao thiên nhiên dường như vô tri lại trở nên hung bạo đến vậy không?”.
Và bạn đã tìm được câu trả lời thỏa đáng chưa?
Đó vẫn chưa là vấn đề tệ hại nhất của cuộc sống.
Bạn có nghe những người anh em xả súng bắn nhau?
Có lẽ sẽ không sai khi nói rằng những người bạn Triều Tiên - Hàn Quốc là những người anh em có cùng tổ tiên nguồn gốc, nhưng tại sao họ lại đang bắn giết lẫn nhau?
Đâu đó trên thế giới, con người vẫn giết hại lẫn nhau một cách tàn khốc như Irac, Apganixtan, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Palestin, Nga, Mỹ, Châu Âu, Somali, Taliban,… về khủng bố, cướp biển, về những cuồng vọng sắc tộc, tôn giáo,... và cả vấn đề nhân quyền.
Thật đáng buồn! Vì con người đã lầm lạc, ngu ngơ không nhận ra được - dù họ là thành phần, là dân tộc, là tôn giáo nào đi chăng nữa thì họ cũng là đồng loại - đều có máu đỏ và nước mắt người nào cũng mặn. Ai cũng có cha mẹ, có anh chị em, có vợ chồng, có con cái và có những người thân. Họ sẽ phải đau khổ vật vã khi con họ, cha họ hay những người thân phải nằm lại ở chiến trường.
Bạn là ai?
Bạn có cảm nhận được nỗi đau đó không?
Nếu bạn may mắn, bạn là người chiến thắng, bạn được tặng thưởng, được huân chương.
Bạn có vui không?
Khi  nhận ra những gì, bạn có được là từ máu thịt đồng loại, những người mà bạn được nhồi nhét vào đầu - Đó là kẻ thù của bạn. Và còn có một phần thân thể của đồng đội có thể một số đồng đội đã chết. Một số khác trở về với sự không lành lặn của cơ thể - một cánh tay, một bàn chân, một đôi mắt, một phần hộp sọ,... còn lại ở chiến trường. Một số khác quay về với tâm thần không toàn vẹn - Họ điên loạn và còn gì nữa,...
Bạn nghĩ sao?
Nếu tôi nói rằng “Cái chết đã đến với bạn ngay khi bạn còn đang sống”. Hãy dừng lại! Đừng vội mắng tôi điên! Đừng vội bắt tôi câm miệng lại thằng hề ngu ngốc! Tôi sẽ nói cho bạn biết: “Tại sao tôi nói cái chết đã đến với bạn khi bạn còn đang sống?”.
Tôi sẽ hỏi và mong rằng bạn sẽ trả lời bằng trái tim chân thật.
Tôi hỏi:
- Bạn có nghe, thấy những điều tôi vừa trình bày chứ? Bạn có thực sự đau xót, cảm thông những khổ đau đó không?
Trường hợp 1:
Bạn trả lời:
- Không.
Tôi đáp:
- Tôi tin bạn. Bạn đã trả lời câu hỏi của chính bạn. Cái chết đã đến ngay khi bạn còn đang sống. Bạn đã chết đi cảm xúc yêu thương của một người còn đang sống. Ôi! Đáng tiếc thay! Bạn đã chết ngay khi còn sống.
Trường hợp 2:
Bạn trả lời:
- Có chứ! Tôi có nghe thấy, có xót xa khi nghe tiếng kêu tuyệt vọng của con mồi trong nanh vuốt của kẻ săn mồi; Tôi rất căm phẫn hành động bắt tàu, bắt người đòi tiền chuộc của bọn cướp biển, bọn khủng bố,... Tôi thực sự hồi hộp, lo lắng, đau khổ chờ đợi từng ngày, từng giờ khi nghe những người thợ mỏ Chile bị kẹt lại dưới hầm hàng tháng trời. Tôi luôn nguyện cầu cho họ và hạnh phúc vỡ òa khi những người thợ Chile được đưa lên từ lòng đất như chính những người thân của họ vậy,...
Tôi đáp:
- Tốt! Tôi tin bạn.
Tôi lại hỏi:
- Thế sự đau xót có bằng việc đứt tay chảy máu của bạn không? Có bằng cơn đau ruột thừa hay cơn nóng sốt 400 khi bạn bị sốt xuất huyết không,...?
Trường hợp bạn trả lời:
- Không.
Tôi nói:
- Tôi tin bạn. Tôi đã từng giống như bạn, đã từng không hiểu được cảm xúc của chính mình. Phải chăng ta đã mất đi “Một điều gì” đó?
Trường hợp bạn trả lời:
- Có, những đau khổ đó cứ như hiện diện chính trong thân thể tôi vậy.
Tôi nói:
- Bạn đã chết, với những đau khổ đó, hẳn là không một ai có thể tồn tại mà sống được cả.
Bây giờ, tôi sẽ dùng khoa học cho bạn thấy “Cái chết đã đến với bạn ngay khi bạn còn đang sống”.
Bạn có thấy những đứa trẻ khi mới sinh ra chỉ trên dưới 2, 3 kg. Theo thời gian chúng lớn lên trong vòng tròn sinh lão bệnh tử của một đời người.
Nếu nói đứa trẻ 3 kg chính là anh thanh niên, là cô gái 50, 60 kg thì có thật đúng không?
Nếu thật đúng thì lẽ ra sự hiểu biết, cân nặng, chiều cao phải là như nhau chứ?
Sự thay đổi này có được là do vô số tế bào cũ đã chết đi được thay thế bằng vô số tế bào mới khác.
Có phải “Cái chết đã đến với bạn ngay khi còn đang sống” không?
Mỗi con người sinh ra và lớn lên đều ý thức là sẽ xây dựng một cuộc sống hạnh phúc. Tuy nhiên không mấy ai nhận ra được: “Thế nào là hạnh phúc? Đôi khi họ nhận ra nhưng lại vội quên”.
Vì không có nhận định đúng đắn nên việc tìm hạnh phúc chân thật thường gặp nhiều khó khăn và phần lớn thường bị lạc lối. Kết quả không có được hạnh phúc như mong đợi, có chăng là sự chán chường, thất vọng và chút hạnh phúc giả tạm, ngắn ngủi.
Tùy hoàn cảnh, xuất thân của từng người trong mỗi gia đình, trong các thành phần xã hội khác nhau. Tùy vào năng lực, ý thức sống và bối cảnh xã hội mà con người có cách thức kiếm tìm hạnh phúc khác nhau. Nhưng nhìn chung, con người thường sai lầm khi chỉ đi kiếm tìm hạnh phúc ở bên ngoài bản thân có thể chỉ là tiền tài, vật chất, danh lợi,… hay có thể là một gia đình nương gá, tạm bợ,...
Nhưng khi không có được những mong mỏi đó, con người rơi vào trạng thái tuyệt vọng, bi quan, tiếc thương cho số phận. Cầu nguyện Trời Phật cứu giúp.
Có khi họ nỗ lực để tìm cầu hạnh phúc nhưng càng cố gắng lại càng rời xa.
Vì đơn giản, hạnh phúc là chấp nhận cuộc sống thực tại của chính mình rồi dựa vào điều kiện hoàn cảnh và khả năng làm việc để tạo dựng cuộc sống tốt, có ích hơn. Từ đó, con người mới xây dựng được một gia đình bền vững, bình dị, hài hòa thương yêu lẫn nhau.
Hạnh phúc không ở nhà cao cửa rộng, lắm của nhiều tiền, vợ đẹp, con xinh,…
Ví như tôi có quen một người anh. Anh ấy xuất thân trong gia đình nghèo khó. Anh thường cầu nguyện - mai này anh sẽ kiếm thật nhiều tiền. Anh là người rất cầu tiến, cần kiệm và siêng năng. Năm 40 tuổi, anh đã là một thương gia rất giàu có. Đến lúc bấy giờ, anh vẫn không cảm thấy thực sự hạnh phúc và an vui. Anh lại mơ ước sẽ cưới  một cô vợ trẻ đẹp. Rồi anh cũng cưới được cô vợ như ý muốn. Nhưng từ đó, anh mất hẳn sự an vui. Ngày trước, anh chỉ lo buồn thân anh nghèo khó.
Còn giờ đây, anh lo không biết tiền bạc sẽ rời bỏ anh lúc nào
 Cô vợ anh đẹp, đáng yêu quá nhưng cô ta cũng trẻ quá; Không biết cô ta yêu mình hay yêu tài sản của mình.
Không biết mình có thể lo cho cô vợ đến suốt cuộc đời không?...
Lo sợ, anh xây dựng một tòa biệt thự kín cổng cao tường. Cô vợ xinh đẹp kia từ đó giống như con chim quý được nhốt trong một cái lồng sơn son thếp vàng.
Tôi tự hỏi “Gia đình như thế có thật sự hạnh phúc không?”.
Tóm lại, hạnh phúc chính là sự quân bình nội tại giữa đời sống vật chất và đời sống tâm linh. Gia đình hạnh phúc là gia đình có cuộc sống bình dị, thanh thản, an vui và hòa hợp.
Bạn đã có được chìa khóa mở cánh cửa hạnh phúc cho mình chưa?

Em côi cút một mình trên bãi vắng
Sóng triều dâng chập choạng đến nao lòng
Em mê mải vẽ bài thơ trên cát
Đêm tối loang dần
Em khuất nẻo trời xa
Tôi lãng du dừng bước dài vô định
Khoảng trống em ngồi
Còn lại mấy vần thơ
... em như thân dã tràng se cát
... sóng muôn trùng
... cha em ở nơi đâu?
Hỡi ngọn sóng lặng lờ xô bãi!
... nuôi lớn đời em
Sao ... nỗi đau lòng…
Tôi đọc lại những vần thơ nhòa lệ
Sóng vô tình xóa bỏ chút niềm riêng
Chỉ còn lại mình tôi trên biển vắng
Thương phận dã tràng hay thương kiếp em tôi.

Dù bạn là ai đi chăng nữa?
Tôi cũng biết bạn đã từng trải qua không ít lần đau khổ trong đời.
Cũng như bạn, tôi đã từng đau khổ. Có những nỗi đau khiến tôi tuyệt vọng chỉ muốn chết đi. Nhưng buồn cười thay! Người đời không sợ chết nhưng lại sợ người thân đau khổ. Ngay khi vượt qua nỗi sợ đó thì họ lại sợ đau.
Tôi đã từng như thế. Thế nên, tôi đã phải sống trong thời gian dài đau khổ. Trong sự mông lung đó, bất chợt một câu hỏi được đặt ra: “Cuộc sống cần tôi hay tôi cần cuộc sống?”.
Thật đúng là tôi tự mua dây trói mình. Thử hỏi có mấy ai trong đời trả lời được câu hỏi đó một cách xác đáng nhất. Chính vì câu hỏi này mà tôi mất phương hướng trong cuộc sống. Tôi như chiếc thuyền con trôi giữa dòng không biết đi đâu và về đâu,...?

Lại một đêm 16 chẳng tròn trăng
Lòng người vẫn mông lung
Dòng sông lại chia hai lối rẽ
Khúc sông nào cho thuyền ít chông chênh.

Có một định nghĩa ở đâu đó, con người là một loài động vật có hệ thần kinh, có bộ não phát triển nhất. Vì thế con người rất thông minh so với những loài vật khác. Nhưng trong sự thông minh đó, con người có biệt tài rất lạ - Tự lấy dây trói mình.

Câu chuyện thứ nhất

Bạn hãy thử xem.
Hãy lấy một cái lồng được sơn son thếp vàng thật đẹp đem ra đặt ở ngoài vườn - nơi có nhiều loài chim xinh đẹp.
Bạn hãy đợi xem có chú chim nào vào và chờ bạn đóng cửa lồng lại không?
Loài chim không làm thế nhưng loài người thường làm thế.
Bạn thấy có lạ không?
Có lẽ ai trong chúng ta đều phải trải qua thời thơ bé. Khi đó, những người cha, người mẹ sợ ta đi ra khỏi nhà nguy hiểm nên họ làm những cửa, những rào để ngăn ta lại. Lớn lên một chút, họ thả ta ra từ từ. Ban đầu, ta chỉ đi ra ngoài, đến trường dưới sự chăn giữ của cha mẹ. Tiến thêm một bước, ta tự do hơn, rồi được đi xa hơn. Khi lớn, ta gần như là người tự do, làm việc trong xã hội. Lớn thêm một chút, ta cất một cái nhà và tự nhốt vào trong. Thấy vẫn chưa an tâm, ta xây thêm tường cao cửa rộng tự nhốt, tự thu hẹp với thế giới bên ngoài. Và khi đó, ta cho rằng: “Ta giàu có”. Nhưng rồi tình bạn bè, hàng xóm láng giềng cũng mất đi cùng với sự xa hoa, ích kỷ lớn lên.
Những đứa bé lại ra đời, những sợi dây cứ buộc lại, mở ra và trói chặt lại.

Câu chuyện thứ hai
Một sự lầm lạc khác cũng không kém phần kỳ lạ

Những năm khó khăn, cả gia đình ông bà con cháu sống chung với nhau trong một mái nhà nền đất. Dẫu không dư ăn, dư để nhưng cũng đủ ăn, đủ mặc.
Rồi năm tháng trôi qua, ta lớn lên, dấn thân vào xã hội kiếm được khá nhiều tiền. Ta trở thành một nô lệ thuần thành của đồng tiền.
Nhìn ngôi nhà ông bà như cái ổ chuột đã buông lời dèm pha, trách móc. Ta quyết tâm xây dựng một tòa nhà cao đẹp, có hàng rào, có cây cảnh xanh tốt. Lao tâm, khổ trí kiếm tiền.
Thậm chí bất chấp việc không đồng ý của ông bà, ta dẹp bỏ nhà cũ nền đất thay bằng tòa nhà có lối kiến trúc bên Tây. Ông bà buồn giận, bệnh tật rồi qua đời.
Mẹ ngày xưa 2, 3 ngày mới phải quét dọn nhà, giờ thì ngày 4, 5 lần lau dọn vẫn không vừa ý con. Ngày trước, nhà cũ nền đất, ba còn có thời gian hàn huyên uống trà cùng hàng xóm, giờ thì ngày 2, 3 bận chăm sóc tưới cây.
Đôi khi, ba mẹ ngồi trò chuyện cùng nhau “Giá như ngày trước, mình cũng ngăn không cho con  cất nhà mới thì giờ đâu có cực nhọc đến vậy. Bỏ mặc thì con cái nặng nhẹ, mướn người ở lau dọn, chăm sóc vườn tược thì tốn kém và phải trông chừng dòm trước ngó sau. Thời buổi này, đâu dễ tin ai?”.
Đúng là tự mua dây trói mình.

Câu chuyện thứ ba

            Ngày xưa, con người rất quý trọng việc học. Việc đọc sách là một thú vui bổ ích. Không ít người quý trọng, xem sách như là sinh mạng của mình. Việc đọc sách giúp họ nuôi dưỡng nội tâm, tâm hồn lành mạnh. Những quyển sách, những bộ truyện cổ chứa đựng những bài học, những phương pháp tu dưỡng đạo đức mang đầy tính nhân văn.
            Vì thế ông cha ta ngày xưa dẫu không có điều kiện học cao nhưng họ có đầy đủ đức tính quý báu của con người hữu ích. Họ sống theo Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín. Họ có đời sống nội tâm rất sâu sắc. Họ sống rất chân thật, hài hòa, thương yêu, san sẻ giúp đỡ lẫn nhau nhiệt thành trong lúc khó khăn.
            Có một sự thật về con người thời nay - Phần lớn con người đã chuyển sang sống tham lam, ích kỷ, chỉ biết có bản thân và ngày càng tệ hại hơn,... Đời sống nội tâm thì nghèo nàn, cạn cợt,...
Lý do tại vì đâu?
Ngày nay thói quen đọc sách đã bị quên lãng. Loài người đã không còn chú trọng đến việc nuôi dưỡng tâm hồn.
Hàng ngày, người ta đọc những tờ báo lá cải, những quyển sách mì ăn liền,... Xem xong chẳng có gì đáng để giữ lại.
Một số khác thích xem những tờ báo phanh phui về đời tư của người khác, những xì - căng - đan để làm đề tài bình phẩm những lúc nhàn đàm.
Họ nghĩ rằng như thế là có hiểu biết. Thật nhạt nhẽo, vô bổ!
Một số khác xem giá vàng, đô la, tỉ giá cổ phiếu để rồi buồn lo sầu khổ.
            Phương tiện truyền thông phát triển. Thế là vợ chồng con cái quay quầng xem những bộ phim tình cảm uỷ mị để rồi nước mắt hoen mi. Họ cho rằng họ là người có những trái tim yêu thương biết đồng cảm với khổ đau của người khác trong những bộ phim dài tập.
Nhưng khi nhìn thấy những mảnh đời bất hạnh ở trước mắt, họ ngoảnh mặt quay đi và bảo nhau rằng “Coi chừng bị lừa gạt!”.
Thật là hết chỗ để khen chê!
            Người lớn đã thế, trẻ em nào đâu chịu kém. Chúng  chúi mũi vào những trò chơi bạo lực rồi tiêm nhiễm, rồi làm một gian hùng, một tay anh chị bắt nạt bạn bè, dối mẹ gạt cha, dễ dàng tiếp cận những bộ phim ngoài luồng. Vậy là sống thử.
Biết trách ai đây?
            Một lối sống có quá nhiều sai lầm. Tôi chỉ phác họa đôi nét, những sai lầm còn lại bạn thử tìm xem. Một lời khuyên gửi đến mọi người:
            Hãy quay về thói quen xem sách lành mạnh! Hãy nuôi dưỡng lại nội tâm, tâm hồn mình trước khi chúng mục nát, hư rỗng. Nếu điều đó xảy ra thì tình yêu thương trong bạn sẽ chết. Gia đình sẽ chỉ còn là những mảnh vá vụng về chứa đầy những khổ đau.

Câu chuyện thứ tư

Khi trái đất mới xuất hiện loài người. Người ta sống bằng việc săn bắt và hái lượm. Họ bắt được con nai, con hươu, hái được trái cây, đào được củ rừng thì chia nhau ăn. Ban đầu, loài người tập hợp thành nhóm nhỏ, sống gần gũi nhau. Dần dần, họ tách nhau ra.
Nếu có người lạ xâm phạm khu vực cư trú thì họ cùng hò hét, đánh đuổi. Ít khi, họ phải khiến đồng loại thiệt mạng.
Dần dà, con người tinh khôn hơn làm được vũ khí để săn bắn thú rừng. Để bảo vệ nơi ở, họ có thể bắt giết những đồng loại vô tình đi lạc.
Cứ thế, vũ khí được chế tạo ngày một tốt hơn, độ sát thương nguy hiểm hơn. Những ranh giới được vạch ra rõ ràng, sự phân biệt ngày càng lớn hơn - Tôi thuộc chủng người này, còn bọn giống người kia là bọn mọi rợ xấu xa. Vũ khí được trang bị để săn bắn thú rừng và bảo vệ lãnh thổ.
Không dừng lại đó, loài người bắt đầu biết vượt ranh giới xâm phạm những vùng lãnh thổ khác cướp bóc, bắt người khác làm nô lệ. Kẻ nào ngang ngạnh giết chết không tha.
Để khiến những tên còn lại khiếp sợ thuần phục, con người dùng những cách thức giết người kinh khiếp, dã man nhất.
Ôi! Thật khó phân biệt ai là mọi rợ, là những kẻ giết người xấu xa.
Cứ thế ... cứ thế ... vũ khí ngày trước chỉ có thể giết được vài người. Càng ngày càng hiện đại tối tân hơn hủy diệt cả một thành phố lớn, một khu dân cư đông đúc chỉ bằng một cái nhấn nút.
Còn nữa, con người bây giờ có nhiều thủ đoạn giết người hơn - Họ có thể dùng tiền, dùng ma túy, dùng sữa, dùng đồ ăn, thức uống giết người hàng loạt; Họ còn tự đào một cái hố sâu ngay dưới chân mình. Rồi vênh vênh tự đắc “Ta phát triển, ta văn minh, ta tiến bộ”.
Ôi! Người đời lầm lạc!
Con người thường có thói quen chỉ nhìn thấy lỗi người chứ ít khi nhận ra lỗi mình.
Bạn thì sao?
Bạn có bao giờ tự hỏi “Mình có vướng những lầm lạc trên không?”.
Cũng như khi người ta đang sống ít khi họ nghĩ rằng “Rồi họ cũng phải chết, khi chết họ sẽ đi về đâu?”.
Họ vẽ ra những kế hoạch lâu dài mà không nhận ra mạng sống chỉ nằm trong hơi thở. Đến khi hơi thở dứt, họ không nghĩ mình đã chết, không kịp nhắm cả mắt lại.
Đã có rất nhiều người già chết mà vẫn không chịu buông bỏ, còn lo cho con cháu nên nỗi cứ quanh quẩn, xót xa, tiếc nuối. Chẳng được ích lợi gì mà còn hại mình sống kiếp đói rách, lang thang.








Ta sinh ra vào một đêm trăng 16
Nhưng đời ta lại khuyết nửa vầng trăng
Ta mơ hồ tâm tình cùng gió
Gió về đâu cho trăng cứ mênh mang.

Tôi sinh ra trong gia đình có 7 anh em. Ngày tôi sinh là một đêm trăng tròn tháng 6 năm 1979. Tôi đã sống trong một gia đình có phần gia trưởng. Ba tôi rất coi trọng việc học của các con. Cuộc sống lúc bấy giờ tương đối dễ. Ba tôi một mình đi làm nuôi mấy anh em tôi ăn học. Nhiệm vụ tôi chỉ học và đi về phải đúng giờ. Tôi không được phép đi chơi với chúng bạn. Những trang sách của nhà trường chỉ cho tôi biết đến những tươi đẹp của cuộc sống, tôi cứ ngỡ cuộc sống chỉ toàn màu hồng.
Đến năm tôi 12 tuổi, việc nuôi 7 người con ăn học đã trở nên khó khăn hơn. Năm đó, anh Hai vào đại học. Vì sợ không đủ sức lo cho anh, ba tôi dự định cho tôi và anh Tư nghỉ học.
Buồn cười thay! Khi đó tôi mới nhận ra gia đình mình nghèo khó. Rồi mọi việc cũng ổn, tôi và anh Tư vẫn được tiếp tục học.
Đáng buồn, người đời lầm lạc, tuổi thơ tôi cũng lầm lạc, nghèo thường đi kèm với hèn. Mang nỗi mặc cảm này, tôi tự khoác lên mình một vỏ ốc mặc cảm xấu xí. May mắn cho tôi, sức học không tệ, chẳng mấy chốc tôi cũng tốt nghiệp lớp 12.
Sự khó khăn trong gia đình cũng lớn thêm thể hiện là sự cãi vã ngày một nhiều. Sự ấm êm dường như xa mất. Ba tôi uống rượu, hút thuốc nhiều thêm. Tôi đã bỏ thi đại học năm đó những mong có thể kiếm công việc nhằm phụ giúp gia đình.
Đáng tiếc, một thanh niên mới học hết lớp 12, chưa được ít nhiều va chạm cuộc sống, tôi thì có thể làm được gì?
Chính ngay trong thời điểm này, anh Tư  lại bỏ dở việc học ở trường trung cấp. Hiển nhiên, ba tôi không vừa ý, sóng gió lại nổi lên. Chán nản, tôi dại dột nghĩ mình là gánh nặng của gia đình, chỉ mong có thể chết đi để giảm bớt áp lực cuộc sống cho những người thân.
Chắc hẳn bạn sẽ cười chê - Tôi là người không có nghị lực sống.
Bạn nghĩ sao?
Một đứa trẻ lớn lên không tự đi trên đôi chân của mình, dựa dẫm vào sự nâng đỡ của ba mẹ; sách vở nhà trường thì tô hồng cuộc sống. Đến khi đứa bé đó vừa có ý định bước vào đời thì sóng gió lại nổi lên, mây xám giăng đầy lối.
Đứa bé đó có thể làm gì?
Khi ấy, có lẽ tôi vẫn chỉ là đứa bé, chỉ có lớn mà không có khôn.
Nếu cái chết đến với tôi dễ thế thì sẽ không có quyển sách này. Tôi vẫn sống. Năm sau, tôi vào đại học. Tôi đã thi vào trường đại học rất xa nhà những mong bỏ lại những muộn phiền sau lưng. Nhưng đó là gia đình tôi, nên sự trốn tránh không giúp tôi thoát khỏi những lo buồn trong cuộc sống.
Rồi anh Hai tôi cũng ra trường. Đáng tiếc! Thay vì đi làm với chuyên môn đã học, anh lại về nhà với mong muốn vực dậy kinh tế gia đình từ miếng đất của ông bà, rồi thì vay vốn làm ăn. Nhưng trời không chiều lòng người, làm ăn thất bại, kéo theo là một hệ lụy gia đình - ba và anh Hai bất hòa. Mẹ tôi không tìm được cách hóa giải. Những người em tôi cũng như tôi ngỡ cuộc sống màu hồng, đã hoảng loạn, hoang mang - 2 gánh nặng, 3 gánh nặng, 4 gánh nặng,... Chúng cũng chỉ muốn được đi chết cho rảnh nợ. Anh Hai tôi cũng gia trưởng không kém gì ba, anh đâu biết rằng các em mình đang suy sụp. Tôi vẫn phải học trong bối cảnh đó.
Có thể bạn sẽ lại chê trách - Một gia đình điên loạn. Đúng và thật đã có một gia đình điên loạn như thế. Đó là một gia đình được xây dựng trên cơ sở gia trưởng độc tài và không hiểu thời cuộc. Cũng chẳng có ai chết nhưng các em tôi phần lớn chán nản muốn bỏ học.
Đầu năm 2003, tôi tốt nghiệp ra trường, nhanh chóng kiếm việc làm, ước mong sớm cứu vãn tình thế. Một mặt hỗ trợ vốn cho anh Hai. Một mặt khuyên giải mọi người và động viên các em tôi tiếp tục học.
Kết quả thì sao?
Tôi là đứa con thứ Năm, với quan niệm của ba và anh Hai - “Trứng thì làm sao khôn hơn vịt”. Những lời khuyên giải của tôi có khác nào “Gãi ngứa ngoài giày”. Anh Hai càng làm càng thất bại chỉ vì cố chấp không nghe lời khuyên giải của ai.
Mối quan hệ giữa ba và anh Hai càng rạn nứt nghiêm trọng. Những lời nói nặng nhẹ tăng dần. Đến bây giờ, anh Hai đã bỏ nhà đi. Có lẽ hận thù trong lòng của hai trụ cột ở gia đình tôi chỉ mất đi khi một trong hai người chết và người còn lại sẽ đau khổ, hối hận cùng với những tháng ngày về sau. Tôi biết tình thương yêu trong lòng họ vẫn còn nhưng hờn giận, oán thù đã che mờ lý trí.
Những cố gắng của tôi thất bại. Cố gắng lắm tôi mới giúp được hai người em trai tốt nghiệp ra trường nhưng tôi đã không giúp được chúng có định hướng tốt trong cuộc sống. Chúng vẫn bước những bước chông chênh vì muốn giúp gia đình cũng không biết bắt đầu từ đâu nữa. Hai đứa em gái bỏ dở việc học, đã đi làm nhưng cũng không định hướng được “Làm để làm gì?”.
Ôi! Những trang sách hồng. Những bước đi được nâng đỡ bằng bàn tay, đôi chân người khác. Sự gia trưởng đã làm đổ vỡ gia đình tôi,...
Tôi đã sống trong một gia đình như thế. Ba mẹ và anh em tôi không có tiếng nói chung. Sự khác nhau về nhận thức của hai thế hệ, chúng tôi lầm lũi sống.
Sống mà không biết cha mẹ nghĩ gì?
Muốn tốt cho người nhưng không hiểu nhau càng làm cho người khổ đau thêm. Gia đình không hòa thuận, êm ấm khiến tôi và các em không dám nghĩ đến việc lập gia đình. Và lại một câu hỏi khác được đặt ra: “Sống để làm gì?”.
Tôi thật không biết sống để làm gì?
Cuối cùng, tôi suy tính - tôi sẽ sống cho đến khi ba mẹ trăm tuổi rồi cũng ra đi. Có thể vào chùa hay bỏ đi đến một nơi xa xăm nào đó. Sẽ không có việc lập gia đình vì gia đình khiến tôi có nhiều khổ đau. Có lẽ ba mẹ không thể hiểu được những suy nghĩ của tôi và những người em. Thế nên, những lo nghĩ của họ trở nên vu vơ.
Cần phải nói thêm rằng cho đến trước ngày 27/12/2010, số lần tôi muốn chết không dưới 20 lần nhưng vẫn không chết được. Người ta có thể không sợ chết nhưng lại sợ đau.
Sau ngày 27/12/2010, tôi đã trả lời được câu hỏi “Cuộc sống cần tôi hay tôi cần cuộc sống?”. Tôi sẽ không tự tìm đến cái chết vô ích nữa. Hay nói đúng hơn là tôi sẽ phải chết nhưng cái chết của tôi sẽ đem lại nhiều điều lợi ích cho mọi người.

Tôi vụng về dỗ giấc ngủ ngon
Đêm trăn trở đếm thời gian lặng lẽ
Trăng vụng về buông mình qua song cửa
Đêm giật mình nghe trăng vỡ làm đôi.

Với một nhận thức chông chênh, tôi đã bước những bước đi đầy lo âu và phiền muộn. Định hướng không rõ ràng khiến tôi thay đổi công việc thường xuyên. Tôi đi nhiều nơi và nhận ra sự đau khổ dường như có khắp mọi nơi. Vì không hiểu được bản chất khổ đau nên lòng tôi đầy lo sợ. Có nhiều lần đầu tôi đau nhức khi thấy hai người xa lạ cãi nhau những chuyện không đâu.
Có một người chú khuyên tôi nên xem vài quyển kinh Phật. Thế là tôi xem kinh Mi - tiên vấn đáp; Đại bát Niết bàn; Trường A hàm; kinh Pháp bảo đàn; kinh Duy Ma Cật,... tôi thấy kinh Phật sao thâm diệu thế; Ít nhiều cũng tìm được sự bình yên trong tâm hồn nhưng khi về nhà đối cảnh thì sự buồn lo vẫn còn đó.

Chương III


Đêm nay mượn rượu để mà say
Cho chếnh choáng trên đường dài lạc lối
Trăng 16 sao nẻo đời u tối
Nhắp mãi chén men nồng,
Sao chẳng ấm chút niềm riêng?

Sau một cơn say, ta chợt nhận ra ta chỉ là một đứa trẻ bơ vơ trong cuộc đời muôn lối. Trong giấc mơ, dường như  ta đang ở một nơi nào đó thật xa xăm. Có lúc ta nhận ra là ta đang tỉnh nhưng ta lại không giống người đời, không tranh danh, đoạt lợi nên người đời bảo “Ta điên”.
Ừ! Có lẽ ta điên thật. Nếu có thể điên để cho người đời tỉnh thì có gì đáng để hối tiếc.

Sóng vẫn ngàn năm vỗ về
Bờ cát trắng
Vết chân trần
Ai quên
Bỏ lại giữa ngàn thông
Kẻ lại người qua
Vô tâm với vết chân trần
Chỉ có một gã khờ
Ngồi giữ
Sợ sóng vô tình cướp mất
Dấu chân yêu…

Thật đáng tiếc! Ta cứ chập choạng bước đi. Ta lầm lạc giữa đời và Đạo.
Không ít lần ta tự hỏi “Ta sinh ra làm gì? Có thật ta sinh ra để lớn lên, già, bệnh và chết?”
Thật vô vị! Ta vô vị, người vô vị.
Bản chất thực sự của cuộc sống là gì?
Ta cũng từng có lúc tự phụ  thông minh nhưng sự hiểu biết của ta không có lời giải cho những câu hỏi đó. Sự hiểu biết không giúp ta an tâm, ta tiếc gì không vứt bỏ.
Ta tìm đến kinh sách Phật. Phật thuyết “Vạn pháp do duyên sinh, do duyên mà diệt”. Hãy sống ở giây phút hiện tại! Đừng tìm về quá khứ vì quá khứ thì đã qua; Đừng mơ mộng về tương lai vì tương lai thì chưa tới. Hãy đón nhận những mầu nhiệm của cuộc sống trong từng thời khắc hiện tại.
Có đôi lúc ta nghĩ đã ngộ ra nhưng rồi lại lầm lạc.
Đằng sau những tấm áo Cà sa ẩn chứa điều gì?
Giữa đầu năm 2010, tôi xin ba mẹ cho tôi xuất gia. Họ không muốn nhưng với quyết tâm của tôi họ không thể giữ tôi lại.
Nhiều người trách tôi ăn học, rồi không đi làm, lập gia đình mà vào chùa làm kẻ ăn bám xã hội, tôi cũng mặc. Họ không chịu hiểu rằng “Con người không thể có cuộc sống và làm việc tốt khi mà những lo âu, phiền muộn cứ vờn quanh”.
Vào chùa ngày bốn thời tụng niệm, tôi chẳng lo nghĩ gì. Rảnh rỗi lại lấy kinh Thủ lăng nghiêm ra xem, càng xem càng mịt mờ.
Chẳng biết tâm mình ở đâu?
Người ta nói “Tu tại tâm” mà trong kinh Thủ lăng nghiêm thì tâm là cái gì mơ hồ, trừu tượng quá; Không biết tâm ở đâu thì lấy gì mà tu. Sau khi tìm hiểu kinh Phật, tôi thích ngồi thiền. Cứ ngồi yên lặng đó, giữ cho đầu óc trống rỗng, dẹp bỏ những suy nghĩ chạy loạn trong đầu.
Những tưởng yên ổn ở chùa chờ ngày xuống tóc thì em trai út ra trường. Vấn đề đặt ra “Nếu không có điều kiện làm việc ở nhà thì em tôi sẽ ra miền Trung xa xôi”.
Thật là duyên trần chưa dứt. Tôi nghĩ “Thôi việc tu học mình chậm lại để về ổn định gia đình”. Tôi xin phép thầy rời chùa.
Kiếm được công việc, tôi lại phụ giúp gia đình. Bấy giờ tôi lại tìm đọc những quyển sách liên quan đến kinh Phật như kinh Kim Cang, Vạn pháp quy tâm lục, Đạo Đức Kinh của Lão Tử,...
Bất chợt nhận ra lâu nay mình đọc kinh để hiểu, chứ không thực sự sống với những điều đã lĩnh hội được.
Biết cuộc sống vô thường - Sinh lão bệnh tử nhưng không trực nhận được vòng tròn sinh diệt đó sẽ đến bất cứ lúc nào?
Biết thân người là do tứ đại - đất nước gió lửa - hợp thành. Khi chết đi da thịt, tim gan, óc và nội tạng trả về cho đất; hơi thở trả về cho gió; máu, dịch tủy, các chất lỏng trả về cho nước; hơi ấm sẽ trả về cho lửa nhưng không trực nhận được “Sự sinh diệt này luôn hiện hữu trong thân”.
Kinh Phật dạy “Vô thường, khổ, không, vô ngã”. Nhưng tôi lại thấy tôi là một tự ngã riêng biệt thế nên đối diện với sự việc vô thường, tôi có những khổ đau.
Khi nhìn lại bản chất của khổ đau thì khổ đau cũng vô thường, có đó rồi mất đó. Bản chất của khổ đau cũng không thường tại. Vậy mà bấy lâu nay tôi lại đau khổ.
Thật ngu khờ! Hiểu như thế, tôi đã giết chết cảm xúc của chính mình. Tôi sống đó mà như người đã chết, những lo buồn, trái ý nghịch lòng trong gia đình, trong cuộc sống tôi không màng đến. Việc nào cần thì có tôi, không cần thì không có tôi. Tôi sống không định hướng mình đang sống.
Đôi lúc, thấy thời gian cứ trôi qua, nghĩ mình thật đúng là một xác chết. Những khi rảnh rỗi tôi lại chìm sâu trong thiền định. Mặc dù vậy, khi nhìn thấy ba mẹ, anh em có những phiền muộn lo toan, lòng lại cảm thấy xót xa.
Một người chết cảm thấy xót xa. Có một tình yêu thương nào đó lớn hơn đang sống dậy trong tôi,...
Và một ngày, được tin người bạn học cùng đã bị chết do tai nạn giao thông khi đang trên đường về nhà, bỏ lại người vợ và hai đứa con. Một đứa hơn 3 tuổi và một đứa còn nằm trong bụng mẹ vừa mới 3 tháng. Trực nhận đời sống quá vô thường. Khổ đau cho người mẹ và hai đứa con nhỏ lắm thay,...
Bất chợt, tôi lại tự hỏi “Cuộc đời quá nhiều những khổ đau, ta phải làm gì để vơi bớt khổ đau cho đời?”
Ta không thể sống mãi trong cái thây chết biết đi này được.
Nhưng ta biết phải làm sao?
Trong những giờ thiền định, tôi lại thấy ba mẹ, anh em vẫn còn đó những khổ đau.
Tôi phải làm gì giúp họ?
Cuộc sống xã hội lại quay về, tôi nghe những người thợ mỏ Chile. Nghe Hàn Quốc - Triều Tiên đánh nhau. Số người lính Mỹ, Pháp,… đã chết ở Apganixtant, Taliban, Irac không ngừng tăng. Cướp biển Somali.
Bao nhiêu người vô tội bị chết cho những tranh đoạt sắc tộc, tôn giáo, chính trị ở Palestin, Đông ti mo, Thái Lan,...?
Khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Nhật,... Có thể mai này một số quốc gia bán cả nước cũng không đủ trả nợ công như là người ta vẫn mua bán các câu lạc bộ bóng đá. Những mạng lưới khủng bố và người chết ngày càng nhiều hơn. Lũ lụt miền Trung Việt Nam. Hạn hán ở Nga. Mưa lớn, lũ bùn ở Trung Quốc, Ấn Độ. Trái đất nóng lên, băng tan chảy,...
Ôi! Thật là khủng khiếp! Cái chết khắp mọi nơi. Vậy mà người ta vẫn còn lầm lạc, mải mê giết chóc lẫn nhau.
Tại sao lại như vậy?
Quay lại nhìn vào cuộc sống, con người đang sống thực dụng, ích kỷ, tàn ác hơn.
Tất cả vì điều gì?
Phải chăng vì sự tham lam, sân hận, si mê và ngu ngốc không?
 Nếu vẫn sống với những lầm lạc này, loài người sẽ đi về đâu?
Có chăng là đau khổ chất chồng?
Nếu vẫn tiếp tục, trái đất sẽ sớm bị hủy hoại.
Chiến tranh nổ ra 1, 2, 3, 4 quả bom hạt nhân nổ ra, trái đất còn lại gì?
Người chiến thắng, kẻ chiến bại còn không?
Thật quá ngu khờ. Nếu vẫn tiếp tục phá rừng; Khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên; Giông bão, lốc tố sẽ dữ dội hơn; Kết cấu địa tầng không ổn định, núi lửa phun trào, động đất hoành hành, sóng thần; Trái đất nóng lên, băng tan chảy,...
Bao lâu nữa, những lục địa sẽ nằm sâu trong lòng nước?
Có thể bạn cho rằng, khi ấy khoa học tiến bộ bạn sẽ đến sống ở một hành tinh khác, được không?
Hãy thật lòng trả lời câu hỏi trên! Bạn có thể lên một hành tinh xa lạ với 100, 1.000, 10.000 người.
Bạn có thể sống tốt hơn ở trái đất sao?
Thật ngờ nghệch! Vô tư hơn, bạn sẽ nói “Ôi dào! Khi đó, tôi chết rồi”.
Những người còn lại phải chăng là con cháu bạn?
Có một điều nữa, có thể bạn không tin và khoa học vẫn chưa chứng minh được - Đó là khi bạn chết thì một sự sống mới của bạn lại bắt đầu.
...
Với những trăn trở mông lung, tôi đến nhà người bạn và ở lại. Không may cho tôi, gia đình này đang phát sinh những bất hòa. Vì chưa tìm được cách giải quyết bài toán xóa bớt khổ đau cho nhân loại lại vướng vào việc gia đình người bạn, tôi quyết định không ăn một tuần lễ ngồi thiền định.
Bởi do tôi nhận ra những muộn phiền trong tôi đang lớn dần. Ban đầu, tôi ngồi  thiền quay mặt ra ngoài. Mỗi khi vợ chồng người bạn đến, tôi lại ra tiếp.
Sau 7 ngày không ăn, tôi chuyển sang chế độ mỗi ngày ăn một bữa trưa. Vì chưa giải quyết triệt để vấn đề nên vợ chồng người bạn chưa hàn gắn được. Tôi quyết định không ăn lần thứ hai. Lúc bấy giờ, tôi ngồi thiền định quay mặt vào trong vách.
Vào 12 giờ đêm 27/12/2010, trong lúc thiền định tôi chợt nhận ra “Ngay trong giờ phút hiện tại, xác thân tôi đã có trong Tứ đại. Tôi còn thấy tâm tôi cũng hiện diện trong Không đại, trong vạn vật”.
Đêm 27/12/2010, ngày tôi đạt đóa vô ưu, thân tâm chấn động. Tôi nhìn thấy tôi có trong Phật. Phật có trong tôi. Tôi cùng Phật có trong từng cọng cỏ ven đường, trong cánh chim trắng bay ngang trời,... Bất chợt tôi nở một nụ cười an lạc,... tự biết từ nay những lo âu, muộn phiền trong tôi không còn nữa.
Quán sát con đường Phật và các hiền Thánh đã đi là con đường có mây trắng bay. Đường xưa không tự biết mình là đường xưa. Mây trắng cũng không tự biết mình là mây trắng.
Sau giờ thiền định, tôi không còn nhận thấy thân hay tâm là tôi, tự ngã trong tôi không còn. Vì thế những lo buồn, phiền muộn sẽ không vướng mắc vào tôi được.
Trực nhận bài kệ Lục tổ Huệ Năng:

Bồ đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai?

Bồ đề vốn không cội
Gương sáng cũng chẳng đài
Xưa nay không một vật
Có gì dính bụi trần?

Nghĩ nhớ ơn Phật, tâm tâm tương ưng. Tự biết tâm Phật muốn cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi 6 đường. Con đường Phật đi thênh thang quá nhưng theo dấu thời gian cỏ che mất lối. Dẫu rằng tôi đã phát quang nhưng người đời lầm lạc đi trên muôn lối rẽ, chẳng tìm thấy lối Phật đi.
Vào một buổi thiền quán, tôi quyết định “Đi trong phi đạo hành Phật đạo". Tôi sẽ đưa mọi người quay về con đường của đức Phật đã đi - Con đường của sự hiểu biết và thương yêu. Tự nhận thấy một mình chỉ e tôi không đưa được mấy người quay về. Nhờ Phật lực gia hộ, trí tuệ bừng sáng, tôi sẽ hóa thân thành 100, 1.000, 10.000,... người để hoàn thành công việc. Lòng dâng lên niềm hoan lạc, đủ niềm tin đưa tất cả chúng sinh về chánh đạo, xóa hết khổ đau trong loài người và muôn vật.




Chương IV

Với một cái nhìn rỗng rang, thông suốt tôi nhận ra mỗi bộ ngành, mỗi cơ quan, mỗi tổ chức xã hội ở từng địa phương, quốc gia, khu vực, thế giới và cả trái đất đang tồn tại những bất ổn nội tại. Sự mất cân bằng này ngày một lớn thêm.
Bất kỳ một sự vật hiện tượng nào, tự thể đều phải có sự cân bằng. Một khi sự cân bằng bị phá vỡ thì một sự vật hiện tượng mới ra đời.
Ví như quả bong bóng, nếu cứ mãi bơm khí vào thì đến một lúc nào đó sẽ “bùm” nổ tung. Một quả bom cũng thế...
Nếu sự xáo trộn vượt mức thì một tiếng nổ lớn. Một cái hố sâu rộng hiện ra, có tiếng kêu gào thảm thiết, thân người ngã xuống, tay chân, máu thịt văng khắp nơi, nhà cửa đổ nát. Quang cảnh hoang tàn. Một hình thái xã hội cũ mất cân bằng sẽ được thay thế bằng một hình thái xã hội mới khác cùng với một hệ lụy - Nhiều gia đình tang thương mất mát, đau khổ chất chồng và phải mất nhiều thời gian hàn gắn vết thương.
Trong lịch sử phát triển loài người, việc thay đổi một triều đại thường chứa đựng đầy máu và nước mắt. Vì vậy, nếu không sớm khắc phục những bất ổn nội tại trong mỗi quốc gia, trên thế giới, trong lòng trái đất về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, giáo dục, môi trường, con người,... thì việc xã hội loài người quay về thời kỳ đồ đá hoặc trước cả thời kỳ đồ đá là hoàn toàn có thể xảy ra.
Con người đang mất phương hướng, sống buông thả, tham lam, ích kỷ và tàn ác.
Dừng lại một chút về vấn đề tàn ác. Những tưởng thời chiến tranh loạn lạc đã qua. Hòa bình rồi, con người sẽ biết sống yêu thương nhưng thực tế không phải vậy.
Vì đồng tiền người ta có thể giết hại nhau bằng những thủ đoạn tinh vi như bắt cóc, giết hại trẻ em để mua bán nội tạng. Bán những sản phẩm có chứa những chất độc hại có thể gây chết hoặc gây chậm hoặc rối loạn sự phát triển tâm sinh lý hàng ngàn trẻ em như sữa kém chất lượng, những sản phẩm đồ chơi có chứa nhiều chì,...
Con người còn đầu độc nhau bằng đồ ăn, thức uống có chứa hàn the, formol, chất kích thích tăng trưởng và đủ loại hóa chất độc hại,...
Chưa dừng lại đó, con người còn sống trên mồ hôi, máu và nước mắt của người khác thông qua việc cướp bóc, khủng bố, bắt cóc tống tiền và cả việc bóc lột sức lao động của những người nghèo khó,...
Có thể bạn sẽ cho rằng tôi đang làm nhiễu loạn lòng người. Cần phải nghiêm trị, những điều tôi nói chỉ là một phần rất nhỏ so với những điều tôi thấy.
Tôi đã nhìn thấy, có nghĩa là sẽ có rất nhiều người nhận ra. Sẽ có nhiều người lợi dụng tạo ra những biến động lớn nhằm đạt được những mưu đồ riêng.
Tôi không muốn thấy sự đổ vỡ vì tôi không muốn nhân loại phải đắm chìm trong biển khổ, trong những đêm dài khổ đau.
Tôi gửi thông điệp cảnh báo cho những người tự phụ thông minh. Họ những tưởng có thể “Dùng tay che trời” nhưng lại ngu muội không nhận ra rằng - Họ chỉ có thể che mắt họ không thấy trời còn mắt của thiên hạ thì không thể che đậy được.
Nhân đó, tôi muốn những người có trách nhiệm với chính mình và xã hội sớm có cách nhìn thấu đáo, nhận rõ nguyên nhân gây ra những bất ổn nội tại, cùng chung tay khắc phục. Đừng như những người mù xem voi, dẫu rằng có ngồi lại cùng nhau cũng chẳng thể xếp thành con voi được.
Qua tìm hiểu giáo lý, kinh điển các tôn giáo tôi nhận  thấy đức tin của Chúa Jesu, Thánh Ala, nhà tiên tri Mohamet,... Tất cả không gì ngoài việc luôn đem lại sự bình yên cho tâm hồn của giáo chúng, xây dựng một nơi an lạc để đồ chúng quay về.
Tâm tâm tương ưng nhận thấy Chúa Jesu không xây dựng đức tin riêng rẽ cho hai dòng Công Giáo và Tin Lành; Thánh Ala, nhà tiên tri Mohamet không kiến tạo đức tin cho hai dòng Hồi giáo Sunni và Shiite riêng biệt. Phật Thích Ca không tạo dựng giáo đồ riêng cho thiền tông, mật tông, tịnh độ tông,... Tất cả là Phật tử, là Dòng họ Thích. Điều quan trọng hơn cả - Phật muốn các Phật tử thành Phật để đạt được giải thoát hoàn toàn.
Vì thế Phật, Thánh, Chúa không muốn có sự phân chia giáo đồ nên nỗi bao phen tranh đoạt, dẫn đến giết chóc lẫn nhau.
Thật đau xót lắm thay! Đứng nhìn các con tàn sát lẫn nhau, lòng cha mẹ nào không nghẹn ngào chua xót!
Giáo lý các tôn giáo vẫn còn đó.
Có giáo lý nào hướng đồ chúng giết hại muôn loài không?
Huống chi là đoạt mạng đồng loại. Địa ngục vẫn còn đó. Bạn không thể lên Thiên đàng khi mà trong lòng tràn đầy tham dục, hận thù, si mê,...
Bạn sẽ về đâu?
Đức tin luôn tồn tại nhưng bạn phải đặt đúng chỗ. Ngoài kia những kẻ cuồng tín cực đoan đang khoác chiếc áo đại diện cho giáo chủ nhưng thực chất họ đang phục vụ cho tự ngã của riêng họ. Họ biến niềm tin của bạn thành con đường dẫn bạn xuống Địa ngục. Bạn sẽ chết cho đức tin, người thân của bạn sẽ đau khổ.
Còn họ thì sao?
Họ vẫn sống kiêu hãnh và hưởng thụ. Tự họ cũng lầm lạc. Có thể họ tin hoặc không tin nhưng sẽ có ngày họ vào Địa ngục. Với sự tối tăm, gian trá trong tâm hồn họ sẽ ở đó lâu hơn bạn.
Bạn đợi chờ điều này à?
Để làm gì?
Hãy dừng lại quay về đức tin, về Thiên đàng với Chúa Jesu, Thánh Ala. Những người con Phật thì quay về Niết bàn hay cõi Tây phương tuyệt đẹp.
Đã có bao dân tộc vĩnh viễn mất đi?
Sự phân biệt kỳ thị chủng tộc đã giết hại bao nhiêu người?
Ngày hôm nay, bạn đến giết những người thân trong chủng tộc tôi 100, 1.000, 10.000,... người. Ngày mai, tôi sẽ đến giết 100, 1.000, 10.000,... người thân của bạn. Tôi đau khổ khi người thân tôi bị giết, sự trả thù sẽ làm chết bạn và những người thân bạn đau khổ.
Sao tôi phải giết bạn?
Tại sao bạn phải giết tôi?
Bạn vì màu da, vì niềm kiêu hãnh của chủng tộc à?
Thế bạn có kiêu hãnh khi những người thân bị giết. Thật lầm lạc khi đem ném mạng sống vào hận thù, đau khổ. Chiến tranh chỉ mang lại hận thù, hận thù chỉ đem lại đau khổ.
Tại sao bạn không sống trong một thế giới hòa bình, hạnh phúc và an vui?
Sao bạn phải đem thân mạng mình ném vào chiến tranh, phục vụ cho vài tự ngã điên cuồng và thấp hèn?
Hãy dừng lại! Dù bạn là ai, thuộc chủng tộc nào thì bạn cũng có máu thịt, có nước mắt.
Khi máu thịt đổ thì nước mắt sẽ chảy dài. Có thể trên mặt bạn, trên mặt cha mẹ, con cái và những người thân yêu bạn; Có thể là những giọt nước mắt trên khuôn mặt những đứa bé xa lạ nào đó mà bạn không biết chúng là người của chủng tộc bạn hay của kẻ thù. Ôi! Những đứa bé tội nghiệp!...
Bạn có bao giờ dừng lại và nghĩ về những điều tôi vừa nói chưa?
Đôi khi bạn ngờ nghệch trả lời “Tôi làm điều đó vì lý tưởng, chân lý, vì nhân quyền”.
Không có chân lý, lý tưởng nào khiến ta phải giết người cả. Nhân quyền không thể do một người, một dân tộc nào áp đặt cả.
Nhân quyền gì khi dùng vũ lực khiến người khác, dân tộc khác làm theo ý mình?
Bạn nên suy nghĩ về những điều tôi vừa nói.
Vì sao?
Vì sự lầm lạc của bạn có thể khiến bạn hoặc người thân đau khổ. Cho dù bạn có ngồi trong xe bọc thép, trong tàu ngầm nguyên tử, trên máy bay hiện đại, trên chiến hạm tối tân,...
Điều gì đảm bảo rằng bạn không bị giết?
Điều gì đảm bảo một phần thân thể bạn không nằm lại chiến trường?
Thôi bạn đừng làm bạn nữa. Hãy thử làm cha mẹ, làm con bạn xem.
Bạn sẽ thế nào khi con, cha mẹ bạn bị chết?
Rồi tặng thưởng, huân chương có mang họ về được không?
Những tháng ngày còn lại của ông già 70 tuổi, bà già 80 tuổi, người vợ với bầy con nheo nhóc,...
Bên kia chiến tuyến, người mà bạn gọi là kẻ thù cũng có số phận tương tự và rất nhiều những người dân vô tội đã phải ngã xuống.
Bạn có vui không khi thấy người khác đau khổ?
Có thể bạn là một tướng lãnh 5 sao, những đau khổ đó không với tới bạn.
Bạn hãy nhìn lại xem bao chế độ độc tài đã bị tiêu diệt?
Có lẽ không nhiều giọt nước mắt cho những kẻ độc tài.
Bạn phục vụ cho lý tưởng, chân lý mà cái giá phải trả là như thế sao?
Và một mai khi già yếu hay ngay khi thân thể không còn tráng kiện, tinh thần không còn minh mẫn, bạn sẽ nhận thấy bàn tay đầy máu tươi và tiếng kêu gào đòi mạng sẽ vây quanh.
Vậy bạn có thể sống an lạc được hết phần đời còn lại của mình? Điều này có thể  xảy ra với bạn không?
Bạn đang theo chế độ chính trị nào?
Chủ nghĩa tư bản, xã hội chủ nghĩa, quân chủ, dân chủ,… Dù sống theo đường lối chính trị nào thì bạn cũng chỉ cần một điều đơn giản trong cuộc sống - Đó là đói ăn, khát uống, mệt thì đi nghỉ.
Thật đơn giản! Nhưng muốn có được điều này cần phải có một xã hội công bằng, tiến bộ và hòa bình.
Nếu bạn là nhà lãnh đạo, là nguyên thủ quốc gia, bạn hãy đặt mình xuống làm một người dân. Bạn sẽ thấy người dân chỉ cần có thế. Sự tiến bộ, công bằng và hòa bình nằm ngay chính trong lòng dân tộc, đất nước bạn.
Bạn đừng ngụy biện rằng phải đánh nước này, lật đổ chế độ nước kia thì bạn mới an tâm xây dựng đất nước.
Có chăng là bạn phục vụ cho tự ngã độc tôn của chính bạn?
Bạn không thể che dấu tham vọng bá chủ của mình trước toàn thể nhân loại.
Bạn có thấy một đế chế Roma hùng mạnh, một Thành Cát Tư Hãn lừng danh, một Napoleon huyền thoại, một hoàng đế Tần Thủy Hoàng, một triều đại Ai cập cường thịnh,...
Cuối cùng còn lại gì?
Không ít lời phê bình. Bạn cho rằng bạn đem văn minh, đem nhân quyền đến những quốc gia khác.
Thật buồn cười! Văn minh gì khi từng xác người gục ngã?
Nếu thật sự bạn muốn xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, hòa bình thì bạn hãy làm tốt ở đất nước bạn.
Bạn hãy  nhìn lại xem - bạn đã làm tốt vấn đề nhân quyền, hòa bình và tiến bộ ở đất nước bạn chưa?
Nếu bạn đã thực sự làm tốt những điều đó thì những quốc gia, dân tộc khác sẽ xem bạn là tấm gương sáng để noi theo. Bạn đã quên rằng dù là ở chế độ chính trị nào thì mỗi xã hội đều tồn tại cơ chế tự cân bằng. Nếu xã hội nào bị phá vỡ sự cân bằng thì tự thân sẽ biến chuyển. Dù bạn muốn đến sớm cũng không được, muốn dừng lại cũng không xong chỉ trừ khi bạn giữ được cân bằng trong lòng xã hội đó. Dân tộc đó sẽ làm - Nước có thể đẩy thuyền nhưng nước cũng có thể lật thuyền.
Nếu bạn thực sự có hiểu biết thì bạn dễ dàng nhận ra - những người dân thường chỉ muốn bình an để có thể đói ăn, khát uống, mệt thì đi nghỉ. Nhân loại cũng thế.
Bạn yêu quý quốc gia, dân tộc, bạn hãy nghĩ về điều này.
Những người dân trong quốc gia bạn không muốn sống trong hận thù và giết chóc.
Bạn sẽ cho rằng “Nếu tôi không phòng vệ tốt, dân tộc khác sẽ đến đàn áp quốc gia tôi. Tôi phải chế tạo thật nhiều vũ khí hạt nhân để chống lại”.
Hãy nhìn lại những cuộc chạy đua vũ trang thường bắt nguồn từ những nước lớn. Có thể bạn là nước lớn, có thể bạn chính là người châm ngòi cho cuộc chạy đua vũ trang.
Bạn có thành công không hay bạn tạo thêm nhiều kẻ thù và những người dân trong quốc gia bạn phải chết mà không hiểu mình bị giết vì nguyên nhân nào cả?
Bạn cố khoác lên mình những người làm điều đó chiếc áo khủng bố, những kẻ cuồng tín và tìm giết. Nhưng bạn không ngờ sao bây giờ kẻ thù bạn nhiều quá, đâu đâu cũng có. Họ không dám đánh trước mặt bạn. Thi thoảng họ xuất hiện, tát vào mặt bạn những đòn đau. Vũ khí tiên tiến, bom hạt nhân hủy diệt không giải quyết được vấn đề. Bạn giết được một nhóm người thì lại xuất hiện nhiều nhóm khác.
Bạn không thử hỏi tại sao?
Và câu trả lời sẽ là không ai lại không xót xa khi anh em bị giết. Thế nên, hận thù sẽ trả lời bằng hận thù.
Bạn quá tự hào rằng đủ mạnh để chống lại tất cả kẻ thù. Bạn sẽ bảo vệ dân tộc bạn nhưng thật ra bạn đang cố bảo vệ niềm kiêu hãnh bị tổn thương. Bạn tiếp tục phát triển vũ khí quân sự. Tiền của nhân dân lẽ ra phục vụ cho xã hội hòa bình thì lại biến thành vũ khí chiến tranh.
Có bao giờ bạn nghĩ dân tộc sẽ quay lưng lại, bạn sẽ ra sao?
Hãy dừng lại! Hận thù sẽ trả lời bằng hận thù. Thương yêu sẽ trả lời bằng thương yêu. Thương yêu sẽ hóa giải hận thù.
Bạn nên dừng lại và những người bạn bên kia chiến tuyến cũng nên dừng lại. Hãy sống thương yêu và hòa hợp với nhau vì người dân - Người thân của bạn chỉ muốn sống cuộc sống an bình thôi.
Nỗi đau chiến tranh, đau thương còn đó chỉ có thể xoa dịu bằng tình yêu thương. Hận thù triền miên sẽ gây thêm đau khổ mà thôi.
Ai cũng đã và đang khốn cùng trong vòng tròn sinh diệt - sinh lão bệnh tử cả?
Vậy bạn còn gây thêm khổ đau cho nhau nữa làm gì?

Tôi gượng nói cho ý từ lệch lạc
Buông đằng đông
Buông đằng tây
Cho mây lặng, nước dừng trôi…

Tình hình xã hội trên thế giới có nhiều sự bất ổn, ngày càng gia tăng. Sự bất ổn này sẽ có nguy cơ dẫn đến sự xáo trộn đổ vỡ các hình thái xã hội hiện nay. Tất nhiên để đạt được sự cân bằng ổn định thì cái giá phải trả là rất lớn. Sự mất mát đau khổ sẽ tràn lan. Đó không chỉ là vấn đề thiên tai, lũ lụt, động đất, núi lửa, dịch bệnh, môi trường ô nhiễm, sự bùng nổ dân số, khủng hoảng kinh tế, chính trị, tôn giáo, giáo dục, văn hóa, xã hội, gia đình,...
Thật lầm lạc! Vì không nhận rõ được bản chất của cuộc khủng hoảng hiện nay nên những biện pháp khắc phục trở nên xa rời thực tế, không mang lại được hiệu quả mong muốn. Xã hội ngày càng bất công hơn, tham nhũng, hối lộ, tệ nạn xã hội tràn lan,...
Với cách nhìn tổng thể khách quan, sáng rõ, tôi trực nhận bản chất của cuộc khủng hoảng hiện nay. Đó là cuộc khủng hoảng về con người hay nói đúng hơn là con người đang bị khủng hoảng.
Con người là nguyên nhân và cũng là nạn nhân của sự phát triển kém bền vững, mất cân bằng cả về vấn đề vật chất và vấn đề tinh thần - tâm linh. Phải nhìn rõ tường tận những bất ổn trên thì con người mới đưa ra những biện pháp, giải pháp khắc phục hiệu quả.
Xã hội đang có sự chênh lệch lớn về giàu nghèo giữa các nước, giữa các thành phần, các tầng lớp chính trị, kinh tế,... Sự chênh lệch quá lớn này, nếu không được khắc phục sớm sẽ gây ra hậu quả khó lường.
Với nền kinh tế hàng hóa phát triển, vấn đề tư hữu, chiếm hữu càng lớn. Phần lớn tiền bạc, tài sản tập trung trong tay các nhà lãnh đạo, các nhà chính trị, các ông chủ, các cổ đông lớn của các tập đoàn tài chính thương mại, kinh tế chứng khoán, bất động sản, dầu khí, công nghệ thông tin,... Chỉ trong vài phút, số tiền họ kiếm được gấp vài chục, vài trăm lần số tiền cả một đời người lao động chân chính, cần mẫn làm ra.
Lương thưởng của nhân viên trong hệ thống bưu chính viễn thông, điện lực, dầu khí, tài chính, bất động sản,... cao gấp 20, 30 lần số tiền lương của một công nhân, nông dân sau một năm sản xuất.
Nhưng so với những ông trùm của các tập đoàn kinh tế tài chính, dầu khí, bất động sản,... thì số tiền trên cũng chỉ như là hạt cát trên sa mạc. Chỉ cần chút ít thay đổi trên bàn phím thì phần lớn số tiền các nhà đầu tư chui tọt vào túi các ông trùm gây biến động lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Hệ thống tài chính ngân hàng sụp đổ, nhiều nhà đầu tư nhiều cổ đông lớn phải nhảy lầu,... Điều này đã và đang diễn ra.
Trong khi lực lượng lao động - công nhân và nông dân - Lực lượng sản xuất toàn bộ của cải vật chất cho xã hội thì lại bị bóc lột sức lao động, làm việc cật lực nhưng chỉ nhận được những đồng lương hạn hẹp.
Nếu bảo rằng các nhà quản lý không nhìn thấy những bất cập này thì không đúng.
Có chăng là sự thiếu cái tâm làm việc, sự yếu kém về chuyên môn?
Hơn nữa, họ còn đang mải mê tìm cách giữ ghế và gom góp tiền của cho vào túi riêng.
Tuy nhiên, nếu không có biện pháp khắc phục thì một cuộc cách mạng nổ ra là điều khó tránh khỏi.
Tôi không chủ trương cho một cuộc cách mạng.
Vì dù là cuộc cách mạng chân chính nhất cũng sẽ gây ra những mất mát, đổ vỡ và đau thương cho nhân loại.
Tôi kêu gọi mọi người trong mọi thành phần, mọi tầng lớp trong xã hội phải có sự hiểu biết, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ và cùng chia sẻ khó khăn cho nhau.
Có một điểm khác bất hợp lý đã và đang tồn tại dai dẳng giữa ngành công nghiệp và nông nghiệp về quyền lợi, giá trị kinh tế:
·        Ngành nông nghiệp:
Người nông dân đầu tắt mặt tối để sản xuất ra nông sản lúa gạo, lúa mì, ngô khoai, cà phê, cao su, heo bò, gà vịt,... để phục vụ nhu cầu thiết yếu như ăn uống của con người lại không thể quyết định được giá sản phẩm mình làm ra.
Mặc dù họ phải chấp nhận toàn bộ rủi ro trong quá trình sản xuất như mùa vụ, dịch bệnh, sự lên xuống của các mặt hàng phụ trợ như phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn công nghiệp, con giống,… và cả vấn đề lãi suất ngân hàng,... Sản phẩm làm ra phụ thuộc nhiều vào thương lái. Gặp năm được mùa thì mất giá, mất mùa thì được giá.
Do mang tính chất nông dân, khi nghe con này, cây kia, sản phẩm nọ bán được giá, họ đổ xô làm. Không nắm rõ quy trình sản xuất, kết quả thường bại nhiều hơn thành. May mắn làm được thì cung lại vượt cầu, hàng bán rẻ như cho. Có khi vì thế mà trắng tay đến nợ nần chồng chất,...
·        Ngành công nghiệp:
Sản xuất với số lượng lớn độ rủi ro thấp hơn, thông qua dịch vụ quảng cáo, không đúng với thực tế thì toàn quyền quyết định giá bán.
Hiện nay, ta có thể thấy những sản phẩm công nghiệp trên thị trường có chênh lệch giá trong thời gian ngắn là con số không tưởng.
Mặt khác, những sản phẩm có nguồn gốc nông sản chỉ qua thao tác xử lý cơ bản của ngành công nghiệp và sự tiếp tay phù phép của ngành kinh tế dịch vụ - quảng cáo thì người tiêu dùng phải mua lại với giá cao ngất ngưỡng.
Trong khi đó những người công nhân chỉ được trả lương với số tiền bằng giá trị 2, 3 sản phẩm trong số hàng trăm, hàng ngàn sản phẩm họ đã làm ra,...
Thiết nghĩ nhân loại cần phải có sự can thiệp những vấn đề bất hợp lý này.
Nếu một mai người công nhân không làm việc, người nông dân không sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng phục vụ cá nhân gia đình thì nền kinh tế, công nghiệp đi về đâu?
Điều này có thể  ra không?
...
Con giun xéo lắm cũng oằn.
Con người có thể không đi xe hơi, máy bay, không có các phương tiện, tiện nghi giải trí,... nhưng không thể không ăn uống trong nhiều ngày.
Khi đó, con người có thể cầm trên tay những vàng, đô la, tài sản, nhà cửa,... mà dùng thay thức ăn được không?
Có lẽ có nhiều người cho rằng thật khó can thiệp vấn đề này. Khó là đối với những nhà quản lý không có tâm huyết, không có sự đồng cảm với người dân.
Khó như việc xây dựng sự đoàn kết cho 54 dân tộc khác nhau trong thời loạn lạc, tạo thành lực lượng thống nhất đoàn kết chống chủ nghĩa tư bản, chống đế quốc, chống phát xít mà Bác Hồ vẫn làm được.
Tại sao Bác Hồ làm được những việc khó làm còn chúng ta thì không?
Lại nói thêm về vấn đề liên quan đến Bác Hồ, hiện nay bạn sẽ không khó để nhìn, nghe thấy khẩu hiệu “Sống làm việc theo tấm gương Bác Hồ vĩ đại”.
Tôi thấy khẩu hiệu trên là rất thiết thực, rất hay nhưng tôi lại không khỏi cảm thấy hối tiếc.
Vì sao?
Con người bây giờ có lẽ quá thông minh nên việc gì cũng có thể học. Đáng tiếc là chỉ học để dạy người khác còn tập và làm theo thì “ Hãy đợi đấy!”.
Tại sao ai cũng thuộc khẩu hiệu trên mà không mấy người làm theo được?
Chỉ có duy nhất Bác làm được. Vì Bác có sống cho Bác đâu. Bác sống cho tất cả mọi người. Nhất là cho những người lao động nghèo khó, những người già neo đơn, những em bé mồ côi,... Ai cũng là người thân của Bác.
Còn ta bây giờ sống cho ai?
Trước hết, ta phải lo cho thân ta, rồi đến gia đình ta, dòng họ nội ngoại, những người thân, những người ta yêu thích và biết vâng lời,... Vì những giới hạn đó, ta không làm theo Bác được. Quả nhiên là “Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng”.
Quay lại vấn đề định giá các sản phẩm:
Việc xác định giá thành sản phẩm công nghiệp hay nông nghiệp là không khó đòi hỏi chút ít chuyên môn, tính công bình, sự hợp lý và tính vô tư của người làm công tác chuyên môn và các bên có liên quan.
Khi định được giá thành thì tính ra giá bán của sản phẩm qua một thông số hợp lý được sự đồng thuận của các bên liên quan cùng với tình hình thị trường.
Hiện nay, ta thấy ở các nước đang phát triển, kém phát triển đang hình thành những khu công nghiệp tập trung. Những khu công nghiệp này ra đời nhằm gia công các sản phẩm công nghiệp cho các tập đoàn kinh tế của các nước phát triển. Vì thế những khu công nghiệp này chẳng mang lại nhiều lợi ích cho đất nước cho nhân dân ở các quốc gia đó.
Mặt trái, những khu công nghiệp thu hút lực lượng lao động trẻ địa phương dẫn đến thiếu hụt lao động trong ngành nông nghiệp, ô nhiễm môi trường và các vấn đề liên quan đến quyền con người thì bị xem nhẹ,...
Bên cạnh đó, việc thiếu tâm, thiếu tầm trong quản lý quy hoạch. Nhiều khu đất nông nghiệp trù phú bị quy hoạch dẫn đến diện tích đất nông nghiệp giảm, năng suất, sản lượng cũng giảm theo.
Ngoài ra, nhiều khu đất quy hoạch làm khu công nghiệp bị bỏ trống, hoang phế. Người nông dân sống trong khu quy hoạch treo khốn cùng, không có đất canh tác, cũng không có việc để làm, nảy sinh nhiều tệ nạn,… tạo ra những gánh nặng cho xã hội. Giá như các nhà quản lý có tâm huyết hơn, có cách nhìn sâu rộng thì người dân không rơi vào cảnh khốn cùng.
·        Về kinh tế - dịch vụ - quảng cáo:
Ngành kinh tế - dịch vụ - quảng cáo đã từng là ngành góp phần giúp xã hội phát triển. Nhưng tốc độ phát triển quá mức dẫn đến kém bền vững và đang phơi bày những mặt trái.
Những cuộc khủng hoảng về kinh tế kéo theo những khủng hoảng về chính trị, tiền tệ, dầu mỏ, văn hóa, giáo dục,... Gây ra những bất công trong xã hội, tham nhũng, hối lộ, tệ nạn xã hội tràn lan, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ngày càng cao,...
Hiện nay, thế giới đã và đang hình thành các khối kinh tế chung nhằm hợp tác giao thương về hàng hóa.
Thực chất đây là một hình thức bảo hộ ngành sản xuất trong nước. Những đối tác nằm ngoài hệ thống sẽ vướng các rào cản thương mại thông qua việc đánh thuế, các loại thuế tiêu thụ đặt biệt và các vụ kiện bán phá giá,... Điều này làm cho những người tiêu dùng Châu Âu, Mỹ, Nga,... phải ăn cá da trơn, tôm và các sản phẩm nông sản với giá cao. Ngược lại, ở các nước đang phát triển, kém phát triển phải mua các sản phẩm nhập khẩu với giá cao qua các mặt hàng như ôtô, xe máy, máy móc điện tử, điện dân dụng, điện công nghiệp,...
Sao lại tồn tại vấn đề bất hợp lý này?
Việc đánh thuế này không có lợi cho người tiêu dùng. Họ phải mua những sản phẩm cần thiết với mức giá không hợp lý. Điều này còn tạo điều kiện cho các gian lận thương mại và việc buôn lậu càng thêm khó kiểm soát.
Việc thiết lập các rào cản thương mại phải chăng chỉ bảo hộ cho các nhà sản xuất trong nước?
Không hẳn thế phần lớn phục vụ cho các nhà quản lý. Những tưởng mô hình này đã cổ xưa, lỗi thời khi vấn đề tự do thương mại đặt ra. Nhưng mô hình này vẫn tồn tại thông qua những biến tướng của nó. Và ... nếu bạn không đủ tự tin để hòa vào biển lớn thì bạn nên quay về vùng vẫy ở ao nhà. Đừng làm trò cười cho thiên hạ!
Thiết nghĩ mỗi quốc gia có những đặc thù kinh tế riêng. Có quốc gia phát triển mạnh về công nghiệp; Có quốc gia mạnh về nông nghiệp hoặc các thế mạnh khác như khoáng sản, dầu mỏ, công nghệ thông tin, dịch vụ du lịch,...
Lẽ ra những nhà quản lý phải nhận ra sở trường, sở đoản của từng quốc gia mà bước vào thương trường. Chứ không phải rập khuôn mô hình phát triển của quốc gia khác.
Quốc gia đặc thù về công nghiệp mà đi phát triển nông nghiệp để cạnh tranh thì thật quá nhầm lẫn và ngược lại. Phải hiểu và nhìn nhận rõ ràng - dùng sở đoản mà chống lại sở trường của quốc gia khác là điều không thể.
Vậy nên mỗi quốc gia khác nhau phải đầu tư xây dựng, phát triển mạnh những sở trường khác nhau để vươn ra biển lớn.
Ví như sở trường của quốc gia mình là sản xuất nông nghiệp thuần túy. Vậy thì tập trung đầu tư phát triển ngành nông nghiệp theo hướng có quy hoạch và bền vững. Nên biết các sản phẩm công nghiệp chỉ có thể nghe nhìn, giải trí nhưng không thể thay thế đồ ăn, thức uống. Sẽ có nhiều người cho rằng như thế ngành công nghiệp trong nước sẽ bị bóp chết. Đây là vấn đề cạnh tranh, ngay ở sân nhà anh không làm chủ được thì bảo hộ anh có ích gì.
Điều đó không có nghĩa là bỏ hẳn ngành công nghiệp; Những lợi nhuận thu được qua việc xuất khẩu nông sản tiến hành đầu tư máy móc trang thiết bị cho các ngành công nghiệp mũi nhọn, ưu thế, có chọn lọc, có tính bền vững và phù hợp với tình hình quốc gia.
Tôi đề cập đến vấn đề chọn lọc vì hiện nay có nhiều ngành công nghiệp kết hợp ngành kinh tế dịch vụ là nguyên nhân của những biến động khủng hoảng kinh tế - chính trị và ô nhiễm môi trường.
Ngành kinh tế cũng cần phải có những biện pháp thiết thực hữu hiệu để phá bỏ sự lệ thuộc về ngoại tệ, vàng, đô la,... Thật chẳng ra sao khi mà đô la, vàng lên giá, xuống giá thì nền kinh tế chao đảo. Nhiều công ty phải phá sản. Con người thì nơm nớp lo sợ, mất ăn, mất ngủ,...
Những nhà kinh tế lại còn đưa ra triết lý “Thương trường là chiến trường, là cá lớn nuốt cá bé” là một triết lý ngây ngô cho thấy sự bế tắc về định hướng của ngành kinh tế.
Triết lý này ra đời đã đẩy loài người đến bờ vực thẳm đau khổ qua những cạnh tranh không lành mạnh trong giao thương.
Sự sai lầm của triết lý khi không nhận ra chiến trường chứa đựng đầy hận thù, tang thương, mất mát, đau khổ,... Đồng hóa với chiến trường là thương trường tự đồng hóa với sự gian trá, tàn khốc và đau thương.
Vậy mà con người khen triết lý trên chứa đựng sự phát triển của nhân loại về kinh tế, xã hội. Họ lao vào thương trường như con thiêu thân lao vào lửa. Lớp chết, lớp bị thương; người chiến thắng cũng thương tích đầy mình sống trong đau khổ, lo sợ không biết khi nào mình “bị thịt”.
Hô hào là cá lớn nuốt cá bé nhưng ngu muội không nhận ra dù cá lớn hay cá bé thì đều sống trong nước cả. Mà nước lại là người tiêu dùng.
Là con cá khôn ngoan biết sống trong nước thì chẳng khi nào chết cả chỉ có những con cá ngu ngốc chui vào mồm kẻ khác và rời mặt nước là chết thôi.
Sự phát triển mất định hướng, kém bền vững của ngành kinh tế đã kéo theo các tệ nạn xã hội phát sinh và phát triển lớn mạnh quay lại bóp chết ngành kinh tế. Đúng là hại người, hại cả mình.
Hiện tượng tham nhũng, hối lộ trong xã hội trở nên phổ biến. Lý do là cuộc sống vật chất khiến người ta đánh mất những giá trị đạo đức, đánh mất đi giá trị làm người. Đứng trước cám dỗ - Một số tiền lớn, một khoản tài sản kếch xù làm bối rối những nhà lãnh đạo thiếu đức, thiếu tâm.
Hiện tượng tệ nạn xã hội ăn theo các ngành dịch vụ giải trí thì đa dạng, phong phú góp phần làm tha hóa đạo đức con người. Những người giàu có, lắm bạc nhiều tiền nhưng hụt hẫng về tình cảm và tinh thần. Những khi lạc lỏng bên đống tiền kếch xù, chẳng biết làm gì. Ừ! Thì hưởng thụ, ăn chơi vậy! Đây là sản phẩm của nền kinh tế, dịch vụ kém bền vững.
Cũng không ít thành phần nghèo, khó khăn trong cuộc mưu sinh chuyển sang trộm cắp, cướp giật, băng đảng, buôn lậu, ma túy,… góp phần làm rối ren cho xã hội vốn đã vật vã với những khủng hoảng kinh tế, tài chính, giá vàng, đô la,...
·        Về thiên tai - dịch bệnh - ô nhiễm môi trường:
Chỉ có thể gói gọn trong hai từ - Giá như. Giá như nền kinh tế phát triển bền vững hơn. Giá như nền công nghiệp phát triển có quy hoạch. Giá như đừng có chiến tranh. Giá như chủ nghĩa duy vật ra đời không cố xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa duy tâm. Giá như không có loài người...
Thật vậy, nếu trái đất không có con người thì sẽ ra sao?
Xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,… sẽ không tồn tại và phát triển nhưng trái đất chắc chắn sẽ an toàn, xanh, sạch đẹp hơn. Tất cả chỉ là giá như.
Con người đã xuất hiện và lấy đi những gì sẵn có trong thiên nhiên phục vụ cho như cầu cá nhân quá mức. Gây ra sự mất cân bằng sinh thái, cân bằng tự nhiên môi trường,...
Đã đến lúc phải sửa sai nếu không sẽ không còn kịp. Nếu bạn chịu khó dừng lại, sau đó nghĩ về những việc con người đang làm. Bạn sẽ thấy “Con người đang dùng cây cuốc thật tốt, đang hì hục ra sức đào một cái hố thật sâu, rộng ngay dưới chân mình”.
Điều gì sẽ  ra?
·        Về đạo đức - giáo dục - văn hóa:
Chỉ nghe có tiến bộ, có phát triển nhưng đi vào tìm hiểu thì dễ nhận thấy sự thật đáng buồn. Sự xuống cấp về đạo đức từ nhà trường ra đến xã hội. Mọi người có thể dễ dàng bắt gặp những cô cậu học sinh đủ các hạng, các cấp nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ mà một người có chút đạo đức, hiểu biết phải bịt tai lại và nhanh chóng bỏ đi nơi khác. Họ không dám khuyên bảo vì sợ rước họa vào thân,...
Rồi đánh giáo viên, bạn bè, băng nhóm, trấn lột học đường ngày càng tăng,...
Ngành giáo dục và xã hội vẫn chưa có giải pháp khắc phục hiệu quả,... lại còn bày ra chuẩn giáo viên, chuẩn học sinh các cấp và nhiều chuẩn kỳ lạ khác. Thiết nghĩ, cây tốt là nhờ gốc rễ tốt, chắc khỏe. Ngành giáo dục cũng như các bộ ngành khác nên chuẩn hóa từ gốc rễ trước. Đi tìm lại cái tâm của chính mình, đừng cứ mải mê “Gãi ngứa ngoài giày”.
Những mong những người có đức, có tài sớm có những điều chỉnh hợp lý vì thế hệ học sinh là tương lai của đất nước sau này.
Điểm yếu khác của ngành giáo dục hiện nay, có thể sản sinh ra nhân tài nhưng lại thiếu người có đủ tài đức.
Mai này liệu những nhân tài có thể làm gì với một lượng lớn thành phần bất hảo trong xã hội. Nếu không khéo lại tái hiện hình ảnh “Xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học”.
Một bất cập khác, sau 16, 17 năm những cô cậu học sinh ngồi trên  ghế nhà trường nhưng khi tốt nghiệp lại không đạt yêu cầu chuyên môn, hoặc thiếu nhanh nhạy, hoặc không nhiều quen biết, hoặc không lắm bạc nhiều tiền thì khi làm việc sẽ hưởng mức lương bằng người lao động có trình độ tay nghề thấp.
Câu hỏi đặt ra vậy học cao để làm gì?
Tốn cơm cha, áo mẹ, công thầy. Nhìn sang những người bạn cùng trang lứa, chẳng cần học cao, nhân cách thì phải xem lại. Họ hiện diện trong các ngành giải trí như người mẫu, diễn viên, ca sỹ, cầu thủ bóng đá,... mà chạnh lòng.
Giá như ngày xưa mình đừng ham học, mình mê đá bóng, mình thích ca hát,... thì hay biết mấy. Thôi, mai này khi có con chẳng cần cho chúng học cao, biết chữ rồi cho chúng vào lò luyện tập làm ca sỹ, tập đá bóng tốt,… là được.
Ôi! Đời cha rút kinh nghiệm. Có người buộc miệng “Chú mày học cao thì kiến thức còn đó. Mai này, nhờ có kiến thức chú mày có được cuộc sống an nhàn, hạnh phúc. Chứ những người giàu có kia, những kẻ nghèo khó nọ mải mê kiếm tiền, bỏ bê gia đình, con cái sinh hư đốn thì chắc gì có hạnh phúc”.
Ôi! Hạnh phúc bây giờ người ta xây dựng trên nhà cao cửa rộng, trên tiền bạc. Với chút lương còm này bao giờ tôi mới có được hạnh phúc đây. Đây cũng là điểm bất hợp lý đáng để lưu tâm. Kẻo mai này trường học sẽ biến thành sân bóng, sàn diễn thời trang hay sân khấu ca nhạc mất,...
Có những sự dịch chuyển nghịch về văn hóa giữa phương Tây và phương Đông:
            Buồn cười không?
Người phương Đông trước đây rất sợ bị đô hộ vì sợ bị đồng hóa về văn hóa. Điều đó có nghĩa là mất nước. Nhưng hiện nay, việc mở cửa, sự thiếu hiểu biết cũng như khả năng quản lý yếu kém tạo điều kiện cho nền văn hóa mới lạ thâm nhập và gần như đè bẹp nền văn hóa nội tại. Con người đánh mất giá trị đạo đức, giá trị làm người. Tất cả chỉ có tiền vàng, đô la, ngoại tệ,... Con người sống buông thả, yêu cuồng sống vội, chỉ sống ích kỷ cho cá nhân. Cha mẹ, anh em, con cháu,... sẵn sàng ly tán vì miếng đất của ông bà bán được giá,...
Lúc bấy giờ, những nhà văn hóa mới cầm còi chạy sau ôtô hô hào “Dừng lại! Dừng lại!...”.
Ngược lại, phương Tây sau thời gian mải mê chạy theo cuộc sống vật chất vẫn cảm thấy sự thiếu thốn về cuộc sống tinh thần, tâm linh, sự bất an trong nội tâm. Họ quay lại tìm kiếm nhưng không có đành sang các nước phương Đông học hỏi, vay mượn, giành giật những giá trị truyền thống.
Sự bất ổn nằm trong nội tâm lại đi hướng ngoại tìm cầu. Thật đúng là “Gãi ngứa ngoài giày”.
Bạn có nghe phương Tây, Nhật,... khuyến khích sinh con. Trong khi Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam,... không ngừng kêu gọi, thậm chí phạt nặng nếu sinh con thứ 2, 3. Rồi 20, 30 năm sau lại khuyến khích điều ngược lại.
Có rất nhiều những bất hợp lý nằm trong mỗi quốc gia trong xã hội loài người mà với cách nhìn phiến diện, con người sẽ không nhận ra được nguyên nhân sâu xa. Thế nên việc tìm ra giải pháp sửa sai trở nên thiếu thực tế, không mang lại kết quả.
Nếu bạn chịu khó dừng lại và đánh giá, bạn sẽ nhận thấy con người đang có những bước đi giẫm đạp lên chân nhau.
Hãy nên dừng lại quan sát, nhìn nhận rõ mọi vấn đề và giáo dục về vấn đề nhận thức, ý thức con người!
·        Về gia đình - con người:
Bản thân con người trong xã hội phải có sự quân bình giữa vật chất và tinh thần - tâm linh.
Đã từ lâu chủ nghĩa duy vật ra đời, thống trị và xóa bỏ sự tồn tại của chủ nghĩa duy tâm.
Khoảng trống được hình thành - Vấn đề mất cân bằng giữa vật chất và tâm linh.
Con người mê mờ lầm lạc, ganh đua giành giật của cải, vật chất về mình bất chấp hành vi, thủ đoạn. Sự chiếm hữu, tư hữu khiến con người trở nên xấu xa, ích kỷ.
Chủ nghĩa thực dụng ra đời với quan điểm rõ nét “Người không vì mình trời tru đất diệt”; “Cái gì, điều gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”...
Sự phân tầng tài sản, của cải ngày càng lớn đã tạo ra tầng lớp giàu có lắm của nhiều tiền và tầng lớp lao động nghèo khó.
Kết quả là kẻ lắm tiền, người nghèo khó đều không thoát khỏi những khổ đau trong cuộc sống. Khi mà những được mất, hơn thua chi phối trói buộc cuộc sống con người - Sự rối loạn nội tâm sâu sắc.
Người nghèo thì đói rách, khổ đau với những nỗi lo cơm áo gạo tiền, con cái ăn học. Người giàu thì mải mê kiếm tiền, sợ thua sút người khác cứ lao theo tài vật như con thiêu thân lao vào lửa. Mình được 1 nghĩ người được 10 đem lòng ganh tức; cố gắng tích góp của cải. Đánh mất hạnh phúc vì những đau khổ do của cải, tiền bạc mang lại.
Có những gia đình nghèo khó con cái nheo nhóc, thất học tràn lan. Những đứa bé lớn lên tự bước vào xã hội bằng việc đánh giày, bán báo, bán vé số, xin ăn,... Một số khác quậy phá, trộm cướp, móc túi, lừa gạt, giựt dọc,... Một số khác nữa cố gắng học hành đến nơi, đến chốn thành đạt,... một số khác học nghề,...
Những người cha, người mẹ tất bật trong cuộc mưu sinh, đâu có thời giờ chăm lo con cái. Rồi họ vụng về khỏa lấp “Trời sinh voi sinh cỏ”; Thây kệ! Ngày mai sẽ ra sao!
Có những gia đình giàu có mê mải kiếm tiền. Bỏ bê con cái cho nhà trường, xã hội. Với họ tiền là tất cả, họ ném cho con họ một số tiền lớn để ăn học. Họ cho đó là đã có trách nhiệm. Nhưng họ không nhận biết rằng những đứa con bị thiếu tình thương và sự dìu dắt của cha mẹ, chúng sẽ trở nên hư hỏng, ăn chơi sa đọa, rồi vướng vào các tệ nạn ma túy, cướp giật,... đẩy những cô chiêu, cậu ấm vào những vũng lầy nhơ nhớp. Đến khi họ nhận ra thì đã muộn, rồi khóc lóc rên rĩ hỏi.
Tại sao?
Họ tự đẩy con mình vào hố sâu mà vẫn lầm lạc không nhận biết.
Cuộc sống vật chất khiến con người tham lam, ích kỷ và ti tiện. Những vụ ly dị chia con chia gia tài diễn ra ngày càng nhiều. Rồi chồng khác, vợ khác, con cái bơ vơ.
Có những gia đình nhận thấy mặt trái xã hội, sợ sệt lo lắng, một phút không dám xa rời con. Giữ mãi bên mình cưng chiều, con sinh ra hư đốn chẳng biết.
Có những đứa trẻ ngoan hiền hơn thì chẳng biết gì đến xã hội, được nâng đỡ quá mức. Đến khi lớn, chập choạng bước vào đời. Thấy cuộc đời sao quá nhiều chông gai, cố gắng bước và té ngã.
Ở một góc nhìn khác, phần lớn những đứa trẻ được sinh ra và lớn lên trong bối cảnh hiện tại, tôi lại liên tưởng đến hình ảnh nuôi vịt siêu thịt hay nuôi heo công nghiệp,... Những đứa trẻ khi bước đi chập chững thì được nhồi nhét biết bao loại vitamine và khoáng chất,... rồi được đưa vào lớp nội trú để đảm bảo chế độ dinh dưỡng chuẩn,... rồi học thêm, bồi dưỡng năng khiếu, học đàn, khiêu vũ, võ thuật,... học ngày không đủ, tranh thủ nhồi nhét cả ban đêm. “Thôi con cố gắng vất vã một chút! Con là hy vọng, là niềm tin, là sự tự hào của cha mẹ,...”
Kết quả là thế hệ trẻ vào đời lớp hư hỏng, lớp hoảng loạn, lớp thành đạt,...
Nhưng tất cả dường như cảm thấy thiếu một điều gì đó?
Có một khoảng trống về tinh thần và tâm linh khiến tâm chúng không an. Khoảng cách về nhận thức giữa hai thế hệ khá xa, chúng không tìm được sự đồng cảm từ cha mẹ và người thân,...
Trong cuộc sống, đôi khi cũng gặp nhiều khó khăn, lớp thành đạt có lúc vượt qua được. Có lúc bị suy sụp, gục ngã và tìm đến cái chết. Lớp hoảng loạn, sợ sệt né tránh vào đời, họ rất dễ bị tổn thương. Mỗi khi tuyệt vọng họ tìm đến cái chết như là một cứu cánh. Lớp hư hỏng chán nản lắm lúc cũng thấy mình sống vô ích, rồi đổ lỗi cho gia đình, xã hội. Sự ganh ghét những người thành đạt bùng lên, họ loạn trí đi đến cuồng sát hại người rồi tự kết liễu đời mình.
Những điều tôi trình bày chứa đựng sự bi quan về cuộc sống nhưng đáng tiếc - Đó là sự thật đang diễn ra ở khắp mọi nơi trên thế giới. Những bước chân vẫn cứ giẫm đạp lên nhau.
Ví như, ở Việt Nam, người ta vẫn đánh giá xã hội không ngừng phát triển, những tiêu chuẩn về hộ nghèo không ngừng được nâng lên. Cuộc sống vật chất có vẻ được cải thiện nhưng có một sự thật. Hiện nay, một gia đình ở mức sống trung bình, cả hai vợ chồng đều có công ăn việc làm ổn định. Việc nuôi 1, 2 con được ăn học bằng chị bằng em là rất khó khăn. Trong khi đó, ở những năm 1987 - 1997, ba tôi một mình làm việc nuôi 7 anh em tôi ăn học. Mặc dù có đói có no nhưng những người con vẫn có thể cắp sách đến trường. Số gia đình có thể tạo điều kiện cho con ăn học được như vậy ngày đó là không hề ít.
Vậy bạn hãy tự xác định lại xem xã hội đang phát triển ở khía cạnh nào?
Bạn có nghe, có thấy những gì tôi vừa trình bày không?
Nếu có thì sẽ có nhiều câu hỏi tại sao đặt ra. Bạn sẽ tự trả lời nhưng dù sao bạn sẽ không có câu trả lời chính xác nhất. Bởi vì cái nhìn của bạn có phần phiến diện một phía có thể là góc nhìn của chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo, giáo dục, khoa học,... Cũng như những ông thầy bói xem voi vậy, câu trả lời sẽ là con voi giống như cái quạt thóc, cây cột nhà, cái bồ lúa, cây chổi xề,... Vậy thôi!
Nếu bạn có thể dẹp bỏ những định kiến về xã hội, chính trị, kinh tế, tôn giáo, duy vật, duy tâm,... và cả sự hiểu biết của chính bạn.
Hãy giữ lòng mình thật tĩnh lặng, không vướng mắc bất cứ điều gì, tôi sẽ cho bạn câu trả lời chính xác nhất!
Sở dĩ nhân loại đang tồn tại những bất ổn, những mâu thuẫn nội tại là do sự mất quân bình giữa đời sống vật chất và đời sống tâm linh.
Cái tôi trong lòng mỗi con người quá lớn và không ngừng lớn thêm lên. Cái tôi còn được gọi là tự ngã có trong bản thân của mỗi con người. Khi cái tôi ngự trị trong lòng bạn thì cuộc sống bạn đã bị trói buộc vào cái tôi và cái của tôi. Sự ích kỷ từ đó sẽ lớn lên. Nỗi khổ cũng tăng lên vì những sự hơn thua, được mất, ganh ghét, giận hờn, si mê,... Bạn sẽ mất dần sự an vui và hạnh phúc.
Cuộc sống vật chất che mờ lý trí khiến con người lầm lạc tiếp nối lầm lạc. Con người không còn nhận ra được hạnh phúc chân thật không phải là cuộc sống chạy theo lắm của, nhiều tiền. Hạnh phúc chân thật vốn chỉ là sự quân bình trong cuộc sống về vật chất và tinh thần. Đó là một cuộc sống bình yên, thanh thản, ấm êm và an vui.
Dù bạn là ai thì mục tiêu thực sự và cuối cùng của bạn vẫn là hạnh phúc. Hãy nhận lấy hạnh phúc chân thật, đơn sơ và bình dị! Bạn đừng mê lầm đánh mất; rồi mê mờ không biết.
Tìm hạnh phúc ở đâu?
Sẽ có nhiều người cho rằng tôi chỉ nói được một phần, một khía cạnh của cuộc sống, cuộc sống còn rất nhiều niềm vui và hạnh phúc. Những điều tôi nói giống như một số ít cỏ có trên một cánh đồng hạnh phúc xanh tốt.
Thật không? Hãy thành thật với chính mình!
Theo quan điểm của bạn thì những điều tôi trình bày, những điều có thể gây cho con người khổ đau chỉ là số ít cỏ còn hạnh phúc là cả một cánh đồng xanh tốt.
Hạnh phúc nhiều đến thế thì tốt quá, chỉ cần nhổ ít cỏ khổ đau thì con người sẽ có được hạnh phúc mãi mãi rồi.
Nếu dám nhìn thẳng vào sự thật cuộc sống, bạn sẽ thấy hạnh phúc hiện rất mong manh, gia đình hiện tại rất dễ tan vỡ.
Vẫn chưa dừng lại đó, mai này 5, 10 năm nữa gia đình lại càng trở nên mong manh hơn giống như là hạt sương mai trong nắng sớm. Người ta có thể cưới nhau buổi sáng, ly hôn buổi tối.
Có phải số vụ ly dị trong xã hội không ngừng tăng lên và với những lý do chẳng ra sao cả?
Ngày mai, con người càng trở nên ích kỷ, tham lam hơn phục vụ cho cái tôi mà luôn đau khổ vì không thể có chuyện “Muốn gì là được nấy”. Trong một phút bồng bột và tuyệt vọng đó, con người tìm đến cái chết.
Trong cuộc sống hiện nay, số người mất phương hướng sống là không hề nhỏ, họ sống không biết để làm gì?
Thấy cuộc sống quá bon chen, chán ghét cuộc sống. Khi sợi dây ràng buộc tình cảm gia đình ngày càng mỏng manh.
Điều gì đảm bảo những con người đó không tìm đến cái chết?
Những điều tôi nói nghe phi lý quá nhưng lại đang diễn ra khắp mọi nơi trên thế giới. Bạn có thể thấy ở Hàn Quốc, Nhật, Châu Âu, Nga, Mỹ, Việt Nam,... những vụ tự sát, tự sát tập thể, cuồng sát vẫn đã, đang và tiếp tục diễn ra.
Hãy thận trọng! Đừng vội xem qua rồi mừng rỡ “May quá! Không phải trường hợp của mình”.
Hãy sống có trách nhiệm hơn với chính mình và xã hội. Đừng u mê đến mức không nhận ra bạn đang là người lầm lạc và trở thành nạn nhân của sự lầm lạc đó. Sống vùi trong những khổ đau, sự lầm lạc không chỉ khiến bạn  khổ đau mà còn chôn vùi hạnh phúc của những người thân yêu quanh bạn!
Xem đến đây, bạn sẽ không hiểu tại sao tôi trình bày quá nhiều vấn đề. Việc trình bày lại rất lan man.
Làm sao tôi có thể trình bày tập trung, rõ ràng, rành mạch cho được?
Khi mà trong nội tại mỗi bộ ngành, mỗi vấn đề, mỗi lãnh vực, mỗi quốc gia trên toàn thế giới đều chứa đựng quá nhiều sự bất ổn đan xen.
Những vấn đề tôi đã trình bày cứ như là hạt muối được kết tinh trong đại dương bao la. Hàng vô số hạt muối còn lại trong đại dương bạn hãy tự tìm lấy. Sẽ không khó để có được một vốc muối đầy trong bàn tay.
Chỉ cần bạn sống có trách nhiệm với xã hội, không quá ích kỷ bạn sẽ nhận ra sự việc rất đáng lo ngại. Đó là vấn đề mất cân bằng toàn diện.
Chỉ cần một đổ vỡ nhỏ sẽ tạo ra hiệu ứng domino phá hủy toàn bộ sự cân bằng vốn rất mong manh ở mỗi nước cũng như ở trên phạm vi thế giới.
Hãy nhìn thấy chân tướng sự việc; đừng trông chờ sự đánh giá, ý kiến những chuyên gia quốc tế  - Những gã mù sờ voi và “Nước xa không cứu được lửa gần”. Chờ người cứu sao bằng tự cứu lấy mình, tự đứng vững trên đôi chân chính mình.







Bạn thấy đó:
Nếu chỉ sống nhằm phục vụ cho tự ngã cá nhân thì nhân loại sẽ đi về đâu?
Có chăng là đau khổ sẽ chất chồng?
Nếu bạn có thể mở lòng ra cho tự ngã lớn hơn thì khổ đau trong bạn và mọi người, mọi loài xung quanh sẽ vơi bớt.
Khi bạn sống vì nhiều người hơn như cho gia đình, cho hàng xóm, cho tổ chức, cho quê hương,… thì khi đó những đau khổ được mất trong bạn vơi dần đi. Bạn có nhiều niềm vui và sống có ích hơn. Đó là niềm vui chân thật phát sinh từ tình thương yêu giữa người với người.
Khi đó những tham lam, ích kỷ, tư lợi được mất sẽ không còn trói buộc chặt lấy con người bạn.
Nếu bạn mở rộng lòng ra hơn nữa, bạn sống vì xã hội, vì đất nước, vì nhiều dân tộc, nhiều quốc gia, cho cả nhân loại thì  ắt hẳn là bạn sẽ không còn có nhiều sự phân biệt thân sơ.
Khi đó, ai cũng là người thân của bạn. Bạn sẽ không thể làm bất cứ điều gì gây đau khổ cho bất kỳ ai. Bạn sẽ sống an lạc, thảnh thơi. Đây là hoa trái của tình yêu thương chân thật. Ai cũng quý mến bạn vì sự tồn tại của bạn mang lại niềm hạnh phúc cho mọi người.
Khi bạn mở lòng ra hòa đồng với trái đất, với đá, cây cỏ, với muôn loài thì bạn đã giải phóng được tự ngã của bản thân. Bạn sẽ sống an vui, không bao giờ còn biết đến khổ đau.  Chỉ sống và có ích cho đời.
Nếu nhiều người hơn mở lòng ra thì nhân loại sẽ sống trong tình yêu thương chân thật. Chiến tranh sẽ không còn nữa. Thế giới sẽ tiến đến công bằng, hòa bình và tiến bộ.
Tại sao bạn phải làm điều đó?
Vì bạn sẽ được an vui, không buồn phiền, đau khổ.
Tại sao?
Khi những sự được mất, hơn thua không còn trong tâm trí, bạn sẽ sống rất thanh thản và tự tại.
Những điều tôi vừa trình bày có vẻ như rất đơn giản nhưng trong đó chứa đựng một sự thật mầu nhiệm, bạn sẽ trở thành một con người chân thiện mỹ khi bạn cố gắng thực hành.
Khi bạn thực hành nghiêm túc thì thiên hạ sẽ là của bạn vì khi đức cao, mọi người sẽ tôn trọng bạn. Bạn sẽ vì mọi người nắm lấy thiên hạ.

Người đời ngày nay ngu muội thường sợ hai hạng người:
Thứ nhất là sợ người có tài. Người có tài là người thông minh cơ trí, khôn lanh biết chớp lấy thời cơ. Họ dễ dàng thâu tóm danh lợi, địa vị. Người đời vì sợ mất quyền lợi nên không khỏi đề phòng những người tài giỏi. Tuy nhiên, người tài mà kém đức thì thật cũng đáng để đề phòng.
Thứ hai là sợ người có đức. Người có đức thường sống vì mọi người. Danh lợi xem nhẹ nên họ không mong cầu quyền cao, chức trọng. Nhưng vì được lòng người nên không khó để nắm đại nghiệp.
            Người đời thường có rất nhiều định nghĩa khác nhau về người tài, người đức. Tôi chỉ có thể dùng những từ ngữ đơn giản, mộc mạc để trình bày vì những ngôn từ cao siêu vốn không che dấu được sự dốt nát trong tôi. Tôi tự thẹn không có tài, chẳng có đức chỉ biết học theo hạnh của đất đá, cây cỏ, học theo dòng nước, theo đám mây bay,...Vô tâm đối cảnh.
Mai này tôi sẽ vì người mà sống, vì người mà chết. Mai này tôi sẽ ăn cơm của thiên hạ, làm việc cho thiên hạ nhưng không nắm lấy thiên hạ. Đến cuối tháng 12 năm 2012, nếu quả thật lòng người khó đoán; Tôi không tìm được trái tim chân thật, tình yêu thương chân thật của loài người thì đành học theo hạnh người xưa làm “Bù nhìn rơm đứng giữa trời”.
            Mọi người hớn hở như hưởng bữa tiệc lớn, như mùa xuân lên đài. Riêng ta điềm tỉnh, không lộ chút tình ý gì như đứa trẻ mới sinh, chưa biết cười, rũ rượi mà đi như không có nhà để về. Mọi người có thừa, riêng ta như thiếu thốn. Lòng ta ngu muội, đần độn thay!
            Người đời sáng rỡ, riêng ta tối tăm. Người đời trong trẻo, riêng ta hỗn độn, như sóng biển nhấp nhô, như gió vèo vèo không ngừng.
Mọi người đều có chỗ dùng, riêng ta ngoan cố, riêng ta khác người mà đứng sau thiên hạ…

            Loài người có những quan niệm sai lầm. Sự sai lầm này dẫn đến sự đau khổ cho chính mình, cho người khác và muôn vật.
Sai lầm có một cái tôi thường tại trong mỗi cá nhân. Mỗi mỗi việc làm điều phục vụ cho cái tôi đó. Việc được mất, tranh giành khiến họ phải đau khổ.
Nhưng cái tôi đó thật sự không thường tại. Cái tôi đó nằm trong quy luật của sinh lão bệnh tử. Dù có ăn ngon mặc đẹp thế nào rồi cũng tàn hoại nhưng mà con người vẫn u mê. Khi sống họ không từng nghĩ là sẽ phải chết.
Lúc chết họ sẽ đi về đâu?
Họ mê mải, điên cuồng chạy theo dục vọng; đánh mất hạnh phúc, sống trong những lo toan, khổ đau. Đến khi mệt mỏi, dừng lại, nhìn lại thì đã “Gần đất xa trời”; vẫn u mê ôm nuối tiếc sống hết phần đời còn lại.
Ngay khi nhắm mắt, cứ ngỡ chết là hết nào hay sự sống mới lại bắt đầu. Thế là tùy theo nghiệp quả tạo tác mà con người trôi lăn trong 3 cõi 6 đường.
            Con người có bao giờ là thường tại?
Nếu con người thường tại sao lại có lớn lên, già, bệnh, chết?
Khi chết, xác thân vật chất sao lại tàn hoại vào trong đất, nước, gió, lửa?
Cái tôi thường tại, sao phải ăn uống, hít thở và phải thải ra những thứ đã hấp thu vào?
Cái tôi đó thực sự chỉ là sự vay mượn tạm bợ chút đất, nước, gió, lửa mà thôi, chỉ cần thiếu một thứ trong đất, nước, gió, lửa thì tàn hoại.
            Sai lầm thứ hai cho rằng - Chết là hết. Vì thế con người chỉ biết sống cá nhân, ích kỷ, tham lam, bỏn xẻn, ti tiện nhưng lại không nhận ra “Khi sinh ra vốn trần trụi và khi về với đất thì cũng chẳng mang theo gì?”.
Vậy mà vẫn lầm lạc tranh danh, đoạt lợi, tham đắm tích góp cho bản thân không nghĩ gì đến người khác, loài khác sống theo quan điểm “Sống chết mặc bây”.
            Nhưng thực tế không phải chết là hết. Con người cũng như các loài hữu tình, các loài có sinh trưởng không phải là một cái máy hay vật vô tri. Cái máy và vật vô tri vốn không có tâm ý, khi hư hỏng tàn hoại thì trở về trong đất, nước, gió, lửa. Vì không có tâm ý thế nên hết một đời máy.
Con người, các loài hữu tình, sinh trưởng thì lại khác. Ngoài xác thân này còn có tâm ý. Khi chết đi xác thân, tim óc,... trả lại cho đất; máu, dịch lỏng,... trả về cho nước; hơi thở trả về cho gió; hơi ấm trả về cho lửa.
Còn tâm đi về đâu?
            Chắc rằng bạn đã không ít lần nghe người khác nói về những câu chuyện dường như không thật, phi lý về sự tồn tại của linh hồn người chết, thần thức của người thân báo mộng, cõi Địa ngục tối tăm rùng rợn,... Có người tin, có người không tin.
Còn bạn thì sao?
Mặc dù tin hay không thì con người đã từng như thế và có thể mai này cũng lại rơi vào những nơi đó. Vì sự tham đắm dục vọng, sân hận, si mê lạm sát muôn loài và con người là chìa khóa mở cánh cửa Địa ngục.
Dù muốn hay không thì bạn cũng phải thọ lãnh nghiệp quả đã tạo ra “Gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy”. Lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt.
            Sở dĩ có những lầm lạc trên là do tâm ta u mê sinh ra, do ta đã tự giới hạn tâm vào trong tấm thân máu thịt, vào cái tôi không thật này. Từ đó tham đắm chất chứa nhiều đời, mê mờ đánh mất bản tâm.
Nếu bạn mở rộng cái tôi hòa đồng với trái đất, với vũ trụ, đến không gian dung chứa cả vũ trụ thì tâm bạn cũng rỗng rang trùm khắp.
Khi đó tâm bạn đã hòa cùng không đại với tính không sinh, không diệt,... thì còn có khổ đau nào bức ngặt được. Đạt được điều đó, bạn đã thể nhập được với bản tâm - Chân tâm diệu hữu. Bạn đã tự chấm dứt sự sinh tử luân hồi. Bạn được giải thoát hoàn toàn.
            Nói nghe dễ thế nhưng làm thật không dễ chút nào. Con người đã mê mờ nhiều kiếp. Khi mở lòng ra với gia đình, tổ chức, quốc gia, thế giới, vũ trụ,... Con người lại thường vướng mắc vào ý niệm ta làm điều này, việc kia,... cho xã hội, cho gia đình, cho nhân loại. Vì chưa buông bỏ được ý niệm đó nên ta chưa thực sự giải thoát. Phải quay lại nhận lấy phước báo đã tạo ra. Đôi khi lui sụt chí bồ đề quay lại trôi lăn trong sinh tử.
Bởi vì khi ta tạo những duyên nghiệp tốt thường đạt được những phước báo như trí tuệ thông minh, thân hình xinh đẹp, lời nói cử chỉ ngọt ngào, nhu mì, đoan trang, có tiền bạc, tài sản lớn, nhiều người hầu hạ, tâng bốc quý trọng. Phước báo tốt nếu không có chí nguyện lớn, không có sự hàm dưỡng nội tâm đúng mực,... thường gây trở ngại cho con đường giải thoát ở con người vì mải lo thụ hưởng sinh tâm phóng túng, kiêu mạn, tự cao tự đại.
Phật đã từng thuyết “Hướng dẫn một con người giàu có, kiêu mạn,... vào con đường giác ngộ, giải thoát còn khó hơn việc dắt con lạc đà chui qua lỗ kim”.
            Người xưa đã dạy “Làm mà như không làm, không làm mà không gì không làm”.
Nếu bạn có thể dũng mãnh, tinh tấn làm được việc khó làm đó thì bạn đã đồng với Phật, với hiền Thánh.
            Những điều tôi trình bày trên không phải do sự hiểu biết, tư duy, lý luận mà có được. Đó là kết quả của sự thực chứng. Trong đó, có chứa đựng yếu quyết phá ngã mà Phật đã đạt được khi ngồi thiền định dưới cội cây bồ đề.
Sở dĩ tôi dùng hai từ phá ngã để lại một lần nữa phá chấp cho người đời. Để làm rõ vấn đề tôi sẽ trình bày thêm về việc phá ngã.
Khi Phật thành Đạo vô thượng, đạt được sự an lạc tuyệt đối, xót thương chúng sinh u mê chìm trong biển khổ. Nhận ra chúng sinh thống khổ vì “Ngoài thì chấp có thân, trong thì chấp có ngã”.
Phật đã thuyết thân do tứ đại - đất, nước, gió, lửa - hợp thành. Ngã do ngũ uẩn - sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà có. Vì là tướng giả hợp, không có thực thể nên tạm gọi là Vô ngã, là Không.
Người đời ngu muội chuyển sang chấp Không, u mê tạo tội, không nhận ra chân tánh. Phật đã thuyết Không - không phải là không có gì mà là chân không diệu hữu. Đó là Niết bàn với tính chất thường lạc ngã tịnh.
Chỉ tiếc người đời lầm lạc, vọng chấp thành tánh, Phật nhập diệt, khởi tâm phân biệt giảng giải, luận bàn ý kinh dẫn đến sai lạc không ít - Lộng giả thành chân, mê mờ sự lý, gây u mê người đời sau. Dùng tâm phân biệt để luận giải việc hiền Thánh là điều không thể được. Chỉ với tâm bình đẳng như như thì bạn mới thấu hiểu được lời Phật. Khi đó bạn mới tìm được sự giác ngộ, giải thoát qua công phu hành trì.
Khi đã phá được bản ngã đồng với không đại thì trí huệ sẽ khai mở, bạn sẽ nhìn mọi vật với cách nhìn thấu rõ tột bực. Mọi việc dù tối hay sáng, bạn đều có thể nhìn rõ chân tướng không có sự ngăn ngại.
            Ví như khi bạn nhìn được chân tướng sự khổ là vô thường, là không thường tại thì sự khổ không bức hại được tâm trí bạn, không làm bạn động tâm. Bạn đạt được sự an lạc, tự tại và tâm từ, tâm bi sẽ khởi lên. Bạn sẽ đi con đường của Phật đi - Con đường cứu khổ nhân loại và muôn loài trong 3 cõi. Bạn không còn rơi vào luân hồi, bước trên sóng sinh tử mà đi nhưng không mê đắm. Bạn chứng được pháp vô sanh không sinh, không diệt.
            Có thể bạn không tin những vấn đề tôi trình bày. Bạn cứ nghi ngờ và hãy tìm câu trả lời thật đúng. Điều đó thật sự cần thiết. Vì điều đó giúp bạn có cuộc sống hạnh phúc, an lạc, được nhiều người quý trọng và trên hết là xóa hết những khổ đau trong bạn và mọi người xung quanh.
            Tùy bạn có thể bạn thích những phiền não, lo buồn hoặc những khổ đau trong cuộc sống chưa làm bạn gục ngã. Bạn muốn sống trong luân hồi thì hãy nên sống tốt, tích lũy phước đức, công đức. Không làm điều ác, bất thiện, hạn chế sát sinh, hại mạng; Không tham đắm ngũ dục là sắc, thinh, hương, vị, xúc còn có cách nói khác là của cải, sắc đẹp, ăn uống, danh lợi, ngủ nghỉ nhằm giúp bạn có quả báo tốt đời sau.
Bạn cũng nên xem vài quyển kinh sách Phật để gieo nhân tốt.
Bạn hãy thử xem lại vấn đề sau là đúng hay sai?
Người đời cho rằng vợ chồng, cha mẹ, anh em, con cái quyến thuộc thường là do duyên nghiệp nhân quả nhiều đời có thể là những oan trái, có khi là nợ nần, có khi là những ân tình đan xen chằng chịt,... Vì thế, ta thường ít khi thấy gia đình nào giống gia đình nào cả. Cũng như những anh chị em trong cùng gia đình cũng không giống nhau, tính tình con cái cũng thường không giống ba mẹ,... Qua đó, có thể trực nhận cuộc sống rõ ràng hơn, giúp bạn có cách thức, lối sống phù hợp với chánh pháp để có được niềm an vui bền vững, hạnh phúc.
Tôi vốn không nhiều hiểu biết, lại chập choạng đi trong những khổ đau. May gặp được thầy bạn tốt, có vài quyển kinh Phật, được ít an lạc. Lại được thử thách, tôi tin sâu hành trì may mắn được tỏ ngộ, nhìn thấy được từng bước đi của Phật trên đường tìm đạo, hành đạo. Thấu rõ tâm ý Phật nên có quyển sách này gửi đến bạn. Những mong trả ơn Phật và làm theo bi nguyện của Người.
            Có thể bạn sẽ nghĩ tôi đang nói một triết lý, một lý tưởng sống hoặc một học thuyết nào đó,... Con người vẫn lầm lạc, đa nghi, luôn có sự phân biệt so sánh. Họ không dễ dàng chấp nhận sự thật. Họ cần một sự chứng minh.
            Từ ngày 27/12/2010 đến nay, một quãng thời gian không quá ngắn, tôi vẫn sống trong trạng thái vô ưu, không phiền lo. Đôi khi, tôi nở một nụ cười an lạc khi nhìn thấy một chiếc lá rơi, một làn khói nhẹ bay lãng đãng cuối trời,... Mặc dù khoảng thời gian này tôi vướng nhiều chuyện rắc rối không đâu phát sinh trong công việc, trong gia đình, trong xã hội. Tôi vẫn giữ được tâm thái an ổn, tỉnh táo và đã giải quyết tốt mọi việc.
            Khi phá được cái bản ngã, tôi nhận ra trong tôi có trái tim chân thật, mầu nhiệm. Từ đó lưu xuất ra một tình yêu thương chân thành, bao dung. Tình yêu đó dung chứa cả vũ trụ vạn hữu, chứa đựng nhân loại, mọi vật, mọi loài nhưng không tham đắm, dính mắc. Xót xa, thương cảm những đau khổ của chúng sinh trôi lăn trong vô thường, trong sinh tử, tôi sẽ vì người mà sống; vì người mà chết. Tôi tạm gọi tình yêu thương đó là Tình yêu thương chân thật.
            Khi có Tình yêu thương chân thật tôi nhìn sự khổ đau, sự vô thường, việc sinh tử như hòn bọt trong sóng, như sấm chớp ở trong mây, như hoa đốm giữa hư không,...
Nay, tôi sẽ cho bạn thấy trong bạn cũng có một Tình yêu thương chân thật như thế.
Khi đạt được sự vô ưu, việc sinh tử với tôi đã không còn quan trọng. Đóa vô ưu sẽ ra hoa và kết trái. Tôi đã không thực sự cần đôi mắt, trái tim, lá gan, quả thận, 3 lít máu,... Nếu bạn hay những người thân của bạn cần hãy đến nhận lấy, tôi sẽ không đòi hỏi ở bạn bất cứ điều gì.
Dù bạn là người xa lạ ở tận Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi,... hay một người thân quen nào đó, hoặc là một người tôi đã thù ghét từ trước,... tôi sẽ vẫn đưa cho bạn.
Tại sao à?
Tại vì bạn đã giúp tôi kiểm chứng lại sự thật để mọi người tin theo - Trái tim chân thật, Tình yêu thương chân thật trong loài Người là thật có.
Nếu bạn sống quá ích kỷ, có thể bạn chưa có ngay Tình yêu thương chân thật nhưng tôi đã gieo trong bạn mầm sống của Tình yêu thương chân thật rồi. Sẽ có rất nhiều người sẽ nhận ra, họ cũng có một Tình yêu thương chân thật. Sẽ lại có nhiều đóa vô ưu nở hoa, kết trái. Điều đó không có nghĩa là nhiều người sẽ làm như tôi. Khi mọi người đã thừa nhận sự thật rồi thì việc chứng minh đã không còn cần thiết. Nhưng khi đó loài người sẽ vơi bớt những khổ đau do hoa trái của những đóa vô ưu mang lại. Bạn đừng lo sợ mọi người sẽ oán ghét bạn. Khi có được Tình yêu thương chân thật, họ sẽ phải cảm ơn bạn. Cũng như tôi sẽ cảm ơn bạn.
Hãy đến và lấy đi những thứ bạn cần. Cho dù bạn là ai, bạn sẽ vẫn được nhận lấy.
Bạn đừng lo tôi sẽ chết, tôi sẽ không hề chết. Tôi sẽ luôn có trong bạn, trong tất cả mọi người và mọi loài. Bạn đừng lo những người thân tôi sẽ ngăn cản. Tôi đã lớn, đủ chính chắn để quyết định cho ai bất cứ thứ gì mà tôi có.
Khi đó, ở một góc nhỏ của tình riêng, bạn đã giúp tôi mang Tình yêu thương chân thật đến ba mẹ, anh em và những người thân.
Vì sao?
Người đời lầm lạc cho rằng cha mẹ có thể sinh con nhưng không thể “Trở thành con” được. Họ quên rằng họ đã từng là một đứa bé lớn lên.
Điều này có nghĩa tôi muốn ba mẹ và những người thân sẽ giống như tôi có được đóa vô ưu bất tử, có được Tình yêu thương chân thật sẽ không còn những phiền muộn trong đời.
Nếu là họ thì họ sẽ phải đau khổ trong nỗi đau già chết, cô đơn, việc con cái, những trái ý nghịch lòng, những tâm nguyện chưa làm được. Nếu họ sớm có được Tình yêu thương chân thật thì họ sẽ không phải khóc khi tôi chết. Lẽ dĩ nhiên là trong xác thân này tôi sẽ phải chết.
Khi phá bỏ được cái tôi, tôi nhìn thấy Phật ở cõi cực lạc, thấy Chúa, Thánh ở Thiên đàng, thấy Quỷ Vương ở Địa ngục. Các cõi nước đó tôi có thể ra vào tự tại. Tôi sẽ vì họ mang Tình yêu thương chân thật đến tất cả mọi người, mọi loài. Cùng với bi nguyện mang Tình yêu thương chân thật đến cho loài người là bi nguyện mang ánh sáng thắp sáng cõi Địa ngục tối tăm, giúp chúng sinh trong Địa ngục không còn bị khổ não bức hại.
Tôi đã từng chuyển dãy Hymãlạpsơn về xem xét cho đến chỗ cùng tột thì lại trả về nơi cũ. Tôi cũng mang cả vũ trụ vạn hữu đặt trong lòng bàn tay mình đến khi nhận ra vũ trụ vạn hữu quả thật có chỗ để dùng. Tôi đã giữ lại ép vào trong quyển sách này mà vũ trụ vạn hữu bên ngoài cũng không hư mất, không thêm không bớt. Vũ trụ vạn hữu trong quyển sách này cũng không hề nhỏ hơn, nguyên vẹn, tròn đầy.
Bạn sẽ trách tôi nói lời hư dối. Việc tôi làm chúng sinh trong 3 cõi đều nhìn thấy chỉ có những chúng sinh mê mờ chân tánh là không tự nhận biết mà thôi.
Bạn hãy thử tìm xem một bậc chân sư hỏi họ thì bạn sẽ biết tôi không nói lời hư dối. Còn nếu bạn nhận ra lời tôi nói là thật đúng thì bạn ít nhiều cũng nhận ra Phật tánh của chính mình.
Khi bạn tìm được Tình yêu thương chân thật, bạn sẽ nhận ra bạn có thể chuyển dãy Hymãlạpsơn đến bất cứ nơi nào mà bạn muốn. Nhưng khi đó bạn sẽ thấy điều đó thật vô vị, tầm thường vì điều đó không chấm dứt khổ đau trong lòng những người thân, trong nhân loại, không làm được máu cây rừng ngưng chảy, biển cả không còn rên siết, gầm thét trả thù,...
Với Tình yêu thương chân thật, tôi biết và cho phép mình nhận mẩu bánh mì cuối cùng của một người ăn xin khốn khổ. Vì khi đó tôi đã giúp người ăn xin nhận ra họ có một viên ngọc quý vô giá - Đó là Tình yêu thương chân thật. Họ tự biết sẽ hết đau khổ, bệnh tật, đói khát. Họ sẽ sống an lạc, thảnh thơi. Họ sẽ sống với bi nguyện cao cả cứu khổ muôn loài và mang hạnh phúc đến cho loài người.
Bạn nghĩ sao?
Với Tình yêu thương chân thật tôi sẽ nhận được rất nhiều tiền của mọi người từ khắp mọi nơi trên thế giới. Những người đang đi tìm Tình yêu thương chân thật của chính mình; Những người đang sống theo hạnh từ bi, bố thí. Tôi sẽ lập quỹ từ thiện mang tên “Từ Bi Sinh Hỷ Lạc”.
Mai này, tôi sẽ đi đến những nơi cần góp sức. Tôi sẽ đưa số tiền của quỹ “Từ Bi Sinh Hỷ Lạc” đến nơi cần đến - Những nơi thật sự cần số tiền đó. Có thể là một người nghèo khó, đói rách, già yếu bệnh hoạn. Có thể là một gã nhà giàu xấu xa, bần tiện. Có thể là một cô gái “bán hoa” mạt hạng, rẻ tiền. Có thể là một cô cậu học trò nghèo hiếu học,...
Nếu bạn có Tình yêu thương chân thật, bạn sẽ không hỏi tôi “Tại sao?”.
Nếu bạn chưa có Tình yêu thương chân thật tôi sẽ trả lời cho bạn. Vì tôi phải mang Tình yêu thương chân thật đến cho họ. Người già yếu bệnh tật kia sẽ vơi bớt đau khổ tin rằng có Tình yêu thương chân thật và đi tìm lại bằng việc nở một nụ cười tươi để mang lại niềm an vui, thảnh thơi và hạnh phúc đến những người xung quanh. Gã nhà giàu kia sẽ sớm nhận ra của cải, vật chất, tiền bạc không mang lại hạnh phúc thật sự, không giữ được mạng sống của mình. Có chăng là những hụt hẫng, lo toan, sầu khổ, thậm chí còn làm mạng sống ngắn ngủi thêm? Nhân đó tin rằng có một Tình yêu thương chân thật trọn vẹn có trong xác thân giả tạm sẽ đi tìm lại góp phần làm cho cuộc đời tươi đẹp hạnh phúc hơn. Cô gái “bán hoa” sẽ không phải làm công việc tủi nhục để nuôi mẹ già và đàn em nhỏ dại. Bỏ đi một quãng đời lầm lạc, cô gái đó, bà mẹ già và đàn em nhỏ sẽ sớm tìm được Tình yêu thương chân thật cho mình. Còn cô cậu học trò nghèo hiếu học sẽ vượt qua những khó khăn, sớm thành đạt trong cuộc sống và cùng nhân loại vun vén  cho “Cây Tình yêu thương chân thật trổ hoa”,...
Sau một ngày đọc quyển sách này, có thể bạn sẽ muốn đi tìm Tình yêu thương chân thật. Bạn có một số tiền muốn gửi cho quỹ “Từ Bi Sinh Hỷ Lạc” nhưng lại nghi ngờ không biết tôi có làm như đã nói hay lại lấy tiền đi ăn chơi trác táng, tiêu tiền vào những việc vô bổ.
Bạn nên nghĩ như vậy. Bạn có quyền không tin tôi nhưng bạn hãy nên tin bạn.
Vậy tại sao bạn không tự làm điều đó, mang số tiền dôi dư đến cho những người thực sự cần - Một người xa lạ hay thân quen nào đó?
Ngay khi đó, bạn sẽ có cách nhìn cuộc sống bao dung hơn, bạn tiến gần với Tình yêu thương chân thật hơn.
Để bắt đầu, ngày mai bạn hãy nở một nụ cười với bất kỳ ai mà bạn tình cờ bắt gặp trên đường. Hãy đến thăm người bạn, người anh, người chị, người em hay người bà con, người cha, người mẹ,... mà từ lâu những giận hờn, ganh ghét, hiểu lầm,... đã ngăn cách hai người.
            Với Tình yêu thương chân thật, tôi có thể lấy bất cứ thứ gì quý giá mà bạn có.
Không thể nào, thật vô lý à?
Hãy xem tôi lấy bằng cách nào nhé! Nếu bạn hoặc người thân yêu của bạn cần cái võng mạc để chữa bệnh mắt, tôi sẽ đưa mà không có điều kiện gì hết. Rồi một ngày nào đó, người vợ, người chồng hoặc cha hoặc mẹ,... và có thể là đứa con yêu quý của bạn hoặc chính bạn cần một trái tim để sống. Tôi sẽ đến và đưa trái tim cho họ hoặc cho bạn. Hiển nhiên là tôi sẽ chết. Chết mà không kịp nói cho bạn bất cứ điều gì. Khi đó, tôi sẽ lấy đi tất cả những gì mà bạn có. Tôi lấy đi nỗi buồn lo đau khổ trong bạn. Bạn chỉ nhận được Tình yêu thương chân thật. Bạn sẽ cho đi bất cứ thứ gì mà bạn có như tôi đã từng làm.
Cùng với việc lập quỹ “Từ bi sinh hỷ lạc”, tôi sẽ xây dựng ngôi nhà “Nối lại những yêu thương”. Ngôi nhà này sẽ tọa lạc trên khu đất gần 3000 m2 bao bọc quanh vườn cây xanh mát. Không gian khá yên tĩnh, thoáng đãng. Nơi đây sẽ là nhà của những người già neo đơn, những mảnh đời cơ nhỡ, bất hạnh.
Nhân tiện, tôi xin phép mời những thầy cô giáo lớn tuổi neo đơn ở khắp mọi nơi về ngôi nhà “Nối lại những yêu thương” với nỗi niềm mong mỏi, thiết tha cùng với lời nhắn gửi “Hãy để thế hệ trẻ chúng con được chút cơ hội, được dịp tri ân, phụng dưỡng ân đức cao dày của quý thầy cô. Những người đã nuôi dạy chúng con nên người”.
            Bạn có tin những điều tôi nói không?
Vì niềm tin của bạn của mọi người; Vì Tình yêu thương chân thật thực sự có, tôi sẽ cho ai đó đôi mắt, trái tim, lá gan, trái thận,... Hãy đến và nhận lấy!
Khi trong cuộc sống có nhiều Tình yêu thương chân thật tồn tại hơn thì chiến tranh, hận thù, tham lam, ganh ghét, si mê lầm lạc, những buồn lo, phiền muộn cũng vơi dần đi. Những ham muốn được tiết chế lại, trái đất sẽ trở nên an toàn, ổn định, tồn tại lâu bền và quay về làm hành tinh xanh với những cánh rừng già nguyên sơ xanh tốt.
Bạn nghĩ sao?
Nếu sớm mai thức dậy, mọi người đều đến với nhau bằng những nụ cười, họ sống với nhau rất chân thật, cùng đi tìm hạnh phúc chân thật giản dị. Ở nơi đó, chỉ có sự bình yên, thanh thản, an lạc và tự tại. Khi ấy con người sẽ sống với nhau bình đẳng hài hòa, không còn tâm phân biệt dân tộc này, tôn giáo kia, quốc gia nọ,...
Hãy sống yêu thương hòa hợp với nhau vì chúng ta là những con người - Những con người tinh khôn có hiểu biết, biết sống thương yêu!
Sao cứ phải là người Triều Tiên, Hàn Quốc, Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Đức, Somali, Campuchia, Việt Nam, Taliban, Palestin, Trung Quốc, Nhật Bản, Ả Rập, Iran, Cu Ba,...?
Khi nào sự phân biệt này còn rõ ràng thì khi đó con người còn nhiều khổ đau, còn chiến tranh thì nói gì đến hòa bình, tiến bộ và văn minh.

Nếu có thể chết cho người thật sống
Ta tiếc gì một giấc mộng phù hoa.

            Có thể mai này tôi sẽ chết cho sự thật, bạn đừng nghĩ tôi đang hối tiếc. Với Tình yêu thương chân thật hai chữ hối tiếc hoàn toàn không có. Tôi chỉ rất cần những người cùng có trái tim chân thật cộng tác để đưa Tình yêu thương chân thật lan xa đến với tất cả mọi người trên toàn thế giới, góp phần xóa hết những khổ đau nhân loại thông qua quỹ “Từ Bi Sinh Hỷ Lạc” và ngôi nhà “Nối lại những yêu thương”. Sẽ cần có rất nhiều người góp sức làm việc khi tôi không còn.
Đừng quên bạn sẽ không có được lợi gì ngoài Tình yêu thương chân thật vốn có trong bạn. Những việc bạn có thể làm được thì hãy tự làm lấy. Chỉ khi nào gặp việc ngoài khả năng như việc giúp đỡ một ai đó mà bạn không đủ sức thì hãy liên lạc với quỹ “Từ Bi Sinh Hỷ Lạc”.
Nhắc đến những người bạn vì một lý do nào đó chán ghét cuộc sống, muốn xả bỏ thân mạng như tôi dự định làm. Hãy nên cẩn trọng! Đừng quá hồ đồ! Thân người khó được, chỉ khi nào bạn thực sự phá bỏ cái tôi trong lòng thì hãy làm. Nếu không bạn sẽ phải lang thang, đói lạnh, khổ đau dai dẳng, không biết khi nào mới được giải thoát.
Tôi đã quán chiếu và cũng đã nhận biết được số lượng những người chán ghét thân mạng hiện nay là không hề ít.
Khi đạt đóa vô ưu, quán sát lại 3 cõi 6 đường, quả nhiên như lời Phật đã thuyết “Chỉ có loài người là chúng sinh có điều kiện nhất để tu tập đạt quả vị giải thoát”. Thế nên bạn cần giữ lấy thân mạng mình để dụng công tu tập vì “Thân người khó được, chánh pháp khó tìm cầu”. Dẫu rằng tôi cố gắng trình bày pháp Phật gần gũi hơn nhưng để người đời tin nhận và hành trì theo đúng chánh pháp là rất khó.
Nếu bạn đang có những phiền não, muốn xa lìa thì dễ đạt thành đạo quả hơn vì “Phiền não tức bồ đề” và tôi cũng từ phiền não mà đạt được đóa vô ưu. Chúc bạn sớm tìm được bồ đề trong tâm!

Rồi một ngày tôi không còn nữa
Trăng vẫn treo chênh chếch đầu ghềnh
Dòng sông xưa lại hiền hòa trôi chảy
Hoa cúc vàng bên khóm trúc lao xao.

            Sau giờ thiền định, hình bóng ba mẹ ập về trong tâm trí. Nhớ lại quãng đời thơ bé, gặp năm đói khát, làm ruộng mất mùa. Cả nhà ăn cháo độn rau cải, ba mẹ nén lòng nhìn các con ăn. Đến khi lớn lên, đôi lần lầm lỗi, tôi không dám về nhà, trốn trong đống rơm, bụi cỏ. Mắt nhìn thấy ba hoảng loạn ngụp lặn dưới ao tìm con. Nhớ lại, trong lòng tôi tràn đầy hối hận và đau xót.
Lại nhớ ba mẹ vất vả, nhà nghèo khó vẫn cố gắng nuôi con ăn học cho bằng chúng bạn.
Mới đó mà đã hơn 30 năm, giờ thì ba mẹ quạnh hiu, sớm chiều không một người con chăm sóc. Mẹ thì vụng về, ít học, chỉ biết thương con. Con đã lớn nghĩ tưởng con còn nhỏ dại, chăm lo từng miếng ăn, cái mặc, giờ giấc ngủ nghỉ và cả chuyện chúng bạn khiến các con thấy quá ngột ngạt, tù túng càng muốn rời đi. Lòng mẹ chứa đầy lo âu, phiền muộn gây khó dễ đôi điều chặn bước con đi. Nhưng chim kia đã lớn rời tổ bay đi. Lòng mẹ lại càng thêm lo lắng, muộn phiền. Giá như mẹ chịu nhận ra các con không còn nhỏ dại, sớm cho vào đời tự lập thân. Giá như mẹ chịu buông bỏ những việc vụn vặt đa đoan, sống thanh nhàn, hưởng chút an vui tuổi già.
Ba thì chấp trước. Muốn giữ gia quy “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”. Vẫn biết lòng ba thương các con vô bờ bến nhưng quá vọng chấp. Trong khi đó cuộc sống xã hội đã đổi thay, những suy nghĩ của ba đã không còn hợp thời cuộc. Thấy việc được mất, đúng sai trong công việc làm ăn của các con đem lòng ghi nhớ nên nỗi muộn phiền chất chồng. Lo buồn đã “Giận đông, mắng tây” nên nỗi các con không biết sống làm sao cho phải đạo. Nghĩ tưởng các con còn nhỏ cũng giữ chặt lấy.
Đến khi buông ra, các con đã lớn nhưng lại quen sống dựa vào người khác nên bước những bước đi chập choạng rụt rè khiến ba mẹ lấy làm thất vọng. Những người con - công việc chưa ổn định, lại thấy cuộc sống rối ren, khó khăn. Thêm nỗi ám ảnh về những đau khổ, buồn lo một gia đình không hạnh phúc, ấm êm khiến các con chưa có ý định lập gia đình. Điều này khiến ba mẹ buồn lo không ít.
Ngoài ra, sự sai khác về quan điểm sống của hai thế hệ. Khoảng cách giữa ba mẹ và các con đã tạo ra quá xa. Ba mẹ không hiểu được ý các con. Bức tường gia trưởng và những lo toan trong cuộc mưu sinh khiến các con không hiểu được ba mẹ. Mọi việc các con làm đều bị cha mẹ xét nét, đánh mất tự nhiên. Đôi khi mua món quà, cái áo cho ba mẹ lại bị ba mẹ phiền trách, lòng buồn không biết tỏ cùng ai. Ba mẹ muốn con làm điều này nhưng con không hiểu lại có lập trường riêng nên làm theo điều khác bị ba mẹ trách mắng hư đốn, khó dạy bảo. Khi con nhỏ dại, không ít lần đôi co khiến ba mẹ buồn phiền. Lớn khôn một chút, nghe ba mẹ mắng con chỉ biết lặng thinh. Chỉ tiếc ba mẹ lớn tuổi lại trách hờn nhiều điều vô cớ. Con không dám cãi lại đành phải rời đi. Một là không phải đôi co khiến ba mẹ buồn lòng. Hai là bước vào đời lập thân, tự lập trong cuộc sống. Tiếc thay ba mẹ không hiểu lại trách “Nuôi con lớn khôn, đủ lông đủ cánh. Nói động tới là nó bỏ đi”. Con vẫn nghe nhưng không dám phân bày, tội bất hiếu đành mang chứ ở lại sợ tạo thêm điều ngỗ nghịch.
Rồi khi hiểu lòng ba mẹ, thấy được những khó khăn, những nguyên nhân gây ra rạn nứt cho gia đình mở lời khuyên giải hàn gắn lại bị mắng là “Con ngỗ nghịch, cho ăn học rồi về lên mặt dạy khôn lại ba mẹ”.
Ba mẹ vọng chấp trách “Trứng mà đòi khôn hơn vịt” gây nên cảnh ly tán trong gia đình, con cái mỗi người đi một ngã.
Giờ thì con đã có chút hiểu biết, nhận rõ vô thường, thấy 3 cõi 6 đường không hư dối,... Chỉ thương ba mẹ tuổi đã cao lại không chịu buông bỏ, chấp chặt phiền lo; không chịu hưởng thanh nhàn tuổi già lại góp phần tạo nhân chia lìa. Vẫn biết vậy nhưng con không dám nói lời vọng, sợ ba mẹ lại chửi Phật, mắng Tổ nên nỗi có miệng mà không nói, có mắt mà như mù đành cô phụ tấm lòng thương con của ba mẹ.
Với chút hiểu biết cạn cợt, con không dám nhìn thấy lỗi người. Chỉ dám nhận lỗi mình bất tài vô dụng, không giúp ích gì được cho gia đình, không tạo được cho ba mẹ có cuộc sống thảnh thơi, an lạc lúc tuổi già. Con đành chấp nhận tiếng xấu của người đời - làm người con bất hiếu.





            27/12/2010, ngày tôi đạt được đóa vô ưu, tôi nhận ra từng bước chân của Phật trên con đường đưa đạo lý tỉnh thức - Đạo lý chứa đựng sự hiểu biết và tình thương yêu. Đạo lý xóa đi những nỗi khổ đau, phiền muộn; mang lại sự hạnh phúc, an vui cho nhân loại và muôn loài.
Điểm cao tột của đạo lý tỉnh thức giúp con người có cuộc sống tự tại, an lạc, giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.
Mỗi bước Phật đi là một đài sen rực rỡ, thơm ngát hiện ra. Câu nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” chứa đựng một sự thật mầu nhiệm. Sự giải thoát con người ra khỏi những khổ đau sinh lão bệnh tử. Nỗi khổ do sự thiếu hiểu biết về cảm giác, tri giác và nhận thức. Sự khổ vì phải sống chung cùng với người oán ghét. Sự khổ về yêu thương nhau mà phải chia lìa. Sự khổ về những mong muốn mà không đạt được,...
Mỗi bước Phật đi chứa đựng một sự tự do, giải thoát. Người bước những bước đi tự tại, an nhàn và thảnh thơi. Phật quay về xã hội loài người không gì ngoài việc cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi 6 đường.
Người không hề có ý định tạo lập một tôn giáo riêng, ngoài xã hội. Người tập hợp những người có cùng chí hướng truyền dạy họ giáo pháp giúp họ sống an lạc, tự tại và giải thoát.
Thông qua các giáo lý về tứ diệu đế  - Nói về các sự khổ; Nguyên nhân gây ra sự khổ; Cách diệt trừ sự khổ; Sự chấm dứt khổ đau. Cùng với vấn đề bản chất của vạn pháp - Nói về sự xuất hiện bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng do nhiều yếu tố nhân duyên tương tác, phối hợp sinh khởi ra. Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài quy luật đó; Và khi các yếu tố nhân duyên tan rã thì sự vật hiện tượng đó cũng sẽ biến diệt; Về các phương pháp để có được đời sống an lạc, hạnh phúc; Về con đường dẫn đến sự giải thoát mầu nhiệm - thoát ra khỏi vòng quay luân hồi sinh lão bệnh tử đã trói buộc chúng sinh nhiều đời, nhiều kiếp,...
Khi đạt được sự giải thoát, những người được Phật truyền dạy lại tiếp tục đưa giáo lý giác ngộ, giải thoát đến với mọi tầng lớp xã hội thời đó. Điều này giúp mỗi gia đình đều có cuộc sống hạnh phúc, sống theo chánh pháp góp phần tạo dựng một xã hội hòa bình, an ổn.
Khi Phật tại thế, việc đi khất thực là công việc quan trọng bậc nhất của người khất sĩ. Việc khất thực tuần tự theo thứ lớp từng nhà, từng làng xóm, thôn ấp,... không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, thành phần tầng lớp tôn giáo, xã hội giúp người khất sĩ rèn luyện tính khiêm cung, nhẫn nhịn cũng như rèn luyện giới hạnh. Từ đó, người khất sĩ kiểm chứng lại sự an lạc, tự tại và mức độ giải thoát của bản thân.
Nếu người khất sĩ còn có chỗ chướng ngại thì Phật sẽ tiếp tục hướng dẫn tu tập đạt đến quả vị giải thoát.
Đối với người dâng cúng vật thực, họ sẽ rèn luyện được tâm từ bi, tăng trưởng tình thương yêu đến người khác. Việc bố thí cúng dường là sự xả bỏ những đức tính ích kỷ, tham lam, bỏn xẻn,... để có được nhiều niềm vui trong cuộc sống hơn.
Người cúng dường nhân đó cũng có dịp tiếp xúc với sự an lạc, tự tại, thảnh thơi của người xuất gia. Họ có thể đặt những câu hỏi về giáo lý tỉnh thức, người xuất gia sẽ vì họ mà trình bày những vấn đề để giúp họ có được cuộc sống an lạc, hài hòa, hạnh phúc.
Chính vì sự tiếp xúc qua lại giữa những người tu sĩ giúp cho đạo lý tỉnh thức thấm nhuần vào trong xã hội. Ai ai cũng muốn có cuộc sống tốt đẹp bằng việc hoàn thiện bản thân, sống và làm theo chánh pháp. Nhờ sống tỉnh thức mà con người không làm ra những điều lầm lạc, làm vơi bớt những khổ đau. Muôn loài nhờ vậy cũng có được nhiều lợi ích.
Đáng tiếc, người đời sau u mê, đem tâm phân biệt cho rằng Phật tạo ra một đạo giáo riêng - Đạo Phật, để phân biệt với các tôn giáo khác. Vì thế, những đạo lý giúp con người thoát khổ, an lạc và giải thoát bị giới hạn trong các chùa, các tự viện; trong các Phật tử và tín đồ kính ngưỡng đức Phật. Giáo lý cứu khổ trở nên xa rời xã hội loài người.
Ngày nay, do sự mất quân bình giữa đời sống vật chất và đời sống tâm linh khiến cho con người có những bấn loạn về nội tâm làm cho xã hội loài người càng thêm bất ổn, kém an toàn. Việc tham đắm phục vụ cái tôi khiến con người càng trở nên tham lam, ích kỷ, tàn ác, nguy hiểm,... càng khiến cho con người đau khổ nhiều hơn.
Lúc bấy giờ người ta mới tìm đến các tôn giáo như là một cứu cánh, nhằm giải tỏa những bất an, cũng như cầu nguyện để xóa bớt những việc làm bất thiện, xấu ác khác,...
Vì u mê, vì thiếu hiểu biết, thiếu thầy bạn tốt dẫn đường. Họ đến với các tôn giáo khác nhau với cùng một đức tin để cầu nguyện, để xin Thần Thánh hay Đấng quyền năng nào đó cho họ bớt khổ, cho họ có được đời sống an vui, hạnh phúc,...
Quả thật, họ đã đánh mất niềm tin vào chính họ. Nếu họ đã vậy thì ai còn có thể tin họ, các Đấng quyền năng, các vị Thần Thánh,... hẳn không làm được điều này.
Bạn không thể đứng ở nơi chân núi, với niềm tin nhiệt thành rồi cầu Trời, khấn Phật, các vị Thần Thánh cho con được có mặt trên đỉnh núi mà bạn có thể toại nguyện được. Bạn phải bước những bước đi vững chắc trên đôi chân của chính bạn để chinh phục đỉnh núi kia.
Điểm qua giáo lý, kinh điển các tôn giáo tôi tạm phân ra làm hai nhánh chính là Thần giáo và Phật giáo.
Tôi nhận ra phần lớn giáo lý, kinh điển của các tôn giáo thuộc về Thần giáo đều có điểm chung “Hướng con người có một đức tin về một Đấng quyền năng như Thượng Đế, Đức Chúa Trời, Các vị Thần, vị Thánh,... đã tạo ra Con Người và Vạn Vật. Vì thế muốn có cuộc sống tốt, no đủ thì con người phải cúng bái cầu nguyện và làm những điều thiện mà các giáo lý răn dạy”.
Nhờ trí tuệ Phật gia hộ, tôi nhận ra có một sự khiếm khuyết trong vấn đề này. Dù giáo lý, kinh điển răn dạy bạn làm con người tốt, người thiện là một điều rất đúng đắn. Nhưng điều đó là chưa đủ để giúp bạn thoát ra những khổ đau trong cuộc sống hiện tại thì nói gì đến việc khi chết sẽ sinh về cõi Trời, cõi Thiên Đường, được gần gũi với Đấng quyền năng mà bạn tôn thờ.
Có chăng là bạn có một niềm tin để sống tiếp ở những tháng ngày về sau?
Tôi nói điều này liệu có đúng không?
Thực tế trong cuộc sống, dù là người giàu có hay nghèo khó đều gặp phải những khổ đau.
Ví như có một gia đình rất giàu có, họ có người con trai duy nhất được cho đi ăn học rất đàng hoàng. Cậu con trai đó được sống nuông chiều đâm ra hư hỏng ăn chơi trụy lạc vướng vào cả ma túy. Hai vợ chồng gia đình đó đều là những tín đồ thuần thành của một tôn giáo nào đó. Ngay khi cậu bé chưa ra đời, họ đã cầu nguyện những điều tốt lành.
Bây giờ họ vẫn cầu nguyện nhưng những khổ đau đó có dứt mất không?
Ví như một người nghèo khó có 5 người con, ông lo sợ vì không đủ khả năng nuôi chúng ăn học nên người.
Mai này, khi chúng lớn lên không biết chúng sống ra sao?
Ông vẫn thường cầu nguyện Phật và Bồ tát giúp con ông có cuộc sống tốt nhưng ông cũng không cảm thấy được an ủi nhiều lắm?
Tại sao?
Trong khi các tôn giáo khác trói buộc con người vào Đấng quyền năng để tôn thờ. Con người trở nên nhỏ bé trước Đấng quyền năng đó rồi bị lệ thuộc, tin vào số phận và đành chấp nhận số phận đó, không thoát ra được dù rằng rất khổ đau,...
Phật giáo hay nói đúng hơn là Phật Thích Ca có cách nhìn khác hẳn, bạn biết tại sao người nghèo khó kia rất tín thành cầu nguyện mà những đau khổ của ông không hề vơi bớt không?
Phật không chủ trương cho việc lễ lạy, cúng bái và cầu nguyện. Vì thế việc cầu nguyện không mang lại được nhiều lợi ích. Như tôi đã trình bày trước đó bạn phải đi lên đỉnh núi bằng chính đôi chân của bạn.
Có thể bạn sẽ hỏi:
Vậy Phật đâu có làm được việc gì?
Phật chỉ là người chỉ phương cách giúp bạn thoát khỏi những khổ đau trong cuộc sống. Chỉ rõ nguyên nhân, bản chất, cách thức diệt trừ và cách thức chấm dứt khổ đau. Cao hơn nữa, Người còn chỉ cho con người cách thức giác ngộ, giải thoát hoàn toàn qua việc thể nhập Niết bàn mà Người đã làm được.
Qua giáo lý nhà Phật, ta sẽ biết vạn pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã và Niết bàn - Nơi an trú của những vị Phật, Bồ tát, những người tu tập đạt được quả vị giải thoát - Là cõi thường lạc ngã tịnh. Bạn hoàn toàn có thể đạt được quả vị giải thoát chỉ cần có niềm tin sâu sắc và tinh tấn hành trì theo chánh pháp.
Tôi đề cập đến vấn đề niềm tin. Niềm tin của đạo Phật khác với niềm tin, đức tin của các tôn giáo khác. Đó là niềm tin có chứa đựng sự hiểu biết, sự giác ngộ. Bạn phải tin rằng chính bạn làm được. Chính bạn sẽ tự thoát ra khỏi những khổ đau trong cuộc sống. Bạn sẽ có được cuộc sống an lạc, tự tại và giải thoát bằng chính nỗ lực của bản thân. Cho dù bạn là người giàu có, nghèo khó, già trẻ, trai gái,... bạn đều có thể đạt được sự giải thoát hoàn toàn.
Điều đó có nghĩa là nếu bạn muốn đi lên đỉnh núi Phật sẽ chỉ cách thức để bạn đi lên núi dễ dàng nhất, tránh được những rủi ro, những khó khăn như hầm hố, cạm bẫy để bạn có thể đi lên đỉnh núi an toàn. Vấn đề còn lại là bạn có muốn đi lên núi không hay là đứng dưới chân núi cầu nguyện và chờ một phép lạ.
Thật không thể đưa một người từ dưới chân núi lên một ngọn núi cao khi mà người đó không muốn bước đi!
            Sẽ có nhiều người nhận định “Tôi không theo tôn giáo nào cả. Tôi tin vào khoa học thuần túy. Tôi không tin một thế giới nào khác tồn tại ngoài những sự vật, hiện tượng. Tôi vẫn sống an vui, tự do và hạnh phúc, tin vào Phật sẽ làm tôi cảm thấy bị trói buộc”.
Bạn có dám chắc là bạn sẽ sống hạnh phúc không biết đến khổ đau không?
Khi khổ đau bạn có chắc rằng niềm tin khoa học sẽ giúp bạn thoát ra được không?
Phật cũng không yêu cầu bạn lễ lạy, cúng bái. Phật chỉ là người thoát ra khỏi những khổ não trong cuộc sống, được giải thoát hoàn toàn. Nhân đó, Người chỉ đưa ra những phương cách giúp nhân loại thoát khổ, giải thoát,... Nếu bạn cần thì tùy nghi sử dụng để giúp mình, giúp người.
Bạn sẽ cho rằng tôi không nói đúng sự thật. Bạn vẫn thấy ở chùa người ta vẫn đốt nhang, cúng bái, cầu nguyện hàng ngày. Nhiều người làm như vậy có lý nào họ sai tôi lại đúng.
Trước khi nhập Niết bàn, Phật truyền dạy các đệ tử “Xá lợi thu được từ xác thân Phật chuyển cho vua các nước và các hạng cư sĩ mộ đạo chiêm ngưỡng, giữ gìn”. Mục đích sâu xa của việc làm này giúp cho con người nhớ rằng đã từng có một bậc giác ngộ sống an lạc, tự tại, giải thoát - Một người có tấm lòng từ bi xót thương cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi. Qua đó, giúp cho con người cũng nhớ ra trong mỗi chúng sinh đều có Phật tánh. Chỉ cần hành trì đúng pháp sẽ liễu thoát sinh tử, kiến tánh thành Phật.
Đệ tử Phật, những người xuất gia và những cư sĩ tại gia, bấy giờ vì thương tưởng quý mến bậc thầy giác ngộ đáng kính nên đã tôn thờ, cúng bái Phật.
Theo năm tháng việc thờ cúng thành lệ khiến người đời sau lầm lạc. Đến khi mất hết niềm tin và tiêm nhiễm các tôn giáo khác, việc tôn thờ lùi thêm một bước nữa trở thành cầu nguyện. Thật là “Đổi trắng thay đen”. Đến nay, Phật nhập diệt đã lâu, thật giả khó phân. Chỉ có những người thông qua giáo lý Phật, miên mật hành trì, chứng ngộ bản tâm thì sẽ nhìn mỗi bước đi của Phật rõ như trong nhà tối được thắp đèn lên, mọi vật phơi bày.
Khi Phật tại thế, Người thuyết về tam bảo như 3 viên ngọc quý:
Phật bảo:
Là người giác ngộ tột cùng, thoát ra hoàn toàn mọi khổ đau, sống an lạc, tỉnh thức. Đạt pháp vô sanh - không sinh, không diệt.
Pháp bảo:
Là những phương pháp giúp chúng sinh thoát ra mọi khổ đau, đạt được sự an lạc, giải thoát hoàn toàn. Nếu ai chứng ngộ được pháp bảo thì sẽ nhìn thấy mỗi loài, mỗi vật, mỗi con người,… đều là pháp bảo cả.
Tăng bảo:
Là đoàn thể những người sống đời phạm hạnh, gìn giữ Pháp bảo, Phật bảo; Vì chúng sinh mà thuyết pháp độ sinh cứu khổ muôn loài. Trong đó, có chúng sinh không thân, giúp chúng sinh nẻo vô hình an tâm sớm được siêu thoát.
Vì Tam bảo là 3 viên ngọc quý của nhân loại nên việc vọng bái, cúng dường là để Tăng bảo duy trì giữ gìn chánh pháp, để pháp Phật mãi lưu truyền cứu khổ người đời sau.
Với mục đích lớn lao vĩ đại như thế, bạn nghĩ sao?
Có đáng để nhân loại lễ bái, cúng dường không?
Người đời sau:
Tầm nhìn cạn cợt. Tự nghĩ tưởng hiểu biết thông minh sâu rộng dùng tâm phân biệt lạm bàn về đạo Phật, cho rằng Phật giáo chủ trương đoạn diệt. Người đang trong mộng, mở lời nói mê. Thật quá nông nổi!
Ví như ngày nay chỉ khi dùng kính hiển vi, con người mới nhìn thấy những con vi sinh vật có trong một chén nước.
Vậy mà khi Phật còn tại thế, Người đã nhận ra sự hiện diện của những loài nhỏ bé này rồi. Những chúng sinh này cứ luân chuyển trong sinh tử qua từng loài khác nhau như các loài thấp sinh, thai sinh, noãn sinh, hóa sinh. Vòng sinh diệt này biến chuyển liên tục lên xuống theo nghiệp nhân quả mà tâm ý mỗi chúng sinh tạo ra.
Phật khẳng định không có gì từ không mà trở nên có. Cũng không có gì mà từ có trở nên không. Vạn vật theo duyên sinh, theo duyên mà biến diệt.
Người đời lầm lạc cho rằng Phật khuyến khích những người cùng chí hướng ly gia cắt ái sẽ làm dứt mất loài người. Thật quá mê mờ!
Đệ tử Phật gồm hai thành phần:
Đệ tử xuất gia:
Là những người có chí hướng xuất trần. Việc cắt ái, ly gia giúp họ dũng mãnh, tinh tấn tu hành để sớm đạt được sự an lạc, giải thoát, liễu ngộ sinh tử vào đời cứu độ người.
Tuy nhiên, ngoài những người xuất gia với chí hướng cứu người, giúp đời cũng tồn tại những hạng người xuất gia biến tướng khác. Thành phần này đều có ở khắp tất cả các tôn giáo khác.
Đệ tử tại gia:
Còn gọi là cư sĩ tại gia sống trong xã hội vướng bận việc gia đình, xã hội nên chỉ phải giữ năm giới cấm, thực hành thiện nghiệp nhằm giảm bớt những ham muốn có thể gây khổ cho mình, cho người khác và loài khác.
Khi thực hành sống theo chánh pháp thì sẽ có một đời sống quân bình ấm no, hạnh phúc, có quả báo tốt ở đời sau.
Điều này không có nghĩa là người tại gia không liễu thoát được sinh tử, không chứng ngộ được pháp vô sanh.
Nếu người cư sĩ tại gia sống theo chánh pháp; Hành trì theo hạnh từ bi hỷ xả, biết buông bỏ, không vướng mắc gì thì vẫn đạt được sự giải thoát như người xuất gia.
Như Phật đã từng thuyết “Chúng sinh ai cũng có Phật tánh”, “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”.
Vậy có ai là không có tánh Phật đâu?
Vậy tại sao bạn không thông qua kinh điển, giáo lý của Phật hành trì phá bỏ cái ngã vô thường trong xác thân vô thường, tạm bợ?
Thể nhập tâm vào cõi Phật, để thành Phật, sớm thoát khỏi khổ đau, đạt được sự giải thoát.
            Phật vì muốn xa lìa sự khổ về sinh lão bệnh tử. Sự khổ về cảm thọ, cảm giác, tri giác, nhận thức mang lại như những buồn lo, muộn phiền, tranh giành, ganh ghét, si mê, tham đắm,... Phật đã từ bỏ ngôi vị thái tử ra đi tìm đạo.
Với kiến thức uyên thâm về đạo pháp, Người lại được những vị thầy giỏi truyền dạy. Người mau chóng đạt đến trạng thái thiền định vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ  - Là mức định tột cùng mà những vị thầy đạt được. Nhưng khi xuất định thì những lo âu, phiền muộn cũng không dứt, Người nhận định “Nếu chỉ khi nhập định thì mới đạt trạng thái an lạc, xuất định thì tâm vẫn không an thì sao có thể gọi là giải thoát được”. Biết không còn có thể học thêm được gì Người quyết định đi tìm sự giải thoát, an lạc ngay trong tự tâm. Phật đã từ tạ các vị thầy đáng kính.
Phật đã kiểm chứng lại lối tu khổ hạnh mà trước đó Người đã không chấp nhận. Kết quả việc tu khổ hạnh khiến Người suýt mất mạng. Phật khẳng định lại một lần nữa “Không có việc hành hạ xác thân mà có thể mang lại sự giải thoát an lạc cho tâm”.
Người từ bỏ lối tu khổ hạnh đến ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ đề.
Trải qua một thời gian dài thiền định và quán chiếu, Người dần nhận ra loài người đã sai. Kinh điển các tôn giáo đã không đúng khi thừa nhận Con Người và Vạn Vật là do một Đấng quyền năng nào đó sinh ra. Con người phải thờ phụng, cúng bái và cầu nguyện thì mới có cuộc sống hạnh phúc, ấm no.
Sự quy thuận đó đã trói buộc con người mất hết tự chủ, chấp nhận số phận, cam chịu những khổ đau, hoặc mê mờ, tham đắm cầu nguyện nhờ Ơn Trên cứu giúp, phù hộ.
Nhưng điều đó lại không giúp được con người thoát khỏi những ưu tư, phiền muộn, khổ đau về sinh lão bệnh tử. Sự khổ về cảm giác, tri giác,... Sự khổ vì không hiểu biết về cuộc sống mang lại,...
Tiếp tục công trình thiền quán, Người lại nhận ra không có cái tôi thường tại trong bất kỳ sự vật hiện tượng nào. Bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng do muôn duyên hợp, không có thực thể. Khi tan hoại thì trả về cho muôn duyên, không có sự vật hiện tượng nào tách rời độc lập mà có thể tồn tại.
Ví như xác thân của con người là do tứ đại hợp thành đến khi chết đi, tàn hoại thì trả về tứ đại. Tâm của con người cũng là do cảm giác, tri giác, nhận thức, suy nghĩ đan xen, đổi thay biến chuyển liên tục và cũng không có thực thể. Khi con người chết thì tâm sẽ theo nghiệp báo trôi lăn trong 3 cõi 6 đường.
Người lại nhận ra có một cái tâm thường tại dung chứa cả tứ đại, sơn hà đại địa. Tâm đó rỗng rang mà mầu nhiệm không sinh không diệt, không tăng, không giảm, không dơ, không sạch. Phật thể nhập tâm mình vào cái tâm thường tại kia.
Khi đó, thân tâm Người chấn động, Phật nhận ra rõ tất cả muôn pháp, nhìn thấu rõ 3 cõi 6 đường chỉ là những vọng tâm sinh khởi, những vòng tròn sinh diệt biến chuyển không ngừng. Phật nhìn rõ tiền kiếp, hiện kiếp, hậu kiếp của Người và của tất cả chúng sinh có trong 3 cõi.
Ngay đó, Phật chứng được pháp vô sanh không sinh, không diệt. Nhìn rõ vạn pháp như huyễn không thật có, cũng không thật không.
Nhận rõ sự khổ, nguyên nhân sự khổ, cách diệt khổ và chấm dứt sự khổ đau. Quán sát chúng sinh trong 3 cõi trôi lăn trong sinh tử, Phật xót thương nhập thế, thuyết pháp độ sinh, cứu khổ muôn loài.
Vì vậy, Phật không chủ trương xuất thế mà là nhập thế cứu khổ muôn loài. Đạo Phật không phải là một tôn giáo thuần túy. Việc giới hạn giáo lý, kinh điển Phật trong các chùa, tự viện là một sự lầm lạc, không đúng theo bi nguyện của Người.
Phật thuyết pháp để cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi 6 đường. Ở nơi đâu có sự khổ, ở chúng sinh nào cần có sự giải thoát thì nơi đó cần có pháp Phật. Phật đã thuyết “Chúng sinh, ai cũng có Phật tánh”.
Thế nên bạn đừng khởi sự phân biệt vì không ai không có tánh Phật cả cho dù bạn là tín đồ thuộc tôn giáo khác hoặc là bạn không theo bất kỳ tôn giáo nào. Cho dù bạn thuộc những tầng lớp thành phần xã hội, quốc gia khác nhau,... Chỉ cần bạn có mặt trong 3 cõi 6 đường thì trong bạn đã có sẵn Phật tánh.
Nếu ai đó tin sâu, hành trì những phương pháp chỉ dẫn của đức Phật thì việc để có cuộc sống an lạc, tự tại, hạnh phúc là điều không khó. Việc giải thoát hoàn toàn là điều chắc chắn bạn sẽ làm được.
Xã hội ngày nay mải mê theo đuổi vật chất khiến con người mất quân bình về đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Đã có những rối loạn nội tâm, loài người bị mất phương hướng, mất niềm tin và đánh mất hạnh phúc.
Có một sự thật là con người ngày càng thủ đoạn, tàn độc và nguy hiểm hơn. Con người đã, đang có ý thức quay về nuôi dưỡng lại tâm hồn, quay về với đời sống tâm linh.
Tôn giáo có dịp phát triển trở lại. Những kẻ cơ hội trong bất kỳ xã hội nào, thời đại nào cũng tồn tại - Những con người lầm lạc luôn tự phụ thông minh, khôn khéo, biết nắm bắt thời cuộc. Nào hay đang tự “Đào mồ chôn mình”, cánh cửa Địa ngục đang mở rộng chờ họ quay về. Điển hình là nhiều tôn giáo khác lạ ra đời, là hình thái biến tướng của những tôn giáo truyền thống. Tự xưng thần, xưng thánh; giở trò “Hù ma, dọa quỷ”; chối bỏ minh sư, tự cho mình cao tột, hư trương thanh thế, lôi kéo tín đồ nhằm thu đoạt nhiều lợi dưỡng hoặc mưu đồ việc riêng. Lừa người, dối mình thiết nghĩ những kẻ lầm lạc kia nên sớm quay đầu nếu không hậu kiếp thật khó có thể nghĩ tưởng.
Nếu bạn u mê lầm lạc gia nhập vào các tôn giáo hại người, hại mình thì khó tránh khỏi những liên lụy. Rất mong bạn tỉnh táo, sáng suốt chọn minh sư. Đừng để phải một đời lầm lạc. Thân người khó được.
Điểm qua tình hình các tôn giáo, việc cầu nguyện bị lạm dụng quá mức,... nhưng không mang lại nhiều lợi ích.
Cụ thể là đau khổ ở loài người vẫn còn đó. Những mong các bậc chư tôn đức trong Tăng bảo vì con người mau chóng xã hội hóa Phật giáo - Phật giáo quy nguyên. Trả Phật giáo về cho xã hội, xóa bỏ định kiến “Phật giáo là một tôn giáo thuần túy”. Giúp cho loài người có lại được sự an vui tự tại, niềm hạnh phúc chân thật. Góp phần làm cho xã hội công bằng, văn minh, tiến bộ; giúp thế giới dứt trừ chiến tranh, hận thù, khổ đau và trái đất được an toàn hơn.
Lời nhắn gửi đến những nhà lãnh đạo, những nguyên thủ quốc gia, những nhà làm chính trị và cả nhân loại:
Thiết nghĩ những nhà lãnh đạo, những nguyên thủ quốc gia, những nhà chính trị và nhân loại phải nên có cái nhìn thấu đáo, sáng suốt và rõ thật nhằm hỗ trợ, hộ trì chánh pháp. Chủ nghĩa duy vật đã đi quá xa; đã sai lầm khi xóa bỏ, triệt tiêu sự tồn tại của chủ nghĩa duy tâm. Kết quả là tạo ra khoảng trống tâm linh trong lòng nhân loại, khiến cho nội tâm con người rối ren, bấn loạn. Con người sống hưởng thụ, tham lam, ích kỷ,... gây thù chuốc oán, tàn độc và nguy hiểm. Đó là sai lầm của nhân loại. Đã đến lúc sửa sai trước khi nhân loại chìm trong chiến tranh, hận thù và đau khổ. Trước khi trái đất bị nổ tung.
Chương VII

Khi Phật còn tại thế, Người có chia sự phát triển của Phật giáo sẽ trải qua 3 thời kỳ:
o       Thời kỳ Chánh pháp.
o       Thời kỳ Tượng pháp.
o       Thời kỳ Mạt pháp.
            Phần lớn người học Phật cho rằng “Hai thời kỳ đầu - Chánh pháp, Tượng pháp - đã qua khá lâu”.
Hiện nay, người học Phật chưa đạt sự tỏ ngộ đều có cùng nhận định Phật giáo đang ở thời kỳ Mạt pháp.
Khái niệm về thời kỳ Mạt pháp là gì?
Thời kỳ Mạt pháp là thời kỳ người hiểu đạo thì nhiều người hành đạo chân chính thì ít. Người đạt đạo càng hiếm hoi. Thế nên, có rất nhiều người hiểu biết về kinh điển, giáo lý cứu khổ, xóa khổ của Phật nhưng những con người hiểu biết đó vẫn còn đó khổ đau khi đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống.
Tại sao lại như vậy?
Hiện tại, người hiểu đạo thời nhiều vì điều kiện tiếp xúc giáo lý Phật có phần dễ dàng hơn. Trình độ nhận thức của con người ngày nay cũng cao hơn nên việc hiểu đạo được thuận lợi nhưng điểm yếu của con người hiện nay là sức sống nội tâm kém, nhận thức hời hợt, không sâu sắc.
Khi người học Phật có ít hiểu biết chánh pháp dựa trên lý thuyết thì đã cả nghĩ tưởng thông đạt Phật pháp. Từ đó, người tu học vội đưa pháp Phật ra lạm bàn hay dở, cạn sâu, cao thấp,... giữa và các pháp rơi vào hý luận. Việc làm này đã không mang lại nhiều lợi ích cho việc tu học, mà còn gây ngộ nhận cho người đời.
Đến khi, những người học Phật rơi vào hý luận gặp những thử thách, khó khăn trong cuộc sống thì tham lam, sân hận, si mê, đau khổ, lo lắng, muộn phiền,... vẫn còn nguyên vẹn khiến cho người đời lầm lạc mất niềm tin với việc tu hành, coi thường đạo Phật.
Người hành đạo thời ngộ nhận lý sự. Người học Phật tự phụ thông minh, tu hành trên sách, làu thông kinh điển. Ngu muội nghĩ tưởng đạt lý, thông sự. Dấn thân vào đời dạy người tu học. Chẳng may đặng phước báo ngay hiện tiền, được đàn na, tín thí cúng dường. Vì người tu học chưa thông đạt lý sự nên bản ngã ngày một lớn, sinh tâm kiêu mạn, rơi vào lợi dưỡng. Chẳng mấy chốc người học Phật rơi vào ma đạo, chìm nổi trong biển khổ luân hồi.
Thêm lời nhắn gửi cho những người học Phật theo sự bỏ lý. Trên bước đường hành đạo, hành giả nhận được phước báo quay về, được nhiều lợi dưỡng. Nếu hành giả biết sợ rơi vào đường tà, lối rẽ thì hành giả cũng đừng quá sợ sệt, không dám nhận phẩm vật cúng dường. Hành giả cứ hãy nhận lấy. Sau đó, người học Phật hãy tùy thuận việc “Của thiên hạ trả về cho thiên hạ”. Đừng để tâm dính mắc lâu ngày, dài tháng hành trì người học Phật sẽ đạt được “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Điều quan trọng nhất là bạn đừng để tâm dính mắc vào việc đã làm, đang làm và sẽ làm.
Tại sao người đạt đạo thời ít?
Người tu đạo bị rơi vào tà kiến, kiến chấp - Thời Mạt pháp, pháp Phật không còn vẹn nguyên, niềm tin giải thoát ngay trong kiếp hiện tại là không còn. Người này trì chí ôm tâm cầu pháp, đi đứng nằm ngồi đều y pháp hành trì, chỉ tiếc là không có niềm tin ngay hiện kiếp thì sao được đặt chân vào đất Như Lai.
Nếu may mắn gặp thiện tri thức chỉ điểm, hành giả buông bỏ kiến giải, lập tức thành Phật.
Nếu hành giả không buông bỏ kiến giải, ôm mộng tạo duyên chờ Phật Di Lặc ra đời thọ ký thành Phật hoặc không gặp được thiện tri thức thì chôn vùi một đời tu.
Đợi Phật Di Lặc ra đời đến gặp và nói với bạn “Ta là Phật Di Lặc. Trước được Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký làm Phật ở cõi Ta Bà kiếp này. Nay ta thọ ký cho ông làm Phật hiệu… ở cõi...”.
Điều này thật là nằm mơ, nói mộng. Phỉ báng kinh Phật. Hãy mau sớm tỉnh thức! Phật Di Lặc đã ra đời. Lời này không chút hư vọng.
Thời kỳ Mạt pháp, pháp vốn không mạt. Chỉ vì con người ngày nay quá tự tin vào trí tuệ, sự hiểu biết. Chỉ biết dùng tâm phân biệt lạm bàn việc của hiền Thánh và chư Phật. Tâm nghi không dứt đâu thể hành trì. Người thì hiểu biết nông cạn, mất niềm tin, yếu đuối; đến với Phật giáo, chỉ biết lễ bái, cầu nguyện, đâu cần tìm hiểu giáo lý, không biết đến phương pháp tu hành thì làm gì có sự tiến tu. Người thì tâm ý cao ngạo, giữ nguyên định kiến tin sâu khoa học thuần túy, không tin vào sự tồn tại của thế giới tâm linh. Nào hay nửa sự thật không thể là sự thật, u mê như vậy, không biết chánh pháp nên không có được đời sống an lạc,...
Chỉ mong bạn sau khi đọc hết quyển sách này, mỗi người sẽ có những chuyển biến, dứt bỏ những kiến chấp.
Dừng lại chiêm nghiệm tìm ra phương pháp hữu hiệu để đối trị những khổ đau, sự tham lam, sân hận, ganh ghét, si mê, lầm lạc để có được cuộc sống an lạc, tự tại và hạnh phúc.
Khi bạn tin sâu vào sự giải thoát hoàn toàn mà kinh Phật lưu truyền lại, bạn chuyên tâm hành trì. Đến một lúc nào đó, bạn sẽ tỏ ngộ. Điều này tùy thuộc vào mức độ niềm tin sâu cạn và công phu hành trì của mỗi người. Niềm tin này là ở tự tâm chứ không phải ở “Đầu môi, chót lưỡi”.
Lúc đó, bạn sẽ nhìn thấy rõ 8 vạn 4 ngàn pháp môn giải thoát của Phật là thật có, không chút hư mất, nguyên vẹn. Đến nay, tôi có thể nhìn thấy pháp Phật có ở mọi nơi, mọi lúc. Không có một pháp môn nào không mang lại sự giải thoát cả. Trong từng chữ, từng câu trong kinh Phật chứa đựng pháp môn giải thoát như Niết bàn, từ, bi, hỷ, xả, tâm, pháp, giác ngộ, giải thoát, sinh tử, vô thường, thường, khổ, sắc tức thị không, ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm,...
Tôi nhìn pháp môn giải thoát có trong bạn, trong hạt mưa rơi, chiếc lá, cánh hoa sen, dòng nước trôi,...
            Có thể bạn sẽ không tin tôi đạt được sự tỏ ngộ như thế. Tôi mượn câu chuyện kể của đức Phật mà nói lại:
Một người khôn ngoan, có hiểu biết không bao giờ khinh thường bốn vật bé nhỏ. Đó là một vương tử bé, một con rắn nhỏ, một đốm lửa hồng và một nhà tu trẻ. Vị vương tử tuy bé nhưng cũng có vương tính của một đức vua, không thể xem thường. Một con rắn nhỏ có thể làm ta mất mạng trong chốc lát. Một đốm lửa hồng có thể thiêu rụi cả một khu rừng hay một thành phố lớn. Nhà tu trẻ cũng có thể đạt đến quả vị giác ngộ hoàn toàn.
Một người khôn ngoan không bao giờ khinh thường một vương tử bé, một con rắn nhỏ, một đốm lửa hồng và một nhà tu trẻ.
Còn tôi thì chưa được là nhà tu trẻ.
Tôi tự nhận sự hiểu biết về đạo nông cạn so với các bậc hiền Thánh chỉ như là hạt bụi so với vô số hạt bụi tồn tại trong vũ trụ. Nhưng tôi có chút may mắn, tôi sinh ra trong một gia đình khó khăn, những khó khăn về vật chất. Nhất là về tinh thần khiến tôi rất nhiều phiền muộn, khổ não. Tôi sớm có ý định thoát ra khỏi khổ đau. Cho đến khi tôi buông bỏ mọi thứ về chùa sống cuộc sống không lo nghĩ.
Khi đó, tôi vẫn mang theo kiến chấp của khoa học và chủ nghĩa duy vật. Tôi không tin có một thế giới khác - Thế giới cõi vô hình.
Tôi chỉ trốn tránh những phiền muộn lo toan, vớ vẫn trong đời đi tìm sự an lạc trong tự tâm.
Tôi cũng cầu nguyện mong chư Phật gia hộ sớm đạt được sự an lạc và thuận lợi xuất gia.
Cho đến khi gặp và trò chuyện với phần còn lại của thế giới. Lần đầu tiên gặp mặt ngắn ngủi, tôi cứ nghĩ mình mỏi mệt, chưa ngủ nhưng sinh ra ảo giác. Lần thứ hai, tôi gặp phần còn lại của thế giới, được dịp ngồi trò chuyện lâu hơn. Đến sáng, tôi đem việc hỏi lại sư thầy. Quả thật là có nhiều việc trùng khớp khiến tôi không thể không tin nhận về sự tồn tại của một thế giới khác song song với thế giới của sự vật, hiện tượng.
Niềm tin sâu vào kinh điển Phật tăng lên, tôi hành trì và đạt được ít nhiều sự tỏ ngộ.
Tôi không muốn gieo vào lòng người sự mê tín. Tôi chỉ muốn nói rằng thật sự có một thế giới khác tồn tại mà ta không nhìn thấy được. Cho dù khoa học và nhân loại không thừa nhận thì sự thật vẫn là sự thật. Có thể bạn sẽ thách thức tôi hãy chứng minh điều đó.
Tôi chỉ có thể hỏi lại “Sao bạn không chứng minh cho mọi người rõ thế giới vô hình không hề tồn tại?”.
Nói thêm về khoa học. Khoa học chỉ là một cậu học trò yếu kém học theo thế giới tự nhiên. Là kẻ cắp vụng về nhưng lại khéo che đậy bằng câu nói “Ta là người đầu tiên làm ra được. Đó là sản phẩm trí tuệ của ta”.
Sao không tự hỏi trí tuệ ở đâu mà có?
Nếu vẫn u mê trả lời do thông minh, ham học hỏi, chịu khó nghiên cứu tìm tòi và phát minh. Tôi sẽ lại hỏi “Không có bộ não, con người còn trí tuệ không?”.
Thật là vừa ăn cướp vừa la làng! Tôi nhìn thấy vừa buồn cười nhưng cũng thật lòng khen khoa học cũng khá giỏi khá hay, góp phần làm xã hội phát triển.
Nhưng khoa học lại sai lầm khi chối bỏ sự tồn tại của duy tâm.
Lại một câu hỏi khác được đặt ra “Tại sao Phật phải gặp rất nhiều khó khăn trải qua thời gian dài, nhiều đời, nhiều kiếp tu hành mới đạt được sự giải thoát, giác ngộ hoàn toàn?”. Còn tôi sao lại mau chóng đạt được sự vô ưu? Lẽ nào, tôi tài giỏi hơn Phật?”.
Thật là...! Ai dám đảm bảo rằng tôi chỉ vừa mới tìm đạo?
Tôi cũng không từng nói đạt được sự giác ngộ giải thoát cao tột. Tôi chỉ có được đóa vô ưu.
Hơn nữa, tôi cũng gặp không ít  khó khăn để có được sự tỏ ngộ.
Xét lại bối cảnh tìm đạo của tôi và Phật có nhiều điểm khác nhau nhưng cùng có điểm chung là mong muốn thoát ly, xa lìa sự khổ.
Phật thì xuất thân trong gia đình quyền quý, vương giả thuộc thành phần Sát đế lợi. Người nhận thấy những khổ đau của con người qua việc thấy những hờn giận, tranh đua, ganh ghét, si mê,... của những người trong hoàng tộc. Thấy được sự sinh lão bệnh tử của những người dân nghèo khó. Người cảm thấy chán ngán sự xa hoa, thừa mứa, tạm bợ của cuộc sống hoàng cung. Người muốn thoát ra khỏi vòng tròn sinh lão bệnh tử đã trói chặt đời người. Người muốn những người dân nghèo thoát khổ, có đời sống ấm no, an lạc.
Nhưng Người cũng nhận ra vật chất cũng không giúp ích cho con người thoát khổ thể hiện rõ ở những con người trong hoàng tộc, giàu có quyền quý là vậy mà vẫn lẩn quẩn trong những nỗi khổ về sự hơn thua, tranh giành và được mất,... Người mới lên đường tìm đạo.
Phật còn gặp một sự khó khăn lớn hơn nhiều. Đó là giáo lý kinh điển ngày đó đã từ lâu trói buộc con người phải quy thuận một Đấng quyền năng, ép ngặt con người mất hết sức phản kháng. Để phá bỏ cái định kiến lâu đời này chỉ có trí tuệ Phật mới có thể làm được.
Tôi thì lại khác. Xuất thân trong gia đình đông anh em. Cuộc sống có phần khó khăn khiến cho những xung đột trong gia đình xảy ra thường xuyên. Tôi lại ít được va chạm cuộc sống, không có chỗ để giải tỏa những ưu phiền. Tôi sớm có ý thức thoát ly xa rời sự khổ.
Qua kinh Phật, tôi được biết trong cuộc sống có rất nhiều sự khổ khác nhau nhưng cội rễ sự khổ thì chỉ có một. Tôi nhận ra quả thật đúng như vậy. Pháp giải thoát của Phật đã sẵn có, lại được thử thách nên việc đạt được đóa vô ưu có phần mau chóng, dễ dàng hơn. Điều này phù hợp với câu Phật thuyết “Phiền não tức Bồ đề”.
Tại sao?
Tại vì ngay trong phiền não mà tôi có ý định thoát ly, xa lìa. Khi được Phật chỉ bày nhận ra phiền não, nguyên nhân gây ra phiền não, cách diệt trừ. Đến khi tôi đạt được sự chấm dứt phiền não thì nhận ra phiền não chính là cội gốc Bồ đề.
            Sau một thời gian tin sâu giáo lý nhà Phật, tôi hành trì và có được ít tỏ ngộ. Thấy rõ vạn pháp do muôn duyên hợp, do tâm sinh biến diệt không dừng nghỉ, khiến chúng sinh trôi lăn trong 3 cõi 6 đường. Nguyên nhân do sự vô minh - là sự u mê, thiếu hiểu biết về bản thể tịch tĩnh rỗng rang; vọng tâm sinh khởi, tham đắm chất chứa nghiệp báo nhân quả chằng chịt đan xen nên nỗi trôi lăn trong biển khổ sinh tử chịu bao điều phiền não,... Bất chợt tôi cảm thán:                      
                                               
Gọi em
Anh gọi
Vô thường
Em là trăng
Bao lần tròn khuyết
Em là sông
Mấy bận đầy vơi
Là thời gian
Cho phai phôi màu tóc
Là tử sinh
Cho anh hoài mệt nhọc
Phút u mê
Lỡ lầm
Anh khẽ gọi
Là ngàn năm
Anh cam chịu đọa đày.

            Sau khi tỏ ngộ, đạt được đóa vô ưu. Thấy được sự mầu nhiệm của giáo lý nhà Phật, tôi có được tâm trí an lạc, thảnh thơi nhìn lại những bước đường tu học. Nhận biết muôn pháp của đức Thế Tôn, nhìn rõ pháp tâm truyền tâm của chư Tổ có đôi dòng tác bạch:

Sinh tử là trò chơi
Tham lam trôi lăn mãi
Sân hận cứ luân hồi
Si mê trầm lục đạo
Bao điên đảo trong đời
Minh tâm dừng vọng tưởng
Kiến tánh nhập Niết bàn
Tỉnh giác ngộ lìa mê
Thôi luân hồi sinh tử.

            Người đời lầm lạc ngỡ sinh tử là trò chơi của nhân gian đem lòng tham đắm. Nào hay là trò chơi của nhân duyên nghiệp quả nên nỗi đau khổ, điên đảo trôi lăn trong 3 cõi 6 đường. Tạo ra trùng trùng nhân quả mê mờ, không lối thoát.
Phật Thích Ca vì thương tưởng chúng sinh thuyết muôn pháp để cứu độ. Phật Thích Ca nhập diệt. Người đời u mê chấp pháp, chấp ngã, chấp danh, chấp có, chấp không,... Lầm lạc mua dây trói mình. Càng vùng vẫy càng thêm phiền não.
Người đời lầm lạc chấp có, chấp không. Địa ngục vốn có vọng tưởng chấp không tự ý gây ra nhân quả thiện ác dẫn đến trôi lăn trong sinh tử. Khi thì sinh lên cõi Trời, cõi Người, cõi Atula. Có lúc lại mang trên mình nào vẩy, nào lông thú làm kiếp súc sinh. Lắm lúc lâm vào kiếp ngạ quỷ sống lang thang, đói lạnh. Không ít lần rơi vào Địa ngục chịu muôn điều hành hạ, đau không kể siết, không biết ngày ra.
Thân tâm vốn không chỉ do muôn duyên hợp, vọng tâm chấp có. Tự ý tạo tác, buông lung tánh ý, tham đắm, si mê, sân hận, hung dữ, điên đảo gây ra bao điều xấu ác, gây khổ hại người,... Ngờ đâu tạo nhân gây khổ cho mình rơi vào 3 đường ác - Địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đến khi vô thường gọi thân đi đằng thân, tâm đi nẻo khác. Thân tàn hoại trả về cho tứ đại.
Vậy thân thật có không?
Tâm vốn rỗng không vọng chấp có, chúng sinh trong 3 cõi không chịu buông bỏ đi theo nghiệp quả nhân duyên tạo tác trôi lăn, chịu khổ khốn cùng.
Những may Phật Thích Ca xuất thế, thương tưởng chúng sinh. Tâm vốn không pháp, Phật thuyết muôn pháp giúp chúng sinh thoát khỏi trầm luân. Đến khi Phật nhập diệt - Con mắt thế gian không còn. Người đời vọng chấp thành tánh đem lòng chấp pháp giữ mãi không buông. Chư Tổ ra đời, dùng yếu chỉ tâm truyền tâm. Chúng sinh kiến tánh, nước trong trăng liền hiện. Ngay đó thành Thầy Tổ.

Tâm vốn không pháp
Cứu khổ chúng sinh
Phật thuyết muôn pháp
Chúng sinh chấp pháp
Chư tổ lặng thinh
Dùng Tâm truyền Tâm
Nước trong, trăng hiện.

Tham tâm cầu Pháp, ham học hỏi giáo lý kinh điển Phật, tham cứu giải trình công án,... đều là bệnh. Vướng vào bệnh chấp pháp, vướng vào sở tri chướng. Các pháp, công án,... đều là ngón tay chỉ mặt trăng, chứ không phải là mặt trăng. Nếu cứ si mê ôm giữ ngón tay thì biết đến khi nào mới nhìn thấy được mặt trăng. Ngay khi tìm được lối vào cửa thì mau chóng buông bỏ các pháp, các kiến giải, hý luận quay về tìm Phật ngay tự tâm.
Nếu cứ mê mờ cầu pháp thì dù cho tu hết nhiều đời cũng chỉ là ngài A Nan trước buổi kết tập kinh điển mà thôi. Uổng phí một đời tu học.
Vì dù sinh ra trong đường nào trong 3 cõi. Trải qua thời gian lâu dài trôi lăn thì thần trí đều mê mờ, quên mất bản tâm. Đến khi vào thai ngục ở kiếp người, trải qua 9 tháng 10 ngày hôn mê trong bào thai, chịu nhiều bức ngặt, khổ não, chịu cảnh tối tăm và chèn ép, tâm trí lại thêm một lần nữa mê mờ. Sinh ra lại chịu cảnh đọa đày trong muôn kiếp. Chỉ có những người tu tập đạt được một trong tứ quả thanh văn - Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán - được nhập lưu, dự vào dòng Thánh đạt được chánh định. Vào thai ngục nhưng các vị này không đánh mất chánh định, ra đời tiếp tục tu tập cho đến khi đạt được sự giải thoát.
Sau ngày 27/12/2010, ngày tôi đạt đóa vô ưu. Tưởng nhớ Ơn Phật, quán sát đạo tràng hiện nay. Đạo tràng hư đổ, các con Phật đang dùng dao bén nhọn cắt da, xẻo thịt Phật. Tim Phật chảy máu. Địa ngục chực chờ con Phật quay về. Quán sát đạo tràng hiện nay, nhận thấy con Phật gồm những thành phần sau:

Người con thứ nhất
Nhốt thân vào Pháp
Chấp trước Thiền tâm
Những mong an lạc
Buồn cứ vờn quanh.

Người con này mê mờ, bản tánh vốn tự rỗng rang, tịch tịnh, vọng tâm sinh khởi phải siêng năng thiền tọa, nuôi dưỡng thánh thai, bỏ mặc công ăn việc làm, con cái. Miên mật hành trì khác nào mang dây trói mình. Đến khi xả thiền, thấy vợ đau, con ốm, con cái nheo nhóc, nhà cửa xiêu vẹo, cơm không đủ no, lòng buồn không ít,...
Có an lạc không?

Người con thứ hai
Si mê ngu muội
Phá hoại Tăng bảo
Làm Phật chảy máu
Địa ngục chực chờ
Con Phật quay về.

Người con này tự chân tâm chưa ngộ. Lại sinh tâm ngã mạn, dèm pha, khinh nhờn Tam bảo. Lôi kéo người tu học sơ cơ, phá hoại Tam bảo.
Thật si mê lầm lạc! Người con này cả nghĩ đời mạt pháp, thân Phật không còn. Nào hay pháp thân Phật là thường trụ. Làm chảy máu Phật phản tỉnh quay đầu. Nếu không hậu kiếp thật khó thể nghĩ tưởng. Sinh ra trong 3 cõi 6 đường, được làm thân người phước đức không nhỏ, lại biết đến Tam bảo. Lẽ ra, người học Phật phải kính tin, quy y ngay tự tâm. Một lời hư dối trước Tam bảo, tổn hại phước đức không ít.
Thật là:

Nhất niên Phật hiện tiền
Nhị niên Phật thăng thiên
Tam niên bất kiến Phật.

Con người này từng kính tin Tam bảo. Chỉ tiếc một bước sai đường ngày càng xa rời đạo. Khẩu nghiệp là tội trọng. Thiết nghĩ nên khéo giữ gìn, chí thành sám hối. Sám hối ngay tự tâm chứ không ở đầu môi, chót lưỡi. Kẻo không khi vô thường gọi lại mê mờ trong 6 nẻo.
Người con thứ ba
Sân hận, si mê
Độ người cõi dưới
Thần thông không đủ
Pháp Phật chưa thông
Hậu kiếp khóc ròng
Thọ Tam Đồ khổ.

Người con này biết chút pháp Phật ngộ nhận có thần thông, độ người cõi dưới, tích lũy được chút phước đức nhưng pháp Phật chưa thông. Rơi vào ma đạo nuôi lớn bản ngã, sinh tâm kiêu mạn, sân hận mắng người, u mê chấp trước, xem thường nhân quả. Sai càng thêm sai.
Chút phước đức tích lũy trong hiện đời vì câu nói sân hận, kiêu mạn như sương trong nắng nên tỉnh thức dừng lại. Quay về nương tựa Tam bảo, sám hối chí thành.

Người con thứ tư
Tham tâm cầu Pháp
Chỉ được đa văn
Thuyết pháp độ người
Nào hay,
Nếu được đa văn
Luân hồi sinh tử.

Người con này chỉ thấy áo cà sa lầm tưởng là thấy Phật. Trước, theo tôn giáo khác; sau, quay về nương tựa Phật, gồm thâu các pháp môn - tịnh độ tông, mật tông, thiền tông, duy thức tông,... Kinh sách làu thông, chỉ trên văn tự, đối cảnh sinh tâm không dừng nghỉ. Mê mờ sự lý. Biết bao giờ mới ngộ được lý sự viên dung. Chỉ mong sớm tìm Phật nơi tự tâm, chóng lìa văn tự, buông bỏ cái biết của sở tri, kiến giải. Giữ tâm tịch tịnh.

Người con thứ năm
Chấp trước người xưa
Xa cha, lìa mẹ
Vào nơi động đá
Ngó vách, trông hang
Những mong đạt Đạo
Nấu cát thành cơm
Thật quá hư vọng!

Người con này vọng tưởng dũng mãnh, tinh tấn. Buông bỏ nếp nhà, xa cha, lìa mẹ, bỏ vợ, quên con,... Vào nơi hang động, hốc đá, chùa hoang,... chuyên tâm tu tập. Những mong chóng thành đạo quả, có được thần thông, đạt được Pháp xuất thế gian.
Ly thực cầu huyền, nấu sỏi đá những mong thành cơm. Thật quá hư vọng! Nhân đây, tôi kể lại câu chuyện khi Phật truyền trao chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm cho ngài Ca Diếp thông qua hình ảnh “Niêm hoa vi tiếu”.
Lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni giơ cành sen trắng lên, đại chúng ngơ ngác, khởi tâm suy nghĩ. Riêng, đại đức Ca Diếp nở một nụ cười trên môi. Chánh pháp nhãn tạng ngay đó được truyền trao cho ngài Ca Diếp.
Tại sao lại như vậy?
Khi thấy Phật giơ cành sen trắng, Đại chúng khởi tâm phân biệt “Không biết ý Thế Tôn là gì?”. Ngay đó mê mờ chân tánh. Đại đức Ca Diếp lại khác. Người nhìn thấy hoa sen đẹp, Phật đẹp. Sen đẹp sinh ra từ bùn đất, Phật đẹp sinh ra trong loài người. Phật đạt được pháp xuất thế gian nhưng chưa từng rời pháp thế gian. Ngay đó, Đại đức nở nụ cười.
Bạn sẽ cho rằng đại đức đã khởi tâm phân biệt. Đó là nhận định sai lầm.
Chân tâm, thể rỗng rang tịch tịnh, dụng trùm khắp, không ngằn mé, thấy liền biết. Đó là dụng của tâm - Chân tâm diệu dụng.
Nay tôi vì người đời sau đập tan kiến chấp sai lầm. Người trí qua ví dụ mà hiểu.
Ví như từ nhỏ đến lớn bạn chưa từng nhìn thấy hoa hồng. Một hôm, có người mang tặng bạn một bó hoa hồng nhiều màu sắc. Vì chưa từng nhìn thấy hoa hồng nhưng bạn biết chắc rằng loại hoa này không giống bất kỳ một loại hoa nào mà bạn đã biết. Bạn thấy hoa đẹp, có mùi thơm quý phái. Bạn nhận lấy những đóa hoa nhưng vì vụng về bạn bị gai đâm trúng vào tay và chảy máu. Thì ra là hoa có gai. Hỏi người bạn thì được biết - đó là hoa hồng. Tổng hợp lại bạn sẽ có hoa hồng đẹp, nhiều màu sắc, có mùi thơm sang trọng, quý phái và có gai. Đây là bạn đã dùng tâm phân biệt để nhận biết. Rồi một ngày nào đó, bạn nhìn thấy một chậu hoa đẹp quen thuộc. Ngay đó, bạn biết đó là chậu hoa hồng đẹp nhiều màu, có hương thơm và có gai.
Cái đó là cái thấy không dùng tâm phân biệt. Thấy liền biết.
Chương VIII

Ngày Phật Thích Ca thành đạo chứng ngộ được bản tâm, đạt được chân thể tịch tịnh rỗng rang. Nhìn thấy chúng sinh trầm luân, khổ não trong 3 cõi, xót thương Phật đã nhập thế.
Trải qua 49 năm thuyết pháp độ sinh, cứu khổ được hằng hà sa chúng sinh trong 3 cõi, 6 đường. Đó là dụng của bản tâm, ứng dụng vô ngại trùm khắp không ngằn mé.
Phật đã thuyết muôn pháp linh diệu giúp chúng sinh giải thoát mọi khổ nạn, tai ách, chứng nhập Niết bàn.
Như Lai đạt được sự giác ngộ hoàn toàn nên thể dụng viên dung - Chân tâm diệu dụng.
Đáng tiếc người đời sau vướng vào kiến chấp, luận giải,... nhưng mê mờ chân tánh đâu thể thông lý, chỉ vụng luận bàn.
Lý đã không thông đạt thì làm sao có được sự tròn đầy.
Chư Tổ thương tưởng nhập thế, gồm thâu muôn pháp về một chữ tâm.
Người đời lại ngộ nhận nhốt muôn pháp vào một chữ tâm, tinh chuyên hành sự.
Nhưng y sự, thiếu lý cũng lại là bệnh - Được dụng thì mất thể, được thể thì mất dụng.
Để rõ ý này tôi lạm bàn thêm, người đời nay hành sự có hai hạng người:
- Hạng thứ nhất: Hành sự ở ngoài thân. Y theo giáo lý, phát bồ đề tâm, nhập thế cứu người, độ khắp hàm linh. Tích lũy phước đức, miên mật hộ trì tam bảo. Nhưng khi vô thường gọi nhìn lại chỉ được cái thùng rỗng công đức.
Nếu người tu hành này khéo giữ giới chết được thọ sinh về 3 đường tốt hưởng phước báo nhân thiên, được nhiều lợi dưỡng. Nếu người tu này chí nguyện không lớn chỉ e bồ đề tâm mai một, lui sụt...
Người không khéo giữ giới 3 đường dữ sẽ có phần.
Hạng tu này đi cho có đi, chỉ khi Phật Di Lặc nhập thế thời may đặt chân vào đất Phật.
- Hạng thứ hai: Hành sự ở trong thân. Hiểu sai ý Tổ, nhốt thân vào pháp, miên mật hành trì. Thiếu lý mất sự. Đi tìm bản tâm nhưng tâm ở đâu mê mờ chẳng biết.
Nếu người tu hành này có chánh định cùng với ngộ lý sẽ chứng ngộ thể của bản tâm tùy thời; chỉ e khi muốn khởi dụng của tâm thời vô thường đã gọi. Đây không phải là khởi tâm vọng tưởng mà khi đạt thể tịch tịnh thì dụng tự lưu xuất. Đành làm một xác chết vô dụng thể nhập Niết bàn.
Nếu người tu không có chánh định cùng với lý sự mê mờ, sa vào ma đạo, luống uổng công phu. Chết rơi vào 3 đường dữ.
Người tu hành chân chính hãy mau phản tỉnh, hành trì tu tập. Trong lý có sự, trong sự có lý. Lý sự viên dung chóng thành Phật quả.
Sở dĩ người tu hành đời nay được dụng mất thể, được thể mất dụng là vì khi con mắt thế gian không còn - Phật Thích Ca nhập diệt thì niềm tin về bản thân của con người cũng mất đi.
Loài người không tin rằng chỉ cần có niềm tin sâu hành trì theo chánh pháp thì sẽ đạt được sự giải thoát ngay trong hiện đời. Một bước vào đất Như Lai.
Họ chấp chặt kiến chấp, kiến giải cần phải tu nhiều đời, nhiều kiếp mới đắc thành đạo quả. Nhưng họ lại ngu muội không nhận ra họ đã phải trải qua hằng hà sa kiếp trầm luân trong khổ ải. Hằng hà sa kiếp đã tu hành. Chỉ tiếc ít người đạt được chánh định nên lúc vào thai ngục chịu khổ thì khi sinh ra đã đánh mất tàng thức tu tập lại từ đầu.
Người đạt được chánh định thì nguyện lực thấp kém chỉ lo tu cho bản thân. Qua nhiều đời kiếp tu hành đạt đạo mau chóng nhập Niết bàn tịch tịnh đạt thể, bỏ dụng.
Quá trình tìm đạo của mỗi hành giả có nhiều quả vị khác nhau, giác ngộ thì có sâu cạn sai khác nhưng sự giải thoát chỉ có một.
Số khác có chánh định yếu hơn rơi vào ma đạo nhập thế hý lộng quỷ thần, gạt lừa chúng sinh trong 3 cõi. Hết kiếp mạng chung, thọ lãnh nghiệp báo mình gây ra.
Số khác dựa vào kiến giải Phật Di Lặc nhập thế nên giãi đãi tu hành tạo nhân duyên đợi chờ Phật Di Lặc ra đời thọ ký đạo quả.
Nào hay Phật Di Lặc đã hiện thân nhập thế. Nay, tôi vì bạn mà nói để củng cố niềm tin sâu cho chúng sinh trong 3 cõi 6 đường.
Những ai xem xong quyển sách này, thân tâm chấn động, giật mình như sực tỉnh cơn mê nên tự biết hằng hà sa kiếp đã tu tập. Kiếp này nếu tiếp tục hành trì theo chánh pháp sẽ tự khắc biết vào đất Như Lai.
Người tu hành nên phát chí nguyện lớn, lập hạnh Bồ tát thì bồ đề tâm sẽ vững vàng. Ly thực cầu huyền, nấu sỏi đá mong thành cơm dễ rơi vào ma đạo.
Phật Di Lặc đã nhập thế. Lời này không chút hư vọng.
Vậy Phật Di Lặc đâu?
Phật Di Lặc xuất thế trong hình hài nào?
Phải xem bạn có đủ duyên hay không?
Nhưng tôi sẽ vì bạn mà hé lộ hành tung của đức Phật Di Lặc. Có thể vào một ngày nào đó, bạn đang thiền định ở trong tịnh thất, bạn chợt nghe vài tiếng động ngoài tịnh thất rồi im bặt.
Sau giờ thiền định, bạn mở cửa ra ngoài, một xác người gầy ốm đã chết lạnh tự bao giờ.
Bạn chết lặng và ngay lúc đó bạn nhận ra bạn cũng đang là một xác chết. Đã từ lâu, bạn nhốt thân vào pháp, chấp chặt thiền tâm, đi tìm và giữ mãi bản tâm tịch tịnh, rỗng rang khác nào xác chết.
Có thể trong một buổi thiền hành, bạn bắt gặp trên đường một gã ăn xin tật nguyền đang lăn lê xin từng miếng ăn sống qua ngày, ruồi nhặng bay quanh những vết thương lở loét, máu mủ hòa lẫn.
Thật gớm ghê! Hình ảnh này sẽ đeo đuổi tâm trí bạn cho đến lúc bạn nhận ra bạn có khác gì gã ăn xin đó và nếu cứ tiếp tục thì những ung nhọt trong bạn sẽ vỡ ra, lỡ loét, máu mủ chan hòa.
Bạn giật mình tỉnh ngay giấc mộng từ lâu đã chìm sâu.
Có thể, sau khi hộ niệm cho một người xấu số nào đó. Trên đường về trong đêm, những cô gái bán xác thân lả lơi mời mọc, hoảng sợ bạn giữ yên chánh niệm “Thú vui ngũ dục, nhất là thú vui thân xác là con đường ngắn nhất đưa ta vào Địa ngục”. Về đến thiền phòng, bạn giật mình nhận ra những cô gái bán xác thân kia chính là Phật Di Lặc hiện thân cảnh tỉnh bạn “Sao vẫn còn u mê chấp pháp? Chánh pháp còn bỏ huống hồ là phi pháp”.
Có thể một ngày bạn nhận được tin ba hay mẹ bạn qua đời và họ đã hối tiếc không gặp được bạn lần cuối. Quá đổi bàng hoàng, bạn nhận ra lâu nay bạn tham tâm cầu pháp mà giết chết tâm từ tâm bi vốn luôn sẵn có trong bản thân. Choàng tỉnh bạn quỳ xuống vọng bái từ thân và chư Phật đã gia ân.
Có thể sau một thời gian dài nhốt mình trong thiền thất. Khi xuất thiền thì đã có sẵn thức ăn cúng dường.
Cứ thế ngày qua ngày, bạn không biết ai là người cúng dường cho bạn, vật cúng dường mỗi ngày là gì?
Sực tỉnh Phật Di Lặc đã nhập thế.
Làm sao có thể nhận vật thực cúng dường của đức Phật?
Bạn bước ra ngoài đóng cửa thiền thất lại.
Tương tự như vậy, vào ngày tự tứ, toàn bộ vật thực cho tăng bảo được một cư sĩ nào đó phát tâm cúng dường, là một vị đại bồ tát;...
Xác chết khô gầy, lạnh ngắt; gã ăn xin tật nguyền; những cô gái bán xác thân; những vật cúng dường vô chủ; cái chết của từ thân; cư sĩ cúng dường,...
Và còn gì nữa, tất cả đều là Phật Di Lặc, chỉ có điều bạn có đủ duyên để nhận ra hay không?
Bạn hãy nên nhớ rằng “Phật Thích Ca đã từng thuyết Phật Di Lặc nhập thế với thiên bá ức hóa thân”. Vì thế bạn đừng nắm giữ kiến chấp sai lầm Phật Di Lặc sẽ ra đời với cái bụng to tròn, cái đầu nhẵn thín,... - Một tạo hình do người đời sau cuồng tín đã đổ khuôn, đóng dấu và dán nhãn.
Ngay lúc đó, bạn nhận ra bấy lâu nay bạn đang cố níu giữ thể của tâm nhưng tâm ngoài thể còn có dụng.
Thể của tâm tịch tịnh rỗng rang. Dụng của tâm linh diệu cùng khắp, không ngằn mé. Bạn bừng tỉnh sống lại và nhập thế.
Hoặc có thể bạn nhận ra bạn chỉ có dụng nhưng không đạt thể. Vì thế dụng của bạn hạn hẹp, đối cảnh sinh tâm. Hồi quang phản chiếu, quay lại tìm thể.
Tóm lại, không thể thấu lý quên sự cũng không thể hành sự bỏ lý, cả hai đều là ngã rẽ, đường nhỏ không phải là chánh đạo. Trong lý có sự, trong sự có lý, cứ y pháp mà hành. Đến khi lý sự viên dung, bạn tự khắc nhận ra được bản tâm.
Đừng chấp chặt vào câu “Chúng sinh khổ lạc tùy duyên”. Đó chỉ là câu an ủi khi một ai đó bị gục ngã trên đường, để người đó bình tâm trở lại, trước khi nghe một bài pháp và người đó tự đứng lên tiếp tục bước đi. Nếu thật là “Chúng sinh khổ lạc tùy duyên”, Thế Tôn đã không từ chánh định mà nhập thế trải qua 49 năm thuyết pháp. Đừng hiểu lầm tâm Phật!
Đừng chấp chặt vào ý nghĩ “Chiếc bè của tôi nhỏ bé không đưa được nhiều người qua sông, đưa nhiều người đi như vậy rất nguy hiểm. Bè tôi chỉ có thể đưa mỗi mình tôi qua sông. Tôi qua được bên sông rồi sẽ nghĩ cách giúp người khác qua sông. Có thể bằng cách thả chiếc bè qua bên này sông để mọi người có phương tiện bơi qua”. Điều này thể hiện cái bản ngã và ích kỷ của bạn. Cả hai điều này người tu hành cần ngay lập tức buông bỏ. Thật ra, ai cũng có một chiếc bè. Có thể nhiều người có những chiếc bè lớn nhưng họ mải mê quên  mất việc qua sông, bạn nên đến giúp họ nhớ ra. Khi có nhiều người cùng đi sẽ an toàn hơn cho bạn. Rủi như giữa dòng, bè của bạn bị hư hỏng, những người có bè lớn sẽ cho bạn nương nhờ. Mọi người sẽ phụ giúp bạn sửa chiếc bè của bạn. Khi chiếc bè bạn đã được gia cố chắc chắn thì cuộc hành trình sẽ tiếp tục. Hơn nữa, trong số đông những người đi cùng sẽ có những người sáng suốt và những người rành về dòng sông, con nước. Họ sẽ giúp cuộc hành trình qua bên sông được thuận lợi, đảm bảo đi đúng đường, đúng hướng không lạc vào ngã rẽ, không vướng lại ở những bến bờ,... Bạn sẽ về đến đích nhanh hơn.
Nhưng điều quan trọng nhất là bạn phải tìm được nhiều người bạn tốt. Bạn cũng đừng lôi kéo, cưỡng cầu người khác qua sông một cách thái quá. Việc này làm mất thời gian của bạn và làm người bị lôi kéo bực dọc, xem thường tam bảo. Điều này có hại cho họ và người tu hành thì không làm người khác không vừa ý.
Thêm một lý do khác để bạn nên có những người bạn đồng hành. Đã có nhiều người có chí nguyện xuất trần, tinh tấn hạ thủ công phu. Một mình dũng mãnh bước đi trên con đường đạo. Ban đầu, người này đi rất đúng hướng, có được chút kết quả, phát sinh thần thông như có thể xuất hồn đi dạo hoặc đạt được thiên nhãn,... Chỉ tiếc chưa đạt được chánh định nên ngộ nhận đi đúng chánh pháp, mê mải đuổi theo thần thông.
Kết quả là nuôi bản ngã thêm lớn, lạc vào lối rẽ rơi vào ma đạo. Vọng tưởng đạt đạo, chối bỏ pháp Phật sinh tâm khinh mạn.
Nghĩ thật đáng tiếc! Một lời nhắn gửi tha thiết đến các bạn đồng tu “Trong quá trình tu tập nếu phát sinh thần thông mà chưa đạt được chánh định, hãy nên xả bỏ quay về hạ thủ công phu sao cho đạt được chánh định thì bạn sẽ sớm thành tựu trên con đường đạo”.
Thật ra, việc phát sinh thần thông chỉ giúp cho bạn có thêm niềm tin sâu vào chánh pháp nhưng nếu bạn đeo đuổi theo thần thông thì ngay lập tức rơi vào ngã rẽ, đường cùng mà thôi.
Đừng quá chấp chặt vào ý nghĩ “Tham tâm cầu pháp, mong cầu chóng đạt thành đạo quả”. Hãy giữ tâm bình thường mà cầu pháp! Đừng quá dễ duôi, giải đãi cũng đừng quá gò bó, khổ nhọc dụng công. Cả hai hình thức trên đều gây cảm giác mệt mỏi, chán chường không có lợi cho việc tu học.
Việc học Phật là buông bỏ những ham muốn, mong cầu. Thế nên, cho dù là cầu pháp cũng rơi vào ma chướng vì tâm ma sẽ nhận ra sự mong cầu trong tâm người học Phật, tâm ma sẽ lưu xuất dẫn người tu học rơi vào ngã rẽ.
Đừng chấp chặt vào ý nghĩ “Tôi lập hạnh bồ tát, tôi phải hướng dẫn giúp mọi người lên hết trên bờ bên kia rồi tôi mới qua sông”. Một ý nghĩ rất tốt nhưng để thực hiện được thì điều kiện duy nhất là bạn phải thật sự là Bồ tát.
Vì sao?
Nếu bạn không thực sự là Bồ tát thì khi chỉ dẫn mọi người sang đến bờ bên kia thì chiếc bè của bạn đã cũ nát; Chỉ còn lại mỗi mình bạn, niềm tin bị lui sụt và bạn không còn đủ thời gian và sức lực để qua đến bờ bên kia.
Với phước báo tạo ra, bạn sẽ sinh về cõi Trời ở trên đó nhiều ngàn năm thọ hưởng vui thú, bạn sẽ quên đi mục đích quan trọng nhất của một đời người.
Hết phước, bạn rơi vào 6 đường, nhập thai trưởng dưỡng. Thời gian ở trong thai ngục chịu nhiều bức ngặt, một lần nữa thần thức mê mờ. Đến khi sinh ra sẽ trở về làm một chúng sinh luân hồi trong 6 nẻo.
Vì thế nên ngay ở cuộc hành trình đầu tiên, bạn phải là một hành khách trong số những người vượt sông hôm đó.
Tôi cũng không chủ trương khuyên bạn phải cắt ái, ly gia, bạn vẫn có thể cùng gia quyến, họ hàng qua sông. Chỉ trừ khi bạn có chí nguyện lớn, muốn cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi và có đủ nhân duyên xuất gia.
Nhắn những ai muốn đi tìm đạo mà tâm kiêu mạn không dứt, tự phụ thông minh hoặc vướng vào định kiến của khoa học hoặc là tín đồ thuần thành của tôn giáo khác,... Hãy xem những bộ kinh Phật như: Kinh Trường a hàm, Đại Bát Niết bàn, Nikaya, Mi tiên vấn đáp,... sẽ lập tức giật mình trí tuệ bát nhã của đức Phật, trí tuệ cách đây hơn 2500 quá thâm diệu, bao nhiêu hào khí kiêu mạn, tự phụ ngay đó tan thành tro bụi, tin sâu Phật pháp tự biết đã gần đạo.
Còn những tín đồ tôn giáo khác cứ mượn pháp hành trì Phật không yêu cầu bạn bỏ tôn giáo cũ quy y Tam bảo, cứ theo chánh pháp hành trì thì không có lỗi.
Khi Phật tại thế, Người chẳng phải là đã thuyết pháp độ sinh cho cả chúng sinh trong 3 cõi. Tôn giáo khác theo học chánh pháp đạt đạo không ít. Việc quy y Phật, đối với Phật mà nói như bóng trong gương, như trăng đáy nước, như dấu chim bay trên không,...
Đáng tiếc, người đời u mê ngộ nhận tâm Phật tạo ra đạo Phật cách biệt thế gian. Nào hay vào cửa Phật là vào không môn. Không môn, không đạo chính thật là chánh đạo.
Thể tịnh như hàn thạch, dụng mãn thiên hoa vũ.
Để rõ nghĩa hơn tôi xin tỏ bày phương pháp tìm đạo của bản thân. Khi tôi nhận rõ lý vô thường thì sự vẫn không đạt được nên đối cảnh sinh tâm, buồn lo đau khổ không dứt. Về sau, tôi nhận ra tự thân không sống được trong đạo lòng bấn loạn, không an cho đến cùng cực phát sinh diệu ý - Phải giết chết cảm giác, tri giác,... bằng cách sống mà như chết.
Nhưng vì không thật chết nên việc ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc, hành trì không gián đoạn. Sống mà như chết nên không dính mắc vào việc làm, đối cảnh không còn sinh tâm như một xác chết. Thật đúng là tĩnh lặng như băng đá.
Giữ mãi thể tịch tịnh như thế lâu ngày, dài tháng đạt được chánh định.
Không cần miên mật giữ, thể vẫn rỗng rang, tịch tịnh vì không xuất thế gian nên vẫn nhận rõ các pháp thế gian nhận thấy khổ đau trong ba mẹ, anh em, người thân,... xót thương nhưng vẫn giữ vững chánh định, tâm từ bi tăng trưởng ngày một lớn thêm, lưu xuất ý cứu khổ nhân loại và muôn vật nhưng mình chưa đạt được an lạc sao có thể giúp người?
Nghe tin người bạn mất, vợ chồng người bạn và gia đình bất hòa càng nung nấu ý chí cứu khổ. Ngộ nhận ép thân đạt đạo, quay về kiểm nghiệm lối tu khổ hạnh.
Sau một thời gian dài, chánh định cảnh tỉnh “Chết chẳng thể giúp được người”. Bất chợt, tôi đạt đạo - Ta chưa từng sống. Ngay đó, tôi nhận được đóa vô ưu. Dụng tự lưu xuất như mưa gió đầy trời - Mãn thiên hoa vũ.
Những ai muốn tìm đạo chân chính, những người sống trong tuyệt vọng cứ y pháp hành trì sẽ mau chóng liễu ngộ. Đây chỉ là một trong muôn pháp giải thoát của đức Phật. Nếu thông đạt một pháp thì bạn sẽ nhận rõ muôn pháp.
Sự khác biệt về phương cách hành đạo của chúa Jesu, Phật Thích Ca và Vô Ưu:
Chúa Jesu ra đời để cứu sống người chết, chữa lành người bệnh, chết được sinh về cõi thiên đàng. Phật Thích Ca ra đời giúp người sống được an lạc, người chết được giải thoát, chứng nhập niết bàn. Vô Ưu ra đời với câu nói “Hãy để người chết yên nghỉ và người sống hãy sống lại”.
Câu nói này được diễn đạt rõ nghĩa hơn là Vô Ưu đến giết chết người chết và cứu sống người sống.
Qua một câu chuyện, Vô Ưu sẽ nói về tiệm tu và đốn ngộ.
Ví như có một bậc minh sư ẩn cư trong một ngôi chùa nhỏ, ở một khe núi hoang vắng. Một hôm, có hai người đến tìm đạo xin được làm đệ tử. Sau một thời gian thử thách, bậc minh sư nhận rõ hai người đệ tử. Có người căn tánh lanh lẹ, thông minh xuất chúng, có niệm tin sâu vào đạo. Người còn lại có phần chậm lụt hơn nhưng cũng có niềm tin về đạo sâu sắc. Vào một đêm trăng sáng, vị minh sư chỉ vầng trăng và nói “Cả hai con đều có một vầng trăng sáng viên dung tuyệt đẹp ở trong tâm”. Ngay đó, người lợi căn liền nhận ra bản tâm của mình. Người chậm lụt nhìn thấy trăng trên trời đẹp nhưng cao quá, lại thấy có vầng trăng sáng tròn đầy nguyên vẹn ở trong hồ nước. Muốn nhìn trăng cho rõ hơn, anh múc nước trong hồ đổ đi. Cứ mỗi lần anh ta múc nước thì ánh trăng tan mất, anh chờ đợi ánh trăng nguyên vẹn rồi lại múc nước đổ đi. Cứ thế ... cứ thế ..., anh ta có niềm tin sâu sắc  “Khi nước trong hồ cạn dần đi thì anh ta sẽ gần với vầng trăng hơn”.
Ngày tháng qua mau, nước trong hồ đã cạn, anh ta nhận ra “Trong hồ không có vầng trăng nào cả". Tuyệt vọng, anh ngồi xuống và ngước nhìn lên bầu trời, cũng đúng vào đêm trăng tròn tuyệt đẹp. Anh chợt nhận ra trăng đáy nước do trăng trên bầu trời mà có. Bấy lâu nay, ta đi tìm bóng ở trong gương. Nhớ lại lời dạy của vị minh sư, anh có ngay vầng trăng viên dung tuyệt đẹp ở trong tâm.
Sẽ có rất nhiều người đọc xong mẩu chuyện này sẽ cười anh chàng múc nước tìm trăng thật ngu ngốc, đáng thương hại.
Còn bạn thì sao bạn có tin trong bạn có vầng trăng viên dung tuyệt đẹp và bạn sẽ tìm thấy vầng trăng đó bằng cách nào?
Còn anh chàng kia không chắc đã đáng thương hại bằng bạn. Ít nhất anh ta cũng đã tìm được vầng trăng ở trong tâm.
Người tu đốn ngộ như chàng thanh niên căn tính lanh lợi là bậc thượng căn nghe thấy liền biết. Người tu đốn ngộ trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Khi được thiện tri thức khai ngộ tự tu, tự chứng nhanh chóng đạt thể.
Đáng tiếc, do dễ dàng đạt quả vị A la hán nên chí nguyện phần nhiều không lớn. Tự liễu thoát sinh tử cho mình. Việc độ thoát chúng sinh trong 3 cõi tùy duyên.
Hãy mau nghĩ tưởng bi nguyện của Phật! Trả ơn tam bảo lập hạnh Bồ tát. Nhập thế độ sinh làm đấng trượng phu trong tam giới. Tam giới chúng sinh căn tánh lợi độn muôn ngàn sai biệt, việc thuyết pháp tùy theo căn tánh.
Người tiệm tu như chàng thanh niên múc nước tìm trăng, cực khổ vô cùng mới tìm được đạo. Hiểu mình, hiểu người, thương tưởng chúng sinh trong 3 cõi thường phát chí nguyện lớn. Cứu độ khắp hàm linh.
Tuy nhiên, người tiệm tu mất nhiều thời gian múc nước tìm trăng, việc hoằng dương chánh pháp cũng ít nhiều hạn chế. Dẫu sao cũng là đấng trượng phu trong tam giới.
Chúng sinh trong 3 cõi 6 đường hãy tự chiêm nghiệm xem mình là bậc thượng căn, đại trí hay người hạ căn, chậm lụt tùy nghi tiệm tu hay đốn ngộ chóng viên thành Phật quả. Thân người khó được, chánh pháp khó tìm cầu. Nếu được làm người, hãy mau tu tập thoát khỏi mọi khổ não của thế gian, rời xa tam giới vô thường, khổ, không, vô ngã, thể nhập Niết bàn.
Trước ngày đạt đóa vô ưu, tôi đang thiền định. Tâm Ma xuất hiện vẻ mặt vênh váo, cười khinh bỉ, chất vấn:
- Ngươi định đi tìm sự an lạc, thoát khổ trong tấm thân xác khô gầy đó sao? Phải rồi ngươi sẽ thoát khổ khi ngươi thành xác chết.
Nói xong, Tâm Ma cất lên tiếng cười the thé, cười mà như khóc. Tôi thoáng rùng mình nhưng lấy lại được sự định tỉnh và im lặng. Tâm Ma lại lên tiếng, giọng âm u, đầy vẻ hăm dọa:
- Ta và ngươi ở cùng chung một nhà. Ngươi chết mặc ngươi, hà cớ gì hành hạ, bức hại ta. Khiến ta đói khổ, nhìn rượu thịt ê hề, của ngon, vật lạ mà ta phải nuốt nước miếng ừng ực. Hãy mau trả sự tự do lại cho ta! Nếu không ta sẽ khiến ngươi sống không bằng chết.
Tôi vẫn giữ sự im lặng. Không gian về đêm lành lạnh, tĩnh mịch. Hai hố mắt Tâm Ma rực đỏ lửa hận thù, người rung bần bật thể hiện sự căm tức tột độ.
Rồi ánh mắt Tâm Ma như dịu lại, cất tiếng nói có phần hòa hoãn, chiêu dụ:
- Thôi được! Ta nhường ngươi vậy. Thôi, ngươi đừng cố tìm đạo nữa chỉ hại thân. Ta sẽ vì ngươi kiếm thật nhiều tiền bạc, của báu, rượu ngon, gái đẹp,... Ngươi muốn gì ta chiều theo ý ngươi hết.
Tôi điềm nhiên buộc miệng hỏi:
- Những thứ ngươi nói có khiến ta thoát khỏi khổ đau trong cuộc sống, thoát khỏi luân hồi sinh tử không?
Nghe xong câu nói này Tâm Ma đột nhiên biến mất.
Ngày đạt đóa vô ưu, tôi đang ở trong tâm thái hỷ lạc của thiền định.
Tâm Ma bất chợt xuất hiện cười hềnh hệch vẻ mặt đầy gian trá buông lời:
- Chúc mừng! Chúc mừng Ngài đã đạt được sự vô ưu. Ngài sẽ làm giáo chủ của bốn phương. Tông giáo của Ngài là gì? Ngài lấy pháp hiệu là gì?
Tôi lên tiếng:
- Hãy thôi đi Tâm Ma! Ta sẽ vào Địa ngục.
Tâm Ma ngẩn ngơ:
- Ngài mượn pháp Phật sao lại nói lời ma?
Tôi trả lời:
- Ta không nói lời hư dối, ta vào Địa ngục. Xác thân này ta sẽ gửi về cho thiên hạ, những người có bệnh về thân, những người thật sự cần đến nó.
Tâm Ma lên tiếng:
- Nhưng đức Phật thành đạo, Người không làm vậy. Tại sao Ngài làm vậy?
Tôi bình thản nói:
- Tâm Ma ngươi thật khéo dụng tâm phân biệt. Những người có bệnh về thân cũng cần được chữa trị. Ta chết để muôn người sống được thật sống, khi có Tình yêu thương chân thật trong đời.
Tâm Ma gào lên:
- Không! Ta không cho phép ngươi làm vậy. Ngươi bức hại ta phải bỏ thân mà đi nhưng ta không cho phép ngươi phá hoại xác thân của ta. Tại sao ngươi làm vậy?
Tôi cười nhẹ:
- Tâm Ma, ngươi vẫn u mê như người đời. Ngươi chỉ biết đến đức Phật toàn tri, Thánh Ala toàn thiện, Chúa Jesu toàn năng nhưng lại không biết đến một Ma Vương đáng yêu.
Tâm Ma rít lên những tiếng đinh tai:
- Ta sẽ ngăn không cho ngươi làm điều này! Ta sẽ ngăn lại! Ngăn lại!
Sau ngày đạt đóa vô ưu, tôi thiền định quán chiếu. Quả nhiên nhân loại có hai loại bệnh chính - Bệnh về thân và bệnh về tâm.
Cả hai loại bệnh này nguyên nhân phần nhiều là do của cải, tiền bạc mang lại. Người thì tham lam tích góp sinh ra ích kỷ, tranh giành ganh ghét, tạo nhiều nghiệp xấu ác,... gây bệnh về tâm. Ăn uống vô độ, thừa mứa, tham đắm ngũ dục gây bệnh về thân. Người thì nghèo khổ, đói lạnh, chịu quả báo đời trước, bệnh tật triền miên. Người này ngược xuôi, tất tả tìm miếng cơm manh áo, đâu có thời gian tìm hiểu chánh pháp, làm sao tiêu được nghiệp cũ?
Thôi, ta nên lập quỹ “Từ Bi Sinh Hỷ Lạc”. Ta sẽ vì người mà nuôi dưỡng lòng từ bi, xóa bỏ sự ích kỷ tham lam,… giúp người nghèo khó có đủ cơm ăn áo mặc, bệnh tật thuyên giảm, tin sâu nhân quả, học hỏi hành trì theo chánh pháp nhằm tiêu trừ nghiệp cũ, dứt khổ đau, sớm đạt sự giác ngộ, giải thoát.
Tâm Ma lại xuất hiện cười giễu cợt:
- Ha ha! Ma Vương hỡi, Ma Vương ơi! Ai đã từng nói tiền bạc, của báu, vũ khí,... là vật bất tường, là vật phá hỏng sự nghiệp tu hành. Người ngay thẳng hãy nên tránh xa. Người thiếu đức được vật, mất người. Nay ông tham đắm, ham mê lợi dưỡng. Ông sẽ rơi vào Địa ngục.
Tôi nghiêm giọng:
- Tâm Ma! Ngươi đã quên rằng ta là Ma vương vì Tam giới sẽ vào Địa ngục thắp sáng cõi tối tăm. Ngươi chỉ là đồ chúng còn không mau quy phục.
Tâm Ma giật mình kinh hãi, đảnh lễ lui ra.
Khi đạt đóa vô ưu, tôi nhìn lại những kiếp lâu xa trong quá khứ, lòng tôi kinh hãi không ít. Tôi đã trầm luân trong bể khổ hằng hà sa số kiếp lăn lên, lộn xuống trong 3 cõi 6 đường. Địa ngục đầy dấu chân tôi để lại. Lang thang đói lạnh cũng không ít. Phước báo cõi Trời, A tu la, cõi Người chưa lần nhàm mỏi. Ở nẻo súc sinh thì muôn hình vạn dạng. Những kiếp hưởng phước báo nhiều hại con đường tu hành thêm khó khăn, gian truân thêm.
Nay tôi sẽ vì bạn mà kể đôi điều về tiền kiếp.


Nhớ lại kiếp lâu xa. Khi Phật còn tại thế. Lúc ấy, tôi là con muỗi thường bay quanh Phật, nghe thuyết pháp. Ở bên cạnh Phật, tôi rất an ổn, ánh sáng phát ra từ thân Phật vàng rực rỡ nhưng lại rất ấm áp và êm dịu. Có khi tôi đậu bên vai trái, có khi ở vai phải, có lúc đậu trên tai trái, có lúc đậu trên tai phải.
Tôi là con muỗi, thi thoảng tôi vẫn hút máu Người. Cứ thế cho đến hôm, Phật thuyết về năm tội vô gián gồm giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hiệp Tăng, làm thân Phật chảy máu. Chúng sinh nào phạm một trong năm tội trên sẽ bị đọa vào Địa ngục vô gián chịu các sự hành hạ khổ bức, không lúc nào dừng nghỉ.
Do nhân duyên nghe thời pháp đó, những kiếp về sau tôi bị rơi vào Địa ngục đến hàng ngàn kiếp.
Sau khi đạt đóa vô ưu, tôi đã quán sát nguyên do làm thân muỗi.
Tôi nhận ra trong rất nhiều kiếp trước đó. Khi Phật còn hành hạnh Bồ tát, tôi đã từng là con của Người. Lúc tôi còn là một đứa trẻ, Bồ tát đã cho tôi cho một người bà la môn xấu xa, ác độc. Bỏ mặc tôi kêu gào, than khóc Người vẫn bình thản bước đi. Vì mối hận đó tôi đã nguyện “Nếu có kiếp sau sẽ theo Bồ tát mà báo thù”. Đến khi khôn lớn tôi hiểu rõ và nhận ra lỗi lầm nhưng đã không còn kịp để hóa giải lời thệ nguyện.
Lời nguyền đó chứa đầy sự hận thù căm tức ghi sâu trong tàng thức, không dễ hóa giải.


Một nơi tối đen ẩm thấp, vừa nóng bức vừa lạnh lẽo. Tiếng kêu gào, tiếng gầm thét, tiếng kim khí chạm vào nhau nghe thật quá ghê rợn. Tôi hoảng loạn chạy trốn vào những nơi tối tăm nhất. Tiếng la hét càng thảm thiết hơn. Kinh hoàng, tôi bịt cả hai tai lại nhưng không ngăn được những âm thanh đinh tai, nhức óc kia.
Cứ thế ... cứ thế ... mỗi tiếng kêu gào cứ như là một mảng thịt trên người tôi bị xé toạc ra, tiếng xương dính vào thịt gãy nghe răng rắc. Tiếng ầm ầm như tiếng búa đập trên đe, tôi cảm nhận xương thịt vỡ vụn. Tôi bắt đầu gào thét điên loạn, kinh hoàng tột độ. Tôi không biết mình chết đi, sống lại bao nhiêu lần?
Rồi một thời gian rất lâu, rất lâu sau, tôi cảm thấy những đau đớn nhẹ dần. Tôi đã nhìn thấy ánh sáng. Có những vùng sáng đỏ rực và có những mảng sáng xanh lạnh lẽo, chập chờn. Thật ghê rợn. Tôi lại nghe những tiếng thét, tiếng gào vang ra từ những vùng ánh sáng và cả ở những vùng tối đen.
Quá quen với bóng tối, tôi lại tìm đường rúc vào những nơi tối tăm nhưng đã không được. Hoảng sợ, tôi lại gào khóc nhưng rồi lại nhận ra những đau đớn trong thân đã không còn.
Ngoài kia vẫn còn đó những âm thanh chát tai, thảm thiết. Tôi cố trấn tỉnh lại. Tôi đang ở trong vùng ánh sáng vàng rực rỡ, ấm áp, êm dịu quen thuộc. Tôi nhận ra đây là luồng ánh sáng phát ra từ thân Phật. Tôi dõi mắt tìm nhưng không thấy bóng Phật đâu. Nhớ lại những điều Phật thuyết, tôi nhận ra nơi đây là Địa ngục và biết được nguyên do vào Địa ngục, rùng mình kinh sợ. Tiếng kêu gào ngoài kia không lúc nào dừng ngớt. Tôi tiến lại những vùng tối đen. Dưới ánh sáng phát ra, tôi nhận ra lố nhố những bóng đen, đông vô số kể di chuyển, cựa quậy, lăn lóc kêu gào. Cảm thương tôi dang tay đón lấy, những bóng đen hoảng loạn kêu gào, rên siết tháo chạy.
Tôi nhận ra nguyên do tôi đã từng trốn chạy ánh sáng như thế. Tôi chầm chậm di chuyển và bất chợt túm lấy một bóng đen.
Bóng đen bị túm lấy hoảng loạn, vùng vẫy, kêu cứu, van xin. Tôi ra sức vỗ về trấn an. Một lúc sau, bóng đen hết hoảng loạn, tôi nhẹ nhàng buông ra. Một vùng ánh sáng màu vàng khác nhưng nhỏ hơn và không rực rỡ bằng.
Tiếp tục công việc, tôi tiến đến túm lấy từng bóng đen. Và những vùng ánh sáng vàng mới lại xuất hiện nhiều hơn. Những vùng ánh sáng vàng được tạo ra cũng góp phần làm việc cùng.
Trải qua thời gian dài, những vùng ánh sáng vàng đã nhiều hơn nhưng vùng ánh sáng đỏ, vùng ánh sáng xanh và vùng tối đen vẫn không hề thuyên giảm...
Tôi lấy làm lạ. Dừng lại, tôi nhìn những vùng ánh sáng vàng được tạo ra. Một số khi tiến vào vùng ánh sáng đỏ, xanh và vùng tối đen thì gào lên thảm thiết và mất hẳn. Một số khác thoát ra được thì kinh hoàng hoảng loạn.
Tôi do dự từng bước tiến vào vùng ánh sáng đỏ rực. Một cảm giác nóng bức, tôi thấy vùng ánh sáng vàng quanh tôi như muốn tan chảy ra. Tôi dừng lại, bên trong vùng ánh sáng đỏ tiếng kêu gào vang lên, âm thanh bi thảm, phẫn uất. Sau cùng, tôi đã đi vào vùng ánh sáng đỏ một cảnh tượng khó thể phai mờ trong tâm trí. Tầng tầng, lớp lớp thân người rơi vào trong những chảo lửa to lớn tan chảy, tiếng gào thét, tiếng rên rĩ nghèn nghẹn xen lẫn tiếng xì xèo, không gian khô khốc, khét lẹt. Nhưng lạ thay những xác người đó nguyên lành lại và vẫn còn vẫy vùng kêu gào. Lại bị rơi vào trong chảo rú lên gào thét. Dường như những thân người đó chỉ có thể kêu gào, rên siết, vùng vẫy nhưng không thể tháo chạy. Chỉ thấy bật lên nguyên vẹn rồi ngã xuống kêu gào, tan chảy. Tôi tiến đến dang tay đón lấy nhưng không thể nào chạm vào họ được.
Tôi rời khỏi vùng ánh sáng đỏ tiến về vùng sáng xanh. Ôi! Thật âm u, lạnh lẽo, tôi bước vào vùng ánh sáng vàng như co lại, nứt ra tôi lấy làm kinh hãi nhưng cũng trấn tỉnh lại. Nhìn thấy những thân người co quắp, tiếng da thịt vỡ lách cách. Tiếng xương rạn nứt, rời vỡ phát ra những âm thanh rắc rắc. Xen lẫn tiếng gào, tiếng kêu cứu rên rĩ. Ôi! Nhiều thân xác quá không thể tính đếm được. Cũng như ở trong vùng ánh sáng đỏ, những xác thân gào khóc cho đến khi vỡ vụn thì dừng lại. Một lúc sau cũng một thân xác đó lành lặn, nguyên vẹn, rên rĩ rồi lại vỡ ra từng mảng, phơi bày những ruột gan tim óc, tiếng gào thét cũng không ngừng dứt. Tôi thấy quá đau xót dang tay đón lấy nhưng vô ích,... Tôi thoát ra vùng ánh sáng xanh.
Có một vùng ánh sáng trắng tinh sạch mà bây giờ tôi mới nhìn thấy. Tôi tiến lại gần, những bóng đen lăn lóc thối lui. Có những vùng ánh sáng vàng tiến vào vùng ánh sáng trắng và mất hút, có một số bóng đen cũng đi vào vùng ánh sáng trắng cũng không có tiếng kêu la vọng lại.
Tôi định tĩnh quan sát lại mọi việc. Nhận thấy có những bóng đen lao vào vùng sáng đỏ, xanh họ cố vượt ra như không thể và tiếng kêu gào, tiếng kim khí chạm vào nhau vang lên. Ngược lại cũng có những bóng đen từ trong vùng ánh sáng văng vào vùng tối đen kêu gào rên siết. Thật quá thương tâm!
Tôi lại nhớ đến bi nguyện của Phật Thích Ca cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi 6 đường. Tâm từ bi của đức Phật thật lớn lao, vĩ đại. Tôi cũng có tâm từ tâm bi nhưng không thể giúp chúng sinh trong cõi Địa ngục thoát khỏi khổ não, bức hại và hành hạ.
Lại nhớ lời nguyện của Địa tạng vương Bồ tát. Phật và Bồ tát có chí nguyện thật cao cả. Tôi vẫn đang ở Địa ngục nhưng lại không bị khổ não bức hại. Tôi cảm thấy rất an toàn, ấm áp.
Tôi quỳ xuống phát nguyện “Nguyện vì chúng sinh trong cõi Địa ngục, thường tu tập các Pháp Phật để mang ánh sáng về thắp sáng Địa ngục tối tăm. Giúp chúng sinh trong cõi Địa ngục không còn đau khổ, phiền não, bị bức hại”.
Từ bốn phương đồng vang lên âm thanh trầm ấm, hùng tráng “Lành thay! Lành thay! Làm bừng sáng Địa ngục là việc khó làm. Chúng sinh cõi Địa ngục phần nhiều nghiệp nhân xấu ác rơi vào Địa ngục, tâm thức mê mờ, sợ sệt, hoảng loạn. Vì nhớ tưởng đến những việc làm xấu ác đã làm, sợ đòi nợ, sợ đền mạng,... Chạm phải ánh sáng cuống cuồng chui rúc. Làm bừng sáng Địa ngục là việc khó làm. Lành thay! Lành thay!”.
Tôi cúi người xuống vọng bái, rồi đứng lên, đi vào vùng ánh sáng trắng.


Với nguyện lực như thế nhưng đáng tiếc những kiếp ngay sau đó tôi trả nghiệp cũ rơi vào kiếp ma đói sống lang thang vất vưởng, đói khát triền miên. May nhờ đi theo đám chúng bạn vào được một ngôi chùa đổ nát nương náu qua ngày. Vị sư ở chùa cho ăn, được nghe kinh Phật.
Sau một thời gian dài tôi siêu sinh vào một gia đình nghèo khó. Tôi được cho vào chùa làm một chú tiểu theo kề cận sư phụ. Có lẽ tánh xấu huân tập ở nghiệp ma đói khiến tôi ăn nhiều. May nhờ sư phụ nghiêm khắc nên tôi giữ giới khá chu toàn nhưng đạo lực thì yếu kém. Là kẻ chỉ đường không phải là người qua sông.
Ngay kiếp sau đó làm vua một nước lớn. Phước báo quá lớn, đạo lực lại yếu kém. Tôi làm một hôn quân vô đạo, ăn chơi sa đọa, trụy lạc. Tôi tại vị không bao lâu gây ra cảnh máu đổ đầu rơi, dân tình oán thán. Lại gặp nạn binh đao nên nỗi nước mất, nhà tan. Tôi từ bỏ ngai vàng trốn chạy vào rừng nhưng bị quan quân truy bắt. Sau đó, tôi chết thảm giữa pháp trường còn bị cắt đầu thị chúng.


Có một kiếp lâu xa khác. Lúc ấy, tôi là một con cò trắng. Tôi vẫn thường bay đi bắt cá, mò tôm. Có hôm đang bay, tôi bắt gặp một đàn gà con lạc mẹ, kêu la rối rít. Đang đói, đáp xuống tôi tiến lại một chú gà con. Chớp mắt, tôi đã xơi một con, thấy cũng rất ngon miệng. Đàn gà con la hoảng, kêu cứu, trốn chạy. Chỉ cần bước vài bước, tôi với cái cổ dài ra là tóm ngay được một chú gà con xấu số khác, dễ bắt hơn bọn tôm cá ở dưới nước.
Thoáng chốc, tôi đã thịt bốn chú gà con. Vẫn còn thòm thèm, tôi tiến tới chú thứ năm thì mụ gà mái ở đâu xuất hiện đá cho tôi một cú đau điếng. Loạng choạng, cố nén đau tôi bay lên. Bụng rủa thầm “Đồ mụ gà mái độc ác!”.

Kiếp dòi bọ

Lại một kiếp khác, tôi thấy một đồng cỏ hoang vu không một bóng người. Không tin vào mắt mình. Tôi là một con bọ hung. Tôi đang vo tròn những viên phân bò trên đồng cỏ. Tôi làm việc rất chăm chỉ và cẩn thận như thể đó là một công việc cao quý, thiêng liêng.
Quái lạ sao có thể thế được?
Tôi đi tìm nguyên nhân thì bắt gặp tôi có mặt trong một đám đông nhung nhúc.
Ôi! Trời ơi! Một xác người vàng bủng, trương thối. Tôi là một trong vô số những con dòi bọ đang đánh chén thịt người. Tôi cảm nhận mùi xác chết nồng lên trên mũi. Thật tởm lợm!
Nhưng không phải, trong kiếp sống của một con dòi, những con dòi hăm hở ăn cái xác thối. Với chúng đó là một món ăn ngon lành, béo bổ. Những kiếp lâu xa liền kề đó, tôi vẫn là con dòi trong đống phân, trong xác chuột chết, trong những mảng thịt dư thừa của bọn sư tử, chó hoang,...
Lại rơi vào vùng tối đen, tôi thấy đói ghê gớm bụng sôi lên ùng ục, nước dãi chảy đầy quanh mặt. Tôi thấy người ta đang bày tiệc, những mâm đầy thức ăn. Tôi rón rén lần tới. Dường như người ta không chú ý đến tôi. Tôi đánh liều nhấc một cái đùi gà hấp còn nóng hôi hổi, rồi vùng chạy vào trong gốc khuất. Đưa lên mồm. Cốp! Đau buốt cả răng. Xòe tay ra, tôi không thấy đùi gà đâu. Tôi dáo dác đưa mắt tìm kiếm, không rơi rớt ở đâu cả. Nhìn lại, cái đùi gà vẫn nằm nguyên trên bàn.
Quái lạ! Lần này, tôi thận trọng hơn. Tôi lần đến con heo sữa quay. Tôi đói ghê gớm, cúi xuống. Cốp! Hai hàm răng lại đánh vào nhau. Sợ mọi người đuổi theo, tôi bỏ chạy nhưng cũng chẳng ai đuổi theo. Bụng tôi réo mỗi lúc một lớn. Tôi đói dữ dội.
Tôi chợt nhìn thấy một cái bánh ai đánh rơi ven đường, tôi nhặt lên ăn, cũng lại không được. Kinh hoảng, tôi nhận ra mình là con quỷ đói lang thang. Tôi đói lả người và chết ngất bên cạnh chiếc bánh. Trải qua thời gian không biết bao lâu, tôi dần tỉnh, có tiếng chuông chùa từ xa vọng lại.
Tôi tiếp tục đi tìm chân tướng sự việc. Tôi nghe tiếng kêu gào rên siết. Ở Địa ngục, tôi đang bị trói chặt vào một trụ sắt nung đỏ và một hình hài gớm ghiếc đang dùng một cái kềm to cũng được nung đỏ bành miệng tôi ra những viên sắt góc cạnh nóng hừng hực, đỏ lòm được nhét vào miệng. Tôi giãy dụa gào khóc xin tha. Tôi nghe tiếng thịt cháy xèo xèo, rát bỏng. Tôi nhìn thấy từng viên sắt đỏ trôi chảy trong cơ thể, tôi chết ngất. Lại sống, lại chịu hình phạt. Nhiều kiếp sau tôi vẫn ở Địa ngục chịu nhiều hình phạt thống khổ khác.

Lòng người bạc ác

Vượt qua những kiếp trong cõi Địa ngục về một kiếp trước đó. Tôi là con của một điền chủ giàu có. Tôi là Cậu Nhất, là quý công tử lắm bạc nhiều tiền và ngang tàng bậc nhất. Tôi tiêu tiền như nước. Không có kỹ viện, quán rượu, nhà trọ sang trọng nào mà không biết đến Cậu Nhất.
Sống đắm chìm trong hoang lạc, giàu có tôi không coi ai ra gì?
Không ít lần tôi cho người đánh gãy tay, gãy chân những người hầu bàn phục vụ mà tôi không vừa ý. Có thế lực quan quyền bao che, tôi mặc sức tung hoành không ít gia đình phải bỏ xứ đi khi động phạm phải tôi.
Hôm ấy là một buổi chiều cuối đông, tiết trời khá lạnh. Tôi mặc áo choàng bằng lông con báo gấm tuyệt đẹp. Tôi đứng giữa khoảng sân rộng, trên tóc tôi đầy những bông tuyết. Tôi đang dùng roi da hành hạ con người hầu, trên người không còn một mảnh vải che thân. Mỗi đòn roi tôi đánh xuống bông tuyết trên người tôi bay ra trắng xóa.
Mặc con người hầu quỳ lạy van xin, càng đánh tôi càng hung tợn hơn. Đánh chán chê vì con người hầu chẳng còn đủ sức kêu la nữa. Tôi cho người kéo xác cô hầu cột ở góc cây gần đó.
Tôi thấy “Tôi thật tàn nhẫn, ác độc”.
Lý do của việc hành hạ đó là cô người hầu đã không kịp châm thêm than củi vào lò sưởi ấm. Những con hầu khác sợ hãi đã chuẩn bị một lò sưởi khác. Tôi vào nhà, gia nhân đã chuẩn bị buổi tối đầy rượu thịt.
Trời trở lạnh thêm, tôi thấm mệt, nhấn nhá vài miếng thịt và uống hết hai vò rượu. Tên gia nhân bạo miệng xin tha con người hầu.
Ầm! Mâm thức ăn đã bay xuống nền nhà. Tên gia nhân lạy tôi như tế sao, tôi gằn giọng “Đứa nào dám thả con người hầu đó, tao sẽ móc mắt ra”.
Tôi bỏ vào nhà trong, mệt mỏi đánh một giấc tới sáng. Sáng ra, tôi mới biết con người hầu đã chết. Hóa ra bị tôi dọa, đám gia nhân không dám nói cho cha tôi. Đến khi biết chuyện, ông già cũng chẳng dám nói tôi câu gì. Bực dọc, tôi sai gia nhân chuẩn bị tiệc rượu và đi mời đám bạn nhà giàu đến, kêu cả bọn ca kỹ đến hát hầu.
Cả bọn ăn chơi đến khuya mỏi mệt thì lăn ra ngủ. Giữa đêm, tôi thấy ớn lạnh. Mở mắt nhìn thấy trời lờ mờ, tiếng chó ăng ẳng vang lại từ xa, gió thổi nghe xào xạc. Xa xa lờ mờ ẩn hiện những bóng người, tôi thấy rờn rợn nhớ lại xác chết trắng bệch,...
Từ đó, về đêm tôi không còn được giấc ngủ ngon. Tính tình càng thêm cáu gắt, tôi tiêu sài hoang phí hơn. Rượu thịt thừa mứa tôi cấm tiệt bọn người ở ăn. Tôi thường nói “Đồ ăn dư thừa thời đổ cho chó ăn, dư thời đổ bỏ cấm tiệt cho lũ vô tích sự ăn”.
Ông già mất sớm, mụ dì ghẻ thông đồng với quan lại địa phương bức hại đẩy tôi ra đường. Uất ức đói rách, tôi đến nhà đám bạn chén tạc, chén thù ngày trước bị chúng cho gia nhân xua đuổi.
Đói quá, tôi xin ăn cũng chẳng ai cho. Mọi người ghét bỏ xua đuổi, tôi ăn lại cơm thừa của chó. Đêm đói lạnh ngủ ở ngoài hiên nhà người cũng bị đánh đập, xua chó cắn đuổi. Tôi tháo chạy không may té xuống hố sâu gãy cả hai chân. Ngày lăn lê xin ăn, đêm lần ra khu mồ mả ngủ.
Rồi một hôm, tôi phát điên dại không bao lâu thì chết.


Quán sát những kiếp lâu xa khác, ở cõi Người tôi trải qua không ít kiếp làm đàn ông, đàn bà, con trai, con gái làm việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau làm vua chúa, làm nhà nho, nhà sư, thấy lang, kẻ đầu trộm đuôi cướp,... Có thể nói không có việc xấu ác nào không làm, không việc thiện đức nào không tích góp nhưng bị trả nghiệp quả cũng rất nặng nề. Có lẽ, vì lời nguyện xưa nên tôi trải qua rất nhiều kiếp tu hành tinh chuyên. Và cũng có những kiếp chịu nhiều khổ não để dứt trừ nghiệp quả tiền kiếp.
Những kiếp được sinh lên cõi Trời thật là mối họa trên bước đường tìm đạo của tôi. Ở nơi đó, thật là xứ sở thần tiên, trên người mặc toàn gấm lụa, châu ngọc, của báu muôn màu. Chúng thần tiên người nào cũng rực rỡ. Thức ăn cũng muôn màu, muôn vị. Tiếng đàn ca vang lừng thánh thót tươi vui. Nhưng cũng có những vị thần tiên hình hài kém sắc, thần lực mất dần rồi tan mất. Mạng căn hết, phước báo không còn những vị thần tiên lại trôi lăn trong sinh tử.
Nguyên do của việc chúng sinh trồi lên, tụt xuống trong 3 cõi.
Nguyên nhân là do khi chết thần thức rút ra khỏi xác thân đau khổ rất nhiều dẫn đến mê mờ thần trí, những chuyện tốt xấu trong nhiều kiếp đan xen, lầm lộn.
Nếu hiện kiếp, chúng sinh đó sống theo thiện nghiệp thì việc thần thức rút ra khỏi xác thân có phần nhẹ nhàng nên thần trí còn tỉnh táo biết chọn đường tốt mà thọ sinh.
Hiện kiếp, chúng sinh nào sống buông lung tánh ý, làm việc xấu ác, ti tiện. Khi chết, thần thức thoát ra khỏi xác thân thật đau khổ vô cùng nên nỗi mê loạn, cuồng chạy đa phần rơi vào 3 đường dữ.
Phần còn lại không thiện, không ác, khi chết thọ sinh nếu may mắn gặp niệm tốt thì sinh lên cõi Trời, cõi A tu la hoặc trong loài Người tùy phước báo đời trước mà thọ lãnh những nghiệp nhân giàu có hay nghèo khó rồi tiếp tục tạo tác, luân chuyển. Khi xui rủi gặp niệm xấu ác rơi vào 3 đường dữ chịu đời thống khổ.


Nhớ lại có kiếp làm nhà sư. Gặp năm binh đao loạn lạc. Lúc đó, tôi là một đứa bé mồ côi. May nhờ được một nhà sư mang về cho làm chú tiểu ôn tụng kinh kệ. Nhờ vậy mà tôi không bị đói khát. Năm tháng trôi qua, cuộc sống an bình trở lại. Sư phụ lớn tuổi qua đời. Tôi bấy giờ cũng là một nhà sư được trọng vọng.
Nhìn thấy chùa xiêu vẹo, mái chùa hư đổ. Người dân trong làng mang gỗ ngói đến sửa sang lại khá khang trang.
Vui mừng có chùa mới, lại hết lo sợ chiến tranh, tôi lấy kinh ra trì tụng. Đang đọc tụng, tôi lại phân tâm khởi nghĩ “Nhờ mấy quyển kinh sách này mà một đời không sợ đói no, lại còn được người đời trọng vọng”.
Vì niệm này dấy lên mà ngay kiếp liền kề, tôi phải vào Địa ngục nuốt than hồng.


Có một kiếp nọ, tôi là con một gia đình khá giả. Được cha mẹ cho ăn học đến nơi đến chốn, tôi khá thông minh, được bạn bè nể trọng. Đi đâu chơi, bọn chúng cũng chèo kéo tôi đi cùng.
Trong làng, có cái chùa cổ, có cây đa rất to bọn chúng tôi thường tụ tập leo trèo ở đó.  Có ông sư rất hiền lành tốt bụng vẫn cho bọn chúng tôi bánh trái và răn dạy. Không hiểu sao tôi rất thích nghe ông tụng kinh và học hỏi giáo lý. Tôi muốn vào chùa, ba mẹ đã không cho còn dời nhà đi nơi khác.
Khi lớn, tôi bị buộc lấy vợ và có được một bầy con. Ba mẹ lần lượt qua đời. Thấy cuộc sống giả tạm, ngắn ngủi nhớ đến nhà sư tôi đi tìm mua kinh sách về xem, lĩnh hội được không ít.
Sau đó, tôi tìm đến những ngôi chùa lân cận để học hỏi, tranh biện giáo lý. Những nhà sư không làm thỏa mãn kiến giải của tôi. Tôi nhận định “Những nhà sư chẳng biết gì về đạo pháp”.
Một thời gian dài, tôi tìm hiểu thêm giáo lý. Khi thấy đã thông suốt, tôi quyết định vào đời độ người.
Nhìn thấy vợ con sống xa hoa, hoang phí, không chịu tu học. Tôi đuổi cả ra đường, cho họ biết thế nào là đau khổ để họ sớm quay về nương tựa Phật.
Tôi lại thấy những cô gái làng chơi sống lầm lũi trong đêm. Những tưởng họ sống trong đau khổ, dễ độ nên tìm đến cứu vớt cuộc đời họ.
Ngộ nhận được Phật lực gia hộ, tôi đã thọ dụng và cố khuyên giải họ. Kết quả vì tôi không thực sự có thần thông, đi lầm đường rẽ nên nỗi tinh lực suy, khí lực cạn, hỏa khí vượng đốt cháy tim gan, đau không kể siết.
Thật là u mê, lầm lạc! Tôi không độ được người còn hại mình phải mất mạng.
Tôi lại ngộ nhận đạt đạo, u mê thị hiện nỗi khổ già bệnh chết, hiển bày Địa ngục. Chết không người thân. Uổng phí tu học, một đời lầm lạc.


Kiếp này, tôi thọ sinh mang thân gái. Ba mẹ tôi bỏ rơi tôi ở một gốc sứ trước cổng một cái am lá nhỏ khi trời còn tờ mờ sáng. Lúc đói bụng, tôi khóc lên, ni cô trong am đã bế tôi vào. Tôi sống nhờ nước cơm và cháo loãng.
Đến năm tôi lên chín, một lần đi ra ngoài sư cô đã bị người xấu bức hại và giết chết. Tôi đã khóc vật vã ngất đi nhiều lần. Mọi người giúp tôi chôn cất ni cô trong một cái hố sâu cách am lá không xa. Thầy tôi được quấn trong đôi ba chiếc chiếu cũ rách được đặt xuống và lấp đất lại. Tôi gào khóc chạy đến bới tung đất lên. Mọi người kéo tôi ra, tôi vùng vẫy gào khóc rồi lại ngất.
Đến chiều tôi tỉnh lại, vẫn còn nghe tiếng khóc xung quanh. Ba đứa bé khác nhỏ hơn, mắt đứa nào cũng đỏ hoe, sưng húp. Chúng cũng là những đứa trẻ giống như tôi bị ba mẹ bỏ rơi. Thầy tôi đã nhặt về nuôi dạy. Tôi gắng gượng không khóc nữa. Đã có một mâm cơm nhỏ được bày sẵn. Chắc là của một người tốt bụng nào đó đã chuẩn bị cho tôi cùng mấy đứa em. Tôi an ủi bọn trẻ và cùng ăn với chúng.
Dọn dẹp xong, tôi bảo bọn chúng đi ngủ, tôi cũng đi nằm. Giấu mặt trong chiếc mền cũ vá chằng chịt tôi rưng rưng khóc.
Không ngủ được, tôi lần ra nấm mộ thầy quỳ xuống khóc. Một lúc sau, cả ba đứa em đều ra ngồi cạnh. Đứa nào cũng khóc. Giữa một đêm dài lạnh lẽo, tĩnh mịch bốn đứa trẻ ngồi khóc bên nấm mộ mới đắp. Quang cảnh thật thê lương.
Bọn chúng tôi ở lại trong am lá đào khoai, hái rau sống qua ngày. Có những người tốt bụng thi thoảng vẫn ghé sang cho thêm gạo, thêm rau. Tôi là đứa lớn hơn nên được họ chỉ bày cách cuốc đất trồng khoai trồng bắp. Lớn lên một chút, tôi biết trồng lúa. Các em tôi giờ cũng lớn, cũng đỡ đần tôi nhiều việc. Am lá hư đổ, chúng tôi  đã kiếm cây kiếm lá dựng một cái am lá lớn hơn.
Chúng tôi vẫn nhớ những việc thầy đã làm, chúng tôi mang những đứa trẻ bị bỏ rơi về nuôi chúng khôn lớn. Lớn lên, một số ở lại dựng thêm nhiều am lá cho bọn trẻ mồ côi. Một số khác rời đi lập gia đình. Lâu lâu, cả gia đình họ ghé lại thăm, chúng tôi rất thương yêu nhau.
Tôi đã già yếu và lâm bệnh nặng. Những đứa trẻ ngày xưa giờ đã là những ông già, bà lão. Tôi nằm trên một chiếc giường tre. Họ đứng quanh, không ai nói một lời.
Tôi đưa mắt nhìn họ rồi chìm sâu vào trong giấc ngủ.


Lại một kiếp khác. Gặp thời loạn lạc, tôi là một gã ăn xin. Thời loạn lạc dễ đâu có được bữa no, tôi thường lén chui rào vào nhà những người giàu có. Tôi đi kiếm những bữa thức ăn thừa mứa của chó mèo. Tôi vẫn hay bị bọn người ở bắt gặp, đánh đập và đuổi đi. Làng tôi có một ông rất giàu có và keo bẩn. Tôi vẫn thường hay vào nhà ông trộm thức ăn.
Hôm ấy, các con ông và người ở đã ra đồng thu hoạch lúa thóc. Tôi đói bụng nên lần vào nơi để thức ăn của chó. Đang với lấy khúc xương thì bị ông phát hiện.
Chẳng nói một câu, cây gậy trên tay ông phang vào người tôi tới tấp. Tôi bị dồn vào góc tường. Tôi khóc lóc van xin, ông vẫn không tha.
Ở góc tường có chậu mai trắng, có một cái kéo sắc nhọn nằm kề bên. Ông già càng đánh càng tàn nhẫn. Cứ nhằm vào những vết thương đẫm máu mà đánh xuống. Đau quá, tôi chụp cái kéo và lao tới. Ông ta bật ngửa ra sau kêu cứu. Tôi chồm tới rút kéo ra và đâm liên tiếp cho đến khi ông ta hết cựa quậy thì sực tỉnh. Hoảng sợ, tôi bỏ chạy. Tôi sợ các con ông về báo quan. Họ sẽ đuổi theo truy bắt. Tôi chạy miết vào rừng sâu.
Ngày đi, đêm nghỉ, cứ chạy mãi cho đến khi không còn biết gì nữa. Khi tỉnh lại thấy toàn thân đau nhức. Lờ mờ nhớ ra mọi việc, chập chờn thấy bóng người, tôi hoảng sợ vùng lên tháo chạy ra ngoài.
Ùm! Tôi đã rơi xuống hồ nước sâu. Không biết bơi, tôi hoảng hốt kêu cứu.
Một ông lão bước ra chuyền cành cây kéo tôi lên, không hỏi han gì, ông bỏ đi vào hang động. Thì ra tôi từ nơi đó chạy ra. Mặc dù khoảng cách giữa hang động và vực nước là không gần nhưng vì quá hoảng sợ nên tôi lao thẳng xuống nước.
Tôi lần dò vào trong hang động. Ông lão đã chuẩn bị cho tôi một số trái cây rừng. Tôi được ông cho ở lại.
Những ngày tiếp theo, trong giấc ngủ chập chờn tôi lo sợ người ta đến bắt tôi, tôi thấy bàn tay đầy máu. Đôi mắt ông nhà giàu trân trối nhìn tôi, ánh mắt vừa phẫn nộ vừa van xin, tôi hét lên và vùng chạy.
Lại ùm một tiếng. Ông lão cứ như biết trước lại ra cứu tôi lên.
Sau nhiều lần như thế, tôi mới kể ông lão mọi việc. Ông lão nói:
- Chỉ vì một miếng ăn mà con lại giết người?
Tôi gượng gạo trả lời:
- Con rất đói, con cũng không muốn giết người. Tại ông ấy bức ép con quá.
Ông lão nói:
- Đói thì vào rừng kiếm trái cây rừng mà ăn, ta ở đây đã 40 năm rồi có bị đói chết đâu. Con người ngoài kia bạc ác lắm. Đã giết cả nhà ta, ta đã từng nghĩ sẽ trả thù nhưng trả thù ai đây? Ai cũng thế cả. Ngay cả ta cũng suýt bị họ giết, may nhờ một nhà sư cứu mạng. Nhà sư đã nói oan oan tương báo biết bao giờ mới dứt. Dạy ta biết nghiệp quả luân hồi. Nhà sư còn khuyên ta “Con hãy yêu thương chính kẻ thù của con”.
Quả thật ta không sao hiểu được, làm sao ta không thù hận những người giết vợ con ta cho được. Nhưng ta cũng không thể trả thù phải trốn vào rừng sâu sống. Làm bạn với núi rừng, giờ thì mối thù hận trong lòng ta cũng nguôi ngoai nhưng ta cũng không sao hiểu được làm sao có thể yêu thương kẻ thù của mình? Ông lão lẩm bẩm “Làm sao có thể yêu kẻ thù của mình?”.
Một lúc sau, ông lão lại nói:
- Thôi, ngươi xuống đây, ta dạy ngươi bơi, ta không thể cứu ngươi mãi được.
Rồi ông lão cũng mất bỏ tôi lại một mình giữa núi rừng. Tôi đã có thể kiếm trái cây rừng để sống.
... Những đêm tối, tiếng chân người đuổi bắt, bàn tay đầy máu và ánh mắt cứ đeo đuổi. Giật mình tỉnh giấc, tôi trằn trọc và nghĩ về lời nhà sư truyền lại “Con hãy yêu thương chính kẻ thù của mình”.
Ông lão ơi! Khi có được đóa vô ưu, con đã hiểu được lời nhà sư truyền dạy lại ở trong tiền kiếp “Con hãy yêu thương chính kẻ thù của con”.
Quả thật kẻ thù của con rất đáng thương. Họ sống đau khổ, hận thù. Con yêu thương họ như chính bản thân con nên sống an lạc, hồn nhiên.
Nay, con sẽ vì họ mà chết để xóa đi hận thù trong lòng họ. Dẫu biết rằng tạo tội cho họ. Nhưng sống khổ đau trong hối hận vẫn dễ chịu hơn sống trong hận thù. Hết kiếp về Địa ngục, con sẽ mang ánh sáng an lành đến với họ. Những mong họ đừng có hoảng loạn, bỏ chạy nhưng con tin rằng họ sẽ cùng con thắp sáng cõi tối tăm.
Chương IX

           Lời tựa chứa đựng sự mong mỏi của Vô Ưu gửi đến nhân loại. Hãy sống như là mây trắng! Hãy sống như là con đường đi! Đừng sống vùi trong khổ đau phiền muộn do dùng tâm phân biệt, so sánh tạo nên bao cảnh tang thương, mất mát, khổ đau cho nhân loại, cho muôn loài trong chiến tranh, thù hận.
Hãy sống bằng tâm bình đẳng như như, nhân loại sẽ có cuộc sống an lạc, thanh bình! Xã hội sẽ tiến bộ, công bằng và văn minh.
Tại sao phải sống như mây trắng?
Vì mây trắng đủ duyên thời tụ lại, hết duyên thời tan đi. Mây trắng không vì sự tụ hợp hay tan đi mà phiền muộn. Thế nên, mây trắng tự tại. Nếu bạn là mây trắng bạn cũng sẽ tự tại như thế.
Tại sao phải sống như là con đường đi?
Vì con đường dẫu rằng bị muôn người chà đạp giẫm nát, dẫu cỏ che mất lối, con đường cũng không vì thế mà đau khổ, muộn phiền. Bạn là con đường đi thì cũng không có bất kỳ nỗi khổ nào có thể làm não hại bạn.
Còn gì nữa?
Dù muốn hay không bạn cũng sẽ trở về với đất. Khi ấy thì bạn cũng sẽ là con đường đi, cũng là mây trắng bồng bềnh trôi,... bình yên và tự tại.
Bánh xe chánh pháp, Phật đã quay từ ngàn xưa, những vòng quay tự tại và vô ngại mang lại sự tự do giải thoát cho chúng sinh trong 3 cõi. Thời gian lâu xa, những vòng quay đã trở nên chậm chạp và co rút lại, chúng sinh trong 3 cõi vì thế đã thống khổ hơn.
Vô Ưu vì bi nguyện của đức Phật lại quay bánh xe chánh pháp nên gọi là chuyển pháp luân.
Vì quay bánh xe chánh pháp trên phạm vi thế giới nên nói là đại.
Kinh được ẩn tàng trong quyển sách, trong tâm chúng sinh ở 3 cõi nên gọi là mật kinh.
Quyển sách được viết với mong muốn đến tay được tất cả mọi người trên toàn thế giới nên lời văn, câu từ không trao chuốt, dễ đọc, dễ hiểu. Chỉ chú trọng nghĩa không chú trọng hình thức.
Nếu bạn thấy có chỗ dùng được muốn rộng truyền cứ tự do in ấn, sao chép. Điều quan trọng nhất bạn hãy giữ nguyên định bản. Cả từ hình thức trang bìa cho đến nội dung bên trong.
Nếu bạn có thể dịch ra nhiều thứ tiếng thì cứ theo nghĩa mà dịch, đừng vướng mắc câu từ. Việc phiên dịch nên sát nghĩa, dễ hiểu. Sát nghĩa vì nửa sự thật không là sự thật. Dễ hiểu để người đọc có thể tiếp thu ngay cho dù trình độ không cao. Chú ý nên giữ nguyên trang bìa. Bạn làm tốt điều này công đức bạn thật không nhỏ. Bạn đã mang lại sự an lạc, làm vơi bớt khổ đau trong lòng nhân loại. Giúp trái đất được an toàn hơn.
            Ngôi nhà Nối lại những yêu thương sẽ được những người hảo tâm, tốt bụng, quyên góp xây dựng trên mảnh đất rộng 3000 m2. Đây là ngôi nhà được xây dựng nhằm mục đích làm nơi nương náu của những người già neo đơn, cơ nhỡ. Thông qua quyển sách, tôi cũng thành kính mời quý thầy cô giáo lớn tuổi, đơn chiếc ở khắp mọi nơi về với mái nhà yêu thương này với ước muốn “Có được cơ hội phụng bồi ân đức của quý thầy cô giáo. Phần nào đáp tạ thâm ân những người đã ươm mầm sự hiểu biết cho thế hệ trẻ”.
            Tôi cũng lập nên một bếp ăn từ thiện nhằm đảm bảo cho những người sống trong ngôi nhà Nối lại những yêu thương có được cuộc sống no đủ, khỏe mạnh.
Quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc ra đời nhằm giúp đỡ những cảnh đời nghèo khó bất hạnh, khốn cùng.
Tiêu chí của quỹ “Trước giúp ngặt, sau giúp nghèo”. Trong đó, những cô cậu học trò nghèo hiếu học, những người bạn có tinh thần cầu tiến,... là mục tiêu ưu tiên chính sẽ nhận được sự hỗ trợ từ nguồn quỹ.
Quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc sẽ giúp nhân loại tăng trưởng tâm từ tâm bi, diệt trừ những tính xấu tham lam, ích kỷ, bỏn xẻn,... Giúp loài người sống biết buông bỏ không dính mắc vào những việc tốt đã làm, phá đi vọng chấp có cái tôi thường tại trong mỗi con người, góp phần xóa đi những khổ đau trong lòng nhân loại.
Đặc điểm khác biệt nhất của quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc là không cần biết số tiền của quỹ từ đâu mà có.
Điều này có nghĩa là quỹ không cần biết đến Mạnh Thường Quân của quỹ là ai?
Chỉ biết chắc rằng số tiền đó có nguồn gốc từ Tình yêu thương chân thật mà ra.
Quỹ cũng không cần ghi nhận người được tương trợ là ai?
Khi biết có ai đó cần hỗ trợ quỹ sẽ tìm đến. Nếu bạn biết ai đó hoặc bạn là người cần giúp đỡ thì hãy gửi thông tin về cho quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc.
Vô Ưu không lập quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc cho riêng mình những mong mọi người ai cũng lập cho mình quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc.
Những người có được Tình yêu thương chân thật, hãy thay tôi điều hành quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc.
Mạng người chỉ trong hơi thở. Riêng tôi, mạng sống lại nằm trong hơi thở của người khác. Nhưng Quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc phải tồn tại, Tình yêu thương chân thật hãy gắng giữ gìn.
Trước khi đọc quyển sách này, bạn hãy dừng lặng những kiến chấp, những vọng niệm, giữ tâm thanh tĩnh, trống rỗng thì bạn dễ dàng hiểu và lĩnh hội nghĩa lý trong sách.
Dù bạn là ai?
Quyển sách nhỏ này có lưu giữ những giọt nước mắt yêu thương chứa đựng sự từ bi và tấm lòng thánh thiện của bạn. Có thể những giọt nước mắt của bạn sẽ nằm ở phần đầu, có thể ở phần sau nhưng cũng có thể là ở đoạn giữa của quyển sách. Bạn hãy kiên nhẫn tìm lại những giọt nước mắt thánh thiện ấy. Bạn hãy yên tâm đây là những giọt nước mắt yêu thương. Vì thế những giọt nước mắt đó sẽ nuôi dưỡng tâm hồn bạn.
Nếu bạn có đủ kiên nhẫn đọc hết quyển sách này thì tôi đảm bảo quyển sách sẽ làm thay đổi ý nghĩa cuộc sống của bạn - Giúp bạn sống tốt, có ích hơn.
Quyển sách không phải là câu chuyện về cuộc đời của Vô Ưu. Bởi vì quyển sách chứa đựng phương pháp xóa tan những nỗi khổ đau, những khó khăn trong cuộc sống, góp phần giúp bạn có cuộc sống hạnh phúc, an lạc và nhiều niềm vui.
Quyển sách còn là những viên gạch, những nấc thang đầu tiên để bạn đặt chân bước lên con đường giác ngộ - Là con đường đưa bạn thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn luân hồi sinh tử.
Nếu bạn chỉ xem quyển sách như một câu truyện thì bạn hãy cho những người khốn khổ đang sống trong tuyệt vọng.
Nếu khi đọc sách bạn nhận ra bạn cần đi tìm đạo hoặc bạn đã là người đang trên đường tìm đạo. Bạn có niềm tin đối với tôi. Tôi sẽ là người bạn đường cùng đi về với thường lạc ngã tịnh.
Nếu bạn đọc xong có ít nhiều lĩnh hội. Nhận ra quả thật mình đã có những sai lầm, khiếm khuyết. Hãy nên sửa sai, không ai là người vẹn toàn. Nhưng biết sai mà sửa là điều rất đáng quý. Đừng cố chấp, nắm giữ mãi những kiến chấp, định kiến, những sai lầm của mình. Điều đó không có lợi gì cho bạn cả.
Nếu bạn là nhà khoa học, nhà kinh tế thì hãy mau chóng sửa sai. Gỡ bỏ những học thuyết không còn hợp thời nữa. Hãy là cậu học trò ngoan hiền của thế giới tự nhiên, phải biết học hỏi và tiến bộ. Hãy bước những bước đi vững chắc, bền bỉ,...!
Nếu bạn là một nhà lãnh đạo tôn giáo, hãy bổ khuyết giáo lý, kinh điển của tôn giáo mình vì lẽ nửa sự thật không thể là sự thật. Chỉ khi đó bạn mới có thể đem lại sự bình an trong lòng các tín đồ, họ mong mỏi sự bình an trong tâm hồn. Bạn không cần phải thay đổi tên tôn giáo làm gì, chỉ cần bổ sung những khiếm khuyết trong giáo lý thôi.
Bạn đừng sợ tín đồ sẽ bỏ rơi bạn. Tín đồ chân chính không làm điều đó. Chỉ khi họ không tìm được sự an ổn trong tâm hồn. Khi đức tin không đủ giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, những khổ đau thì họ sẽ rời đi.
Thế nào là một tôn giáo chân chính?
Tôn giáo chân chính là tôn giáo khuyên dạy tín đồ làm điều tốt, điều thiện, sống và hành trì theo chánh pháp. Giáo lý kinh điển răn dạy tín đồ không gây đau khổ, hận thù trong lòng nhân loại. Không tàn sát, lạm sát muôn loài,... Là tôn giáo mang lại sự bình an tâm hồn đến cho các tín đồ chứ không phải là tổ chức gom góp thật nhiều tín đồ, nhiều tài vật nhằm xây dựng giáo đường, nhà thờ, chùa tượng cao đẹp, tráng lệ,...
Nếu bạn là tín đồ của một tôn giáo nào đó, sau một thời gian nương tựa, bạn nhận thấy mình sống an lạc, tự tại. Bạn có niềm tin đủ sức để sống tốt, sống lương thiện, những khổ đau trong cuộc sống sẽ vơi dần và tan mất. Đó chính là tôn giáo chân chính đáng để bạn tin tưởng,…
Sách được viết ra để đọc và làm theo (nếu tương hợp). Sách không phải là tác phẩm văn học nghệ thuật để người đời sau khen chê, hay dở, phê bình.
Người trí nghe ví dụ mà hiểu.
Ví như khi ta chiêm ngưỡng một tác phẩm hội họa của Picasso. Người đời sau khi xem xong. Người lĩnh hội được cái đẹp thường không nói gì. Một số người khác lĩnh hội được thì khen đẹp. Người không lĩnh hội được ngu dốt nhưng thật thà thì nói “Bức tranh gì vẽ xấu thấy ghê, nguệch ngoạc như gà bới thua con tôi vẽ”. Người không lĩnh hội mà có chút hiểu biết thì bỏ đi. Chỉ có những kẻ ngu dốt nhưng muốn dấu sự ngu tối của mình thì đưa ra lời khen tiếng chê và phê bình tác phẩm hay dở.
Cũng lại như vậy đứng trước một tác phẩm điêu khắc được cả nhân loại trầm trồ thán phục thì cũng có những nhà phê bình đánh giá yếu chỗ này, kém chỗ kia.
Vì sao?
Vì người đời vẫn muốn người khác biết mình tài giỏi, muốn đứng trên thiên hạ. Nếu bạn góp ý khuyên họ “Hãy làm một tác phẩm nghệ thuật để đời” thì họ sẽ làm “Một tác phẩm để dành”. Họ sẽ tự chiêm ngưỡng lấy. Với họ, tác phẩm do họ tạo ra tuyệt đẹp, đầy chất nghệ thuật nhưng nhân loại không có đủ khả năng, trình độ để lĩnh hội.
Quyển sách tôi viết không dùng để so sánh với tác phẩm điêu khắc kia. Ngôn từ cục mịch, văn ngữ luộm thuộm. Muốn phê bình, bạn cũng không biết là sẽ bắt đầu từ đâu. Muốn khen, bạn cũng chẳng tìm được chỗ để khen thôi thì xem xong rồi nếu không có chỗ đáng để lĩnh hội thì cho người khác vậy.
Nếu bạn đọc sách thấy tương hợp thì hãy giữ lại.
Chẳng cần để nơi trang trọng làm gì?
Cứ để ẩn khuất ở đâu đó khi nào thấy cần thì lại lấy ra xem.
Quyển sách của tôi không phải là báu vật vô giá, chỉ là vật giúp bạn cùng gia đình có những ngày sống hạnh phúc an vui. Con cái thảo hiền. Vợ chồng hòa hợp. Vì thế hãy giữ quyển sách lại làm món quà cho con cháu sau này.
Nếu bạn nhận ra quyển sách này có thể giúp nhân loại vơi bớt khổ đau, chiến tranh, hận thù sẽ bị đẩy lùi và tan biến thì hãy vì nhân loại mà rộng truyền.
Tôi mong mỏi quyển sách nhỏ này sớm đến tay những nhà lãnh đạo, những nguyên thủ quốc gia, những nhà làm chính trị, những nhà lãnh đạo các tôn giáo khác nhau, những ông trùm khủng bố hay những người bạn ở Somali,... Nếu có thể vì sự hòa bình, tiến bộ, văn minh của nhân loại thì bạn hãy gửi đến họ.
Tôi cũng mong mỏi quyển sách này được đến với những tổ chức từ thiện, những nhà tình thương, những trại trẻ mồ côi, những hội người mù, trại nuôi dưỡng trẻ em khuyết tật,... để mọi người thực sự sống với trái tim, tình yêu thương chân thật trong tâm.
Quyển sách này đến tay bạn, không có nghĩa là bạn phải gửi cho quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc một số tiền. Điều đó không quan trọng và tốt đẹp bằng việc bạn sao chép ra và dùng quyển sách làm quà tặng cho một người thân quen hay xa lạ nào đó. Dù bạn chỉ truyền trao một quyển sách thôi thì phước đức và công đức của bạn cũng nhiều gấp muôn lần số tiền bạn gửi đến quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc.
Bạn cũng hãy nên là một quỹ Từ Bi Sinh Hỷ Lạc.
Chỉ khi bạn có những vướng bận về gia đình, công việc, vấn đề về sức khỏe,... Bạn không thể mang số tiền dôi dư đến giúp đỡ những người khó khăn, cơ cực thì hãy nhờ đến Vô Ưu hoặc gửi đến những tổ chức, những quỹ từ thiện khác,... Thay mặt những người nghèo khó, khốn cùng, những cô cậu học sinh nghèo hiếu học và nhân loại, tôi xin kính cẩn gửi đến bạn lời cảm ơn trân trọng.

Lợi danh như đóa phù dung
Tối tàn, sớm nở
Có gì mà ham
Bạc tiền như khói chiều loang
Không nuôi người chết
Đa đoan, muộn phiền
Sang hèn như bóng trong sương
Vô thường vẫy gọi
Ta người khác chi?

Đừng nghĩ tôi vì danh vì lợi vì bạc tiền,… mà làm điều này. Tôi chẳng cần những thứ vô vị ấy. Quyển sách này sẽ phá tan những u mê, lầm lạc về nhận thức, về cuộc sống, những kiến chấp, định kiến sai lầm và cả niềm tự hào, tự phụ thông minh, nhiều hiểu biết của nhân loại. Sẽ có người nhân đó thức tỉnh. Cũng có không ít người u mê không nhận ra. Họ sẽ xem tôi như là một cái gai trong mắt cần phải nhổ bỏ đi.
Thôi được, tôi sẽ phải giúp họ. Vô Ưu đã gieo mối hận thù trong lòng bạn. Bạn muốn Vô Ưu đền tội. Hãy xử sự mọi việc thật nhẹ nhàng. Bạn hãy giúp người hư mắt có đôi mắt sáng. Người hư gan thận có lá gan, quả thận. Người cần tim có trái tim để sống tốt,... Lòng bạn sẽ thanh thản hơn.
Bây giờ và mãi sau này vẫn vậy, bạn đừng nên tìm hiểu tôi sinh ở đâu, ngày giờ nào, sống ra sao, làm được điều gì tốt, điều gì xấu,...?
Nếu tôi là rồng thì không ai có thể nhìn thấy. Còn nếu tôi là rắn thì chẳng đáng để tìm.
Nếu bạn vẫn cưỡng cầu tìm thì bạn hãy nhặt lấy một nắm đất ngay dưới chân bạn. Hãy nhìn sâu vào trong nắm đất đó. Không phải đợi 100 năm sau, bạn mới tìm thấy tôi trong đất, tôi đã và đang nằm trong nắm đất trên tay bạn rồi.
Nếu may mắn bạn sẽ nhìn thấy tôi và nhìn thấy cả bạn trong nắm đất đó. Ngay đó, bạn biết mình đã qua được bờ bên kia.
Như đã trình bày ở những phần trước, ngay sau khi hoàn thành quyển sách “Hãy là đường xưa mây trắng bay...” tôi sẽ tự nguyện hiến nội tạng gan thận, máu,... cho những người đang cần. Vì thế, khi bạn hoặc người thân cần đến lá gan, quả thận,... thì hãy liên lạc với tôi theo số điện thoại: 0982353038.
Tri ân vọng bái đức Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Phật, chư Bồ tát đã vì chúng sinh trong tam giới thuyết pháp độ sinh.
Tri ân vọng bái chư Tổ đã giữ gìn, truyền trao pháp bảo.
Tri ân vọng bái chư Tăng bảo đã bảo lưu gìn giữ pháp bảo.
Vô Ưu xin gửi lời tri ân sâu sắc đến những Tăng bảo đã một đời miên mật hộ trì chánh pháp, hộ trì tam bảo.
Cố Lão Hòa Thượng Thích Thiện Hoa.
Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh.
Lão Hòa Thượng Thiền Sư Thích Thanh Từ.
Lão Hòa Thượng Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, Người trước tác Tác phẩm Đường xưa mây trắng.
Cùng những vị thầy đáng kính mà tôi được biết đến trong suốt quá trình tìm đạo. Cũng như các vị chư tôn đức hộ trì Tam bảo khác - Những người đã giữ gìn ngọn đuốc chánh pháp cháy mãi, sáng mãi cho đến tận ngày nay.
Cảm ơn những thiện tri thức đã giúp tôi tìm về đạo.                   
Cảm ơn ba mẹ và những người thân yêu quanh tôi.
Cảm ơn Bạn!
                                                            ( CÒN NỮA )
























































































Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

Bá Trượng Hoài Hải

Bá Trượng Hoài Hải

    Bá Trượng1 hỏi Triệu Châu:
-         Từ đâu đến?
Triệu Châu đáp:
-         Nam Tuyền.
-         Nam Tuyền nói pháp gì?
-         Người chưa được đạo phải im lặng.
Bá Trượng liền hét to một tiếng, Triệu Châu giả bộ sợ. Bá Trượng nói:
-         Im lặng rất tốt.
Triệu Châu bèn múa rồi đi.

 1. Bá Trượng hiệu Hoài Hải, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất, đời thứ 2 dưới ngài Nam Nhạc.
 

BÁ TRƯỢNG ĐẠO HẰNG
 
Hòa thượng Bá Trượng đang đứng hầu Pháp Nhãn, nhân đó hỏi rằng:
-         Có ông ngoại đạo hỏi Phật: “Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời”. Phật im lặng không đáp.
Pháp Nhãn1 nói:
-         Dừng! Dừng! Ông phải hướng đến chỗ im lặng của Phật mà lãnh hội.
Đạo Hằng liền đại ngộ.

1. Pháp Nhãn Văn Ích là người sáng lập tông Pháp Nhãn, nối pháp La Hán Quế Sâm đời thứ 8 dưới ngài Thanh Nguyên.
 

BÀ XÁ TƯ ĐA
Bà-xá Tư-đa (Tổ 25) nghị luận Phật lý với ngoại đạo Vô Ngã.
Ngoại đạo nói:
-         Xin Thầy im lặng mà luận, không dùng lời nói.
Tổ bảo:
-         Không dùng lời nói làm sao biết ai hơn ai thua?
-         Chỉ cần lấy nghĩa lý mà thôi.
-         Ngươi lấy gì làm nghĩa lý?
-         Lấy vô tâm.
-         Ngươi đã vô tâm, làm sao hiểu được nghĩa lý?
-         Tôi nói vô tâm nên tên chẳng phải nghĩa lý.
-         Ngươi nói vô tâm nên tên chẳng phải nghĩa lý. Ta nói phi tâm nên nghĩa lý ấy chẳng phải tên.
-         Nghĩa lý ấy chẳng phải tên, ai phân biệt được?
-         Ngươi nói tên chẳng phải nghĩa lý, vậy tên ấy là tên gì?
-         Vì phân biệt cái chẳng phải nghĩa lý nên tên ấy chẳng phải tên.
-         Tên chẳng phải tên, nghĩa lý chẳng phải nghĩa lý, vậy ai là người phân biệt và phân biệt cái gì?
Bàn luận qua lại hơn 59 lần, cuối cùng ngoại đạo bí lối mới chịu quy phục.
 

Diệu Hỷ bình:
Bà-xá Tư-đa đâu cần nhiều lời? Nếu lúc ấy nghe ông ngoại đạo nói: “Xin thầy im lặng mà luận không dùng lời nói”, liền bảo: “Nói lầm rồi!”. Ta biết kẻ ấy làm kế sống trong hang quỷ.

 
BÁO ÂN KHẾ TÙNG
 
Có vị tăng hỏi Hòa thượng Báo Ân1:
-         Sư tử khi chưa ra khỏi hang thì thế nào?
Báo Ân nói:
-         Mũi nhọn khó cầm.
-         Sau khi ra khỏi hang thì sao?
-         Ẩn thân không lối.
-         Muốn ra khỏi hang mà không ra được thì thế nào?
-         Mạng như dây tóc đồng hồ.
-         Việc sau này thế nào?
-         Chặt đứt.2

1. Báo Ân Khế Tùng nối pháp Đức Khiêm Minh Chiêu, đời thứ 8 dưới ngài Thanh Nguyên.
2. Chặt dứt duy nghĩ.

BÀN SƠN BẢO TÍCH
 
Hòa thượng Bàn Sơn1 nói:
Thí như cầm kiếm quơ hư không, hư không không dấu vết, kiếm không thương tổn. Nếu được như thế thì mới tự tại.

 
Diệu Hỷ bình:
Chà chà chà! Kho báu nhà vua của ta không có con dao như thế.
 

1. Bàn Sơn Bảo Tích là thiền tăng đời Đường nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất, đời thứ 2 dưới ngài Nam Nhạc.

BÀNG UẨN
 
Cư sĩ Bàng Uẩn1 nói:
-         Chỉ mong tất cả cái có đều không, dè dặt tất cả cái không cho là thật.
Cư sĩ Bàng Uẩn hỏi Mã Đại Sư2:
-         Người không làm bạn với muôn pháp3, là ai?
Mã Đại Sư đáp:
-         Đợi ông uống một hớp cạn nước Tây Giang4, ta sẽ nói cho ông.
Có vị tăng hỏi:
-         Thế nào là Phật?
Mã Đại Sư đáp:
-         Tức tâm tức Phật. 

1. Tự Đạo Huyền, nối pháp Mã Tổ Đạo Nhất.
2. Mã Tổ Đạo Nhất.
3. Bản Tánh.
4. Bao dung muôn pháp, cũng có nghĩa là không thể mở miệng nói.

 
BẢO NINH NHÂN DŨNG
 
Hòa thượng Bảo Ninh1 dạy chúng, nêu ra bài kệ
Đêm đêm ôm Phật ngủ,
Ngày ngày cùng Phật dậy.
Đứng ngồi cùng theo nhau,
Nói nín cùng chung ở.
Phút giây chẳng tạm rời,
Như hình cùng với bóng.
Muốn biết chỗ Phật ngự,
Chỉ ngay lời nói ấy.
 
Dạ dạ bão Phật miên,
Tiêu triêu hoàn cộng khởi.
Khởi tọa trấn tương tùy,
Ngữ mặc đồng cư chỉ,
Phân hào bất tương ly,
Như thân ảnh tương tợ.
Khước thức Phật khứ xứ,
Chỉ già mặc ngữ thị.
(Phó Đại Sĩ)2
Bảo Ninh nói:
Đại chúng, Phó Đại Sĩ nói bài kệ này từ xưa đến nay không ai có thể lý giải nổi. Có nhiều người nghiên cứu bài kệ này, nhưng đa số đều hiểu lầm.
Bảo Ninh tôi cũng có một bài kệ:
Ưng ngủ thì ngủ khò,
Ưng dậy thì dậy ngay,
Nước rửa mặt sáng rỡ,
Chung trà miệng nhâm nhi.
Hồng trần trong biển cả,
Đất bằng nổi ba đào.
Ha ha a ha ha,
La lý lý la lý.
 
Yếu miên thời tức miên,
Yếu khởi thời tức khởi,
Thủy tẩy diện bì quang,
Xuyết trà thấp khước chủy.
Đại hải hồng trần sanh,
Bình địa ba đào khởi.
Ha ha a ha ha,
La lý lý la lý.
Có vị tăng hỏi:
-         Thế nào là cảnh giới Bảo Ninh?
Bảo Ninh đáp:
-         Ngọn núi chủ đảo ngược.
-         Thế nào là người trong cảnh giới Bảo Ninh?
-         Lỗ mũi không có một bên.
-         Thế nào là gia phong (tông chỉ) của Bảo Ninh?
Bánh mè cứng, bánh bao mềm.
-         Nếu gặp khách đến ngài đối phó thế nào?
-         Ăn ngốn mau no, ăn chậm lâu đói.

 
Hòa thượng Huyền Sa3 bình:
Ngài Phó Đại Sĩ chỉ nhận được một tâm sáng rỡ.
Hòa thượng Động Sơn4 bình:
Ông hãy nói mỗi ngày thiền tăng có ngủ chăng?
Hai chuyển ngữ5 của hai tôn túc ai dám bảo trên đời này không có thần tiên? Phải tin rằng trong lời bình có trời.

 
Hòa thượng Bảo Ninh dạy chúng:
Có tay có chân mà không mặt trái, mặt phải, người sáng mắt nhìn cũng không thấy. Trời xoay bên trái, đất chuyển bên phải. Rồi vỗ vào đầu gối, nói:
Ào ào một trận gió tây,
Vài ba lá rụng cội cây lộ bày.
 
Tây phong nhất trận lai,
Lạc diệp lưỡng tam phiến.
Có vị tăng hỏi:
-         Thế nào là đại ý Phật Pháp6?
Sư đáp:
-         Nước nóng trong nồi không chỗ lạnh.
 
Hòa thượng Bảo Ninh nói:
Một là một, hai là hai, ba là ba, bốn là bốn7, số chữ rất rõ ràng, thứ tự trên dưới giúp nhau. Có việc gì để bàn?
Bảo Ninh cầm gậy vẽ một đường, nói:
Đại chúng, cả đời làm loạn rồi.
 
Hòa thượng Bảo Ninh dạy chúng:
Cái của người xưa người nay dùng, cái của người nay là do người xưa làm ra. Xưa và nay nào có khác (dung thông một thể), nhưng có mấy ai biết được xưa và nay. Ôi! Chín và mười gặp nhau mà chẳng ra tay.
Lại nói:
Linh miêu không giống trồng là hồng.
Cây sắt trên cành lại trổ bông,
Bỗng dưng đủ tháng kết thành quả.
Từ đâu chín mộng đượm hương nồng?
 
Vô chủng lình miêu hỏa lý tài.
Thiết hoa hoàn hướng thọ đầu khai,
Mạch nhiên kết cá đoàn loan quả.
Chỉ tự thời nhân xưa đắc lai?
 
Hòa thượng Bảo Ninh dạy chúng:
Ông già Thích Ca thuyết pháp 49 năm mà không nói một chữ. Ưu-ba Cúc-đa chất đầy thẻ trong thất mà chưa từng độ một người8. Đạt-ma chẳng ở Thiếu Thất, Lục Tổ chẳng trụ Tào Khê. Vậy ai là con cháu? Ai là Tiên thánh? Thế thì, họ vốn không thương tích, không nên làm tổn thương họ. Rồi vỗ gối nhìn chúng nói:
May thay thiên hạ được thái bình.
Bảo Ninh lại tụng điển cố gió cờ9:
Thênh thang dịch trạm một lối chung,
Sớm tối ngươi đi mặc thung dung,
Lão bà nào phải không tiến bước,
Cớ sao ngay cửa gai gốc bung.
 
Đãng đãng nhất điều quan dịch lộ,
Thần hôn tằng bất cấm nhân hành.
Lão bà bất thị bất tiến bộ,
Vô nại đương môn kinh cức sanh.

1. Thiền sư Bảo Ninh Nhân Dũng nối pháp Dương Kỳ Phương Hội, đời thứ 12 dưới ngài Nam Nhạc.
2. Phó Đại Sĩ bổn danh Phó Hấp, tự Huyền Phong, hiệu Thiện Huệ. Là bậc tôn túc trứ sanh trong Thiền Tông đời Lương, Nam Triều.
3. Thiền sư Huyền Sa Sư Bị nối pháp Vân Môn Văn Yển, đời thứ 6 dưới ngài Thanh Nguyên.
4. Thiền sư Động Sơn Hiểu Thông là tăng nhân tông Vân Môn, nối pháp Thiền sư Văn Thù Ứng  Chân, đời thứ 9 dưới ngài Thanh Nguyên.
5. Lời nói khiến người chuyển mê thành ngộ.
6. Đây là câu hỏi thường sử dụng trong thiền môn. Ý hỏi chỗ căn bản của Phật pháp là gì?
7. Tỷ dụ thiền pháp xưa nay rõ ràng.
8. Ngôi thất của Ưu-ba Cúc-đa rất nhỏ, mỗi khi độ một người , ngài đánh dấu một thẻ. Thời gian sau thẻ chất đầy thất, đủ thất ngài độ người rất nhiều.
9. Trong kinh Pháp Bảo Đàn ghi: "Lúc Huệ Năng đến chùa Pháp Tánh, Quảng Châu, thấy hai vị tăng tranh luận về gió động và cờ động - một người nói gió động, một người nói cờ động - Huệ Năng nói: - Chẳng phải gió động, chẳng phải cờ động, chính tâm các ông động". 

BẢO PHONG HỒNG ANH
 
Hòa thượng Bảo Phong dạy chúng:
Tiên Thánh1 nói: “Trăng rọi sông, gió thổi tùng. Đêm dài vắng lặng làm việc gì? Phật tánh, giới châu ấn tâm địa, sương móc ánh sáng thân mặc y”.
Các thiền đức, Tiên Thánh nói như thế chỉ uổng tương giấm mà thôi. Nếu là sơn tăng tôi thì không như vậy mà nói thế này:
Trăng rọi nước, gió thổi tùng.
Đêm dài vắng lặng làm việc gì?
Mục đồng trên núi ngồi thổi sáo.
Chim chóc kinh hồn lươn quanh cây.
 
Giang nguyệt chiếu, tùng phong xuy.
Vĩnh dạ thanh tiêu hà sở vi?
Mục đồng lãnh thượng nhất thinh địch.
Kinh khởi quần nha nhiễu thụ phi.

1. Tức Vĩnh Gia Huyền Giác, đoạn văn sau rút từ Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca. Huyền Giác còn gọi là Nhất Túc Giác, nối pháp Lục Tổ Huệ Năng.

 
BẢO PHONG VĂN CHUẨN
 
Hòa thượng Bảo Phong1 dạy chúng:
Pháp thân trùm khắp trên tất cả muôn vật, ngay muôn vật mà nhận ra pháp thân. Mây tan mặt trời ló dạng, nước trong hiện núi xanh.
Chợt cầm gậy đánh một cái nói: Đại sư Vân Môn nói: “Bồ Tát Quán Âm đem tiền mua bánh hồ2, khi đem về té là bánh bao”.
Đại chúng, Vân Môn chỉ thấy đầu dùi nhọn mà không thấy đầu đục vuông3. Bảo Phong tôi thì không nói như thế.
Khi ấy, ném cây gậy xuống, nói:
Chớ nên thờ Phật giữa đường,
Hãy mau chống gậy quê hương trở về.
 
Vật ư trung lộ sự Không Vương,
Sách trượng hoàn tu đạt bản hương.
Hôm sau có người từ Hoài Nam đến, không biết tin tức Phước Kiến thế nào, lại nói: “Con voi lớn Giạ Châu nuốt trâu sắt Thiểm Tây”.
Rồi hét một tiếng, nói:
-         Nói cái gì?
Cười ngất thổ địa Vân Cư.

 
1. Tức Lặc Đàm Văn Chuẩn.
2. Làm từ đất Hồ (Ấn Độ) truyền qua nên lấy đó đặt tên.
3. Chỉ thấy hiện tượng các pháp mà không thấy bản tánh chân thật.

BẢO PHƯỚC TÙNG TRIỂN
 
Có vị tăng hỏi Bảo Phước1:
-         Tuyết Phong bình thường nói ra điều gì cũng như con linh dương khi ngủ treo mình trên cây, không ai biết được tung tích2.
Bảo Phước đáp:
-         Nói như thế, ta cũng không dám làm đệ tử Tuyết Phong.
 
Bảo Phước hỏi một vị tăng:
-         Trong điện là Phật gì?
Tăng đáp:
-         Mời Hòa thượng nói xem.
-         Phật Thích-ca.
-         Hòa thượng chớ gạt con.
-         Chính ông gạt ta.
Bảo Phước lại hỏi một vị tăng:
-         Ông tên gì?
Tăng đáp:
-         Hàm Trạch.
-         Nếu gặp người khô cạn đến phải làm sao?
-         Ai là người khô cạn?
-         Ta.
-         Hòa thượng chớ gạt con.
-         Chính ông gạt ta.
Bảo Phước lại hỏi Phạn đầu:
-         Cái nồi chứa bao nhiêu?
Phạn đầu đáp:
-         Hòa thượng thử nói xem.
Bảo Phước dùng tay làm bộ lường.
-         Hòa thượng chớ gạt con.
-         Chính ông gạt ta.
Bảo Phước lại thấy một vị tăng bèn nói:
-         Ông làm việc gì mà được to lớn như thế?
Tăng lại hỏi Bảo Phước:
-         Hòa thượng lùn bao nhiêu?
Bảo Phước ngồi xổm làm thế lùn.
-         Hòa thượng chớ gạt con.
-         Chính ông gạt ta.

1. Thiền sư Bảo Phước Tùng Triển, đệ tử nối pháp Tuyết Phong Nghĩa Tồn, đời thứ 6 dưới ngài Thanh Nguyên.
2.  Tỷ dụ thiền sư khi khêu gợi người học lãnh ngộ thiền pháp không nương vào văn tự ngôn ngữ, tri thức kiến giải.

Chơn Tịnh Khắc Văn

Chơn Tịnh Khắc Văn

         Hòa thượng Chơn Tịnh1 dạy chúng:
       Hai chữ Phật pháp thật khó thể hiểu được. Ai cũng có Phật mà không tin Phật của mình, chỉ nương tựa chút ít Bát-nhã tương tự2 của người xưa cho là bản tánh thường trụ bất biến. Vừa dấy niệm thì trái giác hợp trần, dính khằng không thoát ra được. Có học giả đến liền đem cái ấn nê3 lần lượt truyền thọ. Đâu biết rằng sự truyền thọ như thế không những mình lầm mà làm cho người khác lầm luôn. Môn hạ của Động Sơn không có Phật pháp cho người, chỉ có một thanh kiếm, hễ thấy học giả đến liền chặt đứt, khiến cho tánh mạng của họ không thể bảo tồn, tất cả thấy nghe hiểu biết đều dứt bặt, sẽ gặp nhau trước khi cha mẹ chưa sanh4. Thấy người đến gần liền rút kiếm chặt đứt. Tuy kiếm bén mà không thể chém người vô tội. Các ông có ai vô tội5 chăng? Nếu có ta cũng đánh ông 30 gậy.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh6 dạy chúng, nêu ra công án:
Tam Thánh7 hỏi Tuyết Phong:
-         Cá nhảy khỏi lưới8 lấy gì ăn?
Tuyết Phong đáp:
-         Đợi ông ra khỏi lưới tôi sẽ nói cho ông nghe.
Tam Thánh nói:
-         Giả sử 1.500 thiện tri thức nói như thế, ông cũng chẳng biết. Hay tuyệt! Hay tuyệt! Vui tuyệt! Vui tuyệt! Như được diều thì không cần đến cò.
Bảo Ninh9 tôi không nói như thế, chỉ cần cầm gậy đánh đuổi ra khỏi sơn môn. Lại nói “Vui tuyệt! Vui tuyệt! Như một con cọp, chớ động đến!”.
Các thiền đức, thử nói cái vui của Bảo Ninh tôi sánh với cái vui của Tam Thánh thế nào? Hãy bước ra nói xem?
Giây lâu, sư hét một tiếng, nói:
-         Giả sử có khám xét cũng không khám xét được.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng, nêu công án:
Tam Thánh nói: “Nếu có người đến thì ta tiếp mà không chỉ dạy”.
Hưng Hóa10 nói: “Nếu có người đến, ta không tiếp mà lại chỉ dạy”.
Xem hai lão thiền sư này cơ phong bén nhọn, trộm được chút ít kế sống của Lâm Tế, mỗi vị tự phong cương giới, khí thế xông thẳng vũ trụ, khiến cho thiền tăng sáng mắt buồn cười.
Các thiền sư, hãy nói buồn cười ông ấy cái gì? Có biết nguyên do trong đó chăng? Nếu biết, mặt tình cho ông khuynh đảo tự tại, nếu chẳng biết, chỉ nhai lại cặn bã11 của Tam Thánh và Hưng Hóa mà thôi.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng:
Phật pháp không tùy thuận tình người, trưởng lão các nơi mở miệng nói: “Ta hiểu thiền, hiểu đạo”. Các ông hãy nói xem, họ đã hiểu chăng? Vô cớ ngồi trong hầm phân, lừa thần dọa quỷ. Người như thế, đánh chết ngàn người, muôn người cho chó ăn có lỗi gì?
Lại có một số người tham thiền bị họ làm mê hoặc chỉ trố mắt nhìn mà có hay biết gì đâu, dù bị dội phân lên đầu cũng không biết sợ.
Đại chúng, ai cũng là đại trượng phu cớ sao lại chịu như thế? Vậy phải làm thế nào?
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng:
Trời đất và ta đồng một nguồn, muôn vật cùng ta đồng một thể, bàn chân ngang ba, dài bốn, Bắc Cu-lô-châu bốc lửa đốt cháy lông mày trời Đế-thích, Long vương ở biển Đông chịu đau không nổi. Một tiếng sấm nổ chấn động ao hồ núi sông. Ở ngã tư đường12 có một thổ phỉ đang say, tỉnh dậy, vỗ tay cười to ha hả, nói: “Gần đây trong thành Quân Vân không có giặc”. Rồi cầm cây gậy giơ lên nói: “Giặc! Giặc!”
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng, nêu ra công án:
Tuyết Phong nói: “Núi Nam có con rắn lớn13, các ông tới lui phải đề phòng”. Tuyết Phong không có tướng bậc đại nhân nên con rắn không đầu chẳng chịu đi. Trường Khánh Đại An như cô dâu mới sợ cha chồng. Lại nói: “Hôm nay trong pháp đường có người tán thân mất mạng”. Vân Môn Văn Yển chống gậy đến trước mặt Tuyết Phong giả bộ sợ. Đó là vẽ rắn thêm chân rồi.
Huyền Sa Sư Bị nói: “Dùng con rắn lớn núi Nam làm gì?”. Nói kiến giải của mình phù hợp với thiền pháp mà không thoát khỏi sự cột trói trong hang ổ, lại không ai có khí khái cả. Môn hạ của Bảo Ninh chẳng lẽ không có ai có khí khái sao? Tôi không dám mong các ông lập bày tông chỉ, để nêu cao tông phong, chỉ cần chút ít tro kiến trần tục cũng khó lắm rồi.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng, giơ cây gậy lên nói:
Niết-bàn tâm thì dễ hiểu, còn sai biệt trí thật khó biết. Người xưa14 nói: “Ông có cây gậy, ta cho ông cây gậy. Ông không có cây gậy, ta cướp cây gậy của ông”.
Qui Tông15 không nói như thế: “Ông có cây gậy, ta cướp cây gậy của ông. Ông không có cây gậy, ta cho ông cây gậy”.
Đại chúng, Ba Tiêu nói như thế, còn Qui Tông thì không nói như thế. Hãy nói, ai đúng?
Khắc Văn ném cây gậy xuống, nói:
-         Là cái gì?
Giây lâu lại nói:
-         Nếu đúng, thì Long Nữ chóng thành Phật16, nếu chẳng đúng, thì Thiện Tinh rơi vào địa ngục17.
 
Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng:
Ngày nay lại đã qua rồi,
Mạng căn huyết mạch lần hồi khô khao.
Dường như cá cạn ở ao,
Khổ thêm thì có, lại nào vui đâu.
 
Thị nhật dĩ quá,
Mạng diệc tùy giảm.
Như thiểu thủy ngư,
Tư hữu hà lạc.
Chỉ có thiền định của Nhị thừa18 lấy tịch diệt làm vui. Bồ Tát học trí huệ Bát nhã lấy pháp hỷ và thiền duyệt19 làm vui. Chư Phật trong ba đời có đủ từ bi hỷ xả20 - tứ vô lượng tâm – lấy đó làm vui. Đó là cái vui chân chánh.
Thạch Sương Phổ Hội21 nói:
Dừng đi! Nghỉ đi! Lặng đi!22 Đó là cái vui tịch diệt của hàng Nhị thừa. Vân Môn Văn Yển nói: “Tất cả trí huệ thông suốt vô ngại”. Lại đưa cây quạt lên, nói: “Ông già Thích-ca đến rồi!”. Đó là cái vui pháp hỷ, thiền duyệt. Đức Sơn đánh, Lâm Tế hét. Đó là cái vui từ bi hỷ xả của chư Phật ba đời.
Ngoài ba cái vui này ra, những cái vui khác không phải là vui. Các ông hãy nói xem, tăng chúng thuộc môn hạ của Qui Tông23 tôi ở trong hay ở ngoài ba cái vui này?.
Giây lâu lại nói:
-         Hôm nay trang chủ thiết trai phạn và bố thí tiền vật. Đại chúng hãy lui vào tăng đường uống trà24.
Rồi hét một tiếng.
 
Giải hạ, Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng:
-         Có ai thưa hỏi không?
Sư bèn lấy phất tử gõ giường thiền nói: “Tạo hóa trời đất đều có âm dương, có sanh có diệt. Mặt trời, mặt trăng chiếu soi muôn vật cũng có sáng tối, có ẩn hiện. Sông ngòi trôi chảy cũng có chỗ cao chỗ thấp, chỗ thông chỗ nghẹt. Một ông vua sáng suốt trị dân cũng phải có quân thần, có lễ nhạc, có thưởng phạt. Phật pháp xuất hiện ở đời cũng có đốn ngộ có tiệm tu, có quyền thật (có phương tiện, có cứu cánh), có kiết hạ giải hạ. Kiết hạ là ngày 14 tháng 4. Mười phương thế giới không luận thánh phàm, cỏ cây cũng lại như thế”.
Sư dùng phất tử gõ bên trái một cái, nói: “Từ chỗ này đồng thời kiết hạ”.
Sư lại đưa phất lên, nói: “Tất cả đều ở trên đầu phất tử, thấy không?”.
Sư hét một tiếng, nói: “Giải hạ là ngày 15 tháng 7”.
Sư dùng phất tử gõ bên phải, nói: “Từ chỗ này đồng thời giải hạ”.
Sư lại đưa phất tử lên, nói: “Tất cả đều ở trên đầu phất tử, thấy không?”.
Sư hét một tiếng, nói: “Chư Đại Đức, trong ba tiếng hét này, tiếng thứ nhất là bảo kiếm kim cang vương25, tiếng thứ hai là sư tử ngồi xổm26, tiếng thứ ba là gậy trúc dò cỏ27. Nếu các vị hiểu được mới thể hội thiền pháp của Lâm Tế - Hoàng Bá bị đánh, Đại Ngu ăn hèo, siêu xuất thường tình.
Tuy xa cách hai, ba trăm năm, nhưng vẫn chấp nhận cho ông làm đích tử của ngài và mở bày pháp môn bất nhị, quyền hành đạo pháp chư Tổ, dẹp trừ tà ma, tuyên dương chánh pháp, chống đỡ tông môn, dựng lập giáo pháp, chỉnh đốn kỷ cương. Nếu người có đại tri kiến, có con mắt sáng suốt thì phải quyết chí chiến thắng ma quân, bất động trước mọi cảnh.
Sư hét một tiếng, nói: “Phải biết có một tiếng hét mà không có cái dụng của tiếng hét28”. Đến chỗ này phải có con mắt kim cang mới phân biết nổi. Xoay lại không có cục phân để cầm. Chư Đại đức! Hãy nói cầm cái gì?
Im lặng giây lâu, rồi hét một tiếng. 

1. Chơn Tịnh Khắc Văn đệ tử Huệ Nam Hoàng Long, đạo tràng hoằng pháp tại Bảo Phong Long Hưng gọi là Bảo Phong Khắc Văn.
2. Tri thức hư vọng.
3. Một trong ba ấn của Tông môn (ấn không, ấn thuỷ, ấn nê), vốn chỉ màu sắc in trên bùn, chỗ hoàn chỉnh hiển hiện ra, dụ chỉ bản thể bình đẳng nhất như mà hiện ra tướng sai biệt.
4. Bản lai diện mục của chúng sanh.
5. Kiếm bén chỉ chém dứt tình chấp tội nhân  - người chưa giác ngộ - người giác ngộ không bị kiếm chém.
6. Thiền sư Chơn Tịnh Khắc Văn.
7. Tam Thánh Huệ Nhiên nối pháp Lâm Tế Nghĩa Huyền, đời thứ 5 dưới ngài Nam Nhạc.
8. Dụ cho thoát khỏi sự trói buộc mà được cảnh giới giải thoát.
9. Khắc Văn từng trụ trì chùa Bảo Ninh ở Kim Lăng - Chơn Tịnh Khắc Văn.
10. Hưng Hoá Tồn Tương nối pháp Lâm Tế Nghĩa Huyền, đời thứ 5 dưới ngài Nam Nhạc.
11. Chỉ cơ phong ngôn ngữ của người khác, nếu chấp vào đó thì như bị dây leo quấn buộc khó được giải thoát.
12. Nơi nhiều người ồn náo. Dụ cho trần thế. Thiền tông chẳng lìa thế gian mà giác ngộ, phải ngay trần tục mà giác ngộ.
13. Ví dụ cơ phong bức bách người học của thiền sư, hoặc ví dụ cơ ngữ nghiệt ngã nghiêm khắc.
14. Chỉ cho Ba Tiêu Huệ Thanh, là thiền tăng hệ Nam Tháp tông Qui Ngưỡng, đệ tử Nam Tháp Quang Dũng, nối pháp Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, đời thứ 6 dưới ngài Nam Nhạc.
15. Khắc Văn tự xưng. Khắc Văn từng trụ trì chùa Qui Tông Lô Sơn. Đoạn pháp ngữ này lúc ngài trụ trì tại Qui Tông.
16. Vốn là kinh Pháp Hoa. Long Nữ là con gái Bà-kiệt-la Long Vương. Lúc 8 tuổi nghe Bồ-tát Văn Thù nói kinh Pháp Hoa mà liễu đạt các pháp, sau đó dâng bảo châu cho Phật, biến thành thân nam, tức khắc thành Phật. Xem (phẩm Đề-ba Đạt-đa). Thiền tông cho rằng đốn ngộ liền thành Phật.
17. Còn gọi là Thiện Túc. Thiện Tinh sau khi xuất gia tu chứng Tứ Thiền. Sau đó, vì thân cận bạn ác, khởi tà kiến mà đọa vào địa ngục, được gọi là "Xiển-đề Tỳ-kheo", tức Tỳ-kheo không thể thành Phật. Thiền tông dẫn chuyện này để nói rằng khi mê là chúng sanh.
18. Thanh-văn và Duyên-giác. Hai thừa này lấy tịch diệt là cảnh giới tối cao.
19. Pháp hỷ là tu tập Phật pháp mà được niềm vui; thiền duyệt là do nhập định hoặc  tham thiền được niềm vui.
20. Nói những điều làm cho chúng sanh vui, đó là từ, dẹp trừ khổ não cho chúng sanh đó là bi, thấy người khác vui mình vui đó là hỷ, tâm không chấp giữ đó là xả.
21. Tức Thạch Sương Khách Chư, nối pháp Đạo Ngô Vân Trí đời thứ 4 dưới ngài Thanh Nguyên.
22. Đây là ba thứ trong pháp môn thiền định của Thạch Sương.
  • Thôi đi. Đình chỉ tất cả động tác hành vi.
  • Dừng đi. Bặt tất cả vọng niệm.
  • Lặng đi. Lặng tất cả nghĩ tưởng mê ngộ phàm thánh.
  • Một niệm muôn năm đi. Bảo trì một niệm như như bất động.
  • Tro lạnh cây khô đi. Không còn bất cứ tình thức nào.
  • Miếu cổ lò hương đi. Khử trừ chấp trước như sạch hết tro hương trong miếu cổ.
  • Một sợi lụa trắng đi. Trong quá trình đốn ngộ Phật pháp, đối với thiên chánh tân chủ đều phân biệt rõ ràng, như một tấm lụa trắng trong sạch.
23.  Chơn Tịnh Khắc Văn từng trụ những nơi như: Kim Lăng Bảo Ninh, Lô Sơn Qui Tông và Bảo Phong...Đoạn pháp ngữ này ngài giảng ở chùa Qui Tông, cho nên lấy tên chùa mà gọi.
24. Vốn là một phương thức tiếp dẫn của Triệu Châu Tùng Thẩm, còn gọi là Triệu Châu uống trà. Nghĩa là muốn cho người học tiêu trừ tình kiến chấp trước.
25. Dụ tiếng hét thứ nhất của Lâm Tế. Tiếng hét này có thể tức khắc chặt đứt tất cả chấp trước phiền não của chúng sanh.
26. Dụ tiếng hét thứ hai của Lâm Tế. Tiếng hét này như sư tử rống, làm chấn tỉnh chúng sanh ngu tối.
27. Dụ tiếng hét thứ ba của Lâm Tế. Tiếng hét này như gậy trúc dò cỏ, xem có rắn hay không, dò xét căn cơ sâu cạn của người học
28. Dụ tiếng hét thứ tư của Lâm Tế. Tiếng hét này không có ý nghĩa xác định.

 
 
CỔ SƠN THẦN YẾN
 
Cổ Sơn1 dạy chúng:
Các Hòa thượng đều nói: “Đến các nơi tham thiền học đạo”. Chẳng hay tham cái gì? Học cái gì? Có ai tham được chăng? Nếu có, ra trước chúng nghiệm chứng xem?
Các Hòa thượng, tham thiền hay tham đạo? Tham Phật hay tham pháp thân Phật? Tham Phật pháp vi diệu hay tham việc sau khi Niết-bàn?
Nếu tham được câu này thật là lầm to. Có thể nói rằng: “Tâm hướng thượng chẳng dừng”. Những việc ấy không quan hệ2 với các Hòa thượng.
Khi ấy có vị tăng hỏi:
-         Thế nào là đại ý Phật pháp?
Cổ Sơn đáp:
-         Mửa ra đi.
Lại hỏi
-         Hễ có ngôn ngữ là xúc phạm tông phong, chẳng hay thế nào là tông phong Thiền tông?
Đáp:
-         Ngậm miệng lại!
 
Quốc sư Thần Yến ban đầu tham học với Tuyết Phong. Vừa vào cửa Tuyết Phong nắm chặt hỏi: “Là cái gì?”. Thần Yến bỗng dưng khế ngộ, đưa tay vẫy.
Tuyết Phong hỏi:
-         Ông làm đạo lý gì vậy?
Thần Yến thưa:
-         Đâu có đạo lý gì?
Tuyết Phong vỗ Thần Yến mà ấn khả.
 
Hòa thượng Cổ Sơn dạy chúng:
Việc lớn chưa sáng thì không thể thông được Thiền tông. Rất kỵ ghi nhớ ngôn cú, sống bằng ý thức. Đâu chẳng nghe nói: “Ý là giặc, thức là sóng”, đều bị chúng nhận chìm không được tự do tự tại.
Các Hòa thượng, nếu việc lớn chưa sáng, chi bằng thôi nghỉ, dừng lại để tâm thanh tịnh, không nên chấp trước vào sự vật, như thế chơn tâm mới hiển lộ. Bất đắc dĩ ta mới nói như vậy. Người xưa nói: “Ngựa chết làm cho sống lại”. Nếu người đã sáng, ta nói như thế cũng như nói mớ mà thôi.
Còn các ông thì sao? Mười hai phần giáo có dùng được câu nào chăng? Nếu dùng được, huynh đệ thuộc phần nào? Cho nên nói: “Mười hai phần giáo nói không được, phàm thánh nhiếp trì cũng không được, xưa nay thông qua cũng không được, ngôn ngữ bao hàm chẳng xong”.
Bởi vì các ông cứ vùi đầu vào kinh giáo cho nên ta mới tạm phân khai. Nếu kẻ nào chưa sáng mà nói như thế, thì hãy vả vào miệng họ.
Huynh đệ, phải phân biệt được tốt xấu rõ ràng. Có người nào phân biệt được rõ ràng, bước ra trước chúng khám nghiệm xem?
Trời lạnh, phiền các vị đứng lâu!

1.Cổ Sơn Thần Yến nối pháp Tuyết Phong Nghĩa Tồn, đời thứ 6 dưới ngài Thanh Nguyên.
2. Không quan hệ gì với thiền pháp.