Dhammapada
CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT
¨ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG
ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG
Osho
Tập 2 Hà Nội 5/2011
Trí huệ của hồn nhiên
Làm sao tâm trí rối loạn
hiểu con đường?
Nếu một người bị rối loạn
Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với tri
thức.
Tâm trí không rối loạn,
không còn tìm kiếm xem xét
cái gì là phải và cái gì là trái,
Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,
quan sát và hiểu.
Biết rằng thân thể là cái bình mảnh mai,
và tạo nên lâu đài của tâm trí ông.
Trong mọi thử thách
để hiểu biết tranh đấu cho ông
để bảo vệ điều ông có được.
2
Vì chẳng mấy chốc thân thể này sẽ bị bỏ đi.
Vậy nó cảm thấy cái gì?
Khúc gỗ vô dụng, nằm trên đất.
Vậy nó biết gì?
Kẻ thù tồi tệ nhất của ông không thể làm hại ông
nhiều như các ý nghĩ riêng, khinh suất của ông.
Nhưng một khi bị nó khống chế,
không ai có thể giúp ông được mấy,
cho dù cả bố hay mẹ ông.
Làm sao tâm trí rối loạn
hiểu con đường?
Nếu một người bị rối loạn
Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với tri
thức.
Tâm trí không rối loạn,
không còn tìm kiếm xem xét
cái gì là phải và cái gì là trái,
Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,
quan sát và hiểu.
Biết rằng thân thể là cái bình mảnh mai,
và tạo nên lâu đài của tâm trí ông.
Trong mọi thử thách
để hiểu biết tranh đấu cho ông
để bảo vệ điều ông có được.
2
Vì chẳng mấy chốc thân thể này sẽ bị bỏ đi.
Vậy nó cảm thấy cái gì?
Khúc gỗ vô dụng, nằm trên đất.
Vậy nó biết gì?
Kẻ thù tồi tệ nhất của ông không thể làm hại ông
nhiều như các ý nghĩ riêng, khinh suất của ông.
Nhưng một khi bị nó khống chế,
không ai có thể giúp ông được mấy,
cho dù cả bố hay mẹ ông.
Có lần tôi được hỏi, "Triết lí là gì?" Tôi nói, "Triết
lí là nghệ thuật hỏi câu hỏi sai." Người mù hỏi "Ánh
sáng là gì?" - đây là triết lí. Người điếc hỏi "Âm nhạc
là gì? Âm thanh là gì?" - đây là triết lí.
Nếu người mù hỏi, "Làm sao tôi có thể lấy lại
được đôi mắt?" đây không còn là triết lí nữa, đây là tôn
giáo. Nếu người điếc đi tới bác sĩ để được chữa trị sao
cho người đó có thể nghe được, thế thì người đó đang
đi theo hướng của tôn giáo và không theo hướng của
triết lí.
Triết lí là đoán chừng, nó là bàn tán; chẳng biết gì,
người ta cố phát minh ra chân lí. Và chân lí không thể
được phát minh, và bất kì cái gì được phát minh ra
không thể đúng được. Chân lí phải được khám phá ra.
Nó đã có đó rồi... mọi điều chúng ta cần là con mắt cởi
mở - con mắt để thấy nó, trái tim để cảm nó, bản thể
để hiện diện với nó. Chân lí bao giờ cũng hiện diện
nhưng chúng ta vắng mặt, và bởi vì chúng ta vắng mặt
3
chúng ta không thể thấy được chân lí. Và chúng ta cứ
hỏi về chân lí, mà chúng ta không hỏi câu hỏi đúng:
Làm sao hiện diện? Làm sao để trở thành sự hiện diện?
Chúng ta hỏi về chân lí và việc hỏi đó đi xa khỏi
nó, bởi vì việc hỏi ngụ ý rằng câu trả lời là có thể có từ
ai đó khác. Việc hỏi ngụ ý rằng ai đó khác có thể nói
cho bạn chân lí là gì. Không ai có thể nói cho bạn điều
đó được, điều đó không thể được nói.
Lão Tử nói: Chân lí có thể được nói ra không còn
là chân lí nữa. Một khi được nói ra, nó trở thành dối
trá.
Tại sao? - bởi vì người biết, biết nó không phải
như thông tin; bằng không, sẽ rất dễ dàng truyền thông
tin này cho bất kì ai sẵn sàng nhận nó. Chân lí được
biết như kinh nghiệm bên trong. Nó giống như việc
nếm trên lưỡi. Nếu một người chưa bao giờ nếm vị
ngọt là gì, bạn không thể giải thích nó cho người đó
được - điều đó là không thể được. Nếu một người chưa
thấy mầu sắc, bạn không thể giải thích cho người đó
nó là gì.
Có những điều chỉ có thể được kinh nghiệm, và
qua kinh nghiệm, được hiểu. Thượng đế là kinh
nghiệm tối thượng đó, điều hoàn toàn không thể diễn
đạt nổi, không thể truyền đạt nổi. Nó không thể được
truyền đạt. Nhiều nhất, vài hướng dẫn có thể được cho;
nhưng những hướng dẫn đó cũng phải được nhận bằng
trái tim rất thông cảm, bằng không bạn sẽ bỏ lỡ chúng.
Nếu bạn diễn giải chúng bằng tâm trí mình bạn sẽ
bỏ lỡ chúng, bởi vì tâm trí bạn có thể làm gì khi có liên
quan tới việc diễn giải? Nó chỉ có thể đem quá khứ
riêng của nó vào. Nó chỉ có thể đem hỗn độn riêng của
4
nó vào. Nó có thể đem những xung đột, hoài nghi, lẫn
lộn của nó vào. Và với tất cả những cái đó nó sẽ áp đặt
lên chân lí, lên hướng dẫn được trao cho bạn, và lập
tức mọi sự bị bóp méo. Tâm trí bạn không ở trong
trạng thái để thấy, để cảm.
Tôn giáo đơn giản nghĩa là tạo ra một không gian
trong tâm trí của bạn, cái có năng lực thấy, cái có năng
lực của không xung đột, cái có năng lực là một mà
không chia chẻ gì, cái có năng lực toàn vẹn, sáng tỏ,
cảm nhận. Tâm trí với đầy những ý nghĩ không thể
cảm nhận được; những ý nghĩ đó cứ can thiệp vào.
Những ý nghĩ có đó, hết tầng nọ tới tầng kia. Vào lúc
cái gì đó đạt tới cốt lõi bên trong nhất của bạn, nếu mà
nó đạt tới, nó không còn là như nó đã được chuyển
giao bởi ai đó, người đã biết. Nó là một hiện tượng
khác toàn bộ.
Phật hay lặp lại từng hướng dẫn ba lần. Ai đó hỏi
ông ấy, "Sao thầy lặp lại một thứ những ba lần?"
Ông ấy nói, "Ngay cả ba lần cũng không đủ. Khi ta
nói điều đó lần thứ nhất, ông chỉ nghe thấy lời thôi.
Những lời đó trống rỗng, chỉ trống rỗng, cái vỏ hổng,
không có nội dung. Ông không thể nghe thấy nội dung
ở lần thứ nhất. Lần thứ hai, ông nghe nội dung qua lời,
hương thơm tới, nhưng ông bàng hoàng thế, ông bị bối
rối bởi sự hiện diện của nó đến mức ông không ở vào
trạng thái để hiểu. Ông nghe, nhưng ông không hiểu.
Đó là lí do tại sao ta phải lặp lại nó ba lần."
Tôi cứ lặp đi lặp lại bởi một lẽ đơn giản là các bạn
ngủ thế - nó phải được lặp lại, được gõ búa vào. Có thể
trong khoảnh khắc nào đó, khoảnh khắc thuận lợi nào
5
đó, các bạn sẽ không ở sâu thế trong giấc ngủ; các bạn
có thể ở gần, rất gần với việc thức, và cái gì đó có thể
đi vào trong các bạn. Các bạn có thể có khả năng nghe
thấy. Vâng, có những khoảnh khắc khi các bạn rất gần
với việc thức - không thức, không ngủ, chỉ ngay ở
giữa, đâu đó ở giữa.
Mỗi sáng các bạn đều biết, có vài khoảnh khắc khi
giấc ngủ không còn nữa nhưng các bạn vẫn chưa thức,
các bạn không thể nói được là mình thức. Các bạn có
thể nghe thấy, theo một cách rất mơ hồ, âm thanh của
chim chóc, và tiếng người rao hàng, và tiếng vợ nói
với hàng xóm và tiếng trẻ con sửa soạn tới trường, và
tiếng ồn ào giao thông, và tiếng tàu hoả chạy qua -
nhưng theo một cách rất mơ hồ, không toàn bộ, chỉ bộ
phận. Và các bạn cứ lơ lơ trong giấc ngủ. Khoảnh khắc
này các bạn nghe thấy tiếng ồn của tàu hoả chạy qua,
khoảnh khắc khác các bạn đã đi sâu hơn vào giấc ngủ
của mình.
Bây giờ các nhà nghiên cứu về giấc ngủ nói rằng
điều đó xảy ra liên tục trong giấc ngủ của bạn: nếu bạn
ngủ tám giờ, bạn không ở cùng mức độ liên tục, mức
độ của bạn cứ thay đổi, hết đỉnh đến thung lũng. Cả
đêm bạn đi lên và đi xuống. Đôi khi bạn ở rất sâu
trong giấc ngủ nơi ngay cả mơ cũng biến mất -
Patanjali đã gọi điều đó là sushupti, ngủ không mơ - và
đôi khi bạn đầy những mơ. Và đôi khi bạn chỉ ngay
bên bờ thức tỉnh. Nếu cái gì đó vỡ tan, sốc xảy ra, bạn
sẽ thức dậy, đột nhiên thức dậy.
Đó là nỗ lực của mọi chư phật: đợi đến đúng
khoảnh khắc khi bạn rất gần tới việc thức tỉnh. Thế thì
một chút ít thúc đẩy và mắt bạn mở ra và bạn có thể
thấy.
6
Thượng đế không thể được giải thích nhưng có thể
được thấy, có thể được kinh nghiệm - không thể được
giải thích. Bất kì giải thích nào về Thượng đế không là
gì ngoài việc giải thích sai về ngài; do đó, càng có
nhiều tu sĩ, nhà thượng đế học, giáo sư, tôn giáo càng
ít có trên thế giới. Càng nhiều giáo hoàng và nhiều
shankaracharyas, càng ít tôn giáo có đó trên thế giới -
bởi vì những người này cứ giải thích và Thượng đế
không thể nào được giải thích. Họ nhồi nhét vào tâm
trí bạn bằng biết bao nhiêu lời giải thích, bây giờ
những lời giải thích đó trong xung đột. Bây giờ gần
như không thể nào hình dung ra điều đó, cái gì là cái
gì, cái nào là cái nào. Bạn trong lẫn lộn hoàn toàn. Con
người chưa bao giờ trong lẫn lộn như thế trước đây,
bởi vì nhân loại chưa bao giờ ở gần thế trước đây. Trái
đất thực sự đã trở thành làng, làng toàn cầu.
Trong những ngày cổ đại đó các Phật tử chỉ biết
mỗi điều Phật đã nói, và người Mô ha mét giáo chỉ biết
mỗi điều Mohammed đã nói, và người Ki tô giáo chỉ
biết mỗi Jesus. Bây giờ chúng ta đã trở thành người
thừa kế của toàn thể di sản thừa kế của nhân loại. Bây
giờ bạn biết Jesus, bạn biết Zarathustra, bạn biết
Patanjali, bạn biết Phật, bạn biết Mahavira, bạn biết
Lão Tử và hàng trăm lời giải thích khác, hướng dẫn
khác - và chúng tất cả đều nhảy bổ vào bạn. Bây giờ
rất khó kéo bạn ra khỏi sự lẫn lộn này. Cách có thể duy
nhất là vứt toàn bộ sự ồn ào này đi, không phải từng
phần mà toàn bộ. Đó là thông điệp của tôi.
Và bằng việc vứt nó đi, các bạn sẽ không vứt bỏ
Jesus hay Mohammed hay Phật; bằng việc vứt bỏ nó
các bạn sẽ tới gần họ hơn. Bằng việc vứt bỏ nó, các
bạn sẽ đơn giản vứt bỏ các tu sĩ và các truyền thống và
các tục lệ và sự khai thác cứ diễn ra nhân danh truyền
7
thống và tục lệ. Bằng việc xoá đi tất cả những điều
này, quên đi Kinh Thánh và Vedas và Gita, bạn sẽ đạt
tới sáng tỏ, trong sạch. Vâng, bạn cần việc dọn dẹp
mùa xuân, các bạn cần làm nhẹ gánh toàn bộ cho trái
tim. Chỉ thế, trong im lặng đó, bạn sẽ có khả năng để
hiểu.
Phật nói:
Làm sao tâm trí rối loạn
hiểu con đường?
Hàng nghìn người đã tụ tập quanh Phật, cũng như
các bạn đã tụ tập quanh tôi - hàng nghìn người tìm
kiếm đã tới Phật và họ đã hỏi đủ mọi loại câu hỏi. Và
Phật đã không quan tâm tới câu hỏi của họ chút nào;
ông ấy không quan tâm tới việc trả lời chúng. Ông ấy
quan tâm, chắc chắn, tới việc chỉ ra cho họ con đường,
nhưng vấn đề là ở chỗ họ quá băn khoăn với những
câu hỏi và câu trả lời của họ mà họ đã thu thập, họ bị
quá bối rối bởi đủ mọi tri thức họ đã từng mang theo
mình, đến mức không thể nào, gần như hoàn toàn
không thể nào chỉ được cho họ con đường. Do đó mới
có lời kinh này: Làm sao tâm trí rối loạn hiểu được
con đường?
Cho nên thay vì cho họ thêm câu trả lời, thêm giải
thích, Phật bắt đầu lấy đi tri thức của họ, những câu trả
lời làm sẵn của họ, những quan niệm tiên thiên của họ,
những định kiến của họ. Ấn Độ không bao giờ có khả
năng tha thứ cho Phật vì điều đó. Lập tức sau khi ông
ấy chết tâm trí truyền thống của đất nước này bắt đầu
nhổ bật gốc rễ mọi cây cối ông ấy đã trồng; mọi bụi
8
hồng đều bị thiêu rụi. Phật đã hoàn toàn bị tống ra khỏi
đất nước này. Người con vĩ đại nhất của mảnh đất này
không còn chỗ trú ngụ ở đây nữa; giáo huấn phải tìm
chỗ cư ngụ ở những mảnh đất nước ngoài.
Điều này không phải là ngẫu nhiên, điều này bao
giờ cũng xảy ra. Jesus đã bị những người Do Thái kết
án, người Do Thái đóng đinh, và Jesus là người Do
Thái vĩ đại nhất đã từng ở trên trái đất, việc nở hoa vĩ
đại nhất của tâm thức Do Thái, việc diễn đạt tột cùng,
cao trào, đỉnh Everest. Nhưng sao người Do Thái đã
phủ nhận ông ấy? Họ đáng phải hạnh phúc, họ đáng
phải nhảy múa và mở hội, nhưng họ không thể - họ
không thể tha thứ được cho ông ấy, bởi vì sự hiện diện
của ông ấy làm cho họ cảm thấy rất tầm thường; đó là
tội của ông ấy. Ông ấy phải bị trừng phạt vì điều đó, vì
ở cao thế, vì vượt ra ngoài thế, vì cao siêu thế, vì
duyên dáng thế, vì đem tới tình yêu thế. Vì sự hiện
diện của mình mà ông ấy phải bị trừng phạt, bởi vì sự
hiện diện của ông ấy làm cho mọi người cảm thấy xấu
xí khi so sánh. Ông ấy phải bị loại bỏ để cho tâm trí
tầm thường có thể cảm thấy thoải mái.
Jesus không bị giết bởi người Do Thái, ông ấy bị
giết bởi tâm trí tầm thường. Điều đó đã xảy ra cho tâm
trí Do Thái tầm thường trong trường hợp của Jesus.
Cùng điều đó đã xảy ra với Phật. Phật đã không được
người Hindu dung thứ, và ông ấy đã là người Hindu vĩ
đại nhất. Ông ấy đã là người Hindu thuần khiết nhất có
thể được, chính tinh hoa của Hindu giáo. Điều
Upanishads nói, ông ấy đã hiện thực nó. Ông ấy là việc
hiện thực hoá của khao khát sâu sắc nhất của mảnh đất
này, nhưng ông ấy bị nhổ bật gốc rễ từ đây, ông ấy bị
tống ra khỏi đây.
9
Phật giáo đã biến mất khỏi Ấn Độ, thậm chí không
dấu vết nào còn đằng sau - hoàn toàn bị xoá sạch sẽ.
Tại sao? Ông ấy đã cực kì được kính trọng ở Tây
Tạng, ở Trung Quốc, ở Hàn Quốc, ở Nhật Bản, ở Thái
Lan, ở Miến Điện, ở Sri Lanka. Toàn thể châu Á yêu
mến con người này, giáo huấn của ông ấy duy nhất
thế, lời của ông ấy hàm chứa thế. Nhưng Ấn Độ đơn
giản đã quên mất tất cả về ông ấy - tâm trí Ấn Độ tầm
thường. Điều đó chẳng liên quan gì với người Ấn Độ
cả - lại là tâm trí tầm thường. Tâm trí tầm thường chưa
bao giờ cho phép các thiên tài; người tầm thường sung
sướng với người tầm thường khác. Người ngu sung
sướng với người lãnh đạo ngu. Lãnh đạo càng ngu,
mọi người càng sung sướng - bởi vì ông ta trông giống
họ nhiều thế.
Tôi đã nghe:
Một giám thị mới được bổ nhiệm vào một nhà
thương điên. Người cũ chuyển giao trách nhiệm, ông
ta về hưu, và một bữa tiệc nhỏ được tổ chức để để mọi
người trong bệnh viện cám ơn người cũ về phục vụ
của ông ta, và tiếp đón người mới bởi các bệnh nhân.
Mọi người điên được tập hợp.
Giám thị cũ có chút ít phân vân; ông ấy chưa bao
giờ thấy họ sướng thế. Mọi người điên đều sướng, vui
tới mức ông ta không thể đừng được cám dỗ hỏi họ -
và ông ta sắp đi cùng ngày này, cho nên ông ta phải
hỏi ngay; bằng không bao giờ cũng còn điều tò mò
trong tâm trí và ông ta sẽ chẳng bao giờ biết được câu
trả lời.
Ông ta hỏi người điên. "Sao anh trông sướng thế?"
10
Họ nói, "Bởi vì ông giám thị mới kia - ông ấy
trông hệt như chúng tôi! Ông là người ngoài chúng tôi,
ông lành mạnh. Ông ấy trông có vẻ điên!"
Và điều đó là sự thật - viên giám thị mới gần như
điên khùng. Nhưng những người điên rất sướng Ai đó
bây giờ đã tới, người sẽ không làm cho họ cảm thấy họ
điên.
Điều này bao giờ cũng là tình huống trên trái đất
này - trái đất này là nhà thương điên - và bất kì khi nào
một người lành mạnh xảy ra, chúng ta đều cư xử
không phải với người đó. Hàng nghìn người đã tới
Phật để hỏi, "Thượng đế ở đâu? Thượng đế là gì?" Và
đặc biệt là các brahmins, các bác học, các học giả,
những người đầy am hiểu, am hiểu về các kinh sách,
họ thường tới ông ấy để hỏi, "Ông có tin vào Thượng
đế không? Định nghĩa niềm tin của ông, giải thích khái
niệm của ông."
Và Phật cứ khăng khăng lặp đi lặp lại: Làm sao
tâm trí rối loạn hiểu được con đường? Ông ấy thường
nói, "Xin đừng hỏi về Thượng đế. Việc hỏi của ông về
Thượng đế hệt như người mù hỏi về ánh sáng - điều đó
không thể được giải thích. Ta là thầy chữa," ông ấy
nhấn mạnh. "Ta có thể chữa mắt của ông, ta có thể trao
lại cho ông cái nhìn. Và thế rồi tự bản thân ông sẽ có
khả năng thấy, và ánh sáng phải được ông thấy chứ.
Việc thấy ánh sáng của ta chẳng có ích gì cả. Ta có thể
thấy ánh sáng, ta thậm chí có thể mô tả nó, nhưng điều
đó sẽ không cho ông ý tưởng nào về nó là gì."
Thực ra không có cách nào có thể để diễn đạt cho
người mù ánh sáng là gì. Ánh sáng là kinh nghiệm, cái
11
gì đó có tính tồn tại, không giải thích nổi. Và Thượng
đế là ánh sáng tối thượng, ánh sáng của mọi ánh sáng,
ánh sáng đằng sau mọi ánh sáng, cội nguồn của mọi
ánh sáng. Làm sao Thượng đế có thể được giải thích
cho bạn nếu bạn mù?
Do đó Phật chẳng bao giờ nói về Thượng đế. Và
các nhà bác học và các brahmins sẽ quay về chỗ của
họ mà lan truyền tin đồn và nói rằng "Người này
không trả lời câu hỏi này bởi vì ông ta không biết;
bằng không, sao ông ấy không thể đơn giản nói có hay
không? Chúng tôi đã hỏi câu hỏi rất đơn giản, 'Ông có
tin vào Thượng đế không?' Ông ấy có thể đã nói có
hay không - nếu ông ấy biết thế thì câu trả lời là đơn
giản. Nhưng ông ấy nói vòng vo; chúng tôi hỏi về
Thượng đế và ông ấy nói theo kiểu cách ngôn. Ông ấy
nói, 'Làm sao điều đó có thể được nói ra? Làm sao
điều đó có thể được giải thích?' Sự kiện thực là ông ấy
không biết. Sự kiện thực là ở chỗ ông ấy là kẻ vô thần
trá hình; ông ấy đang lừa mọi người, làm biến chất mọi
người."
Người Hindus đã bịa ra một câu chuyện rất tinh
ranh về Phật. Họ nói rằng Thượng đế đã tạo ra thế
giới, và đồng thời ngài đã tạo ra địa ngục và cõi trời -
địa ngục cho những người bị trừng phạt và cõi trời cho
những người được trọng thưởng vì đức hạnh của họ.
Nhưng chuyện xảy ra là hàng nghìn năm qua đi chẳng
ai vào địa ngục cả, bởi vì không ai phạm tội. Tất nhiên,
quỉ rất mệt mỏi vì cứ chờ đợi hoài và chờ đợi và chờ
đợi - không có việc làm, không có kinh doanh! Thậm
chí không một linh hồn nào đã xuất hiện!
12
Cực kì tức giận, quỉ lên Thượng đế và nói, "Sao
ông làm ra địa ngục này, để làm gì? Và sao ông đẩy tôi
vào đó chịu trách nhiệm? Chúng tôi mệt rồi, nhân viên
của tôi mệt hết cả rồi. Chẳng ai xuất hiện cả. Chúng tôi
mở cửa hàng và chúng tôi ngồi cả ngày mà chẳng có
một khách hàng nào! Chúng tôi để cửa mở - không
một linh hồn nào đã từng vào. Phỏng có ích gì? Xin
giải phóng chúng tôi khỏi việc này đi."
Thượng đế nói, "Sao ông không đến sớm hơn? Ta
quên khuấy mất về điều đó. Ta sẽ thu xếp vậy. Ngay
đây ta sẽ sinh vào trong thế giới là Phật Gautama, và ta
sẽ làm biến chất tâm trí mọi người. Ta sẽ làm biến chất
tâm trí họ nhiều tới mức ông sẽ bị chật ních đấy. Ông
cứ về địa ngục đi và đợi đấy."
Và đó là cách chuyện xảy ra. Câu chuyện nói,
Thượng đế vào thế giới là Phật Gautama, làm biến chất
tâm trí mọi người, phá huỷ tin của họ, nhổ bật gốc rễ
những tục lệ của họ, làm rung chuyển đức tin của họ,
tạo ra hoài nghi trong tâm trí họ, nghi ngờ. Từ đó địa
ngục bị chật ních đến mức quỉ cứ phải nói đi nói với
Thượng đế, "Thôi bây giờ dừng đi! Xin dừng đi!
Chúng tôi mệt hết rồi, nhiều người thế! Chúng tôi phục
vụ cả hai mươi bốn tiếng, hết ngày nọ tới ngày kia;
thậm chí cả trong đêm cửa cũng không thể đóng được.
Mọi người đơn giản cứ kéo tới!"
Một câu chuyện rất tinh ranh. Bạn có thấy cái tinh
ranh tinh vi trong nó không? Theo một nghĩa nào đó
Phật được thừa nhận là hiện thân của Thượng đế.
Người Hindus tinh ranh hơn người Do Thái theo cách
đó. Người Do Thái đơn giản phủ nhận rằng Jesus là
Con của Thượng đế, họ bác bỏ Jesus. Người Hindus
13
tinh vi hơn theo cách đó, trau chuốt hơn, văn hoá hơn -
tất nhiên, một nền văn minh cổ đại hơn mà. Và nền
văn minh càng trở nên cổ đại hơn, nó càng trở nên tinh
ranh hơn.
Thấy cái tinh ranh này: Phật được chấp nhận là
hoá thân thứ mười của Thượng đế, và vậy mà Thượng
đế lấy hoá thân này vào thế giới để làm biến chất tâm
trí mọi người. Cho nên mặc dầu Phật là Thượng đế,
cẩn thận đấy, chớ có nghe ông ta! Bạn thấy chiến lược
này, cái mẹo này chưa? Họ không phủ nhận Phật có
tính thượng đế - thực ra gần như không thể nào phủ
nhận được Phật có tính thượng đế.
H.G. Wells đã nói rằng Phật Gautama là nghịch lí:
con người vô thượng đế nhất và vậy mà có tính thượng
đế nhất. Ông ấy chưa bao giờ nói về Thượng đế, ông
ấy chưa bao giờ bảo mọi người tin vào Thượng đế.
Thượng đế đơn giản bị thiếu trong giáo huấn của ông
ấy. Đấy không cần là giả thuyết, điều đó không được
cần. Vô thượng đế nhất và vậy mà có tính thượng đế
nhất… không ai dường như có tính thượng đế như
Phật, duyên dáng như Phật - hệt như bông sen, tâm
thức thuần khiết nhất có thể quan niệm được, tươi mát
như giọt sương trong ánh bình minh.
Họ đã không thể phủ nhận được điều đó, họ phải
chấp nhận rằng ông ấy là Thượng đế. Nhưng họ không
thể chấp nhận cách tiếp cận của ông ấy bởi vì cách tiếp
cận của ông ấy, nếu được chấp nhận, sẽ phá huỷ toàn
thể tôn giáo đã được thiết lập, toàn thể tổ chức. Ông ấy
lấy đi mọi niềm tin; thực ra ông ấy làm cho một điều
thành rất quan trọng, rất bản chất là con người của
niềm tin sẽ không có khả năng biết được. Ông ấy
không ngụ ý trở thành người không tin, bởi vì không
14
tin lại là tin theo cách phủ định. Không là người tin
không là người không tin.
Cách tiếp cận của Phật là cách tiếp cận của người
bất khả tri. Ông ấy không hữu thần không vô thần -
ông ấy là người truy tìm. Và ông ấy muốn bạn còn mở
cho việc truy tìm. Đi không có định kiến, đi không có
ý tưởng được làm sẵn - bởi vì nếu bạn đi với ý tưởng
nào đó, bạn sẽ phóng chiếu ý tưởng của bạn lên thực
tại. Và nếu bạn có ý tưởng bắt rễ sâu trong tâm trí bạn,
bạn sẽ thấy ý tưởng đó được hoàn thành trong thực tại
và nó sẽ chỉ là ảo giác, mơ được bạn phóng chiếu lên.
Bạn phải đi hoàn toàn trống rỗng. Nếu bạn thực sự
muốn biết chân lí bạn phải tuyệt đối trống rỗng, bạn
phải không mang ý tưởng nào, ý thức hệ nào; bạn phải
đi trần trụi, trần truồng, trống rỗng. Bạn phải vận hành
từ trạng thái của không biết. Trạng thái của không biết
là trạng thái của người kinh ngạc.
Có một câu ngạn ngữ cổ của Jesus, không được
ghi trong Kinh Thánh, nhưng người Sufis đã gìn giữ
nó. Người Sufis đã gìn giữ nhiều câu nói hay của
Jesus. Câu nói này quan trọng vô cùng đến mức người
ta tự hỏi sao nó không được ghi vào trong Kinh Thánh,
nhưng nếu bạn cân nhắc kĩ càng về nó thì lí do trở nên
rõ ràng.
Câu nói này là: Người được ân huệ là người ngạc
nhiên, bởi vì vương quốc của Thượng đế là của người
đó. Người được ân huệ là người ngạc nhiên. Điều này
đã không được ghi trong Kinh Thánh. Tại sao? - bởi vì
Kinh Thánh muốn tạo ra tôn giáo nào đó, giáo phái
nào đó; nó muốn truyền bá ý thức hệ nào đó. Còn con
người của ngạc nhiên phải bỏ mọi ý thức hệ.
15
Người được ân huệ là người ngạc nhiên, bởi vì chỉ
trong việc ngạc nhiên bạn mới có thể giống như trẻ
con, hồn nhiên. Và chỉ trong hồn nhiên đó bạn có thể
biết cái đang đó. Làm sao tâm trí rối loạn hiểu được
con đường?
Cho nên bất kì khi nào một người tới Phật và lục
vấn - những câu hỏi lớn lao về cuộc sống và những bí
ẩn của cuộc sống - Phật đều nói, "Ông đợi đấy, ông
thiền đi. Trước hết để tâm trí rối loạn của ông trở thành
không rối loạn. Để cơn bão tâm trí này của ông qua đi.
Để im lặng tới, bởi vì im lặng sẽ cho ông đôi mắt. Ta
có thể chỉ cho ông con đường để im lặng, và thế rồi
ông không cần hướng dẫn của bất kì ai. Một khi ông
im lặng được, ông sẽ có khả năng thấy con đường và
ông sẽ có khả năng đạt tới mục đích."
Và tâm trí chúng ta thực sự rối loạn. Cả nghìn lẻ
một rắc rối có đó. Trước hết, mọi người đều trong
trạng thái tinh thần phân liệt, nhiều hay ít; khác biệt
chỉ ở mức độ. Mọi người đều bị chia chẻ bởi vì những
kẻ bóc lột, cả tôn giáo và chính trị, đều phụ thuộc vào
chiến lược này: phân chia con người, không cho phép
con người toàn vẹn, và con người sẽ vẫn còn là nô lệ.
Ngôi nhà bị chia ra chống lại bản thân nó thì nhất định
yếu. Cho nên bạn đã được dạy phải tranh đấu với thân
thể; đó là chiến lược phân chia gốc rễ, của việc phân
chia bạn. "Tranh đấu với thân thể, thân thể là kẻ thù
của bạn. Chính thân thể đang lôi bạn tới địa ngục.
Tranh đấu, cầm dao trong tay! Tranh đấu cả ngày lẫn
đêm! tranh đấu trong nhiều kiếp! Chỉ thế thì một ngày
nào đó bạn sẽ có khả năng thắng được nó. Và chừng
nào bạn chưa thắng thân thể mình, bạn sẽ không đi vào
được thế giới của Thượng đế."
16
Trong hàng thế kỉ điều vô nghĩa này đã được dạy
cho mọi người. Và kết quả là ở chỗ mọi người đều bị
phân chia, mọi người đều chống thân thể họ. Và nếu
bạn chống thân thể bạn, bạn nhất định sẽ bị rắc rối.
Bạn sẽ tranh đấu với thân thể bạn, và bạn và thân thể
bạn là một năng lượng. Thân thể là linh hồn thấy được,
và linh hồn là thân thể không thấy được. Thân thể và
linh hồn không bị phân chia ở bất kì đâu, chúng là các
bộ phận của nhau, chúng là bộ phận của một toàn thể.
Bạn phải chấp nhận thân thể, bạn phải yêu mến thân
thể, bạn phải kính trọng thân thể, bạn phải biết ơn thân
thể mình. Chỉ thế thì bạn mới đạt tới loại toàn vẹn nào
đó, sự kết tinh sẽ xảy ra; bằng không bạn sẽ vẫn còn bị
rắc rối. Và thân thể sẽ không bỏ bạn dễ dàng thế; ngay
cả sau hàng trăm kiếp sống việc tranh đấu sẽ vẫn có
đó. Bạn không thể đánh bại thân thể được.
Tôi không nói rằng thân thể không thể bị mòn mỏi
đi, nhớ lấy, nhưng bạn không thể đánh bại được thân
thể. Bạn không thể đánh bại được nó bằng việc thù
địch với nó. Bạn có thể thắng nó bằng việc thân thiện,
bằng việc yêu thương, bằng việc kính trọng, bằng việc
tin cậy nó. Đó đích xác là cách tiếp cận của tôi: thân
thể là ngôi đền chùa, bạn là vị thần của ngôi đền chùa
này. Đền chùa bảo vệ bạn, là chỗ che mưa, che gió,
che nóng cho bạn. Nó đang phục vụ bạn đấy! Tại sao
bạn phải tranh đấu với nó? Điều đó cũng ngốc như
người lái xe tranh đấu với chiếc xe. Nếu người lái xe
tranh đấu với xe, điều gì sẽ xảy ra? Anh ta sẽ phá huỷ
chiếc xe và anh ta sẽ phá huỷ bản thân mình trong việc
tranh đấu với nó. Chiếc xe là phương tiện đi tốt, nó có
thể đưa bạn đi trên cuộc hành trình xa nhất.
Thân thể là cơ chế phức tạp nhất trong sự tồn tại.
Nó đơn giản tuyệt diệu! - và người phúc lạc là người kì
17
diệu. Bắt đầu cảm thấy ngạc nhiên với thân thể riêng
của bạn đi, bởi vì đó là cái gần bạn nhất. Tự nhiên gần
nhất đã tiếp cận bạn, Thượng đế gần nhất đã tới với
bạn, là qua thân thể. Trong thân thể bạn là nước của
đại dương, trong thân thể bạn là lửa của các vì sao và
mặt trời, trong thân thể bạn là không khí, thân thể bạn
được tạo ra từ đất. Thân thể bạn đại diện cho toàn thể
sự tồn tại, mọi yếu tố. Và biến đổi làm sao! Biến thái
làm sao! Nhìn đất và rồi nhìn vào thân thể bạn mà xem
- biến đổi làm sao, và bạn chưa bao giờ ngạc nhiên về
nó cả! Cát bụi đã trở thành điều thiêng liêng - bí ẩn
nào lớn hơn là có thể có? Phép màu nào lớn lao hơn
mà bạn chờ đợi? Và bạn thấy phép màu này đang xảy
ra mọi ngày. Từ bùn hoa sen tới...và từ bụi đất đã nảy
sinh thân thể tuyệt vời của chúng ta. Và một cơ chế
phức tạp thế, chạy êm thế - không tiếng ồn. Và nó thực
sự phức tạp.
Các nhà khoa học đã làm những cái máy rất phức
tạp, nhưng không cái gì sánh được với thân thể cả.
Ngay cả máy tính phức tạp nhất cũng chỉ là đồ chơi
nếu so với cỗ máy bên trong của thân thể. Và bạn đã
được dạy tranh đấu với nó. Điều đó tạo ra chia chẻ,
điều đó giữ bạn trong rắc rối, điều đó giữ bạn trong
cuộc nội chiến thường xuyên.
Và bởi vì bạn tranh đấu với bản thân mình - điều
hoàn toàn ngu ngốc - cuộc sống của bạn trở thành ngày
một ít thông minh và ngày một nhiều ngu xuẩn. Và thế
rồi bạn muốn những biến đổi lớn lao - bạn muốn ghen
tị bị vứt bỏ và bạn muốn giận dữ biến mất và bạn
muốn không tham lam trong mình. Điều đó là không
thể được! Với những hiểu lầm như vậy từ ngay chỗ bắt
đầu, làm sao bạn có thể tạo ra được không gian nơi
biến đổi xảy ra, nơi giận dữ trở thành từ bi, nơi ghét
18
trở thành yêu, nơi tham lam trở thành chia sẻ, nơi dục
trở thành samadhi? Làm sao bạn có thể hi vọng, làm
sao bạn có thể trông đợi biến đổi lớn lao thế, với trạng
thái rối loạn thế?
Điều nền tảng là vứt bỏ chia chẻ, trở thành một. Là
một đi, và thế thì mọi điều khác là có thể; ngay cả điều
không thể cũng thành có thể.
Làm sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?
Con đường là rất đơn giản và trực tiếp. Ngay cả trẻ
con cũng có thể hiểu được điều đó. Nó đơn giản như
hai cộng hai là bốn, hay thậm chí còn đơn giản hơn.
Nó đơn giản như tiếng hót của con chim, đơn giản như
bông hồng - đơn giản và đẹp, đơn giản và cực kì vĩ đại.
Nhưng chỉ một tâm trí không rối loạn mới có thể hiểu
được nó, chỉ một tâm trí không rối loạn mới có khả
năng thấy nó; bằng không bạn sẽ sống trong tham lam
và bạn sẽ sống trong giận dữ và bạn sẽ sống trong
ghen tị và sở hữu, và bạn sẽ sống trong hận thù. Bạn
có thể giả vờ, bạn có thể trở thành thánh nhân trên bề
mặt, nhưng bạn vẫn còn là tội nhân sâu bên dưới. Và
tội lỗi lớn nhất là phân chia bản thân mình. Tội lỗi lớn
nhất này không phạm phải với người khác, nó bao giờ
cũng phạm phải với chính bản thân bạn. Đây là trạng
thái của tự tử, việc tạo ra phân chia này giữa thân thể
bạn và bản thân bạn. Kết án thân thể, bạn chỉ có thể trở
thành kẻ đạo đức giả, bạn chỉ có thể sống cuộc sống
của kẻ giả vờ.
Trong khoang tàu hoả hạng nhất, hai quí bà ăn vận
đẹp đang thảo luận về quần áo trong khi một quí ông
19
trong góc vờ ngủ. Khi một bà nói mình thấy giá quần
áo ngày nay là không thể được, bà kia gợi ý bà ấy nên
theo gương bà này và kiếm người bạn trai ở bên mình:
"Anh ấy sẽ cho bạn năm trăm đô la một tháng làm
món quà nhỏ - chồng bạn sẽ chẳng bao giờ làm điều
đó đâu."
"Nhưng điều gì xảy ra nếu tôi không thể kiếm
được người bạn có năm trăm đô la?"
"Thế thì lấy hai người với mỗi người hai trăm năm
mươi đô."
Quí ông này lên tiếng: "Nghe đây thưa các bà, tôi
sắp ngủ bây giờ. Đánh thức tôi dậy khi các bà giảm giá
xuống hai mươi đô la."
Mọi người đều giả vờ theo mọi cách có thể. Người
giả vờ là thánh nhân có thể chính là điều đối lập lại, và
người giả vờ thức có thể ngủ, và người giả vờ ngủ có
thể thức... đủ mọi loại giả vờ, bởi vì xã hội tạo ra hoàn
cảnh nó cho phép bạn chỉ hoặc sống một cuộc hoàn
toàn bị kết án, cuộc sống của kẻ tội phạm, hoặc cuộc
sống của kẻ đạo đức giả, của kẻ giả vờ. Xã hội cho bạn
chỉ hai phương án: hoặc chân thật và là tội phạm, hoặc
không thật và đáng kính. Nó không cho phép bạn có
phương án thứ ba. Tại sao nó không cho phép bạn
phương án thứ ba? - bởi vì phương án thứ ba tạo ra
một Jesus, một Phật, một Krishna, và sự hiện diện của
họ làm cho đám đông cảm thấy rất tầm thường, rất bị
sỉ nhục, mất mặt.
Cho nên xin đừng quyết định bằng việc nhìn vào
hình tướng của người khác. Nhiều cơ hội hơn, gần
chín mươi chín phẩy chín phần trăm, bất kì cái gì họ
20
xuất hiện trên bề mặt họ sẽ không là vậy ở sâu bên
dưới. Bạn có thể chắc chắn được về điều đó; tôi nói
gần như chắc chắn hoàn toàn, bởi vì chỉ không phẩy
một phần trăm bạn có thể lỡ - không nhiều gì. Chỉ
thỉnh thoảng bạn mới bắt gặp vị phật, người có hình
tướng là một với nội tâm của người đó; bằng không
bạn sẽ bắt gặp những người là điều này ở bên ngoài và
là điều khác ở bên trong. Đừng bị lừa bởi dáng vẻ.
Một nữ diễn viên tình cờ làm quen với một người
lang thang thất nghiệp và đưa anh ta về căn hộ của
mình bởi vì anh ta đi đôi giầy rất lớn và cô ấy đã được
bảo rằng đàn ông chân lớn có chim lớn. Cô ấy cho anh
ta ăn bữa tối thịt nướng với nhiều hạt tiêu và bia, thế
rồi lôi anh ta lên giường.
Sang hôm sau người này thức dậy một mình và
thấy tờ mười đô la để trên bệ lò sưởi, với lời nhắn ngắn
gọn: "Tự mua đôi giầy vừa cho anh."
Nhưng đó là cách chúng ta cứ quyết định... từ bên
ngoài. Thực ra, bởi vì chúng ta thậm chí không biết
bên trong của riêng mình, làm sao chúng ta có thể nhìn
vào bên trong của người khác được? Chúng ta không
biết nghệ thuật nhìn vào trong. Trước hết bạn phải
thực hành nghệ thuật này với bản thân mình. Trước hết
bạn phải đi vào trong lãnh thổ của mình, thế giới bên
trong của mình. Bạn phải đi ngày một sâu hơn vào tâm
thức của mình, tới chính trung tâm của nó. Một khi
bạn đã thấm vào cốt lõi của bản thể mình, bạn sẽ có
khả năng nhìn vào cốt lõi của bản thể của bất kì ai
khác. Thế thì không ai có thể lừa được bạn, bởi vì thế
21
thì bạn không nhìn vào hình tướng - bạn nhìn vào thực
tại.
Làm sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?
Tâm trí rối loạn không thể hiểu được cái gì. Nó
không ở trong trạng thái việc hiểu là có thể. Việc hiểu
không có nghĩa là tri thức. Tâm trí rối loạn có thể trở
thành rất thông thái - bạn có thể tới các đại học và bạn
có thể thấy các giáo sư, rất thông thái - nhưng họ còn
rối loạn hơn cả bạn, trong xung đột bên trong còn
nhiều hơn cả bạn. Tri thức của họ chẳng ích gì cho họ
chút nào. Tri thức chưa bao giờ có ích cho bất kì ai, nó
chỉ làm nặng gánh. Nó cho bạn sự kính trọng, chắc
chắn. Nó là trò bản ngã lớn, và bản ngã cảm thấy được
thổi phồng lên; nhưng bản ngã càng được thổi phồng
lên, bạn sẽ càng rối loạn bên trong hơn bởi vì bản ngã
là hiện tượng giả tạo. Và khi bạn trở thành quá gắn bó
với cái giả, bạn bắt đầu mất tiếp xúc với cái thật. Khi
bạn bắt đầu bắt thêm rễ vào cái giả, bạn quên mất việc
bắt rễ vào cái thực.
Con người của tri thức là vô thức như bạn. Người
dốt nát và người thông thái không phải là trên những
con thuyền khác nhau; họ là bạn đồng hành. Khác biệt
giữa họ chỉ ở thông tin - điều không phải là khác biệt
chút nào, điều không phải là khác biệt làm ra mọi khác
biệt. Tôi có thể chỉ biết vài điều, bạn có thể biết thêm
vài điều nữa, ai đó khác có thể biết cả nghìn lẻ một
điều, và ai đó khác có thể chỉ như đi dạo qua từ điển
bách khoa toàn thư Encyclopedia Britannica - điều đó
chẳng tạo nên khác biệt chút nào.
Phật không phải là con người của tri thức, ông ấy
là con người của hiểu biết - không tràn đầy thông tin
22
mà tràn đầy sáng suốt. Tràn đầy linh ảnh, không tràn
đầy ý nghĩ - sáng tỏ, sáng tỏ tựa tấm gương, và nhận
biết lớn.
Bạn đang đi như kẻ mộng du, người vừa đi vừa
ngủ. Bạn không biết điều mình đang làm, bạn không
biết tại sao bạn làm nó; bạn không biết mình đang đi
đâu, bạn không biết tại sao bạn đi. Cuộc sống của bạn
là ngẫu nhiên, và cuộc sống ngẫu nhiên là cuộc sống
vô ý thức - nó giống như người máy.
Một anh chàng ở nhà hát cùng vợ đi ra nhà vệ sinh
vào lúc nghỉ giữa giờ, nhưng đi nhầm cửa và thấy
mình đi ra vườn. Vì quá tiện để nghĩ tới việc dùng mặt
đất, anh ta nhấc một cây ra khỏi chậu hoa và đái vào
chậu nó, rồi đặt lại cây đó vào.
Anh ta trở về và thấy màn kịch tiếp đã bắt đầu.
"Điều gì đã xảy ra cho tới giờ trong màn này vậy?"
anh ta thì thào hỏi vợ.
"Anh nên biết," cô ấy nói một cách lạnh nhạt.
"Anh đã ở trong đó đấy!"
Con người sống trong vô ý thức. Con người không
nhận biết, không nhận biết chút nào. Bạn có thể quan
sát bất kì người nào, bạn có thể quan sát bản thân
mình, dần dần, dần dần, và bạn sẽ thấy nhiều hành
động vô ý thức đang xảy ra đến mức gần như không
thể nào tin được làm sao bạn đã sống cho tới giờ. Bạn
nói dối chẳng vì lí do nào cả! Và khi bạn bắt quả tang
bản thân mình nói dối, bạn sẽ ngạc nhiên: sao mình nói
dối ngay chỗ đầu tiên? - bởi vì chẳng có lí do gì, bạn
không định thu được gì từ điều đó. Chỉ là thói quen,
23
chỉ là lệ thường máy móc. Bạn trở nên buồn chẳng vì lí
do nào cả.
Bây giờ có vài nhà nghiên cứu nói bạn có thể làm
lịch về tâm trạng bạn, và tôi thấy nghiên cứu của họ có
ý nghĩa - bạn thực sự có thể làm ra lịch về tâm trạng
bạn. Cứ viết ra trong một tháng mà xem: Thứ hai buổi
sáng bạn cảm thấy thế nào, và vào buổi chiều và vào
buổi tối và vào buổi đêm... ít nhất tám lần một ngày,
cứ ghi mọi ngày và đích xác cùng một giờ bạn cảm
thấy thế nào. Và trong vòng ba hay bốn tuần bạn sẽ
ngạc nhiên rằng vào mỗi thứ hai và cùng lúc bạn đều
cảm thấy đích xác cùng một tâm trạng.
Bây giờ điều này không thể thế được vì bất kì hoàn
cảnh nào bên ngoài, bởi vì mỗi thứ hai chúng là khác.
Nó là cái gì đó bên trong - mặc dầu bạn sẽ thấy những
cái cớ bên ngoài, bởi vì chẳng ai muốn cảm thấy có
trách nhiệm cho khổ riêng của mình. Điều cảm thấy tốt
là làm cho người khác cảm thấy có trách nhiệm về khổ
của bạn. Và bạn có thể tìm ra cớ, bạn thậm chí có thể
bịa ra chúng nếu chúng không có đó.
Đó là chỗ mọi người đã trở thành rất, rất sáng tạo.
Thực ra toàn thể tính sáng tạo của họ đều bao gồm
trong việc tạo ra cớ: "Sao mình buồn?" và bạn có thể
tìm thấy cả nghìn lẻ một lí do. Vợ bạn nói điều này và
con cái không cư xử đúng và hàng xóm và ông chủ ở
văn phòng và giao thông và giá cả đang lên cao... và
bạn có thể tìm ra cả nghìn lẻ một thứ; chúng bao giờ
cũng có đó. Và bạn có thể vẽ ra cả thế giới rất ảm đạm,
đen tối, và thế rồi bạn có thể cảm thấy thoải mái rằng
đấy không phải là trách nhiệm của bạn mà bạn buồn.
Nhưng vẫn cùng thế giới đó, và sáng thứ ba bạn
cảm thấy rất sôi nổi, rất vui vẻ, rạng ngời - lần nữa bạn
24
có thể tìm ra cớ: "Hôm nay là buổi sáng đẹp trời, và
mặt trời cùng chim chóc và cây cối và bầu trời, và tất
cả đều đầy ánh sáng - sáng đẹp thế!" Bạn có thể tìm ra
cớ cho mọi loại tâm trạng, nhưng nếu bạn viết nhật kí
trong bốn tuần bạn sẽ thực sự thấy choáng rằng mọi
thứ xảy ra cho bạn gần như phụ thuộc vào bạn. Bạn có
bánh xe bên trong cứ quay mãi, và cùng cái nan hoa đó
cứ lên đến đỉnh lặp đi lặp lại.
Vâng, có những hoàn cảnh bên ngoài, nhưng
chúng không phải là nguyên nhân; nhiều nhất chúng
làm lẩy cò. Một tâm trạng nào đó nhất định xảy ra
được lẩy cò bởi hoàn cảnh nào đó. Nếu hoàn cảnh này
không có đó, cái gì đó khác sẽ thành điểm lẩy cò -
nhưng nó nhất định được lẩy cò.
Những người đã sống trong cô lập đều trở nên
nhận biết về sự kiện này. Phật hay phái các đệ tử của
ông ấy tới những nơi cô lập. Trong công xã mới chúng
ta sẽ có các hầm dưới đất cho nên tôi có thể cử bạn tới
chỗ cô lập trong một tháng - tuyệt đối cô lập. Bạn biến
mất khỏi thế giới, cho nên bạn không thể đổ tại bất kì
hoàn cảnh nào bên ngoài bởi vì không có gì bên ngoài
cả... bạn và những bức tường của hầm. Và bạn sẽ ngạc
nhiên: một hôm bạn hạnh phúc, một hôm bạn bất hạnh,
một hôm bạn cảm thấy rất tham lam, một hôm bạn
cảm thấy giận dữ và không có ai đã xúc phạm bạn,
chọc giận bạn. Một hôm bạn sẽ thấy bạn đang tự mình
nói dối cho mình vì bạn không thể tìm ra bất kì ai
khác.
"Tôi có thể mua đồ uống cho cô được không?" anh
ta hỏi, bằng cách gợi lên cuộc đối thoại.
25
"Không, cám ơn ông," cô ấy nói. "Tôi không
uống."
"Thế ăn tối chút ít với tôi trong phòng tôi vậy?"
"Không, tôi không nghĩ điều đó sẽ thích hợp," cô
ấy nói.
Không có kết quả gì với cách tiếp cận tinh tế hơn,
chàng thanh niên đi thẳng vào vấn đề: "Tôi bị say đắm
bởi cái đẹp tươi mát của cô, thưa cô, và tôi sẽ cho cô
bất kì cái gì trái tim cô mong ước nếu cô dành một
đêm với tôi."
"Ô, không, không thưa ông, tôi không bao giờ làm
điều như vậy đâu."
"Nói cho tôi đi," anh thanh niên nói vừa cười, "cô
không bao giờ làm cái gì hơi chút không đúng sao?"
"Vâng," cô gái Pháp nói, "tôi nói dối."
Bạn quan sát bao nhiêu lần trong ngày việc bạn nói
dối - và chẳng vì lí do gì chút nào - và bao nhiêu lần
bạn trở nên giận dữ, chẳng lí do chút nào, và thế rồi
bạn sẽ thấy mình đang sống trong thế giới bên trong,
thế giới chủ thể của riêng bạn. Hiểu biết nghĩa là hiểu
những điều nền tảng này của việc vận hành của cuộc
sống. Và nếu bạn hiểu những điều nền tảng này, biến
đổi là không khó khăn. Thực ra, bản thân hiểu biết trở
thành việc biến đổi.
Làm sao tâm trí rối loạn
hiểu con đường?
Nếu một người bị rối loạn
26
Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với tri
thức.
Từ 'tri thức' không ngụ ý điều bạn ngụ ý bởi tri
thức. Khi Phật dùng từ 'tri thức' ông ấy ngụ ý trí huệ,
không phải thông tin; ông ấy ngụ ý việc biết, không
phải tri thức.
Nếu một người bị rối loạn... đang trong xung đột,
đang trong lẫn lộn, đang trong phân chia, bị chia chẻ ở
bên trong, nếu một người là đám đông bên trong...
Người đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với trí huệ.
Trí huệ cần thống nhất, trí huệ cần tích hợp, trí huệ
cần kết tinh của nhận biết, của tính quan sát, của việc
quan sát hành động của bạn, tâm trạng của bạn, ý nghĩ
của bạn, xúc động của bạn... quan sát mọi thứ đang
xảy ra trong thế giới bên trong của bạn. Chỉ bằng việc
quan sát nó, phép màu bắt đầu xảy ra. Nếu bạn bắt đầu
thấy rằng bạn nói dối chẳng bởi lí do gì cả, chính nhận
biết đó sẽ trở thành trở ngại. Lần sau bạn ở ngay bên
bờ nói dối thì một giọng nói bên trong bạn sẽ nói,
"Quan sát đi, cẩn thận vào - mình đang đi vào trong
bẫy lần nữa." Lần sau bạn đang rơi vào trong buồn rầu,
cái gì đó bên trong bạn sẽ làm cho bạn tỉnh táo, sẽ báo
động bạn.
Đây là con đường của việc biến đổi năng lượng
của bạn - aes dhammo sanantano. Aes maggo
visuddhya - đây là cách làm thuần khiết, đây là luật
vĩnh hằng của biến đổi.
Tâm trí không rối loạn,
không còn tìm kiếm xem xét
cái gì là phải và cái gì là trái,
27
Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,
quan sát và hiểu.
Cho nên yêu cầu đầu tiên cho sannyasin là: Tâm
trí không rối loạn, không còn tìm kiếm xem xét cái gì
là phải và cái gì là trái...
Một phát biểu cực kì quan trọng và cách mạng.
Phật đang nói: Đừng xét cái gì là phải và cái gì là trái,
bởi vì nếu bạn xét cái gì là phải và cái gì là trái, bạn sẽ
bị phân chia, bạn sẽ trở thành kẻ đạo đức giả. Bạn sẽ
giả vờ là cái phải và bạn sẽ làm cái trái. Và khoảnh
khắc bạn xét cái gì là phải và cái gì là trái, bạn trở nên
bị gắn bó, bạn trở nên bị đồng nhất. Bạn chắc chắn trở
thành bị đồng nhất với cái phải.
Chẳng hạn, bạn thấy bên đường một tờ bạc một
trăm ru pi; nó thể đã rơi ra từ túi ai đó. Bây giờ câu hỏi
nảy sinh: Lấy nó hay không lấy nó? Một phần của bạn
nói, "Lấy nó là hoàn toàn phải rồi. Chẳng ai thấy cả,
chẳng ai bao giờ nghi ngờ. Và mình có ăn cắp đâu - nó
chỉ nằm đấy thôi! Nếu mình không lấy nó, ai đó khác
đằng nào cũng sẽ lấy nó thôi. Cho nên tại sao bỏ lỡ
nó? Lấy là hoàn toàn phải đấy!"
Nhưng một phần khác nói, "Điều này là sai - tiền
này đâu có thuộc vào mình, nó không phải là của
mình. Theo một cách nào đó, một cách gián tiếp, đó là
ăn cắp. Mình phải báo cho cảnh sát, hay nếu mình
không muốn bị bận tâm với nó, cứ đi tiếp, quên hết nó
đi. Thậm chí không nhìn nữa. Đây là tham và tham là
tội lỗi!"
Bây giờ, hai tâm trí này có đó. Một bên nói, "Điều
đó đúng rồi, lấy đi," bên kia nói, "Điều đó sai rồi, đừng
lấy." Bạn sẽ đồng nhất bản thân mình với tâm trí nào?
28
Bạn chắc chắn sẽ đồng nhất với tâm trí nói điều đó là
vô đạo đức, bởi vì điều đó thoả mãn bản ngã hơn.
"Mình là con người đạo đức, mình đâu có là người
thường; bất kì ai khác cũng sẽ lấy tờ một trăm ru pi
này. Trong những thời khó khăn thế, mọi người không
nghĩ tới điều tinh tế như thế." Bạn sẽ đồng nhất bản
thân mình với tâm trí đạo đức. Nhưng có mọi khả năng
bạn sẽ lấy tờ bạc này. Bạn sẽ đồng nhất bản thân mình
với tâm trí đạo đức, và bạn sẽ không đồng nhất bản
thân mình với tâm trí sẽ lấy tờ bạc. Bạn sẽ lên án nó từ
sâu bên dưới; bạn sẽ nói, "Điều đó là không đúng - đó
là phần tội lỗi của mình, phần thấp kém, phần bị kết
án." Bạn sẽ giữ cho mình tách rời nó. Bạn sẽ nói,
"Mình chống lại điều đó. Nó là bản năng của mình, nó
là vô thức của mình, nó là thân thể mình, nó là tâm trí
mình, cái đã thuyết phục mình làm điều đó; bằng
không, mình đã biết nó rồi, rằng nó là sai. Mình là
người biết rằng nó là sai."
Bạn bao giờ cũng đồng nhất bản thân mình với cái
đúng, thái độ đạo đức, và bạn không đồng nhất với
hành động vô đạo đức - mặc dầu bạn làm điều đó. Đây
là cách đạo đức giả phát sinh.
Thánh Augustine đã nói trong buổi thú tội của
mình: Lạy chúa, xin tha thứ cho con, bởi vì con cứ làm
những điều con biết con không nên làm, và con không
làm những điều con biết con phải làm.
Đây là xung đột, đây là cách người ta trở nên bị rối
loạn. Do đó Phật cho bạn một chìa khoá bí mật. Đây là
chiếc chìa khoá đó, cái có thể đưa bạn ra khỏi mọi sự
đồng nhất: đừng bị đồng nhất với tâm trí đạo đức - bởi
vì điều đó nữa cũng là một phần của tâm trí. Đấy là
cùng một trò chơi: phần này nói tốt, phần khác nói xấu
29
- đấy là cùng tâm trí tạo ra xung đột trong bạn. Tâm trí
bao giờ cũng hai mặt. Tâm trí sống trong các cực đối
lập. Nó yêu và nó ghét cùng một người; nó muốn làm
hành động này và nó không muốn làm hành động đó.
Nó là xung đột, tâm trí là xung đột. Đừng bị đồng nhất
với cả hai.
Phật nói: Trở thành chỉ là việc quan quan sát. Thấy
rằng phần này đang nói cái này, phần kia đang nói cái
kia. "Mình không là cả hai - neti, neti, không cái này
không cái nọ - mình chỉ là nhân chứng." Chỉ thế thì
mới có khả năng rằng hiểu biết sẽ nảy sinh.
Tâm trí không rối loạn,
không còn tìm kiếm xem xét
cái gì là phải và cái gì là trái,
Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét,
quan sát và hiểu.
Vượt ra ngoài phán xét về tốt và xấu là con đường
của quan sát. Và chính là qua quan sát mà biến đổi xảy
- Đây là khác biệt giữa đạo đức và tôn giáo. Đạo đức
nói, "Chọn điều phải và bỏ điều trái. Chọn cái tốt và
bỏ cái xấu." Tôn giáo nói, "Đơn giản quan sát cả hai.
Không chọn cái nào. Vẫn còn trong tâm thức vô chọn
lựa."
Tôn giáo là rất, rất khác với đạo đức. Đạo đức là
rất tầm thường, trần tục, xoàng xĩnh; đạo đức không
thể đưa bạn tới điều tối thượng, nó không phải là con
đường của điều thiêng liêng. Đạo đức chỉ là chiến lược
của xã hội. Đó là lí do tại sao điều này là đúng trong
xã hội này và cũng điều đó là sai trong xã hội khác;
một điều được coi là tốt ở Ấn Độ và cùng điều đó bị
coi là xấu ở Nhật Bản. Một điều được coi là tốt hôm
30
nay và có thể trở thành sai ngày mai. Đạo đức là sản
phẩm phụ của xã hội, nó là chiến lược của xã hội để
kiểm soát. Nó là viên cảnh sát bên trong bạn, viên
quan toà bên trong bạn - nó là thủ đoạn của xã hội để
thôi miên bạn theo những quan niệm nào đó mà xã hội
muốn áp đặt lên mọi người. Cho nên nếu bạn được
sinh ra trong gia đình ăn chay, người không ăn chay là
kẻ tội lỗi lớn nhất.
Một sư Jaina có lần bảo tôi rằng "Tôi thích sách
của ông, nhưng sao ông nhắc tới cả Jesus, Mohammed
và Ramakrishna cùng với Mahavira? Ông không nên
nhắc tới họ theo cùng một hàng. Mahavira là Mahavira
- làm sao có thể so sánh ông ấy và đặt ông ấy theo
cùng cách, theo cùng phân loại với Jesus, Mohammed
và Ramakrishna được?"
Tôi nói, "Sao không?"
Ông ta nói, "Jesus uống rượu này, ăn thịt này - còn
tội lỗi nào lớn hơn mà người ta có thể phạm phải
nữa?"
Mohammed ăn thịt và lấy chín đàn bà! Người ta
phải từ bỏ đàn bà - đây không chỉ một mà những chín!
Con số hoàn hảo. Thực ra, không có số thêm nữa; chín
là số cuối cùng, thế rồi lặp cùng số...
"Mohammed lấy chín đàn bà, là người ăn thịt nữa -
làm sao ông đặt Mohammed bằng Mahavira được? Và
làm sao ông đặt Ramakrishna ngang bằng Mahavira
được? Ông ấy hay ăn cá."
Người Bengali thì nhất định là ăn cá rồi.
Chỉ trích duy nhất của ông ta về sách của tôi là ở
chỗ tôi đã đặt những người này cùng nhau.
31
Bây giờ hỏi người Ki tô giáo... Có lần tôi đã hỏi
một nhà truyền giáo Ki tô giáo, "Ông nói gì về sư
Jaina này? Ông ta đã nói điều này... ông có phản đối gì
không?"
Ông ta nói, "Chắc chắn! Làm sao ông đặt
Mahavira ngang bằng Jesus được? Jesus đã sống vì
nhân loại, đã hi sinh đời mình vì nhân loại - Mahavira
đã làm được gì? Mahavira cực kì ích kỉ, ông ấy chỉ
nghĩ tới mỗi cứu rỗi của riêng ông ấy Ông ấy chẳng
quan tâm tới người khác! Ông ấy chưa bao giờ chữa
lành cho người mù, ông ấy chưa bao giờ dựng dậy
người chết từ cái chết. Ông ấy chỉ thiền trong mười hai
năm trên núi non, trong rừng rậm - còn gì ích kỉ hơn
thế nữa...? Và thế giới này đang đau khổ và mọi người
đang trong nỗi đau lớn, còn ông ấy không tới an ủi họ.
Cái gì xa hoa hơn có thể có đó? Chỉ thiền bên sông
trong rừng - còn gì xa hoa hơn! Ông ấy đã làm gì cho
nhân loại đáng thương này? Jesus đã hi sinh bản thân
mình - ông ấy đã sống và đã chết cho người khác.
Toàn bộ cuộc sống của ông ấy không là gì ngoài sự hi
sinh thuần khiết. Làm sao ông có thể đặt Mahavira
ngang bằng với Jesus được?"
Và ông ấy nữa cũng dường như phải. Bây giờ, bạn
quyết định thế nào? Phật chưa bao giờ chữa cho người
bệnh, người mù, người điếc, người câm - chỉ thiền.
Dường như ích kỉ quá! Ông ấy đáng phải mở bệnh
viện chứ, hay ít nhất thì cũng mở trường học; phải
phân phối thuốc, phải đi vào những vùng lụt lội và cứu
trợ mọi người... ông ấy chưa bao giờ làm cái gì như thế
cả. Đây là cái loại tâm linh gì vậy? Theo người Ki tô
giáo, điều đó thuần tuý ích kỉ.
32
Bây giờ, ai đúng? Và ai sẽ quyết định? Chúng ta
sống theo định kiến của chúng ta.
Sư Jaina này sai và nhà truyền giáo Ki tô giáo này
cũng sai, bởi vì cả hai đều phán xét - và phán xét là
sai. Jesus là Jesus - ông ấy sống theo cách riêng của
ông ấy. Phật là Phật - ông ấy sống theo cách riêng của
ông ấy. Các cá tính duy nhất, các cách diễn đạt duy
nhất của Thượng đế. Không ai là bản sao của người
khác, và không ai cần là bản sao của người khác. Và
điều tuyệt vời là ở chỗ thế giới có đa dạng. Nếu như
chỉ có các Jesus và các Jesus lặp đi lặp lại, họ sẽ trông
giống như các xe Ford ra từ dây chuyền lắp ráp - mỗi
giây một xe Ford xuất xưởng, hệt nhau, đích xác cùng
như nhau. Điều tuyệt vời là Jesus là một và đơn giản là
một và không lặp lại. Và điều tốt là Phật là mỗi mình
và không lặp lại.
Người tôn giáo thực sự có cách tiếp cận không
phán xét. Nhà đạo đức không thể tránh được việc phán
xét, ông ta trở thành quan toà. Bây giờ, sư Jaina này,
một người bình thường, ngu xuẩn, sẵn sàng phán xét
Jesus, Ramakrishna, Mohammed. Ông ta chẳng biết gì,
chẳng hiểu gì, chưa bao giờ thiền - chưa hiểu được bản
thân mình. Đó là lí do tại sao ông ta đã tới tôi.
Ông ta đã tới tôi để hiểu thiền là gì và làm sao
thiền. Thiền vẫn chưa xảy ra, nhưng phán xét đã có đó
rồi - và ông ta sẵn sàng phán xét ngay cả người như
Jesus, mà thậm chí không thấy xấu hổ về điều ông ta
làm, không dụt dè, rất cao ngạo. Và đấy cũng là trường
hợp với nhà truyền giáo Ki tô giáo này! Ông ấy chẳng
biết gì về thiền, điều Phật đang làm, điều Mahavira
đang làm. Ông ấy chẳng biết gì về những con đường
tinh tế mà theo đó vị phật hành động. Việc trở nên
33
chứng ngộ của ông ấy là phục vụ vĩ đại nhất có thể có
cho nhân loại - không gì hơn có thể được làm. Ông ấy
chắc chắn không chữa được con mắt vật lí, nhưng ông
ấy là người đã chữa con mắt tâm linh của hàng nghìn
người - và đó là phục vụ thực! Ông ấy đã làm cho
hàng nghìn người nghe, lắng nghe, hiểu - đó là phục
vụ thực.
Nhưng nhà truyền giáo Ki tô giáo này, bởi vì ông
ta cai quản một trường phổ thông và một bệnh viện,
nên cứ cho mình là ai đó có quyền phán xét. Các nhà
đạo đức bao giờ cũng phán xét, người tôn giáo không
bao giờ phán xét. Người đó sống trong tâm thức vô
phán xét.
Tâm trí vượt ra ngoài mọi phán xét, quan sát và
hiểu. Người đó đơn giản quan sát và hiểu. Nếu Phật
bắt gặp Jesus, ông ấy chắc hiểu ngay; nếu Jesus bắt
gặp Mahavira, ông ấy chắc hiểu ngay. Chỉ quan sát,
thấy và có hiểu biết.
Biết rằng thân thể là cái bình mảnh mai,
và tạo nên lâu đài của tâm trí ông.
Với 'tâm trí' Phật ngụ ý tâm thức. Với 'tâm trí' Phật
ngụ ý Tâm trí với chữ T hoa - không phải là tâm trí
thường mà bạn có mà là Tâm trí xảy ra khi mọi ý nghĩ
đều đã biến mất, khi tâm trí hoàn toàn trống rỗng ý
nghĩ. Làm ra lâu đài của Tâm trí của bạn đi bởi vì thân
thể này sắp sửa chết - đừng phụ thuộc vào nó.
Trong mọi thử thách
để hiểu biết tranh đấu cho ông
để bảo vệ điều ông có được.
34
Và liên tục nhớ lấy, bởi vì cuộc tranh đấu là lâu
dài, và cuộc hành trình là gian nam. Nhiều lần bạn sẽ
ngã và quên, nhiều lần bạn sẽ bắt đầu phán xét. Nhiều
lần bạn sẽ bắt đầu bị đồng nhất với cái này cái nọ,
nhiều lần bản ngã sẽ tự khẳng định nó lặp đi lặp lại.
Bất kì khi nào bản ngã tự khẳng định nó, bất kì khi nào
đồng nhất xảy ra, bất kì khi nào phán xét nảy sinh,
ngay lập tức nhớ: quan sát, đơn giản quan sát, và sẽ có
hiểu biết.
Và hiểu biết là bí mật của biến đổi. Nếu bạn có thể
hiểu được giận dữ, lập tức bạn sẽ được mưa rào lên
bằng từ bi. Nếu bạn có thể hiểu được dục, lập tức bạn
sẽ đạt tới samadhi. 'Hiểu biết' là từ quan trọng nhất cần
nhớ.
Vì chẳng mấy chốc thân thể này sẽ bị bỏ đi.
Vậy nó cảm thấy cái gì?
Khúc gỗ vô dụng, nằm trên đất.
Vậy nó biết gì?
Đừng phụ thuộc vào thân thể và đừng vẫn còn bị
giam cầm trong thân thể. Dùng nó, kính trọng nó, yêu
thương nó, chăm sóc nó, nhưng nhớ: bạn phải rời bỏ
nó một ngày nào đó. Nó chỉ là cái lồng, nó sẽ bị bỏ
đằng sau, và con chim sẽ ra đi. Trước khi điều đó xảy
ra, chăm nom cho con chim nữa. Lau sạch tâm thức
bạn, bởi vì nó sẽ đi cùng bạn. Hiểu biết của bạn sẽ đi
cùng bạn, không cùng thân thể bạn.
Cho nên đừng phí thời gian quá nhiều trong việc
trang trí cho nó bằng mĩ phẩm trang điểm, bằng quần
áo, bằng đồ trang sức - đừng phí quá nhiều thời gian
với thân thể, bởi vì thân thể thuộc về đất và đất sẽ đòi
35
nó lại. Cát bụi trở về với cát bụi. Bạn không thuộc vào
đất, bạn thuộc vào cõi bên kia nào đó, chỗ nào đó
không biết. Nhà bạn là ở trong cái không biết, ở đây
bạn chỉ là khách thăm. Tận hưởng cuộc viếng thăm
này và dùng nó nhiều nhất có thể được để trưởng thành
trong hiểu biết và chín muồi, để cho bạn có thể đem về
nhà chín chắn của bạn, hiểu biết của bạn, trí huệ của
bạn.
Kẻ thù tồi tệ nhất của ông không thể làm hại ông
nhiều như các ý nghĩ riêng, khinh suất của ông.
Khi các ý nghĩ không được canh giữ, không được
quan sát, tâm trí bạn là kẻ thù lớn nhất của bạn.
Nhưng một khi bị nó khống chế,
không ai có thể giúp ông được mấy,
cho dù cả bố hay mẹ ông.
Nhưng cùng tâm trí đó, nếu bị làm chủ - bị làm
chủ bởi tính quan sát, bị làm chủ bởi thiền - được biến
đổi. Nó trở thành người bạn lớn lao nhất. Không ai có
thể giúp bạn được nhiều như nó.
Tâm trí là chiếc thang: không được canh giữ nó
đưa bạn đi xuống, được canh giữ nó đưa bạn đi lên.
Vẫn cùng chiếc thang đó! Tâm trí là cánh cửa: không
được canh giữ nó đưa bạn ra ngoài, được canh giữ nó
đưa bạn vào trong. Cùng tâm trí đó không được canh
giữ trở thành giận dữ, hận thù, ghen tị; được canh giữ
nó trở thành từ bi, tình yêu, ánh sáng.
Có tính quan sát, thức tỉnh, tỉnh táo, không phán
xét đi. Đừng là nhà đạo đức: tạo ra tâm thức tôn giáo.
Và với "tâm thức tôn giáo" điều đó được ngụ ý nhận
36
biết vô chọn lựa. Để cho cụm từ này chìm sâu vào
trong tim bạn: nhận biết vô chọn lựa. Đây là chính tinh
tuý của giáo huấn của Phật - aes dhammo sanantano.
Dhammapada
CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT
¨
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG
ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG
Tập 2 ( tiếp theo )
3
Và đi tiếp
Ai sẽ chinh phục thế giới này
Và thế giới của chết với mọi thần của nó?
Ai sẽ khám phá ra
Con đường chói sáng của luật?
Ông sẽ, ngay cả như người
tìm hoa,
tìm thấy đoá hoa đẹp nhất,
hiếm nhất.
Hiểu rằng thân thể
Đơn thuần là bọt sóng,
Cái bóng của cái bóng.
Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Và đi tiếp.
Cái chết bắt người
74
thu nhặt hoa
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó tìm vô vọng về hạnh phúc
Trong hoan lạc của thế giới.
Cái chết bắt lấy người đó đi
Như trận lụt mang đi cả làng đang ngủ.
Cái chết đánh bại người đó
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó thu nhặt hoa.
Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích
hoan lạc của thế giới.
Ong hút mật hoa từ hoa
Không làm hỏng cái đẹp hay hương thơm của nó.
cho nên để người chủ định cư, và lang thang.
Nhìn vào lỗi riêng của ông,
Điều ông đã làm hoặc bỏ không làm.
Bỏ qua lỗi lầm của người khác.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói nhưng không thơm,
Là lời đẹp nhưng trống rỗng
Về người không ngụ ý điều mình nói.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói và thơm ngát,
Là lời đẹp và chân lí
Của người ngụ ý điều mình nói.
Giống như vòng hoa được kết từ đống hoa,
Kiểu cách từ cuộc sống của ông được kết như
nhiều việc làm tốt.
75
Lời kinh. Phật nói:
Ai sẽ chinh phục thế giới này
Và thế giới của chết với mọi thần của nó?
Ai sẽ khám phá ra
Con đường chói sáng của luật?
Và đi tiếp
Ai sẽ chinh phục thế giới này
Và thế giới của chết với mọi thần của nó?
Ai sẽ khám phá ra
Con đường chói sáng của luật?
Ông sẽ, ngay cả như người
tìm hoa,
tìm thấy đoá hoa đẹp nhất,
hiếm nhất.
Hiểu rằng thân thể
Đơn thuần là bọt sóng,
Cái bóng của cái bóng.
Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Và đi tiếp.
Cái chết bắt người
74
thu nhặt hoa
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó tìm vô vọng về hạnh phúc
Trong hoan lạc của thế giới.
Cái chết bắt lấy người đó đi
Như trận lụt mang đi cả làng đang ngủ.
Cái chết đánh bại người đó
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó thu nhặt hoa.
Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích
hoan lạc của thế giới.
Ong hút mật hoa từ hoa
Không làm hỏng cái đẹp hay hương thơm của nó.
cho nên để người chủ định cư, và lang thang.
Nhìn vào lỗi riêng của ông,
Điều ông đã làm hoặc bỏ không làm.
Bỏ qua lỗi lầm của người khác.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói nhưng không thơm,
Là lời đẹp nhưng trống rỗng
Về người không ngụ ý điều mình nói.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói và thơm ngát,
Là lời đẹp và chân lí
Của người ngụ ý điều mình nói.
Giống như vòng hoa được kết từ đống hoa,
Kiểu cách từ cuộc sống của ông được kết như
nhiều việc làm tốt.
75
Lời kinh. Phật nói:
Ai sẽ chinh phục thế giới này
Và thế giới của chết với mọi thần của nó?
Ai sẽ khám phá ra
Con đường chói sáng của luật?
85
Ông ấy đang ném thách thức vào bạn đấy. Ông ấy
đang nêu ra một câu hỏi trong tim bạn. Ông ấy đang
hỏi: Ai sẽ chinh phục thế giới này và thế giới của chết
với mọi thần của nó?
Thế giới này là thế giới của chết, và các thần mà
bạn đã tạo ra từ tưởng tượng của bạn đều là một phần
của thế giới này - chúng sẽ chết. Bạn, thế giới của bạn,
các thần của bạn, chúng tất cả đều sẽ chết, bởi vì thế
giới này được tạo ra bởi ham muốn của bạn, và các
thần này cũng được tạo ra bởi ham muốn và tưởng
tượng của bạn.
Bạn không biết mình là ai - làm sao bạn có thể biết
Thượng đế thực? Và làm sao bạn có thể biết thế giới
thực? Bất kì cái gì bạn biết đều là phóng chiếu, là một
loại mơ. Vâng, khi mơ có đó, nó có vẻ thật. Mọi đêm
bạn đều mơ, và bạn biết rằng trong mơ bạn không bao
giờ nghi ngờ nó cả, bạn không bao giờ hoài nghi nó,
bạn không bao giờ nêu ra câu hỏi.
Gurdjieff thường nói với các đệ tử của ông ấy,
"Mọi đêm khi các ông đi ngủ, khi các ông chỉ ngay
bên bờ và bức màn của giấc ngủ sắp sửa buông xuống
các ông, các ông vẫn còn nhớ được chút ít, chưa chìm
ngập trong bóng tối của giấc ngủ, một chút ít của nhận
biết, và giấc ngủ đang tới... những khoảnh khắc đó,
những khoảng đó giữa thức và ngủ," Gurdjieff thường
nói, "những khoảnh khắc đó là rất có ý nghĩa. Nêu ra
câu hỏi trong tâm trí ông và cứ lặp nó trong khi các
ông đang rơi vào giấc ngủ. Một câu hỏi đơn giản: Nó
có thực không? Nó có dành cho cái thực không? Cứ
lặp câu hỏi này trong khi các ông đang chìm vào giấc
ngủ, để cho một ngày nào đó trong mơ các ông có thể
86
hỏi: Nó có thực không?" Ngày đó đem lại phúc lành
lớn.
Nếu bạn có thể hỏi trong mơ, "Nó có thực không?"
mơ lập tức biến mất. Ở đây bạn hỏi, và ở kia mơ
không còn nữa. Đột nhiên thức tỉnh lớn lao xảy ra bên
trong. Trong giấc ngủ bạn trở nên tỉnh táo. Việc ngủ
tiếp tục; do đó có cái đẹp vô cùng của kinh nghiệm của
nó. Việc ngủ tiếp tục; thân thể vẫn còn ngủ, tâm trí vẫn
còn ngủ, nhưng cái gì đó bên ngoài thân thể và tâm trí
trở nên tỉnh táo; một nhân chứng nảy sinh trong bạn.
"Nó có thực không?" - nếu bạn hỏi điều đó trong mơ
của mình... rất khó nhớ bởi vì khi bạn đang mơ bạn đã
quên hoàn toàn bản thân mình. Do đó có phương cách
này - trong khi rơi vào giấc ngủ, cứ lặp câu hỏi này:
Nó có thực không? Nó có thực không? Rơi vào giấc
ngủ vẫn lặp câu hỏi này.
Ở đâu đó giữa ba và chín tháng, một ngày nào đó
điều đó xảy ra - trong mơ đột nhiên câu hỏi này nảy
sinh: Nó có thực không? và bạn có một trong những
kinh nghiệm sâu sắc nhất của cuộc đời bạn. Khoảnh
khắc câu hỏi này nảy sinh, mơ lập tức biến mất, và có
trống rỗng và im lặng hoàn toàn. Giấc ngủ có đó vậy
mà một ánh sáng nhỏ của nhận biết đã xảy ra.
Và chỉ thế thì bạn sẽ nhận biết về cuộc sống này và
tính ảo tưởng của nó; thế thì bạn sẽ có khả năng thấy
rằng thế giới của ham muốn, ghen tị, tham vọng, chỉ là
mơ được thấy bằng mắt mở. Và nếu bạn có thể thấy
rằng thế giới này cũng là mơ, bạn đang trên bờ của
chứng ngộ.
Nhưng nhớ lấy, tin không có ích gì cả. Bạn có thể
tin thế giới này là ảo tưởng - ở Ấn Độ hàng triệu người
tin và lặp liên tục, như vẹt: "Thế giới này là maya, ảo
87
tưởng" - thế này thế nọ. Và điều họ nói toàn là rác
rưởi, vô nghĩa, bởi vì đấy không phải là kinh nghiệm
đích thực của họ. Họ đã nghe mọi người nói điều đó,
và họ lặp lại. Họ không biết theo cách riêng của họ, họ
không phải là nhân chứng cho điều đó; do đó nó chẳng
bao giờ thay đổi các kiếp sống của họ. Họ cứ lặp lại,
"Thế giới này là không thực," và họ cứ sống trong thế
giới này cũng như những người nghĩ nó là thực -
không khác biệt gì, không khác gì về chất.
Khác biệt là gì giữa người duy vật và cái gọi là
người tôn giáo? Khác biệt gì? Bởi vì người đó tới nhà
thờ mọi chủ nhật sao? hay bởi vì người đó thỉnh
thoảng đi tới đền chùa? Đấy là khác biệt duy nhất;
bằng không, trong cuộc sống thực, bạn sẽ thấy họ đích
xác như nhau. Đôi khi người phi tôn giáo có thể chân
thực hơn, đích thực hơn, chân thành hơn, đúng đắn
hơn người tôn giáo - bởi vì người tôn giáo đã không
chân thực trong khi có tính tôn giáo mà không có kinh
nghiệm nào của riêng mình. Tính tôn giáo của người
đó dựa trên sự không chân thực; người đó đã phạm
phải sự không chân thực lớn nhất mà con người có thể
phạm phải: người đó tin vào Thượng đế và người đó
chẳng biết gì về Thượng đế; người đó tin vào cuộc
sống vĩnh hằng và người đó không thưởng thức nó.
Người đó đã không thấy gì, vậy mà người đó cứ giả
vờ. Tính tôn giáo của người đó về cơ bản là không
chân thực; do đó không có kinh ngạc, không có ngạc
nhiên rằng trong cái gọi là những đất nước tôn giáo đó
như Ấn Độ, bạn sẽ thấy mọi người không chân thực
hơn cái gọi là các quốc gia duy vật của phương Tây.
Người duy vật phương Tây là chân thành hơn.
Người tôn giáo Ấn Độ rất tầm thường, không chân
thực, lừa dối, bởi vì nếu bạn có thể lừa được Thượng
88
đế, bạn sẽ bỏ quên ai? Nếu tôn giáo của bạn là giả,
toàn thể cuộc sống của bạn sẽ là giả. Người có can
đảm nói, "Chừng nào tôi chưa biết Thượng đế tôi sẽ
không tin đâu," là người chân thành, chân thực ngầm.
Đây là quan sát của tôi: rằng những người vô thần có
nhiều khả năng để biết Thượng đế hơn cái gọi là người
hữu thần.
Ai sẽ chinh phục thế giới này
Và thế giới của cái chết với mọi thần của nó?
Ai sẽ khám phá ra
Con đường chói sáng của luật?
Aes dhammo sanantano - ai sẽ phát hiện ra luật
vĩnh hằng, không cạn? Aes maggo visuddhya - ai sẽ
tìm ra con đường của sự thuần khiết vĩnh hằng, của
hồn nhiên vĩnh hằng? Ai? Phật ném vào bạn một thách
thức và nói:
Ông sẽ, đúng như người
tìm hoa,
tìm thấy đoá hoa đẹp nhất,
hiếm nhất.
Vâng, bạn có thể chinh phục thế giới này của cái
chết - bởi vì tại cốt lõi sâu nhất của bản thể mình, bạn
là một phần của vĩnh hằng, bạn không phải là một
phần của thời gian. Bạn tồn tại trong thời gian, nhưng
bạn thuộc vào vĩnh hằng. Bạn là việc xuyên thấu của
vĩnh hằng vào trong thế giới của thời gian. Bạn là bất
tử, sống trong thân thể của cái chết. Tâm thức bạn
không biết tới chết, không biết tới sinh. Chính là chỉ
mỗi thân thể bạn mới được sinh ra và chết đi. Nhưng
89
bạn không nhận biết về tâm thức bạn; bạn không ý
thức tới tâm thức bạn.
Và đó là toàn thể nghệ thuật của thiền: trở nên có ý
thức về bản thân tâm thức. Khoảnh khắc bạn biết ai
đang ngụ bên trong thân thể, bạn là ai, trong chính
khải lộ đó bạn đã siêu việt lên trên cái chết và thế giới
của cái chết. Bạn đã siêu việt lên trên mọi cái nhất
thời.
Ông sẽ, cũng hệt đúng như người tìm hoa, tìm thấy
đoá hoa đẹp nhất, hiếm nhất.
Jesus nói: tìm và ông sẽ thấy, hỏi và điều đó sẽ
được trao cho ông, gõ cửa và cửa sẽ mở ra cho ông.
Cuộc truy tìm lớn lao là cần thiết, việc tìm kiếm
lớn lao là cần thiết. Cũng như cuộc truy tìm khoa học
vào thế giới khách quan, tôn giáo là cuộc truy tìm vào
tính chủ quan. Khoa học truy tìm vào cái bạn thấy, và
tôn giáo truy tìm vào bản thân người thấy. Tất nhiên
tôn giáo là khoa học của khoa học.
Khoa học không bao giờ có thể quan trọng hơn tôn
giáo; không thể có chuyện khoa học quan trọng hơn
tôn giáo, bởi vì khoa học sau rốt là nỗ lực của con
người. Đó là điều bạn làm - nhưng ai là người làm bên
trong bạn? Người làm không bao giờ có thể kém hơn
việc làm của người đó. Hoạ sĩ không bao giờ có thể
kém hơn bức vẽ của mình, và nhà thơ không bao giờ
có thể kém hơn thơ ca của mình. Nhà khoa học biết về
thế giới nhưng chẳng biết gì về bản thân nhà khoa học
cả.
Albert Einstein trong những ngày cuối của mình
thường nói, "Đôi khi tôi hoài nghi cuộc đời mình đã bị
phí hoài. Tôi đã truy tìm vào chỗ xa nhất của các ngôi
90
sao và quên mất hoàn toàn việc truy tìm vào bản thân
tôi - và tôi là ngôi sao gần nhất!"
Chỉ bởi vì chúng ta có ý thức, chúng ta coi nó như
đương nhiên - thiền nhân không bao giờ coi nó được
đương nhiên. Ông ấy đi vào, ông ấy gõ cửa bản thể
bên trong riêng của mình, ông ấy tìm và kiếm ở bên
trong, ông ấy không để một hòn đá nào chưa được lật
lên. Ông ấy đi vào trong bản thể riêng của mình. Và sự
hoàn thành của ông ấy là lớn lao, bởi vì ông ấy đã tìm
ra điều hiếm hoi nhất. Vâng, có nhiều hoa, nhưng
không có hoa nào như hoa của tâm thức bạn. Nó là
hiếm hoi nhất - nó là hoa sen một nghìn cánh, nó là sen
vàng, kim liên. Chừng nào người ta chưa biết tới nó,
người ta chẳng biết gì. Chừng nào người ta chưa tìm ra
nó, mọi của cải đều vô dụng, mọi quyền lực đều vô
tích sự.
Hiểu rằng thân thể
Đơn thuần là bọt sóng,
Cái bóng của cái bóng.
Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Thân thể là hiện tượng nhất thời. Một ngày nào đó
nó đã không có, một ngày nào đó nó sẽ lại không có.
Nó tồn tại chỉ cho thời hiện tại - nó như bọt sóng;
trông đẹp thế từ bờ biển, bọt sóng, bọt sóng trắng xoá.
Và nếu mặt trời đã lên, quanh bọt sóng cầu vồng còn
có thể được tạo ra; trông tuyệt vời thế, trông như kim
cương, trông trắng thế và thuần khiết thế. Nhưng nếu
bạn cầm nó trong tay, nó bắt đầu biến đi. Chỉ tay bạn
còn ướt, có vậy thôi.
91
Cho nên đó cũng là trường hợp với thân thể. Nó
trông đẹp đấy, nhưng cái chết đang lớn lên trong nó,
cái chết đang ẩn mình trong nó, tuổi già đang chờ đợi
ở đó. Vấn đề chỉ là thời gian thôi.
Không phải là vào một ngày nào đó bạn chết. Thực
ra, thực tế là ở chỗ ngày bạn được sinh ra, bạn bắt đầu
chết. Đứa trẻ một ngày tuổi đã chết đi một chút rồi, nó
đã chết đi một ngày rồi. Nó sẽ tiếp tục chết từng ngày
một. Điều bạn gọi là ngày sinh của bạn thực sự không
phải là ngày sinh của bạn đâu - bạn nên gọi nó là ngày
chết của bạn. Người kỉ niệm ngày sinh lần thứ năm
mươi của mình thực sự là kỉ niệm ngày chết thứ năm
mươi của mình. Cái chết đã tới gần hơn. Bây giờ nếu
người đó định sống bẩy mươi năm, chỉ còn hai mươi
năm nữa thôi. Năm mươi năm người đó đã chết rồi!
Chúng ta liên tục chết đi khi có liên quan tới thân
thể... nó là bọt sóng đang biến đi. Đừng bị lừa dối bởi
bẩy mươi năm bởi vì bẩy mươi năm chẳng có nghĩa gì
trong sự trải rộng của vĩnh hằng - bẩy mươi năm có
nghĩa lí gì? Nó là bọt sóng, nó là tạm thời.
Hiểu rằng thân thể đơn thuần là bọt sóng, cái
bóng của cái bóng. Nó thậm chí không phải là cái
bóng, mà là cái bóng của cái bóng. Phật muốn nhấn
mạnh vào tính không thật của nó. Nó là tiếng vọng của
tiếng vọng, rất, rất xa với thực tại. Thượng đế là thực -
gọi nó là chân lí. Phật thích gọi nó là dhamma - luật.
Thượng đế là thực tại tối thượng; thế rồi linh hồn là cái
bóng của ngài và thân thể là cái bóng của cái bóng. Đi
từ thân thể tới linh hồn và từ linh hồn tới dhamma - tới
Thượng đế, tới luật vĩnh hằng.
Chừng nào bạn chưa đạt tới luật vĩnh hằng, đừng
nghỉ, bởi vì chẳng ai biết cả - hôm nay bạn ở đây, mai
92
bạn có thể không ở đây. Đừng bỏ phí những ngày quí
báu này khi thèm khát, ham muốn những thứ vô tích
sự. Mọi người cứ thu thập những đồ đồng nát, và thế
rồi một ngày nào đó họ qua đời. Và rồi tất cả những
thứ đồ đồng nát mà họ đã thu thập cả đời mình bị bỏ
sau. Họ không thể đem đi một thứ nào trong chúng.
Chuyện kể rằng khi Alexander Đại đế chết, ông ta
đã yêu cầu các bộ trưởng của ông ta rằng khi quan tài
của ông ta được đem tới nấm mồ, tay ông ta phải được
để thõng bên ngoài quan tài.
"Sao vậy?" các bộ trưởng hỏi. "Chẳng ai đã bao
giờ nghe nói tới điều như vậy cả! Điều đó chưa bao
giờ được làm! Đấy không phải là truyền thống. Sao có
cái ý tưởng kì lạ, quái gở này? Sao tay bệ hạ phải bỏ
thõng bên ngoài quan tài?"
Alexander nói, "Ta muốn để cho mọi người biết
rằng ngay cả ta, Alexander Đại đế, cũng đi tay không.
Ta không đem cái gì đi cùng ta cả. Cả đời ta đã là phí
hoài khủng khiếp. Ta đã làm việc vất vả" - và ông ấy
thực sự làm việc vất vả, ông ấy tranh đấu vất vả, ông
ấy là con người thực sự tham vọng, điên vì quyền lực,
muốn trở thành người cai trị thế giới, và đã có ít nhiều
thành công, đã ít nhiều trở thành người cai trị của thế
giới đã được biết tới... Nhưng ngay cả ông ta cũng nói,
"ta đang chết đi và ta không thể đem được cái gì theo
ta; do đó toàn thể nỗ lực chỉ là bài tập trong vô tích sự.
Để cho mọi người biết, để cho họ trở nên nhận biết, để
cho họ hiểu cái ngu xuẩn của ta, cái xuẩn ngốc của ta.
Điều đó có thể giúp họ hiểu hình mẫu cuộc sống riêng
của họ, phong cách sống của họ."
93
Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Nếu bạn có thể trở thành vô ham muốn, thế thì cái
chết không thể có bất kì ảnh hưởng gì lên bạn được.
Chính tâm trí ham muốn bị mắc vào lưới của cái chết,
và chúng ta tất cả đều đầy những ham muốn: ham
muốn về tiền, về quyền, về danh vọng, kính trọng - cả
nghìn lẻ một ham muốn. Ham muốn tạo ra tham lam,
và tham lam tạo ra cạnh tranh, và cạnh tranh tạo ra
ghen tị. Điều này dẫn tới điều khác, và chúng ta cứ rơi
vào trong đống lộn xộn, vào trong rối loạn của thế
giới. Đó là điên khùng, thế giới điên khùng, nhưng
nguyên nhân gốc rễ của điên khùng là ham muốn.
Một khi bạn gieo hạt mầm của ham muốn... ham
muốn nghĩa là có thêm nữa. Bạn có một số tiền nào đó,
bạn sẽ muốn có gấp đôi số đó. Ham muốn nghĩa là
khao khát có thêm nữa. Và không ai nghĩ hai lần rằng
bất kì thay đổi số lượng nào sẽ không thoả mãn bạn.
Nếu bạn không thể được thoả mãn bởi mười nghìn
đồng ru pi, làm sao bạn có thể được thoả mãn bởi hai
mươi nghìn đồng ru pi? Số ru pi được gấp đôi lên.
Nhưng nếu mười nghìn ru pi mà không thể cho bạn
thoả mãn nào, thoả mãn của bạn không thể được gấp
đôi lên; đã không có thoả mãn nào ngay chỗ đầu tiên.
Thực ra, khi bạn có mười nghìn đồng ru pi, bạn có một
lượng lo âu, lo sợ nào đó - những lo âu đó sẽ được gấp
đôi lên khi bạn có hai mươi nghìn ru pi, gấp ba lên khi
bạn có ba mươi nghìn ru pu, và cứ thế mãi. Bạn có thể
cứ nhân mãi lên...
Và bất kì cái gì bạn có, ai đó bao giờ cũng sẽ có
nhiều hơn cái đó - nó là thế giới lớn. Do đó mới có
94
ghen tị, và ghen tị là cơn sốt của linh hồn. Ngoại trừ
thiền, không có thuốc nào cho nó cả. Bác sĩ có thể giúp
bạn nếu thân thể bạn bị sốt, nhưng chỉ thầy mới có thể
giúp bạn, vị phật mới có thể giúp bạn, nếu bạn bị cơn
sốt của linh hồn. Rất ít người bị sốt vật lí, và gần như
mọi người đều bị sốt tâm linh - ghen tị.
Ghen tị nghĩa là ai đó khác có nhiều hơn bạn có.
Và việc là người thứ nhất trong mọi thứ là điều không
thể được. Bạn có thể có số tiền nhiều nhất trên thế
giới, nhưng bạn có thể không có khuôn mặt đẹp. Và kẻ
ăn xin có thể làm cho bạn ghen tị - thân thể người đó,
khuôn mặt người đó, đôi mắt người đó, và bạn ghen tị.
Kẻ ăn xin có thể làm cho cả hoàng đế phải ghen tị.
Napoleon không cao lắm - ông ấy chỉ quãng một
mét sáu lăm. Tôi chẳng thấy gì sai trong đó cả; điều đó
là hoàn toàn được - tôi cũng một mét sáu lăm và tôi
chưa bao giờ khổ sở vì điều đó, bởi vì cho dù bạn cao
mét tám hay mét rưỡi chân bạn vẫn cứ chạm đất như
nhau! Cho nên vấn đề là ở đâu? Nếu người mét rưỡi
mà treo một chân trên đất, thế thì chắc đã có vấn đề!
Nhưng Napoleon khổ sở nhiều lắm. Ông ấy liên tục ý
thức về sự kiện là ông ấy không cao. Và tất nhiên, ông
ấy ở lẫn trong số những người rất cao. Lính tráng,
tướng lĩnh, họ đều là những người cao còn ông ấy rất
thấp.
Ông ấy hay đứng lên cái gì đó cao hơn... Đích xác
cũng hệt như trường hợp của thủ tướng Ấn Độ đầu
tiên, Jawaharlal Nehru. Ông ấy cũng cao chừng mét
sáu lăm - cái mét sáu lăm này là cái gì đó đấy chứ! Và
phó vương cuối cùng của Ấn Độ, huân tước
Mountbatten, rất cao - Bà Mountbatten thậm chí cao
95
hơn nữa. Bây giờ, khi huân tước Mountbatten cho ông
ấy nói lời thề của thủ tướng thứ nhất... bạn có thể thấy
trong tấm hình, những tấm hình đó có khắp mọi nơi:
Nehru đang đứng trên một bậc còn Mountbatten đang
đứng trên sàn, chỉ để trông ít nhất là như nhau, nếu
không cao hơn Mountbatten. Rồi nữa, ông ấy không
cao hơn Mountbatten, ngay cả đứng trên một bậc...
một cảm giác sâu sắc về tự ti.
Napoleon liên tục tự kỉ. Một hôm ông ấy chữa
chiếc đồng hồ tường và tay ông ấy không với tới được.
Chiếc đồng hồ treo cao trên tường. Vệ sĩ của ông ấy -
và vệ sĩ thì nhất định là người cao, người khoẻ rồi - vệ
sĩ của ông ấy nói, "Xin đợi, tôi lớn hơn ông ấy, tôi sẽ
sửa nó."
Napoleon giận lắm và ông ấy nói, "Đồ ngốc! Xin
lỗi đi! Anh không lớn hơn ta, anh chỉ đơn giản cao
hơn. đổi lời anh đi. Lớn hơn sao? Anh ngụ ý gì?" Ông
ta rất phật ý. Và anh chàng vệ sĩ đáng thương này
chẳng ngụ ý điều gì xúc phạm ông ta cả - anh ta thậm
chí không nhận biết rằng nói "lớn hơn" là xúc phạm.
Bây giờ, Napoleon có mọi thứ, nhưng chiều cao là vấn
đề.
Rất khó có mọi thứ trên thế giới và là người đầu
tiên trong mọi thứ. Điều đó là không thể được! Thế thì
ghen tị cứ còn dai dẳng, nó tiếp diễn. Ai đó có nhiều
tiền hơn bạn, ai đó có sức khoẻ hơn bạn, ai đó đẹp hơn
bạn, ai đó thông minh hơn bạn... và bạn thường xuyên
so sánh. Tâm trí ham muốn tiếp tục so sánh.
96
Goldstein và Weinberg cùng kinh doanh với nhau
và có một thời gian tồi tệ. Một hôm Goldstein, trong
khi đi dạo qua rừng, bỗng ngạc nhiên bởi mẹ đỡ đầu
hiện ra nói với anh ta, "Ta sẽ ban cho con ba điều ước,
nhưng nhớ lấy, bất kì điều gì con ước, Weinberg sẽ
được gấp đôi."
Trên đường về Goldstein cứ đắn đo mãi, "Mình sẽ
không phản đối biệt thự rộng lớn." Và trước khi anh ta
kịp nhận ra điều xảy ra, đã có đó - ngôi biệt thự của
anh ta. Nhưng đồng thời anh ta thấy Weinberg bên kia
đường đầy tự hào nhìn hai biệt thự của mình.
Goldstein kìm nén sự ghen tị của mình và đi vào xem
ngôi nhà mới của mình. Khi anh ta bước vào phòng
ngủ, một ham muốn thứ hai điểm vao anh ta: "Mình sẽ
không phản đối một phụ nữ như Sophia Loren." Và
thật sự, cô ấy ở đó - con bé lộng lẫy trông hệt như
Sophia Loren. Nhưng khi anh ta nhìn qua cửa sổ
phòng ngủ, anh ta thấy Weinberg trên ban công với hai
đàn bà lộng lẫy.
"Được," anh ta thở dài khi nghĩ về mẹ đỡ đầu tiên,
"bà có thể cắt một hòn của con!"
Ghen tị là ghen tị... Nếu bạn không thể có được tất
cả, ít nhất bạn cũng có thể làm cho bất kì ai khác
không có điều đó. Ghen tị trở thành phá huỷ, ghen tị
trở thành bạo hành. Và ghen tị là cái bóng của ham
muốn. Ham muốn bao giờ cũng so sánh và, bởi vì so
sánh mới có đau khổ. Mọi người phí hoài các kiếp
sống của mình trong ham muốn, trong ghen tị, trong so
sánh và thời gian quí báu đơn giản bị mất. Cho dù
Thượng đế có cho bạn ba điều ước, bạn cũng sẽ làm
hệt như Goldstein - bởi vì người Do Thái tồn tại trong
97
mọi người. Chỉ vị phật không là người Do Thái; bằng
không mọi người khác đều là Do Thái.
Bản chất của ham muốn là tính chất người Do
Thái. Nó muốn thêm nữa, nó điên lên vì thêm nữa. Và
những người sống trong ham muốn nhất định là nạn
nhân của cái chết. Chỉ người hiểu cái điên khùng của
ham muốn, của tham lam, của thường xuyên khao khát
thêm nữa, của ghen tị, của so sánh, người trở nên nhận
biết về tất cả những điều vô nghĩa này và vứt bỏ nó,
mới vượt ra ngoài cái chết. Người đó trở thành vô
hình. Phật dùng một từ hay. Ông ấy nói: Và rồi, vô
hình, thoát khỏi Diêm vương.
Cái chết chỉ có thể thấy người sống trong vỏ bọc
của ham muốn. Cái chết chỉ có thể thấy ham muốn.
Nếu ham muốn bị vứt bỏ, bạn trở thành vô hình với cái
chết; cái chết không thể chạm tới bạn được, bởi vì
không có ham muốn thì bạn đơn giản là tâm thức
thuần khiết và không là gì khác. Bạn không còn bị
đồng nhất với thân thể hay tâm trí. Bạn đơn giản biết
một điều, rằng bạn là nhân chứng. Cái chết không thể
thấy được bạn - bạn có thể thấy cái chết.
Thông thường, cái chết có thể thấy bạn, bạn không
thể thấy được cái chết - bởi vì ham muốn là thô, có thể
bị cái chết thấy. Tâm thức là vô hình, nó không phải là
vật chất - nó là năng lượng thuần tuý, nó là ánh sáng.
Bạn có thể thấy cái chết, nhưng cái chết không thể
thấy được bạn. Và thấy cái chết lại là một kinh nghiệm
lớn, một kinh nghiệm vui nhộn. Người ta bắt đầu cười
khi người ta thấy cái chết - cái chết bất lực thế. Quyền
lực của nó không phải là của riêng nó, quyền lực của
nó là trong tâm trí ham muốn của bạn. Bạn trao quyền
cho nó. Bạn càng ham muốn nhiều, bạn càng sợ chết
98
nhiều. Bạn càng tham nhiều, bạn càng sợ chết. Bạn
càng tham nhiều, bạn càng sợ hơn. Bạn càng có nhiều,
một cách tự nhiên bạn càng nhiều lo âu hơn - cái chết
sẽ tới và mọi thứ sẽ bị lấy đi.
(Còn Nữa)
Dhammapada
CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT
¨
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG
ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG
Tập 2 ( tiếp theo )
Chộp lấy mũi tên hoa của ham muốn
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Và đi tiếp.
Và rồi, vô hình,
Thoát khỏi Diêm vương.
Và đi tiếp.
Nhớ câu này: Và đi tiếp.
Thế thì cuộc hành trình thực, cuộc hành hương, bắt
đầu. Trước đó bạn chỉ đi trong vòng tròn - cùng những
ham muốn: nhiều tiền hơn, nhiều tiền hơn, nhiều
quyền hơn, nhiều quyền hơn... cái vòng luẩn quẩn,
chẳng đi đến đâu cả. Một khi bạn đã vứt bỏ mọi ham
muốn, tâm thức bạn được tự do khỏi cái thô thiển của
ham muốn. Bây giờ đi tiếp - bây giờ bạn có thể đi vào
trong sự tồn tại vô hạn, bạn có thể đi vào trong cái
vĩnh hằng của sự tồn tại. Bây giờ, các bí ẩn tiếp bí ẩn
cứ mở ra trước bạn. Bây giờ toàn thể sự tồn tại là sẵn
có cho bạn, trong tính toàn bộ của nó, nó là của bạn...
bây giờ đi tiếp.
Cái chết bắt người
thu nhặt hoa
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó tìm vô vọng về hạnh phúc
Trong hoan lạc của thế giới.
Cái chết bắt lấy người đó đi
Như trận lụt mang đi cả làng đang ngủ.
99
Nếu bạn quá bị phân tán bởi ham muốn, hoan lạc,
hài lòng, và nếu bạn quá khao khát trong cảm giác kích
động dục, nếu bạn tìm kiếm một cách ngu ngốc về
hạnh phúc trong thế giới bên ngoài, thế thì cái chết tới
và bắt bạn đi như trận lụt đem đi cả làng đang ngủ.
Người đang đi tìm hạnh phúc trong thế giới bên
ngoài là người ngủ say. Người đó không nhận biết về
điều mình đang làm, bởi vì hạnh phúc chưa bao giờ
được tìm thấy ở bên ngoài. Và bất kì điều gì xuất hiện
như hạnh phúc chung cuộc tỏ ra là cội nguồn của bất
hạnh và không là gì khác. Thế giới bên ngoài chỉ hứa
hẹn, mà chẳng bao giờ chuyển giao hàng hoá. Khi bạn
còn ở xa xa, mọi sự dường như rất đẹp. Bạn càng lại
gần, chúng càng bắt đầu biến mất đi. Khi bạn có được
chúng sau nỗ lực lâu dài và vất vả, bạn đơn giản lúng
túng. Bạn không thể tin được điều đã xảy ra - nó là ảo
ảnh.
Mọi sự là đẹp chỉ từ khoảng cách xa. Khi bạn có
chúng, chúng chẳng có gì trong chúng cả. Tiền là có ý
nghĩa chỉ cho những người không có nó. Những người
có nó, họ biết cái vô tích sự của nó. Danh vọng là có ý
nghĩa chỉ với những người không có nó. Những người
có nó... cứ hỏi họ mà xem: họ phát mệt mỏi vì nổi
tiếng, họ hoàn toàn mệt mỏi vì nổi tiếng. Họ muốn
được giấu tên. Họ muốn là không ai cả.
Voltaire đã viết trong hồi kí của ông ấy rằng khi
ông ấy chưa nổi tiếng ham muốn duy nhất của ông ấy
là được nổi tiếng; ông ấy sẵn sàng hi sinh mọi thứ để
được tiếng tăm. Và nếu bạn cứ đi tìm cái gì đó mãi,
bạn nhất định sẽ được nó, nhớ lấy. Một ngày nào đó
ông ấy trở nên nổi tiếng, và thế rồi ông ấy viết, "Tôi
100
mệt mỏi thế về tiếng tăm của mình, bởi vì mọi sự riêng
tư trong cuộc đời tôi bị biến mất, mọi mối quan hệ
thân mật biến mất - tôi nổi tiếng tới mức tôi bao giờ
cũng bị mọi người vây quanh, ở mọi nơi, bất kì chỗ
nào tôi đi. Nếu tôi đi dạo trong vườn, một đám đông sẽ
theo sau. Tôi gần như là một vật trưng bày, một loại
xiếc đi bộ."
Danh tiếng của ông ấy đạt tới đỉnh mà nó trở thành
nguy hiểm cho cuộc sống của ông ấy. Một lần khi ông
ấy đi từ ga về nhà mình sau một cuộc hành trình, ông
ấy về nhà gần như trần truồng, bị cào xước khắp
người, máu rỉ ra từ nhiều chỗ - bởi vì ở Pháp vào
những ngày đó đây là điều mê tín, rằng nếu bạn có thể
lấy được một mảnh quần áo của người nổi tiếng, bạn
cũng có thể trở nên nổi tiếng. Cho nên mọi người xé
quần áo ông ấy, và trong khi xé quần áo, họ làm cào
xước thân thể ông ấy.
Ông ấy kêu và khóc hôm đó, và nói, "Tôi ngu làm
sao mà tôi đã muốn được nổi tiếng. Hay biết bao khi
chẳng ai biết tôi và tôi là người tự do. Bây giờ tôi
không còn là người tự do nữa."
Thế rồi ông ấy muốn là không ai cả. Và điều đó đã
xảy ra nữa rằng tiếng tăm biến mất. Trong cuộc sống
này chẳng cái gì là thường hằng cả - một ngày nào đó
bạn nổi tiếng, ngày khác bạn là không ai cả. Ngày ông
ấy chết, chỉ bốn người đi theo ông ấy ra nấm mồ; và
trong bốn người này thì một là con chó của ông ấy -
cho nên thực sự chỉ có ba. Mọi người đã hoàn toàn
quên mất ông ấy, họ đã quên rằng ông ấy vẫn còn
sống. Họ đi tới biết khi báo chí công bố bản tường
trình rằng Voltaire đã chết. Thế thì mọi người mới
101
nhận biết và bắt đầu hỏi lẫn nhau, "Ông ấy vẫn còn
sống à?"
Nếu bạn có tiếng tăm, bạn phát mệt vì điều đó.
Nếu bạn có tiền của, bạn sẽ không biết phải làm gì với
nó. Nếu bạn được mọi người kính trọng, bạn trở thành
nô lệ, bởi vì thế thì bạn phải cứ hoàn thành những
trông đợi của họ; bằng không kính trọng với bạn sẽ
biến mất. Chỉ khi bạn không nổi tiếng bạn mới coi nó
là cái gì đó có ý nghĩa. Khi bạn không được kính
trọng, bạn khao khát điều đó. Khi bạn được kính trọng,
bạn phải trả giá cho sự kính trọng. Mọi người càng
kính trọng bạn, họ càng quan sát bạn kĩ hơn - liệu bạn
có hoàn thành những trông đợi của họ hay không. Mọi
tự do của bạn mất đi. Nhưng đây là cách mọi người
đang sống.
Phật nói điều đó cũng giống như một làng đang
ngủ - trận lụt tới và nhấn chìm cả làng, trận lụt của cái
chết tới.
Cái chết đánh bại người đó
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó thu nhặt hoa.
Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích
hoan lạc của thế giới.
Và không ai đã bao giờ có thể hài lòng được trong
thế giới này - điều đó là không thể được. Bạn có thể
trở nên ngày một bất mãn hơn, có vậy thôi, bởi vì hài
lòng chỉ xảy ra khi bạn đi vào bên trong. Hài lòng là
bản tính bên trong nhất của bạn. Hài lòng không thuộc
vào đồ vật. Bạn có thể thoải mái với đồ vật - nhà đẹp,
102
vườn đẹp, không lo nghĩ về chuyện tiền nong - vâng,
bạn có thể thoải mái, nhưng bạn vẫn còn như cũ:
không hài lòng một cách thoải mái. Thực ra, khi bạn
có mọi tiện nghi và bạn không có gì để làm kiếm tiền,
hai mươi bốn giờ một ngày bạn nhận biết về sự không
hài lòng của mình, bởi vì không bận bịu nào khác còn
lại.
Đó là lí do tại sao người giầu còn không hài lòng
hơn người nghèo. Đáng phải không như thế chứ - một
cách logic đáng phải không như vậy - nhưng đấy là
cách thức cuộc sống vậy đấy. Cuộc sống không theo
Aristotle và logic của ông ấy. Người giầu tới từ
phương Tây trở nên rất phân vân khi họ thấy người Ấn
Độ nghèo với khuôn mặt mãn nguyện. Họ không thể
tin được vào mắt mình. Những người này chẳng có gì
cả - sao họ có vẻ hài lòng? Và cái gọi là các thánh
nhân và mahatmas và những người lãnh đạo chính
khách Ấn Độ, họ cứ ba hoa với thế giới rằng "Đất
nước chúng tôi tâm linh lắm - trông mà xem! mọi
người mãn nguyện thế cho dù họ nghèo, bởi vì họ giầu
có bên trong."
Điều này tất cả đều vô nghĩa. Họ chẳng giầu có
bên trong. Mãn nguyện mà bạn thấy trên khuôn mặt
Ấn Độ nghèo không phải là mãn nguyện của việc nhận
ra bên trong. Chỉ đơn giản bởi vì họ quá bị bận tâm tới
tiền bạc, bánh mì và bơ, đến mức họ không thể có
được thời gian để mà không hài lòng. Họ không thể
đảm đương được việc ngồi đó và suy nghĩ ủ ê về khổ
của họ. Họ khổ thế và họ chẳng bao giờ biết tới hoan
lạc nào, cho nên họ không thể có bất kì so sánh nào.
Khi xã hội trở nên giầu, nó có thời gian để nghĩ,
"Bây giờ cái gì tiếp theo...?" Và dường như chẳng có
103
gì còn cả. Khi mọi thứ bên ngoài là sẵn có bạn bắt đầu
nghĩ, "Mình đang làm gì ở đây nhỉ? Mọi thứ đều có
đó, nhưng mình vẫn cứ trống rỗng như bao giờ."
Người ta bắt đầu quay vào trong.
Người ăn xin trông mãn nguyện bởi vì họ không
có mùi vị gì của giàu có. Nhưng người giàu trở nên rất
không hài lòng. Bởi vì giầu có của mình mà người đó
trở nên nhận biết về cái vô tích sự của mọi giàu sang.
Cái chết đánh bại người đó
Khi với tâm trí phân tán và giác quan thèm khát
Người đó thu nhặt hoa.
Người đó sẽ chẳng bao giờ có thoả thích
hoan lạc của thế giới.
Bạn không thể có sự thoả thích của mình được.
Điều đó là không thể được. Bạn không thể được thoả
mãn với mọi thứ; tâm trí sẽ cứ đòi hỏi thêm nữa. Bạn
càng có nhiều, bạn sẽ càng tạo ra thêm nhiều rắc rối
cho mình - bởi vì bạn có thể đảm đương được rắc rối,
bạn có thời gian. Thực ra, bạn có nhiều thời gian trong
tay đến mức bạn chẳng biết phải làm gì với nó. Bạn sẽ
bắt đầu lừa dối xung quanh. Bạn sẽ tạo ra nhiều khổ
hơn, nhiều lo âu hơn cho bản thân mình. Và không tìm
thấy thoả mãn bên ngoài, bạn có thể trở nên bất mãn
đến mức bạn có thể bắt đầu nghĩ tới tự tử.
Nhiều người tự tử ở các nước giầu hơn hơn ở nước
nghèo. Hay bạn có thể trở nên bất mãn tới mức bạn có
thể phát điên, bạn có thể thành gàn dở. Nhiều người
phát điên ở các nước giầu hơn ở các nước nghèo.
Giầu theo một cách nào đó là rất nguy hiểm: nó có
thể lái bạn tới tự tử, nó có thể lái bạn tới loại điên
104
khùng nào đó - nhưng nó cũng rất có ý nghĩa bởi vì nó
có thể lái bạn hướng tới tôn giáo, hướng tới nội tâm
mình, lãnh thổ bên trong, nó có thể trở thành cuộc cách
mạng nội tâm. Điều đó tuỳ thuộc vào bạn - các phương
án đều để mở. Người giầu hoặc trở nên thần kinh, tự
tử, hoặc người đó phải trở thành thiền nhân; không có
phương án thứ ba khác cho người đó.
Người nghèo không thể tự tử được, không thể bị
thần kinh được; người đó thậm chí còn không có đủ
cơm, còn nói gì tới tâm trí? Người đó mệt mỏi thế vào
buổi tối, người đó không thể nghĩ được, không có năng
lượng để nghĩ... rơi luôn vào giấc ngủ. Đến sáng lại
con đường mòn cũ của việc kiếm cơm. Mọi ngày
người đó đều phải kiếm sống, bằng cách nào đó để vẫn
còn sống, tồn tại. Người đó không thể đảm đương
được xa hoa của người thần kinh, người đó không thể
đảm đương được xa hoa của việc phân tâm - đây là
những xa hoa chỉ người giầu mới có thể đảm đương!
Và người đó không thể thực sự là thiền nhân được.
Người đó sẽ đi tới đền chùa, nhưng người đó sẽ hỏi
xin cái gì đó trần tục. Vợ người đó ốm, con người đó
không có tiền để vào trường học, người đó thất nghiệp.
Người đó đi tới đền chùa để hỏi xin những điều này.
Phẩm chất tôn giáo của người nghèo là rất nghèo nàn.
Có hai loại tính tôn giáo trong thế giới này: tính
tôn giáo của người nghèo - nó rất trần tục, nó rất vật
chất - và tính tôn giáo của người giầu - nó rất tâm linh,
rất phi vật chất. Khi người giầu cầu nguyện, lời cầu
nguyện của người đó không thể vì tiền. Nếu người đó
vẫn cầu nguyện về tiền, người đó vẫn chưa đủ giầu.
105
Có một thánh nhân Sufi, Farid. Một lần các dân
làng hỏi ông ấy, "Farid ơi, nhà vua vĩ đại, Akbar, tới
ông biết bao nhiêu lần - sao ông không hỏi xin ông ấy
để mở trường học cho người nghèo trong làng chúng
ta? Chúng ta không có trường học."
Farid nói, "Tốt, sao tôi phải đợi ông ấy tới? Tôi sẽ
đi."
Ông ấy tới Delhi, ông ấy được đón tiếp - mọi
người đều biết rằng Akbar kính trọng ông ấy lắm.
Akbar đang cầu nguyện trong đền thờ riêng của mình;
Farid được phép vào. Ông ấy đi vào, ông ấy thấy
Akbar đang cầu nguyện. Ông ấy đứng đằng sau Akbar
- ông ấy có thể nghe thấy điều ông này đang nói. Với
đôi tay giang ra, Akbar vừa mới kết thúc lời cầu
nguyện của mình, namaz của ông ấy, và ông ấy đang
nói với Thượng đế, "Cái một từ bi toàn năng, xin mưa
rào thêm giầu có lên con! Xin cho con vương quốc lớn
hơn!"
Farid lập tức quay đi. Đấy là vừa lúc kết thúc lời
cầu nguyện, cho nên Akbar trở nên nhận biết rằng ai
đó đã ở đó và đã đi mất. Ông ấy nhìn ngoái lại, thấy
Farid đang đi xuống bậc thang, tới chạm chân Farid và
hỏi, "Sao ông đã tới?" - bởi vì lần đầu tiên ông ấy tới -
"và sao ông đi mất?"
Farid nói, "Tôi đã tới với ý tưởng rằng ông giầu
có, nhưng nghe lời cầu nguyện của ông tôi nhận ra là
ông vẫn còn nghèo. Và nếu ông vẫn còn hỏi xin thêm
tiền, thêm quyền, thế thì việc tôi hỏi xin tiền là không
tốt, vì tôi phải tới xin ít tiền để mở trường học trong
làng tôi. Không, tôi không thể hỏi xin từ người nghèo
được. Bản thân ông còn cần thêm nữa. Tôi sẽ đi quyên
góp một ít ở trong làng và đem nó cho ông! Còn khi có
106
liên quan tới trường học, nếu ông đang hỏi xin từ
Thượng đế, tôi có thể hỏi xin trực tiếp từ Thượng đế -
sao tôi phải dùng ông làm trung gian làm gì?"
Câu chuyện này được đích thân Akbar kể trong tự
truyện của mình. Ông ấy nói, "Lần đầu tiên tôi trở nên
nhận biết rằng, vâng, tôi chưa đủ giầu, tôi vẫn chưa hết
thoả mãn với tất cả tiền bạc này. Nó đã không cho tôi
cái gì và tôi cứ hỏi xin thêm nữa, gần như hoàn toàn vô
ý thức! Đây là lúc tôi phải được chấm dứt với nó.
Cuộc sống cứ bay vùn vụt và tôi thì vẫn cứ hỏi xin rác
rưởi. Và tôi đã tích luỹ nhiều thứ - nó chẳng cho tôi cái
gì cả."
Nhưng gần như một cách máy móc người ta cứ hỏi
xin mãi. Nhớ lấy, tôn giáo nảy sinh khi bạn đã sống
trong thế giới này và đã biết thế giới này và cái vô tích
sự của nó, khi bạn có một hương vị hoàn toàn khác
cho nó từ tôn giáo, cái nảy sinh trong bạn bởi vì nhu
cầu vật lí của bạn là không được đáp ứng.
Tôn giáo của người nghèo là nghèo, tôn giáo của
người giầu là giầu. Và tôi muốn tôn giáo giầu trên thế
giới này; do đó tôi không chống công nghệ, không
chống công nghiệp hoá. Tôi không chống việc tạo ra
xã hội sung túc, tôi tất cả ủng hộ cho nó, bởi vì đây là
quan sát của tôi: rằng tôn giáo đạt tới cực đỉnh của nó
chỉ khi mọi người hoàn toàn thất vọng với giầu có trần
tục, và cách duy nhất để làm cho họ hoàn toàn thất
vọng là để cho họ kinh nghiệm chúng.
Ong hút mật hoa từ hoa
Không làm hỏng cái đẹp hay hương thơm của nó.
cho nên để người chủ định cư, và lang thang.
107
Phật đã gọi các sư của mình là "người ăn xin",
madhukari. Madhukari nghĩa là lấy mật như con ong.
Khất sĩ, sannyasin Phật giáo, đi hết nhà nọ tới nhà kia;
ông ta chẳng bao giờ hỏi xin chỉ từ một nhà bởi vì điều
đó có thể là quá nặng gánh. Cho nên ông ta hỏi xin từ
nhiều nhà, chỉ chút xíu từ nhà này, chút xíu từ nhà
khác, để cho ông ta không là gánh nặng cho ai cả. Và
ông ta không bao giờ đi tới cùng một nhà lần nữa.
Điều này được gọi là madhukari - như con ong mật.
Con ong đi từ hoa này sang hoa khác, và cứ bay từ hoa
sang hoa - nó không sở hữu.
Ong hút mật hoa từ hoa không làm hỏng cái đẹp
hay hương thơm của nó. Nó chỉ lấy chút xíu từ một
đoá hoa đến mức cái đẹp của hoa không bị hư hỏng,
hương thơm không bị phá huỷ. Hoa đơn giản chẳng
bao giờ trở nên nhận biết về ong; nó tới một cách im
lặng thế và đi im lặng thế.
Phật nói: con người của nhận biết sống trong thế
giới này giống như con ong. Người đó không bao giờ
làm hư hỏng cái đẹp của thế giới này, người đó không
bao giờ phá huỷ hương thơm của thế giới này. Người
đó sống im lặng, đi im lặng. Người đó chỉ yêu cầu cái
cần thiết. Cuộc sống của người đó là đơn giản, nó
không phức tạp. Người đó không thu thập cho ngày
mai. Ong không bao giờ lấy mật cho ngày mai, hôm
nay là đủ cho chính nó.
Cho nên để người chủ định cư, và lang thang..
Một phát biểu rất kì lạ: ...định cư, và lang thang. Định
cư bên trong, định tâm bên trong, và bên ngoài là
người lang thang: bên trong hoàn toàn được bắt rễ, còn
bên ngoài không ở lâu ở bất kì một chỗ nào, không ở
108
với một người trong thời gian lâu, bởi vì gắn bó nảy
sinh, sở hữu phát sinh. Cho nên chỉ giống như con ong.
Mới đêm hôm nọ tôi có đọc một hồi kí của một
nhà thơ. Ông ấy nói, "Tôi đã tìm thấy một điều rất kì
lạ: khi tôi rơi vào tình yêu với một người thực đẹp, tôi
không thể sở hữu được người đó. Và nếu tôi sở hữu,
tôi lập tức thấy rằng tôi đang phá huỷ cái đẹp của
người đó. Nếu tôi trở nên bị gắn bó, theo cách nào đó
tôi đang làm tổn thương người kia, tự do của họ."
Các nhà thơ là những người nhạy cảm; họ có thể
trở nên nhận biết về nhiều điều mà người thường
chẳng bao giờ trở nên nhân biết tới. Nhưng đó là cái
nhìn hay, có chiều sâu sâu lắng: nếu bạn thực sự trong
tình yêu với người đẹp bạn sẽ không thích sở hữu, bởi
vì sở hữu là phá huỷ. Bạn sẽ giống như con ong; bạn
sẽ thích thú bầu bạn, bạn sẽ tận hưởng tình bạn, bạn sẽ
chia sẻ tình yêu, nhưng bạn sẽ không sở hữu. Sở hữu
là thu người thành đồ vật. Nó là phá huỷ tâm linh của
người đó, nó là việc làm cho người đó thành món hàng
- và điều này có thể được làm chỉ nếu bạn không yêu.
Điều này có thể được làm chỉ nếu tình yêu của bạn
không là gì ngoài ghét đeo mặt nạ như yêu.
Phật nói: Cũng giống như ong, đi trong cuộc sống
- tận hưởng, mở hội, nhảy múa, ca hát, nhưng giống
như ong - bay từ hoa này sang hoa khác. Có mọi kinh
nghiệm đi, bởi vì chính chỉ qua kinh nghiệm mà bạn
mới trở nên chín chắn. Nhưng đừng có tính sở hữu,
đừng bị mắc kẹt ở đâu cả. Vẫn còn tuôn chảy như
dòng sông - không trở thành tù đọng. Định cư bên
trong, chắc chắn, trở nên kết tinh bên trong, nhưng bên
ngoài vẫn còn là người lang thang.
109
Nhìn vào lỗi riêng của ông,
Điều ông đã làm hoặc bỏ không làm.
Bỏ qua lỗi lầm của người khác.
Cách thông thường của con người là bỏ qua lỗi của
riêng mình và nhấn mạnh, khuếch đại lỗi của người
khác. Đây là cách thức của bản ngã. Bản ngã cảm thấy
rất thoải mái khi nó thấy, "Mọi người đều có nhiều lỗi
thế mà mình chẳng có lỗi nào." Và thủ đoạn là: bỏ qua
lỗi của bạn, khuếch đại lỗi của người khác, cho nên
chắc chắn mọi người đều giống như quỉ còn bạn giống
như thánh nhân.
Phật nói: đảo ngược quá trình này. Nếu bạn thực
sự muốn được biến đổi, bỏ qua lỗi của người khác đi -
đó không phải là công việc của bạn. Bạn là không ai
cả, bạn không được yêu cầu can thiệp vào, bạn không
có quyền, cho nên sao bận tâm? Nhưng đừng bỏ qua
lỗi của riêng bạn, bởi vì chúng phải được thay đổi,
vượt qua.
Khi Phật nói, nhìn vào lỗi riêng của ông, điều ông
đã làm hoặc bỏ không làm, ông ấy không ngụ ý ăn năn
nếu bạn đã làm điều gì đó sai; ông ấy không ngụ ý
khoe khoang, vỗ lưng bạn nếu bạn đã làm điều gì đó
tốt. Không. Ông ấy đơn giản ngụ ý nhìn để cho bạn có
thể nhớ trong tương lai rằng không gì sai nên được lặp
lại, để cho bạn có thể nhớ trong tương lai rằng cái
thiện nên được mở rộng, được nâng cao, còn cái ác
nên bị giảm đi - không để ăn năn mà để nhớ lại.
Đó là khác biệt giữa thái độ Ki tô giáo và thái độ
Phật giáo. Người Ki tô giáo nhớ tới chúng để ăn năn;
do đó Ki tô giáo tạo ra tội lỗi lớn. Phật giáo không bao
giờ tạo ra bất kì tội lỗi nào, nó không dành cho ăn năn,
110
nó dành cho nhớ lại. Quá khứ là quá khứ; nó đã qua và
qua mãi mãi - không cần phải lo nghĩ về nó. Nhớ đừng
lặp cùng sai lầm lần nữa. Lưu tâm hơn đi.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói nhưng không thơm,
Là lời đẹp nhưng trống rỗng
Về người không ngụ ý điều mình nói.
Những người cứ lặp kinh sách một cách máy móc,
lời của họ là hay nhưng trống rỗng. Họ giống như hoa,
đáng yêu, sáng lạn, nhưng chẳng có hương thơm nào.
Họ giống như hoa giấy hay hoa nhựa - họ không thể có
hương thơm được, họ không thể có tính sống động.
Tính sống động, hương thơm là có thể chỉ khi bạn nói
theo lời riêng của mình, không theo thẩm quyền của
kinh sách; khi bạn nói theo thẩm quyền riêng của bạn,
khi bạn nói như một nhân chứng cho chân lí, không
như học giả có học, không như bác học, mà khi bạn
nói như người đã thức tỉnh.
Giống như đoá hoa đáng yêu,
Sáng chói và thơm ngát,
Là lời đẹp và chân lí
Của người ngụ ý điều mình nói.
Nhớ đừng lặp lại lời của người khác. Kinh nghiệm,
và chỉ nói điều bạn đã kinh nghiệm, và lời của bạn sẽ
có thực chất, trọng lượng; và lời của bạn sẽ có toả
sáng, lời của bạn sẽ có hương thơm. Lời của bạn sẽ
hấp dẫn mọi người; không chỉ hấp dẫn - ảnh hưởng.
Lời của bạn sẽ hàm chứa nghĩa lớn lao, và những
người đã sẵn sàng nghe chúng sẽ được biến đổi qua
111
chúng. Lời bạn sẽ là việc thở, sống động; sẽ có nhịp
tim đập trong chúng.
Giống như vòng hoa được kết từ đống hoa,
Kiểu cách từ cuộc sống của ông được kết như
nhiều việc làm tốt.
Để cho cuộc sống của bạn trở thành vòng hoa -
vòng hoa của những hành vi tốt. Nhưng hành vi tốt
theo Phật, chỉ nảy sinh nếu bạn trở nên lưu tâm hơn,
tỉnh táo hơn, nhận biết hơn. Hành vi tốt không phải là
được trau dồi như một tính cách; hành vi tốt phải là
sản phẩm phụ của việc có ý thức nhiều hơn của bạn.
Phật giáo không nhấn mạnh vào tính cách mà vào
tâm thức - đó là đóng góp lớn nhất cho nhân loại và
tiến hoá của nhân loại.
( còn Nữa )
Dhammapada
CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT
¨
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG
ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG
Tập 2 ( tiếp theo )
Câu hỏi :
Thưa Thầy kính yêu,
Hiểu biết của tôi về bản thân tôi là ở chỗ mọi việc
làm của tôi đều nảy sinh từ ham muốn trao đổi.
Ngay cả ý nghĩ tinh tế nhất cũng là đối thoại, một
mưu tính để có kinh nghiệm của người khác và
thẩm tra sự tồn tại của tôi. Với việc nhận thức ra
rằng tôi là người duy nhất có thể kinh qua những
kinh nghiệm của mình và cho chúng sự hợp thức,
mọi việc làm không cần thiết này phải biến mất.
Nó đơn giản và hiển nhiên thế. Sao việc nhận thức
ra này không đạt tới cốt lõi bên trong nhất của
tôi?
Hiểu biết của tôi về bản thân tôi là ở chỗ mọi việc
làm của tôi đều nảy sinh từ ham muốn trao đổi.
Ngay cả ý nghĩ tinh tế nhất cũng là đối thoại, một
mưu tính để có kinh nghiệm của người khác và
thẩm tra sự tồn tại của tôi. Với việc nhận thức ra
rằng tôi là người duy nhất có thể kinh qua những
kinh nghiệm của mình và cho chúng sự hợp thức,
mọi việc làm không cần thiết này phải biến mất.
Nó đơn giản và hiển nhiên thế. Sao việc nhận thức
ra này không đạt tới cốt lõi bên trong nhất của
tôi?
128
Prem Steven, đấy chưa phải là nhận ra đâu - nó
vẫn là thông tin đấy, nó vẫn là phỏng đoán đấy, nó vẫn
là suy nghĩ đấy; theo đường đúng, chắc chắn, theo
hướng đúng, đúng, nhưng nó chưa phải là nhận thức
- 'Nhận thức ra' là từ lớn lao. Người ta phải dùng từ
đó rất thận trọng. Bạn có thể nghĩ tới những ý tưởng
lớn lao, nhưng chúng không trở thành nhận thức của
bạn bằng việc suy nghĩ. Bạn có thể nghĩ về Thượng đế
và bạn có thể đi tới kết luận rằng Thượng đế hiện hữu,
và bạn có thể cảm thấy rằng bây giờ không có hoài
nghi gì trong tâm trí mình về sự tồn tại của Thượng đế
- dầu vậy nó vẫn không phải là nhận thức.
Nhận thức ngụ ý nhận ra chính xác - nó phải trở
thành thực tại của bạn, không phải chỉ là ý tưởng! Cho
dù một ý tưởng tốt có đó, nó vẫn cứ là ý tưởng. Ý
tưởng không thể biến đổi được bạn, và ý tưởng không
thể đạt tới chính cốt lõi của bản thể bạn. Nó vẫn còn ở
chu vi.
Mọi ý tưởng đều là ở chu vi - cũng như mọi con
sóng vẫn còn trên bề mặt. Sóng không thể đi sâu vào
trong đại dương được; không có cách nào để nó đi vào.
Tại cốt lõi sâu nhất không có sóng. Trên bề mặt bão có
thể điên cuồng, nhưng tại cốt lõi sâu nhất, đại dương
bình lặng và yên tĩnh - và bao giờ cũng vậy. Chỉ bề
mặt có thể bị rối loạn.
Mọi suy nghĩ đều là rối loạn trên chu vi của bản
thể bạn. Những ý tưởng xấu, ý tưởng tốt, tất cả đều là
ngoại vi. Mọi người có niềm tin này rằng các ý tưởng
xấu là ngoại vi và ý tưởng tốt là trung tâm - điều đó
không phải vậy. Tốt hay xấu không tạo ra khác biệt gì.
Ý tưởng là ý tưởng, và ý tưởng vẫn còn là ngoại vi.
Chỉ việc chứng kiến mới có thể ở trung tâm.
129
Cho nên điều thứ nhất là nhận thức rằng bạn vẫn
chưa nhận thức ra. Một khi điều gì đó được nhận thức
ra, nó nhất định làm biến đổi bạn - ngay lập tức nó
biến đổi bạn. Thế thì câu hỏi không thể phát sinh được:
"Nó đơn giản và hiển nhiên thế. Sao việc nhận thức
này không đạt tới cốt lõi bên trong nhất của tôi?" Cái
"sao?" này không thể có đó được. Nếu bạn nhận thức
ra điều gì đó, tính cách của bạn lập tức thay đổi. Tính
cách của bạn là cái bóng của tâm thức bạn. Một khi
tâm thức mới, toàn thể tính cách trở thành mới.
Nếu bạn hỏi tại sao, nếu bạn hỏi làm sao thay đổi,
thế thì việc nhận thức ra chỉ là ý tưởng - và đừng tin
vào ý tưởng. Chúng lừa dối bạn, chúng là những kẻ lừa
dối lớn lao, chúng là đồng tiền giả. Bạn có thể cứ tích
luỹ chúng mà tin rằng bạn đang trở nên giầu có, nhưng
một hôm bạn sẽ bị tan nát. Hối hận sẽ là lớn và khổ sẽ
lớn, bởi vì mọi lúc bạn tích luỹ những đồng tiền giả
đều đơn giản phí hoài. Và nó không thể được giành lại
- nó đã trôi qua vĩnh viễn rồi.
Điều thứ hai... bạn nói, Steven, "Hiểu biết của tôi
về bản thân tôi là ở chỗ mọi việc làm của tôi đều nảy
sinh từ ham muốn trao đổi. Ngay cả ý nghĩ tinh tế nhất
cũng là đối thoại, một mưu tính để có kinh nghiệm của
người khác và thẩm tra sự tồn tại của tôi."
Tại sao? Tại sao bạn phải muốn người khác thẩm
tra sự tồn tại của bạn, để cho sự tồn tại của bạn có tính
hợp thức? Bởi vì bạn nghi ngờ về nó, bạn ngờ vực về
sự tồn tại của bạn. Bạn thực sự không biết rằng bạn
hiện hữu; bạn biết bạn chỉ khi người khác nói bạn hiện
hữu. Bạn phụ thuộc vào ý kiến của người khác.
Nếu họ nói rằng bạn đẹp, bạn nghĩ bạn đẹp. Nếu
họ nói bạn thông minh, bạn nghĩ bạn thông minh. Do
130
đó, bạn muốn gây ấn tượng cho mọi người - bằng
thông minh của bạn, bằng cái đẹp của bạn, bằng đủ
mọi loại điều bạn muốn gây ấn tượng cho mọi người,
bởi vì nếu bạn có thể thấy cái gì đó trong mắt họ, cái
đó trở thành hợp thức cho bạn.
Đó là lí do tại sao bạn phát rồ lên khi ai đó xúc
phạm bạn, làm hỏng hình ảnh đó khi ai đó gọi bạn là
đồ ngốc; bằng không, sao bạn phải bận tâm? Đấy
không phải là việc của bạn. Nếu người đó gọi bạn là
đồ ngốc, đấy là vấn đề của người đó. Chỉ bằng việc
người đó gọi bạn là đồ ngốc, bạn đâu có trở thành đồ
ngốc. Nhưng bạn trở thành đồ ngốc, bởi vì bạn phụ
thuộc vào ý kiến của người khác.
Đó là cách chúng ta sống trong xã hội. Chúng ta
liên tục cố gắng gây ấn tượng lẫn cho nhau. Đó là lí do
tại sao chúng ta sống như nô lệ, bởi vì nếu bạn muốn
gây ấn tượng lên người khác, bạn phải theo các ý
tưởng của họ; chỉ thế thì họ mới bị ấn tượng. Bạn phải
tốt theo cách họ muốn bạn là tốt. Nếu họ là người ăn
chay, bạn cũng phải là người ăn chay, thế thì họ sẽ bị
ấn tượng - họ sẽ nói bạn là thánh nhân. Nếu họ đang
sống theo một kiểu cách sống nào đó, bạn phải sống
theo kiểu đó; chỉ thế thì họ mới thừa nhận bạn.
Bạn có thể thu được sự kính trọng chỉ nếu bạn tuân
theo các ý tưởng của họ. Đó là việc hiểu lẫn nhau rằng
bạn hỗ trợ cho ý tưởng của họ để cho họ cảm thấy
thoải mái rằng ý tưởng của họ là đúng; do đó họ là
đúng. Và thế rồi họ hỗ trợ cho bạn và họ cho bạn sự
kính trọng bởi vì bạn tuân theo ý tưởng đúng, bạn là
người đúng. Họ ca ngợi bạn, họ biểu lộ cho bạn sự tôn
kính, họ gọi bạn là thánh nhân, hiền nhân... điều đó
làm cho bạn cảm thấy vừa lòng. Điều đó làm vừa lòng
131
họ bởi vì bạn kính trọng ý thức hệ của họ, và họ bày tỏ
sự kính trọng với nhân cách của bạn. Đây là sự thu xếp
lẫn nhau. Và các bạn cả hai đều trong ảo tưởng. Bạn
hỗ trợ cho ảo hưởng của họ, họ hỗ trợ cho ảo tưởng
của bạn. Các bạn là đối tác trong cùng một việc gây ảo
giác.
Sao người ta muốn được người khác thẩm tra, làm
hợp thức? Nếu bạn biết về cái riêng của mình, nếu bạn
đã kinh nghiệm bản thể của bạn và cái đẹp của nó và
vui vẻ của nó và sự vĩ đại của nó và vinh quang của
nó, ai thèm để ý tới điều người khác nói?
Phật đi qua một làng, và mọi người của làng đó
chống đối Phật nhiều lắm. Tại sao họ chống Phật? -
bởi vì Phật được sinh ra tại làng đó, ông ấy đã sống tại
làng đó trong nhiều năm, và dân làng không thể tin
được rằng một người đã được sinh ra trong số họ đã
trở nên chứng ngộ. Điều đó làm khó chịu cho bản ngã
của họ!
Đó là lí do tại sao Jesus nói: Nhà tiên tri không
được kính trọng, không được yêu mến, bởi những
người riêng của mình. Bản thân Jesus đã bị tống ra
khỏi nơi sinh của mình. Chỉ mỗi một lần ông ấy đi -
sau đó ông ấy đã trở nên chứng ngộ, ông ấy đã đi chỉ
một lần. Và mọi người cứ phát rồ lên bởi khẳng định
của ông ấy, "Ta đã nhận thức ra, ta là Con của Thượng
đế," đến mức họ bắt ông ấy lên núi để ném ông ấy
xuống núi. Họ muốn giết chết ông ấy. Bằng cách nào
đó ông ấy phải trốn khỏi nanh vuốt của họ, khỏi tay
họ. Và ông ấy chưa bao giờ quay chỗ đó.
132
Phật đã đi qua làng đó nơi ông ấy đã được sinh ra,
chỉ ở đâu đó ngay biên giới giữa Ấn Độ và Nepal, và
mọi người đã tụ tập và bắt đầu sỉ nhục ông ấy, lăng mạ
ông ấy, gọi ông ấy bằng đủ thứ tên. Và ông ấy im lặng
lắng nghe suốt nửa giờ, và rồi ông ấy nói, "Trời sắp
nóng lên rồi và ta phải đi sang làng bên, mọi người
đang đợi ta. Ta không thể dành thêm thời gian cho các
ông lần này. Nếu các ông có thêm cái gì nữa để nói với
ta, xin đợi. Khi ta quay lại, thế thì ta sẽ có thêm chút
thời gian nữa. Các ông có thể tụ tập, và các ông có thể
trao đổi bất kì cái gì các ông muốn trao đổi. Nhưng lần
này ta xin lỗi. Ta phải đi đây."
Bình thản thế, bình tĩnh thế, và họ thực sự gọi ông
ấy bằng những cái tên bẩn thỉu. Họ không thể tin được
vào mắt mình. Họ nói, "Chúng tôi không nói điều gì
với ông đâu - chúng tôi đang sỉ nhục ông đấy, chúng
tôi đang lăng mạ ông đấy! Ông không thể hiểu được
điều chúng tôi đang nói sao?"
Phật nói, "Ta có thể nghe thấy, ta có thể hiểu mọi
điều mà các ông đang nói - nhưng đó không phải là
vấn đề của ta! Nếu các ông giận, đó là vấn đề của các
ông. Can thiệp vào cuộc sống của các ông không phải
là việc của ta. Nếu các ông muốn giận, nếu các ông
thích điều đó, cứ tận hưởng đi! Nhưng ta không định
nhận bất kì điều vô nghĩa nào từ các ông.
"Thực ra, các ông đã tới chậm chút ít rồi. Nếu như
các ông thực sự muốn ta bị rối loạn, các ông đáng phải
tới từ mười năm trước đây. Thế thì ta đã thực sự giận
các ông lắm. Ta sẽ phản ứng, ta sẽ đánh các ông!
Nhưng bây giờ, nhận biết lớn lao đã xảy ra là bản thể
ta không phụ thuộc vào ý kiến của người khác. Điều
các ông nghĩ về ta chỉ biểu lộ cái gì đó về các ông, chứ
133
không về ta! Ta biết bản thân ta; do đó ta không phụ
thuộc vào ý kiến của bất kì ai về ta. Những người dốt
nát về bản thân họ, họ phải phụ thuộc vào người khác."
Steven, toàn thể tâm trí này về việc trao đổi với
mọi người trong nỗ lực để được họ thẩm tra đơn giản
chỉ ra bóng tối sâu sắc bên trong; bằng không, không
có nhu cầu. Và tôi không nói rằng khi một người trở
nên tràn đầy ánh sáng, người đó dừng việc trao đổi -
không. Chỉ người đó mới có thể trao đổi được, bởi vì
người đó có cái gì đó để trao đổi. Bạn có gì để trao
đổi? Cái gì có đó mà bạn có thể chia sẻ với mọi người?
Bạn là kẻ ăn xin, bạn đang ăn xin. Khi bạn muốn được
thẩm tra, được làm hợp thức, được xác nhận, bạn đang
ăn xin đấy. Bạn đang bảo họ, "Xin nói điều gì đó tốt
cho tôi đi, điều gì đó hay vào, để cho tôi có thể cảm
thấy hay về bản thân tôi. Tôi đang cảm thấy rất chán
nản, tôi đang cảm thấy rất vô giá trị - cho tôi cái gì đó
có giá trị! làm cho tôi cảm thấy có ý nghĩa." Bạn đang
ăn xin đấy, điều đó đâu phải là trao đổi.
Trao đổi là có thể chỉ khi bài ca đã bật tung ra từ
bản thể bạn, khi vui vẻ đã nảy sinh, khi phúc lạc đã
được kinh nghiệm - thế thì bạn có thể chia sẻ được.
Thế thì không chỉ trao đổi, không chỉ trao đổi bằng lời,
mà ở mức độ sâu sắc hơn nhiều, giao cảm cũng bắt đầu
xảy ra. Nhưng thế thì bạn không là kẻ ăn xin, bạn là
hoàng đế.
Chỉ chư phật mới có thể giao cảm và trao đổi.
Những người khác chẳng có gì để nói, chẳng có gì để
cho. Thực ra, điều bạn đang làm trong khi bạn nói với
mọi người… và mọi người đang liên tục nói, tán gẫu
huyên thuyên, nếu không nói ra, cũng là trong tâm trí
134
của họ - cũng như bạn nói rằng sâu trong tâm trí mình
bạn cũng đang nói với ai đó, người tưởng tượng nào
đó... Bạn đang nói điều gì đó từ phía bạn, và bạn cũng
đang trả lời từ phía bên kia; tán gẫu, đối thoại liên tục
bên trong bạn.
Đây là trạng thái của không lành mạnh. Tôi sẽ
không gọi nó là trạng thái điên khùng mà là không
lành mạnh. Toàn thể nhân loại tồn tại trong trạng thái
không lành mạnh. Người điên khùng đã vượt ra bên
ngoài biên giới bình thường. Người không lành mạnh
cũng là điên khùng nhưng bên trong các giới hạn.
Người đó vẫn còn điên khùng bên trong, nhưng bên
ngoài người đó cứ hành xử theo cách lành mạnh. Cho
nên với người đó tôi có từ này 'không lành mạnh'.
Lành mạnh xảy ra chỉ khi bạn trở thành im lặng
toàn bộ đến mức mọi việc tán gẫu bên trong đều biến
mất. Khi tâm trí không còn nữa, bạn lành mạnh. Tâm
trí là không lành mạnh - đó là điên khùng thông
thường, hay điên khùng - điều có nghĩa là điên khùng
bất thường. Vô trí là lành mạnh. Và trong vô trí bạn
hiểu, bạn nhận thức, không chỉ về sự hiện hữu riêng
của mình mà về sự hiện hữu - chính sự hiện hữu - của
sự tồn tại. Thế thì bạn có cái gì đó để chia sẻ, để trao
đổi, để nhảy múa, để mở hội.
Trước đó, đấy là nỗ lực vô vọng để bằng cách nào
đó thu thập hình ảnh của bản thân bạn từ ý kiến của
những người khác. Và hình ảnh của bạn sẽ vẫn còn là
đống lộn xộn bởi vì bạn sẽ thu thập ý kiến từ nhiều
nguồn thế - chúng sẽ vẫn còn mâu thuẫn.
Người này nghĩ bạn xấu, ghét bạn, không thích
bạn; người khác nghĩ bạn đẹp, duyên dáng đến mức
không ai có thể so sánh được với bạn - bạn vô song.
135
Bây giờ bạn sẽ định làm gì với hai ý kiến này? Bạn
không biết mình là ai; bây giờ hai ý kiến có đó - làm
sao bạn có thể đánh giá cái nào đúng? Bạn thích ý kiến
đúng nói bạn đẹp; bạn không thích ý kiến nói rằng bạn
xấu. Nhưng đấy không phải là vấn đề thích hay không
thích. Bạn không thể điếc với ý kiến kia được, cái đó
nữa cũng có đó. Bạn có thể kìm nén nó trong vô thức,
nhưng nó sẽ vẫn còn ở đó.
Bạn sẽ thu thập các ý kiến từ bố mẹ mình, từ gia
đình mình, từ hàng xóm mình, từ những người bạn làm
việc cùng, từ thầy giáo, từ tu sĩ... cả nghìn ý kiến la hét
bên trong bạn. Và đây là cách bạn đang tạo ra hình ảnh
của bản thân mình. Nó sẽ là một đống lộn xộn. Nó sẽ
không có khuôn mặt nào, hình dạng nào, nó sẽ là hỗn
độn. Đó là cách mọi người đang hiện hữu, hỗn độn.
Không trật tự là có thể, bởi vì chính trung tâm bị mất,
cái có thể tạo ra trật tự.
Trung tâm đó tôi gọi là nhận biết, thiền - aes
dhammo sanantano. Đây là luật không cạn, luật tối
thượng, rằng chỉ những người đã trở nên nhận biết mới
biết họ là ai. Và khi họ biết, không ai có thể lay
chuyển được việc biết của họ. Không ai có thể làm
được! Toàn thế giới có thể nói một điều, nhưng nếu
bạn biết, nếu bạn đã nhận ra bản thân mình, điều đó
không thành vấn đề.
Cả thế giới đều nói rằng Jesus điên. Cái ngày ông
ấy bị đóng đinh, không có lấy một người... cả nghìn
người đã tụ tập - không người nào bênh vực ông ấy.
Tất cả đều nghĩ ông ấy điên.
Vào thời đó đã thành tục lệ là vào ngày nghỉ đặc
biệt thì một kẻ tội phạm có thể được tha. Hôm đó là
ngày nghỉ và ba người đã bị đóng đinh: hai kẻ cắp và
136
Jesus. Pontius Pilate đã hỏi mọi người, "Chúng ta có
thể tha thứ cho một trong ba người này. Các vị muốn
người nào được tha thứ?" Ông ta cứ tưởng rằng họ sẽ
đòi hỏi Jesus được tha, nhưng họ đã không đòi hỏi cho
Jesus. Họ đã đòi hỏi tha cho một kẻ cắp - không phải
Jesus mà là kẻ cắp, kẻ cắp nổi tiếng - cả thành phố đều
biết người đó. Nhưng họ đã không thể tha thứ cho con
người hồn nhiên Jesus. Tại sao?
Nhưng Jesus không run. Cả thế giới có thể chống
ông ấy; ông ấy biết Thượng đế là cùng ông ấy. Ông ấy
chết với tâm trí bình thản và yên tĩnh, không bị phân
tán, với lời cầu nguyện trên môi - lời cầu nguyện duy
nhất. Lời nói cuối cùng của Jesus là: "Cha ơi, xin tha
thứ cho họ, bởi vì họ không biết họ đang làm gì.
Amen...." Tha thứ cho họ, vì họ không biết họ đang
làm gì! Họ đang đóng đinh ông ấy, nhưng trái tim ông
ấy đầy từ bi với tất cả những người đó.
Khi bạn biết, bạn biết một cách tuyệt đối thế. Khi
nhận thức xảy ra, nó tối thượng tới mức cho dù cả thế
giới chống điều đó, không tạo ra khác biệt gì cả. Bạn
không cần bất kì sự hợp thức nào từ bất kì ai khác.
( Còn nữa )
Dhammapada
CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT
¨
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG
ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG
Tập 2 ( tiếp theo )
5
Trong rác của lề đường
Hương của đàn hương,
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
Hương của đức hạnh
cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên,
của sen xanh, hay nhài!
Hương của đàn hương hay đỗ quyên
không đi xa.
nhưng hương của đức hạnh
bay lên trời.
150
Ham muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường
của người đức hạnh và thức tỉnh.
Sáng dạ làm cho họ tự do.
Hoa sen mọc duyên dáng làm sao
trong rác rưởi của lề đường.
Hương thuần khiết của nó làm thích thú trái tim.
Đi theo người đã thức tỉnh
và từ trong những người mù
ánh sáng của trí huệ của bạn
sẽ chiếu sáng hoàn toàn bên ngoài.
Con người không phải là hiện hữu mà chỉ là sự trở
thành. Con người là quá trình, sự trưởng thành, khả
năng, tiềm năng. Còn người vẫn chưa là thực tại. Con
người phải hiện hữu, con người phải đạt tới. Con
người được sinh ra không phải như điều bản chất mà
chỉ như sự tồn tại... một không gian lớn nơi nhiều điều
có thể xảy ra, hay chẳng cái gì có thể xảy ra - mọi điều
đó đều phụ thuộc vào bạn.
Con người phải tạo ra bản thân mình. Con người
không phải là thứ đã được làm sẵn, con người không
được cho sẵn. Và việc sáng tạo phải là tự sáng tạo -
không ai khác có thể làm ra bạn được. Bạn không phải
là một vật, một thứ hàng hoá; bạn không thể được sản
xuất hay chế tạo. Bạn phải tự tạo ra bản thân mình, bạn
phải trở thành được thực tỉnh về phần riêng của mình,
không ai có thể đánh thức bạn dậy được.
151
Đây là cao thượng của con người, vinh quang của
con người, rằng con người là sinh linh duy nhất trên
trái đất, không chỉ là sinh linh mà còn là tự do để hiện
hữu. Mọi sinh linh khác đều đã bị cố định, theo hình
mẫu. Chúng đem theo bản thiết kế tổng thể, và chúng
đơn giản tuân theo bản thiết kế đó. Vẹt sẽ trở thành
vẹt, chó sẽ trở thành chó, sư tử sẽ trở thành sư tử;
không có chuyện sư tử là ai đó khác. Nhưng với con
người điều liên quan là hỏi liệu người đó có thực sự là
con người không.
Từng con sư tử đều thực sự là sư tử, và từng con
voi cũng là con voi, nhưng con người là dấu chấm hỏi.
Con người có thể là con người, có thể không. Con
người có thể rơi xuống thấp hơn con vật, và con người
có thể vươn cao trên các thần. Trạng thái tối thượng
trên các thần đó là phật tính - thức tỉnh, thức tỉnh tối
thượng, việc nhận ra tiềm năng của bạn trong tính toàn
bộ của nó.
Vị phật ở trên các thần. Đây là một trong những lí
do mà người Hindus đã không thể dung thứ được Phật
Gautama, bởi vì ông ấy nói rằng phật ở trên các thần.
Các thần cũng ngủ; tất nhiên, mơ của họ đẹp, mơ của
họ không phải là ác mộng; họ sống trên cõi trời. Các
kiếp sống của họ chỉ toàn hoan lạc. Cõi trời không là
gì ngoài chủ nghĩa khoái lạc thuần tuý, chính ý tưởng
là khoái lạc. Địa ngục là chính cái đối lập. Địa ngục là
đau đớn, cõi trời là hoan lạc; địa ngục là ác mộng, cõi
trời là mơ dịu ngọt. Nhưng mơ là mơ; dù dịu ngọt hay
cay đắng, không thành vấn đề gì.
Các thần cũng ngủ và mơ những giấc mơ đẹp. Vị
phật thức tỉnh, ông ấy không còn mơ nữa. Kinh sách
Phật giáo nói: Ngày Siddhartha Gautam trở thành phật
152
các thần từ trên trời tới để tôn sùng ông ấy, để rửa
chân ông ấy. Người Hindus không thể tha thứ được ý
tưởng này, bởi vì với họ các thần ở trên cõi trời - Indra
và các thần khác - đều là tối cao nhất rồi. Và nhìn vào
cao ngạo của Phật tử, những người nói các thần từ cõi
trời tới để rửa chân cho một người.
Phật giáo đã nâng nhân loại lên đỉnh cao nhất của
nó. Không tôn giáo nào khác đã làm điều đó. Con
người trở thành trung tâm của sự tồn tại. Thượng đế
không phải là trung tâm của sự tồn tại, theo Phật, mà
chính là người đã trở nên chứng ngộ. Ngoại vi bao
gồm những người ngủ và mù, và trung tâm bao gồm
những người có mắt, người đã thức tỉnh. Thượng đế
đơn giản bị loại bỏ đi; họ không còn liên quan nữa.
Điều Nietzsche đã làm hai nghìn năm sau, Phật đã làm
rồi.
Một nhà thơ lớn, Chandidas, rất bị ấn tượng bởi
Phật Gautam - và ai không bị ấn tượng bởi con người
này được? Ông ấy đã nói: Sabar upar manus satya,
tahar upar nahin - chân lí của con người là chân lí cao
nhất, không có chân lí nào khác cao hơn cái đó. Nhưng
để tôi nhắc bạn lần nữa: khi Phật nói về con người,
ông ấy nói về người đã chứng ngộ, không về bạn - bạn
chỉ đang trên đường thôi, bạn chỉ đang trong quá trình.
Bạn là hạt mầm.
Hạt mầm có thể có bốn khả năng. Hạt mầm có thể
vẫn còn là hạt mầm mãi mãi, khép kín, không cửa sổ,
không trong giao cảm với sự tồn tại, chết, bởi vì sống
có nghĩa là giao cảm với sự tồn tại. Hạt mầm là chết,
nó chưa được trao đổi với đất, với trời, với khí, với
gió, với mặt trời, với các vì sao. Nó chưa làm nỗ lực
nào để có đối thoại với tất những cái đang tồn tại. Nó
153
hoàn toàn đơn độc, bị bao vây, bị gói gọn trong bản
thân nó, bị bao quanh bởi Trường Thành Trung Quốc.
Hạt mầm sống trong nấm mồ riêng của nó.
Khả năng thứ nhất là ở chỗ hạt mầm có thể vẫn
còn là hạt mầm. Điều đó là rất không may mắn - con
người có thể vẫn còn đơn giản là hạt mầm. Với mọi
tiềm năng có trong tay bạn, với mọi phúc lành sẵn
sàng mưa rào lên bạn, bạn có thể chẳng bao giờ mở ra
cánh cửa của mình.
Khả năng thứ hai là ở chỗ hạt mầm có thể đủ dũng
cảm, có thể chìm sâu vào trong đất, có thể chết đi như
một bản ngã, có thể vứt bỏ lớp áo giáp của nó, có thể
bắt đầu giao cảm với sự tồn tại, có thể trở thành một
với đất. Dũng cảm lớn được cần tới, bởi vì ai biết
được? - cái chết này có thể là tối hậu, có thể không có
việc sinh theo sau nó nữa. Cái gì là đảm bảo? Không
có đảm bảo nào cả; đó là mạo hiểm. Chỉ vài người thu
được đủ dũng cảm mới dám mạo hiểm, mới dám liều
mạng.
Làm sannyasin là việc bắt đầu của mạo hiểm. Bạn
đang mạo hiểm cuộc đời mình, bạn đang mạo hiểm
bản ngã mình. Bạn đang liều mạng bởi vì bạn đang vứt
bỏ mọi an ninh của mình, mọi thu xếp an toàn cho
mình. Bạn đang mở ra các cửa sổ... ai biết ai sẽ vào -
bạn hay thù? Ai biết? Bạn trở nên mong manh. Đó là
điều tính chất sannyas tất cả là gì. Đó là điều Phật đã
dạy trong cả đời ông ấy. Bốn mươi hai năm liên tục,
biến đổi các hạt mầm thành cây cối - đó là công việc
của ông ấy - biến đổi người thường thành sannyasins.
Sannyasin là cây, mầm mới nhú lên - mềm mại,
tinh tế. Hạt mầm chẳng bao giờ trong nguy hiểm, nhớ
lấy. Nguy hiểm gì có thể có đó cho hạt mầm? Nó được
154
bảo vệ tuyệt đối. Nhưng cây bao giờ cũng trong nguy
hiểm, cây rất mềm mại. Hạt mầm giống như hòn đá,
cứng rắn, ẩn đằng sau lớp vỏ cứng. Nhưng cây phải
trải qua cả nghìn lẻ một mối nguy. Đó là giai đoạn thứ
hai: hạt mầm tan biến vào trong đất, con người biến
mất như một bản ngã, biến mất như một cá tính, trở
thành cây.
Khả năng thứ ba, thậm chí còn hiếm hoi hơn, bởi
vì không phải mọi cây cối đều đạt tới chiều cao đó nơi
chúng có thể nở hoa, cả nghìn lẻ một hoa... Rất ít
người đạt tới giai đoạn thứ hai, và rất ít trong số những
người đã đạt tới giai đoạn hai, đạt tới giai đoạn ba, giai
đoạn của hoa. Tại sao họ không thể đạt tới giai đoạn
thứ ba, giai đoạn của hoa? Bởi vì tham lam, bởi vì keo
kiệt, họ không sẵn sàng chia sẻ… bởi vì trạng thái
không có tình yêu.
Dũng cảm là cần để trở thành cây, và tình yêu là
cần để trở thành hoa. Hoa nghĩa là cây đang mở trái
tim nó ra, toả ra hương thơm của nó, đem tặng linh
hồn nó, rót sự hiện hữu của nó vào trong sự tồn tại.
Hạt mầm có thể trở thành cây mặc dầu khó vứt vỏ áo
giáp, nhưng theo cách nào đó điều này là đơn giản. Hạt
mầm sẽ chỉ thu lấy ngày một nhiều hơn, tích luỹ ngày
một nhiều hơn; hạt mầm chỉ lấy từ đất. Cây chỉ lấy từ
nước, từ không khí, từ mặt trời; tham lam của nó
không bị quấy rối, mà ngược lại, tham vọng của nó
được hoàn thành. Nó cứ trở nên ngày một lớn hơn.
Nhưng một thời điểm tới khi bạn đã lấy quá nhiều đến
mức bây giờ bạn phải chia sẻ. Bạn đã được ích lợi
nhiều thế, bây giờ bạn phải phục vụ. Thượng đế đã cho
bạn nhiều thế, bây giờ bạn phải cám ơn, phải biết ơn
chứ - và cách duy nhất để biết ơn là làm mưa rào kho
báu của bạn xuống, cho chúng trở với sự tồn tại, hào
155
phóng như sự tồn tại đã từng hào phóng với bạn. Thế
thì cây phát triển thành hoa, nó nở hoa.
Và giai đoạn thứ tư là giai đoạn của hương thơm.
Hoa vẫn còn thô, nó vẫn còn là vật chất, nhưng hương
thơm là tinh tế, nó gần như cái gì đó phi vật chất. Bạn
không thể thấy được nó, nó là vô hình. Bạn chỉ có thể
ngửi được nó, bạn không thể nắm bắt nó, bạn không
thể ôm được nó. Chính hiểu biết nhạy cảm được cần
tới để có đối thoại với hương thơm. Và bên ngoài
hương thơm chẳng có gì cả. Hương thơm biến mất vào
trong vũ trụ, trở thành một với nó.
Đây là bốn giai đoạn của hạt mầm, và đây là bốn
giai đoạn của con người nữa. Đừng vẫn còn là hạt
mầm. Thu lấy dũng cảm - dũng cảm vứt bỏ bản ngã,
dũng cảm vứt bỏ an ninh, dũng cảm vứt bỏ an toàn,
dũng cảm là mong manh. Nhưng thế thì cũng đừng vẫn
còn là cây, bởi vì cây không hoa nghèo nàn lắm. Cây
không hoa là trống rỗng, cây không hoa là đang thiếu
đi cái gì đó rất tinh tuý. Nó không có cái đẹp - không
tình yêu không có cái đẹp. Và chỉ qua hoa mà cây mới
biểu lộ tình yêu của nó. Nó đã lấy bao nhiêu thứ từ mặt
trời và mặt trăng và từ đất rồi; bây giờ đến lúc nó cho!
Cuộc sống bao giờ cũng phải đạt tới cân bằng. Bạn
đã lấy nhiều rồi, bây giờ cho nó đi. Trở thành hoa đi!
Chỉ khi bạn trở thành hoa mới có khả năng biến mất
như hương thơm. Nhưng thế nữa, nhớ lấy, đừng vẫn
còn là đoá hoa khép kín, đừng vẫn còn là nụ; bằng
không thì hương thơm của bạn sẽ không toả ra được.
Và chừng nào hương thơm của bạn chưa toả ra, bạn
không tự do, bạn vẫn trong tù túng.
Tù túng này Phật gọi là sansara - thế giới. Và ông
ấy gọi tự do, tự do của hương thơm, là niết bàn: dừng
156
toàn bộ, biến mất, tan biến. Bộ phận biến mất vào
trong toàn thể, giọt sương tuột vào trong đại dương và
trở thành đại dương. Ngày bạn biến mất và trở thành
đại dương là ngày theo một nghĩa nào đó bạn không
còn nữa, và theo nghĩa khác bạn hiện hữu lần đầu tiên
- bạn đã đạt tới tính hiện hữu.
Tính hiện hữu này mới là tính thượng đế thực.
Tính hiện hữu này, kinh nghiệm đại dương kết tinh
này, là giải thoát, cứu rỗi, moksha, kaivalya, niết bàn.
Bạn có thể dùng bất kì từ nào bạn muốn dùng nhưng
chúng tất cả đều mang cùng một nghĩa: tự do tuyệt đối
của linh hồn, không biên giới, không giới hạn.
Lời kinh:
Hương của đàn hương,
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Hiển nhiên! Hương của đàn hương, đỗ quyên hay
nhài là một phần của thế giới vật chất. Nó chỉ có thể đi
cùng gió, không đi ngược được gió. Nó phải tuân theo
luật của vật chất. Nó là vật chất. Bởi vì nó phải tuân
theo luật của vật chất nên nó không thực sự tự do - tự
do chỉ theo nghĩa tương đối. Hương này tự do hơn hoa,
hoa tự do hơn cây, cây tự do hơn hạt mầm. Nhưng
những tự do này chỉ là tương đối, không tuyệt đối.
Và Phật nói, nhớ lấy: mục tiêu là tự do tuyệt đối,
siêu việt lên trên mọi luật. Chính chỉ trong việc siêu
việt lên trên mọi luật mà bạn sẽ trở thành một phần của
luật tối thượng: Aes dhammo sanantano. Chính chỉ
157
bằng việc siêu việt lên trên mọi giới hạn của vật chất
thô mà bạn sẽ có khả năng trở thành vô hạn như bầu
trời.
Chừng nào bạn chưa trở thành vũ trụ bạn vẫn chưa
đạt tới tiềm năng của mình. Bạn được ngụ ý trở thành
vũ trụ, và bạn đã trở thành con người nhỏ bé, bị giới
hạn, gần như bạn đang sống trong xà lim tù đày, tối
tăm và ảm đạm, không cửa ra vào, không cửa sổ, sự
tồn tại xấu xí, bị bao quanh bởi đủ mọi loại bệnh hoạn
- bản ngã, tham lam, giận dữ, thèm khát, ghen tị, sở
hữu. Đây là những bạn đồng hành của bạn. Bạn đã
kinh nghiệm hương thơm nào trong cuộc đời?
Bạn chưa biết tới tình yêu không thèm khát. Bạn
chưa biết tới bất kì trạng thái nào nơi không giới hạn
nào tồn tại. Bạn bị trói buộc vào một số luật rất thô.
Bạn là một phần của lực hút, bạn vẫn chưa biết gì về
ân huệ. Bạn cứ đi xuống mãi, bởi vì những luật hút đó
cứ kéo bạn xuống. Bạn không biết cách vươn lên, bay
bổng lên. Bạn không biết gì về bay lên cả.
Trong khoa học, họ không nói về bay lên, họ chỉ
nói về hút, kéo xuống. Nhưng đây là hiện tượng đơn
giản thế cần hiểu, rằng trong tự nhiên mọi thứ đều
được cân bằng bởi cực đối lập của nó. Nếu có lực kéo
xuống, lực hút, sẽ phải có lực kéo lên để cân bằng nó -
đó là bay lên. Theo ngôn ngữ thơ ca hơn nó được gọi
là ân huệ.
Có hai luật: luật hút, luật của đất, thô, vật chất; và
luật của ân huệ, luật thiêng liêng, điều Phật gọi là luật
thiêng liêng - aes dhammo sanantano - luật vĩnh hằng,
không cạn, luật thiêng liêng, cái kéo bạn lên.
Hương của đàn hương,
158
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Nó có những giới hạn tuyệt đối nào đó, nó chỉ có
thể cưỡi lên gió. Nó không thể có ý chí riêng của nó,
nó không thực sự tự do. Chừng nào bạn chưa thể tồn
tại trong tự do toàn bộ, cái gì đó vẫn còn thiếu. Nếu
bạn phải tuân theo luật, thế thì bạn là tù nhân. Luật có
thể cho bạn chiếc dây vừa đủ, nhưng dẫu sao bạn vẫn
cứ là tù nhân.
Đó là cách mọi sự là vậy: nếu chiếc dây vừa đủ
được trao cho bạn, bạn quên mất nhà tù. Chẳng hạn,
cái gọi là các quốc gia - Ấn Độ, Pakistan, Nhật Bản,
Đức - đây tất cả đều là những nhà tù lớn, nhưng chúng
lớn tới mức bạn không thể thấy được biên giới nhà tù
của mình. Đi ngang qua biên giới quốc gia mình và
bạn sẽ thấy rằng mình quả là tù nhân. Nhưng nhà tù đủ
lớn; bạn có thể đi trong nhà tù này tới bất kì chỗ nào
bạn muốn. Nhưng cứ bước ra khỏi nhà tù này, thử đi
vào nhà tù khác mà xem, và thế thì bạn sẽ thấy giới
hạn.
Đây là những nhà tù nhân tạo; đủ lớn đến mức
chúng có thể cho bạn cảm giác giả tạo về tự do, nhưng
không có tự do. Chừng nào mọi quốc gia chưa biến
mất khỏi thế giới, trái đất sẽ vẫn còn là nô lệ, nhân loại
sẽ vẫn còn trong tù, nhỏ hay lớn. Nhưng không khác
biệt gì việc nhà tù rất lớn và bạn không thể nào thấy
được bức tường bao quanh nó... Bức tường có thể rất
tinh vi - về hộ chiếu hay visa - bức tường có thể rất
tinh vi, bạn có thể không thấy chúng, nhưng chúng có
đó. Bạn không được tự do di chuyển.
159
Gần như mọi hiến pháp của thế giới đều nói rằng
tự do di chuyển là quyền tập ấm của mọi người, nhưng
điều đó chỉ được viết trong sách vở, điều đó là không
đúng. Bạn không thể di chuyển tự do được. Nếu bạn
muốn sang Nga, không thể được; nếu bạn muốn vào
Trung Quốc, không thể được.
Các quốc gia đã trở thành những nhà tù lớn thế, và
các tổng thống của bạn và cái gọi là các thủ tướng của
bạn tất cả đều không là gì khác hơn các cai tù. Những
người vẫn nói về tự do không là gì khác hơn cảnh sát.
Họ nói họ đang canh gác cho sự an toàn riêng của bạn,
nhưng thực ra họ là cai tù đang theo dõi để bạn không
thể trốn thoát được.
Tôi đã nghe:
Một ông già Nga sắp chết, và ông ấy nghe tiếng gõ
trên cửa. Ông ấy hỏi, "Ai đấy?"
Và một giọng nói rất ma quỉ cất lên, "Thần chết."
Ông già Nga nói, "Cám ơn Thượng đế! Tôi cứ
tưởng đấy là cảnh sát chìm."
Và có những nhà tù bên trong nhà tù kiểu như cái
hộp Trung Quốc - hộp bên trong hộp... Ấn Độ là một
nhà tù lớn; thế rồi có người Hindus và người Mô ha
mét giáo và người Ki tô giáo và người Sikhs và người
Jainas và Phật tử - bây giờ đây là những nhà tù nhỏ.
Người Ki tô giáo có thể đi nhà thờ, người đó không thể
tới đền thờ được; người Hindu có thể tới đền thờ,
người đó không thể tới nhà thờ. Người đó đã được dạy
và được ước định rằng nhà thờ không phải là chỗ có
160
tính tôn giáo; người Ki tô giáo đã được bảo rằng nhà
thờ là chỗ đúng duy nhất để tới - mọi tôn giáo khác
đều là sai, và mọi tôn giáo khác đều dẫn bạn đi lạc lối.
Chừng nào bạn chưa là người Ki tô giáo bạn không thể
được cứu. Và thế rồi trong Ki tô giáo có Cơ đốc giáo
và Tin lành, và trong Tin lành và Cơ đốc giáo có
những giáo phái con ngày một nhỏ hơn. Và nhà tù trở
thành ngày một nhỏ hơn.
Rồi có các nhà tù chính trị: ai đó là người cộng sản
và ai đó là người xã hội, và ai đó là người tư bản... vân
vân và vân vân. Và bạn không thoả mãn ngay cả với
những điều này: thế rồi bạn làm ra câu lạc bộ Rotary,
câu lạc bộ Lions... Khát khao của bạn để là tù nhân
mạnh tới mức bạn không thể đơn giản là một con
người được. Bạn phải là một người của Rotary và bạn
tự hào tuyên bố, "Tôi là người của Rotary,"
"Tôi là người của Lion." Bạn không được thoả
mãn với việc đơn giản là một con người, bạn phải là
người của Lion. Và thế rồi có những ngăn còn nhỏ hơn
nữa.
Thay vì chui ra khỏi những xà lim nhà tù này,
chúng ta cứ trang hoàng cho chúng, chúng ta cứ làm
cho chúng ngày một tiện nghi hơn. Chúng ta đang
sống dưới luật hút, chúng ta đang sống như tù nhân.
Chúng ta không thể đi ngược chiều gió được - cuộc
sống chúng ta là thô. Phật nói: nhận biết về điều đó:
ông đang làm gì với cuộc sống của ông? Cân nhắc lại,
thiền về nó, điều bạn đã làm cho bản thân mình.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
161
Phật nói: Nhưng có việc nở hoa của bản thể bên
trong của bạn, cái đẹp hơn cả đàn hương, đỗ quyên hay
nhài. Cái đẹp của nó là tự do tuyệt đối của nó. Nó có
thể đi ngược chiều gió. Người đức hạnh thực sự sống
trong tự do; người đó không tuân theo điều răn dạy
nào, người đó không tuân theo kinh sách nào, người đó
không tuân theo bất kì ai khác ngoài ánh sáng bên
trong riêng của mình. Người đó sống theo trái tim của
mình - người đó là người nổi dậy.
Nhưng Phật đang nói về hương của đức hạnh thật.
Ông ấy không nói về cái gọi là chính đáng, ông ấy
không nói về cái gọi là "con người có cá tính", cái gọi
là các thánh nhân và mahatma của bạn - ông ấy không
nói về họ. Họ không phải là người tự do. Thực ra,
hương của đàn hương, đỗ quyên và nhài còn tự do hơn
nhiều cái gọi là các thánh nhân của bạn. Họ sống theo
các luật nhân tạo. Hương của đàn hương, hương của
các loại hoa, ít nhất cũng tuân theo các luật của tự
nhiên. Nhưng các thánh nhân của bạn, cái gọi là những
người đức hạnh của bạn, họ tuân theo luật nhân tạo -
luật do những kẻ mù làm ra, luật do những người dốt
nát làm ra, luật do những người chưa thức tỉnh làm ra,
những người không biết gì về nhận biết cả.
Ai làm ra luật của bạn? Ai làm ra Hiến pháp của
bạn? Ai chịu trách nhiệm cai quản xã hội và thu xếp và
quản lí xã hội? Chính những người mù như bạn, có thể
có học hơn, có thể có hiểu biết hơn. Nhưng không có
gì khác biệt liệu người mù có hiểu biết hơn về ánh
sáng hay ít hiểu biết hơn về ánh sáng - người mù là
người mù. Quan sát các thánh nhân của bạn mà xem,
và bạn sẽ ngạc nhiên! - họ sống tù túng sâu hơn nhiều
so với người thường.
162
Một sư Jaina muốn tới gặp tôi. Ông ta gửi một
thông điệp rằng ông ta đã từng khao khát gặp tôi trong
nhiều năm, và bây giờ ông ấy ở trong thành phố này và
ông ấy muốn gặp tôi. Nhưng các tín đồ của ông ấy
không cho phép ông ấy, người Jainas không cho phép
ông ấy tới công xã này. Bây giờ người này là loại
thánh nhân gì mà các tín đồ quyết định được nơi ông
ấy phải đi và nơi ông ấy phải không đi? Nhưng có thu
xếp lẫn nhau: các tín đồ gọi ông ấy là thánh nhân, họ
tôn thờ ông ấy, bây giờ ông ấy phải nhân nhượng, thoả
hiệp. Ông ấy phải theo các tín đồ.
Cái gọi là các thánh nhân và người lãnh đạo của
bạn đều là tín đồ của các tín đồ của riêng họ. Đó là
một thế giới ngu xuẩn thế, nực cười thế, toàn thể tình
huống này. Trên bề mặt dường như là các thánh nhân
là nhân tố quyết định; ông ấy cho mọi người lời
khuyên để theo ông ấy. Nhưng nếu bạn nhìn sâu xuống
dưới, bạn sẽ ngạc nhiên - ông thánh này đang tuân theo
các tín đồ riêng của mình. Thực ra, họ quyết định. Và
họ có quyền lực quyết định bởi vì họ có thể tôn thờ
bạn và họ có thể sỉ nhục bạn. Họ có thể tôn thờ bạn
nếu bạn theo họ, nếu bạn đi theo các ý tưởng, định
kiến mà họ đang mang trong tâm trí họ; bằng không
bạn không còn là thánh nhân nữa. Họ có thể hạ bệ bạn
- họ có quyền đưa bạn lên tới bậc thánh hay hạ bệ bạn
xuống thành tội nhân. Nếu bạn muốn là thánh nhân
bạn phải tuân theo đủ mọi loại ngu xuẩn. Bạn có thể
biết sâu bên dưới rằng điều này là ngu xuẩn.
Tôi đã gửi cho ông ấy một thông điệp nói, "Điều
này là ngu xuẩn, lố bịch! Sao ông phải hỏi tín đồ của
ông? Tín đồ là ai, ông hay họ? Sao ông phải hỏi họ?"
163
Ông ấy nói, "Thầy phải đấy, nhưng tôi phải phụ
thuộc vào họ. Vào tuổi tôi đây, tôi không thể rời bỏ
được họ bởi vì tôi chưa bao giờ làm việc trong đời
mình. Tôi bị phụ thuộc vào họ từ thức ăn, quần áo, mọi
thứ."
Bây giờ bạn thấy thu xếp đấy. Điều này được gọi
là tâm linh, và việc thu xếp là tài chính!
Người đức hạnh thực sự chắc chắn tự do, và tự do
tới mức người đó có thể đi ngược chiều gió, người đó
có thể đi ngược toàn thể xã hội, người đó có thể đi
ngược toàn thể quá khứ, người đó có thể đi ngược mọi
tập tục. Thực ra người đó làm vậy - bởi vì đi ngược
mọi tập tục và quá khứ chết người đó xác nhận tự do
của mình.
Chính bởi vì điều này mà tôi bị kết án trên khắp
nước này và bây giờ, dần dần trên khắp thế giới. Lí do
duy nhất là ở chỗ họ muốn tôi đi cùng chiều gió, họ
muốn tôi chính thống, theo tập tục. Họ sẵn sàng tôn
thờ tôi, họ đã nhiều lần tới tôi nói rằng nếu tôi có thể
đơn giản tuân theo tôn giáo truyền thống thì họ sẽ tôn
thờ tôi như thánh nhân. Tôi nói, "Tôi không quan tâm
tới việc được tôn thờ hay là thánh nhân. Tôi đơn giản
muốn là bản thân mình. Và tôi không định thoả hiệp
với bất kì ai, dù người đó là ai. Thoả hiệp không phải
là cách thức của tôi."
Bởi vì tôi đi ngược chiều gió nên họ bực mình
lắm. Nhưng nếu bạn mà đức hạnh... và đức hạnh là gì?
Nó không phải là cá tính nào đó được trau dồi từ bên
ngoài. Đức hạnh là hương thơm của tính thiền, đức
hạnh là hương thơm của hoa của thiền; do đó, tôi nói
nó không phải là ngay thẳng đạo đức, nó không là đạo
đức.
164
Tôi đã nghe:
Gái điếm thành phố ở Jerusalem bị ném đá. Khi
Jesus nói, "Để ai trong số các vị không có tội lỗi nào
ném hòn đá đầu tiên," một bà già lẩy bẩy mang một
hòn đá lớn, thả nó vào đầu gái điếm và lên tiếng chê
bai con mụ dâm đãng.
Jesus nhìn xuống và nói, "Bà biết đấy, thưa mẹ,
đôi khi bà thực sự làm tôi bực mình."
Người ngay thẳng, người đạo đức, người khắt khe
đạo đức bao giờ cũng sẵn sàng... thực ra toàn thể vui
vẻ của người đó là làm sao lên án, làm sao tống ngày
một nhiều người xuống địa ngục, làm sao đóng đinh
mọi người, làm sao giết và phá huỷ. Người đó thực sự
khổ sở, người đó thực sự là tự bạo, người đó thực sự
trải qua đủ mọi loại khổ hạnh ngu xuẩn, chỉ để tận
hưởng cảm giác của tính cao siêu, cảm giác của việc
đạo đức hơn người khác, cảm giác rằng "Các ông tất
cả đều là tội nhân còn ta đây là thánh nhân."
Vị thánh thực có phẩm chất hoàn toàn khác. Ông
ấy không đạo đức; ông ấy biết cách tha thứ, bởi vì ông
ấy biết Thượng đế đã tha thứ cho ông ấy nhiều thế.
Ông ấy biết những giới hạn của con người, bởi vì bản
thân ông ấy đã chịu đựng qua những giới hạn con
người đó. Ông ấy có thể tha thứ. Ông ấy hiểu biết.
Người đạo đức không bao giờ hiểu, người đó
không bao giờ tha thứ; người đó không thể tha thứ
được bởi vì người đó đã từng hà khắc với bản thân
mình. Người đó đã đạt tới cái gọi là tính cách của mình
với những khó khăn đến mức vui vẻ duy nhất, thoải
165
mái duy nhất người đó có thể có được là ở việc đạo
đức hơn bạn. Làm sao người đó có thể tha thứ được?
Nếu người đó tha thứ thế thì người đó không thể tận
hưởng cuộc hành trình bản ngã mà người đó đang đi.
Người khổ hạnh là người bản ngã nhất trên thế
giới. Người đức hạnh không phải là người khổ hạnh.
Câu chuyện này được kể về bản thân Phật:
Trong sáu năm khi ông ấy rời bỏ cung điện của
mình ông ấy đã sống qua những cách khổ hạnh lớn lao
- đó là cách thức truyền thống của việc tìm kiếm chân
lí. Ông ấy đã hành hạ thân thể mình, ông ấy nhịn ăn,
ông ấy nhịn ăn tới mức tương truyền ông ấy trở nên
gầy còm giơ xương; bạn có thể đếm được các xương
sườn của ông ấy. Ông ấy trở thành khẳng khiu đến
mức dạ dầy ông ấy dính lưng - chẳng có gì còn giữa dạ
dày và lưng cả. Ông ấy trở nên yếu đến mức ông ấy
không thể vượt qua được con sông nhỏ, sông
Niranjana. Tôi đã từng tới chỗ đó để xem. Sông
Niranjana là con sông nhỏ, và lúc đó không phải là
mùa mưa, nhưng ông ấy đã không thể vượt qua sông
được, ông ấy không thể bơi qua sông được. Ông ấy
phải cực kì yếu.
Hôm đó, một khải lộ lớn lao đã xảy ra cho ông ấy:
"Mình đã làm những việc bạo hành không cần thiết
cho bản thân mình." Ông ấy có năm tín đồ; họ tất cả
đều là người khổ hạnh và họ đã trở thành tín đồ của
Phật bởi vì ông ấy đi xa trước họ. Họ chỉ có thể làm
chừng đó, nhưng ông ấy đã làm nhiều lần hơn; do đó
họ mới là tín đồ. Tối hôm đó Phật quyết định, "Hành
hạ thân thể là ngu xuẩn, và làm sao các ông đạt tới
166
được linh hồn bằng việc hành hạ thân thể? Dường như
chẳng có mối quan hệ logic nào." Và ông ấy thấy,
"Nếu ta thậm chí không thể vượt qua được con sông
này, con sông Niranjana bé tẹo, làm sao ta vượt qua
được đại dương thế giới khổng lồ này? Thân thể cần
thức ăn, thân thể cần nuôi dưỡng, thân thể cần sức
mạnh, để cho ta có thể thiền, để cho ta có thể suy tư,
để cho ta có thể truy tìm, với y mê, nhiệt tình, nghị
lực."
Ông ấy quyết định vứt bỏ mọi khổ hạnh. Năm tín
đồ của ông ấy lập tức rời bỏ ông ấy. Họ nói, "Gautam
đã sa ngã khỏi trạng thái thiêng liêng của ông ấy, ông
ấy không còn là thánh nhân nữa." Họ bỏ ông ấy ngay
lập tức; họ không ở cùng ông ấy nữa. Họ đã ở với ông
ấy chỉ vì phong cách sống tự bạo của ông ấy - bản thân
họ cũng phải là những kẻ tự bạo.
Và Phật Gautam đã trở nên chứng ngộ ngày hôm
sau. Vứt bỏ mọi khổ hạnh, vứt bỏ mọi xung đột bên
trong không cần thiết, cuộc nội chiến đó, ông ấy đã trở
nên yên tĩnh, im lặng tới mức sáng hôm sau ông ấy có
thể thấy, ông ấy đã trở nên cảm nhận. Trong im lặng
của mình, mọi rối loạn, mọi tán gẫu đều biến mất. Vào
sáng sớm khi mặt trời lên, ông ấy bắt đầu vươn lên bên
trong bản thể mình. Ông ấy đã thức tỉnh, ông ấy đã trở
thành vị phật.
Đức hạnh bắt nguồn từ im lặng, từ tính thiền, từ
thảnh thơi - không từ nỗ lực, không từ căng thẳng,
không từ vật lộn. Ông ấy đã đi tìm năm tín đồ cũ của
mình để cho họ thông điệp: "Đừng tự hành hạ mình
nữa. Điều này chẳng liên quan gì tới điều thiêng liêng
cả. Điều này chẳng liên quan gì tới tôn giáo cả."
167
Thiền phải xảy ra trước hết, thế rồi tính cách tới
như cái bóng của nó. Và nếu thiền không xảy ra, thế
thì tính cách của bạn chỉ là thói đạo đức giả chứ không
là gì khác. Thánh nhân của bạn là những kẻ đạo đức
giả lớn; họ nói điều này, họ nghĩ điều khác, có thể là
cái đối lập. Họ làm điều này, nhưng họ muốn làm điều
gì đó đích xác đối lập lại. Trên bề mặt họ biểu lộ điều
này, nhưng sâu bên dưới họ là chính điều tương phản
lại.
Một cô gái thú tội rằng cô ấy đã để cho bạn trai để
tay lên đầu gối mình. "Và đấy là tất cả những gì anh ta
đã làm sao?" linh mục hỏi.
"Không. Anh ấy luồn ngón tay vào dưới dây chun
si lip con nữa."
"Thế rồi sao?"
"Thế rồi anh ấy rẽ chỗ lông tơ của con và bắt đầu
mơn trớn chỗ thích thích của con."
"Rồi sao? Rồi sao?"
"Thế rồi mẹ con bước vào."
"Ô, cứt thật!" linh mục nói.
Những linh mục này, những thánh nhân này, họ
còn xấu hơn bạn nhiều, xấu hơn bạn đã từng có thể là
vậy nhiều, bởi vì họ chia chẻ nhiều hơn, phân chia
nhiều hơn. Họ bị kìm nén nhiều tới mức phần ý thức
và vô ý thức của họ đã rời nhau ra. Họ thuyết giảng
điều này, họ thực hành điều khác. Tại cửa trước nhà họ
bạn sẽ thấy người này, tại cửa sau bạn sẽ thấy một
168
người hoàn toàn khác. Bạn thậm chí sẽ không có khả
năng nhận ra được họ - họ đeo mặt nạ.
Những người này không phải là người đức hạnh.
Phật không nói về đức hạnh như vậy, ông ấy nói về
đức hạnh nảy sinh từ việc nở hoa của thiền. Phật nhấn
mạnh vào dhyan - thiền. Đó là đóng góp cơ bản của
ông ấy cho thế giới. Cách tiếp cận nền tảng nhất của
ông ấy là ở chỗ trước hết bạn phải trở nên thức tỉnh tại
trung tâm, thế rồi chu vi của bạn sẽ tràn đầy ánh sáng -
theo cách riêng của nó, không ngược lại.
Bạn đã được các linh mục bảo trước hết thực hành
tính cách, và thế rồi trung tâm của bạn sẽ thay đổi.
Điều đó là vô nghĩa. Trung tâm không bao giờ có thể
theo chu vi được, bởi vì trung tâm còn quan trọng hơn
nhiều, cơ sở hơn nhiều - nó là trung tâm, nó không thể
đi theo chu vi được. Nhưng chu vi bao giờ cũng đi
theo trung tâm. Biến đổi trung tâm đầu tiên đi, và đừng
lo nghĩ về chu vi. Đó là nhấn mạnh của tôi nữa, tại đó
tôi tuyệt đối đồng ý với Phật. Thiền trước hết, và thế
rồi tất cả những cái khác sẽ theo sau bằng cách riêng
của nó.
Jesus nói: tìm kiếm vương quốc của Thượng đế
trước, và tất cả những cái khác sẽ được thêm vào cho
ông.
Điều Jesus nói bằng "vương quốc của Thượng đế"
thì Phật nói bằng "thiền." Lời của Phật khoa học hơn
nhiều so với lời của Jesus. Jesus nhiều tính nhà thơ
hơn Phật; Jesus nói nhiều theo kiểu cách ngôn hơn
Phật. Phật nói theo cách rõ ràng, logic, toán học. Ông
ấy là người không muốn nói bất kì cái gì theo bất kì
cách nào có thể được diễn giải theo nhiều cách. Ông ấy
không muốn dùng thơ ca, bởi vì thơ ca là mơ hồ, có
169
thể có nhiều diễn giải. Ông ấy nói như nhà toán học,
ông ấy nói như nhà logic, để cho từng lời có nghĩa cố
định và hàm ý cố định.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
Hương của đức hạnh
cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên,
của sen xanh, hay nhài!
Hương của sen xanh hay nhài hay đàn hương là
thơm ngát, dịu, nhưng so với hương của đức hạnh thì
nó rất thô. Đức hạnh thực sự có hương thơm, và hương
này đi tới những góc xa xôi nhất của thế giới.
Làm sao bạn đã tới đây với tôi? Từ những góc
khác nhau của thế giới bạn đã du hành, đôi khi không
thật đích xác rõ ràng vì sao; nhưng cái gì đó đã kéo
bạn đi, lực vô hình nào đó đã làm xúc động trái tim
bạn, cái gì đó đã được cảm thấy từ cốt lõi sâu thẳm
nhất của bản thể bạn. Đôi khi bạn thậm chí đã tới
ngược với chính bản thân mình. Tâm trí của bạn nói,
"Đừng đi! Không cần đi đâu cả." Dầu vậy bạn đã tới.
Bạn phải đã ngửi thấy mùi thơm - mùi thơm này chẳng
liên quan gì tới cái thấy được. Nó là hiện tượng vô
hình.
Nhiều, nhiều người nữa sẽ sớm tới. Hương thơm
đang vươn tới họ, nhất định tới. Bất kì ai ở bất kì đâu,
người thực sự đang đi tìm chân lí đều nhất định tới.
Điều đó không thể cưỡng được, điều đó phải xảy ra.
Đó là cách nó đã xảy ra qua nhiều thời đại. Hàng nghìn
170
người đã du hành tới Phật, hàng nghìn người đã du
hành tới Mahavira, tới Lão Tử, tới Zarathustra - chẳng
bởi lí do nào cả, bởi vì bất kì điều gì họ đã nói đều có
trong kinh sách.
Điều tôi đang nói đây bạn có thể đọc trong
Bhagavadgita, trong Kinh Thánh, trong Koran, trong
Dhammapada, điều tôi đang nói bạn có thể dễ dàng
tìm thấy trong Upanishads, trong Đạo Đức Kinh -
nhưng bạn sẽ không tìm thấy hương thơm. Đấy là hoa
- cũ, chết, khô héo. Bạn có thể kẹp giữ bông hồng
trong cuốn Kinh Thánh của mình; chẳng mấy chốc nó
sẽ khô đi, hương thơm sẽ bay đi, nó sẽ chỉ là cái xác,
một kỉ niệm về hoa thực. Kinh sách cũng vậy. Chúng
được làm sống lại lần nữa bởi vị phật khác; bằng
không chúng không thể thở được.
Đó là lí do tại sao tôi đang nói về Dhammapada,
về Gita, về Kinh Thánh - để cho chúng thở lần nữa.
Tôi có thể thổi cuộc sống vào trong chúng. Tôi có thể
chia sẻ hương của tôi với chúng, tôi có thể rót hương
của tôi vào chúng. Do đó, người Ki tô giáo, người thực
sự là người Ki tô giáo, không chỉ bởi những ước định
xã hội mà bởi vì tình yêu lớn lao với Christ, người đó
sẽ thấy Christ sống lại trong lời tôi. Hay nếu ai đó là
phật tử người đó sẽ thấy trong lời tôi Phật đang nói lại
- theo ngôn ngữ của thế kỉ hai mươi, với những người
của thế kỉ hai mươi.
Hương của đức hạnh cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên, của sen xanh, hay
nhài! Nó thơm dịu thế, nó có thể đi ngược chiều gió,
nó có thể đi ngược mọi luật. Nó có thể đi ngược lực
hút, nó có thể vươn lên cao, nó có thể đạt tới những
bầu trời cao nhất.
( còn nữa )
Trong rác của lề đường
Hương của đàn hương,
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
Hương của đức hạnh
cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên,
của sen xanh, hay nhài!
Hương của đàn hương hay đỗ quyên
không đi xa.
nhưng hương của đức hạnh
bay lên trời.
150
Ham muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường
của người đức hạnh và thức tỉnh.
Sáng dạ làm cho họ tự do.
Hoa sen mọc duyên dáng làm sao
trong rác rưởi của lề đường.
Hương thuần khiết của nó làm thích thú trái tim.
Đi theo người đã thức tỉnh
và từ trong những người mù
ánh sáng của trí huệ của bạn
sẽ chiếu sáng hoàn toàn bên ngoài.
Con người không phải là hiện hữu mà chỉ là sự trở
thành. Con người là quá trình, sự trưởng thành, khả
năng, tiềm năng. Còn người vẫn chưa là thực tại. Con
người phải hiện hữu, con người phải đạt tới. Con
người được sinh ra không phải như điều bản chất mà
chỉ như sự tồn tại... một không gian lớn nơi nhiều điều
có thể xảy ra, hay chẳng cái gì có thể xảy ra - mọi điều
đó đều phụ thuộc vào bạn.
Con người phải tạo ra bản thân mình. Con người
không phải là thứ đã được làm sẵn, con người không
được cho sẵn. Và việc sáng tạo phải là tự sáng tạo -
không ai khác có thể làm ra bạn được. Bạn không phải
là một vật, một thứ hàng hoá; bạn không thể được sản
xuất hay chế tạo. Bạn phải tự tạo ra bản thân mình, bạn
phải trở thành được thực tỉnh về phần riêng của mình,
không ai có thể đánh thức bạn dậy được.
151
Đây là cao thượng của con người, vinh quang của
con người, rằng con người là sinh linh duy nhất trên
trái đất, không chỉ là sinh linh mà còn là tự do để hiện
hữu. Mọi sinh linh khác đều đã bị cố định, theo hình
mẫu. Chúng đem theo bản thiết kế tổng thể, và chúng
đơn giản tuân theo bản thiết kế đó. Vẹt sẽ trở thành
vẹt, chó sẽ trở thành chó, sư tử sẽ trở thành sư tử;
không có chuyện sư tử là ai đó khác. Nhưng với con
người điều liên quan là hỏi liệu người đó có thực sự là
con người không.
Từng con sư tử đều thực sự là sư tử, và từng con
voi cũng là con voi, nhưng con người là dấu chấm hỏi.
Con người có thể là con người, có thể không. Con
người có thể rơi xuống thấp hơn con vật, và con người
có thể vươn cao trên các thần. Trạng thái tối thượng
trên các thần đó là phật tính - thức tỉnh, thức tỉnh tối
thượng, việc nhận ra tiềm năng của bạn trong tính toàn
bộ của nó.
Vị phật ở trên các thần. Đây là một trong những lí
do mà người Hindus đã không thể dung thứ được Phật
Gautama, bởi vì ông ấy nói rằng phật ở trên các thần.
Các thần cũng ngủ; tất nhiên, mơ của họ đẹp, mơ của
họ không phải là ác mộng; họ sống trên cõi trời. Các
kiếp sống của họ chỉ toàn hoan lạc. Cõi trời không là
gì ngoài chủ nghĩa khoái lạc thuần tuý, chính ý tưởng
là khoái lạc. Địa ngục là chính cái đối lập. Địa ngục là
đau đớn, cõi trời là hoan lạc; địa ngục là ác mộng, cõi
trời là mơ dịu ngọt. Nhưng mơ là mơ; dù dịu ngọt hay
cay đắng, không thành vấn đề gì.
Các thần cũng ngủ và mơ những giấc mơ đẹp. Vị
phật thức tỉnh, ông ấy không còn mơ nữa. Kinh sách
Phật giáo nói: Ngày Siddhartha Gautam trở thành phật
152
các thần từ trên trời tới để tôn sùng ông ấy, để rửa
chân ông ấy. Người Hindus không thể tha thứ được ý
tưởng này, bởi vì với họ các thần ở trên cõi trời - Indra
và các thần khác - đều là tối cao nhất rồi. Và nhìn vào
cao ngạo của Phật tử, những người nói các thần từ cõi
trời tới để rửa chân cho một người.
Phật giáo đã nâng nhân loại lên đỉnh cao nhất của
nó. Không tôn giáo nào khác đã làm điều đó. Con
người trở thành trung tâm của sự tồn tại. Thượng đế
không phải là trung tâm của sự tồn tại, theo Phật, mà
chính là người đã trở nên chứng ngộ. Ngoại vi bao
gồm những người ngủ và mù, và trung tâm bao gồm
những người có mắt, người đã thức tỉnh. Thượng đế
đơn giản bị loại bỏ đi; họ không còn liên quan nữa.
Điều Nietzsche đã làm hai nghìn năm sau, Phật đã làm
rồi.
Một nhà thơ lớn, Chandidas, rất bị ấn tượng bởi
Phật Gautam - và ai không bị ấn tượng bởi con người
này được? Ông ấy đã nói: Sabar upar manus satya,
tahar upar nahin - chân lí của con người là chân lí cao
nhất, không có chân lí nào khác cao hơn cái đó. Nhưng
để tôi nhắc bạn lần nữa: khi Phật nói về con người,
ông ấy nói về người đã chứng ngộ, không về bạn - bạn
chỉ đang trên đường thôi, bạn chỉ đang trong quá trình.
Bạn là hạt mầm.
Hạt mầm có thể có bốn khả năng. Hạt mầm có thể
vẫn còn là hạt mầm mãi mãi, khép kín, không cửa sổ,
không trong giao cảm với sự tồn tại, chết, bởi vì sống
có nghĩa là giao cảm với sự tồn tại. Hạt mầm là chết,
nó chưa được trao đổi với đất, với trời, với khí, với
gió, với mặt trời, với các vì sao. Nó chưa làm nỗ lực
nào để có đối thoại với tất những cái đang tồn tại. Nó
153
hoàn toàn đơn độc, bị bao vây, bị gói gọn trong bản
thân nó, bị bao quanh bởi Trường Thành Trung Quốc.
Hạt mầm sống trong nấm mồ riêng của nó.
Khả năng thứ nhất là ở chỗ hạt mầm có thể vẫn
còn là hạt mầm. Điều đó là rất không may mắn - con
người có thể vẫn còn đơn giản là hạt mầm. Với mọi
tiềm năng có trong tay bạn, với mọi phúc lành sẵn
sàng mưa rào lên bạn, bạn có thể chẳng bao giờ mở ra
cánh cửa của mình.
Khả năng thứ hai là ở chỗ hạt mầm có thể đủ dũng
cảm, có thể chìm sâu vào trong đất, có thể chết đi như
một bản ngã, có thể vứt bỏ lớp áo giáp của nó, có thể
bắt đầu giao cảm với sự tồn tại, có thể trở thành một
với đất. Dũng cảm lớn được cần tới, bởi vì ai biết
được? - cái chết này có thể là tối hậu, có thể không có
việc sinh theo sau nó nữa. Cái gì là đảm bảo? Không
có đảm bảo nào cả; đó là mạo hiểm. Chỉ vài người thu
được đủ dũng cảm mới dám mạo hiểm, mới dám liều
mạng.
Làm sannyasin là việc bắt đầu của mạo hiểm. Bạn
đang mạo hiểm cuộc đời mình, bạn đang mạo hiểm
bản ngã mình. Bạn đang liều mạng bởi vì bạn đang vứt
bỏ mọi an ninh của mình, mọi thu xếp an toàn cho
mình. Bạn đang mở ra các cửa sổ... ai biết ai sẽ vào -
bạn hay thù? Ai biết? Bạn trở nên mong manh. Đó là
điều tính chất sannyas tất cả là gì. Đó là điều Phật đã
dạy trong cả đời ông ấy. Bốn mươi hai năm liên tục,
biến đổi các hạt mầm thành cây cối - đó là công việc
của ông ấy - biến đổi người thường thành sannyasins.
Sannyasin là cây, mầm mới nhú lên - mềm mại,
tinh tế. Hạt mầm chẳng bao giờ trong nguy hiểm, nhớ
lấy. Nguy hiểm gì có thể có đó cho hạt mầm? Nó được
154
bảo vệ tuyệt đối. Nhưng cây bao giờ cũng trong nguy
hiểm, cây rất mềm mại. Hạt mầm giống như hòn đá,
cứng rắn, ẩn đằng sau lớp vỏ cứng. Nhưng cây phải
trải qua cả nghìn lẻ một mối nguy. Đó là giai đoạn thứ
hai: hạt mầm tan biến vào trong đất, con người biến
mất như một bản ngã, biến mất như một cá tính, trở
thành cây.
Khả năng thứ ba, thậm chí còn hiếm hoi hơn, bởi
vì không phải mọi cây cối đều đạt tới chiều cao đó nơi
chúng có thể nở hoa, cả nghìn lẻ một hoa... Rất ít
người đạt tới giai đoạn thứ hai, và rất ít trong số những
người đã đạt tới giai đoạn hai, đạt tới giai đoạn ba, giai
đoạn của hoa. Tại sao họ không thể đạt tới giai đoạn
thứ ba, giai đoạn của hoa? Bởi vì tham lam, bởi vì keo
kiệt, họ không sẵn sàng chia sẻ… bởi vì trạng thái
không có tình yêu.
Dũng cảm là cần để trở thành cây, và tình yêu là
cần để trở thành hoa. Hoa nghĩa là cây đang mở trái
tim nó ra, toả ra hương thơm của nó, đem tặng linh
hồn nó, rót sự hiện hữu của nó vào trong sự tồn tại.
Hạt mầm có thể trở thành cây mặc dầu khó vứt vỏ áo
giáp, nhưng theo cách nào đó điều này là đơn giản. Hạt
mầm sẽ chỉ thu lấy ngày một nhiều hơn, tích luỹ ngày
một nhiều hơn; hạt mầm chỉ lấy từ đất. Cây chỉ lấy từ
nước, từ không khí, từ mặt trời; tham lam của nó
không bị quấy rối, mà ngược lại, tham vọng của nó
được hoàn thành. Nó cứ trở nên ngày một lớn hơn.
Nhưng một thời điểm tới khi bạn đã lấy quá nhiều đến
mức bây giờ bạn phải chia sẻ. Bạn đã được ích lợi
nhiều thế, bây giờ bạn phải phục vụ. Thượng đế đã cho
bạn nhiều thế, bây giờ bạn phải cám ơn, phải biết ơn
chứ - và cách duy nhất để biết ơn là làm mưa rào kho
báu của bạn xuống, cho chúng trở với sự tồn tại, hào
155
phóng như sự tồn tại đã từng hào phóng với bạn. Thế
thì cây phát triển thành hoa, nó nở hoa.
Và giai đoạn thứ tư là giai đoạn của hương thơm.
Hoa vẫn còn thô, nó vẫn còn là vật chất, nhưng hương
thơm là tinh tế, nó gần như cái gì đó phi vật chất. Bạn
không thể thấy được nó, nó là vô hình. Bạn chỉ có thể
ngửi được nó, bạn không thể nắm bắt nó, bạn không
thể ôm được nó. Chính hiểu biết nhạy cảm được cần
tới để có đối thoại với hương thơm. Và bên ngoài
hương thơm chẳng có gì cả. Hương thơm biến mất vào
trong vũ trụ, trở thành một với nó.
Đây là bốn giai đoạn của hạt mầm, và đây là bốn
giai đoạn của con người nữa. Đừng vẫn còn là hạt
mầm. Thu lấy dũng cảm - dũng cảm vứt bỏ bản ngã,
dũng cảm vứt bỏ an ninh, dũng cảm vứt bỏ an toàn,
dũng cảm là mong manh. Nhưng thế thì cũng đừng vẫn
còn là cây, bởi vì cây không hoa nghèo nàn lắm. Cây
không hoa là trống rỗng, cây không hoa là đang thiếu
đi cái gì đó rất tinh tuý. Nó không có cái đẹp - không
tình yêu không có cái đẹp. Và chỉ qua hoa mà cây mới
biểu lộ tình yêu của nó. Nó đã lấy bao nhiêu thứ từ mặt
trời và mặt trăng và từ đất rồi; bây giờ đến lúc nó cho!
Cuộc sống bao giờ cũng phải đạt tới cân bằng. Bạn
đã lấy nhiều rồi, bây giờ cho nó đi. Trở thành hoa đi!
Chỉ khi bạn trở thành hoa mới có khả năng biến mất
như hương thơm. Nhưng thế nữa, nhớ lấy, đừng vẫn
còn là đoá hoa khép kín, đừng vẫn còn là nụ; bằng
không thì hương thơm của bạn sẽ không toả ra được.
Và chừng nào hương thơm của bạn chưa toả ra, bạn
không tự do, bạn vẫn trong tù túng.
Tù túng này Phật gọi là sansara - thế giới. Và ông
ấy gọi tự do, tự do của hương thơm, là niết bàn: dừng
156
toàn bộ, biến mất, tan biến. Bộ phận biến mất vào
trong toàn thể, giọt sương tuột vào trong đại dương và
trở thành đại dương. Ngày bạn biến mất và trở thành
đại dương là ngày theo một nghĩa nào đó bạn không
còn nữa, và theo nghĩa khác bạn hiện hữu lần đầu tiên
- bạn đã đạt tới tính hiện hữu.
Tính hiện hữu này mới là tính thượng đế thực.
Tính hiện hữu này, kinh nghiệm đại dương kết tinh
này, là giải thoát, cứu rỗi, moksha, kaivalya, niết bàn.
Bạn có thể dùng bất kì từ nào bạn muốn dùng nhưng
chúng tất cả đều mang cùng một nghĩa: tự do tuyệt đối
của linh hồn, không biên giới, không giới hạn.
Lời kinh:
Hương của đàn hương,
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Hiển nhiên! Hương của đàn hương, đỗ quyên hay
nhài là một phần của thế giới vật chất. Nó chỉ có thể đi
cùng gió, không đi ngược được gió. Nó phải tuân theo
luật của vật chất. Nó là vật chất. Bởi vì nó phải tuân
theo luật của vật chất nên nó không thực sự tự do - tự
do chỉ theo nghĩa tương đối. Hương này tự do hơn hoa,
hoa tự do hơn cây, cây tự do hơn hạt mầm. Nhưng
những tự do này chỉ là tương đối, không tuyệt đối.
Và Phật nói, nhớ lấy: mục tiêu là tự do tuyệt đối,
siêu việt lên trên mọi luật. Chính chỉ trong việc siêu
việt lên trên mọi luật mà bạn sẽ trở thành một phần của
luật tối thượng: Aes dhammo sanantano. Chính chỉ
157
bằng việc siêu việt lên trên mọi giới hạn của vật chất
thô mà bạn sẽ có khả năng trở thành vô hạn như bầu
trời.
Chừng nào bạn chưa trở thành vũ trụ bạn vẫn chưa
đạt tới tiềm năng của mình. Bạn được ngụ ý trở thành
vũ trụ, và bạn đã trở thành con người nhỏ bé, bị giới
hạn, gần như bạn đang sống trong xà lim tù đày, tối
tăm và ảm đạm, không cửa ra vào, không cửa sổ, sự
tồn tại xấu xí, bị bao quanh bởi đủ mọi loại bệnh hoạn
- bản ngã, tham lam, giận dữ, thèm khát, ghen tị, sở
hữu. Đây là những bạn đồng hành của bạn. Bạn đã
kinh nghiệm hương thơm nào trong cuộc đời?
Bạn chưa biết tới tình yêu không thèm khát. Bạn
chưa biết tới bất kì trạng thái nào nơi không giới hạn
nào tồn tại. Bạn bị trói buộc vào một số luật rất thô.
Bạn là một phần của lực hút, bạn vẫn chưa biết gì về
ân huệ. Bạn cứ đi xuống mãi, bởi vì những luật hút đó
cứ kéo bạn xuống. Bạn không biết cách vươn lên, bay
bổng lên. Bạn không biết gì về bay lên cả.
Trong khoa học, họ không nói về bay lên, họ chỉ
nói về hút, kéo xuống. Nhưng đây là hiện tượng đơn
giản thế cần hiểu, rằng trong tự nhiên mọi thứ đều
được cân bằng bởi cực đối lập của nó. Nếu có lực kéo
xuống, lực hút, sẽ phải có lực kéo lên để cân bằng nó -
đó là bay lên. Theo ngôn ngữ thơ ca hơn nó được gọi
là ân huệ.
Có hai luật: luật hút, luật của đất, thô, vật chất; và
luật của ân huệ, luật thiêng liêng, điều Phật gọi là luật
thiêng liêng - aes dhammo sanantano - luật vĩnh hằng,
không cạn, luật thiêng liêng, cái kéo bạn lên.
Hương của đàn hương,
158
đỗ quyên, hay nhài,
không thể đi ngược chiều gió.
Nó có những giới hạn tuyệt đối nào đó, nó chỉ có
thể cưỡi lên gió. Nó không thể có ý chí riêng của nó,
nó không thực sự tự do. Chừng nào bạn chưa thể tồn
tại trong tự do toàn bộ, cái gì đó vẫn còn thiếu. Nếu
bạn phải tuân theo luật, thế thì bạn là tù nhân. Luật có
thể cho bạn chiếc dây vừa đủ, nhưng dẫu sao bạn vẫn
cứ là tù nhân.
Đó là cách mọi sự là vậy: nếu chiếc dây vừa đủ
được trao cho bạn, bạn quên mất nhà tù. Chẳng hạn,
cái gọi là các quốc gia - Ấn Độ, Pakistan, Nhật Bản,
Đức - đây tất cả đều là những nhà tù lớn, nhưng chúng
lớn tới mức bạn không thể thấy được biên giới nhà tù
của mình. Đi ngang qua biên giới quốc gia mình và
bạn sẽ thấy rằng mình quả là tù nhân. Nhưng nhà tù đủ
lớn; bạn có thể đi trong nhà tù này tới bất kì chỗ nào
bạn muốn. Nhưng cứ bước ra khỏi nhà tù này, thử đi
vào nhà tù khác mà xem, và thế thì bạn sẽ thấy giới
hạn.
Đây là những nhà tù nhân tạo; đủ lớn đến mức
chúng có thể cho bạn cảm giác giả tạo về tự do, nhưng
không có tự do. Chừng nào mọi quốc gia chưa biến
mất khỏi thế giới, trái đất sẽ vẫn còn là nô lệ, nhân loại
sẽ vẫn còn trong tù, nhỏ hay lớn. Nhưng không khác
biệt gì việc nhà tù rất lớn và bạn không thể nào thấy
được bức tường bao quanh nó... Bức tường có thể rất
tinh vi - về hộ chiếu hay visa - bức tường có thể rất
tinh vi, bạn có thể không thấy chúng, nhưng chúng có
đó. Bạn không được tự do di chuyển.
159
Gần như mọi hiến pháp của thế giới đều nói rằng
tự do di chuyển là quyền tập ấm của mọi người, nhưng
điều đó chỉ được viết trong sách vở, điều đó là không
đúng. Bạn không thể di chuyển tự do được. Nếu bạn
muốn sang Nga, không thể được; nếu bạn muốn vào
Trung Quốc, không thể được.
Các quốc gia đã trở thành những nhà tù lớn thế, và
các tổng thống của bạn và cái gọi là các thủ tướng của
bạn tất cả đều không là gì khác hơn các cai tù. Những
người vẫn nói về tự do không là gì khác hơn cảnh sát.
Họ nói họ đang canh gác cho sự an toàn riêng của bạn,
nhưng thực ra họ là cai tù đang theo dõi để bạn không
thể trốn thoát được.
Tôi đã nghe:
Một ông già Nga sắp chết, và ông ấy nghe tiếng gõ
trên cửa. Ông ấy hỏi, "Ai đấy?"
Và một giọng nói rất ma quỉ cất lên, "Thần chết."
Ông già Nga nói, "Cám ơn Thượng đế! Tôi cứ
tưởng đấy là cảnh sát chìm."
Và có những nhà tù bên trong nhà tù kiểu như cái
hộp Trung Quốc - hộp bên trong hộp... Ấn Độ là một
nhà tù lớn; thế rồi có người Hindus và người Mô ha
mét giáo và người Ki tô giáo và người Sikhs và người
Jainas và Phật tử - bây giờ đây là những nhà tù nhỏ.
Người Ki tô giáo có thể đi nhà thờ, người đó không thể
tới đền thờ được; người Hindu có thể tới đền thờ,
người đó không thể tới nhà thờ. Người đó đã được dạy
và được ước định rằng nhà thờ không phải là chỗ có
160
tính tôn giáo; người Ki tô giáo đã được bảo rằng nhà
thờ là chỗ đúng duy nhất để tới - mọi tôn giáo khác
đều là sai, và mọi tôn giáo khác đều dẫn bạn đi lạc lối.
Chừng nào bạn chưa là người Ki tô giáo bạn không thể
được cứu. Và thế rồi trong Ki tô giáo có Cơ đốc giáo
và Tin lành, và trong Tin lành và Cơ đốc giáo có
những giáo phái con ngày một nhỏ hơn. Và nhà tù trở
thành ngày một nhỏ hơn.
Rồi có các nhà tù chính trị: ai đó là người cộng sản
và ai đó là người xã hội, và ai đó là người tư bản... vân
vân và vân vân. Và bạn không thoả mãn ngay cả với
những điều này: thế rồi bạn làm ra câu lạc bộ Rotary,
câu lạc bộ Lions... Khát khao của bạn để là tù nhân
mạnh tới mức bạn không thể đơn giản là một con
người được. Bạn phải là một người của Rotary và bạn
tự hào tuyên bố, "Tôi là người của Rotary,"
"Tôi là người của Lion." Bạn không được thoả
mãn với việc đơn giản là một con người, bạn phải là
người của Lion. Và thế rồi có những ngăn còn nhỏ hơn
nữa.
Thay vì chui ra khỏi những xà lim nhà tù này,
chúng ta cứ trang hoàng cho chúng, chúng ta cứ làm
cho chúng ngày một tiện nghi hơn. Chúng ta đang
sống dưới luật hút, chúng ta đang sống như tù nhân.
Chúng ta không thể đi ngược chiều gió được - cuộc
sống chúng ta là thô. Phật nói: nhận biết về điều đó:
ông đang làm gì với cuộc sống của ông? Cân nhắc lại,
thiền về nó, điều bạn đã làm cho bản thân mình.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
161
Phật nói: Nhưng có việc nở hoa của bản thể bên
trong của bạn, cái đẹp hơn cả đàn hương, đỗ quyên hay
nhài. Cái đẹp của nó là tự do tuyệt đối của nó. Nó có
thể đi ngược chiều gió. Người đức hạnh thực sự sống
trong tự do; người đó không tuân theo điều răn dạy
nào, người đó không tuân theo kinh sách nào, người đó
không tuân theo bất kì ai khác ngoài ánh sáng bên
trong riêng của mình. Người đó sống theo trái tim của
mình - người đó là người nổi dậy.
Nhưng Phật đang nói về hương của đức hạnh thật.
Ông ấy không nói về cái gọi là chính đáng, ông ấy
không nói về cái gọi là "con người có cá tính", cái gọi
là các thánh nhân và mahatma của bạn - ông ấy không
nói về họ. Họ không phải là người tự do. Thực ra,
hương của đàn hương, đỗ quyên và nhài còn tự do hơn
nhiều cái gọi là các thánh nhân của bạn. Họ sống theo
các luật nhân tạo. Hương của đàn hương, hương của
các loại hoa, ít nhất cũng tuân theo các luật của tự
nhiên. Nhưng các thánh nhân của bạn, cái gọi là những
người đức hạnh của bạn, họ tuân theo luật nhân tạo -
luật do những kẻ mù làm ra, luật do những người dốt
nát làm ra, luật do những người chưa thức tỉnh làm ra,
những người không biết gì về nhận biết cả.
Ai làm ra luật của bạn? Ai làm ra Hiến pháp của
bạn? Ai chịu trách nhiệm cai quản xã hội và thu xếp và
quản lí xã hội? Chính những người mù như bạn, có thể
có học hơn, có thể có hiểu biết hơn. Nhưng không có
gì khác biệt liệu người mù có hiểu biết hơn về ánh
sáng hay ít hiểu biết hơn về ánh sáng - người mù là
người mù. Quan sát các thánh nhân của bạn mà xem,
và bạn sẽ ngạc nhiên! - họ sống tù túng sâu hơn nhiều
so với người thường.
162
Một sư Jaina muốn tới gặp tôi. Ông ta gửi một
thông điệp rằng ông ta đã từng khao khát gặp tôi trong
nhiều năm, và bây giờ ông ấy ở trong thành phố này và
ông ấy muốn gặp tôi. Nhưng các tín đồ của ông ấy
không cho phép ông ấy, người Jainas không cho phép
ông ấy tới công xã này. Bây giờ người này là loại
thánh nhân gì mà các tín đồ quyết định được nơi ông
ấy phải đi và nơi ông ấy phải không đi? Nhưng có thu
xếp lẫn nhau: các tín đồ gọi ông ấy là thánh nhân, họ
tôn thờ ông ấy, bây giờ ông ấy phải nhân nhượng, thoả
hiệp. Ông ấy phải theo các tín đồ.
Cái gọi là các thánh nhân và người lãnh đạo của
bạn đều là tín đồ của các tín đồ của riêng họ. Đó là
một thế giới ngu xuẩn thế, nực cười thế, toàn thể tình
huống này. Trên bề mặt dường như là các thánh nhân
là nhân tố quyết định; ông ấy cho mọi người lời
khuyên để theo ông ấy. Nhưng nếu bạn nhìn sâu xuống
dưới, bạn sẽ ngạc nhiên - ông thánh này đang tuân theo
các tín đồ riêng của mình. Thực ra, họ quyết định. Và
họ có quyền lực quyết định bởi vì họ có thể tôn thờ
bạn và họ có thể sỉ nhục bạn. Họ có thể tôn thờ bạn
nếu bạn theo họ, nếu bạn đi theo các ý tưởng, định
kiến mà họ đang mang trong tâm trí họ; bằng không
bạn không còn là thánh nhân nữa. Họ có thể hạ bệ bạn
- họ có quyền đưa bạn lên tới bậc thánh hay hạ bệ bạn
xuống thành tội nhân. Nếu bạn muốn là thánh nhân
bạn phải tuân theo đủ mọi loại ngu xuẩn. Bạn có thể
biết sâu bên dưới rằng điều này là ngu xuẩn.
Tôi đã gửi cho ông ấy một thông điệp nói, "Điều
này là ngu xuẩn, lố bịch! Sao ông phải hỏi tín đồ của
ông? Tín đồ là ai, ông hay họ? Sao ông phải hỏi họ?"
163
Ông ấy nói, "Thầy phải đấy, nhưng tôi phải phụ
thuộc vào họ. Vào tuổi tôi đây, tôi không thể rời bỏ
được họ bởi vì tôi chưa bao giờ làm việc trong đời
mình. Tôi bị phụ thuộc vào họ từ thức ăn, quần áo, mọi
thứ."
Bây giờ bạn thấy thu xếp đấy. Điều này được gọi
là tâm linh, và việc thu xếp là tài chính!
Người đức hạnh thực sự chắc chắn tự do, và tự do
tới mức người đó có thể đi ngược chiều gió, người đó
có thể đi ngược toàn thể xã hội, người đó có thể đi
ngược toàn thể quá khứ, người đó có thể đi ngược mọi
tập tục. Thực ra người đó làm vậy - bởi vì đi ngược
mọi tập tục và quá khứ chết người đó xác nhận tự do
của mình.
Chính bởi vì điều này mà tôi bị kết án trên khắp
nước này và bây giờ, dần dần trên khắp thế giới. Lí do
duy nhất là ở chỗ họ muốn tôi đi cùng chiều gió, họ
muốn tôi chính thống, theo tập tục. Họ sẵn sàng tôn
thờ tôi, họ đã nhiều lần tới tôi nói rằng nếu tôi có thể
đơn giản tuân theo tôn giáo truyền thống thì họ sẽ tôn
thờ tôi như thánh nhân. Tôi nói, "Tôi không quan tâm
tới việc được tôn thờ hay là thánh nhân. Tôi đơn giản
muốn là bản thân mình. Và tôi không định thoả hiệp
với bất kì ai, dù người đó là ai. Thoả hiệp không phải
là cách thức của tôi."
Bởi vì tôi đi ngược chiều gió nên họ bực mình
lắm. Nhưng nếu bạn mà đức hạnh... và đức hạnh là gì?
Nó không phải là cá tính nào đó được trau dồi từ bên
ngoài. Đức hạnh là hương thơm của tính thiền, đức
hạnh là hương thơm của hoa của thiền; do đó, tôi nói
nó không phải là ngay thẳng đạo đức, nó không là đạo
đức.
164
Tôi đã nghe:
Gái điếm thành phố ở Jerusalem bị ném đá. Khi
Jesus nói, "Để ai trong số các vị không có tội lỗi nào
ném hòn đá đầu tiên," một bà già lẩy bẩy mang một
hòn đá lớn, thả nó vào đầu gái điếm và lên tiếng chê
bai con mụ dâm đãng.
Jesus nhìn xuống và nói, "Bà biết đấy, thưa mẹ,
đôi khi bà thực sự làm tôi bực mình."
Người ngay thẳng, người đạo đức, người khắt khe
đạo đức bao giờ cũng sẵn sàng... thực ra toàn thể vui
vẻ của người đó là làm sao lên án, làm sao tống ngày
một nhiều người xuống địa ngục, làm sao đóng đinh
mọi người, làm sao giết và phá huỷ. Người đó thực sự
khổ sở, người đó thực sự là tự bạo, người đó thực sự
trải qua đủ mọi loại khổ hạnh ngu xuẩn, chỉ để tận
hưởng cảm giác của tính cao siêu, cảm giác của việc
đạo đức hơn người khác, cảm giác rằng "Các ông tất
cả đều là tội nhân còn ta đây là thánh nhân."
Vị thánh thực có phẩm chất hoàn toàn khác. Ông
ấy không đạo đức; ông ấy biết cách tha thứ, bởi vì ông
ấy biết Thượng đế đã tha thứ cho ông ấy nhiều thế.
Ông ấy biết những giới hạn của con người, bởi vì bản
thân ông ấy đã chịu đựng qua những giới hạn con
người đó. Ông ấy có thể tha thứ. Ông ấy hiểu biết.
Người đạo đức không bao giờ hiểu, người đó
không bao giờ tha thứ; người đó không thể tha thứ
được bởi vì người đó đã từng hà khắc với bản thân
mình. Người đó đã đạt tới cái gọi là tính cách của mình
với những khó khăn đến mức vui vẻ duy nhất, thoải
165
mái duy nhất người đó có thể có được là ở việc đạo
đức hơn bạn. Làm sao người đó có thể tha thứ được?
Nếu người đó tha thứ thế thì người đó không thể tận
hưởng cuộc hành trình bản ngã mà người đó đang đi.
Người khổ hạnh là người bản ngã nhất trên thế
giới. Người đức hạnh không phải là người khổ hạnh.
Câu chuyện này được kể về bản thân Phật:
Trong sáu năm khi ông ấy rời bỏ cung điện của
mình ông ấy đã sống qua những cách khổ hạnh lớn lao
- đó là cách thức truyền thống của việc tìm kiếm chân
lí. Ông ấy đã hành hạ thân thể mình, ông ấy nhịn ăn,
ông ấy nhịn ăn tới mức tương truyền ông ấy trở nên
gầy còm giơ xương; bạn có thể đếm được các xương
sườn của ông ấy. Ông ấy trở thành khẳng khiu đến
mức dạ dầy ông ấy dính lưng - chẳng có gì còn giữa dạ
dày và lưng cả. Ông ấy trở nên yếu đến mức ông ấy
không thể vượt qua được con sông nhỏ, sông
Niranjana. Tôi đã từng tới chỗ đó để xem. Sông
Niranjana là con sông nhỏ, và lúc đó không phải là
mùa mưa, nhưng ông ấy đã không thể vượt qua sông
được, ông ấy không thể bơi qua sông được. Ông ấy
phải cực kì yếu.
Hôm đó, một khải lộ lớn lao đã xảy ra cho ông ấy:
"Mình đã làm những việc bạo hành không cần thiết
cho bản thân mình." Ông ấy có năm tín đồ; họ tất cả
đều là người khổ hạnh và họ đã trở thành tín đồ của
Phật bởi vì ông ấy đi xa trước họ. Họ chỉ có thể làm
chừng đó, nhưng ông ấy đã làm nhiều lần hơn; do đó
họ mới là tín đồ. Tối hôm đó Phật quyết định, "Hành
hạ thân thể là ngu xuẩn, và làm sao các ông đạt tới
166
được linh hồn bằng việc hành hạ thân thể? Dường như
chẳng có mối quan hệ logic nào." Và ông ấy thấy,
"Nếu ta thậm chí không thể vượt qua được con sông
này, con sông Niranjana bé tẹo, làm sao ta vượt qua
được đại dương thế giới khổng lồ này? Thân thể cần
thức ăn, thân thể cần nuôi dưỡng, thân thể cần sức
mạnh, để cho ta có thể thiền, để cho ta có thể suy tư,
để cho ta có thể truy tìm, với y mê, nhiệt tình, nghị
lực."
Ông ấy quyết định vứt bỏ mọi khổ hạnh. Năm tín
đồ của ông ấy lập tức rời bỏ ông ấy. Họ nói, "Gautam
đã sa ngã khỏi trạng thái thiêng liêng của ông ấy, ông
ấy không còn là thánh nhân nữa." Họ bỏ ông ấy ngay
lập tức; họ không ở cùng ông ấy nữa. Họ đã ở với ông
ấy chỉ vì phong cách sống tự bạo của ông ấy - bản thân
họ cũng phải là những kẻ tự bạo.
Và Phật Gautam đã trở nên chứng ngộ ngày hôm
sau. Vứt bỏ mọi khổ hạnh, vứt bỏ mọi xung đột bên
trong không cần thiết, cuộc nội chiến đó, ông ấy đã trở
nên yên tĩnh, im lặng tới mức sáng hôm sau ông ấy có
thể thấy, ông ấy đã trở nên cảm nhận. Trong im lặng
của mình, mọi rối loạn, mọi tán gẫu đều biến mất. Vào
sáng sớm khi mặt trời lên, ông ấy bắt đầu vươn lên bên
trong bản thể mình. Ông ấy đã thức tỉnh, ông ấy đã trở
thành vị phật.
Đức hạnh bắt nguồn từ im lặng, từ tính thiền, từ
thảnh thơi - không từ nỗ lực, không từ căng thẳng,
không từ vật lộn. Ông ấy đã đi tìm năm tín đồ cũ của
mình để cho họ thông điệp: "Đừng tự hành hạ mình
nữa. Điều này chẳng liên quan gì tới điều thiêng liêng
cả. Điều này chẳng liên quan gì tới tôn giáo cả."
167
Thiền phải xảy ra trước hết, thế rồi tính cách tới
như cái bóng của nó. Và nếu thiền không xảy ra, thế
thì tính cách của bạn chỉ là thói đạo đức giả chứ không
là gì khác. Thánh nhân của bạn là những kẻ đạo đức
giả lớn; họ nói điều này, họ nghĩ điều khác, có thể là
cái đối lập. Họ làm điều này, nhưng họ muốn làm điều
gì đó đích xác đối lập lại. Trên bề mặt họ biểu lộ điều
này, nhưng sâu bên dưới họ là chính điều tương phản
lại.
Một cô gái thú tội rằng cô ấy đã để cho bạn trai để
tay lên đầu gối mình. "Và đấy là tất cả những gì anh ta
đã làm sao?" linh mục hỏi.
"Không. Anh ấy luồn ngón tay vào dưới dây chun
si lip con nữa."
"Thế rồi sao?"
"Thế rồi anh ấy rẽ chỗ lông tơ của con và bắt đầu
mơn trớn chỗ thích thích của con."
"Rồi sao? Rồi sao?"
"Thế rồi mẹ con bước vào."
"Ô, cứt thật!" linh mục nói.
Những linh mục này, những thánh nhân này, họ
còn xấu hơn bạn nhiều, xấu hơn bạn đã từng có thể là
vậy nhiều, bởi vì họ chia chẻ nhiều hơn, phân chia
nhiều hơn. Họ bị kìm nén nhiều tới mức phần ý thức
và vô ý thức của họ đã rời nhau ra. Họ thuyết giảng
điều này, họ thực hành điều khác. Tại cửa trước nhà họ
bạn sẽ thấy người này, tại cửa sau bạn sẽ thấy một
168
người hoàn toàn khác. Bạn thậm chí sẽ không có khả
năng nhận ra được họ - họ đeo mặt nạ.
Những người này không phải là người đức hạnh.
Phật không nói về đức hạnh như vậy, ông ấy nói về
đức hạnh nảy sinh từ việc nở hoa của thiền. Phật nhấn
mạnh vào dhyan - thiền. Đó là đóng góp cơ bản của
ông ấy cho thế giới. Cách tiếp cận nền tảng nhất của
ông ấy là ở chỗ trước hết bạn phải trở nên thức tỉnh tại
trung tâm, thế rồi chu vi của bạn sẽ tràn đầy ánh sáng -
theo cách riêng của nó, không ngược lại.
Bạn đã được các linh mục bảo trước hết thực hành
tính cách, và thế rồi trung tâm của bạn sẽ thay đổi.
Điều đó là vô nghĩa. Trung tâm không bao giờ có thể
theo chu vi được, bởi vì trung tâm còn quan trọng hơn
nhiều, cơ sở hơn nhiều - nó là trung tâm, nó không thể
đi theo chu vi được. Nhưng chu vi bao giờ cũng đi
theo trung tâm. Biến đổi trung tâm đầu tiên đi, và đừng
lo nghĩ về chu vi. Đó là nhấn mạnh của tôi nữa, tại đó
tôi tuyệt đối đồng ý với Phật. Thiền trước hết, và thế
rồi tất cả những cái khác sẽ theo sau bằng cách riêng
của nó.
Jesus nói: tìm kiếm vương quốc của Thượng đế
trước, và tất cả những cái khác sẽ được thêm vào cho
ông.
Điều Jesus nói bằng "vương quốc của Thượng đế"
thì Phật nói bằng "thiền." Lời của Phật khoa học hơn
nhiều so với lời của Jesus. Jesus nhiều tính nhà thơ
hơn Phật; Jesus nói nhiều theo kiểu cách ngôn hơn
Phật. Phật nói theo cách rõ ràng, logic, toán học. Ông
ấy là người không muốn nói bất kì cái gì theo bất kì
cách nào có thể được diễn giải theo nhiều cách. Ông ấy
không muốn dùng thơ ca, bởi vì thơ ca là mơ hồ, có
169
thể có nhiều diễn giải. Ông ấy nói như nhà toán học,
ông ấy nói như nhà logic, để cho từng lời có nghĩa cố
định và hàm ý cố định.
Nhưng hương của đức hạnh
vẫn đi ngược chiều gió,
xa tới tận cùng thế giới.
Hương của đức hạnh
cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên,
của sen xanh, hay nhài!
Hương của sen xanh hay nhài hay đàn hương là
thơm ngát, dịu, nhưng so với hương của đức hạnh thì
nó rất thô. Đức hạnh thực sự có hương thơm, và hương
này đi tới những góc xa xôi nhất của thế giới.
Làm sao bạn đã tới đây với tôi? Từ những góc
khác nhau của thế giới bạn đã du hành, đôi khi không
thật đích xác rõ ràng vì sao; nhưng cái gì đó đã kéo
bạn đi, lực vô hình nào đó đã làm xúc động trái tim
bạn, cái gì đó đã được cảm thấy từ cốt lõi sâu thẳm
nhất của bản thể bạn. Đôi khi bạn thậm chí đã tới
ngược với chính bản thân mình. Tâm trí của bạn nói,
"Đừng đi! Không cần đi đâu cả." Dầu vậy bạn đã tới.
Bạn phải đã ngửi thấy mùi thơm - mùi thơm này chẳng
liên quan gì tới cái thấy được. Nó là hiện tượng vô
hình.
Nhiều, nhiều người nữa sẽ sớm tới. Hương thơm
đang vươn tới họ, nhất định tới. Bất kì ai ở bất kì đâu,
người thực sự đang đi tìm chân lí đều nhất định tới.
Điều đó không thể cưỡng được, điều đó phải xảy ra.
Đó là cách nó đã xảy ra qua nhiều thời đại. Hàng nghìn
170
người đã du hành tới Phật, hàng nghìn người đã du
hành tới Mahavira, tới Lão Tử, tới Zarathustra - chẳng
bởi lí do nào cả, bởi vì bất kì điều gì họ đã nói đều có
trong kinh sách.
Điều tôi đang nói đây bạn có thể đọc trong
Bhagavadgita, trong Kinh Thánh, trong Koran, trong
Dhammapada, điều tôi đang nói bạn có thể dễ dàng
tìm thấy trong Upanishads, trong Đạo Đức Kinh -
nhưng bạn sẽ không tìm thấy hương thơm. Đấy là hoa
- cũ, chết, khô héo. Bạn có thể kẹp giữ bông hồng
trong cuốn Kinh Thánh của mình; chẳng mấy chốc nó
sẽ khô đi, hương thơm sẽ bay đi, nó sẽ chỉ là cái xác,
một kỉ niệm về hoa thực. Kinh sách cũng vậy. Chúng
được làm sống lại lần nữa bởi vị phật khác; bằng
không chúng không thể thở được.
Đó là lí do tại sao tôi đang nói về Dhammapada,
về Gita, về Kinh Thánh - để cho chúng thở lần nữa.
Tôi có thể thổi cuộc sống vào trong chúng. Tôi có thể
chia sẻ hương của tôi với chúng, tôi có thể rót hương
của tôi vào chúng. Do đó, người Ki tô giáo, người thực
sự là người Ki tô giáo, không chỉ bởi những ước định
xã hội mà bởi vì tình yêu lớn lao với Christ, người đó
sẽ thấy Christ sống lại trong lời tôi. Hay nếu ai đó là
phật tử người đó sẽ thấy trong lời tôi Phật đang nói lại
- theo ngôn ngữ của thế kỉ hai mươi, với những người
của thế kỉ hai mươi.
Hương của đức hạnh cao quí hơn nhiều so với
hương của đàn hương, đỗ quyên, của sen xanh, hay
nhài! Nó thơm dịu thế, nó có thể đi ngược chiều gió,
nó có thể đi ngược mọi luật. Nó có thể đi ngược lực
hút, nó có thể vươn lên cao, nó có thể đạt tới những
bầu trời cao nhất.
( còn nữa )
Dhammapada
CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT
¨
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG
ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG
Tập 2 ( tiếp theo )
HÀ NỘI ( tiếp theo )
Hương của đàn hương hay đỗ quyên
không đi xa.
nhưng hương của đức hạnh
bay lên trời.
Hương của hoa không thể đi xa được. Nó là nhất
thời, nó là hữu hạn; nó có thể lan đi chừng mực nào đó
thế rồi nó biến mất. Nhưng hương của phật tính có thể
đi tới chính tận cùng của thế giới bởi vì nó vô hạn, và
nó là cái gì đó bên ngoài thời gian, bên ngoài không
gian. Thực ra, ngay cả khi thân của vị phật mất rồi,
hương thơm vẫn tiếp tục du hành.
Những người thực sự cảm nhận, nhạy cảm, có thể
bắt giữ được nó ngay cả khi vị phật đã qua hàng thế kỉ.
Có khả năng là người đương đại của Phật ngay cả bây
giờ, Đoá hoa không còn nữa, nhưng hương thơm đã trở
thành một phần của vũ trụ - cây có nó, gió có nó, mây
có nó. Bây giờ Phật không trong thân thể vật lí, nhưng
Phật đã trở thành vũ trụ. Nếu bạn biết cách uống từ vũ
trụ này, nếu bạn biết cách tiếp xúc với vũ trụ, bạn sẽ
ngạc nhiên: tất cả chư phật đều trở thành sống vì họ là
mọi thời đại, thời gian không tạo ra khác biệt.
Nếu bạn có thể là người
đương đại của những linh hồn thức tỉnh này, phỏng có
ích gì mà còn đương đại với thế giới bình thường của
bạn cùng những công dân bình thường của nó, cái gọi
là con người, những người chẳng có tính người gì
trong họ, những người vẫn chưa trở thành sinh linh,
những người chỉ là lỗ hổng, trống rỗng, vô nghĩa?
172
Phỏng có ích gì mà sống bên cạnh những xà lim trống
rỗng khi bạn có thể ở bên cạnh Phật Gautama?
Vâng, điều đó là có thể - điều đó là có thể bởi việc
siêu việt lên trên thời gian và không gian. Và trong
thiền bạn siêu việt lên trên cả hai. Trong thiền bạn
không biết mình ở đâu, bạn không biết thời gian, bạn
không biết không gian. Trong thiền, thời gian và
không gian cả hai đều biến mất - bạn đơn giản hiện
hữu.
Khoảnh khắc đó, khi bạn đơn giản hiện hữu, Phật
ở ngay bên cạnh bạn; bạn được bao quanh bởi chư
phật của mọi thời đại. Bạn sẽ sống lần đầu tiên một
cuộc sống xứng đáng để sống, một cuộc sống có ý
nghĩa: khi bạn có thể cầm tay chư phật. Điều đó là có thể - bởi vì
chỉ hoa đã biến mất, nhưng hương thơm là vĩnh hằng.
Nó không thể biến mất được.
Ham muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường
của người đức hạnh và thức tỉnh.
Sáng dạ làm cho họ tự do.
Ham muốn nghĩa là tham lam để được ngày một
nhiều hơn. Ham muốn nghĩa là không hài lòng, không
hài lòng với cái đang đó, không hài lòng với hiện tại;
do đó bạn tìm kiếm mãn nguyện trong hi vọng vào
tương lai. Hôm nay là trống rỗng; bạn có thể sống chỉ
173
bằng hi vọng vào ngày mai. Ngày mai sẽ đem tới cái gì
đó... mặc dầu nhiều ngày mai đã tới rồi đi mà cái gì đó
kia vẫn chẳng bao giờ xảy ra, nhưng bạn cứ hi vọng
tựa vào hi vọng mãi. Chỉ cái chết sẽ tới.
Ham muốn chưa bao giờ được hoàn thành cả.
Trong chính bản chất của mọi sự chúng không thể
được hoàn thành. Người thức tỉnh nhìn vào trong tâm
trí ham muốn và cười to. Tâm trí ham muốn là tâm trí
ngu xuẩn nhất, bởi vì nó ham muốn cái gì đó mà
không thể được hoàn thành trong chính bản chất của
mọi sự. Cũng như bạn không thể lấy được dầu từ cát -
bạn có thể cứ làm việc mãi trên cát, nhưng bạn sẽ
không lấy được dầu từ nó, nó không tồn tại trong cát,
điều đó là không thể được - đích xác giống thế, ham
muốn chỉ là lừa dối.
Nó giữ cho bạn bận bịu - hiển nhiên, đó là toàn thể
chủ định của nó - nó giữ cho bạn bận bịu, nó giữ cho
bạn hi vọng, nó cứ hứa hẹn với bạn. Ham muốn là
chính khách: nó cứ hứa với bạn, "Đợi chút - thêm năm
năm nữa và mọi thứ sẽ tuyệt đối đúng. Chỉ cần năm
năm nữa thôi và thế giới sẽ trở thành thiên đường." Và
các chính khách đã nói điều đó từ hàng nghìn năm. Và
nhìn vào nhân loại không thông minh mà xem: nó vẫn
cứ tin vào các chính khách. Nó thay đổi các chính
khách; nó trở nên nhàm chán người này, nó bắt đầu
nghe người khác. Nhưng điều đó không phải là thay
đổi chút nào. Chính khách này được thay thế bởi chính
khách khác; do đó các nền dân chủ sống như hệ thống
hai đảng.
Đảng này nắm quyền trong năm năm; tương ứng
với những lời hứa bạn cứ thế mà hi vọng, thế rồi bạn bị
thất vọng - chẳng cái gì xảy ra cả. Mọi sự còn tồi tệ
hơn chúng trước đây. Nhưng đến lần này, đảng không
nắm quyền kia bắt đầu hứa hẹn với bạn. Và điều ngu
xuẩn là bạn bắt đầu tin vào đảng kia. Bạn đưa đảng kia
lên nắm quyền; trong năm năm nó sẽ lừa bạn. Đến lúc
đó đảng đầu mà đã lừa bạn trước đây lại trở thành
đáng khen; lần nữa nó lại thu được lòng tin, lần nữa nó
đã phê bình đang cầm quyền và lần nữa nó đã lại thu
được kính trọng trong mắt bạn. Và lần nữa nó lại
khuấy động tâm trí hi vọng của bạn. Và kí ức của mọi
người là rất thiển cận; do đó các chính khách cứ thế
mà đánh lừa.
Ham muốn là chính khách. Ham muốn này giữ cho
bạn bận bịu trong nhiều năm; thế rồi, thất vọng trong
tay, bạn chán ngán về nó, mòn mỏi về nó, bạn vứt nó
đi - nhưng ngay lập tức bạn đi vào trong ham muốn
khác. Chính khách khác đang đợi bạn. Bạn chạy theo
tiền; rồi chán ngán, bạn quên mất tất cả về nó và bạn
bắt đầu xô theo quyền hay danh.
Ham muốn tinh ranh tới mức nó thậm chí có thể
lấy dạng tôn giáo, nó có thể trở thành có tính tôn giáo.
Nó sẵn sàng đeo bất kì mặt nạ nào. Nó có thể bắt đầu
nghĩ về cõi trời và các thú vui cõi trời. Nó có thể cho
bạn ý tưởng rằng kiếp sống này điều đó là không thể
được, nhưng kiếp sống tiếp bạn sẽ trên thiên đường, và
ở thiên đường thì có đủ mọi loại thoả mãn... cây thoả
ước. Bạn chỉ ngồi dưới gốc cây, bạn ước, và điều đó
được hoàn thành. Bạn sẽ ước gì? Ước muốn của bạn sẽ
ngu xuẩn bởi vì chúng bắt nguồn từ tâm trí bạn. Bạn
định đi tìm vui thú nào trên cõi trời? Một hôm cứ thử
nghĩ mình đã lên đến cõi trời rồi: bây giờ bạn muốn
gì? Bạn sẽ bắt đầu hỏi về khách sạn, về rạp chiếu
bóng, về đàn bà, về đàn ông... còn gì khác nữa? Vẫn
175
toàn những điều ấy thôi! Và cùng những thất vọng sẽ
theo sau.
Ham muốn chưa bao giờ cắt ngang con đường của
người đức hạnh và tỉnh thức. Phật nói: Ta gọi một
người là đức hạnh nếu người đó hoàn toàn nhận biết về
tính lừa dối của ham muốn và do đó ham muốn không
bao giờ nảy ra trong tâm trí người đó. Tâm trí người
đó vẫn còn vô ham muốn. Cách duy nhất để vô ham
muốn là tỉnh thức, có tính quan sát. Tính quan sát tạo
ra ánh sáng trong bạn, và trong ánh sáng đó bóng tối
của ham muốn không thể đi vào được.
Sáng tỏ làm cho họ tự do. Và khi bạn có tính quan
sát, có chói sáng trong bản thể bạn; thông minh lớn lao
nảy sinh trong bạn. Người thường sống trong ngu
xuẩn; người thường sống theo cách rất đần độn.
Khoảnh khắc bạn trở nên hài hoà với âm nhạc bên
trong của mình, bạn trở nên hài hoà với tính thiền,
thông minh lớn lao được thoát ra. Trong thông minh
đó bạn không thể nào bị lừa dối bởi ham muốn. Trong
thông minh đó lần đầu tiên bạn bắt đầu hiểu mọi sự
như chúng vậy, bạn dừng việc hiểu lầm. Thông thường
mọi hiểu biết của bạn đều không là gì ngoài hiểu lầm.
Bạn có thể cho rằng bạn rất thông minh, nhưng chỉ
người ngu mới nghĩ rằng họ thông minh. Bản thân
thông minh là rất không tự ý thức. Nó vận hành, vận
hành hoàn hảo, nhưng nó không tạo tự ý thức, nó
không đem tới ý tưởng về bản ngã, không có tính siêu
đẳng. Nó rất khiêm tốn, nó rất đơn giản.
Nhưng khi người thường tồn tại, người đó cứ hiểu
lầm. Bạn đọc Kinh Thánh và bạn hiểu lầm. Ngay cả
những đệ tử gần gũi nhất của Jesus không bao giờ hiểu
ông ấy. Tôi nói đi nói rằng Jesus là một trong những
176
thầy không may nhất đã từng bước chân trên trái đất
này - không chỉ bởi vì ông ấy bị đóng đinh và chỉ có
ba năm làm việc, mà bởi vì ông ấy có nhiều tín đồ rất
ngu.
Ngày Jesus sắp bị bắt, và điều tuyệt đối chắc chắn
là ông ấy đã bị một trong những đệ tử của mình phản
bội, Judas, ông ấy đã hỏi mười một tông đồ khác, "Các
ông có điều gì hỏi ta không?" Và bạn có biết họ đã hỏi
cái gì không? Họ đã hỏi những điều ngu xuẩn thế.
Jesus phải phát khóc. Ông ấy có thể phải đã cầu
nguyện từ sâu trong trái tim mình, như ông ấy đã làm
lần nữa trên cây chữ thập: "Cha ơi, xin tha thứ cho họ,
vì họ không biết điều họ đang hỏi."
Họ đã hỏi cái gì? Họ đã hỏi, "Thưa thầy, vì thầy
sắp ra đi, đôi điều cần được làm rõ. Trong thế giới của
Thượng đế, trong vương quốc của Thượng đế, mà thầy
đã nói đi nói lại nhiều thế, thầy chắc chắn sẽ ở bên
phải Thượng đế rồi; vậy ai sẽ ở bên phải thầy? Trong
số chúng tôi ai sẽ là người thứ hai tiếp thầy và ai sẽ là
người thứ ba và người thứ tư? Cấp bậc sẽ là gì?"
Xem câu hỏi đấy! Thầy sắp bị đóng đinh ngày
mai, mà những người ngu này lo nghĩ về cấp bậc, ai sẽ
cao nhất. Họ sẵn sàng nhân nhượng với Jesus, "Thôi
được, đến chừng ấy thì chúng tôi chấp nhận, rằng thầy
sẽ là người thứ hai cạnh Thượng đế, nhưng ai sẽ thứ ba
và thứ tư và thứ năm? Để điều đó được quyết định rõ
ràng đi, bởi vì bây giờ thầy sắp ra đi và chúng tôi có
thể không sớm gặp lại nữa, cho nên mọi thứ phải chắc
chắn!"
177
Tâm trí ham muốn, tâm trí tham vọng này - họ đã
không hiểu Jesus chút nào. Và tương truyền Jesus quì
xuống và cầu nguyện và nước mắt lăn dài trên má ông
ấy. Không ai biết ông ấy cầu nguyện gì, nhưng ông ấy
phải đã cầu nguyện: "Xin tha thứ cho những người
này, họ không biết họ đang hỏi gì." Và ông ấy phải đã
khóc vì đây là công trình cả đời của ông ấy, những
người này. Và ông ấy đã bảo họ đừng ham muốn, đừng
tham vọng. Ông ấy đã bảo họ, "Những người đầu tiên
trong thế giới này sẽ là người cuối cùng trong vương
quốc của Thượng đế của ta, và những người cuối cùng
sẽ là những người đầu tiên." Nhưng họ đã không hiểu
rằng ông ấy đang nói với họ đừng tham vọng.
Mới hôm nọ, Premgeet đã gửi cho tôi một giai
thoại nhỏ về việc diễn giải nhầm:
Một cô y tá điên chạy theo một bệnh nhân đang la
hét dọc theo hành lang của khu nhà thương, mang cái
bát. Cô ta bị bác sĩ giải phẫu chặn nói, "Cô y tá! Cô y
tá! Tôi đã bảo cô chích chỗ sưng!"
Bạn có hiểu điều đó không? Cô ấy đang làm sưng
chim anh ta! Nhưng đây là điều đích xác đang xảy ra -
tâm trí quần chúng không thể hiểu được. Hiểu lầm là
không tránh khỏi, bởi vì tâm trí đám đông là điếc.
Trong khi bạn nói với mọi người, họ không thực sự
lắng nghe, họ chỉ giả vờ nghe. Cả nghìn lẻ một ý nghĩ
đan chéo qua tâm trí họ; họ không thực sự ở đó, họ
chưa bao giờ diện diện với bất kì tình huống nào, họ
bao giờ cũng vắng mặt. Họ không ở chỗ họ đang ở, họ
bao giờ cũng ở đâu đó khác. Khi họ đang ở Pune, họ ở
178
Bắc Kinh; khi họ ở Bắc Kinh, họ ở Pune. Những người
kì lạ! Dù họ ở bất kì đâu bạn cũng có thể chắc chắn
rằng ít nhất họ không ở đó; họ có thể đang ở chỗ nào
đó khác trên thế giới. Làm sao họ có thể hiểu được?
Và họ chỉ lắng nghe lời, họ không bao giờ lắng
nghe nghĩa cả - bởi vì nghĩa có thể được nghe chỉ bằng
trái tim. Lời có thể được nghe bằng đầu. Bây giờ, họ
không biết cách nghe qua trái tim. Lắng nghe qua trái
tim là nghĩa của việc là đệ tử; lắng nghe qua trái tim
nghĩa là lắng nghe trong tình yêu, trong tin cậy, trong
thông cảm sâu sắc, và cuối cùng trong thấu cảm sâu
sắc. Lắng nghe qua trái tim nghĩa là lắng nghe dường
như bạn đã trở thành một với điều được nói cho bạn -
khi đệ tử trở nên hài hoà với thầy tới mức ngay cả
trước khi lời được thốt ra thì đệ tử đã nghe thấy chúng,
và không chỉ lời mà cả nghĩa, hương thơm do lời mang
theo. Nhưng điều đó rất vô hình. Cái đầu là thô.
Cái vô hình chỉ có thể được nắm bắt qua mạng
lưới của trái tim.
Nếu bạn có thể là bạn của tôi, nếu bạn có thể trong tình yêu
và tin cậy sâu sắc ở đây trong sự hiện diện của tôi, nếu
chúng ta có thể đối diện lẫn nhau và soi gương lẫn
nhau, những điều cực kì quan trọng sẽ bắt đầu xảy ra
theo cách riêng của chúng - bởi vì trái tim bạn sẽ hiểu,
và khi trái tim hiểu, lập tức biến đổi xảy ra.
Khi cái đầu hiểu, thế thì nó hỏi, "Làm sao? Vâng
điều đó đúng; bây giờ, làm sao nó có thể được làm?"
Nhớ khác biệt này: trong cái đầu, tri thức và hành động
là hai điều khác nhau; trong trái tim, tri thức là hành
động.
Socrates nói: Tri thức là đức hạnh - và ông ấy đã
không được hiểu qua nhiều thời đại. Ngay cả các đệ tử
riêng của ông ấy, Plato và Aristotle, đã không hiểu ông
ấy đúng. Khi ông ấy nói tri thức là đức hạnh, ông ấy
ngụ ý có cách lắng nghe và hiểu trong đó khoảnh khắc
bạn hiểu ra một điều, bạn không thể làm khác được.
Khi bạn thấy rằng đây là cửa, thế thì bạn không thể cứ
cố đi ra qua tường được, bạn sẽ đi ra qua cửa. Thấy
nghĩa là hành động, thấy đem tới hành động.
Nếu khi tôi bảo bạn, "Đây là cửa. Bất kì khi nào
bạn muốn ra, xin ra qua cửa này, bởi vì bạn đập đầu
mình khi cố đi ra qua tường là đủ rồi," bạn nói, "Vâng,
thưa thầy, tôi hiểu rõ lắm, nhưng làm sao đi ra qua cửa
được?" câu hỏi của bạn sẽ chỉ ra rằng trái tim vẫn chưa
lắng nghe đâu, chỉ mỗi cái đầu. Cái đầu bao giờ cũng
hỏi "Làm sao?"
Cái đầu bao giờ cũng hỏi những câu hỏi dường
như rất thích đáng trên bề mặt nhưng tuyệt đối lố bịch.
Trái tim không bao giờ hỏi cả - nó lắng nghe và hành
động. Lắng nghe và hành động là một trong trái tim;
tình yêu biết và hành động tương ứng. Nó chưa bao
giờ hỏi "Làm sao?" Trái tim có thông minh của riêng
nó. Cái đầu là trí tuệ, trái tim là thông minh.
Hoa sen mọc duyên dáng làm sao
trong rác rưởi của lề đường.
Hương thuần khiết của nó làm thích thú trái tim.
180
Nhớ điều đó lặp đi lặp bởi vì bạn sẽ quên đi quên
lại rằng đó là vấn đề của trái tim. Nếu trái tim vui
mừng trong cái gì đó, thế thì bạn có thể chắc chắn cuộc
sống của bạn đang phát triển, mở rộng; tâm thức bạn
đang trở thành rõ ràng hơn, thông minh của bạn đang
thoát ra khỏi tù túng của nó.
Hoa sen mọc duyên dáng làm sao trong rác rưởi
của lề đường. Từ về hoa sen mà Phật dùng là pankaj;
đó là một trong những từ hay nhất. Pankaj nghĩa là cái
được sinh ra từ bùn, từ bùn bẩn. Hoa sen là một trong
những hiện tượng huyền diệu nhất trong sự tồn tại; do
đó ở phương Đông nó đã trở thành biểu tượng của biến
đổi tâm linh. Phật ngồi trên hoa sen, Vishnu đứng trên
hoa sen. Tại sao lại hoa sen? - bởi vì hoa sen có một ý
nghĩa rất biểu tượng: nó mọc ra từ bùn bẩn. Nó là biểu
tượng biến đổi, nó là sự biến thái. Bùn thì bẩn, có thể
còn bốc mùi hôi; hoa sen là hương thơm, và nó bắt
nguồn từ bùn hôi.
Phật đang nói: Theo đích xác cùng cách đó, cuộc
sống thường chỉ là bùn hôi - nhưng khả năng trở thành
hoa sen được ẩn ở đó. Bùn có thể được biến đổi, bạn
có thể trở thành hoa sen. Dục có thể được biến đổi và
nó có thể trở thành samadhi. Giận có thể được biến đổi
và nó có thể trở thành từ bi. Ghét có thể được biến đổi
và nó có thể trở thành yêu. Mọi thứ mà bạn có cái nhìn
tiêu cực bây giờ, như bùn, có thể được biến đổi. Tâm
trí ồn ào của bạn có thể được làm trống rỗng và được
biến đổi, và nó trở thành âm nhạc tinh tú.
Đi theo người đã thức tỉnh
và từ trong những người mù
ánh sáng của trí huệ của ông
sẽ chiếu sáng hoàn toàn bên ngoài.
181
Nhưng lối ra duy nhất khỏi đống lộn xộn này là ở
việc hài hoà với ai đó đã thức tỉnh. Bạn đang ngủ; chỉ
ai đó thức tỉnh mới có thể lay bạn ra khỏi giấc ngủ của
mình, mới có thể giúp bạn ra khỏi nó.
Gurdjieff thường nói: Nếu bạn đang trong tù, chỉ ai
đó ở ngoài nhà tù mới có thể xoay xở, mới có thể thu
xếp để cho bạn có thể thoát ra khỏi nhà giam; bằng
không điều đó là không thể được. Và bạn không chỉ
trong nhà giam - bạn đã bị thôi miên và được bảo rằng
đây không phải là nhà giam, đây là nhà bạn. Bạn
không chỉ trong tù - bạn đã tin nó là nhà bạn và bạn
đang trang hoàng cho nó. Toàn thể cuộc sống của bạn
không là gì ngoài việc trang hoàng cho nhà giam này,
và bạn đang đua với các tù nhân khác, những người
cũng đang trang hoàng cho xà lim đen tối của mình.
Chỉ ai đó tự do, người đã có thời ở trong tù và
không còn trong tù nữa, mới có thể xoay xở đánh thức
bạn, làm cho bạn nhận biết về thực tại. Người đó có
thể xoay xở để giải thôi miên bạn, người đó có thể
giúp bạn giải ước định, và người đó có thể phát minh
ra các phương pháp và phương tiện để cho bạn có thể
thoát khỏi nhà giam. Người đó có thể hối lộ cai ngục,
cai tù; người đó có thể đem chiếc thang gần bức tường,
người đó có thể ném dây thừng vào bên trong. Người
đó có thể làm ra lỗ hổng trong tường từ bên ngoài... cả
nghìn lẻ một khả năng.
Nhưng hi vọng duy nhất cho bạn là trong tiếp xúc
sâu với ai đó đã thức tỉnh. Người thức tỉnh được gọi là
thầy - satguru. Nếu bạn có thể tìm thấy thầy, đừng bỏ
lỡ cơ hội này - buông xuôi, thảnh thơi trong hiện hữu
của thầy, thấm đẫm nhận biết của thầy, để hương thơm
182
của thầy bao quanh bạn. Và ngày đó không xa xôi gì
khi bạn cũng được thức tỉnh, bạn cũng sẽ là vị phật.
Tự nhủ mình rằng chừng nào bạn chưa là vị phật,
cuộc sống của bạn vẫn còn là phí hoài. Chỉ bằng việc
là vị phật cuộc sống của người ta mới có vẻ duyên
dáng, đẹp đẽ, thông minh, ý nghĩa, phúc lành.
( còn nữa )
Dhammapada
CON ĐƯỜNG CỦA PHẬT
¨
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG
ĐI TỚI CHÂN LÍ TỐI THƯỢNG
Tập 2 ( tiếp theo )
7
Thìa có nếm canh không?
Đêm dài làm sao với người gác,
Đường dài làm sao với lữ khách mệt lử,
Lang thang lâu sao qua nhiều kiếp
với người ngu bỏ lỡ con đường.
Nếu lữ khách không thể tìm ra
thầy hay bạn đi cùng mình,
để người đó đi một mình
hơn là đi cùng người ngu.
"Con ta, của cải của ta!"
Người ngu tự gây rắc rối cho mình.
Nhưng người đó làm sao có con hay của cải?
Người đó thậm chí không là người chủ riêng của
mình.
Người ngu biết mình là ngu
là khôn hơn nhiều.
218
Người ngu nghĩ mình khôn
thực sự là người ngu.
Thìa có nếm canh không?
Người ngu có thể sống cả đời
cùng với thầy
và vẫn lỡ con đường.
Lưỡi nếm canh.
Nếu ông thức trong hiện diện của thầy
một khoảnh khắc sẽ chỉ cho ông con đường.
Người ngu là kẻ thù riêng của mình.
Tai hoạ người đó gây ra phá huỷ của người đó.
Người đó chịu cay đắng làm sao!
Tại sao làm điều ông sẽ hối tiếc?
Tại sao mang nước mắt theo bản thân ông?
Làm chỉ điều ông không tiếc,
và rót đầy bản thân ông bằng vui vẻ.
Con người là cây cầu giữa cái biết và cái không
biết. Vẫn còn bị giới hạn trong cái biết là kẻ ngu. Đi
tìm cái không biết là bắt đầu của trí huệ. Trở thành một
với cái không biết là trở thành người thức tỉnh, vị phật.
Nhớ lấy, lặp đi lặp lại, rằng con người vẫn chưa là
sự hiện hữu - con người đang trên đường, một lữ
khách, một người hành hương. Con người chưa ở nhà,
con người đang đi tìm nhà. Người nghĩ rằng mình
đang ở nhà là người ngu, vì thế thì việc tìm kiếm dừng
lại, thế thì việc tìm không còn nữa. Và khoảnh khắc
219
bạn dừng tìm tòi và tìm kiếm, bạn trở thành cái vũng
năng lượng tù đọng, bạn bắt đầu bốc mùi. Thế thì bạn
chỉ chết, thế thì bạn không sống chút nào.
Sống là trong tuôn chảy, sống là trong duy trì dòng
sông - bởi vì chỉ dòng sông sẽ đạt tới đại dương. Nếu
bạn trở thành cái ao tù đọng thế thì bạn chẳng đi đâu
cả. Thế thì bạn không thực sự sống. Người ngu không
sống, người đó chỉ giả vờ sống. Người đó không biết,
người đó chỉ giả vờ biết. Người đó không yêu, người
đó chỉ giả vờ yêu. Người ngu tự phụ.
Người trí huệ sống, yêu, người trí huệ truy tìm.
Người trí huệ sẵn sàng, bao giờ cũng sẵn sàng, đi vào
biển chưa lập bản đồ. Người trí huệ có tính phiêu lưu.
Người ngu sợ.
Khi Phật dùng từ 'ngu' bạn phải nhớ mọi nghĩa này
của từ này. Không phải là nghĩa thường mà Phật đem
cho từ 'ngu'. Với ông ấy, người ngu nghĩa là người
sống trong tâm trí và không biết gì về vô trí; người
sống trong thông tin, tri thức, và đã không nếm trải cái
gì của trí huệ; người sống cuộc sống vay mượn, bắt
chước, nhưng chẳng biết gì về bất kì cái gì nảy sinh
trong bản thể riêng của mình.
Với "người ngu" Phật ngụ ý người đã quá quen
thuộc với kinh sách, nhưng chưa nếm trải lấy một
khoảnh khắc của chân lí. Người đó có thể là học giả
lớn, rất thông thái - thực ra, người ngu là các học giả;
họ phải như vậy bởi vì đó là cách duy nhất để che giấu
cái ngu của họ. Người ngu là những người rất có học;
họ phải như vậy, bởi vì chính là chỉ qua những lời có
học, các lí thuyết, các triết lí mà họ mới có thể che
giấu cái dốt nát bên trong của họ, mà họ mới có thể
220
che giấu cái trống rỗng của họ, mà họ mới có thể tin
rằng họ cũng biết.
Nếu bạn muốn tìm thấy người ngu, vào các đại
học, vào các viện hàn lâm. Tại đó bạn sẽ tìm thấy họ -
trong dốt nát hoàn toàn của họ, nhưng vẫn giả vờ biết.
Họ chắc chắn biết điều người khác đã nói, nhưng đấy
không phải là cái biết thực. Người mù có thể thu thập
mọi thông tin có đó về ánh sáng, nhưng người đó sẽ
vẫn còn mù. Người đó có thể nói về ánh sáng, người
đó có thể viết ra các chuyên luận về ánh sáng; người
đó có thể rất láu lỉnh trong dự đoán, trong nguỵ tạo các
lí thuyết, nhưng dầu vậy người đó vẫn còn là người mù
và người đó chẳng biết gì về ánh sáng cả. Nhưng thông
tin mà người đó thu thập có thể không chỉ lừa dối
người khác, nó có thể lừa dối bản thân người đó nữa.
Người đó có thể bắt đầu nghĩ rằng mình biết, rằng
mình không mù nữa.
Khi Phật dùng từ 'ngu' ông ấy không ngụ ý đơn
giản là dốt nát, bởi vì nếu người dốt nát mà nhận biết
rằng mình dốt nát, người đó không phải là người ngu.
Và điều có thể hơn đối với người dốt nát là nhận biết
rằng mình dốt nát hơn chính cái gọi là những người có
học. Bản ngã của họ cũng được thổi phồng thế; rất khó
cho họ thấy - điều đó đi ngược lại đầu tư của họ. Họ đã
dành cả các kiếp sống của họ cho tri thức, và bây giờ,
thật là khó khăn, thật là gian nan để nhận ra sự kiện là
tất cả tri thức này là vô nghĩa, vô tích sự, vì bản thân
họ đã không nếm trải chân lí.
Người dốt nát có thể nhớ rằng mình dốt nát -
người đó chẳng có gì để mất; nhưng người có học,
người đó không thể nhận ra được rằng mình dốt nát -
người đó có nhiều thứ để mất. Người thông thái là
221
người ngu thực. Người dốt nát là hồn nhiên; người đó
biết rằng mình không biết, và bởi vì người đó biết rằng
mình không biết, vì người đó là người dốt nát, nên
người đó ở ngay ngưỡng cửa của trí huệ. Bởi vì người
đó biết mình không biết, người đó có thể truy tìm, và
cuộc truy tìm của người đó sẽ thuần khiết, không định
kiến. Người đó sẽ truy tìm mà không có kết luận nào.
Người đó sẽ truy tìm mà không là người Ki tô giáo hay
người Mô ha mét giáo hay người Hindu giáo. Người
đó đơn giản sẽ truy tìm như người truy tìm. Việc truy
tìm của người đó sẽ không bắt nguồn từ những câu trả
lời làm sẵn, việc truy tìm của người đó sẽ bắt nguồn từ
trái tim riêng của người đó. Việc truy tìm của người đó
sẽ không phải là sản phẩm phụ của tri thức, việc truy
tìm của người đó sẽ có tính tồn tại. Người đó truy tìm
bởi vì đó là vấn đề sống và chết với người đó. Người
đó truy tìm bởi vì người đó thực sự muốn biết. Người
đó biết rằng mình không biết - đó là lí do tại sao người
đó truy tìm. Việc truy tìm của người đó có cái đẹp của
riêng nó. Người đó không phải là người ngu, người đó
đơn giản dốt nát. Người ngu thật là người nghĩ mình
biết mà chẳng biết gì cả.
Socrates đã cố gắng làm cùng điều đó ở Athens:
ông ấy đã cố gắng làm cho những người ngu có học
này nhận biết rằng mọi học vấn của họ đều là giả, rằng
họ thực sự là người ngu, kẻ giả vờ, đạo đức giả. Một
cách tự nhiên, mọi giáo sư và mọi triết gia và mọi cái
gọi là nhà tư tưởng... và Athens đầy những họ. Athens
là thủ đô của tri thức vào những ngày đó. Cũng như
ngày nay mọi người nhìn vào Oxford hay Cambridge,
mọi người đã nhìn tới Athens. Nơi đó đầy những
người ngu có học, và Socrates đang cố gắng đưa họ
xuống đất, làm tan nát tri thức của họ, đang nêu ra
222
những câu hỏi - đơn giản theo cách nào đó, nhưng khó
được trả lời bởi những người chỉ đi góp nhặt tri thức từ
người khác.
Athens trở nên giận Socrates lắm. Họ đã đầu độc
con người này. Socrates là một trong những người vĩ
đại nhất đã từng bước đi trên trái đất; và điều ông ấy
đã làm rất ít người đã làm được. Phương pháp của ông
ấy là phương pháp cơ bản. Phương pháp của Socrates
để truy tìm là tới mức nó phơi bày người ngu là ngu.
Phơi bày người ngu là ngu là điều nguy hiểm, tất
nhiên, bởi vì người đó sẽ trả thù. Socrates đã bị đầu
độc, Jesus đã bị đóng đinh, Phật đã bị kết án.
Ngày Phật chết, Phật giáo bị tống khỏi đất nước
này, bị trục xuất khỏi đất nước này. Các học giả, các
nhà bác học, những người brahmins, không thể cho
phép nó còn lại. Nó quá không thoải mái cho họ. Công
kích cơ sở của nó là vào các brahmins, những kẻ ngu
có học, và một cách tự nhiên họ đều bị bực mình. Họ
đã không thể đối diện được với Phật, họ đã không thể
đương đầu được với ông ấy. Họ chờ đợi cơ hội của họ
theo cách tinh ranh: khi Phật chết, thế rồi họ bắt đầu
đánh các tín đồ. Khi ánh sáng đã tắt rồi, thế thì đó là
thời gian cho cú, cho người ngu có học, để cai trị đất
nước này lần nữa. Và kể từ lúc đó họ đã cai trị mãi cho
tới nay - họ vấn đang nắm quyền. Vẫn cùng những
người ngu đó!
Thế giới đã chịu đựng nhiều rồi. Con người có thể
đã trở thành vinh quang của trái đất, nhưng bởi vì
những kẻ ngu này... và bởi vì họ có quyền họ có thể
gây hại, và bởi vì họ có quyền họ có thể phá huỷ bất kì
khả năng nào, bất kì cơ hội nào cho con người tiến
hoá. Con người đã đi trong vòng tròn, và những người
223
ngu này không muốn con người trở thành trí huệ, bởi
vì nếu con người trở thành trí huệ những người ngu
này sẽ không ở đâu cả. Họ sẽ không trong quyền lực
nữa - về tôn giáo, chính trị, xã hội, tài chính, mọi
quyền lực sẽ mất đi. Họ có thể vẫn còn trong quyền
lực chỉ nếu họ có thể cứ phá huỷ đi mọi khả năng của
trí huệ đối với con người.
Khi bạn đứng trên đỉnh núi chan hoà ánh nắng, bạn
biết mọi thứ bên dưới thung lũng. Người dưới thung
lũng có thể không nhận biết về bạn chút nào, điều đó
là không thể được cho họ. Thung lũng có mối bận tâm
riêng của nó, vấn đề riêng của nó. Thung lũng bận tâm
với bóng tối riêng của nó.
Người ngu có thể tới một thầy nhưng sẽ vẫn còn
chẳng được lợi lộc gì bởi vì người đó sẽ chỉ thấy cái
bên ngoài. Người đó sẽ không có khả năng thấy được
cái bản chất, người đó sẽ không có khả năng thấy được
cái cốt lõi. Người ngu cũng tới đây nữa, nhưng người
đó chỉ nghe những lời - và người đó cứ diễn giải
những lời này theo ý tưởng riêng của mình. Người đó
cứ thoả mãn hoàn toàn rằng mình biết điều đang xảy
ra.
Có nhiều người ngu không tới đây - họ không cảm
thấy cần thiết. Họ đơn giản phụ thuộc vào các báo cáo
của những người ngu. Thế là đủ. Chỉ một người ngu có
229
thể thuyết phục cả nghìn người ngu, bởi vì ngôn ngữ
của họ là như nhau, định kiến của họ là như nhau,
quan niệm của họ là như nhau… không có vấn đề gì!
Một người ngu đã thấy, và tất cả những người ngu
khác bị thuyết phục. Một người ngu tường trình trên
báo chí và tất cả những người ngu khác đọc nó vào
buổi sáng, và được thuyết phục.
Lời kinh:
Đêm dài làm sao với người gác,
Đường dài làm sao với lữ khách mệt lử,
Lang thang lâu sao qua nhiều kiếp
với người ngu bỏ lỡ con đường.
Đêm rất dài đối với người gác đêm - tại sao?
Người đó không thể thảnh thơi, người đó phải giữ bản
thân mình thức bằng cách nào đó. Đó là cuộc vật lộn.
Người đó phải giữ bản thân mình thức đi ngược tự
nhiên, bởi vì đêm có nghĩa là dành cho thảnh thơi và
nghỉ ngơi và đi vào giấc ngủ. Người đó đang tranh đấu
chống lại tự nhiên - người ngu là như vậy. Người ngu
cứ tranh đấu chống lại tự nhiên. Người đó cố gắng bơi
ngược dòng; do đó, khổ của người đó kéo dài, dài
không cần thiết. Người đó nhân nó lên cả nghìn lần bởi
vì người đó không thể buông bỏ được, người đó không
thể thảnh thơi được.
Chỉ dẫn thứ nhất về tâm trí ngu si là ở chỗ nó
không thể thảnh thơi được, nó bao giờ cũng căng
thẳng, nó bao giờ cũng canh gác, nó bao giờ cũng sợ.
Đêm dài làm sao với người gác... Nó không dài
như vậy với những người đang nghỉ ngơi, thảnh thơi,
230
và đã đi vào trong giấc ngủ sâu. Nó trôi qua nhanh thế!
Mới khoảnh khắc này bạn còn thức, thế rồi bạn rơi vào
giấc ngủ... và khoảnh khắc sau bạn thức dậy, trời đã
sáng rồi. Bạn không thể tin được đêm đã bay qua
nhanh thế. Nếu bạn thực sự nghỉ... bạn càng nghỉ
nhiều, đêm bay qua càng nhanh. Nếu bạn nghỉ toàn bộ,
thời gian biến mất. Đây là điều gì đó cần được hiểu.
Thời gian là hiện tượng tâm lí. Tôi không nói về
thời gian bạn thấy trên đồng hồ, tôi đang nói về thời
gian tâm lí. Khi bạn hạnh phúc, thảnh thơi, an bình,
thời gian bay qua nhanh. Khi bạn đau đớn, khổ sở,
buồn phiền, thời gian trôi qua rất chậm; nó dường như
không chấm dứt.
Bạn đã ngồi bên cạnh người sắp chết trong đêm
chưa? Dường như sáng chẳng bao giờ tới. Đêm dường
như dài thế... vẫn cùng đêm đó thôi. Cùng đêm đó bạn
ngồi cùng người yêu, và đêm bay qua nhanh tới mức
bạn không thể tin được vào điều đó - bởi vì bạn hạnh
phúc và bạn thảnh thơi và bạn tận hưởng và bạn đi với
tự nhiên, không tranh đấu. Yêu nghĩa là buông xuôi,
yêu nghĩa là thảnh thơi.
Người ta cứ hỏi Albert Einstein lặp đi lặp lại mãi
trong đời ông ấy, "Lí thuyết tương đối là gì?" Đó là
một lí thuyết phức tạp và nó không thể được giải thích
một cách dễ dàng cho những người không biết về toán
học cao cấp. Thực ra, người ta nói rằng chỉ có mười
hai người trên cả trái đất hiểu đích xác điều Einstein
ngụ ý bởi lí thuyết tương đối. Làm sao giải thích nó
cho người thường được?
Cho nên ông ấy đã đưa ra cách giải thích hay này.
Ông ấy sẽ nói, "Ngồi trên bếp lò nóng thì một giây
dường như vĩnh viễn, không chấm dứt - nó nóng thế,
231
nó đau thế. Và thế rồi cầm tay người yêu và ngồi bên
cô ấy trên bờ sông trong đêm trăng tròn, và hàng giờ
trôi qua như khoảnh khắc." Điều này, ông ấy thường
nói, là lí thuyết tương đối.
Mọi thứ đều phụ thuộc vào bạn, vào trạng thái tâm
lí của bạn. Thời gian không phải là hiện tượng vật lí,
vật chất; nó có tính tâm lí. Do đó, trong thiền sâu thời
gian biến mất toàn bộ. Và điều này không phải là cái
gì mới, các nhà huyền môn đã biết tới nó trong nhiều
thời đại. Họ đã nói, mọi nhà huyền môn của mọi nước,
rằng thời gian dừng khi thiền thực sự bắt đầu.
Thế giới này bao gồm thời gian và không gian. Đó
là cách Albert Einstein định nghĩa nó: không-thờigian.
Ông ấy tạo ra một từ từ hai từ, bởi vì ông ấy nói
thời gian không là gì ngoài chiều thứ tư của không
gian. Cho nên thế giới này bao gồm không gian và thời
gian, và trong thiền bạn biến mất khỏi cả hai, hay cả
hai biến mất khỏi bản thể bạn. Bạn không biết bạn ở
đâu. Bạn hiện hữu, chắc chắn, còn hơn cả bạn đã từng
hiện hữu; bạn toàn bộ ở đó nhưng không có không
gian giới hạn bạn và không có thời gian xác định bạn.
Sự tồn tại thuần khiết. Một khi được nếm trải rồi, mọi
cái ngu ngốc biến mất.
Người ngu sống trong thời gian, người trí huệ sống
trong vô thời gian.
Người ngu sống trong tâm trí, người trí huệ sống
trong vô trí.
Đêm dài làm sao với người gác, đường dài làm
sao với lữ khách mệt lử... nhìn vào mặt mọi người mà
xem - họ trông mệt mỏi làm sao, mòn mỏi, hoàn toàn
thất vọng. Và họ không chỉ trông như vậy, họ là như
vậy đấy. Linh hồn của họ mệt mỏi, chính bản thể họ đã
trở thành một loại chán ngán. Họ đang kéo lê bản thân
mình - họ không vui vẻ, không nhảy múa trong bước
đi của họ, không bài ca trong trái tim họ, không biết
233
ơn, không cám ơn... ngược lại, nhiều phàn nàn ca cẩm
thế.
Một trong những nhân vật của Dostoevsky trong
cuốn Anh em nhà Karamazov nói, "Tôi muốn trả lại
cuộc sống này cho Thượng đế nếu tôi gặp ngài. Tôi
không muốn sống thêm nữa. Cuộc sống đầy khổ não
thế!" Anh ta muốn trả vé. Làm sao anh ta có thể cám
ơn được?
Nghĩ mà xem: nếu bạn gặp Thượng đế một ngày
nào đó, bạn định nói gì với ngài? Thậm chí khó mà nói
"Chào ngài!" Bạn sẽ giận ngài thế, hoàn toàn bực tức
thế, cáu bẳn vì rằng đây là người đã tạo ra bạn, đây là
người đã tạo ra thế giới này! Điều đó là đơn giản bởi vì
điều này mà Thượng đế cứ trốn tránh; bằng không thì
mọi người nhất định giết chết ngài. Họ sẽ không để
cho ngài sống đâu; ngài phải đi trốn, chỉ để sống sót
mà ngài phải đi trốn.
Đêm dài làm sao với người gác, đường dài làm
sao với lữ khách mệt lử, lang thang qua nhiều kiếp dài
làm sao với người ngu bỏ lỡ con đường. Và người ngu
nhất định bỏ lỡ con đường rồi. Tại sao? - bởi vì người
đó nghĩ mình đã biết con đường rồi, bởi vì người đó
nghĩ người đó đang trên đường rồi. Mọi người khác
đều sai, người đó đúng. Người đó tin rằng nếu mọi
người theo người đó, mọi thứ sẽ đúng trên thế giới.
Người đó là cuồng tín. Người đó có Kinh Thánh,
Koran, Vedas - còn cần gì khác nữa? Người đó biết
mọi giáo điều hay của mọi tôn giáo rồi - còn cần gì
thêm nữa? Người đó biết con đường rồi!
Nhưng khi Phật dùng từ 'đạo', ông ấy ngụ ý pháp
dhamma - aes dhammo sanantano. Ông ấy ngụ ý con
đường đưa bạn ra khỏi bản ngã của bạn, con đường
234
đưa bạn ra khỏi tâm trí của bạn, con đường đưa bạn ra
khỏi sự đồng nhất của mình, con đường làm cho bạn
thành cái không tuyệt đối... con đường giúp bạn tan
biến vào trong cái toàn thể.
Ông ấy không nói về tôn giáo, ông ấy không nói
về cái gọi là kĩ thuật, phương cách, phương pháp. Khi
ông ấy dùng từ 'con đường', ông ấy ngụ ý đích xác
điều Lão Tử ngụ ý bởi 'đạo'. Đạo đích xác nghĩa là
"con đường" - con đường tới cái gì? Con đường đi ra
ngoài bản thân bạn, con đường dẫn bạn đi ra khỏi trạng
thái bi giới hạn của bạn, trạng thái bị cầm tù, vào chỗ
mở.
Lang thang qua nhiều kiếp dài làm sao... Và điều
đó thực sự dài, việc lang thang dài - không phải một
ngày hay một kiếp, mà nhiều kiếp, hàng triệu kiếp. Và
nếu mọi người mệt mỏi, điều đó không gây ngạc
nhiên. Nếu mắt họ đầy bụi, điều đó không gây ngạc
nhiên. Nếu linh hồn họ bị bao phủ bởi nhiều tầng bụi
bặm, điều đó không gây ngạc nhiên. Nếu chúng không
còn phản chiếu, nếu những tấm gương của họ bị mất,
điều đó không phải là ngẫu nhiên - điều đó là hiểu
được, mặc dầu không tha thứ được, bởi vì không ai
khác chịu trách nhiệm cho tình huống này ngoại trừ
bạn. Nếu bạn quyết định, bạn có thể vứt bỏ mọi tầng
bụi bặm này ngay chính khoảnh khắc này, và khoảnh
khắc bạn vứt đi mọi bụi bặm của ý nghĩ của mình, bạn
đang trên đường. Bạn là con đường rồi!
