Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

HIỂU BIẾT VÀ DỐT NÁT

HIỂU BIẾT VÀ DỐT NÁT

Thuộc một khía cạnh, chúng ta vun đắp sự hiểu biết về thiên nhiên, về vật chất, khoa học, và vân vân; và có thể lại hoàn toàn lơ là một sự việc quan trọng nhất trong sống, đó là cấu trúc và bản chất của cái trí riêng của chúng ta. Chắc chắn, nó là sự dốt nát.
Gặp gỡ này được thực hiện cho những sinh viên, và tôi lại không thấy có bao nhiêu sinh viên hiện diện. Nhưng dẫu vậy, tôi hy vọng các bạn không phiền nếu người nói chú ý vào những sinh viên.
Người ta thường không hiểu tại sao người ta nhận được sự giáo dục. Liệu nó là để thâu lượm hiểu biết thuộc những loại khác nhau đang xảy ra trên thế giới, hầu hết để cung cấp thông tin – thuộc công nghệ, xã hội, và kinh tế? Chắc chắn, hiểu biết đó là cần thiết. 

Và có thể hầu hết chúng ta, khi chúng ta đi đến cao đẳng hay đại học, đều hy vọng để chuẩn bị – dù từ ngữ đó có bất kỳ ý nghĩa gì – cho tương lai sắp đến, cho cuộc sống mà người ta phải sống hàng ngày: kiếm được một việc làm, giữ gìn việc làm, và leo lên những nấc thang của thành công, nếu người ta có khả năng. Chắc chắn, muốn có điều đó, hiểu biết thuộc khoa học, kinh tế, hay văn chương là cần thiết.
Vậy thì hiểu biết và dốt nát bắt đầu từ đâu? Người ta có lẽ có tất cả hiểu biết công nghệ về thế giới, về nguyên tử, về cách chế tạo những máy tính phi thường, làm thế nào đi đến mặt trăng, và làm tất cả những việc phi thường mà con người đang thực hiện khắp thế giới. Một tiến bộ thuộc công nghệ phi thường nhất, một cách mạng to tát, đang xảy ra ở đó, và tôi nghĩ hầu hết chúng ta đều nhận biết việc này. Chúng ta đang trở nên có thông tin nhiều hơn, càng ngày càng có thể gặp gỡ thế giới, gặp gỡ thiên nhiên và những cơn bão của nó, đi đến mặt trăng và ra xa khỏi đó. Cái trí có khả năng lạ thường. Và người ta hỏi: Dốt nát là gì? Bạn biết hiểu biết là gì: đi đến cao đẳng, đại học, nếu bạn đủ may mắn, thâu lượm tất cả hiểu biết sách vở và điều gì những giáo sư và những chuyên gia có thể trao cho bạn trong bất kỳ phạm vi đó – xã hội, kinh tế, vật lý, sinh học, nhân loại học, và vân vân. Điều đó chúng ta gọi là hiểu biết.
Tiếp theo, dốt nát là gì? Rõ ràng, chúng ta là những người dốt nát, và vì vậy chúng ta phải thâu lượm hiểu biết để gặp gỡ xã hội phức tạp lạ lùng này, để sống trong thế giới này. Vì vậy chúng ta nói, ‘Chúng ta phải có hiểu biết, không chỉ kiếm được một công việc tốt hơn nhưng còn cả sống trong thế giới hiện đại này.’ Điều đó là hiển nhiên, điều đó là như vậy. Tôi nghĩ hầu hết chúng ta sẽ đồng ý rằng điều này là cần thiết. Vậy thì, cái sự việc được gọi là dốt nát là gì? Hay tìm hiểu dốt nát là gì không bao giờ có trong những cái trí của chúng ta? Chúng ta đã thâu lượm hiểu biết, nhưng rõ ràng chúng ta đã không tìm hiểu toàn lãnh vực thuộc dốt nát của con người.
Dốt nát là gì? Liệu nó không là hoàn toàn xem thường, hoàn toàn bỏ quên thế giới thuộc tâm lý, rất tinh tế, và phức tạp, hay sao? Và chắc chắn ở đó cũng vậy, chúng ta có hiểu biết nào đó được trao tặng bởi những chuyên gia, những người triết lý, những người tâm lý, những người phân tích và vân vân. Nhưng lại nữa, chúng ta đã thâu lượm hiểu biết về chính chúng ta qua những người khác, qua Gita, qua Upanishads, Koran, Bible, Freuds, và Jungs. Họ đã chỉ bảo cho con người anh ấy là gì. Điều đó vẫn còn là hiểu biết: được thông tin qua những người khác về chính chúng ta. Liệu hiểu biết này, hay liệu nó là dốt nát tổng thể, khi chúng ta vun đắp thông tin, khi chúng ta học hành từ những người khác về chúng ta là gì và chúng ta nên suy nghĩ như thế nào và chúng ta nên suy nghĩ cái gì? Liệu nó không là chính bản thể của dốt nát khi chúng ta phụ thuộc vào những người khác cho tầm nhìn phía bên trong này, hiểu rõ phía bên trong, quan sát phía bên trong này về những tiến trình xảy ra? Phụ thuộc vào những người chuyên môn để chỉ bảo cho chúng ta phải suy nghĩ ra sao về chính chúng ta, và quan sát chúng ta qua đôi mắt của người triết lý, hay qua đôi mắt của người đạo sư, hay qua đôi mắt của bất kỳ những người lãnh đạo tôn giáo nào khắp thế giới – đó không là dốt nát hay sao? Một mặt chúng ta vun đắp hiểu biết về thiên nhiên, về vật chất, khoa học, và vân vân, và mặt khác chúng ta lại hoàn toàn quên bẵng một sự việc quan trọng nhất trong sống, mà là cấu trúc và bản chất của cái trí riêng của chúng ta. Chắc chắn, đó là dốt nát. Dù có lẽ chúng ta khôn ngoan bao nhiêu, dù chúng ta có những thông tin tốt và uyên bác về tất cả những sự kiện hiện nay, dù chúng ta tài giỏi thuộc công nghệ ra sao, khi chúng ta hoàn toàn bỏ quên điều gì đang xảy ra phía bên trong làn da, nó là một dạng của dốt nát tổng thể. Vì vậy, một mặt bạn có hiểu biết phi thường về một khía cạnh và mặt kia bạn lại dốt nát tuyệt đối về khía cạnh còn lại.
Và dốt nát này, không hiểu rõ về chính chúng ta này, đang tạo ra thảm họa trong thế giới, bất kể tất cả những trường đại học, dù chúng là những trường đại học cộng sản hay những trường đại học tư bản hay những trường đại học trong quốc gia này. Sự bỏ quên hoàn toàn điều gì đang xảy ra phía bên trong, thuộc tâm lý này, và sự phân chia này đang tạo ra thảm họa khôn lường; người ta thấy điều này nếu người ta quan sát, nếu người ta nhận biết được điều gì đang xảy ra trong thế giới. Những nổi loạn của sinh viên khắp thế giới để có việc làm tốt hơn, để tạo ra cuộc sống chắc chắn hơn trong một thế giới quá dư thừa dân số và nơi mọi thứ đã trở thành không chắc chắn, không an toàn lạ kỳ; và bởi vì không thể giải quyết được nó, chúng ta nương dựa những người khác để được thông tin về chính chúng ta, để được hướng dẫn. Và đây là nơi xung đột, đau khổ bắt đầu, khi chúng ta phân chia thế giới thành bên ngoài và bên trong; khi chúng ta hoàn toàn tập trung vào bên ngoài và lại hoàn toàn bỏ bê bên trong; hay trao tất cả ý nghĩ của chúng ta vào bên trong và hoàn toàn không lưu tâm đến bên ngoài, đang tìm kiếm bản thể và không màng đến sự diễn tả của bản thể đó. Vì vậy chúng ta có hai thế giới này: bên ngoài và bên trong. Tương tự như vậy, chúng ta đã phân chia con người thành cái cao hơn, linh hồn, đại ngã, và cơ quan thuộc vật chất như hai trạng thái hay thực thể tách rời. Nhưng nếu người ta nhận biết, người ta thấy rằng chỉ có một liên hệ tương quan giữa cái trí và thân thể đang xảy ra liên tục – một trao đổi giữa thân thể và cái trí, và cái trí và thân thể. Vì vậy câu hỏi không phải là làm cách nào tạo ra một cách mạng bên ngoài. Đã có những cách mạng bên ngoài, mà đã không thay đổi con người gì cả: cách mạng Cộng sản, cách mạng Pháp, và những hình thức cách mạng khác mà đã cố tình hủy diệt hàng triệu con người để cưỡng bách con người tuân phục vào một khuôn mẫu. Tất cả chúng đã hoàn toàn thất bại.
Và chắc chắn chỉ có một cách mạng duy nhất, cách mạng bên trong này, mới gây ảnh hưởng bên ngoài. Không phải bên ngoài trước, rồi sau đó bên trong, hay bên trong trước và bên ngoài là thứ hai; nó là một chuyển động đồng nhất. Vì vậy người ta không thể dốt nát hay bỏ bê phía bên trong, bởi vì những đòi hỏi bên trong, những thôi thúc bên trong, những ham muốn, những động cơ, những thúc đẩy bên trong, thay đổi bên ngoài – hình thức bên ngoài, diễn tả bên ngoài, luân lý bên ngoài. Vì vậy trong thâm nhập bên trong chúng ta không đang lơ là bên ngoài. Chúng ta chỉ đang nói rằng, nếu không có hiểu rõ bên trong, dù bạn có lẽ thay đổi bên ngoài nhiều bao nhiêu bởi những luật lệ mới, những cấu trúc xã hội mới, kinh tế mới, những quy định xã hội mới, bạn không thể giải quyết được vấn đề của con người. Bạn có lẽ mang lại một chút trật tự hơn, trật tự đó rõ ràng sẽ bị hủy hoại bởi những đòi hỏi, tham lam, sợ hãi bên trong riêng của bạn. Vì vậy dù bạn thông thái ra sao, dù bạn có nhiều bằng cấp bao nhiêu, dốt nát là chất lượng của cái trí đó mà hoàn toàn không nhận biết được điều gì đang xảy ra bên trong làn da. Không phải phụ thuộc người giáo sư nào đó, không phải phụ thuộc hệ thống triết học hay một đạo sư đặc biệt nào đó, nhưng tùy theo điều gì đang thực sự xảy ra, không phải dựa vào ‘cái gì nên là’ nhưng ‘cái gì là’. Vì vậy sự phân chia này đang xảy ra trong thế giới và sự bỏ bê hoàn toàn này về điều gì đang xảy ra bên trong tạo ra không chỉ thảm họa mà còn cả một biến dạng hoàn toàn của cái trí con người. Và tôi nghĩ rất quan trọng phải tìm hiểu việc đó. Tìm hiểu, không phải được chỉ bảo tìm hiểu cái gì, quan sát, không phải được chỉ bảo quan sát cái gì.
Trước hết, muốn tìm hiểu cần đến sự tự do. Nếu cái trí bị thành kiến, nếu nó bám chặt vào một niềm tin, giáo điều, hy vọng nào đó – và vì vậy thất vọng và sợ hãi – nó không được tự do để tìm hiểu. Một cái trí bị trói chặt vào một niềm tin nào đó – rằng có một linh hồn, một đại ngã, rằng không có đại ngã và vân vân – bị trói buộc vào một kết luận đặc biệt, thuộc tôn giáo hay không tôn giáo, Marxist hay Vedantist, không thể tìm hiểu. Vì vậy phải có tự do.
Bên trong, chúng ta không được tự do. Bạn có lẽ có tiền bạc, một công việc khiến cho bạn đi lại khắp thế giới – công việc đặc biệt của tôi là đi lại khắp thế giới – nhưng đó không là tự do. Tự do là học hành, thâm nhập, khám phá, tìm ra. Và không thể thâm nhập, học hành nếu có sợ hãi, nếu có một đòi hỏi ép buộc hay một quy định cố chấp. Vì vậy muốn tìm hiểu cần đến sự tự do. Ngược lại người khoa học không thể nhìn vào kính hiển vi và khám phá; anh ấy phải được tự do khỏi tất cả những giả thuyết. Nếu anh ấy nhìn những sự việc qua một kính hiển vi bằng một cái trí có một giả thuyết, anh ấy không thể thấy điều gì thực sự đang xảy ra. Vậy là muốn tìm hiểu toàn thế giới này của chính chúng ta, sự tự do tuyệt đối là cần thiết, không phải sự tự do tương đối.

Vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu tự do đó là gì mà sẽ giúp chúng ta quan sát – không phải quan sát cái gì, nhưng sự tự do để quan sát. Nếu có bất kỳ hình thức nào của biến dạng, bất kỳ xuyên tạc, không chỉ trong đôi mắt vật chất nhưng cũng còn trong đôi mắt bên trong, trong cái trí, trong quả tim, lúc đó tìm hiểu không có ý nghĩa gì cả. Không phải như thế sao? Nếu tôi nói, ‘Tôi là một người Ấn giáo’ và quan sát bằng tất cả những thành kiến, những mê tín, và tình trạng bị quy định của tôi, tôi không thể thấy. Tôi sẽ thấy. Tôi sẽ thấy điều gì tôi đã bị chỉ bảo hay bị quy định, chiếu rọi điều đó từ nền quá khứ của tôi, và thấy điều gì tôi nên thấy. Vì vậy tự do là phủ nhận bất kỳ biến dạng nào.
Tự do chỉ có thể khi không có sợ hãi. Sợ hãi ngăn cản người ta không nhìn. Nó giống như một cái trí sống trong bóng tối và đang tìm kiếm ánh sáng. Tự do là chuyển động đó của cái trí và quả tim khi không có sợ hãi thuộc bất kỳ loại nào. Đúng chứ? Vậy thì câu hỏi của chúng ta là: Liệu cái trí và bộ não và các cơ quan vật chất có thể được hoàn toàn tự do khỏi sợ hãi? Lúc này, cùng nhau chúng ta sẽ tìm ra. Bạn sẽ không được chỉ bảo phải làm gì bởi người nói, để cho bạn ghi nhớ và sau đó áp dụng điều gì bạn đã học hành để loại bỏ sợ hãi – đó là điều gì chúng ta đã và đang làm trong hàng triệu năm. Chúng ta sẽ tìm ra cho chính chúng ta sợ hãi là gì, tìm hiểu nó, học hành tất cả về nó, thâm nhập nó, và thấy liệu cái trí có thể làm tự do chính nó hoàn toàn khỏi sợ hãi.

Có sợ hãi, sợ hãi của các cơ quan để tồn tại: sợ hãi thuộc thân thể mà đòi hỏi thực phẩm, quần áo, và chỗ ở; sợ hãi mà nảy sinh khi bạn gặp con rắn hay nguy hiểm. Và có nhiều hình thức sợ hãi khác, một số mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong chốc lát. Sự đòi hỏi có an toàn vật chất cho các cơ quan có thể tồn tại – nó là sợ hãi sao? Bạn hiểu rõ chứ? Khi bạn gặp một nguy hiểm thuộc vật chất và bạn phản ứng đến nó, nó là sợ hãi à? Khi bạn gặp một con rắn hay một con thú hoang nào đó và bạn phản ứng tức khắc, phản ứng đó được đặt nền tảng trên sợ hãi? Làm ơn, chúng ta đang tìm hiểu. Người nói sẽ không bảo cho bạn nó được đặt nền tảng trên cái gì; chúng ta đang học hành, chúng ta đang chuyển tải lẫn nhau. Cơ quan thân thể, cùng bộ não của nó, đã bị quy đinh trong hàng triệu năm để gặp gỡ sự nguy hiểm. Khi bạn thấy một con rắn, có phản ứng tức khắc. Phản ứng đó được đặt nền tảng trên sợ hãi hay trên thông minh?
Hãy tìm hiểu điều này cho chính bạn. Đừng chờ đợi một đáp án từ người nói. Nếu bạn chờ đợi một đáp án, vậy thì bạn biến người nói thành một uy quyền, thành một giáo sư; và như chúng ta đang nói trong một trường đại học, người giáo sư trở thành uy quyền, và tôi hy vọng bạn sẽ không biến người nói thành một uy quyền, bởi vì uy quyền là sự khước từ tự do khi chúng ta đang thâm nhập. Vì vậy không có uy quyền, ít nhất đến mức độ mà chúng ta quan tâm. Và đó là một hành động vĩ đại của hiểu rõ khi bạn gạt đi tất cả uy quyền với mục đích để tìm ra, để thâm nhập – cái trí của bạn được tự do rồi. Và thâm nhập toàn câu hỏi về uy quyền không phải điều gì chúng ta quan tâm vào lúc này. Nhưng trong tìm hiểu sợ hãi, chúng ta sẽ thấy sự liên quan của nó đến uy quyền.
Vì vậy chúng ta đang hỏi: Liệu do bởi sợ hãi mà khơi dậy hành động tức khắc khi bạn gặp nguy hiểm? Mặc dù ngay từ khởi đầu của thời gian những tế bào não và toàn cơ quan thân thể đã bị quy định để phản ứng đến sự nguy hiểm, chắc chắn phản ứng không là sợ hãi nhưng là thông minh. Thông minh đòi hỏi rằng bạn phải tồn tại; nếu không, bạn sẽ đi và và quăng bạn vào gầm một xe buýt! Vì vậy thông minh là nhận biết được sự nguy hiểm và hiểm họa của bị hủy diệt, của không-tồn tại. Tôi biết điều này mở ra nhiều câu hỏi, nhưng chúng ta sẽ gặp gỡ những câu hỏi đó nếu chúng ta bắt đầu hiểu rõ bản chất của sợ hãi.
Lúc này, chúng ta đang thâm nhập vào sợ hãi, không chỉ tại mức độ ý thức mà còn tại những tầng sâu thẳm hơn của cái trí, không phải bằng cách theo sát những từ ngữ nhưng bằng cách quan sát những sợ hãi riêng của chúng ta. Nếu bạn là một sinh viên, bạn sợ hãi về tương lai, rõ ràng như vậy. Trong một quốc gia dư thừa dân số như thế này, có sự hoang mang về những việc làm, và vân vân. Vì vậy có sợ hãi, và khi có sợ hãi chúng ta không thể tìm hiểu – hoặc vào cấu trúc bên ngoài của xã hội hoặc vào lãnh vực tinh tế, phức tạp hơn nhiều của chính chúng ta. Vì vậy người ta phải hiểu rõ, học hành, nhận biết được toàn cấu trúc và bản chất của sợ hãi.
Sợ hãi là kháng cự, và kháng cự hàm ý sự phân chia. Và nơi nào có phân chia có không-an toàn, và vì vậy phải có sợ hãi. Chúng ta đang theo cùng nhau chứ? Chúng ta đã học hành cái gì đó mới mẻ, chúng ta đã khám phá cái gì đó mới mẻ: kháng cự đó có những hình thức khác nhau, như quốc tịch, như gia đình, như niềm tin của tôi và niềm tin của bạn, quan điểm của tôi và quan điểm của bạn, thượng đế của tôi và thượng đế của bạn, cách suy nghĩ của tôi và cách suy nghĩ của bạn, trải nghiệm của tôi đối nghịch với trải nghiệm hay hiểu biết của bạn. Và bất kỳ kết luận nào là một kháng cự. Nơi nào có bất kỳ hình thức của kháng cự, chắc chắn nó phải tạo ra sợ hãi.
Vì vậy cái trí, trong quan sát, đang học hành về bản chất và cấu trúc của sợ hãi. Vì vậy, khi bạn đang học hành về sợ hãi, nó là đang học hành của bạn, không phải đang học hành của tôi đang trao tặng cho bạn. Bạn biết, một trong những việc kỳ lạ nhất trong sống là chúng ta muốn được chỉ bảo phải làm gì, chúng ta luôn luôn đang tìm kiếm ai đó để dẫn dắt chúng ta. Người nói không có gì để cống hiến, ông ta không có thông điệp nào để trao tặng cho bạn. Ông ta không đang chỉ bảo cho bạn phải làm gì hay đang gửi gấm cho bạn những lý tưởng mới, những triết lý mới, hay một bộ mới mẻ của những qui luật. Tất cả ông ta đang nói là, ‘Hãy quan sát, hãy nhìn ngắm.’ Và bạn không thể nhìn ngắm, quan sát, và lắng nghe nếu có sợ hãi.
Vì vậy có sợ hãi khi có bất kỳ hình thức nào của phân chia, và kháng cự. Khi bạn sử dụng từ ngữ ‘chủ nghĩa quốc gia’, bạn phân chia thế giới. Khi bạn tách rời chính bạn như một người Ấn giáo, một người Hồi giáo, một người Parsi, và mọi chuyện của nó, và người khác cũng làm tương tự như vậy, chắc chắn các bạn có những chiến tranh. Vì vậy bất kỳ hình thức nào của tách rời, loại trừ, rõ ràng sẽ tạo ra thảm hoạ và sợ hãi. Đúng chứ? Vì vậy sự kháng cự, mà là dựng lên một bức tường quanh chính người ta, chắc chắn sẽ tạo ra sợ hãi.
Vậy thì sự thâm nhập kế tiếp là: Tại sao cái trí và những tế bào não kháng cự, phân chia như ‘chúng tôi’ và ‘chúng nó’ và vân vân? Tại sao? Tôi không biết chúng ta sẽ thâm nhập câu hỏi này như thế nào, bởi vì cái trí bị phân chia trong chính nó, như tầng ý thức bên ngoài và tầng ý thức bên trong, như truyền thống và hiểu biết mới mẻ, như cái của tôi và cái của bạn. Và một phần, một mảnh, của cái trí nói, ‘Tôi phải tìm hiểu tại sao toàn phân chia và kháng cự này lại xảy ra.’ Kháng cự hiện diện vì chúng ta không muốn bị tổn thương; chúng ta mong muốn được an toàn. Và chính kháng cự đó tạo ra sợ hãi. Vì vậy cái trí, khi nhận ra điều này, chất vấn, ‘Tại sao tôi phân chia, tại sao tôi kháng cự?’ Bây giờ, phần nào của bộ não đang đặt ra câu hỏi này? Nó là một phần mà đã tự-tách rời chính nó hay là tổng thể của thân tâm mà đang đặt ra câu hỏi? Bạn thấy sự khác biệt? Một mảnh của cái trí mà đã tự-tách rời chính nó khỏi sợ hãi nói, ‘Bây giờ tôi đã hiểu rõ rằng sợ hãi hiện diện khi có bất kỳ hình thức nào của kháng cự.’ Cái phần riêng biệt đó đặt ra câu hỏi, ‘Tại sao tôi kháng cự?’ Đó không là câu hỏi sai lầm hay sao? Làm thế nào bạn có thể trả lời một nghi vấn tổng thể, căn bản khi nghi vấn đó bị đặt ra bởi một mảnh nhỏ của cái trí? Đáp án của nó sẽ luôn luôn là từng phần và không đúng thực. Liệu một mảnh của cái trí có thể đặt ra một nghi vấn mà là tổng thể hay sao? Hay chính là một cái trí không-phân chia mới có thể đặt ra nghi vấn này?
Vậy là lúc này, sự thâm nhập không phải cái gì tạo ra sự kháng cự nhưng liệu cái trí có thể thấy tổng thể của sợ hãi: sợ hãi của chết, sợ hãi của bị chi phối bởi một người khác, sợ hãi của không có an toàn, sợ hãi của mất đi cuộc sống của một người – bạn sẽ trả lời mỗi sợ hãi riêng của nó, bằng một trong những phân chia của cái trí, hay bạn sẽ đặt ra một nghi vấn tổng thể mà sẽ có đáp án tổng thể?
Vậy là lúc này, chúng ta sẽ tìm ra, thâm nhập, không phải vào sợ hãi nhưng vào bản chất của một cái trí không-phân chia, để cho khi nó đặt ra một nghi vấn sẽ có một đáp án tổng thể. Bạn nắm được chứ? Lúc này, cái trí và quả tim mà không-phân chia, không-kháng cự và vì vậy không-sợ hãi, và vì vậy có thể thâm nhập vào sợ hãi, là gì? Khi chúng ta nói ‘một mảnh của cái trí’, ‘một miếng’, ‘một phần’, điều đó có nghĩa gì? Bạn có khi nào quan sát cái trí riêng của bạn? Hãy quan sát nó, không sửa đổi nó, không nói nó đúng hay sai, nhưng chỉ quan sát nó? – làm thế nào có vô số những phân chia này trong chính người ta, vô số ham muốn, vô số vui thú, sợ hãi, đau khổ; và làm thế nào có sự theo đuổi vui thú và lẩn tránh đau khổ, sợ hãi. Bạn có khi nào quan sát nó trong chính bạn? Nếu bạn đã quan sát, ai là người quan sát? Anh ấy không là một mảnh của bộ não, của cái trí, đang quan sát? Đó là, một phần, một mảnh, đang quan sát những mảnh khác, những phần bị vỡ vụn khác. Điều này thực sự thú vị. Nếu một mảnh đang quan sát mảnh còn lại, đáp án của nó sẽ luôn luôn là từng phần, và thế là sự kháng cự không bao giờ có thể được giải đáp. Và vì vậy sợ hãi không bao giờ có thể biến mất. Vì vậy câu hỏi của chúng ta là: Cái trí nhìn ngắm, quan sát như thế nào? Nó quan sát như một phần, một mảnh, hay tổng thể của cái trí đang quan sát?
Lúc này, chúng ta đang tìm hiểu liệu cái trí có thể quan sát mà không có bất kỳ mảnh vỡ nào, không có người quan sát đang tham gia. Liệu có một quan sát mà không có miếng, mảnh, đang hành động? Mà là, quan sát không có người quan sát. Người quan sát là mảnh, quá khứ. Khi bạn quan sát cái micro này, hay nghìn ngắm hoàng hôn, cây dừa, hay người vợ của bạn, bạn đang nhìn ngắm qua quá khứ, quá khứ là hiểu biết, thông tin, trải nghiệm, mà cốt lõi là một mảnh. Và chắc chắn quá khứ phải tạo ra sự kháng cự. Bởi vì bạn đã có sợ hãi, bạn đã có vui thú, bạn nói rằng, ‘Chúa ơi, liệu ngày mai tôi sẽ có nhiều đau khổ hơn nữa?’ ‘Liệu, ngày mai tôi sẽ có nhiều vui thú hơn nữa?’ Vì vậy quá khứ là người quan sát, là mảnh vỡ. Và cái trí hỏi, ‘Liệu có thể có sự quan sát mà không có người quan sát?’ Đây thực sự là một nghi vấn quan trọng lạ thường. Bởi vì nếu đáp án là đúng thực, vậy thì bạn đã phá vỡ toàn cấu trúc của nỗ lực, của đấu tranh, của xung đột, và thế là của bạo lực.
Vì vậy muốn tìm ra, người ta phải quan sát cách thấy của người ta trong sống hàng ngày như thế nào: cái nhìn của bạn đến cái cây, đến người vợ hay người chồng của bạn, đến vị giáo sư của bạn, đến tương lai. Và liệu bạn có thể thấy mà không có người quan sát? Bởi vì khi có một người quan sát, anh ấy tạo tác không gian và thời gian, mà là một kháng cự. Vì vậy chính bản thể của xung đột là sự phân chia này giữa người quan sát và vật được quan sát. Và đó là tình trạng bị quy định của chúng ta. Chúng ta đã được nuôi dưỡng như thế từ thời niên thiếu. Đó đã là tình trạng bị quy định của chúng ta trong hàng ngàn năm – cái tôi cao hơn và cái tôi thấp hơn, đại ngã và vật chất, Thượng đế và quỉ dữ, tốt lành và xấu xa, luân lý xã hội và vô-luân lý của nó, và vân vân. Vì vậy, liệu ‘Cái tôi’, đó là quả tim, cái trí, những tế bào não, những cơ quan vật chất có thể tự-quan sát mà không chiếu rọi những hàm ý, những liên tưởng của quá khứ?
Bạn biết, những người sử dụng thuốc men, đặc biệt loại thuốc LSD, đã bảo với chúng tôi rằng khi họ sử dụng dạng đặc biệt của chất hóa học này, không gian giữa người quan sát và vật được quan sát biến mất. Và vì vậy có một liên hệ tức khắc, một tiếp xúc tức khắc, một tiếp xúc trực tiếp, một liên hệ trực tiếp. Bạn thấy những vật như thể bạn chưa bao giờ thấy bất kỳ thứ gì trước kia trong sống của bạn. Tôi biết một người dùng thuốc này và đi đến viện bảo tàng quan sát những bức tranh ở đó. Và những màu sắc và những nét cân đối, chiều sâu, những chuyển màu và ánh sáng anh ấy thấy là cái gì đó không thể tin được. Và việc đó bị gây ra bởi phản ứng hóa học; thế là, bạn lệ thuộc vào thuốc men và bạn phải sử dụng nó nhiều thêm nữa, giống như một người nghiện rượu. Bạn phải luôn luôn sử dụng nó để thấy những tuyệt vời của thế giới.
Bây giờ, điều gì chúng ta đang nói là: nếu không có thuốc men, nếu không có qui trình hóa học – mà cũng xảy ra khi bạn nhịn đói, làm cho thân thể của bạn nhạy cảm lạ thường – nếu không làm bất kỳ trò ma mãnh này, liệu bạn có thể thấy, quan sát mà không có người quan sát? Vậy thì bạn sẽ thấy điều lạ thường nhất đang xảy ra, điều nào đó khác biệt lạ thường với điều gì xảy ra qua thuốc men. Bởi vì lúc đó nó không là một việc bị thôi thúc, không là một việc được vun quén, nhưng một thực tế, trải nghiệm được. Điều đó có nghĩa không có sự tách rời của thời gian và khoảng cách và, vì vậy, không có nỗ lực. Lúc đó sống là cái gì đó hoàn toàn khác hẳn. Nếu bạn tạo ra một lỗi lầm, bạn sửa chữa ngay tức khắc. Nếu có chút ít xung đột, bạn quan sát nó và loại bỏ nó; có một loại bỏ của nó qua sự quan sát, bởi vì không có người quan sát. Vì vậy có hành động tức khắc.
Thế là, cái trí quan sát sợ hãi mà không có người quan sát. Chỉ đến lúc đó bạn có thể đặt ra nghi vấn tổng thể. Và đáp án tổng thể, chắc chắn, là, ‘Không có sợ hãi’, mà không là một kết luận hợp lý nhưng một sự kiện thực sự. Hãy quan sát, thưa các bạn, người ta sợ chết. Tôi không biết tại sao, nhưng người ta là như thế. Lúc này, làm thế nào bạn sẽ trả lời nghi vấn đó? Làm ơn, hãy quan sát nó, hãy thâm nhập nó một cách tự do, không đang hỏi rằng liệu có đầu thai hay một linh hồn vĩnh viễn và mọi chuyện như thế. Đó là tất cả những trả lời lỗi thời, truyền thống và thực sự không giải đáp bất kỳ vấn đề nào cả. Bởi vì nếu bạn thực sự tin vào luân hồi, nó có nghĩa rằng lúc này bạn phải sống tại tột đỉnh; nếu không bạn phải trả lại cho nó vào đời sau. Đúng chứ? Và bạn không sống; bạn tin vào luân hồi và vẫn vậy bạn sống theo cái cách cũ kỹ. Vì vậy, niềm tin đó không có giá trị gì cả. Điều gì có giá trị là đang sống của bạn, không phải điều gì xảy ra ngày mai.
Bây giờ, người ta sợ hãi chết. Bạn biết chết, sự kết thúc của các cơ quan thân thể, chết của tất cả điều gì bạn đã ấp ủ, đã giữ gìn quý báu; bạn biết điều gì được hàm ý bởi chết. Lúc này, làm thế nào cái trí nhìn vào vấn đề này? Cái trí kháng cự nó? Cái trí sợ hãi nó? Liệu có một hy vọng trong một ý tưởng luân hồi hay một cuộc đời tương lai, hay ngồi bên cạnh Thượng đế trong một đám mây, và mọi chuyện như thế? Hay cái trí quan sát mà không có người quan sát? Bạn đang theo kịp điều này chứ? Nếu bạn quan sát mà không có người quan sát, liệu có chết hay không? Có chết các cơ quan thân thể. Nhưng lúc đó liệu có một sự việc được gọi là chết mà đã chi phối sống của chúng ta như thế? Hãy tìm ra, không phải qua thuốc men, nhưng qua sự quan sát tổng thể cấu trúc của sợ hãi; hãy tìm ra sự quan sát là gì, sợ hãi là gì, kháng cự là gì, nhận biết được sự kháng cự, nhận biết được không chỉ những sợ hãi tầng bên ngoài mà cũng còn cả những sợ hãi tầng bên trong. Nhưng chúng ta không có đủ thời gian để tìm hiểu vấn đề đó lúc này.
Vì vậy chúng ta quay trở lại câu hỏi căn bản: Dốt nát là gì? Dốt nát là không nhận biết được toàn cấu trúc và bản chất của cái trí, bộ não, và tất cả chuyển động của nó; đó chính là bản thể của dốt nát. Bạn học hành từ những quyển sách, từ những giáo sư của bạn, đậu những kỳ thi, có một vài mảnh bằng và có một việc làm – đó không là gì cả. Nó cần thiết trong thế giới điên cuồng này, nhưng hoàn toàn không nhận biết được chuyển động lạ thường, vẻ đẹp, sự tinh tế, sự mau lẹ của tất cả chuyển động bên trong đó, không ý thức được, không tỉnh thức được nó, không chỉ là dốt nát, nhưng nó còn tạo ra sự hủy hoại riêng của nó.
Có lẽ, nếu bạn không chán nản hay mệt mỏi, bạn muốn đặt ra những câu hỏi. Nhưng trước khi bạn đặt những câu hỏi, hãy tìm ra tại sao bạn đặt ra chúng, bởi vì nếu bạn có thể trả lời ‘tại sao’, vì lý do gì bạn đang hỏi, bạn sẽ tìm ra đáp án cho chính bạn. Chúng ta đặt ra một câu hỏi cho ai đó để chỉ bảo cho chúng ta đáp án, và hoặc đồng ý hoặc không-đồng ý với đáp án đó. Vì vậy lúc đó bạn thực sự không đặt ra một câu hỏi gì cả; bạn chỉ đang cống hiến một quan điểm trong hình thức một câu hỏi. Và quan điểm không là sự thật. Theo lý luận, quan điểm không thể hiện sự thật là gì. Vì vậy nếu bạn tìm hiểu toàn nghi vấn của đặt ra những câu hỏi, nó là một sự việc lạ thường. Tại sao chúng ta đặt ra một câu hỏi? Ai sẽ trả lời? Và khi bạn nghe đáp án liệu bạn có thể hiểu rõ nó? Hay bạn muốn có đáp án tùy theo tình trạng bị quy định của bạn, tùy theo ưa thích và không-ưa thích của bạn? Đó là, khi bạn nghe đáp án, liệu bạn diễn giải nó tùy theo những đòi hỏi và những ham muốn đặc biệt của bạn? Hay bạn đang lắng nghe một cách tự do. Nếu bạn đang lắng nghe một cách tự do và nếu bạn đặt câu hỏi một cách tự do, vậy thì có một vẻ đẹp trong đáp án. Vậy thì, bạn có muốn đưa ra bất kỳ câu hỏi nào hay không?

Người hỏi: Có một vật như là linh hồn hay không?
Krishnamurti: Có một vật như là linh hồn, s-o-u-l linh hồn? Hay s-o-l-e­ một mình? (Tiếng cười) Có cái gì đó tách khỏi thân thể, khỏi bộ não, khỏi suy nghĩ, cái gì đó không thời gian, cái gì đó không bị trói buộc trong lãnh vực của thời gian, không hướng về thời gian? Đúng chứ? Đó là điều gì chúng ta thường thường có ý qua từ ngữ ‘linh hồn’. Bây giờ, chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của từ ngữ đó, sự thật đằng sau từ ngữ. Làm thế nào bạn biết rằng linh hồn có tồn tại? Bạn đã được dạy dỗ, phải không? Bạn đã bị quy định – giống như người cộng sản bị quy định để không tin một linh hồn. Bạn bị quy định để tin tưởng một linh hồn, đại ngã, cái tôi siêu việt, vân vân, vân vân, và một người khác bị quy định để không tin tưởng tất cả điều này. Lúc này, chúng ta sẽ tìm ra sự thật của vấn đề. Liệu có cái gì đó vĩnh cửu trong chúng ta? Vĩnh cửu có nghĩa không thời gian, cái gì đó không thể bị tác động bởi suy nghĩ – bởi vì suy nghĩ là thời gian, suy nghĩ là quá khứ. Nhưng nếu bạn nghĩ rằng có một linh hồn, bạn đã tạo ra nó trong thời gian, và nếu suy nghĩ có thể mang nó vào trong phạm vi của nó, vậy thì nó là bộ phận của suy nghĩ. Thế là, linh hồn không vĩnh cửu; nó là bộ phận của suy nghĩ, và bởi vì đã tạo ra ý tưởng về linh hồn này như cái gì đó vĩnh cửu, suy nghĩ có sự an toàn trong đó.

Vì vậy câu hỏi là: Liệu có cái gì đó vĩnh cửu mà không bị đặt vào chung bởi suy nghĩ, suy nghĩ là trải nghiệm, lặp lại, thói quen, truyền thống, tình trạng bị quy định? Liệu có cái gì đó vượt khỏi thời gian, vượt khỏi tất cả đo lường của suy nghĩ? Bây giờ, muốn tìm ra điều đó – không phải như một niềm tin hay bằng cách lặp lại điều gì Shankara hay Buddha hay người nào đó đã nói – muốn thực sự tìm ra điều đó, suy nghĩ phải hoàn toàn không còn, suy nghĩ là người quan sát. Vì vây nếu bạn quan sát mà không có thời gian, bạn có toàn vũ trụ trong hai mắt của bạn, trong quả tim của bạn.

Người hỏi: Sau cái chết của nó, liệu thực thể ‘cái tôi’, mà cố gắng vô vàn để tích lũy, sở hữu, và thành tựu qua sự tồn tại của nó, và trong tiến trình sống nó trải nghiệm những dòng chảy lần lượt của hạnh phúc và đau khổ, liệu cái tôi đó có tiếp tục tồn tại qua sự vĩnh cửu, miễn là thực thể cái tôi còn ao ước tiếp tục trong cùng hình thức này hay trong bất kỳ hình thức nào khác?

Krishnamurti: Chỉ lắng nghe rất cẩn thận. Câu hỏi này được đặt ra bởi một sinh viên và nó nói về chết, về ‘cái tôi’. Nó không nói về sống có nghĩa gì, sống hạnh phúc, sáng tạo, cùng hân hoan vô cùng trong thế giới. Đây là một câu hỏi kiểu mẫu của Ấn độ. Ở Châu âu và Mỹ họ không đặt ra một câu hỏi như thế. Họ đặt ra những loại câu hỏi khác. Trong quốc gia này, bởi vì chúng ta nghĩ chúng ta là những người tôn giáo, chúng ta đặt ra những câu hỏi này, mà có nghĩa rằng chúng ta đã tách rời tôn giáo khỏi sống, khỏi đang sống hàng ngày. Vì vậy người hỏi đang muốn biết: ‘Cái tôi’ này là gì, và khi thân thể chết đi, liệu cái tôi vẫn còn sống trong một hình dạng khác hay trong cùng hình dạng này, và ‘cái tôi’ đó có một tiếp tục hay không?
Bây giờ rõ ràng rằng từ câu hỏi, ‘cái tôi’ được coi như một vật vĩnh cửu, cái gì đó không thể bị hủy diệt. Liệu có bất kỳ cái gì trong sống mà không thể bị hủy diệt? Liệu có bất kỳ cái gì trong sống mà vĩnh cửu? ‘Cái tôi’ của bạn vĩnh cửu hay sao? Bạn muốn nó được như thế, nhưng nó vĩnh cửu hay sao? Làm ơn hãy tìm hiểu. ‘Cái tôi’ này là gì? Nó không là một mớ của những kỷ niệm: những trải nghiệm của tôi, ngôi nhà của tôi, đồ đạc của tôi, sự nhận dạng cùng người vợ của tôi, con cái của tôi, đồ đạc của tôi, tài khoản ngân hàng của tôi, hay cùng một nghề nghiệp đặc biệt, một khả năng đặc biệt, hay sao? ‘Cái tôi’ mà giận dữ, ghen tuông, đố kỵ, chiếm hữu, thống trị, hung hăng – ‘Cái tôi’ đó vĩnh cửu hay sao? Nó là một ký ức, bạn hiểu chứ? Và ký ức là vĩnh cửu hay sao? Người ta muốn nghĩ rằng ‘cái tôi’ là vĩnh cửu bởi vì, lại nữa, trong đó có sự an toàn rằng ít nhất ‘cái tôi’ vẫn tiếp tục, bất kể các cơ quan thân thể. Và vì thế chúng ta bám vào điều đó. Bạn có lẽ không gọi nó là ‘cái tôi’. Bạn có lẽ gọi nó là cái đại ngã, linh hồn, cái tôi cao hơn, cho nó vô số danh tánh, nhưng nó được sinh ra cùng khuynh hướng, cùng động cơ để có cái gì đó vĩnh cửu trong thế giới không vĩnh cửu này. Và khi người ta quan sát một cách tự do, người ta thấy rằng không có sự việc như ‘cái tôi’ như là một thực thể vĩnh cửu. Vậy thì người ta có lẽ hỏi: ‘Nếu không có gì vĩnh cửu, tại sao lại vun đắp bất kỳ đạo đức nào? Làm việc đó có ý nghĩa gì? Tất cả trải nghiệm này là gì?
Muốn tìm ra sự thật của vấn đề, thưa bạn, bạn phải tìm hiểu toàn vấn đề này của cái gì đang suy nghĩ, tìm hiểu liệu suy nghĩ, được gắn kết với ‘cái tôi’ – đồ đạc của tôi, trải nghiệm của tôi, vui thú của tôi, sợ hãi của tôi – có bất kỳ vĩnh cửu nào hay không. Chắc chắn nó không-vĩnh cửu. Cái gì có, nếu người ta có thể sử dụng từ ngữ ‘vĩnh cửu’, là chuyển động của sự sống. Chuyển động – không phải chuyển động của bạn và chuyển động của tôi, chỉ vẻ đẹp của chuyển động. Và chuyển động cùng chuyển động đó, không người quan sát, là nhận biết được cái gì đó thuộc một kích thước hoàn toàn khác hẳn.
Bạn biết không, thưa bạn, thiền định là một trong những sự việc quan trọng nhất trong sống. Thiền định là một sự việc tuyệt vời. Muốn hiểu rõ thiền định là gì bạn phải hiểu rõ người thiền định. Người thiền định là thiền định và không còn gì nữa. Và nếu bạn hiểu rõ người thiền định, bạn đã hiểu rõ sự khởi đầu tổng thể và sự kết thúc của sống.

Ngày 19 tháng mười hai năm 1969

J. KRISHNAMURTI

Trích:TẠI SAO BẠN ĐANG ĐƯỢC GIÁO DỤC?
WHY ARE YOU BEING EDUCATED?
[www.thuvienhoasen.org ]
Lời dịch: Ông Không
– Tháng 2-2011 –

Giòng Sông Của Ðời Sống

Giòng Sông Của Ðời Sống

Tôi tự hỏi có khi nào bạn đi dọc theo bờ sông, bạn chợt thấy có một cái vũng ao nhỏ nằm kế bên giòng sông hay không? Chắc là có, anh chàng câu cá nào đã đào chơi để đó. Bạn sẽ thấy ngay sự khác biệt: giòng sông thì rộng, sâu, luôn trôi chảy không ngừng nghỉ, trong khi vũng nước đặc sệt những bùn lầy vì nó nằm một chỗ, không thông thương với giòng sông. Dĩ nhiên là không thể nào có cá lội trong vũng nước đó được, không thể nào sinh động như giòng sông. Bạn có thấy nhân loại giống như thế hay không? Mỗi người tự đào lấy một cái vũng nhỏ cho mình, ẩn nấp trong đó, tự tách rời ra khỏi mạch sống của cuộc đời kẹt cứng trong vũng nước ao tù đó cho tới chết và gọi là sự dính mắc, thối rửa, đó là kiếp người.

Không phải sao? Tất cả chúng ta đều mong cầu sự vĩnh cửu, chúng ta muốn một thú vui nào đó cứ kéo dài vô tận. Chúng ta đã đào một cái hố nhỏ rồi dùng gia đình, phong tục tập quán, tôn giáo làm hàng rào tự giam mình trong đó, chết trong đó. Chúng ta đã để đời sống trôi qua. Cái đời sống tuy vô thường, luôn luôn biến đổi chớp nhoáng, nhưng là một đời sống có chiều sâu thăm thẳm, có vẻ đẹp tuyệt vời và có sức sống kỳ diệu! Nếu bạn chịu khó ngồi yên lặng cạnh giòng sông, bạn sẽ nghe được tiếng sóng vỗ, tiếng nước chảy. Ðó là khúc hát của dòng sông! Luôn luôn có một sự chuyển động hướng về chỗ sâu thẳm hơn, bao la hơn. Ngược lại, trong vũng bùn kia, mặt nước ao tù ứ đọng không hề có một sự sống nào. Nếu đem đối chiếu, bạn sẽ thấy phần lớn chúng ta muốn hiện hữu theo kiểu vũng nước ao tù, tách rời khỏi quy luật của đời sống. Chúng ta cho rằng kiểu hiện hữu này là đúng, do đó chúng ta phát minh ra hàng loạt những triết lý để biện minh cho nó. Chúng ta muốn được an toàn, muốn né tránh tất cả mọi xáo trộn trong đời sống . Sự kiện nói trên có ý nghĩa bạn mong cầu những chuyện vui sướng sẽ không bao giờ chấm dứt, trái lại những điều buồn khổ, khó khăn cần phải chấm dứt càng sớm càng tốt! Chúng ta muốn tên tuổi chúng ta được mọi người biết đến, muốn gia đình tài sản còn mãi mãi, lưu truyền đến đời con cháu. Muốn kéo dài một cuộc sống vĩnh cửu trong vũng nước ao tù, muốn mọi việc không thay đổi gì cả. Vì lẽ đó chúng ta đã dựng lên một xã hội nhằm bảo đảm cho sự tồn tại của tài sản, tên tuổi, danh vọng của chúng ta. Nhưng tiếc thay, cuộc sống không phải như vậy! Cuộc sống vốn dĩ vô thường! Cũng giống như những chiếc lá xanh tươi trên cây kia rồi một ngày nào đó cũng phải lìa cành! Tất cả mọi vật đều biến dời. Có bao giờ bạn thấy bức tranh tuyệt mỹ của một bóng cây trơ cành in trên nền trời bao la hay chưa? Ðường nét của những cành khẳng khiu trụi lá, là cả một bài thơ hay một khúc hát tuyệt vời. Không còn một chiếc lá nào, nhưng rõ ràng là cây đang chờ mùa xuân tới để rồi một lần nữa lá xanh sẽ rì rào reo vang đầy cành, qua mùa Thu hong lá cho vàng úa, để rồi đến đầu Ðông gió sẽ cuốn đi hết. Ðó chính là đời sống! Nhưng chúng ta không hề nghĩ như vậy. Chúng ta bám víu vào con cái, nhà cửa, truyền thống, tên tuổi... Vì chúng ta muốn mọi sự đều còn hoài. Ðó chính là lý do khiến ta sợ chết! chúng ta sợ đánh mất những cái mà chúng ta đã quen thuộc, đã biết. Cuộc đời không đứng yên một chỗ như ta muốn. Lá rụng, tuyết tan, trăng tàn, hoa úa, người vật đều sẽ chết..v..v.. Vậy cớ sao ta lại cứ muốn đi ngược lại để tham cầu địa vị, quyền thế cứ còn mãi mãi Cuộc sống giống như một giòng sông: Trôi chảy không ngừng, luôn luôn tìm tòi, khám phá, thúc giục, sóng nước tràn lên bờ, soi vào tận những hang hóc xa xôi. Khổ thay! cái tâm con người lại không chịu chấp nhận chuyện đó. Chúng ta nghĩ nếu phải sống thường xuyên trong cảnh biến dời như thế thì quá nguy hiểm, quá bất trắc. Còn đâu là sự bình an nữa! Vì thế mỗi người tự xây lấy một thành trì kiên cố bằng những bức tường tập tục, giáo điều, triết lý, chánh trị, xã hội. Rồi thì gia đình, tên tuổi, danh vọng... mà chúng ta khổ công gây dựng... tất cả đều nằm gọn trong những bức tường này, xa rời khỏi cuộc sống. Họ không hề biết rằng cuộc sống nằm ở ngoài những bức tường, cuộc sống luôn luôn biến đổi, luôn luôn tìm cách xâm nhập để phá vỡ những bức tường chứa đầy hệ lụy, khổ đau này. Thượng Ðế hay thần thánh nằm trong những bức tường này đều là giả tạo, những giáo điều, triết lý trong đó cũng vô nghĩa vì đời sống thực sự là ở ngoài những bức tường kia. Một cái tâm không bị giam hãm trong những bức tường này, không mang gánh nặng của những tích lũy, thủ đắc; Một cái tâm với sự hiểu biết chân chính để sống theo định luật vô thường của vũ trụ, cái tâm ấy chính là đời sống. Cái tâm cứ đi tìm kiếm sự trường tồn sẽ sớm đi đến chỗ chết cứng, giống như vũng nước ao tù ở cạnh giòng sông đầy dẫy thối rữa, hư nát. Khi bạn hiểu được điều này, cuộc đời bạn sẽ hoàn toàn thay đổi, tương quan giữa bạn và đời sống, với bạn bè, vợ chồng con cái sẽ có một ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Lúc ấy bạn sẽ không cần phải tự chứng minh bằng cách đạt tới một mục tiêu nào cả, vì bạn hiểu rõ mọi sự tham cầu đều chỉ đem lại khổ đau và buồn phiền. Lúc bạn khám phá ra sự thật kỳ diệu của đời sống, bạn sẽ tìm thấy cái đẹp của tình thương, lòng nhân ái. Về phần cái tâm cố sức đào xới một vũng nước phẳng lặng, an toàn, trường tồn... chỉ dẫn dắt đến sự tối tăm, thối nát. Một khi đã ngủ yên trong vũng nước ao tù đó rồi, người ta sẽ ngại ngùng, không muốn phiêu lưu, tìm tòi, khám phá gì nữa. Bạn có biết tôn giáo là gì không? không phải bài ca ngợi Chúa trong giáo đường, cũng không phải tụng kinh nơi chùa chiền hoặc bất cứ một hình thức lễ nghi hay mê tín dị đoan nào do con người bày đặt ra. Tôn giáo thực sự là những tình cảm thân thương, là tình yêu vĩnh cửu, cũng giống như giòng nước trên sông cũng mãi mãi lưu chuyển không ngừng. Với sự hiểu biết này, sẽ có một khoảnh khắc nào đó bất chợt bạn thấy những cuộc săn đuổi, tìm kiếm không còn cần thiết nữa! Và sự dừng lại này, sự chấm dứt này chính là khởi đầu cho một trạng thái khác hoàn toàn mới lạ, vượt ra ngoài những phát minh hay những trò chơi của trí óc. Bạn thể nhập vào chính đời sống, đó là tôn giáo thật sự. Bạn chỉ làm được điều này khi bạn từ bỏ cái vũng ao tù để hòa nhập vào với giòng sông của cuộc đời. Lúc ấy, bạn cứ phó mặc cho cuộc đời đưa đẩy bạn, nó sẽ dẫn dắt bạn, tự bạn không phải làm gì cả. Vì bạn đã là một phần của đời sống rồi. Bạn không phải lo lắng cho sự an toàn, không phải quan tâm tới điều thiên hạ bàn tán hay không bàn tán. Ðó chính là vẻ đẹp của cuộc sống.
Hỏi : Ðiều gì làm chúng ta sợ chết ?
KrishnamurtiBạn có nghĩ khi chiếc lá lìa cành nó có sợ chết hay không? Cánh chim bay trên trời tìm cách tránh chết? Không! chúng nó không hề quan tâm tới cái chết. Chúng nó quá bận rộn đi kiếm sâu, làm tổ, ca hát, hay bay lượn rất là vui thú. Bạn có khi nào thấy một cánh chim soải thẳng lên trời xanh buông thả tận cùng, không đập cánh để mặc cho gió đưa đi? Chắc là chúng chẳng buồn nhớ đến cái chết làm chi, chúng đang tận hưởng cuộc đời. Nếu cái chết đến, được thôi! tức là chấm dứt sống. Cái gì xảy ra sẽ xảy ra; bây giờ hãy cứ sống tận cùng từng giờ từng phút. Chỉ có chúng ta, cứ mãi bận tâm về cái chết, vì chúng ta không biết sống. Chúng ta đang chết mà không biết. Những người già đi gần tới nấm mồ đã đành, nhưng những người trẻ cũng không xa lắm đâu! Chúng ta sợ chết vì chúng ta sẽ mất vợ con, bạn bè; mất những cái khổ công học hỏi, gầy dựng. Nếu như có thể đem theo hết những thứ đó, có lẽ chúng ta ít sợ chết hơn chăng? Bạn thử sống một ngày xả bỏ tất cả những lo âu, dẹp bỏ mọi chuyện qua một bên để xem xét sự gì xảy ra! đừng mang những buồn phiền từ ngày này sang ngày nọ, từ giờ này qua giờ khác. Khi bạn được giải thóat khỏi những ràng buộc này, bạn được tự do, từ đó một cuộc sống mới nảy sinh ra bao gồm cả sự sống lẫn cái chết. Chết chỉ là sự chấm dứt một trạng thái, và chính trong cái chết có ẩn chứa một sự đổi mới.
Hỏi: Công trình của nhân loại là gì ?
Krishnamurti: Theo bạn nó là gì? Phải chăng là đi học, thi đậu, kiếm việc làm và cứ thế mà tiếp tục cho đến hết đời! hoặc là đi nhà thờ, lui tới chùa chiền, gia nhập hội đoàn? Hay giết chết thú vật để ăn thịt? Còn nữa, xây cầu cho xe cộ chạy qua sông, đào giếng để lấy nước uống, khoan giếng dầu, leo núi, chinh phục không gian, sáng tác thi văn, yêu thương thù hận... ? Chung quanh chúng ta, thiên hạ đang xây dựng một nền văn minh để rồi sẽ bị sụp đổ vài thế kỷ sau đó, gây ra chiến tranh, tạo ra Thượng Ðế theo hình ảnh của con người, tàn sát đồng loại, nhân danh tôn giáo hay tổ quốc, thảo luận hòa bình và tình anh em trong khi đối xử tàn tệ với đồng loại. Ðó là công trình của con người ư? !! Tất cả những sự việc kể trên đưa tới sự đổ nát và khốn cùng, xáo trộn và tuyệt vọng. Tột đỉnh xa hoa hiện hữu ngay kế bên tận cùng nghèo khổ, bệnh tật, đói khát. Còn gì nữa? còn gì được coi là công trình thực sự của con người? Phải chăng là khám phá ra chân lý; là yêu thương mọi người chớ không phải là lòng ích kỷ, chỉ quan tâm tới những hoạt động trong phạm vi nhỏ hẹp của mỗi người.
Hỏi: Tại sao chúng ta tôn thờ Thượng Ðế ?
Krishnamurti: Thực ra chúng ta không hề tôn thờ Thượng Ðế. Bạn đừng cười. Chúng ta đâu có yêu Thượng Ðế, vì nếu chúng ta yêu Thượng Ðế thì chúng ta sẽ không tôn thờ Thượng Ðế. Khi tôn thờ có nghĩa là bạn sợ sệt. Ðền đài, những nơi thờ phượng thiêng liêng không phải là không có Thượng Ðế trong đó. Ðấy chỉ là sản phẩm tạo ra từ lòng sợ hãi mà thôi. Chỉ những người đau khổ, những người sợ sệt mới tôn thờ Thượng Ðế. Và thường chính những kẻ quyền thế, giàu sang, địa vị là những kẻ đau khổ. Hạnh phúc chỉ có khi bạn tự giải thoát ra khỏi ràng buộc đó, nhất là sự tôn thờ Thượng Ðế. Chỉ có những kẻ khốn khổ, bị dằn vặt, đang tuyệt vọng là thường lui tới chỗ thờ phượng để van cầu, xin xỏ. Nếu họ tạm gác sự tôn thờ để suy nghĩ về sự khốn khổ của mình, hiểu rõ bản chất của nó; họ sẽ trở thành người hạnh phúc, vì lúc ấy họ khám phá thấy đâu là chân lý, đâu là Thượng Ðế. 

Krishnamurti
Diệu Quế dịch

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

TẠI SAO CON NGƯỜI KHÓ GIÁC NGỘ ?

TẠI SAO CON NGƯỜI KHÓ GIÁC NGỘ ?

... tại sao con người chúng ta lại phải khổ công khó nhọc tu hành, tụng kinh, niệm Phật, tham thiền để cầu giác ngộ ? Bởi vì chúng ta đang sống với tập quán mê muội hết sức sâu nặng từ vô lượng kiếp. Chính vì cuộc sống là mê muội, đau khổ, đầy ảo tưởng nên mới phải tìm cầu giác ngộ. Con đường tìm cầu giác ngộ đã được Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni trải qua với 5 năm tầm sư học đạo và 6 năm tu khổ hạnh (từ năm ngài 19 tuổi sau khi cưới vợ được 3 năm và sinh đứa con trai là La Hầu La –Rahula- cho đến khi ngài chứng đạo dưới gốc cây Bồ Đề bên dòng sông Ni Liên Thiền vào năm ngài 30 tuổi).

Kinh điển Phật giáo kể lại rằng Kiều Tất La Thích Ca Tất Đạt Đa (Kosala Akya Siddhartha) gọi tắt là Thích Ca, sau 6 năm tu khổ hạnh cùng với 5 anh em Kondana (Kiều Trần Như), Bhadhya (Bạt Đề Lợi Gia), Vappa (Ác Bệ), Mahanama (Ma Ha Câu Nam) và Asaji (A Xá Bệ Thê), cơ thể chỉ còn da bọc xương, đi đứng không vững, sức khoẻ kiệt quệ, ngài thấy rằng khổ hạnh không thể giải quết được vấn đề, nên quyết định ăn uống lại bình thường. Năm người bạn đồng tu cho rằng Thích Ca đã thoái chí, bèn rời bỏ ngài, đến vườn Nai ở Isipatana gần Thành phố Ba La Nại để tiếp tục tu khổ hạnh. Họ nói rằng, Thái tử Siddhartha đã trở về với cuộc sống tiện nghi và dục lạc vật chất.
Ở lại một mình, Thich Ca quyết tâm tự mình phấn đấu để tìm ra con đường giải thoát tối hậu trong suốt 49 ngày. Ngài lấy lại sức, nhờ uống bát sữa, do một thôn nữ tên là Sujata cúng dường, sau đó, ngài tắm ở sông Neranjara (Ni Liên Thiền). Tối đến, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Pippala, sau này được đổi tên là cây Bồ đề, để đánh dấu sự kiện Thành đạo vĩ đại của Ngài. Ngài suy tư về lẽ sống chết, về những nguyên nhân tích tập dẫn tới luân hồi sanh tử và con đường giải thoát, dẫn tới Niết bàn, Ngài nhớ lại, thấy rõ các kiếp sống trước đây của mình, một kiếp, hai kiếp cho tới hàng trăm ngàn kiếp. Ngài nhớ lại, thấy rõ các chu kỳ thành hoại của một thế giới, nhiều thế giới. Ngài thấy rõ các chúng sanh, tùy theo nghiệp nặng nhẹ, thiện ác do mình tạo ra, luân hồi như thế nào trong các cõi sống, từ thời vô thủy cho tới ngày nay. Ngài thấy rõ, biết rõ nên tự bản thân Ngài đã đoạn trừ hết mọi tham ái, lậu hoặc, vô minh, đã được Giải thoát và Giác ngộ, và thành tựu Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ngài đã thành Phật (người giác ngộ).
Như vậy chúng ta thấy rằng Tất Đạt Đa từ lúc mới sinh cho tới trước khi chứng đạo, cũng là một chúng sinh mê lầm như bao nhiêu chúng sinh khác. Tới khi giác ngộ, có đầy đủ lục thông, mới biết rằng Tam giới chỉ là ảo mộng, không có một cái gì là thật cả. Ban đầu Thích Ca chưa vội đứng lên đi thuyết pháp ngay vì còn chờ nhân duyên, vả lại thật ra có chúng sinh nào đâu để mà giáo hóa chứ, toàn thể chúng sinh trong Tam giới cũng chỉ là ảo tưởng. Nhưng các vị vua trời nhìn thấy ánh hào quang rực rỡ của ngài, biết là Phật đã xuất hiện. Ngay cả bên phương Đông xa xôi (Trung Quốc) có người nhìn hiện tượng thiên văn trên trời, biết được bên phương Tây (Thiên Trúc) có một đại thánh nhân xuất hiện. Các vị vua trời đã thỉnh cầu ngài vì sự mê muội đau khổ của chúng sinh mà tìm cách giáo hóa. Từ đó Thích Ca đã đi du thuyết khắp nơi ở vùng phía bắc Ấn Độ, trên địa phận của hai bang Uttar Pradesh, Bihar và phần phía nam của nước Nepal ngày nay, trong một khu vực rộng khoảng 340.000 km2 .
Tóm lại trong mê muội ảo mộng giữa ban ngày thì có vũ trụ vạn vật thiên hình vạn trạng. Còn trong giác ngộ thì chỉ có tánh Không mà thôi, không một cái gì là có thật. Để điều hòa giữa hai trạng thái mâu thuẫn đó, Bồ Tát Long Thọ, sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất đầu thế kỷ thứ hai Công nguyên, đề ra Trung Quán Luận. Con người không thể chấp vào tánh Không, vì nó trái với hiện thực cuộc sống, cũng không thể chấp vào tánh Có, vì nó mê muội và gây ra đau khổ, phiền não không sao kể xiết. Trung Quán tức là Ưng Vô Sở Trụ (không có chỗ trụ) cũng chỉ là giả lập, bởi Không cũng không được (vô sở đắc) Giả (thế giới ảo hóa) cũng không được thì há Trung (ở giữa) mà có chỗ được (sở đắc) hay sao. Chẳng qua là giả lập để điều hòa cho khỏi thiên lệch mà thôi. Ưng vô sở trụ chính là thực tại bất định xứ (nonlocal) của lượng tử mà khoa học ngày nay đã phát hiện. Ưng vô sở trụ cũng chính là thực tại bất định xứ của mọi vật thể mà khoa học ngày nay thì còn mù mờ chưa hiểu thấu, nhưng các nhà đặc dị công năng đã chứng minh rằng cố thể vật chất cũng có những tính chất giống y như lượng tử (bất định xứ hay vô sở trụ) chỉ vì sức nặng, sức ỳ của vật chất (lực quán tính) có nguồn gốc sâu xa là tập quán cố chấp của chúng sinh nên thấy dường như cố thể vật chất là có định xứ (local, locality). Các nhà khoa học thiên văn biết rất rõ rằng thiên hà, các ngôi sao, các hành tinh, các thiên thể đều vô sở trụ tức không thể xác định vị trí, không thể xác định tọa độ một cách tuyệt đối, chỉ có thể xác định vị trí một cách tương đối. Bởi vì trong vũ trụ không thể có một điểm tựa tuyệt đối. Người ta chỉ có thể xác định vị trí dựa vào một hệ qui chiếu nhất định và hệ qui chiếu đó cũng chỉ là giả lập, cũng giống như các kinh tuyến, vĩ tuyến chỉ là những đường tưởng tượng được giả lập để xác định tọa độ của một vật thể trên địa cầu.
Trở lại câu hỏi tại sao con người khó giác ngộ ? Chính vì cái tập quán quá sâu nặng đã che lấp hết sự thật. Phật đã mô tả cái tập quán mê muội đó của con người bằng thuyết Thập nhị nhân duyên, trình bày cái mắt xích mê muội đầu tiên là Vô minh cho tới cái mắt xích cuối cùng là Lão tử như sơ đồ sau :



Sơ đồ Thập Nhị Nhân Duyên từ Vô minh cho tới Lão tử

Chính những tập quán vọng tưởng mê muội đó làm phát sinh ra vũ trụ, vạn vật, thế giới. Khoa học thế kỷ 20 và thế kỷ 21 đã lần lượt khám phá tánh không của vật chất, nghĩa là vật chất không có thực thể, chỉ là do tưởng tượng của tâm thức tạo ra mà thôi, đã tiến gần tới nhận thức của kinh điển Phật giáo từ ngàn xưa. Năm 1927, Heisenberg khám phá ra nguyên lý bất định (principle of uncertainty). Nguyên lý này nói rằng không thể xác định đồng thời vị trí và xung lượng của một hạt cơ bản hạ nguyên tử (subatomic particle) ví dụ như hạt electron. Điều đó có nghĩa là hạt electron không có thực thể, khi thì người ta thấy nó là sóng, khi thì thấy nó là hạt, mà hai tính chất sóng và hạt là đối lập với nhau, giống như Không và Có. Sóng là Không còn hạt là Có. Trong những năm đầu thập kỷ 1930, các nhà khoa học khám phá ra hiện tượng vướng víu lượng tử (quantum entanglement) cụ thể là một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai vị trí khác nhau, dù bất cứ khoảng cách là bao xa, khi một hạt bị tác động thì tức thời hạt kia bị tác động tương ứng. Einstein không hiểu được hiện tượng này và không thừa nhận nó, ông gọi đó là tác động ma quái ở khoảng cách xa (spooky action at a distance). Năm 1935, Einstein cùng với Podolsky và Rosen nêu ra một giả thuyết mà sau này báo chí gọi là nghịch lý EPR (viết tắt tên của ba người này) họ muốn vạch ra sự thiếu sót hoặc sai lầm của cơ học lượng tử. Nhưng nhiều thí nghiệm về sau đã chứng tỏ rằng giả thuyết của nhóm EPR là sai lầm, Các thí nghiệm này cho chúng ta biết rằng: các tính chất của các hạt “không tồn tại” trước khi các tính chất đó được quan sát bởi một thiết bị đo đạc. Điều này thì rất tương đồng với Phật pháp, kinh điển luôn nói rằng các pháp đều không có tự tính riêng biệt, mọi tính chất của các pháp đều do tâm thức tưởng tượng, nghĩa là vạn pháp duy tâm. Hiện tượng vướng víu lượng tử còn bộc lộ những tính chất cực kỳ quan trọng mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa hiểu hết, đó là không gian, thời gian và số lượng vật chất đều không có thật. Chính vì khoảng cách không gian không có thật nên hai photon dù cách xa bao nhiêu vẫn tức thời phản ứng với nhau không mất chút thời gian nào. Chính vì thời gian không có thật nên nhà khoa học nổi tiếng hiện đại Stephen Hawking nghĩ đến những “đường hầm” những “lỗ sâu đục” của thời gian mà nếu con người chui qua đó thì sẽ đột nhiên trở về thời cổ đại, hoặc đột nhiên bước vào cảnh giới của 1000 năm sau chẳng hạn. Chính vì số lượng vật chất không có thật nên năm 2012, Maria Chekhova đã tạo được thí nghiệm cho một hạt photon xuất hiện ở 100.000 vị trí khác nhau và tất cả chúng đều vướng víu (entangled).



Maria Vladimirovna Chekhova, Tiến sĩ Khoa học Đại học Moscow

Vì những khái niệm này quá đổi lạ lùng đối với con người, không thể tin nổi, nên nhiều nhà khoa học duy vật vẫn không muốn thừa nhận, bởi vì nếu thừa nhận thì toàn bộ nền khoa học của loài người bị sụp đổ hết. Con người chỉ còn công việc phát minh sáng chế ra các tiện nghi vật chất như nhà cửa, đường xá, xe cộ, máy bay, tàu thủy, máy tính, điện thoại thông minh…sản xuất ra các loại lương thực thực phẩm ngon lành để làm thỏa mãn các giác quan của mình chứ về mặt bản chất, không có gì là thật trong đó cả. Thí nghiệm hai khe hở đã bác bỏ một cách dứt khoát lập luận của chủ nghĩa duy vật cho rằng vật chất là độc lập, khách quan đối với ý thức.

Double Split Experiment – Thí Ngiệm Hai Khe Hở – Phụ đề Việt ngữ

Gần như toàn bộ nhân loại đều tin tưởng 100% rằng nhà cửa, xe cộ, tiện nghi vật chất trước mắt họ là hoàn toàn có thật, họ không có chút mảy may nghi ngờ, dù cho họ có là tăng ni phật tử thì cũng không có chút khác biệt nào, vẫn mang tâm niệm bị đè nặng bởi tập quán sâu dày như núi Tu Di cho rằng tất cả những gì hiện hữu trước 6 giác quan của họ đều là sự thật 100% . Dù cho có tham thiền hay tham thoại đầu 30 năm hay lâu hơn nữa, cũng không mảy may phát sinh được chút nghi tình nào cả. Chính vì lẽ đó mà con người khó giác ngộ. Khoa học ngày nay đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng vật chất, cụ thể là một hạt electron, một nguyên tử hay thậm chí là một phân tử không hề độc lập mà là tuỳ thuộc vào tâm thức của người quan sát. Vật chất không đặc cứng như chúng ta luôn cảm nhận. “Đặc cứng” chỉ là một cảm giác ảo tưởng, sự thật không phải thế.

The Holographic Universe – Vũ Trụ Toàn Ảnh 2 – Phụ đề Việt ngữ

Thiền sư Thanh Tủng 清聳 người tỉnh Phước Kiến, học đạo tại chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu, thọ pháp với thiền sư Pháp Nhãn mà được khai ngộ. Một hôm sư thượng đường, nói :

「十方諸佛常在汝前,還見麼?Chư Phật mười phương thường ở trước mặt các ngươi, có thấy không ?

若言見,將心見,將眼見?Nếu bảo rằng thấy, đó là dùng tâm thấy hay dùng mắt thấy ?

所以道一切法不生,一切法不滅。Vì vậy mới nói tất cả pháp không sinh, tất cả pháp không diệt

若能如是解,諸佛常現前。」Nếu có thể hiểu như thế thì chư Phật thường hiện tiền

「見色便見心,且喚甚麼作心?Thấy sự vật tức là thấy tâm, thế thì tâm là cái gì ?

山河大地,萬象森羅,青黃赤白,Sơn hà đại địa, muôn vạn hiện tượng, xanh vàng đỏ trắng

男女等相,是心不是心?Các hình tướng nam nữ, là tâm hay không phải là tâm ?

若是心,為甚麼卻成物象去?Nếu là tâm, tại sao lại thành sự vật ?

若不是心,又道見色便見心。Nếu không phải là tâm, sao lại nói thấy sự vật tức là thấy tâm

還會麼?Có hiểu không ?

祇為迷此而成顛倒,種種不同,Chỉ vì mê lầm nên thành điên đảo, chủng loại bất đồng

於無同異中強生同異。Từ chỗ không đồng không khác, miễn cưỡng sinh ra đồng dị

且如今直下承當,頓豁本心,Nếu như nay nhìn thẳng xuống cái đang là, đốn ngộ bổn tâm

皎然無一物可作見聞。Hiểu rõ không một vật nào có thể tạo ra sự thấy nghe cả

若離心別求解脫者,Người nào muốn lìa tâm mà cầu giải thoát

古人喚作迷波討源,卒難曉悟。」Cổ nhân gọi là nhìn lầm sóng mà tưởng là nước, rốt cuộc khó giác ngộ

Ý của thiền sư Thanh Tủng được khoa học ngày nay giải thích một cách hết sức rõ ràng, có thể nói theo tiến sĩ Amit Goswami, là rõ như ban ngày.

Vạn Pháp Duy Thức

Trong bài kệ có một câu hỏi khó trả lời 若是心,為甚麼卻成物象去?Nếu là tâm, tại sao lại thành sự vật được chứ ? Chúng ta sẽ tìm cách trả lời câu hỏi đó. Trước hết cần phải hiểu rằng vật do tâm biến thành nhất định phải là vật ảo, không thể là vật thật được, dù đó là quả núi hay quả địa cầu. Dù cho cả sáu giác quan của chúng ta đều xác nhận đó là vật thật, nó vẫn là ảo, có bản chất là ảo hóa. Nhưng cơ chế biến hóa từ chỗ ảo, chỗ không có gì cả, biến thành vật thật sử dụng được, sờ mó được, ăn uống, tiêu hóa, tăng trưởng đều được, ngày nay khoa học đã nhìn thấy. Ngày xưa các thiền sư hiểu nhưng không thể diễn tả được, vì không có phương tiện để diễn tả rõ ràng. Bởi vì mọi nói năng diễn tả đều phải dựa vào tri kiến thế gian, mà thế gian lúc đó chưa có tri kiến loại này, nên không thể diễn tả. Nhưng ngày nay chúng ta dựa vào khoa Vật lý lượng tử, có thể hiểu và diễn tả rõ ràng.
Giác tánh cũng tức là Phật tánh (Phật có nghĩa là giác ngộ) hay còn gọi là Tâm. Tánh nghe, tánh thấy, tánh biết v.v… vốn là vô sinh vô thủy vô chung, nó hoàn toàn không có tùy thuộc vào con mắt, lỗ tai hay bộ não. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật đã chứng minh. Các nhà đặc dị công năng hiện đại cũng góp phần chứng minh sự thấy không phải bằng con mắt, có người thấy bằng mũi, có người thấy bằng nách. Giác tánh là sẵn có, không cần bất cứ cơ quan nào để nhận thức, Phật giáo gọi là bất nhị. Giác tánh cũng là tánh Không vì nó vô hình vô thể vô dạng. Nhưng tánh Không đó không phải là hư vô vì nó có năng lực ảo hóa tức biến không thành có. Nhưng để biến được như vậy thì nó phải phân lập thành hai thành phần đối lập mà triết học gọi là cặp phạm trù mâu thuẫn như : có và không, sáng và tối, vật chất và ý thức, thiện và ác, tốt và xấu, luân hồi và niết bàn, sinh và bất sinh, thánh và phàm, giác ngộ và mê lầm, đúng và sai v.v…Như vậy vũ trụ vạn vật hay nói gọn là vạn pháp đều là ảo. Vì nguồn gốc của vạn pháp đều là Tâm bất nhị nên trong Phật pháp có câu “Vạn pháp duy Tâm” tất cả các pháp đều là do Tâm tạo. Nhưng để biến được từ không thành có, phải có cơ chế biến hóa vô cùng phức tạp gọi là trùng trùng duyên khởi mà Phật giáo đã mô tả trong Thập nhị nhân duyên. Ngày nay khoa học cũng đã mô tả khá rõ ràng. Cái Không phải tạo ra các hạt ảo, những vật ảo là không có thật nhưng có tác dụng. Ví dụ kinh tuyến, vĩ tuyến chỉ là những đường tưởng tượng không có thật nhưng có tác dụng rất hữu ích để định vị. Chân không lượng tử là môi trường để cho các vật ảo phát sinh. Cái Không phải tạo ra số lượng vật chất là các hạt ảo như quark, electron, tạo ra không gian thời gian để làm nền tảng cho thế giới hiện hữu. Giả thuyết khoa học Big Bang cũng là lý giải đó. Rồi các hạt ảo tạo ra cấu trúc ảo như nguyên tử, phân tử. Rồi dần dần tạo ra sinh vật, con người có bộ não phát triển. Bộ não người là một cấu trúc ảo có công năng tưởng tượng rất thần sầu. Nó phát sinh ra cái mà Phật giáo gọi là nhất niệm vô minh, liên tục thành dòng tâm niệm không ngừng nghỉ mà triết học gọi là ý thức, tư tưởng, tư duy. Các cấu trúc ảo của vạn pháp nói chung, Phật giáo gọi là vô thủy vô minh. Gọi tên như thế vì đó thực chất chỉ là mê lầm, không có bắt đầu, không có thực thể. Khoa học ngày nay đã nhận ra điều đó, các khoa học gia hàng đầu như Niels Bohr đã nhận ra (nhưng Einstein thì chưa nhận ra), họ hiểu vật chất không có thực thể, vật chất chỉ là do ý thức (nhất niệm vô minh) tạo ra. Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật). Cơ chế chủ yếu quan trọng nhất để từ ảo biến thành thật có thể diễn tả bằng toán học như sau :

-1 x -1 = +1 (âm 1 nhân với âm 1 bằng dương 1)

Còn diễn tả bằng triết học thì như sau : con người là một cấu trúc ảo do các hạt ảo cấu thành và nó có ý thức, có tư duy, có trí tưởng tượng, nó vận dụng 6 giác quan để nhận thức các cấu trúc ảo khác thành sự vật như con trâu, con ngựa, quả núi, con sông, cây cối, hoa lá, sinh vật. Tất cả chỉ là ảo nhưng ảo tương tác với ảo thì thành ra vật thật. Vì tất cả mọi giác quan của con người đều xác nhận sự vật mà nó nhận thức là thật nên nó tin tưởng 100% là thật và không có chút nghi ngờ nào cả. Chính vì vậy mà con người rất khó giác ngộ.
Các nhà đặc dị công năng hiện đại như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý đã chứng minh một cách hết sức thuyết phục về bản chất ảo hóa của vật chất. Trương Bảo Thắng đã dùng tâm niệm lấy một quả táo ra khỏi một thùng sắt mà nắp đã bị hàn kín. Hầu Hi Quý đã dùng tâm niệm để lấy một gói thuốc lá hiệu Đỗ Quyên Hoa từ nơi sản xuất là huyện Lạc Đô tỉnh Thanh Hải cách xa nơi ông đang đứng là làng Loan Sơn, huyện Du, tỉnh Hồ Nam với khoảng cách rất xa :1600 km chỉ trong nháy mắt. Những hành vi này đều phù hợp với lý thuyết lượng tử mà hiện tượng vướng víu lượng tử (quantum entanglement) đã cho thấy rõ khả năng đó là có thật.



Thuốc lá Đỗ Quyên Hoa do huyện Lạc Đô, tỉnh Thanh Hải sản xuất

Tóm lại vũ trụ vạn vật chỉ là ảo hóa, do nhất niệm vô minh tưởng tượng ra. Tất cả đều xuất phát từ Tâm hay Giác tánh, hay Phật tánh, hay Thượng Đế, Trời (rất nhiều danh xưng khác nhau nhưng tôi cho rằng đồng nghĩa). Duy Thức học mô tả nó một cách rõ ràng bằng 8 thức, mà cơ bản nhất là A-lại-da thức. Tất cả sự phân biệt như : hữu tình vô tình, sinh tử niết bàn, tái sinh không tái sinh, ngộ hay mê v.v… đều chỉ là ảo tưởng. Cái ảo tưởng này Bát Nhã Tâm Kinh nói rất rõ : Không có Sinh Tử cũng không có hết Sinh Tử. Không có Khổ Tập Diệt Đạo cũng không có hết Khổ Tập Diệt Đạo. Các ông sư ngày nào cũng tụng kinh này nhưng thật ra rất ít người hiểu. Tất cả mọi sự phân biệt đều là tạm bợ không có thực chất, chỉ có ý nghĩa tương đối, chỉ dựa trên sự chấp ngã, chấp pháp. Những người quá cố chấp vào sự phân biệt tạm bợ là chưa hiểu pháp giới bình đẳng. Kinh Kim Cang cũng khuyên không nên cố chấp : “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Nếu thực hành được điều này thì giác ngộ không phải là quá khó, như sư Thanh Tủng đã nói :

直下承當,頓豁本心 Trực há thừa đương, đốn khoát bổn tâm

Chỉ cần nhìn xuống là thấy ngay, đốn ngộ bổn tâm, bổn tâm của mình tức là Phật, đã thành từ vô thủy, chứ không phải là mai kia mốt nọ hay trong tương lai xa vời mới sẽ thành.

Chú thích :

Thanh Tủng清聳 thiền sư là người nối pháp của Thanh Lương Văn Ích thiền sư 清涼文益禪師. Ông người huyện Phúc Thanh福清 Phúc Châu福州 tỉnh Phúc Kiến. Ông sống vào thời kỳ nước Nam Đường của Hậu Chủ Lý Dục 李煜bị diệt vong và nước Tống của Triệu Khuông Dận 趙匡胤thành lập, vào khoảng niên hiệu Khai Bảo 開寶 (bắt đầu từ năm 968 đời Tống Thái Tổ). Muốn hiểu thêm tình cảnh của Lý Dục, xin mời xem bài hát Kỷ Đa Sầu sau đây :
Kỷ Đa Sầu – Thái Hạnh Quyên – Ca từ Việt dịch

Truyền Bình

Theo: https://duylucthien.wordpress.com

Cuộc Trắc Nghiệm Hào Hứng Giữa Huệ Năng và Huyền Giác

Cuộc Trắc Nghiệm Hào Hứng Giữa Huệ Năng và Huyền Giác

...Sư Huyền Giác lại một Tăng sĩ thuộc thành phần trí thức. Trong hoàn cảnh ấy, sư phải khổ tu khổ nghiệm, phải đi hết con đường suy luận mới tiếp nhận được ánh sáng của trí tuệ không suy luận. Chính Sư kể lại con đường tu tập như sau trong Khúc Ca Chứng Đạo:Ta sớm bao năm chuyên học vấn,Từng viết sớ sao tìm kinh luận.Phân biệt danh tướng mãi không thôi,Vào biển đếm cát tự chuốc hận,Quả đáng bị Như Lai quở trách,Châu báu của người có ích gì?Lâu nay đắng đót rõ công suông,Uổng bấy lâu làm thân phong trần khách!
Thật vậy, Huyền Giác vào chùa từ thuở bé, tu tập theo kinh luận Phương Đẳng, và chuyên ròng về phép chỉ quán của phái Thiên Thai.


Thiên Thai tông do ngài Tuệ Văn lập ra từ đời Bắc Tề (thế kỷ thứ 6), đến đời nhà Tùy thì sư Trí Giả ở núi Thiên Thai mở rộng thành một pháp môn thuần túy Trung Hoa, thanh thế lừng lẫy một thời, và ảnh hưởng kéo dài mãi ở hậu thế. Đương thời người ta tôn Ngài Trí Giả lả Đông Độ Thích Ca, nghĩa là Phật của phương Đông.
Sở đắc ở cái lý “nhất thừa pháp”[13]của kinh Pháp Hoa, tông Thiên Thai rút diễn cốt tủy của pháp Phật thành năm yếu chỉ là “xưng danh, biện thể, minh tông, luận dung, và phán giáo tướng” gọi là NGŨ TRÙNG HUYỀN NGHĨA. Để qua năm cửa huyền ấy, có hai con đường là CHỈ và QUÁN. CHỈ là chấm dứt tư tưởng lăng xăng để cho tâm được định. QUÁN là xem xét thực tướng của muôn vật bằng ánh sáng của trí tuệ phát sanh từ tâm“chỉ”.
Tuy nhiên, cần thấu rõ rằng chỉ tức là quán, quán tức là chỉ, chứ không phải hai cái riêng biệt nối tiếp vào nhau trong thời gian, trái lại, cả hai đều đồng thời có, không cái nào trước cái nào; chỉ là “tịch”, mà quán là “chiếu”: tịch phát ra chiếu, chiếu không lìa tịch: không phải hai mà cũng chẳng phải một, ứng dụng cùng một lúc như đôi cánh chim. Cho nên rốt ráohơn, Sư Trí Giả nói chỉ rồi phá chỉ, nói quán rồi phá quán.
“Nếu trụ ở chỉ thì chìm sanh tử. Nếu trụ ở quán thì tâm loạn, vì như thế là đem tâm ám chỉtâm, lại khởi tâm mà quán cái quán. Nếu có tâm mà quán tức thấy các pháp là “thường”. Nếu không tâm mà quán tức thấy các pháp là “đoạn.” Nếu chẳng “có” tâm, chẳng “không” tâm, là chấp hai bên.”
(Đốn ngộ yếu môn luận)
Những kiến giải trên nhằm diễn đạt cái lý nhất như của Phật Pháp. Nhất như là Một. Một là Tất Cả. Cho nên theo tông Thiên Thai không phải tâm sanh ra tất cả pháp, mà tâm “là” tất cả pháp, tất cả pháp “tức là” tâm.
Sư Huyền Giác tu tập theo phép chỉ quán nói trên đến mức tinh tế. Sau này, ông là một Thiền sư lỗi lạc của phái Tào Khê mà đồng thời cũng là giáo chủ thứ tám của pháp hệ Thiên Thai nữa.
Vậy, tiếp theo những kinh luận Thiên Thai, Huyền Giác sau tự ngộ được tâm Phật nhờ kinh Duy Ma.
Kinh Duy Ma là một trong những bộ kinh Phương Đẳng nhằm chuyển pháp Phật từ Tiểu Thừa sang Đại Thừa mở đường cho Nhất thừa pháp. Người nói kinh là cư sĩ Duy Ma Cật, một trưởng giả giàu có, có kẻ hầu người hạ, sống hệt như thế tục mà đạo hạnh cao vút không lường. Những người nghe pháp là các đệ tử lớn của Phật, hầu hết là hàng Thinh Văn, Duyên Giác, tu hạnh Tiểu Thừa.
Đối với các vị ấy, và nhân cơ duyên gặp gỡ hàng ngày, cư sĩ Duy Ma dùng hết biện tài mà bài xích những hạnh nhỏ, cố chấp, hầu đưa họ đến cảnh giới bát ngát của hạnh Bồ Tát Đại Thừa.
Luận về kinh Duy Ma, Thiền Sư Hy Vận nói”Duy Ma giả, Tịnh Danh dãTịnh giả, tánh dãDanh giả, tướng dãTánh tướng bất nhị, cố hiệu Tịnh Danh.”
(Duy Ma tức là Tịnh Danh. Nói tịnh là nói tánh. Nói danh là nói tướng. Tánh với tướng chẳng khác nhau, nên gọi là Tịnh Danh.)
Đó là lý “bình đẳng không hai” của Đại thừa giáo, bình đẳng đến chỗ “nhất như”, không còn chút phân biệt nào giữa bất cứ gì, tội ác và công đức, Niết bàn và luân hồi, chợ búa và đạo trường, tu viện và lầu xanh…Câu chuyện phát tâm bồ đề của hai nhà sư phạm tội dâm và sát, câu chuyện nàng Thiên Nữ cả quyết rằng: “Chẳng khi nào ngài Xá Lợi Phất trở lạilàm phàm phu thì chẳng khi nào nàng chứng quả Chánh Giác” là những dấu hỏi mãi mãixoáy vào đầu người học đạo. Những câu nói kỳ bí như:
Tánh của dâm, nộ, si là giải thoát.
Già, bịnh, chết là Bồ đề của Bồ Tát.
Tất cả chúng ma và tất cả ngoại đạo là thị giả của tôi v.v…
Chứng tỏ một cái thấy siêu việt không trí óc nào vói tới được.
Sư Huyền Giác đạt tới đó sau khi tận dụng và vượt lên cái khả năng cuối cùng của trí óc. Và sư hoang mang, không biết mình đã biết gì. Trong tâm trạng ấy, Sư đến gõ cửa Lục Tổ.
Từ đây khởi đầu một cuộc vấn đáp tuyệt kỹ giữa Huệ Năng và Huyền Giác, một người là Thiền tổ chánh truyền của phái Thiếu Lâm, một người hoang mang chưa biết mình là gì giữa mê và ngộ.
Vấn đáp là một phép dạy đạo độc đáo của Thiền. Từ đời Huệ Năng, lối vấn đáp này in đậm nét vào tất cả giai đoạn tiến triển của Thiền qua các triều đại. Từ đời nhà Tống, Thiền công án ra đời kết tinh tự kho vấn đáp đồ sộ ấy của chư Tổ.
Thiền là vô tâm, vô niệm, nên lối vấn đáp của Thiền lúc nào cũng hồn nhiên, sống động như nước chảy mây bay, không chút chần chờ, suy nghĩ. Vì không suy nghĩ nên cuộc ứng đốiThiền như bất thần bừng lên từ từng sâu thẳm của tâm linh, tự đầu nguồn của cuộc sống. Cuộc ứng đối đó có thể hình dung như hai tấm gương phản chiếu liên miên ánh sáng cho nhau, tia sáng nào vừa nhận được cho là trả lại ngay, không giữ lại gì hết, nên gương lúc nào cũng trong, lòng gương lúc nào cũng không, để lúc nào cũng sẵn sàng nhận đâu trả đó, thích ứng với cơ sự diễn biến quanh mình.
Trong trường hợp vấn đáp của Huệ Năng và Huyền Giác, thoạt tiên ta thấy Huyền Giác đột ngột đặt ngay vấn đề sống chết lên thảm xanh, một vấn đề gấp rút, cần giải quyết ngay, vì quỉ vô thường có thể đến bất cứ lúc nào, hơi đâu lo chuyện lễ nghĩa:

“Sanh tử là việc lớn, vô thường mau chóng lắm”
(Sanh tử sự đại, vô thường tấn tốc)


Thật vậy, sanh tử là việc lớn, không riêng gì cho đạo Phật. Đạo Phật dạy thoát ly sanh tử. Thoát ly bằng cách nào? Bằng cách “trường sanh bất tử” của phép tu tiên? Bằng cách trả thân xác lại cho cát bụi để linh hồn trở về thiên đường hưởng phúc lành bất diệt? Bằng cách hết nghiệp thì hết đầu thai? Không, chúng ta lầm cả. Huệ Năng dạy:
“Sao chẳng thể nhận cái lý “không sanh”, thấu rõ cái nghĩa “không chóng”?”
(Hà bất thể thủ vô sanh, liễu vô tốc hồ?)
Câu này có nghĩa là sao không tự mình nhận ra cái nguyên lý vô sanh, thường còn bất biến, chi phối toàn thể thế giới hiện tượng. Nếu nhận được nguyên lý ấy thì có gì đâu nữa mà nói chóng chầy, và vấn đề sanh tử tự nó giải quyết lấy nó.
Nguyên lý ấy là tự tánh. Tổ dùng chữ “thể” để chỉ tự tánh ấy, và chữ “liễu” để chỉ cái dụng của tự tánh ấy. Thể là tự tánh mà dụng tức là trí. Bằng câu hỏi ấy, Tổ muốn thử coi người học trò mới này đã “thấy tánh” chưa, và nếu đã thấy tánh thì tánh tức là dụng, là từ trí Bát nhã; dùng trí này quán chiếu vào hiện tượng sống chết thì sự sống chết tan ngay như một ảo tưởng - ảo tưởng của hình danh sắc tướng.
Như vậy, vấn đề sống chết không phải giải quyết bằng một việc làm cụ thể nào, mà bằng một cái thấy. Thấy cách nào đó, như chúng ta đây, là có sống chết. Thấy khác đi cách nào đó, như chư Phật và Tổ, là không có sanh tử. Cái thấy khác đó là tri kiến Phật.
Thật vậy, trong chuỗi xích mười hai nhân duyên, sanh tử là hai khoen chót, mà đầu não là vô minh. Phật dạy rằng vô minh không có thực thể, nghĩa là một ảo tưởng do chính mìnhtạo ra, thì tất cả mười một khoen xích kia hẳn nhiên đều là vô minh, là ảo tưởng cả - là “duy tâm sở tạo”. Mà đã là ảo tưởng thì sanh tử không còn là một vấn đề để giải quyết.
Nói một cách khác, sanh tử cũng ví như khi mắt ta mờ thì ta thấy hoa đốm nổi giữa trời; ta gọi là hoa đốm “sanh.” Ta dụi mắt nhìn kỹ thì không thấy hoa đốm nữa, ta gọi là hoa đốm“tử.” Nhưng sự thật thì hoa đốm chưa hề sanh ra thì cũng chẳng tử đi đâu cả. Hoa đốm là một ảo giác của mắt, cũng như sanh tử là một ảo tưởng của tâm. Cho nên nói thoát ly sanh tử mà thật ra chẳng có sanh tử nào phải thoát ly. Tất cả cái dễ và cái khó của phép giải thoát là ở chỗ phi lý ấy.
Thấu rõ ý ngầm của Huệ Năng trong câu hỏi “Sao chẳng thể nhận cái lý không sanh…?” Sư Huyền Giác đáp ngay:
“Thể tức không sanh, thấu vốn không chóng”
(Thể tức vô sanh, liễu bổn vô tốc).

“Thể tức không sanh” nghĩa là bổn thể, tức tự tánh, vốn không sanh không diệt, tức thường trụ ngoài thời gian.
“Thấu vốn không chóng” nghĩa là sanh tử vốn không thực có thì thấu rõ một hiện tượng là cùng một lúc thấu rõ tất cả, có gì đâu gọi là mau chậm, trước sau. Đó là phép “đốn.”
“Nhất liễu, nhất thiết liễu.”
Bằng câu trả lời trên, Huyền Giác cho Tổ thấy sư còn đi xa hơn thế nữa, nghĩa là Sư đã thoát ly không gian (thể tức không sanh) và thời gian (thấu vốn không chóng). Thời với không chẳng phải hai cái gì riêng biệt, mà chỉ là một khối nhất trí, một continuum espace-temps.
Thoát ly cái continuum ấy tức là thoát ly cái mà Tổ Huệ Khả nói rằng:
“Ba thưở cầu tâm tâm chẳng có[14]”
Ba thuở là quá khứ, hiện tại và vị lai. Ba thuở chẳng có, tâm chẳng có, tâm quá khứ chẳng có, tâm vị lai chẳng có, tâm hiện tại chẳng có, sanh tử cũng chẳng có, mà tròn đầy trước mắt chỉ có cái hiện tiền.
Thử nghĩ: Giác là thức tỉnh, mà thức tỉnh thì chỉ có thể thức tỉnh trên cái hiện tiền, thức tỉnhkhỏi những mộng lớn, mộng nhỏ thuộc dĩ vãng và tương lai.
Ngồi thiền là chuyển tất cả tâm trí vào cái hiện tiền để cho trí huệ quán chiếu và bao trùm tất cả trong một cái thấy toàn diện, nhất như. Khi đức Thế Tôn thành đạo, và Ngài thấy lại tất cả tiền kiếp chồng xếp trong quá khứ, cái quá khứ ấy thật không còn là quá khứ nữa mà đã nhập cuộc vào hiện tại, đã nằm chung trên một bình diện với hiện tiền: Trong hiện tiềndung nạp cả quá khứ và vị lai.
Cái hiện tiền ấy tức là cái sát na. Lục Tổ dạy về Niết Bàn có nói Niết Bàn:
“Trong sát na không có tướng sanh không có tướng diệt, mà cũng chẳng có sự sanh diệtnào phải diệt đi cả. Đó là cái hiện tiền tuyệt đối, không hạn cuộc bởi một ranh giới nào, nên lúc nào cũng vui.”
Nói một cách khác, sát na ấy là cảnh giới “y thực như vậy đó” của hàng đạt đạo chứng lý vô sanh.
Nghe Huyền Giác đáp, Huệ Năng khen phải. Giác sụp lạy. Như thế tỏ rõ Giác tìm đến Tào Khê cốt để thử thầy, và nếu vừa ý, xin ấn chứng. Giác chống tích trượng đứng không phải vì ngạo mạn. Tổ nói “Đúng vậy! Đúng vậy” (Như thị! Như thị) là bắt đầu thừa nhận cái thấy của nhà sư Thiên Thai là chính kiến.
Cuộc thử thách vừa ngưng lại tiếp tục ngay, càng lúc càng thêm gay cấn. Lối vấn đáp lần này có một tên riêng là Cơ Phong Vấn Đáp, ý nói người hỏi cũng như người đáp đều thừa cơ tặng cho nhau những mũi nhọn (phong) để thử sức nhau. Các mũi nhọn đều hiểm độcnhắm vào tim đối thủ - vào tâm điểm của đạo giác ngộ.
Vậy, thừa cơ hội sư Huyền Giác xin kiếu về, Huệ Năng bèn trở lại lần nữa với việc chóng chầy.
Ngài hỏi:
“Về chóng thế sao?”
(Phản thái tốc hồ?)
Giác lanh trí đỡ ngay mũi kiếm “mau chóng” và trả lại đối phương bằng thế kiếm “chẳng động”:
“Vốn mình chẳng phải động, há có mau chóng sao?”
(Bổn tự phi động, khởi hữu tốc da?)
Bổn là bổn lai, nghĩa là từ vô thỉ đến vô chung. Có động là có mau có chậm. Không động thì há có gì chóng chầy được sao?
Nói một cách khác, tự tánh của con người vốn là tự tại không có thời gian, vượt ngoài động tịnh, mau chậm, ngoài tất cả đối đãi và mâu thuẫn vậy. Trong thời gian, tất cả đều trôi chảy, đều biến đổi từ thế này sang thế khác, đều tương sanh tương khắc, đó là lý nhân quả. Nhân quả là khổ, vì đó là trạng thái bị chi phối, bị ràng buộc.
Tuy nhiên, đạo Phật dạy rằng không ai trói buộc mình cả, mà chỉ tự mình mắc lấy ảo tưởngrằng mình “thiếu” tự do. Do đó nhân quả cũng là ảo tưởng nốt. Nói thế không có nghĩa là phải bác bỏ lý nhân quả, nhưng cần quán chiếu lý nhân quả bằng một nhỡn quan khác, chẳng hạn như nhỡn quan của bà Ni Tổng trì trình lên cho Tổ Bồ Đề Đạt Ma xét cách hiểu đạo của mình:
“Theo ý con thì đạo cũng như cái nhìn của A Nan vào cõi Phật A Súc[15]: thấy một lần là không thấy trở lại được.”
Cõi Phật A Súc đó là sát na thường trụ. Trong sát na không có nhân sanh ra quả, mà nhân tức là quả, quả tức là nhân, đồng thời có, viên mãn có, từ vô thỉ đến vô chung. Nhân đó là viên nhân, quả đó là mãn quả, không phải tương sanh mà là tương tức, không phải khắc chế mà là dung thông. Do đó, Thiền nói rằng:
“Chư Phật thấy chúng sanh suốt ngày sanh mà không sanh, suốt ngày diệt mà không diệt. Không sanh không diệt đó là quả Đại Thừa.”
(Truyền tâm pháp yếu)
Trong sát na tất cả đều bất động vậy. Vì bất động nên trong thời gian ta nói củi cháy thành tro, nhưng trong sát na củi vẫn là củi, mà tro vẫn là tro.
“Sự sống và sự chết cũng vậy. Trong đạo Phật, ta nói cái không sanh thì không diệt. Sanh là một điểm trụ của thời gian, cũng như mùa đông và mùa xuân. Trong đạo Phật, không ai nói mùa đông “trở thành” mùa xuân bao giờ, hoặc mùa xuân “trở thành”mùa hè[16]
(Đạo Nguyên : Chánh Pháp nhãn tạng)
Huệ Năng lại tấn công tới tấp, như dốc hết sức mạnh đẩy đối phương vào chân tường. Lần này Ngài chặt xuống chữ “ai”
“Ai biết chẳng phải động?”
(Thùy tri phi động)
Ngài muốn xét kỹ lại coi Huyền Giác đã tự mình thể nghiệm được cái “chẳng động” hay đã suy tư ra cái chẳng động. Nếu là thể nghiệm thì đó là cái “bổn lai chẳng động”, tự nhiên nó là như vậy. Còn nếu do suy tư thì nghĩ về cái chẳng động vẫn còn là động, tu cái chẳng động chỉ đem lại cái tịnh mà dứt cái động, rốt cuộc vẫn hoàn động.“Ngăn động mà cầu tịnhHết ngăn lại động thêmCàng trệ ở hai bên Sao bằng do đầu mối[17]?”
Nếu là suy tư thì có người suy tư và có việc được suy tư. Người suy tư: ấy là cái tôi, gói ghém trong chữ “ai” của câu hỏi: “Ai biết chẳng phải động?”
“Ai” là chủ thể, là năng.
“Cái chẳng động” là đối tượng, là sở.
Hai cái biệt lập nhau, và nối liền nhau bằng một nhịp cầu: “biết”.
Vì lẽ “Tôi nghĩ tức là tôi có thật”, nên suy tư tức đặt cái tôi thành định lý, và cái biết ấy là cái biết chấp ngã. Phật dạy rằng Bồ tát nói pháp mà còn thấy có mình nói pháp thì chưa phải là Bồ tát. Còn Huyền Giác, nếu sư còn thấy có sư và có cái chẳng động thì hẳn chưa phải là Thiền sư.
Nhận kịp ẩn ý trong câu hỏi của Lục Tổ, Huyền Giác vặn lại ngay:
“Đúng là tại nhân giả sanh tâm phân biệt.”
(Nhân giả tự sanh phân biệt)
Sanh tâm là tự nơi tâm bỗng dấy lên một niệm, nhân đó cái toàn thể bị tách làm đôi: có tâm và có niệm, tức là có phân biệt vậy. Niệm là phân biệt.
Phân biệt có nghĩa là chia chẻ, và chia chẻ bằng mũi dao của suy tư. Nhân có suy tư nên mọi sự việc đều bị tách đôi: có cuộc sống, rất cụ thể, và có ý nghĩ về cuộc sống, rất trừu tượng, có chính mình, thuần nhất, và có khái niệm giả tạo về chính mình; có người làm và có người đứng ngoài xét lại người làm; có người hát và người nghe hát:“Ngã kim nhật tại tọa chi địaCổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi.”(Ngàn muôn năm âu cũng thế niAi hay hát? Mà ai hay nghe hát?)
(Nguyễn Công Trứ)

Do suy tư, trên con người có thêm một hình ảnh con người, trên tâm chồng thêm một bóng dáng của tâm. Hiện tượng phân tâm ấy, Thiền gọi là “Tâm thượng sanh tâm,” hoặc cụ thểhơn như lời Vân Môn nói “Trên cái đầu ghép thêm một cái đầu.” Vậy con người chúng ta ai cũng dư một cái tâm, dư một cái đầu. Ấy thế mà chúng ta lại tưởng mình “thiếu” một cái gì, nên lục lạo tìm kiếm khắp nơi. Chúng ta không thiếu, mà chúng ta chỉ dư thôi, dư hoặc thiếu đều do nghĩ mà ra cả.
Nếu ta không nghĩ, nếu một niệm không mống lên thì đó là cái toàn nhất của con người thể nhập làm một với cái toàn nhất của cuộc sống và của vũ trụ. Đó là trạng thái nhập đạo. Thân không còn là thân riêng rẽ, mà là quả của Bồ đề. Tâm không còn là tâm khác biệt, mà là hoa của linh tri.
Câu trả lời của Huyền Giác chứng tỏ Sư đã chứng ngoài mọi đối đãi và mâu thuẫn, nên Huệ Năng hạ lời khen:

“Người thực đã thấu cái ý không sanh.”
(Nhữ thậm đắc vô sanh chi ý.)

Tuy nhiên, lời khen của Lục Tổ lại là một mũi dao bọc nhung. Mũi dao ấy nằm ở chữ “ý.” Cuộc chiến đấu tưởng chừng như đã chấm dứt ngờ đâu lại ngấm ngầm ác liệt và hiểm độchơn. Tổ đã thừa cơ chuyển đường gươm từ chữ “ai” xuống chứ “ý”. Trước là cái thế năngsở, giờ là cái thế “ngã pháp.” Cùng chung một trận tuyến, song trận thế biến hóa hư diệu hơn.
Ngã là ta: chủ thểPháp là muôn vật: đối tượngChấp ngã là chấp có bản ngã chủ quan.Chấp pháp là chấp có vũ trụ khách quan.
Vì phân biệt có chủ nên chấp có khách – khách và chủ là hai con số của bài toán tâm linhnan giải, nan giải vì bài toán xây dựng trên định lý của cái tôi – trên một phi lý vậy. Thật ra tôi không có cái tôi nào khác hơn là toàn thể sự vật mà tôi ý thức.
Cho nên giải quyết bài toán bằng cách nào cũng là một việc làm lẩm cẩm, chẳng khác nào giải quyết cái phi lý bằng cái phi lý.
Vậy, lời khen của Lục Tổ không ngoài dụng ý trắc nghiệm kỹ sự tâm chứng của Huyền Giác trước ngã tướng và pháp tướng. Hiểu ý Tổ, Huyền Giác hỏi vặn lại:

“Không sanh há có ý sao?”
(Vô sanh khởi hữu ý da)

Không sanh là một nguyên lý tuyệt đối chi phối toàn thể thế giới tương đối của chúng ta có sanh có diệt. Thể nhận được chân lý ấy là trở về nguồn, nhập làm một với toàn thể ở trong ta và ngoài ta thành một khối linh minh, tự tại. Thể nhận không có nghĩa là nghĩ, nên vô sanh không có ý. Nếu có ý là có hai thể riêng biệt nhau, có cái thực tại vô sanh và có cái nhận thức, có ngã và pháp, có tâm và vật vậy.
“Ở đâu có vật là ở đó có tâm. Có phải tâm là một thứ, còn vật là một thứ khác nhau không? Không, vật tức là tâm. Nếu tâm khác vật, vật khác tâm, thì hóa ra có hai trạng thái ý thứcsao? Vậy nên vật tức là tâm.
Tâm có thể phân tách tâm không?
Không, không thể được. Cũng như dao không tự cắt được dao, cũng như mắt không tự thấy được mắt[18], tâm không tự biết được tâm. (Sikshasammuccaya).
Cái trạng thái thuần nhất ấy của tâm, loại trừ tất cả ý phân biệt và phân tách, gọi là Tam Ma đề (Định)[19]
Nói tóm lại, một ý nghĩ không mống lên, ấy là trạng thái không sanh, tuy siêu hình nhưng rất thực tiễn, nên nói “Vô sanh khởi hữu ý da?”
Tuy nhiên, chưa cho thế là đủ, Huệ Năng còn bồi thêm một mũi kiếm thượng thặng, một mũi kiếm tuyệt luân, từ một chẻ làm ba, đánh vào ba mặt trận: ý, ai, và phân biệt.
“Không ý thì ai phân biệt đây?”
(Vô ý thùy đương phân biệt)
Câu hỏi của Lục Tổ đưa thẳng chúng ta vào mạch máu của đạo giải thoát.
Thật vậy, nếu giải thoát là phá tất cả tướng thế gian, thì cái còn lại là gì? Hư vô chăng?
Phá hết mọi tướng về nhân ngã, Bồ đề, Niết bàn thì cứu cánh là gì? Trở về với thể chất gỗ đá sao? Vượt qua hết mọi mâu thuẫn thì kết quả là gì? Một cuộc sống tê hệt, lững đững lờ đờ chăng? Nếu không phân biệt gì hết thì khác nào quờ quạng trong tăm tối, như xác chếtchưa chôn?
Đó là những câu hỏi nhắm vào thực chất của giác ngộ. Hỏi tức là nghĩ. Không nghĩ, không thể hỏi. Cái lầm lớn nhất của ta là ở đó.
Ta tưởng rằng có thể nghĩ đến sự giải thoát như ta nghĩ đến một giải đáp cho bài toán. Nói thế không có nghĩa chân lý là một việc “bất khả tri” (agnostic), khép kín trước con người. Trái lại, chân lý là của con người, nằm trong con người, nên có thể tri, và vì lẽ ‘nằm trong” ấy nên không thể tri bằng phương tiện suy tư: suy tư và chân lý không nằm chung trên một bình diện.
Suy tư là một dòng diễn tiến đi từ một số định lý, qua từng đoạn đường, theo lối thẳng, để tự đó rút ra một kết luận. Đó là một tràng nhân quả vậy, tiếp nối trong thời gian, của những ý niệm thoạt sanh thoạt diệt.
Ngược lại, từ mê đến ngộ không phải là một quá trình theo đường thẳng, trong thời gian, mà là một biến cố đột ngột, đưa đến một biến chất đột ngột. Biến cố đó là “đốn”. Biến chấtđó là “ngộ”.
Trong đốn ngộ không có ý nghĩ nên không thể vận dụng khối óc mà vào đạo: “Động niệm tức quai.”
Trong đốn ngộ không có nhân quả nên không thể cải tiến lần hồi theo cấp bực: “Giác tất vô tiệm thứ.”
Trong đốn ngộ không có thời gian nên không thể trông cậy ở một ngày mai nào mà tất cả đều đặt ở hiện tiền, trong một sát na bất động: “Đương xứ tức chân.”
Mọi việc tu tập đều lồng khung trong thời gian nên, mặc dầu không thể không tu tập, vẫn không thể coi đó là nhân tất quyết đưa đến giác ngộ là quả: giác ngộ siêu thời gian không thể là quả của bất cứ gì. Câu nói “Xưa nay chưa hề có Phật cấp bực”[20]chỉ cho ý ấy. Hoặc ta là Phật, hoặc không là Phật, chứ không thể là Phật lai rai, phiên phiến được.
Tuy nhiên, nếu sự tu tập được khéo hướng dẫn thì kết quả vẫn tốt đẹp, và cái kết quả tốt đẹp cuối cùng là ta vỡ lẽ ra rằng mọi đường lối tu tập đều không đưa đến một kết quả nào hết. Ta đã lầm đường, song dầu biết lầm vẫn phải đi; có đi đến cùng mới tự mình ý thứcđược sự bất lực của mọi con đường vào đạo.
Tình trạng bế tắc và bất lực ấy, Thiền ví như leo mút cây sào trăm thước:“Bách xích can đầu tọa đích nhân,Tuy nhiên đắc kiến vị vi chân.”
Đó là đoạn đường quyết liệt, con người như sắp vỡ toang, “tâm tư thẳng vút như bức tường đứng”[21] nên dầu muốn dầu không cũng phải đánh liều làm một cái gì. Cái gì đó là thoát ra ngõ cụt bằng một cái nhảy:“Bách xích can đầu tiến nhất bộTam thiên thế giới hiện toàn thân.”(Sào cao trăm thước ngồi chót vótTuy thấy mà nào thấy được chân.Ví dám đầu sào thêm bước nữa,Mười phương thế giới hiện toàn thân.)
“Thế giới hiện toàn thân” là toàn thể tạo vật rơi lớp mặt nạ mà lồ lộ trước mắt cái nguyên khối thuần là tánh, là lý, linh minh, hư diệu. Nguyên khối đó là pháp thân Phật, tức Như Lai. Như Lai là:
“Không từ đâu đến mà cũng chẳng đi về đâu.” tức là vĩnh viễn trụ ở sát na bất động.
Cho nên nói nhảy không phải nhảy về quá khứ với những mộng cũ héo tàn, cũng chẳng phải nhảy đến ngày mai với những mộng mới vu vơ, mà chính là nhảy vào sát na, vào hiện tiền, về… chỗ cũ, trước mắt: đó là tất cả cái phi lý của đốn giáo.
Huyền Giác nói:“Búng tay, tám vạn pháp môn thànhNháy mắt, rũ xong ba kỳ kiếp,Một nhảy vào liền đất Như Lai.”
Cái phi lý ấy là Trung Đạo.
Trung Đạo là vượt qua.
Hơn thế nữa, cũng như biển cả bao gồm tất cả nước đục, trong, dơ sạch của sông ngòi, trong sát na bao gồm tất cả quá khứ và vị lai, trong Trung Đạo bao gồm tất cả đạo của thế gian. Trung Đạo vượt qua tất cả, và viên dung tất cả vậy. Đó là tất cả tinh thần nhân bảncủa đạo Phật. Đạo Phật không làm gì hết mà tự nhiên nhập cuộc, hòa ánh sáng, trộn cát bụi, không để lọt ra ngoài một cái kiến, con sâu.
Nói tóm lại, đốn ngộ là vượt qua và bao dung lại, là siêu việt tất cả mâu thuẫn, và viên dunglại tất cả mâu thuẫn.
Không siêu việt và không viên dung là ngu mê.
Có thể siêu việt mà không thể viên dung là hư vô. Có thể viên dung mà không thể siêu việtlà cuồng.
Có thể siêu việt mà cũng có thể viên dung là pháp Phật.
Tổ Đạt Ma nói:Mê thì ở bên nàyNgộ thì ở bên kiaVí biết bổn thể của tâm là không thì không thấy tướng, tức lìa cả mê ngộ.Mê và ngộ đã lìa thì bờ bên kia cũng chẳng có.Như Lai không ở bờ bên này, cũng không ở bờ bên kia, cũng không ở giữa dòng.Ở giữa dòng là Tiểu thừa.Ở bờ bên này là phàm phu Ở bờ bên kia là Bồ tát.(Đạt Ma ngộ tánh luận)
Cho nên Thiền không cầu chân chẳng dứt vọng, không theo trí mà bỏ ngu, không chán sống chết mà ham Niết bàn - những cái ấy đều là hai phương diện “không thể không có được” của thực tại.
Chân lý không phải là không hoặc chẳng không, mà là “không chẳng không”.
Hành động Thiền không phải vô vi cũng chẳng phải hữu vi mà là “Bất trụ hữu vi bất tận vô vi.”
Cuộc sống Thiền không phải là tự nhiên hoặc siêu nhiên mà là “trường nhiên.”

Sanh lão bệnh tử
Vị chi thường nhiên.
(Trần Thái Tôn)

Chứng ngộ Thiền không phải là Thánh mà cũng chẳng phải phàm, mà là “Quách nhiên vô thánh,” theo Sơ Tổ Đạt Ma.
Đến đây, hẳn ta có đủ ánh sáng để rọi vào câu hỏi uyên áo của Lục Tổ, “Không ý thì ai phân biệt đây?”
Phàm nói phân biệt là nói hữu tâm, nói cố ý. Ở đâu có ý là ở đó có riêng tư, có quan điểm, lập trường, có sanh sự và sự sanh, có đổ vỡ vậy.“Cố ý trồng hoa hoa ủ rũVô tâm tiếp liễu liễu xanh um.”

Vô tâm là không có tâm phân biệt.
Có phân biệt là có vô minh, có điên đảo.
Không phân biệt thì khác gì gỗ đá sao?
“Phàm luận về phân biệt có ba thứ:

-Một là do các giác quan sơ sanh tùy theo bản năng mà phân biệt.
-Hai là do ý thức so sánh, cân nhắc mà phân biệt.
-Ba là chân tâm ứng với ngoại vật, như kiếng chiếu hình, tỏ rõ phân biệt, tợ hồ như có phân biệt.

Giác quan và ý thức phân biệt là vọng. Chân tâm ứng với ngoại vật tỏ rõ thường biết, tuy tợ như phân biệt mà thật ra chả phải là phân biệt.[22]”
Cái “tợ như phân biệt” ấy là Trung Đạo, vượt qua và dung thông lại hai trạng thái tương đối(có phân biệt và không phân biệt) thuộc phạm vi suy luận và bản năng.
Do đó Sư Huyền Giác mới trả lời:
“Phân biệt cũng chẳng phải là ý.”
(Phân biệt diệc phi ý: có phân biệt nhưng chẳng phải cố ý phân biệt.)
Ý phân biệt là do niệm dấy lên đòi hỏi một sự thỏa mãn cho cái tôi muốn kéo dài để hưởng thụ. Có tâm mà phân biệt là phân biệt “vọng.” Có tâm tức là có ý.
Chân tâm phân biệt là ứng dụng với thời cơ, như mặt nước phản chiếu bóng chim bay.
Chim không có ý in hình trên dòng nước. Nước không có ý giữ bóng chim bay. Do những cơ duyên ngẫu hợp, và nước và chim và bóng qui tụ lại ở một tiêu điểm, do đó phát sanh hiện tượng và phân biệt. Không tâm mà phân biệt là phân biệt “chân.” Không tâm tức là không ý. Nên nói phân biệt mà không phân biệt.[23]
“Phân biệt rõ muôn vật mà bổn tánh vẫn như chẳng động; bổn tánh đã chẳng động tứcchẳng phải ý vậy.[24]”
Thiền nằm trong thế tục mà vẫn “không chấp, không lìa, không giữ, không bỏ” thế tục, do đó ứng dụng được dọc ngang, không đâu chẳng là đạo tràng, chẳng là xứ Phật.
Trong tinh thần Trung Đạo, Thiền dạy đừng chặn đứng tư tưởng mà cứ để “Tư tưởng lui tớitự do, tâm thể không vướng mắc, đó là Bát nhã.”
(Đàn Kinh)

Thiền nói không sanh, nhưng không sanh chẳng có nghĩa là là phá bỏ cái sanh đi:Thùy vô niệm, thùy vô sanhNhược thực vô sanh vô bất sanh.

(Chứng Đạo Ca)

Thiền nói không phân biệt, nhưng là:Phân biệt nhất thiết phápBất khởi phân biệt tưởng

(Đàn Kinh)

Nghĩa là tùy duyên mà phân biệt rõ ràng muôn vật, nhưng không nghĩ tưởng gì về sự phân biệt.
Nói một cách khác, cứ đi, đứng,nằm, ngồi, ăn cơm, mặc áo, cứ phân biệt như mọi người, vì đó là nhu cầu của cuộc sống, có xấu xa gì đâu mà đòi thoát ra, quí hồ đừng nghĩ đến sự đi, đứng, nằm, ngồi, đừng nghĩ đến sự phân biệt. Cái rắc rối là ở chỗ nghĩ, không phải ở chỗ mặc áo ăn cơm. Nghĩ đến sự mặc áo ăn cơm là mắc vào trạng thái phân tâm, là khiến con mắt phải tự thấy con mắt. Đó là bịnh Thiền:Thức đắc bổn tâm bổn tánhChánh thị tông môn đại bịnh.
(Đàn Kinh)

Hơn nữa, cần nghĩ thì cứ nghĩ, không ngại, quí hồ đừng nghĩ về cái nghĩ, vì nghĩ cũng là một nhu cầu như mọi nhu cầu sinh lý khác của con người. Nhưng nghĩ về cái nghĩ là nguy đấy, vì đó là bịnh “trên cái tâm nẩy sinh thêm một cái tâm.”
Một cái tâm cũng đủ lắm rồi, đủ rộng lớn bao gồm pháp giới, đủ linh hoạt ứng dụng khắp cùng. Thêm một cái tâm nữa là có loạn: cái dư, cũng như cái thiếu, bao giờ cũng rắc rối.
Tuy nhiên, dư hoặc thiếu chỉ là ảo tưởng. Quán xét đến chỗ tột cùng thì tất cả đều là ngôn từ mà còn lại chỉ Cái Toàn Thế, ứng dụng dưới vô số hình thái khác nhau. Con người là một Cái Toàn Thể. Cuộc sống là một Cái Toàn Thể. Tâm thức là một Cái Toàn Thể. Vũ trụ là một Cái Toàn Thể. Nên:
“Ai” cũng là tự tánh, “ý” cũng là tâm thanh tịnh, “phân biệt” cũng là trí Bồ đề.
Cái Toàn Thể ấy là Thiền. Chứng Đạo Ca nói:“Đi cũng Thiền, ngồi cũng ThiềnNói im, động tịnh thảy an nhiên.Phỏng gặp gươm dao thường nhẹ hữngVí nhằm thuốc độc vẫn bồng tênh.”

Trích: 
CHỨNG ĐẠO CA 
Tác giả: Thiền sư Huyền Giác
Dịch giả: Cư sĩ Trúc Thiên
Nhà xuất bản Lá Bối ấn hành lần thứ nhất tại Saigon năm 1970

Nguồn: https://thuvienhoasen.org